TaichiNOW · Thư Viện Tinh Hoa
Thư Viện Sách PDF
Võ Học Nhật Bản · Aikido

Aikido — Nguyên Lý và Thực Hành

Senta Yamada · với Alex Macintosh — Lời tựa của Giáo sư Kenji Tomiki
W. Foulsham & Co. Ltd. · London Song ngữ: Việt · Anh 24 chương · 369 hình minh họa
Về bản dịch này. Đây là bản dịch Việt ngữ trọn vẹn cuốn Aikido — Nguyên Lý và Thực Hành (The Principles and Practice of Aikido) của Senta Yamada, Lục đẳng Aikido và Lục đẳng Judo, soạn cùng Alex Macintosh, với lời tựa của Giáo sư Kenji Tomiki. Toàn bộ 24 chương đã được dịch sát nghĩa sang tiếng Việt — từ lịch sử võ thuật Nhật Bản và tiểu sử các bậc thầy, qua các nguyên lý nền tảng (tư thế, chuyển động, thăng bằng, nhu thuật, thế chủ động, khoảng cách), tới các bài tập căn bản, mười lăm kỹ thuật nền tảng cùng mười lăm biến thể, và chương ứng dụng tự vệ. Toàn bộ 369 hình ảnh minh họa của bản gốc — ảnh chụp kỹ thuật, thư pháp Nhật cho tên các đòn, và các hình vẽ bộ pháp — đã được trích xuất và tái tạo đúng vị trí trong cả bản đọc này lẫn bản in PDF. Nhấn nút EN trên thanh công cụ để đối chiếu bản gốc tiếng Anh. Tải bản in: Aikido — Nguyên Lý và Thực Hành (PDF).
Bản dịch Việt ngữ này chỉ dùng cho mục đích học tập cá nhân, phi thương mại. Bản quyền tác phẩm gốc — văn bản và hình ảnh — thuộc về tác giả và nhà xuất bản W. Foulsham & Co. Ltd.

Trang đầu, Mục lục & Lời tựa

Nguyên Lý và Thực Hành

AIKIDO

của Senta Yamada — Lục Đẳng Aikido, Lục Đẳng Judo — và Alex Macintosh. LONDON W. FOULSHAM & CO. LTD.

NEW YORK • TORONTO • CAPE TOWN • SYDNEY

Senta Yamada, Lục Đẳng Aikido, Lục Đẳng Judo

Kính dâng cha mẹ yêu quý

“Con xin kính dâng cuốn sách này, với tất cả tình thương, lên cha mẹ.”

Một khía cạnh thú vị của cuộc sống ở Anh là việc tôi được làm quen với môn cricket, và qua môn thể thao này, phần nào hiểu được thái độ của người Anh đối với cuộc sống. Sau khi xem một trận đấu dễ chịu ở vùng quê cách đây không lâu, tôi được chỉ cho tấm bảng tại nhà nghỉ của câu lạc bộ, dựng lên để tưởng nhớ một tay ném bóng cừ khôi, William Frederick Lillywhite. Dòng chữ khắc ghi rằng — “Ông đã đạt được danh tiếng khắp thế giới khi dạy dỗ bằng lời nói và tấm gương, một môn thể thao mà trong đó những ân phước của sức trẻ và tinh thần có thể được tận hưởng một cách vô hại, để rèn luyện trí óc, kỷ luật tính khí, và sự tiến bộ toàn diện của con người.”

Tôi chợt nghĩ rằng điều được viết về tay vận động viên vĩ đại ấy từ nhiều năm trước hẳn có thể dùng làm phương châm cho việc luyện tập aikido, dẫu rằng lời dạy ấy ngày nay có vẻ khá cao xa trong một thời đại thực dụng vốn đôi khi thiếu kiên nhẫn với tinh thần thể thao.

S.Y.

LỜI TỰA Tôi rất vui mừng vì ông Yamada đã soạn nên cuốn sách hướng dẫn aikido này. Ông là một trong những học trò đầu tiên của tôi và đã nghiên cứu aikido một cách sâu sắc. Ông là một giảng viên được kính trọng, giữ đẳng cấp Lục Đẳng cho cả aikido lẫn judo.

Người ta thường cho rằng aikido khó hiểu và tiến bộ trong môn võ này chẳng hề dễ dàng, bởi số lượng lớn những kỹ thuật phức tạp được dùng trong bộ môn. Điều đó đúng trong quá khứ, vì một hệ thống giảng dạy thực chất có tính thực hành vẫn chưa được hình thành. Có lẽ trước đây người ta cũng đã quá nhấn mạnh đến khía cạnh tinh thần của aikido.

Suy xét những điều ấy, cuối cùng tôi đã hệ thống hóa nên cái được biết đến với tên gọi Tomiki Aikido — một hệ thống kỹ thuật được hoạch định khoa học, có thể học dễ dàng và luyện tập cả theo kata (bài quyền) lẫn randori (đối luyện tự do), giúp người học tiến bộ đều đặn và cải thiện thường xuyên.

Chính hệ thống Tomiki Aikido này được giải thích và trình diễn trong sách. Ông Yamada hiểu tường tận các phương pháp của tôi và có thể truyền dạy chúng một cách hiệu quả. Vì vậy, tôi lấy làm hân hạnh giới thiệu cuốn sách này tới đông đảo những ai quan tâm đến việc học aikido.

Kenji Tomiki, Bát Đẳng Aikido, Bát Đẳng Judo.

Khi soạn cuốn sách này, tôi ý thức sâu sắc món nợ mà mình mang đối với các bậc thầy ở Nhật Bản: vị đại sư aikido lỗi lạc, Giáo sư Uyeshiba, và người học trò xuất sắc của ông, Giáo sư Tomiki, người đã trở thành thầy và bạn của tôi. Nếu không có sự truyền dạy tuyệt vời của các ngài, hôm nay tôi hẳn không thể dạy dỗ người khác, cũng không thể tận hưởng sự an lạc mà việc thấu hiểu trọn vẹn aikido đã mang lại cho tôi.

Tôi cũng muốn cảm ơn nhiều bạn bè mà tôi đã có được trên quần đảo này vì lòng tốt của họ dành cho tôi, nhất là khi tôi là một người phương Đông đến Luân Đôn từ một đất nước từng là kẻ thù. Dù đi đến đâu trên khắp nước Anh, tôi cũng gặp những con người chu đáo và dễ mến, những người đã khiến tôi cùng vợ và ba đứa con nhỏ cảm thấy được chào đón. Xin gửi tới tất cả lời cảm ơn và những lời chúc tốt đẹp nhất.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới hai học trò đầu tiên của mình, John Waite và Terry Moulton, vì những buổi luyện tập không ngừng nghỉ mà họ đã cùng tôi chia sẻ cho các màn biểu diễn và trình diễn chúng tôi thực hiện tại Anh. Sự giúp đỡ của họ luôn được trao đi hết sức hào phóng và vô cùng quý giá.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Alex Macintosh vì tình bạn nồng ấm và vì nhiều giờ đồng hồ anh đã bỏ ra để nghe thứ tiếng Anh còn kém cỏi của tôi và chép lại từng lời từ băng ghi âm sang trang giấy. Việc viết và biên soạn những chương này cùng với việc thực hiện các bức ảnh quả là một công việc đòi hỏi nhiều công sức.

Tôi đã cố gắng trình bày cách tiếp cận aikido này sao cho đơn giản nhất có thể. Sách được biên soạn như một cẩm nang huấn luyện cho người mới bắt đầu, dù tôi hy vọng rằng những người học cao hơn cũng sẽ thấy nó hữu ích trong luyện tập.

S.Y.

A

Thanh Gươm Cứu Sống

Sự phát triển của võ thuật · Tướng quân Yoshimitsu

Sự phát triển của võ thuật

Là phương tiện tự vệ trước những đòn tấn công bạo lực, aikido có hiệu quả, sự tinh tế và óc sáng tạo, và đã phát triển qua hàng trăm năm thành một môn nghệ thuật rèn luyện thân thể hướng tới sự hoàn thiện nhân cách và sự hài hòa giữa tâm trí với thân thể.

Ý tưởng về sự hợp nhất giữa tư tưởng và hành động đã được ấp ủ từ lâu, và dĩ nhiên ý tưởng ấy không phải đặc hữu của Nhật Bản. Người Trung Quốc, người Ấn Độ, người Nga đều đã phát triển cách tiếp cận riêng của mình, và những ví dụ khác về sự hài hòa, cân bằng giữa thân thể và tâm trí cũng có thể tìm thấy khắp nơi trên thế giới.

Lịch sử ghi lại rằng khi Hy Lạp còn dẫn đầu thế giới, những thanh niên học vật, đấm bốc và nhảy trong sân cát của palaestra cũng được dạy ngay tại đó cách rèn luyện tư thế và động tác trang nghiêm, giọng nói vang dội và chút tài biện luận.

Những phẩm chất ấy được xem là cần thiết và đáng mong muốn ở kalokagathos — con người được tạo nên hoàn chỉnh, toàn diện và hữu hiệu.

Chúng ta biết rằng từ thời Cyrus xa xưa, các chiến binh Ba Tư đã luyện võ trong những ngôi nhà Zur Khane, và cho đến ngày nay, các bài thể dục về thăng bằng và thư giãn vẫn được luyện tập trong những phòng tập ấy, kèm theo thơ được ngâm lên theo nhạc. Những bài hát kể về những con người trở nên vĩ đại trong lịch sử dân tộc mình nhờ gắn bó với Zur Khane — một nền văn hóa đạo đức và luân lý cao đẹp, cội nguồn của tinh thần hiệp sĩ châu Âu. Chính triết lý về sự hài hòa giữa thân thể và tinh thần đã mang lại cho Iran biết bao nhà vô địch trong các môn cử tạ và vật. Họ được Quốc vương Shah ủng hộ, người luôn quan tâm đến văn hóa và triết lý của họ.

Người Nga có lịch sử vật lâu đời, và hệ thống công thủ của họ mang tên Sambo vô cùng hiệu quả. Sự kết hợp của những phong cách này có lẽ giải thích vì sao họ đã đạt được thành công đáng kể trong judo quốc tế, dù mới tiếp nhận môn thể thao này cách đây không lâu.

Theo ghi chép của Trung Quốc, hình thức sớm nhất của môn võ chiến đấu — Wu Shu (Võ Thuật) — đã được một thủ lĩnh bộ lạc đưa vào như một chương trình huấn luyện từ tận năm 2.000 trước Công nguyên, và nó đã phát triển qua nhiều thời kỳ lịch sử bằng nhiều phương pháp khác nhau: múa, bắn cung, đấu kiếm, vật, đấm bốc và sử dụng thành thạo nhiều loại binh khí.

Từ năm 1949, chính phủ Trung Quốc đã nỗ lực rất nhiều để đưa những hình thức tự vệ cổ xưa ấy lên một nền tảng khoa học hiện đại. Từ năm 1953, Ủy ban Nhà nước về Thể dục Thể thao đã tiến hành nghiên cứu có hệ thống mọi biến thể, nguồn gốc, sự phát triển và triển vọng của nó.

Ngày nay, nhiều biến thể của Võ Thuật có thể được chia thành luyện tập để tự vệ và chiến đấu, và luyện tập để biểu diễn, trình diễn. Một số hình thức trong đó đã được các diễn viên, vũ công và nghệ sĩ xiếc tiếp nhận làm bài tập rèn luyện, cũng như một số vũ công cổ điển Nhật Bản học sự tinh khiết của động tác qua việc luyện aikido. Điều thú vị là nhiều phong cách Võ Thuật được các thầy thuốc Trung Quốc khuyến nghị và cổ vũ như những phương pháp trị liệu.

Hẳn bạn thắc mắc vì sao tôi lại dừng lâu ở võ thuật của các nước khác trong khi chúng ta chủ yếu bàn đến môn aikido của Nhật Bản. Bởi tôi muốn bạn thấy rằng, dù hết lòng với aikido, tôi vẫn sẵn sàng thừa nhận những hình thức khác cũng lành mạnh và quý giá, đồng thời muốn nhấn mạnh lời mở đầu của mình rằng nguyên lý phối hợp giữa tư tưởng và hành động thể chất không hề mới mẻ cũng không độc quyền. Nhưng giờ đây, xin hãy cùng xét đến một số môn võ của Nhật Bản và sự phát triển của chúng.

Nhắc đến vật, tài liệu tham chiếu đầu tiên và sớm nhất trong văn học Nhật Bản nằm trong thiên thần thoại của Kojiki (Cổ Sự Ký), ghi chép thành văn sớm nhất còn tồn tại của Nhật Bản; những tài liệu khác có thể đọc trong Nihon Shoki (Nhật Bản Thư Kỷ), biên niên sử của Nhật Bản.

Kojiki thuật lại cuộc thương lượng giữa một chủng tộc có nguồn gốc thần linh và một chủng tộc bình thường về quyền sở hữu đất đai. Một thành viên của chủng tộc bình thường, Takeminakata-no-Kami, không bằng lòng với kết quả cuộc tranh luận, đã thách đấu đại diện của chủng tộc thần linh, Takemikazuchi-no-Kami, phân định bằng một trận vật. Kẻ thách đấu thua cuộc, khiến chủng tộc thần linh chiếm trọn đất đai và mang lại sự thống nhất cho đất nước.

Niềm tin rằng môn vật Sumo có nguồn gốc từ thuở khai sinh dân tộc Nhật Bản và vì thế chảy trong huyết quản của họ đều bắt nguồn từ câu chuyện này.

Mục đích của môn vật thuở xưa là hoặc giết chết đối thủ, hoặc buộc đối thủ phải khuất phục vô điều kiện. Ngoài đá và vật, hình thức chiến đấu sơ khai này còn bao gồm khá nhiều đòn đấm rất dữ dội.

Trận vật Sumo tiêu biểu đầu tiên ở Nhật Bản là cuộc đấu giữa Nomi-no-Sukune và Taima-no-Kehaya, diễn ra trước mặt vị Hoàng đế thứ 11 của Nhật Bản, Thiên hoàng Suinin, vào năm 22 trước Công nguyên. Kết cục là Nomi-no-Sukune giết chết đối thủ bằng cách đá ngã xuống đất rồi giẫm lên đến chết.

Lối đánh tàn bạo và hoang dã ấy nhanh chóng được cải biến, và cuối cùng mang hình thức và kỹ thuật của một bài tập quân sự; thay vì là trận tử chiến dữ dội, nó trở thành một phần trong nếp luyện tập của cả võ sĩ lẫn thường dân, được luyện trong thời bình để chuẩn bị cho những biến cố của chiến tranh.

Qua hàng trăm năm, các môn võ được cải biến và luật lệ thi đấu được đặt ra. Dưới triều Thiên hoàng Shōmu (742–749), nhiều môn thể thao được khuyến khích bằng chiếu chỉ của Hoàng đế, và dân chúng có thể mong chờ những đại hội vật và bắn cung.

Thiên hoàng Nimmyō (trị vì 833–850) tuyên bố rằng những sự kiện thường niên huy hoàng về sức mạnh, kỹ năng, âm nhạc và múa không chỉ là dịp giải trí mà còn là dịp phô diễn quốc lực.

Các hệ thống rèn luyện thân thể cứ thế phát triển, ngay cả khi đại lễ hội phai nhạt dần vào cuối thế kỷ mười hai, thời điểm quyền lực chính trị chuyển từ Triều đình tại cố đô Kyoto sang tầng lớp võ sĩ.

Cùng với sự trỗi dậy của tầng lớp võ sĩ, môn vật càng được khuyến khích hơn nữa như một binh nghệ. Kỹ thuật tiến bộ vượt bậc và việc luyện tập được ưa chuộng khắp nơi trong dân chúng.

Về sau, trong thời Edo thanh bình và thịnh vượng (1603–1867), môn vật dần trở thành một thú tiêu khiển và môn thể thao phổ biến, trong khi khía cạnh binh nghệ của nó được các võ sĩ gìn giữ; họ phát triển và trau chuốt nó tách khỏi Sumo cho đến khi đạt tới nhiều hình thức ju-jutsu đa dạng.

Thực ra ju-jutsu đã tách khỏi Sumo sớm hơn nhiều và đạt mức phát triển đáng kể vào giữa thời Muromachi (1333–1573), một thời đại bị tàn phá bởi những biến động nội chiến khủng khiếp, trong đó các hệ thống chiến đấu được thay đổi và cải tiến nhờ những bài học rút ra trực tiếp từ chiến trận.

Trong những năm ấy, mỗi vùng trên đất nước đều có những phái ju-jutsu riêng, và mỗi bậc thầy có những phương pháp đặc thù. Một số tinh thông kỹ thuật đánh tay không, số khác lại ưa dùng gậy, thanh sắt, dùi cui hay giáo. Có sự kết hợp và biến thể giữa các hệ thống ấy, và người học muốn theo đòi phải lặn lội đi đây đó học hỏi cho đến khi tìm được một bậc thầy và một phương pháp hợp với nhu cầu của mình nhất.

Cho đến cuối thời Edo và cuộc Duy tân 1867, mục tiêu chính của ju-jutsu là thắng lợi trên chiến trường, và vì nhiều kỹ thuật chỉ được dùng như phương tiện giết chóc, trong cách luyện tập của nó có nhiều điều mà ngày nay chúng ta sẽ bác bỏ vì bất hợp lý và không thích đáng xét từ quan điểm giáo dục. Do đó, khi nội chiến kết thúc và hòa bình đến, ju-jutsu được sửa đổi rộng rãi và nhiều phương pháp cũ bị loại bỏ.

Tuy nhiên, có nhiều hình thức võ thuật rất đáng gìn giữ như những phương pháp rèn luyện thân thể, bởi không chỉ một số nguyên lý rất vững chắc, mà người ta còn nhận ra rằng mỗi động tác thành công của chân, tay, hông và đầu đều là kết quả của sự luyện tập tận lực và kinh nghiệm của các bậc thầy xưa.

Ngày nay, trong các cộng đồng văn minh, những người thiện chí cố sống một cách hợp lý và hòa bình với hàng xóm và tôn trọng nhân cách cùng tư tưởng của người khác, bởi nếu võ thuật bị lạm dụng thì mạng sống có thể dễ dàng bị đe dọa và xã hội rơi vào hỗn loạn.

Chúng ta thưởng thức những môn thi đấu được thiết kế riêng, trong đó võ thuật đã được hợp lý hóa và quy chế hóa để trở nên hữu ích như các môn thể thao. Chúng ta luyện đấu kiếm — vốn nảy sinh từ nghệ thuật chém và đâm bằng gươm; vật — vốn nảy sinh từ nghệ thuật nắm giữ; và quyền Anh — vốn tiến hóa từ nhiều cách đánh bằng tay.

Cũng vì thế mà judo phát triển từ nhiều khía cạnh của ju-jutsu và được cố Jigoro Kano thiết kế thành một hệ thống giáo dục và thể thao vào đầu năm 1882. Aikido cũng bắt nguồn từ ju-jutsu, đặc biệt là từ môn daitoryu-aiki-ju-jutsu thuở ban đầu, và được Giáo sư Morihei Uyeshiba hoàn thiện. Trong chương tới, bạn sẽ biết điều đó đã diễn ra như thế nào.

Ta đối mặt với địch và giao đấu với hắn — nếu hắn quay lưng bỏ đi, ta để cho hắn đi.

Tướng Quân Shinra Saburo Yoshimitsu

Vào khoảng năm 1100, có một võ sĩ đáng chú ý tên là Tướng quân Shinra Saburo Yoshimitsu. Ông tinh thông binh pháp, là một thầy thuốc, một tín đồ Thần đạo, một nhạc sĩ và nhà thơ. Sau khi nghiên cứu nhiều hình thức ju-jutsu, vị Tướng quân đã sáng chế một hệ thống tự vệ không binh khí, nhằm mang lại cho các tướng sĩ của mình cả thể lực lẫn an lạc tinh thần. Hệ thống ấy, mà ông gọi là daitoryu-aiki-ju-jutsu, tỏ ra thành công và quý giá đến mức suốt nhiều thế kỷ sau đó nó được giữ kín và chỉ truyền trong hàng ngũ gia tộc Minamoto hùng mạnh, rồi sau được gia tộc Takeda thuộc thị tộc Aizu tiếp nhận. Tiến sĩ Sogaku Takeda đã truyền dạy cho người kế tự, Giáo sư Morihei Uyeshiba, vào năm 1910 khi vị Giáo sư 28 tuổi. Ông cũng có kiến thức rộng về võ thuật Nhật Bản và tinh thông nhiều phái ju-jutsu, vì người thầy đầu tiên của ông về võ học là Tokuzaburo Tozawa, người đã dạy ông các bài quyền của phái Kito-ryu khi ông còn ở tuổi thiếu niên. Năm 20 tuổi, ông học Yagi-ryu — một hình thức đấu kiếm sơ khai — từ Masakatsu Nakai. Chính Nakai là người dạy Uyeshiba sử dụng bokken (gươm gỗ) thật điêu luyện. Ông cũng học judo với Kiyoichi Takaki tại Wakayama. Từ tất cả những điều ấy, ông chọn lấy những kỹ thuật hay nhất đã học, bổ sung vào đó sự tinh thông daitoryu-aiki-ju-jutsu của mình, và nhờ vậy hình thành nên hệ thống riêng, mà ngày nay được biết đến với tên gọi aikido.

Sau khi hoàn thiện và hiện đại hóa môn võ, ông quyết định rằng nó không còn nên là bí mật được canh giữ nghiêm ngặt của thị tộc, mà phải được mở ra cho những học trò được tuyển chọn, những người mong muốn học theo giáo huấn của ông. Mục tiêu của việc luyện tập ấy khi đó cũng như bây giờ, không chỉ là đạt được kỹ năng và sự thành thạo trong môn võ này, mà còn là tu dưỡng tâm trí và xây đắp nhân cách.

Giáo sư Uyeshiba · Giáo sư Tomiki

Tranh vẽ của Rex Benlow

Giáo Sư Morihei Uyeshiba

Giáo sư Uyeshiba là bậc đại sư aikido của Nhật Bản và danh tiếng của ông đã thành huyền thoại. Ông vẫn luyện tập đều đặn dù đã ngoài 80 tuổi, và ở Nhật Bản người ta đều công nhận rằng không ai có thể thực hiện các kỹ thuật aikido giống hệt ông, bởi những động tác uyển chuyển của ông đẹp đến say lòng người.

Giáo Sư Uyeshiba

Một thời gian sau khi tốt nghiệp Đại học Hàng hải ở Kobe, tôi kết thân với một quý ông tên là Samata Ito. Ông là một quân nhân hào hiệp và là một chuyên gia kiếm thuật lỗi lạc — môn mà chúng tôi gọi là kendo, đạo của thanh gươm. Ông cũng rất tinh thông aikido, đạo của tinh thần, vì ông từng là học trò của Giáo sư Morihei Uyeshiba.

Ông Ito đưa tôi đến gặp vị Giáo sư, và ông đồng ý dạy tôi; theo đó chúng tôi lên đường đến vùng đất nơi Uyeshiba sinh ra, một nơi gọi là Wakayama, và tại đó tôi sống như một học trò trong nhà ông.

Mỗi buổi sáng trước khi trời sáng, tôi theo thầy lên một ngôi đền trên đỉnh một ngọn núi nhỏ, và tại đó chúng tôi quỳ cầu nguyện, tôi cách thầy vài bước về phía sau. Có khi chúng tôi quỳ trên nền đá lâu đến một giờ, và tôi nhớ rằng đầu gối mình đã chịu không ít khó chịu trong lúc chờ bình minh. Khi ánh sáng dịu dần lan ra và ngày trở nên sống động tuyệt đẹp, chúng tôi cũng cầu nguyện với mặt trời, vì Giáo sư Uyeshiba là một tín đồ Thần đạo sùng đạo, xem mặt trời như gương mặt của Thượng đế.

Gần ngôi đền có một đình nhỏ, một nơi rất giản dị, nơi tôi nhận được sự truyền dạy aikido. Ở đó không có chiếu, và trong khoảng hai giờ đồng hồ tôi buộc phải ngã xuống trên sàn gỗ cứng, đến nỗi khi bài học kết thúc tôi ê ẩm không ít và các khớp cổ tay, khớp khuỷu đau nhức. Tuy vậy, đó là một phần của việc luyện tập: chỉ dẫn bằng lời ở mức tối thiểu và luyện tập thì vô cùng phong phú.

Sau các bài học, chúng tôi đi bộ trở về nhà, nơi tôi có nhiệm vụ dọn dẹp và chuẩn bị thức ăn. Khi ăn xong, thầy tôi có thể đi đến một nơi khác để truyền dạy, và thầy đi đến đâu tôi cũng theo đó, mang theo vài món đồ ít ỏi của thầy.

Buổi chiều lại có thêm giờ luyện tập, sau đó tôi bắt tay vào việc nấu bữa tối.

Đôi khi về đêm, Giáo sư đến thăm một người bạn cũ và say sưa những cuộc trò chuyện dài; tôi lại cùng đi với thầy. Tôi nhớ những buổi tối ấy với nhiều trìu mến, vì đó là những khoảng thời gian rất dễ chịu, và thật tốt khi được nghỉ ngơi, thư giãn lúc thân thể đã mỏi mệt vì luyện tập.

Khi trở về nhà, tôi trải giường cho thầy và có lẽ còn xoa lưng cho thầy, vì đó cũng là một phần nhiệm vụ của người học trò. Cuối cùng, tôi đọc cho thầy nghe một câu chuyện cổ về các võ sĩ Samurai từ một trong những cuốn sách cũ của thầy. Đó là những câu chuyện thầy yêu thích và là nguồn vui lớn của thầy.

Các bài học của tôi tiếp diễn theo nếp ấy trong ba tháng, sau đó Giáo sư và tôi cùng đi đây đó thêm sáu tháng nữa trong lúc thầy dạy học khắp nơi trên đất nước, cho đến khi cuối cùng chúng tôi trở lại Tokyo, nơi tôi tiếp tục theo học tại võ đường của thầy ở thành phố ấy.

Những ngày đầu ở Wakayama, tôi tưởng mình đã học được nhiều thứ một cách thuần thục, nhưng vào một buổi tối sau một ngày luyện tập vất vả, Giáo sư Uyeshiba giải thích rằng dù các động tác của tôi về mặt kỹ thuật là tốt, chúng vẫn chưa phải là aikido. Sự hoàn hảo về thể chất là chưa đủ; tôi có kỹ thuật, nhưng chưa có nghệ thuật. Muốn thật sự thành công, tôi phải hoàn toàn hòa hợp với tinh thần, bởi chính tinh thần mới là thứ dẫn dắt tâm trí và điều khiển thân thể. Tôi hỏi làm thế nào để đạt được điều ấy, và để giúp tôi hiểu aikido hơn, Giáo sư đã giải thích triết lý của mình.

Đây là điều thầy nói với tôi.

“Thuở khởi nguyên của thời gian, trước khi vũ trụ được tạo dựng, có một sự hỗn mang vĩ đại, một khối không trật tự cũng không sắp đặt. Dần dần, sự hỗn loạn khủng khiếp ấy lắng xuống và hình thành nên vũ trụ bao la: mặt trời, mặt trăng, các vì sao và trái đất của chúng ta.

Trên trái đất này, qua hàng triệu triệu năm, các nguyên tố đã mang hình hài của vật chất động vật, khoáng vật và thực vật. Con người cũng vậy, xuất hiện như một phần trong công cuộc tạo dựng vũ trụ.

Trạng thái tồn tại trước khi trời đất thành hình được gọi là ki. Trạng thái ki ấy người ta cũng gọi là Thượng đế hay Sinh lực, và những người khác gọi bằng những tên khác, tùy theo niềm tin của họ.

Trời đất, con người và mọi vật chất đều đến từ ki và trở về với ki. Bản thân con người là một hạt nhân ki chứa đựng trong thân thể mình. Con người có thể nói rằng mình đang sống một cuộc đời riêng biệt, nhưng sự sống và sự tồn tại của họ là một phần trong khuôn mẫu của vũ trụ.

Khi con người sống, họ tiếp tục nhận được ki; và khi thân thể họ tràn đầy sinh lực ấy, họ tràn trề sự sống, sức sống và niềm vui sống. Khi dòng sinh lực này cạn kiệt, họ trở nên yếu ớt và bệnh tật; và khi dòng chảy ấy yếu dần rồi ngừng hẳn, thân thể họ chết đi và tan rã.

Vì ki của chính ta là một phần của ki vũ trụ, ta nên để tự nhiên dẫn dắt, để cho ki tuôn chảy hầu trở nên hiệp nhất với vũ trụ.

Nghe thì khá đơn giản, nhưng chúng ta đã quá quen với việc ngăn chặn dòng chảy của ki đến mức khó lòng được tự nhiên trợ giúp. Nếu muốn được trợ giúp, chính chúng ta phải sẵn lòng thay đổi và sống hòa hợp với tinh thần.

Aikido nghĩa là sự hiệp nhất của đạo tinh thần, của việc hiệp nhất với sinh lực. Chính ý thức về ki ấy sẽ đạt tới nghệ thuật ở nơi hiện nay bạn chỉ có sự khéo léo.

Trong luyện tập, bạn phải điều chỉnh trạng thái tâm trí mình để ý thức rằng ki của bạn là một sinh lực sống động. Hãy phối hợp tâm trí và thân thể, và để cho ki của bạn tuôn chảy. Hãy nhớ rằng trước khi có thể điều khiển thân thể đối thủ, bạn phải điều khiển được tâm trí hắn. Luôn dẫn dắt ki của hắn, đừng bao giờ cố ngăn sức mạnh của hắn, mà hãy rút sức mạnh ấy ra khỏi hắn và đưa nó sang một bên, hướng năng lượng của hắn theo ý chí của bạn.

Hãy cố ý thức được rằng mình tràn đầy ki — sức mạnh của vũ trụ — và sử dụng sức mạnh ấy cho tốt. Hiệp nhất với sức mạnh vĩ đại này chính là aikido, đạo của tinh thần.”

Đó là triết lý của Giáo sư Uyeshiba, bậc đại sư Aikido của Nhật Bản.

Giáo Sư Kenji Tomiki

Khi trở lại Tokyo, tôi lại bắt đầu dạy judo tại võ đường riêng của mình. Cũng vào thời gian này tôi lần đầu gặp Giáo sư Kenji Tomiki, một người trong giới thể thao Nhật Bản vô cùng được kính trọng và ngưỡng mộ. Ông sinh năm 1900, và khi còn trẻ đã được chính Tiến sĩ Jigoro Kano — người sáng lập judo hiện đại — truyền dạy judo tại Kodokan cho đến khi vị này qua đời năm 1938.

Giáo sư Tomiki giữ đẳng cấp bát đẳng (đai đen cấp tám) trong judo và bát đẳng trong aikido. Ông phụ trách giáo dục thể chất tại Đại học Waseda ở Tokyo và dạy cả judo lẫn aikido. Ông là thành viên Ủy ban Chỉ đạo Đặc biệt của Kodokan và là quan chức của Liên đoàn Judo Toàn Nhật Bản.

Kenji Tomiki lần đầu theo học Giáo sư Uyeshiba năm 1930 và trở thành một trong những học trò thành công nhất của thầy.

Giờ đây, dù bộ môn aikido gần như vô tận và số lượng kỹ thuật cùng biến thể lên tới hàng nghìn, vẫn đúng khi nói rằng chúng được xây dựng trên tương đối ít những động tác nền tảng của thân thể. Là một giảng viên giáo dục thể chất, Giáo sư Tomiki quan tâm đến việc sáng chế một hệ thống truyền dạy aikido sao cho dễ dạy và dễ hiểu hơn trong các trường đại học và phổ thông. Ông lập luận rằng bằng cách trước tiên dạy học trò những kỹ thuật có chứa các động tác cơ bản, ông có thể đơn giản hóa cái vốn là một môn học phức tạp và rắc rối hơn. Những kỹ thuật trình bày trong sách này là những kỹ thuật do Giáo sư Tomiki tuyển chọn cho việc huấn luyện căn bản.

Dù bạn háo hức bắt đầu việc học đến đâu, trước khi bước lên thảm và thử bất kỳ kỹ thuật căn bản nào, bạn cần biết đôi điều về những nguyên lý chi phối aikido, bởi nếu không hiểu chút nào về tư thế, chuyển động, thăng bằng, nhu hòa và lễ nghĩa, bạn sẽ không phải là một học trò tốt.

Trong những chương sau, chúng ta sẽ xem xét chi tiết một số nguyên lý ấy, những nguyên lý đã được Giáo sư Uyeshiba và Giáo sư Tomiki giải thích cho tôi.

Đôi mắt — Mục

Đôi mắt — Mục

“… Khi bạn bắt gặp mắt hắn qua khe mũ giáp, hãy né sang trái, rồi lao ra chỗ đầu hắn…” (Wm. Morris 1834–1896).

Bạn nên nhìn vào đâu khi đối diện với đối thủ? Câu hỏi này cực kỳ quan trọng, vì nơi bạn tập trung ánh mắt là nơi bạn tập trung tâm trí và dồn nén ý chí.

Vậy thì nên nhìn vào đâu? Bởi nếu bạn nhìn vào tay hắn, làm sao bạn thấy được đầu hắn?

Nếu ánh mắt bạn dồn vào ngực hắn, bạn bị phân tán khỏi việc quan sát những nơi khác. Nếu bạn đặt tâm trí vào một chỗ mà bỏ quên những chỗ khác, bạn trở nên dễ bị tấn công. Vậy hãy nhìn vào mặt hắn và dồn ánh mắt vào mặt hắn, lấy đôi mắt hắn làm tâm điểm. Hãy nhìn vào mắt hắn nhưng thấy hắn từ đầu đến chân và từ bên này sang bên kia.

Giờ đây bạn phải luyện tập, và qua luyện tập bạn sẽ mài sắc các giác quan và phát triển bản năng nhận biết tự nhiên.

Nguyên lý tư thế tự nhiên, shizentai-no-ri

Tư thế tự nhiên, shizentai

Dù bạn thực hiện động tác nào, tư thế bạn chọn trước hoặc trong khi thực hiện động tác ấy đều quan trọng cho sự thành công của nó. Có những tư thế đúng cho việc chạy, chơi golf, cricket, đi bộ, ăn, đọc và viết. Thậm chí có những tư thế khác biệt căn bản trong những môn tưởng chừng giống nhau. Chẳng hạn, bắn súng trường đòi hỏi một thế đứng rất khác với việc bắn súng săn thành thạo.

Khi nói đến cận chiến tay đôi, phải áp dụng những tư thế khác nhau cho những phương pháp khác nhau. Tư thế của bạn trong đời thường phải là tư thế cho phép bạn đối phó với bạo lực bất cứ khi nào, bất cứ nơi đâu nó ập đến. Nếu bạn không thể giữ mình trong một tư thế đúng mà không cần cố gắng có ý thức, thì bạn đã thất bại trong luyện tập. Hơn nữa, nếu không có tư thế hoàn hảo, bạn sẽ thấy không thể thực hiện các kỹ thuật thành công.

Trong giới võ sĩ Samurai có một phương châm rằng người hoàn toàn chuẩn bị trông như thể chẳng chuẩn bị gì. Sử sách ghi rằng những chiến binh lỗi lạc ấy, trong mọi động tác thường ngày, không để lộ cơ hội nào cho kẻ địch vung gươm chém tới, bởi nhờ thấu hiểu trọn vẹn nguyên lý tư thế tự nhiên, họ đã nhận ra phương cách để mình bất khả xâm phạm. Thái độ ấy được xem là đỉnh cao của sự rèn luyện đạo đức và thể chất mà những học trò tận tụy của võ thuật nên hướng tới.

Điều này nghe có vẻ xa rời việc học cách vào tư thế, nhưng ở trình độ luyện tập cao, bạn phải đạt được sự cân bằng giữa tâm trí và thân thể. Không có sự phối hợp ấy, khó lòng bạn đạt tới kỹ thuật hoàn hảo, bởi mặt này phụ thuộc rất nhiều vào mặt kia.

Ở thế căn bản, không đưa chân phải cũng không đưa chân trái lên trước. Hai bàn chân đặt cách nhau khoảng bằng bề rộng vai, các ngón chân hơi hướng ra ngoài về hai bên. Đầu gối giữ thẳng nhưng không cứng khớp. Trọng lượng thân thể dồn trên hai chân, với trọng tâm ở vùng bụng. Ngực không được co lại, hơi thở phải nhẹ nhàng, đầu giữ thẳng, miệng khép hờ, mắt nhìn về phía trước và hai tay buông xuôi tự nhiên bên hông, không gò bó.

Ở shizentai, thân thể giữ được khả năng chuyển động mà không ngã, và tay chân thư giãn để có thể đưa vào hành động bất cứ lúc nào. Một tư thế cứng nhắc thường khiến động tác chậm chạp và thiếu linh hoạt.

Thế phải và thế trái là những biến thể đơn giản của tư thế tự nhiên căn bản. Ở thế tự nhiên bên phải, bàn chân phải hơi đưa lên trước; ở thế tự nhiên bên trái, bàn chân trái hơi đưa lên trước.

Tư thế ngồi, seiza

Tư thế căn bản ở thế ngồi là tư thế tự nhiên của thân thể với đầu gối gập lại. Ngón chân cái của bàn chân này đặt lên ngón chân cái của bàn chân kia, hai đầu gối không cách nhau quá xa cũng không quá sát. Trọng lượng thân thể dồn lên hai chân, thân trên thẳng đứng và trọng tâm, như thường lệ, ở vùng bụng.

Đây là tư thế bạn nên vào trong võ đường khi nghỉ ngơi ở mép thảm sau buổi tập, hoặc khi xem thầy mình trình diễn trong lớp. Tôi vào tư thế này khi đọc sách, viết hoặc ăn uống tại nhà. Nó được gọi là seiza.

Như một ví dụ về lối suy nghĩ đã góp phần hoàn thiện võ thuật ở Nhật Bản, hẳn bạn sẽ thấy thú vị khi biết rằng các võ sĩ Samurai đã dùng một biến thể của seiza. Một võ sĩ Samurai sẵn sàng tự vệ mọi lúc đặt hai bàn chân theo cách đặc biệt khi ngồi ở tư thế tự nhiên. Ông cũng ngồi với hai chân để ra sau, nhưng các ngón chân ấn chặt xuống đất để không thể bị đẩy ngã từ phía trước và có thể đứng dậy ngay vào thế phòng vệ nếu cần. Ông cũng luôn để ý bảo vệ lưng mình và giữ tầm nhìn rõ ràng về phía bất kỳ ai đang đến gần. Hai thanh gươm của ông luôn ở trong tầm tay và không bao giờ rời khỏi người. Ngay cả khi tắm rửa hay ân ái, chúng vẫn luôn nằm trong tầm nắm tức thì.

Kekka-fuza, tư thế ngồi khoanh chân

Mỗi năm ở Tokyo có một giải thưởng trao cho người thợ thủ công đạt được tư thế hoàn hảo trong khi làm nghề. Lần cuối tôi ở Nhật Bản, giải thưởng thuộc về một người đóng sách, người có cả tay nghề lẫn tư thế đều xuất sắc. Kiểu ngồi mà anh ta dùng được gọi là kekka-fuza, và quả thực khó hơn seiza, đặc biệt với người phương Tây, dù một khi đã vào được tư thế này thì có thể ngồi thoải mái lâu dài mà lưng và chân đều không mỏi.

Bạn có thể nghĩ rằng chuyện ngồi như thế này được coi trọng quá mức, nhưng tôi xin bạn nhớ rằng ở phương Đông, giữ thân trên thẳng đứng và trọng tâm ở vùng bụng từ xưa đã được xem là bước đầu tiên để tu dưỡng tâm trí.

Tư thế tự vệ, jigotai

Tư thế tự vệ hoàn toàn khác với tư thế tự nhiên. Nó được gọi là jigotai và là một thế đứng cứng cáp của thân thể với trọng tâm thấp hơn. Hai bàn chân đặt rộng ra, đầu gối gập, thân trên hạ thấp. Khi chân phải đưa lên trước, thế đứng được gọi là migi-jigotai (thế phòng vệ bên phải); khi chân trái đặt lên trước, thế đứng được gọi là hidari-jigotai (thế phòng vệ bên trái).

Jigotai là một thế đứng vững chãi, khó thay đổi trong chớp mắt. Tuy vậy nó vẫn phải được dùng, bởi bạn không thể đánh, đẩy hay kéo đối thủ bằng toàn bộ sức nặng thân thể mình và thực hiện thành công các kỹ thuật quật ngã nếu không vào thế đứng này.

Khi đã buộc phải vào thế tự vệ, bạn cũng phải sẵn sàng trở lại tư thế tự nhiên ngay lập tức. Chỉ khi ấy bạn mới có thể đối phó với bất kỳ thay đổi nào trong hành động của đối phương, những thay đổi có thể đến rất nhanh. Về nguyên tắc, bạn nên luôn cố duy trì tư thế tự nhiên, vì shizentai dễ thích ứng, thư giãn và co giãn, cho phép thân thể bạn đổi hướng và đổi thế theo yêu cầu.

Chuyển động, undo

Tư thế căn bản của aikido

Bức ảnh này cho thấy tư thế để thực hiện nhiều kỹ thuật aikido, đặc biệt khi thực hiện kata của các động tác quy cách — mười lăm kỹ thuật căn bản.

Khi chúng tôi nói trong võ đường về tư thế aikido căn bản, đó chính là điều được nói tới.

Chuyển động, undo

Trong cận chiến tay đôi, bạn phải giữ sự bình tĩnh, để cho ki tuôn chảy và duy trì tư thế tự nhiên hầu có thể công hay thủ một cách tự do. Chuyển động tốt quan trọng ngang với tư thế thân thể, vì chính nhờ chuyển động mà bạn thay đổi vị trí thân thể mình. Nếu thân thể chao đảo và mất thăng bằng, nó mở ra một sơ hở để đối thủ lợi dụng mà tấn công. Vì vậy, muốn chuyển động theo bất cứ hướng nào, bạn phải di chuyển bàn chân đúng cách để giữ thăng bằng.

Ayumi-ashi

Những bước chúng ta đi mỗi ngày được gọi là ayumi-ashi, tức bước đi thường, trong đó hai bàn chân đặt xuống luân phiên, chân này vượt qua chân kia và nhận trọng lượng của bạn trên mặt đất. Bạn có thể dễ mất thăng bằng khi đi ayumi-ashi nếu bước quá dài, và có thể bị làm cho mất thăng bằng nếu ngay trước khi bàn chân chạm đất và nhận trọng lượng, chân bạn bị duỗi thẳng ra. Một ví dụ rất đơn giản: hãy tưởng tượng có một sợi dây buộc quanh cổ chân bạn. Khi bạn sắp dồn trọng lượng lên bàn chân sau khi bước một bước, và ai đó giật sợi dây, bạn sẽ ngã vì chân bạn đã bị duỗi ra. Nguyên lý cũng hệt như khi bạn trượt vỏ chuối; bạn ngã vì chân bị duỗi và mất thăng bằng. Đi bộ thường, tức ayumi-ashi, nói chung không thể dùng an toàn trong giao đấu.

Kế Túc

Tsugi-ashi

Cách di chuyển bàn chân mà bạn nên dùng thường xuyên nhất trong giao đấu được gọi là tsugi-ashi, nghĩa là bước nối tiếp, hay bước theo sau. Nếu bạn từng xem một kiếm sĩ cầm kiếm mảnh tiến lùi, bạn đã thấy một ví dụ điển hình của tsugi-ashi. Hãy di chuyển theo cách này khi bạn muốn giữ trọng tâm ngang bằng, rồi dịch chuyển dần dần theo bất cứ hướng nào. Chẳng hạn, nếu bạn đang ở thế tự nhiên bên trái và bước chân trái lên trước, thì trước khi bàn chân ấy đặt hẳn xuống đất và nhận trọng lượng, bạn phải đưa chân phải lên trước luôn. Theo cách ấy, cả hai bàn chân gần như đặt xuống đất cùng lúc và thân thể giữ được thăng bằng khi tiến lên. Quy tắc này áp dụng cho bất cứ hướng di chuyển nào bạn chọn.

Để luyện tập di chuyển bàn chân, bạn nên thực hiện những bài tập sau. Hai bàn chân bạn phải lướt hoặc trượt trên mặt thảm và nối tiếp nhau gần như đồng thời, thay vì được đặt xuống và nhấc lên quá dứt khoát. Đếm một nhịp cho mỗi cặp động tác. Trong khi luyện tập, hãy duy trì tư thế tự nhiên và chắc chắn rằng các động tác của bạn nhanh, nhẹ và tương đối nhỏ, thì thăng bằng của bạn sẽ không bị xáo trộn.

A.

B. Tiến

Tiến, Lùi và Lùi

Bài tập 1

Di chuyển tiến và lùi bằng tsugi-ashi, tức bước nối tiếp.

Nhịp 1. Lướt một bước tới bằng chân trái, rồi lập tức bước tiếp bằng chân phải.

Nhịp 2. Trở về vị trí ban đầu bằng cách đưa chân phải lùi lại, rồi lập tức đưa chân trái theo.

Nhịp 3. Bước lùi bằng chân phải, rồi lập tức bước tiếp bằng chân trái.

Nhịp 4. Trở về vị trí xuất phát bằng cách đưa chân trái tới trước, rồi lập tức đưa chân phải theo.

Bài tập này bắt đầu bằng việc bạn bước bằng chân trái.

Giờ hãy hoàn thành thêm bốn nhịp nữa bằng cách lặp lại bài tập, nhưng lần này dẫn bước bằng chân phải và đếm từ 5 đến 8.

Bài tập 2

Di chuyển sang trái và sang phải bằng tsugi-ashi, tức bước nối tiếp.

Nhịp 1. Lướt một bước sang trái bằng chân trái, rồi lập tức bước tiếp bằng chân phải.

Nhịp 2. Trở về vị trí ban đầu bằng cách đưa chân phải sang phải, rồi lập tức đưa chân trái theo. Bạn đã trở lại vị trí xuất phát.

Nhịp 3. Dịch sang phải bằng chân phải, rồi lập tức đưa chân trái theo.

Nhịp 4. Trở về vị trí xuất phát bằng cách đưa chân trái sang trái, rồi lập tức đưa chân phải theo.

Bài tập này bắt đầu bằng việc bạn bước chân trái sang trái. Giờ hãy hoàn thành thêm bốn nhịp nữa bằng cách lặp lại bài tập, nhưng lần này dẫn bước bằng chân phải sang phải và đếm từ 5 đến 8.

Khi đã có thể tiến, lùi và sang hai bên một cách dễ dàng, thoải mái, bạn nên luyện tập xoay người.

Bài tập 3

Bước tới và xoay thân thể cùng bàn chân một góc vuông bằng tsugi-ashi, tức bước nối tiếp.

Nhịp 1. Lướt một bước tới bằng chân trái, rồi lập tức bước tiếp bằng chân phải, đồng thời xoay cả bàn chân lẫn thân thể sang phải.

(Lúc này bạn phải đang ở thế vuông góc với vị trí xuất phát).

Nhịp 2. Trở về vị trí ban đầu bằng cách đưa chân phải, rồi lập tức đưa chân trái theo.

Nhịp 3. Lướt một bước tới bằng chân phải, rồi lập tức bước tiếp bằng chân trái, đồng thời xoay cả bàn chân lẫn thân thể sang trái.

Nhịp 4. Trở về vị trí xuất phát bằng cách đưa chân trái, rồi lập tức đưa chân phải theo.

Bạn đã tiến tới và xoay một góc vuông; giờ bạn phải lùi lại và xoay.

Nhịp 5. Quét một bước lùi bằng chân phải theo một vòng cung, rồi lập tức bước tiếp bằng chân trái, đồng thời xoay cả bàn chân lẫn thân thể sang phải.

Nhịp 6. Trở về vị trí ban đầu bằng cách đưa chân trái, rồi lập tức đưa chân phải theo.

Nhịp 7. Quét một bước lùi bằng chân trái theo một vòng cung, rồi lập tức bước tiếp bằng chân phải, đồng thời xoay bàn chân và thân thể sang phải.

Nhịp 8. Trở về vị trí xuất phát bằng cách đưa chân phải, rồi lập tức đưa chân trái theo.

Như vậy bạn đã hoàn thành ba bài tập di chuyển bàn chân, mỗi bài tám nhịp, tổng cộng 24 động tác.

Thăng bằng, heikin

Khi chúng ta chuyển động, hành động của thân thể không liên tục. Nó gồm có động và tĩnh, cái này tiếp nối cái kia. Muốn nhận ra thời cơ tốt nhất để công và thủ, bạn phải hiểu thấu đáo nhịp điệu của chuyển động.

Thời điểm tốt nhất để khởi phát kỹ thuật của bạn, dĩ nhiên, là lúc chuyển động đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Khoảng dừng ấy có thể ngắn đến mức, nếu sự phối hợp của bạn không thật xuất sắc, bạn khó lòng tận dụng được nó và thời cơ sẽ vụt qua. Chính vì thế mà bạn phải luôn khớp chuyển động và nhịp điệu của mình với đối thủ, cũng như phải điều chỉnh lực và khí cho hợp với hắn. Chỉ khi chuyển động và nhịp điệu hoàn toàn ăn khớp, bạn mới có thể nắm bắt cơ hội để áp dụng kỹ thuật.

Wa, tức sự hòa hợp, là nguyên lý nền tảng của võ thuật. Nhu thuật trước kia được gọi là wa-jutsu, và điều đó cho thấy ju, sự nhu hòa, cũng mang nghĩa wa, sự hòa hợp.

Thăng bằng, heikin

Trọng tâm của con người nằm ở vùng bụng, hơi cao hơn xương chậu và ngay phía trước cột sống. Tất nhiên, vị trí chính xác thay đổi đôi chút tùy theo thể trạng mỗi người.

Hãy tưởng tượng một đường thẳng, như dây dọi của thợ xây, chạy từ đỉnh xuống đáy và đi qua trọng tâm. Đường ấy gọi là đường trọng lực. Khi một người đứng ở tư thế tự nhiên, đường trọng lực rơi vào bên trong một hình chữ nhật hẹp vẽ giữa bốn góc tạo thành bởi gót chân và mũi chân. Nếu đường dọi ấy rơi ra ngoài vùng đó, trọng tâm dịch chuyển, thế cân bằng bị phá, và người ấy buộc phải bước đi để lấy lại thăng bằng hoặc ngã nhào.

Nếu một kỹ thuật được áp dụng đúng theo hướng làm mất thăng bằng của thân thể đối phương, thì hắn có thể bị quật ngã. Trạng thái mất thăng bằng trước khi ngã ấy gọi là kazure-no-jotai. Thay vì chờ thế cân bằng tự mất đi trong giao đấu, người nắm thế chủ động sẽ cố ý phá thăng bằng đối thủ, rồi sau khi đã nắm quyền chi phối trận đấu, mới áp dụng kỹ thuật để đưa hắn xuống đất.

Góc Sau Phải — Góc Sau Trái — Phải — Trái — Góc Trước Phải — Góc Trước Trái — Trước — A

Phá tư thế (thăng bằng), kuzushi

Một người đứng trên hai bàn chân có thể bị làm mất thăng bằng theo tám hướng khác nhau. Đó là: tới trước, ra sau, sang trái, sang phải, hai góc trước trái và phải, và hai góc sau trái và phải. Cách phá thăng bằng này gọi là happo-no-kuzushi.

Thăng bằng đặc biệt dễ bị phá theo hướng của đường A đến B trong hình minh họa. Điều này đúng ngay cả khi thân thể đang ở thế tự vệ jigotai, với hai chân dang ra, thân người cứng lại và trọng tâm hạ thấp.

Điều quan trọng bạn cần nhận ra là: một khi thân thể đã mất thăng bằng, chẳng hạn theo hướng tới trước, nó cũng dễ bị phá theo hướng ra sau, bởi vì trong nỗ lực sửa lại thế thăng bằng đang lung lay và khôi phục cân bằng, đối thủ của bạn có thể bị đưa đi quá xa về phía ngược lại. Một khi đã hiểu cách một người cố gắng lấy lại tư thế, bạn có thể lợi dụng trạng thái ấy bằng phương pháp phá thăng bằng phản hồi. Chẳng hạn, nếu muốn phá thăng bằng đối thủ về phía trước, trước tiên bạn phá hắn về phía sau, rồi lợi dụng nỗ lực giữ thăng bằng và khôi phục tư thế cũ của hắn mà phá hẳn thăng bằng của hắn về phía trước. Cách phá thăng bằng phản hồi ấy gọi là hando-no-kuzushi.

Chuẩn bị và ra đòn, tsukuri, kake

Tsukuri và kake — chuẩn bị và ra đòn

Mỗi kỹ thuật trong aikido được chia thành phần chuẩn bị, gọi là tsukuri, và kỹ thuật tấn công thực sự, gọi là kake. Hành động chuẩn bị lại chia thành hai phần: jibun-no-tsukuri, tức chuẩn bị chính mình, và aite-no-tsukuri, tức chuẩn bị đối thủ.

Chuẩn bị đối thủ nghĩa là bạn phải phá thăng bằng hắn và dẫn hắn vào một vị trí sao cho việc áp dụng kỹ thuật của bạn trở nên dễ dàng. Đồng thời, điều quan trọng là bạn phải ở vào vị trí và tư thế cho phép mình thực hiện kỹ thuật đã chọn mà không phải gắng sức quá mức.

Nếu bạn chuẩn bị đối phương mà không chuẩn bị chính mình, thì thăng bằng của bạn có thể bị phá và kỹ thuật của bạn sẽ thất bại. Nó thất bại vì vào lúc thân thể mất thăng bằng, mọi hành động tiếp theo đều bất khả, bởi đòn bẩy, lực và trọng lượng thân thể chỉ có thể được vận dụng đúng cách từ một tư thế vững vàng. Hơn nữa, nếu chính bạn mất thăng bằng và để đối thủ lấy lại cân bằng, bạn đã trao cho hắn một cơ hội tuyệt vời để phản đòn, và nếu hắn nhanh nhẹn, chắc chắn hắn sẽ nắm lấy.

Nhu thuật, ju-no-ri · Chủ động, sen

Nguyên lý nhu hòa, ju-no-ri

Bạn sẽ không bị đánh bại nếu giữ được tư thế đúng, tâm trí sáng suốt, chuyển động thân thể một cách tự nhiên với những động tác tốt và để khí lưu thông. Bạn sẽ bị đánh bại nếu tư thế bị xáo trộn và thế cân bằng của thân thể lẫn tinh thần bị mất đi.

Chúng ta phải xét xem sự thấu hiểu ấy nên được vận dụng vào thực hành ra sao, bạn nên xử lý thế nào với sức mạnh của đối thủ khi nó được dùng để chống lại bạn, và làm sao để dẫn dắt và làm tiêu tan lực ấy.

Nếu đối thủ đẩy bạn bằng tay, bạn nên lùi một bước thay vì chống lại, và bạn sẽ không cảm thấy lực của hắn. Nếu bước lùi của bạn dài hơn bước tới của hắn, thì thăng bằng của hắn sẽ bị phá bởi chính đà của hắn. Tương tự, khi hắn đẩy, bạn có thể bước sang một bên, xoay người và dẫn hắn tới trước; khi bạn dẫn hắn đi, sức mạnh của hắn bị tiêu hao. Lúc đó bạn có thể khống chế hắn, áp dụng kỹ thuật đã chọn và đưa hắn xuống đất.

Nguyên lý nhu hòa là hòa hợp với sức mạnh của đối thủ, điều chỉnh nhịp điệu và chuyển động của thân thể mình cho khớp với hắn, không chống lại hắn mà nhường bước.

Ju-no-ri có thể được tượng trưng bằng cây tre: mềm dẻo mà khó bị bẻ gãy. Trong cơn bão dữ, tre cúi mình trước gió. Chính những cây cứng cáp nhưng không chịu uốn mình mới bị bẻ gãy và quật ngã.

Thế chủ động, sen

Lòng can đảm và sự dũng cảm trong giao đấu không đủ để mang lại thắng lợi trong cận chiến tay đôi. Muốn đạt đến bậc thầy, bạn phải kết hợp các phẩm chất tinh thần, sức mạnh, kỹ thuật và khả năng nắm thế chủ động. Điều ấy đến từ sự thấu hiểu đúng đắn các nguyên lý của aikido, cùng với luyện tập không ngừng để mọi hành động trở thành bản năng, không cần suy nghĩ có ý thức. Ở giai đoạn luyện tập ấy, bạn sẽ có được sự điềm tĩnh đến từ kinh nghiệm và có thể đối diện đối thủ mà không căng thẳng. Trên hết, bạn sẽ phát triển được năng lực nắm thế chủ động.

Ở Nhật, từ chỉ thế chủ động là sen, và chính người kiếm sĩ xuất sắc ấy — bạn tôi, Đại úy Samata Ito — là người đầu tiên giải thích đầy đủ cho tôi về các cấp độ của thế chủ động. Đây là điều ông kể cho tôi.

Có thế chủ động, tức sen, khi bạn đón trước đối phương bằng cách khởi phát một kỹ thuật chống lại hắn ngay trước khi hắn bắt đầu tấn công bạn.

Thế chủ động trong phòng thủ, ato-no-sen

Còn có thế chủ động trong phòng thủ, tức ato-no-sen, khi bạn không đoán trước ý đồ của đối thủ và ngăn chặn hành động của hắn, mà bắt đầu một động tác phòng thủ ngay lúc bạn nhận ra hắn sắp tấn công. Như vậy bạn tránh được đòn ngay khi nó vừa được tung ra, và lợi dụng khoảng dừng trong chuyển động cùng sự xáo trộn tư thế của hắn để áp dụng kỹ thuật của mình.

Thế chủ động cao hơn, sen-sen-no-sen

Thứ ba, có thế chủ động cao hơn, tức sen-sen-no-sen, khi bạn đối diện một đối thủ sắp tấn công và chế ngự hắn bằng cách đón trước trạng thái tâm trí cùng ý đồ của hắn và ngăn chặn hành động của hắn. Tầm vóc chủ động này được xem là khó đạt nhất, là đỉnh cao của sự tu dưỡng tinh thần trong võ thuật.

Samata Ito

Bạn tôi, Samata Ito, là người hiểu trọn vẹn các nguyên lý của thế chủ động. Khả năng nhận biết của ông phát triển đến một mức độ đáng kinh ngạc và sự cảm nhận của ông thật phi thường.

Nhờ vận dụng trực giác trong các chiến dịch thời chiến, ông có thể quyết định khi hạ trại qua đêm rằng binh lính của mình được phép thư giãn, cởi ủng và ngủ yên hay phải nghỉ ngơi trong tư thế mở một mắt và đặt ngón tay lên cò súng.

Có một lần, sau một đêm yên ả, Ito thức dậy với cảm giác bất an và quyết định đi dạo một quãng cách xa binh lính của mình, những người đang chuẩn bị nhổ trại. Đi được một lúc trong ánh bình minh sớm, ông bước ra khỏi con đường xuyên rừng và thấy mình đối diện một nhóm lính địch đã vũ trang, sẵn sàng chiến đấu.

Ito, lẽ thường tình, có chút sợ hãi khi đối diện với ngần ấy quân địch, nhưng chỉ một khoảnh khắc sau nỗi sợ ấy tan biến. Ông là một người lính được huấn luyện kỹ càng về võ thuật, và không hề có chuyện bỏ chạy — chỉ còn câu hỏi làm sao vận dụng kỹ năng của mình tốt nhất trong tình thế này. Ito rút gươm và trở thành một con người trọn vẹn, một Samurai.

Khi bọn lính, với súng trường, lưỡi lê và gươm, xông đến tấn công ông, vị kiếm sĩ lỗi lạc ấy đã giết 19 tên bằng thanh katana hai tay của mình, trước khi tiếng giao chiến ầm ĩ và những tiếng ki-ai của ông khi ra đòn báo động cho binh lính của mình, biến một thất bại gần như đơn độc thành một cuộc tháo chạy hoàn toàn của địch.

Bạn có thể tự hỏi vì sao bọn lính không tấn công cùng lúc thành một khối, vì khi ấy chắc chắn Ito đã bị áp đảo; hay vì sao chúng không bắn ông từ xa. Ấy vậy mà trong lịch sử, người ta đã ghi nhận khá thường xuyên rằng khi đối diện một đối thủ đặc biệt, một nhóm người lại chọn — mà không hiểu vì sao — đánh với người ấy trong thế một chọi một. Đã có rất nhiều trường hợp như thế trong cuộc chiến vừa qua, khi ngay giữa tiếng ồn và hỗn loạn của một trận đánh lớn, một số người lại thu hút sự chú ý kiểu ấy.

Chính nhờ sự hiện diện phi thường của mình, Ito dường như đã thôi miên quân địch. Chúng khiếp sợ trước hào quang điềm tĩnh và tự tin của ông, mà nỗi sợ thì có thể gây tác dụng tê liệt lên một con người. Chắc chắn bọn lính ấy không được trang bị đầy đủ về mặt tinh thần để chiến đấu với một cao thủ như vậy.

Chúng thiếu những phẩm chất về tư thế, chuyển động và kỹ thuật hoàn chỉnh của ông. Trên hết, Ito hiểu rằng người ta phải khống chế tâm trí địch trước khi đánh bại thân thể chúng. Sự thấu hiểu khí của ông đã cứu mạng ông và khiến chúng mất mạng.

Aikido và judo

Aikido và judo

Vì tôi cũng dạy judo nên học trò thường hỏi tôi về sự khác biệt giữa judo và aikido; vậy tôi xin cố gắng đưa ra vài câu trả lời.

Các kỹ thuật của randori, tức những bài tập tự do được thiết kế cho giáo dục và thể thao trong judo, bao gồm các phương pháp sau. Nage-waza, các kỹ thuật quật ngã bằng tay, hông hoặc chân từ tư thế đứng hay nằm. Katami-waza, các kỹ thuật vật thường dựa trên osae-waza, tức ghì chặt và cố định đối phương trên mặt đất. Shime-waza, các phương pháp siết cổ và bóp nghẹt, và kansetsu-waza, các kỹ thuật bẻ và vặn khớp để tạo thành khóa xương. Một số khóa tay và đòn siết cổ có thể được áp dụng khi hai người còn đang đứng, nhưng điều này không phổ biến lắm, vì hầu hết những kỹ thuật ấy được thực hiện dưới dạng vật lộn trên mặt đất. Trong luyện tập judo, khóa xương chỉ được thực hiện trên khớp khuỷu tay. Những kỹ thuật này được áp dụng khi hai người nắm lấy nhau.

Aikido sử dụng một số phương pháp của atemi-waza, tức những đòn đánh vào các huyệt điểm trên thân thể, và kansetsu-waza, tức các phương pháp bẻ và vặn khớp, đặc biệt là khớp tay. Những kỹ thuật này được áp dụng mà không cho đối thủ cơ hội vật lộn với bạn ở cự ly gần.

Judo được luyện tập dưới hình thức những cuộc thi có kiểm soát, đấu theo luật chặt chẽ, trong đó mỗi người đối diện đối thủ của mình trên thế ngang bằng và mỗi bên nắm lấy áo của bên kia.

Tuy nhiên, trong một tình huống bạn cần tự bảo vệ mình khỏi bạo lực, bạn khó lòng gặp đối phương trên thế ngang bằng, và vì thế sẽ là khôn ngoan nếu bạn có kiến thức về atemi-waza và kansetsu-waza được dùng trong aikido, những kỹ thuật bạn có thể dùng mà không cho kẻ tấn công cơ hội nắm lấy mình.

Một điểm khác biệt nữa là aikido, không như judo, không được luyện tập dưới hình thức thi đấu, vì có nguy cơ chấn thương khi ra đòn, chịu đòn hoặc áp dụng khóa xương.

Aikido được luyện tập theo lối các bài tập mà chúng tôi gọi là kata, tức các bài quyền, và chính vì điều đó, cùng với việc không có các kỹ thuật vật hay vật lộn trên mặt đất như judo, nó tỏ ra là một môn học và một cách tiêu khiển tuyệt vời cho những người lớn tuổi, cũng như cho phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ đặc biệt thấy các động tác rất duyên dáng. Một trong những học trò ở London của tôi, người rất thích luyện tập aikido, là một quý ông hơn 60 tuổi. Học trò nhỏ tuổi nhất của tôi mới 10 tuổi.

Bàn tay gươm, tegatana

Lưỡi dao bàn tay, Tegatana

Trong các trường phái võ thuật khác nhau có những cách tung đòn khác nhau. Người ta có thể đánh bằng nắm đấm, bằng lưỡi dao bàn tay, bằng cùi chỏ, đầu gối, bàn chân, hoặc thậm chí bằng sự kết hợp của những bộ phận ấy như trong karate — hình thức chiến đấu hiệu quả nhất.

Lưỡi dao bàn tay, tức tegatana (nghĩa đen: gươm tay), là bộ phận thân thể được dùng thường xuyên nhất trong aikido để ra đòn khi tấn công hoặc đỡ đòn khi phòng thủ. Lưỡi dao bàn tay được tạo thành bởi bàn tay mở hẳn với các ngón và ngón cái duỗi thẳng, gắn chặt vào nhau. Bằng cách dồn năng lượng của thân thể vào cạnh chém của bàn tay, người ta có thể tung ra những đòn có sức mạnh đáng kể. Những đòn ấy gọi là atemi-waza (nghĩa đen: ate là đánh, mi là thân thể).

Đòn đánh vào các điểm yếu trên thân thể, atemi-waza

Trên thân thể có nhiều chỗ yếu mà ta có thể đánh vào kẻ tấn công, và chúng thay đổi theo vị trí biến chuyển của hắn trong giao đấu; nhưng hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng, từ quan điểm tự vệ, đánh vào mặt đối thủ rồi quật hắn ra sau là một lựa chọn rất hiệu quả. Điều đó chắc chắn làm hắn mất hết tinh thần.

Có hai cách dùng một đòn trực diện chống lại đối thủ sau khi thăng bằng của hắn đã bị phá. Cách thứ nhất là đánh hắn theo hướng bạn đã phá thăng bằng, và gây cho hắn một cú sốc đủ mạnh khiến hắn không thể hoặc không muốn tiếp tục giao đấu.

Cách thứ hai, được dùng trong aikido, là tung cho đối phương một đòn nhẹ hơn hoặc một cái đẩy khi hắn đang ở trạng thái mất thăng bằng, rồi áp dụng thêm một kỹ thuật nữa. Bạn có thể chọn một kansetsu-waza để khóa tay hắn, hoặc một nage-waza trong kho kỹ thuật randori của judo, hoặc — nếu thăng bằng của hắn bị phá đến mức hắn đã ngã xuống vì cú đẩy nhẹ của bạn — một katame-waza để hoàn tất hành động trên mặt đất.

Tư thế lưỡi dao bàn tay gọi là tegatana-no-kame, và được chia thành thế bên trái và bên phải; từ đó lưỡi dao bàn tay được sử dụng ở những vị trí sau đây.

1. Jodan, thế trên đầu

2. Chudan, thế giữa

3. Gedan, thế thấp — 4. Hasso, thế cao bên phải và bên trái

5. Waki, thế bên hông Có năm động tác lưỡi dao bàn tay căn bản, cần được luyện tập bằng cả hai tay. Đó là:

  1. Uchi-mawashi, quét vào trong —
  2. Soto-mawashi, quét ra ngoài —
  3. Uchi-gaeshi, xoay vào trong —
  4. Soto-gaeshi, xoay ra ngoài —
  5. O-mawashi, quét vòng lớn.

Chúng được trình bày đầy đủ trong chương về các bài tập căn bản. Những động tác tay này cùng các động tác chân (xem trang 27) luôn mở đầu một lớp aikido.

Khoảng cách, ma-ai

Ma-ai, khoảng cách

Khoảng cách giữa bạn và đối thủ khi luyện tập rất quan trọng. Bạn không nên đứng quá gần hắn hay quá xa. Nếu đứng quá gần, bạn sẽ thấy khó di chuyển tự do để tránh một đòn tấn công bất ngờ. Nếu ở quá xa hắn, bạn sẽ khó thực hiện kỹ thuật chống lại hắn. Tuy nhiên, nếu bạn ở vào vị trí mà hắn phải bước tới một bước để tấn công và bạn phải bước tới một bước để phản đòn, thì đó được coi là ma-ai tốt, tức khoảng cách tốt. Khi ở gần hơn khoảng cách ấy, bạn phải đã bắt đầu thực hiện kỹ thuật của mình — tới trước, ra sau, sang phải hay sang trái tùy theo yêu cầu.

Ai-gamae và gyaku-gamae — thế thuận và thế nghịch

Khi đối thủ tấn công, bạn phải lập tức quyết định xem mình sẽ đứng và đón hắn thế nào, và tư thế nào phù hợp nhất với việc phòng thủ cùng phản công mà bạn nên dùng.

Từ tư thế tự nhiên, bạn buộc phải chuyển sang thế bên phải hoặc bên trái, một trong hai. Điều này đã đủ quan trọng trong phòng thủ khi bạn muốn chặn đòn đánh của hắn nhắm vào mình.

Nó còn quan trọng hơn nếu bạn định đánh hắn bằng một atemi-waza, hoặc lợi dụng thế thăng bằng đã bị phá của hắn mà áp dụng một kansetsu-waza để cố định hắn hoặc quật hắn xuống.

Khi mô tả các kỹ thuật, tôi sẽ dùng thuật ngữ thế thân hướng thuận bên phải và bên trái, tức ai-gamae, và thế thân hướng nghịch bên phải và bên trái, tức gyaku-gamae. Thuận và nghịch được dùng để mô tả tư thế của bạn trong tương quan với đối thủ. Bạn sẽ hiểu các từ hidari, bên trái, và migi, bên phải, từ những giải thích trước đó.

Hành động chuẩn bị, tsukuri

Đây là bốn vị trí:

1. Khi hai bạn đối diện nhau và đối thủ bước tới phía bạn bằng chân phải, và bạn quyết định rằng nước đi tốt nhất của mình là đón hắn với chân phải đưa lên trước, thì tư thế mà bạn — người phòng thủ — đã chọn là thế thân hướng thuận bên phải, tức ai-gamae.

2. Nếu đối thủ bước tới bằng chân trái và bạn đón hắn với chân trái đưa lên trước, thì đó là thế thân hướng thuận bên trái, tức hidari ai-gamae.

3. Khi hai bạn đối diện nhau và đối thủ bước tới phía bạn bằng chân phải, mà bạn quyết định rằng nước đi tốt nhất của mình là đón hắn với chân trái đưa lên trước, thì đó là thế thân hướng nghịch bên trái, tức hidari gyaku-gamae.

4. Nếu đối thủ bước tới bằng chân trái và bạn đón hắn với chân phải đưa lên trước, thì đó là thế thân hướng nghịch bên phải, tức migi gyaku-gamae.

Tóm lại, từ vị trí của người phòng thủ: chân phải gặp chân phải hoặc chân trái gặp chân trái là thế thuận, còn phải gặp trái hay trái gặp phải là thế nghịch.

Thực hành tsukuri — chuẩn bị

Chúng ta đã nhắc đến phần nào lý thuyết của tsukuri, giờ hãy đến với ứng dụng thực hành của nó.

Bạn biết rằng trước khi có thể quật ngã đối thủ, bạn phải phá thăng bằng hắn. Tsukuri, tức hành động chuẩn bị, nghĩa là chặn và xoay chuyển đòn tấn công của đối phương, đồng thời chọn cho mình một tư thế thích hợp — bên trái hoặc bên phải — để từ đó phá thăng bằng và tung đòn phản công. Như vậy, bạn phải chuẩn bị cho kẻ tấn công, tức aite-no-tsukuru, và chuẩn bị cho chính mình, tức jibun-no-tsukuru, rồi mới ra tay.

Dĩ nhiên có nhiều hình thức tấn công, nhưng với mục đích của tất cả những bài tập căn bản này, chúng ta hãy giả định rằng đối thủ tung nắm đấm phải ra và nhắm vào mặt bạn.

Bạn phải chặn đòn của hắn và xoay hắn vào một trong bốn tư thế chuẩn bị căn bản để phá tư thế của hắn, rồi phá thăng bằng hắn thêm nữa hoặc theo một hướng khác và quật ngã, đánh hoặc cố định hắn.

Trong những bài tập này, và thật ra trong mọi bài kata của aikido, người quật ngã được gọi là Tori, còn người bị quật ngã được gọi là Uke. Nghĩa đen là: Tori — người lấy, và Uke — người nhận.

Thế chuẩn bị A

Phá thăng bằng về phía sau từ thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

Khi Uke đấm bằng nắm đấm phải, Tori dùng lưỡi dao bàn tay phải QUÉT VÀO TRONG, gạt cẳng tay hắn từ phải sang trái, làm Uke mất thăng bằng về phía sau.

(Làm tương tự từ thế thân hướng thuận bên trái, tức hidari ai-gamae, dùng lưỡi dao bàn tay trái).

Thế chuẩn bị B

Phá thăng bằng về phía sau từ thế thân hướng nghịch bên trái, tức hidari gyaku-gamae.

Khi Uke đấm bằng nắm đấm phải, Tori dùng lưỡi dao bàn tay trái QUÉT RA NGOÀI, gạt cẳng tay hắn từ phải sang trái, làm Uke mất thăng bằng về phía sau.

(Làm tương tự từ thế thân hướng nghịch bên phải, tức migi gyaku-gamae, dùng lưỡi dao bàn tay phải).

Thế chuẩn bị C

Phá thăng bằng về phía trước từ thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

Khi Uke đấm bằng nắm đấm phải, Tori dùng lưỡi dao bàn tay phải QUÉT RA NGOÀI, gạt cẳng tay hắn từ trái sang phải, làm Uke mất thăng bằng về phía trước.

(Làm tương tự từ thế thân hướng thuận bên trái, tức hidari ai-gamae, dùng lưỡi dao bàn tay trái).

Thế chuẩn bị D

Phá thăng bằng về phía trước từ thế thân hướng nghịch bên trái, tức hidari gyaku-gamae.

Khi Uke đấm bằng nắm đấm phải, Tori dùng lưỡi dao bàn tay trái QUÉT VÀO TRONG, gạt cẳng tay hắn từ trái sang phải, làm Uke mất thăng bằng về phía trước.

(Làm tương tự từ thế thân hướng nghịch bên phải, tức migi gyaku-gamae, dùng lưỡi dao bàn tay phải).

Bẻ và vặn khớp, kansetsu-waza

Kansetsu-waza — bẻ và vặn khớp

Bạn đã thấy cách chặn đối thủ và xoay hắn vào một trong bốn tư thế chuẩn bị căn bản để phá tư thế của hắn. Từ trạng thái ấy, bạn phải phá thăng bằng hắn hoàn toàn và làm hắn ngã, hoặc quật hắn xuống, đánh hắn, hay cố định hắn.

Đây là hai cách phá thăng bằng đối thủ bằng kansetsu-waza. Một là phương pháp căn bản đưa hắn ngã nhào tới trước, úp mặt xuống, hoặc xoay hắn một vòng tròn trọn vẹn tới trước để hắn xoay giữa không trung rồi tiếp đất bằng lưng. Cách kia là làm hắn ngã ngửa ra sau.

Thế chuẩn bị A

Đây là động tác vặn tay, trong đó thăng bằng của Uke bị phá về phía trước và hắn bị đưa lên đầu ngón chân bằng cách vặn tay hắn vào trong và nâng cùi chỏ hắn lên. Động tác vặn tay này gọi là ude-hineri.

Thế chuẩn bị B

Đây là động tác xoay tay, trong đó thăng bằng của Uke bị phá về phía sau và hắn bị đưa lên gót chân bằng cách xoay tay hắn ra ngoài và hạ cùi chỏ hắn xuống. Động tác xoay tay này gọi là ude-gaeshi.

Kansetsu-waza — bẻ và vặn khớp

Kansetsu-waza được thiết kế để chặn đòn tấn công của đối thủ một cách hiệu quả, với mức lực tối thiểu, bằng cách bẻ và vặn các khớp trên thân thể hắn như khớp tay, chân, cổ và cột sống. Trong luyện tập aikido, chúng ta thường dùng kansetsu-waza để khống chế một đối thủ đang đứng, nên tập trung vào các khớp của cánh tay, gồm vai, cùi chỏ và cổ tay.

Những khóa xương này không nhằm chủ yếu gây đau đớn hay thương tích cho đối thủ, mà để khống chế và cố định hắn trước khi quật ngã hoặc ghì hắn xuống. Dĩ nhiên, trong cơn hăng say của một trận giao đấu, có thể có chút đau đớn hay thậm chí thương tích, bởi các khớp của thân thể con người bị giới hạn trong chuyển động và một số khớp yếu hơn những khớp khác.

Khớp khuỷu tay, cũng như khớp gối, chỉ gập được theo một chiều.

Trong luyện tập, bạn phải luôn hết sức cẩn thận, tập trung tạo ra những chuyển động thuần khiết và uyển chuyển, đồng thời tránh áp dụng kỹ thuật một cách đột ngột và gay gắt. Khi đối phương ra hiệu bằng cách vỗ nhẹ rằng hắn đang đau hay khó chịu, bạn được mong đợi là thả hắn ra ngay lập tức. Dù aikido của bạn có điêu luyện hơn đi nữa — thật ra càng giỏi bao nhiêu thì càng phải nhớ — bạn buộc phải nhớ rằng vai trò của Tori và Uke phải được xem là có thể hoán đổi cho nhau, và nên được thể hiện bằng tinh thần hợp tác, đồng đội tốt nhất.

Trước khi áp dụng được một kansetsu-waza lên tay đối thủ, bạn phải nắm được cẳng tay hoặc cổ tay hắn trước đã. Việc này không phải lúc nào cũng dễ, và trong một trận giao đấu sôi động với tư thế thay đổi liên tục, hắn khó lòng tạo điều kiện cho bạn. Tuy vậy, có vài cơ hội xuất hiện.

Cơ hội thứ nhất là khi bạn đã gạt cẳng tay hắn bằng lưỡi dao bàn tay và phá thăng bằng hắn.

Cơ hội thứ hai xuất hiện khi hắn nắm cổ tay hoặc cẳng tay bạn, hay túm lấy quần áo bạn — chẳng hạn ở ve áo, cổ áo hoặc tay áo.

Cơ hội thứ ba để hành động là khi hắn đủ khéo léo đỡ được đòn atemi-waza bạn nhắm vào mặt hắn bằng lưỡi dao bàn tay, hoặc khi đòn của bạn đã trúng hắn mà hắn vẫn còn đứng nhưng bị choáng vì cú va chạm. Trong cả hai trường hợp, hắn sẽ bất động trong một khoảnh khắc. Trong bất kỳ hoặc tất cả những tình huống ấy, bạn phải nắm lấy thế chủ động.

Ngã an toàn, ukemi

Ngã an toàn, ukemi

Trước khi bắt đầu luyện tập aikido, bạn nên học cách ngã an toàn, gọi là ukemi. Có nhiều hướng bạn có thể ngã, nhưng ngã an toàn được luyện tập theo bốn hướng chính: ra trước, ra sau và sang hai bên. Dĩ nhiên bạn nên bắt đầu nhẹ nhàng, và khi dần trở nên thành thạo hơn, bạn sẽ có thể chịu những cú ngã mạnh mà không sợ bị thương. Đừng ngạc nhiên nếu bạn cần thời gian để học ngã cho tốt, vì đó không phải một kỹ năng dễ, và ngay cả một số học viên judo và aikido cao cấp cũng ước mình giỏi hơn ở kỹ năng đặc biệt này.

A. B. C.

Những cú ngã an toàn về phía trước phải được thực hiện theo một chuyển động vòng tròn. Chẳng hạn, khi ngã tới trước, bạn thu đầu vào và lăn trên vai rồi trên lưng. Với cằm thu vào thật kỹ, đầu bạn sẽ không đập xuống thảm. Hãy bắt đầu luyện tập từ tư thế ngồi xổm, và khi đã tự tin hơn, hãy đứng cao dần lên cho đến khi bạn có thể lao mình xuống thảm từ tư thế đứng. Cuối cùng, bạn sẽ có thể lao mình xuống thảm ngay cả khi đang chạy.

Cú ngã lăn được dùng thường xuyên trong aikido và bạn phải luyện tập nó thật kỹ, vì có những lúc cánh tay mà bạn thường muốn dùng để hỗ trợ cú ngã lại đang bị đối thủ giữ. Khi mới thử ngã lăn, hãy dùng tay để giảm bớt lực va chạm, nhưng khi đã tiến bộ, hãy học cách lao mình xuống thảm mà vẫn giữ hai tay sát bên hông.

Khi luyện ngã an toàn sang hai bên và ra sau, bạn nên đập cánh tay xuống thảm để hấp thụ lực va chạm, sớm hơn một phần giây trước khi vai và lưng bạn chạm thảm.

Hãy đập thảm bằng toàn bộ chiều dài cánh tay, chứ không chỉ bằng lòng bàn tay.

Góc giữa cánh tay và thân thể nên vào khoảng 45 độ, tùy theo thể trạng và chiều dài cánh tay của bạn.

Nếu cánh tay bạn tạo góc quá lớn so với thân thể, nó sẽ không hấp thụ được lực của cú ngã và bạn có thể bị hụt hơi nặng. Nếu cánh tay quá sát thân thể khi bạn bị quật mạnh, thì bạn có thể ngã đè lên cánh tay mình và gây thương tích. Cả hai tình huống đều khiến việc tiếp tục trận đấu trở nên khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả.

Mỗi khi bước vào võ đường để luyện tập, bạn được mong đợi là sẽ khởi động, và luôn kết thúc phần khởi động bằng các động tác ngã an toàn.

Các bài tập

Các bài tập

Trước khi luyện tập các kỹ thuật aikido, bạn phải thực hiện những bài tập để chuẩn bị thân thể và tinh thần cho công việc sắp tới. Những bài tập chuẩn bị này nên được thực hiện với sự tập trung, nhưng theo cách thư giãn, bởi việc đánh thức thần kinh và cơ bắp phải luôn là một quá trình nhẹ nhàng và dần dần.

Những bài khởi động lý tưởng cho aikido là các động tác chân được mô tả ở trang 27 và các động tác lưỡi dao bàn tay được nhắc đến ở trang 50. Chúng dễ học và là một phương cách tuyệt vời để luyện tập sự phối hợp.

Một khi đã học đúng những bài tập căn bản này, bạn nên luyện tập bài thường lệ của mình cùng một người bạn tập để nâng cao tốc độ và sức chịu đựng. Người bạn tập nên nắm lấy cổ tay bạn và tìm cách cản trở những động tác tay tự nhiên của bạn. Điều này sẽ giúp bạn xây dựng sức mạnh và sức bền cho những động tác chuẩn bị, tsukuri (chuẩn bị), mà bạn phải thực hiện trước khi áp dụng một kỹ thuật. Những bài tập này cũng sẽ giúp bạn duy trì phong độ trong những giai đoạn bạn không thể tham gia luyện tập đều đặn.

Các bài tập căn bản

Tư thế tự nhiên

Đây là tư thế đã được mô tả khá chi tiết ở phần trước. Hãy đứng với hai bàn chân cách nhau khoảng bằng chiều rộng vai, hai tay buông lỏng bên hông. Đầu và lưng phải thẳng nhưng không cứng nhắc.

Tư thế aikido căn bản hướng về phía trước

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Bước một bước lướt tới trước bằng chân trái, giữ hai vai vuông góc với phía trước.

Đồng thời đưa lưỡi dao bàn tay trái lên tư thế chudan, thế giữa, đếm 1.

Tay phải của bạn phải đặt ở bên hông, như hình minh họa, sẵn sàng đỡ một đòn tấn công từ phía đó.

Trở về tư thế tự nhiên, đếm 2.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải và đếm 3, 4.

Tư thế aikido căn bản hướng sang trái

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Nâng tay trái lên tư thế chudan, thế giữa, và đồng thời bước một bước xoay sang trái, đếm 5.

Trở về tư thế tự nhiên, đếm 6.

Tư thế aikido căn bản hướng sang phải

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Nâng tay phải lên tư thế chudan, thế giữa, và đồng thời bước một bước xoay sang phải, đếm 7.

Trở về tư thế tự nhiên, đếm 8.

Quét vào trong, hướng về phía trước

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Nâng tay trái từ bên hông lên và vạch một đường quét vòng tròn theo hướng các mũi tên chỉ, đưa lòng bàn tay hướng về phía bên phải của mặt bạn. Khi tay bạn rời khỏi mặt và xoay để hoàn tất đường quét, hãy đồng thời đưa chân tới trước bằng một bước lướt, và kết thúc ở tư thế aikido căn bản, đếm 1.

Không ngừng lại trong động tác, trở về tư thế tự nhiên, đếm 2.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải và đếm 3, 4.

Quét vào trong sang bên hông

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Lặp lại động tác quét bằng tay trái như hình minh họa và lần này bước một bước xoay bằng chân trái sang bên trái, đếm 5.

Trở về tư thế tự nhiên, đếm 6.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải và đếm 7, 8.

Quét ra ngoài, hướng về phía trước

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Vạch một đường quét vòng tròn bằng lưỡi dao bàn tay trái theo hướng các mũi tên chỉ và đồng thời bước một bước lướt tới trước bằng chân trái, đếm 1.

Không ngừng lại trong động tác, trở về tư thế tự nhiên, đếm 2.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải và đếm 3, 4.

Quét ra ngoài, sang bên hông

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Vạch một đường quét vòng tròn bằng lưỡi dao bàn tay trái theo hướng các mũi tên chỉ và đồng thời bước một bước xoay bằng chân trái sang bên trái, đếm 5.

Không ngừng lại trong động tác, trở về tư thế tự nhiên, đếm 6.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải như hình minh họa và đếm 7, 8.

Xoay vào trong và xoay ra ngoài

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Bước một bước lướt tới trước bằng chân trái và đồng thời nâng tay trái lên với lòng bàn tay hướng ra trước, đếm 1.

Không ngừng lại trong động tác, đưa tay trở về theo một chuyển động vòng tròn xuống bên phải bạn, với lòng bàn tay hướng lên. Khi đưa tay trở về, bạn cũng phải đưa chân trở lại vị trí xuất phát, đếm 2.

Giờ hãy bước một bước xoay sang bên trái và, với một động tác xoay hông mạnh, đưa tay ngang qua thân thể cho đến khi bạn ở vào tư thế tương tự như tư thế aikido căn bản, chỉ khác là lòng bàn tay hướng lên, đếm 3.

Trở về tư thế tự nhiên, đếm 4.

Xoay vào trong và xoay ra ngoài được thực hiện như một động tác trọn vẹn.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải như hình minh họa và đếm 5, 6, 7, 8.

Quét vào trong và xoay

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Vạch đường quét vào trong bằng lưỡi dao bàn tay trái và tiếp tục động tác hình số tám, nâng tay lên lần nữa trên đầu bạn. Đồng thời bước một bước lướt bằng chân trái và xoay trên phần ức bàn chân đó, xoay sang trái. Khi xoay, hãy đưa chân phải vòng theo bằng một bước lướt để giờ đây bạn đối diện hướng ngược lại với hướng ban đầu, tay trái vẫn còn nâng lên. Để hoàn tất động tác, hạ tay xuống bên hông cho đến khi bạn đứng ở tư thế tự nhiên. Trong suốt động tác liên tục này, hãy đếm 1, 2, 3, 4.

Giờ hãy lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải như hình minh họa để đưa thân thể bạn trở về vị trí xuất phát. Trong suốt động tác liên tục này, hãy đếm 5, 6, 7, 8.

Quét ra ngoài và xoay

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Vạch đường quét ra ngoài bằng lưỡi dao bàn tay trái và tiếp tục động tác cho đến khi tay bạn ở trên đầu. Khi tay bạn đưa lên, hãy bước một bước lướt bằng chân trái và xoay trên phần ức bàn chân đó, xoay sang phải. Khi xoay, hãy đưa chân phải vòng theo bằng một bước lướt để giờ đây bạn đối diện hướng ngược lại với hướng ban đầu, tay trái vẫn còn nâng lên. Để hoàn tất động tác, hạ tay xuống bên hông cho đến khi bạn đứng ở tư thế tự nhiên. Trong suốt động tác liên tục này, hãy đếm 1, 2, 3, 4.

Giờ hãy lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải như hình minh họa để đưa thân thể bạn trở về vị trí xuất phát. Trong suốt động tác liên tục này, hãy đếm 5, 6, 7, 8.

Xoay tay – hông

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Bước một bước lướt tới trước bằng chân trái và đưa cánh tay phải tới trước với lòng bàn tay hướng lên, đếm 1.

Giờ hãy xoay trên hai gót chân bằng một động tác xoay hông mạnh để đưa bạn vào tư thế aikido căn bản, đếm 2.

Trở về bằng cách xoay trên hai gót chân lần nữa, đếm 3.

Để hoàn tất động tác, hạ tay xuống bên hông và đưa chân trở về cho đến khi bạn đứng ở tư thế tự nhiên, đếm 4.

Giờ hãy lặp lại những động tác này và lần này đưa cánh tay trái ra như hình minh họa và bước tới trước bằng chân phải, đếm 5, 6, 7, 8.

Vòng tròn lớn

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Bước một bước nhỏ tới trước bằng chân phải, xoay các ngón chân vào trong một chút. Vạch một vòng quét lớn bằng lưỡi dao bàn tay trái và đồng thời xoay trên chân phải rồi đưa chân trái lui về và vòng theo trong một chuyển động tròn. Khi bạn hoàn tất vòng quét lớn bằng lưỡi dao bàn tay trái, hãy đếm 1, 2. Lúc này bạn phải đang đối diện hướng ngược lại với hướng ban đầu và đứng ở tư thế tự nhiên.

Lặp lại những động tác này với tay phải như hình minh họa để đưa

thân thể bạn trở về vị trí xuất phát, đếm 3, 4.

Vòng tròn lớn, sang bên hông

Đứng ở tư thế tự nhiên.

Vạch một vòng quét lớn bằng lưỡi dao bàn tay trái và đồng thời đưa chân trái lui về và vòng theo trong một chuyển động tròn.

Khi động tác quét của cánh tay bạn hoàn tất, bạn phải đưa chân trái trở về vị trí xuất phát, tư thế tự nhiên, đếm 5, 6.

Lặp lại những động tác này với tay phải và chân phải như hình minh họa trong khi đếm 7, 8.

Lễ nghi, rei

Lễ nghi, rei

Aikido bắt đầu bằng một lời chào và kết thúc bằng một lời chào. Có một kiểu cúi chào dùng ở tư thế đứng và một kiểu khác dùng khi ngồi. Trước và sau khi luyện tập hay tập với bạn tập, bạn nên chỉnh lại trang phục và cúi chào đúng cách, với lòng tôn kính. Cúi chào là một động tác gập người trang nghiêm từ thắt lưng ở tư thế tự nhiên, chứ không phải một cái gật đầu hời hợt hay bất cẩn. Đó là sự biểu lộ trang trọng tinh thần tôn trọng của người này với người kia, không chỉ như một dấu hiệu bề ngoài mà cả trong lòng và tâm trí.

Đôi khi tôi cảm thấy rằng một số học trò của tôi coi việc cúi chào như một trò vô nghĩa phương Đông, rất không hợp với tính cách người phương Tây. Nhưng suy cho cùng aikido là một môn võ Nhật Bản, và phong tục của chúng tôi là cúi chào nhau trước khi luyện tập, cũng như một vận động viên phương Tây bắt tay đối thủ trước khi giao đấu. Một võ sĩ quyền anh bắt tay, hay một kiếm thủ chào bằng gươm, vì cùng một lý do mà tôi yêu cầu bạn cúi chào: để gìn giữ phẩm giá của con người.

Nếu chúng ta đánh mất sự tôn trọng của đối thủ vì không thể hiện với họ lòng lễ độ đúng mực, chúng ta làm tổn hại phẩm giá và phá hủy sự hòa hợp. Nếu vì cư xử thô lỗ mà chúng ta mất đi sự tôn trọng, thì người khác sẽ coi thường chúng ta và chính nhân cách của ta sẽ bị tổn thương. Vì thế, việc luyện tập của chúng ta phải luôn bắt đầu và kết thúc bằng tinh thần lễ độ đúng mực. Nếu bạn cảm thấy mình không thể luyện tập aikido với tinh thần đúng mực, thì tốt hơn hết đừng bắt đầu.

Mười lăm kỹ thuật căn bản

Mười lăm kỹ thuật căn bản

Các số 1 đến 3

Atemi-waza (đòn đánh vào điểm yếu), các đòn tấn công: 1. Shomen-ate, đòn tấn công trực diện 2. Gyaku-ate, đòn tấn công ngược 3. Aigamae-ate, đòn tấn công thuận

Kỹ thuật số 1. Shomen-ate, đòn tấn công trực diện

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori đỡ đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải và, dùng quét vào trong, phá thăng bằng của Uke về phía sau.

B. Tori bước tới và hơi lệch sang phải bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), nắm tay phải của Uke bằng tay trái và đẩy lòng bàn tay phải về phía mặt Uke, trong khi tay trái không chế cánh tay phải của Uke.

C. Tori ấn gót bàn tay vào cằm Uke và tiếp tục bước tới, đẩy vào cằm Uke cho đến khi Uke ngã ngửa ra sau.

Kỹ thuật số 2. Gyaku-ate, đòn tấn công ngược

Tori bước chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, tức gyaku-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori đỡ đòn bằng lưỡi dao bàn tay trái và, dùng quét ra ngoài, phá thăng bằng của Uke về phía sau.

B. Tori bước tới bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, và đặt chân trái sát phía ngoài, hơi lùi về sau chân phải của Uke. Cùng lúc đó, Tori đánh vào má trái của Uke bằng lưỡi dao bàn tay trái, trong khi tay phải đề phòng đòn tấn công có thể đến từ tay trái của Uke. Tori tiếp tục bước tới và đẩy vào mặt Uke cho đến khi Uke ngã ngửa ra sau.

Kỹ thuật số 3. Aigamae-ate, đòn tấn công thế thuận

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori đỡ đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải và phá thăng bằng của Uke về phía trước.

B. Tori đặt tay trái lên cùi chỏ của Uke, và khi Uke cố lấy lại thăng bằng, Tori để Uke đứng dậy, thậm chí còn chiều theo hướng Uke muốn đi trước khi quật Uke ngã ngửa ra sau.

C. Khi Uke cố lấy lại thế thăng bằng đã bị phá, Tori không chế cánh tay phải của Uke, bước tới bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), đặt chân phải hơi lùi về sau chân phải của Uke và đánh vào má trái của Uke bằng lưỡi dao bàn tay phải.

Tori tiếp tục bước tới và đẩy vào mặt Uke cho đến khi Uke ngã ngửa ra sau.

Kansetsu-waza, bẻ và vặn các khớp trên thân thể

Kansetsu-waza trong aikido thường được chia thành hai phần.

Phần I

Hiji-waza, kỹ thuật cùi chỏ. Có bốn kỹ thuật trong bài căn bản và chúng được dùng trong các kỹ thuật mang số 4 đến 7.

Phần II

Tekubi-waza, kỹ thuật cổ tay. Có tám kỹ thuật trong bài căn bản và chúng được dùng trong các kỹ thuật mang số 8 đến 15.

Trong phần thứ nhất, bốn hiji-waza, tức kỹ thuật cùi chỏ, được chia nhỏ thành:

Ude-hishigi, một thế khóa tay thường được áp dụng khi cánh tay đối thủ duỗi thẳng (4 và 5), và Ude-garami, một thế khóa tay kiểu rối, thường được áp dụng khi cánh tay đối thủ gập lại (6 và 7).

Mười lăm kỹ thuật căn bản, mang số 4 đến 15

Oshi-taoshi (đẩy ngã), 4. đẩy xuống.

Ude-hishigi, khóa tay duỗi thẳng Hiki-taoshi (kéo ngã), 5.

Hiji-waza, kéo ngã. kỹ thuật cùi chỏ Ude-gaeshi (xoay tay), 6.

Ude-garami, xoay tay. khóa tay .kiểu rối.

Ude-hineri (vặn tay), 7.

Kansetsu-waza, thế vặn tay. các kỹ thuật bẻ và vặn khớp. jun-tedori (nắm tay thuận), 8 và 9. với kiểu nắm tay thuận.

Kote-hineri, vặn cổ tay.

Gyaku-tedori (nắm tay nghịch), 10 và 11. với kiểu nắm tay nghịch.

Tekubi-waza, kỹ thuật cổ tay.

Gyaku-tedori, 12 và 13. với kiểu nắm tay nghịch.

Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay.

Jun-tedori, 14 và 15. với kiểu nắm tay thuận.

Kỹ thuật số 4. Oshi-taoshi, đẩy ngã

Đây là kỹ thuật thứ nhất trong bốn kỹ thuật cùi chỏ căn bản, tức hiji-waza, và được áp dụng dưới dạng một thế khóa tay duỗi thẳng, tức ude-hishigi. Với phương pháp này, Uke bị quật ngã úp mặt xuống.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Tori đỡ đòn của Uke và phá thăng bằng Uke về phía trước.

B. Tori nắm cổ tay phải của Uke bằng tay phải và dùng tay trái đẩy cùi chỏ Uke lên.

C. Tori bước tới bằng ayumi-ashi (bước đi thường), đưa chân trái đến gần chân phải của Uke và đẩy xuống cùi chỏ Uke để làm thẳng cánh tay Uke. Động tác này được hỗ trợ bởi tay phải của Tori, tay nắm cổ tay Uke kéo cánh tay Uke và xoay lòng bàn tay Uke ngửa lên.

D. Tori bước lướt bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia) theo hướng Uke đang đối diện và tiếp tục không chế đối thủ bằng cách kéo bằng tay phải và đẩy xuống khớp cùi chỏ Uke cho đến khi Uke bị quật ngã úp mặt xuống.

Kỹ thuật số 5. Hiki-taoshi, kéo ngã

Đây là kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật cùi chỏ căn bản, tức hiji-waza, và cũng được áp dụng dưới dạng một thế khóa tay duỗi thẳng, tức ude-hishigi. Với phương pháp này, Uke bị quật ngã úp mặt xuống.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Tori đỡ đòn của Uke bằng lưỡi dao bàn tay phải.

B. Tori nắm cổ tay phải của Uke bằng tay phải và, áp dụng quét ra ngoài, bước lùi bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, rồi kéo cánh tay Uke, phá thăng bằng Uke về phía trước. Cổ tay Uke lúc này bị vặn sao cho lòng bàn tay Uke ngửa lên.

Tori đặt thêm tay trái lên cổ tay Uke.

Tori đổi cách nắm từ tay phải sang tay trái và, trong khi kéo bằng tay trái để giữ cánh tay Uke duỗi thẳng, đặt tay phải lên cùi chỏ Uke để khóa khớp lại.

D. Tori bước lùi ra trước mặt đối thủ bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, và kéo xuống cánh tay Uke, quật Uke ngã úp mặt xuống.

Kỹ thuật số 6. Ude-gaeshi, xoay tay

Đây là kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật cùi chỏ căn bản, tức hiji-waza, nhưng khác với hai kỹ thuật trước, nó được áp dụng dưới dạng một thế khóa tay kiểu rối, tức ude-garami. Với phương pháp này, Uke bị quật ngã ngửa ra sau.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Tori đỡ đòn của Uke và, nắm lấy cổ tay Uke, kéo cánh tay Uke để phá thăng bằng Uke về phía trước.

B. Uke cố lấy lại thăng bằng và chống lại lực kéo của Tori bằng cách gập cánh tay lại.

C. Tori không cố chống lại Uke bằng cách làm thẳng cánh tay Uke, mà chiều theo hướng Uke muốn đi bằng cách bước tới bằng ayumi-ashi (bước đi thường) với chân trái và đẩy cánh tay Uke ra sau. Tori gập cánh tay Uke về phía vai Uke, luồn tay trái qua bắp tay trên của Uke và ấn lưỡi dao bàn tay trái vào cổ tay phải của chính mình.

D. Tori bước tới bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, và duy trì áp lực lên cánh tay đã bị khóa của Uke, quật Uke ngã ngửa ra sau.

Kỹ thuật số 7. Ude-hineri, vặn tay

Đây là kỹ thuật thứ tư trong bốn kỹ thuật cùi chỏ căn bản, tức hiji-waza, và cũng được áp dụng dưới dạng một thế khóa tay kiểu rối, tức ude-garami. Với phương pháp này, Uke bị quật ngã ngửa ra sau.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Tori đỡ đòn của Uke bằng lưỡi dao bàn tay phải.

B. Tori nắm cổ tay phải của Uke và, dùng quét ra ngoài, kéo cánh tay Uke, rồi bước lùi bằng tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, phá thăng bằng Uke về phía trước đến mức Uke bị gập người xuống. Lúc này Tori đặt thêm tay trái lên cổ tay Uke.

C. Tori đổi tay nắm cổ tay Uke từ tay phải sang tay trái và, trong khi tiếp tục kéo cho cánh tay Uke duỗi thẳng, đặt tay phải lên cùi chỏ Uke. Khi Uke chống lại bằng cách gập cánh tay, Tori chiều theo hướng Uke muốn đi bằng cách bước tới bằng ayumi-ashi (bước đi thường) với chân trái đưa sang bên và hơi lùi về sau chân phải của Uke. Cùng lúc đó, Tori gập cánh tay Uke lại.

D. Tori trượt tay phải qua cùi chỏ Uke rồi luồn xuống dưới cánh tay đã gập, đặt tay lên cổ tay trái của chính mình để tạo thành một thế khóa tay kiểu rối, tức ude-garami. Tori xoay từ hông và đẩy, làm Uke xoay tròn rồi ngã ngửa ra sau.

Phần thứ hai của kansetsu-waza mà chúng ta quan tâm trong aikido gồm có tekubi-waza, tức kỹ thuật cổ tay. Những thế khóa cổ tay này, dù tự chúng đã rất hiệu quả, còn làm cho việc áp dụng các kỹ thuật cùi chỏ trở nên hữu hiệu hơn. Có tám kỹ thuật trong bài căn bản và chúng được dùng trong các kỹ thuật mang số 8 đến 15.

Khi các thế khóa cổ tay được áp dụng và thăng bằng của đối thủ bị phá về phía trước, chúng được gọi là kote-hineri, tức vặn cổ tay (8 đến 11).

Khi các thế khóa cổ tay được áp dụng và thăng bằng của đối thủ bị phá về phía sau, chúng được gọi là kote-gaeshi, tức vặn ngược cổ tay (12 đến 15).

Kote-hineri, tức vặn cổ tay, lại được chia thành jun-tedori, tức nắm tay thuận (8 và 9) và gyaku-tedori, tức nắm tay nghịch (10 và 11).

Cả hai kiểu nắm này đều có thể được áp dụng bằng tay phải hoặc tay trái.

Bạn sẽ thấy rằng với kiểu nắm tay thuận, tức jun-tedori, các ngón tay của bạn chỉ về một hướng còn các ngón tay của đối thủ chỉ về hướng ngược lại. Với kiểu nắm tay nghịch, tức gyaku-tedori, các ngón tay của bạn và của đối thủ đều chỉ về cùng một hướng.

Một cách rất dễ để nhớ sự khác biệt là khi bắt tay, bạn đang dùng một dạng của jun-tedori.

Kỹ thuật số 8. Kote-hineri, vặn cổ tay

Đây là kỹ thuật đầu tiên trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay căn bản, được thiết kế để đưa Uke ngã úp mặt xuống, và trong trường hợp này sử dụng cách nắm tay thuận, tức jun-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn

đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải để phá thăng bằng Uke về phía trước. Tori cũng nắm cẳng tay phải của Uke bằng tay trái. Tori nắm bàn tay phải của Uke sao cho gốc ngón út của Uke chạm vào lòng bàn tay phải của Tori tại phần da nối giữa ngón cái và ngón trỏ.

B. Tori vặn cổ tay Uke sao cho cùi chỏ hắn chĩa lên trên và thăng bằng hắn bị phá về phía trước đến mức buộc phải chúi người tới trước và dồn trọng lượng lên các đầu ngón chân.

C. Tori bước tới bằng ayumi-ashi, một bước đi thường, với chân trái, chuyển tay trái từ cẳng tay Uke sang cùi chỏ hắn và bắt đầu đẩy xuống khớp.

D. Tori giữ nguyên khóa cổ tay và tiếp tục đẩy xuống khớp cùi chỏ của Uke cho đến khi hắn bị đưa ngã úp mặt xuống.

Kỹ thuật số 9. Kote-hineri, vặn cổ tay

Đây là kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay căn bản, được thiết kế để đưa Uke ngã úp mặt xuống, và trong trường hợp này sử dụng cách nắm tay thuận, tức jun-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải và phá thăng bằng Uke về phía trước.

B. Tori nắm lấy mu bàn tay phải của Uke bằng tay trái, đặt ngón cái áp vào mu bàn tay Uke, rồi bước lướt tới bằng ayumi-ashi, một bước đi thường, với chân trái.

C. Với ayumi-

ashi, một bước đi thường, Tori xoay người chui xuống dưới cánh tay đang giơ lên của Uke.

D. Giữ nguyên khóa trên cổ tay Uke, Tori duỗi thẳng cánh tay và hướng mặt về cùng phía với Uke.

E. Tori xoay người trên chân trái và bước lướt một bước lớn theo vòng tròn bằng chân phải, kéo cánh tay Uke duỗi thẳng ra. Giờ Tori đặt tay phải lên cùi chỏ phải của Uke, rồi lùi lại bằng tsugi-ashi, bước nối tiếp, bắt đầu bằng chân trái, đưa Uke ngã úp mặt xuống.

Kỹ thuật số 10. Kote-hineri, vặn cổ tay

Đây là kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay căn bản, được thiết kế để đưa Uke ngã úp mặt xuống. Khác với hai kỹ thuật trước, kỹ thuật này sử dụng cách nắm tay nghịch, tức gyaku-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải để phá thăng bằng Uke về phía trước. Tori cũng nắm cẳng tay phải của Uke bằng tay trái.

B. Tori vặn bàn tay Uke sao cho lòng bàn tay hướng lên trên rồi đặt lòng bàn tay mình lên mu bàn tay Uke.

Giờ Tori xoay lòng bàn tay mình, chuyển từ cách nắm thuận sang cách nắm nghịch, và đặt ngón cái lên phần da nối giữa ngón cái và ngón trỏ trên bàn tay Uke. Các ngón tay của Tori nắm lấy cạnh chém của bàn tay Uke.

C. Tori đẩy xuống cẳng tay Uke bằng tay trái và vặn

cổ tay Uke lên trên và ra sau, buộc Uke phải ngã xuống.

Tori nâng cùi chỏ Uke từ phía dưới lên.

D. Tori bước lướt một bước bằng chân trái với ayumi-ashi, một bước đi thường, đưa Tori lại gần Uke hơn và hướng mặt về cùng phía.

E. Tori lại bước tới bằng tsugi-ashi, bước nối tiếp, bắt đầu bằng chân trái, và sau khi khóa khớp cùi chỏ cùng cổ tay thì đưa Uke ngã úp mặt xuống.

Kỹ thuật số 11. Kote-hineri, vặn cổ tay

Đây là kỹ thuật thứ tư trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay căn bản, được thiết kế để đưa Uke ngã úp mặt xuống. Kỹ thuật này cũng sử dụng cách nắm tay nghịch, tức gyaku-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải để phá thăng bằng Uke về phía trước.

Tori nắm cổ tay phải của Uke bằng tay phải và dùng động tác quét ra ngoài kéo cánh tay Uke duỗi thẳng ra sao cho lòng bàn tay hắn ngửa lên. Tori đặt ngón cái trái lên mặt trong cổ tay Uke, các ngón tay lên mu bàn tay, và vặn cổ tay cho đến khi C. Tori đặt tay phải lên cùi chỏ của Uke, ngón út của Uke hướng về phía mặt Tori, khóa cổ tay lại.

D. Tori lùi lại bằng tsugi-ashi, bước nối tiếp, kéo Uke ngã úp mặt xuống.

Giờ chúng ta đến phần cuối cùng của tekubi-waza, tức kỹ thuật cổ tay. Bốn kỹ thuật cuối được gọi là kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay, và được dùng trong các kỹ thuật mang số 12 đến 15.

Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay, lại được chia thành gyaku-tedori, cách nắm tay nghịch, (12 và 13) và jun-tedori, cách nắm tay thuận, (14 và 15).

Cả hai cách nắm này đều có thể áp dụng bằng tay phải hoặc tay trái.

Kỹ thuật số 12. Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay

Đây là kỹ thuật đầu tiên trong bốn kỹ thuật vặn ngược cổ tay, được thiết kế để đưa Uke ngã ngửa ra sau, và trong trường hợp này sử dụng cách nắm tay nghịch, tức gyaku-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải để phá thăng bằng Uke về phía trước.

B. Nắm cẳng tay phải của Uke bằng tay phải, Tori duỗi tay trái ra và nắm cổ tay phải của Uke, đặt ngón cái lên mu bàn tay Uke, còn ngón trỏ và ngón giữa lên mặt trong cổ tay Uke.

C. Giờ Tori tăng cường động tác bằng cách đặt thêm tay phải lên trên tay trái, nhờ đó có thể dùng toàn bộ sức lực để giữ khóa cổ tay Uke.

D. Trong khi khống chế cổ tay Uke, Tori bước ngắn sang phải bằng chân phải và quét một bước lùi bằng chân trái tạo thành nửa vòng tròn, rồi vặn cổ tay Uke lộn xuống, xoay Uke ngã ngửa xuống lưng.

Kỹ thuật số 13. Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay

Đây là kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật vặn ngược cổ tay, được thiết kế để đưa Uke ngã ngửa ra sau, và lần này cũng sử dụng cách nắm tay nghịch, tức gyaku-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải để phá thăng bằng Uke về phía trước. Tori lập tức nắm cùi chỏ phải của Uke bằng tay trái. Uke phản ứng bằng cách co tay lại, gập cùi chỏ xuống.

B. Bằng tay phải, Tori nắm bàn tay phải của Uke, đặt ngón cái áp vào mặt trong cổ tay và vòng các ngón tay ra sau mu bàn tay Uke.

C. Giờ Tori tăng cường động tác bằng cách đặt thêm tay trái lên trên tay phải, nhờ đó có thể dùng toàn bộ sức lực, nếu cần, để giữ khóa cổ tay.

Tori bước ngắn sang phải bằng chân phải và lùi một bước theo nửa vòng tròn bằng chân trái, rồi vặn cổ tay Uke để phá thăng bằng hắn về phía sau.

D. Tori tiếp tục xoay theo vòng tròn và vặn cổ tay Uke cho đến khi hắn bị đưa ngã ngửa ra sau.

Kỹ thuật số 14. Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay

Đây là kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật vặn ngược cổ tay, được thiết kế để đưa Uke ngã ngửa ra sau, nhưng khác với hai kỹ thuật trước, kỹ thuật này sử dụng cách nắm tay thuận, tức jun-tedori.

Tori bước chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, tức migi ai-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori nắm cổ tay hắn từ phía dưới.

B. Dùng động tác quét vào trong, Tori phá thăng bằng Uke về phía trước.

C. Giữ nguyên lực kéo trên cánh tay đang bị vặn của Uke, Tori bước một bước bằng ayumi-ashi, một bước đi thường, với chân trái, và khi bước tới thì nâng cánh tay Uke lên qua đầu.

D. Sau khi bước xuống dưới cánh tay đang giơ lên của Uke, giờ Tori xoay hẳn người bằng cách xoay trên cả hai chân và hạ cánh tay Uke xuống sao cho khớp cùi chỏ gập khá sâu, như thể Uke đang gồng cơ bắp tay lên vậy.

E. Tori bước tới bằng tsugi-ashi, bước nối tiếp, bắt đầu bằng chân phải, và đẩy xuống cánh tay Uke, dùng nó như một cái cán, cho đến khi Uke bị đưa ngã ngửa xuống lưng.

Kỹ thuật số 15. Kote-gaeshi, vặn ngược cổ tay

Đây là kỹ thuật cuối cùng trong bốn kỹ thuật vặn ngược cổ tay căn bản, được thiết kế để đưa Uke ngã ngửa ra sau, và lần này cũng sử dụng cách nắm tay thuận, tức jun-tedori.

Tori bước chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, tức hidari gyaku-gamae.

A. Khi Uke đánh bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay trái.

B. Nắm cẳng tay Uke bằng tay trái, Tori dùng động tác quét ra ngoài để kéo Uke tới trước.

Tori nắm cổ tay phải của Uke bằng tay phải, lòng bàn tay áp vào mặt trong cổ tay Uke.

C. Tori bước lướt tới bằng chân trái và dùng động tác quét vào trong bằng tay phải để nâng cánh tay Uke lên qua đầu. Sau khi chắc chắn rằng cổ tay Uke vẫn còn bị khóa, Tori xoay trên cả hai chân cho đến khi xoay hẳn một vòng.

D. Tori dùng cánh tay Uke như một đòn bẩy để đẩy hắn ngã ngửa xuống lưng. Anh ta có thể tăng lực của cú quật bằng cách bước tới với tsugi-ashi, bước nối tiếp, bắt đầu bằng chân phải.

Alex Macintosh và Senta Yamada tại Hội Judo Luân Đôn, do các tuyển thủ quốc tế người Anh George Chew và Eric Dominy sáng lập.

Biến thể số 1

Đây là một biến thể của kỹ thuật tấn công căn bản thứ nhất, đòn tấn công trực diện, tức shomen-ate.

A. Uke nắm tay áo trái của Tori bằng tay phải từ phía sau.

B. Tori cứng cánh tay trái lại và, kéo giật ra khỏi Uke, xoay hẳn một vòng ngược chiều kim đồng hồ, bắt đầu bằng một bước lướt theo vòng tròn bằng chân phải, rồi tiếp theo bằng chân trái.

C. Tori bước tới bằng tsugi-ashi, bước nối tiếp, bắt đầu bằng chân phải, và đẩy ngược cằm Uke lên bằng tay phải.

Anh ta tiếp tục bước và đẩy cho đến khi Uke bị đưa ngã xuống.

Mười lăm biến thể

Biến thể số 2

Đây là một biến thể của kỹ thuật tấn công căn bản thứ hai, đòn tấn công nghịch, gyaku-ate.

A. Uke nắm áo của Tori bằng cả hai tay từ phía trước.

B. Tori nắm hai tay áo của Uke, hơi cúi người và đưa hai cánh tay Uke sang bên trái, luồn đầu và vai xuống giữa hai cánh tay Uke rồi xoay sang trái sao cho đầu mình trồi lên dưới cánh tay phải của Uke.

C. Tori buông tay áo Uke ra, bước một bước bằng chân phải và đặt chân ấy ra sau chân trái của Uke.

D. Tori thẳng người dậy, đẩy bằng cánh tay và vai phải, rồi bước theo kiểu tsugiashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân phải, và quật Uke ngã xuống.

Những người tập judo sẽ thấy rằng judo-waza (kỹ thuật judo) này có thể dùng trong thực hành để chống lại một đối thủ có hai cánh tay cứng nhắc. Từ động tác căn bản này có thể có ba đòn quật ngã: đòn thứ nhất là đòn được minh họa, gọi là waki-otoshi (quật ngã sang bên hông), đòn thứ hai là tani-otoshi (quật ngã xuống thung lũng) và đòn thứ ba là sukui-nage (quật ngã bằng động tác xúc).

Dù không phải một trong những đòn quật ngã phổ biến hơn, waki-otoshi lại là waza ưa thích của ông Shuici Nagaoka, đệ thập đẳng của Kodokan.

Biến thể số 3

Đây là một biến thể của kỹ thuật tấn công căn bản thứ ba, đòn tấn công thuận, ai-gamae-ate.

Tori đưa chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, migi-ai-gamae.

A. Khi Uke tung đòn bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải.

B. Tori nhường bước bằng cách trượt một bước theo chuyển động vòng tròn và đặt chân trái sát chân phải của Uke.

Vẫn đang khống chế tay phải của Uke, Tori đặt tay trái lên cổ Uke.

C. Uke lúc này bị gập người tới trước gần như gấp đôi và thăng bằng của hắn đã bị phá hoàn toàn.

D. Khi Uke cố lấy lại tư thế, Tori làm hắn mất thăng bằng về phía sau bằng cách kéo nhẹ bằng tay trái

và vắt cánh tay phải ngang qua cổ và vai Uke.

E. Tori bước tới bằng chân phải và quật Uke ngã xuống. Kỹ thuật này dùng phương pháp phá thăng bằng theo phản lực, hando-no-kazushi (phá thăng bằng theo phản lực).

Biến thể số 4

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ tư, oshi-taoshi (đẩy ngã), tức đẩy xuống, kỹ thuật đầu tiên trong bốn kỹ thuật cùi chỏ, hiji-waza (kéo cùi chỏ), và được áp dụng dưới hình thức khóa tay thẳng, udehishigi (khóa tay thẳng).

A. Uke nắm hai cổ tay của Tori từ phía sau.

B. Tori nâng cánh tay trái lên, đẩy ra sau bằng cánh tay phải, đồng thời đưa chân phải ra sau theo một đường vòng cung và xoay hông sao cho thân mình vuông góc với Uke, với chân trái hơi đưa lên trước.

C. Tori ép cẳng tay phải của Uke vào khớp cùi chỏ trái của chính Uke, khiến hắn nhón lên bằng các đầu ngón chân và phá thăng bằng hắn hoàn toàn.

D. Tori bước tới bằng chân phải theo kiểu ayumi ashi (bước đi thường), tức bước đi thường, và quật Uke ngã xuống đất.

Biến thể số 5

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ năm, hiki-taoshi (kéo ngã), tức kéo xuống, kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật cùi chỏ, hiji-waza (kéo cùi chỏ), và cũng được áp dụng dưới hình thức khóa tay thẳng, udehishigi.

A. Uke quàng cánh tay phải nắm lấy cổ Tori từ phía sau.

Tori nắm cẳng tay Uke bằng cả hai tay, hơi khuỵu cả hai đầu gối và kéo xuống, dùng sức nặng của thân thể chứ không chỉ sức của đôi tay.

B. Tori xoay sang trái và luồn đầu cùng vai xuống dưới nách phải của Uke, gập người tới trước thật sâu từ thắt lưng.

C. Vẫn đang gập người, Tori lùi một bước bằng chân trái và khống chế cánh tay phải của Uke bằng cách tạo áp lực lên khớp cùi chỏ bằng vai phải, trong khi cả hai tay giữ cổ tay và cẳng tay Uke.

D. Tori đặt tay phải lên khớp cùi chỏ của Uke và tạo áp lực, đồng thời tiếp tục giữ cổ tay phải Uke bằng tay trái. Ông tiếp tục lùi bước theo kiểu tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia) và duy trì khóa cùi chỏ cho đến khi Uke bị kéo ngã sấp mặt xuống.

Biến thể số 6

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ sáu, ude-gaeshi (xoay tay), tức xoay cánh tay, kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật cùi chỏ, hiji-waza, nhưng khác với hai kỹ thuật trước, nó được áp dụng dưới hình thức khóa tay quấn chặt. Động tác xoay tay nhằm phá thăng bằng đối thủ về phía sau.

Tori đưa chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, gyaku-gamae.

A. Uke nắm cổ áo hay ve áo bên trái của Tori.

B. Tori đặt tay phải lên cùi chỏ Uke từ phía dưới và nắm lấy vải áo của Uke. Tori xoay người sang phải và kéo cùi chỏ Uke tới trước cùng lên trên cho đến khi cùi chỏ gập lại và cẳng tay được giữ chặt ngang ngực Tori. Tori đặt tay trái, lòng bàn tay úp xuống, lên vai trái của Uke. Thăng bằng của Uke bị phá hoàn toàn về phía sau.

C. Duy trì áp lực lên khớp cùi chỏ của Uke, Tori lùi bước theo kiểu tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng một bước trượt theo nửa vòng tròn bằng chân phải. Tori kéo xuống ở vai trái của Uke, hơi khuỵu gối để có thể dùng sức mạnh của thân thể chứ không chỉ sức của đôi tay mà quật Uke ngã ngửa.

Biến thể số 7

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ bảy, ude-hineri (vặn tay), tức vặn cánh tay, kỹ thuật thứ tư trong bốn kỹ thuật cùi chỏ, hiji-waza, và cũng được áp dụng dưới hình thức khóa tay quấn chặt, ude-garami (khóa tay quấn). Động tác vặn tay nhằm phá thăng bằng đối thủ về phía trước.

Uke vòng cả hai tay ôm lấy Tori từ phía sau. Tori bước hơi tới trước bằng chân phải và hạ thấp trọng tâm. Đồng thời ông đẩy ngược lại Uke bằng phần lưng trên và hai vai, và xoay hai bàn tay vào trong sao cho hai cùi chỏ hướng ra ngoài để phá thế nắm của Uke.

B. Bằng tay trái, Tori nắm cổ tay phải của Uke. Tori xoay trên chân phải và, khi quay lại đối diện Uke, luồn cánh tay phải xuống dưới cánh tay phải của Uke.

C. Tori tiếp tục xoay người và đặt tay phải lên khớp cùi chỏ của Uke từ phía dưới.

D. Tori duy trì áp lực lên khớp cùi chỏ của Uke và, tiếp tục xoay người, quay Uke tới trước rồi lộn hắn ngã ngửa.

Biến thể số 8

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ tám, kote-hineri (vặn cổ tay), tức vặn cổ tay, và là kỹ thuật đầu tiên trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay nhằm quật Uke ngã sấp mặt; trong trường hợp này dùng thế nắm tay thuận, jun-tedori (thế nắm tay thuận).

Tori đưa chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, hidari gyaku-gamae.

A. Uke nắm cổ tay trái của Tori bằng tay phải

như trong hình minh họa.

B. Tori phá thăng bằng của Uke về phía trước

bằng động tác quét ra ngoài, rồi ngay lập tức dùng động tác quét vào trong để nâng cánh tay Uke lên và xoay người luồn xuống dưới

bằng cách bước tới bằng chân phải. C. Tori lúc này đã xoay hẳn một vòng. Ông nắm tay phải của Uke bằng tay phải của mình, đặt ngón cái vào lòng bàn tay Uke và các ngón tay lên mu bàn tay hắn.

D. Tori vặn cổ tay Uke sao cho cùi chỏ hắn bị

nâng lên và hắn bị buộc phải nhón lên bằng các đầu ngón chân.

E. Tori đẩy xuống ở khớp cùi chỏ của Uke bằng tay trái, quật hắn ngã sấp mặt xuống.

Biến thể số 9

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ chín, cũng được gọi là kote-hineri (vặn cổ tay), tức vặn cổ tay, và là kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay nhằm quật Uke ngã sấp mặt; kỹ thuật này cũng được áp dụng với thế nắm tay thuận, jun-tedori.

A. Uke quàng tay nắm lấy Tori quanh

cổ từ phía sau bằng cẳng tay trái, trong khi tay phải hắn nắm cổ tay phải của Tori.

B. Tori nâng lưỡi dao bàn tay phải lên thế jodan (thế trên đầu), đồng thời trượt chân trái tới trước và xoay hông sang trái.

C. Tay phải của Uke lúc này ở trước mặt hắn và Tori nắm lấy bàn tay ấy bằng tay trái của mình.

D. Giữ nguyên

thế nắm cổ tay phải của Uke và nâng cùi chỏ phải của Uke lên, Tori trượt một bước bằng chân phải và đối diện đối thủ. Từ vị trí này, Tori kéo thẳng cánh tay Uke ra và dùng tay phải tạo áp lực lên khớp cùi chỏ của Uke.

E. Tori tiếp tục vặn cổ tay và khóa cùi chỏ Uke, rồi lùi bước theo kiểu tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, và quật Uke ngã sấp mặt xuống.

Biến thể số 10

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười, kote-hineri (vặn cổ tay), tức vặn cổ tay, và là kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay nhằm quật Uke ngã sấp mặt, nhưng khác với hai kỹ thuật trước, nó dùng thế nắm tay nghịch, gyaku-tedori (thế nắm tay nghịch).

Tori đưa chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân trái. Đây là thế thân hướng nghịch bên phải, migi gyaku-gamae.

A. Uke nắm ve áo của Tori bằng tay trái.

B. Tori lùi một bước trượt bằng chân phải, động tác này kéo dài cánh tay Uke ra và phá thăng bằng hắn về phía trước. Tori nắm tay trái của Uke bằng tay trái của mình và xoay cổ tay Uke sang bên trái.

C. Tori đặt ngón cái lên phần da nối giữa ngón trỏ và ngón cái của Uke, và đặt ngón út lên cổ tay Uke ở chỗ tiếp giáp giữa cổ tay và cẳng tay.

D. Điều quan trọng là thế nắm tay phải được áp dụng cho đúng, nếu không kỹ thuật sẽ mất hiệu lực. Để khống chế và đạt hiệu quả tối đa, cạnh chém của lưỡi dao bàn tay Uke phải hướng về phía mặt hắn. Tori cũng nên đẩy xuống bằng tay phải lên cẳng tay Uke ở khớp cùi chỏ.

Tori duy trì áp lực lên cổ tay và cùi chỏ Uke, bước tới một bước bằng chân phải theo kiểu ayumi-ashi (bước đi thường), tức bước đi thường, và đẩy xuống ở cùi chỏ Uke để quật hắn ngã sấp mặt xuống.

Biến thể số 11

Đây không phải là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười một mà là một biến thể khác nữa của kỹ thuật căn bản thứ chín, kote-hineri (vặn cổ tay), tức vặn cổ tay, kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật vặn cổ tay nhằm quật Uke ngã sấp mặt. Trong trường hợp này hãy dùng thế nắm tay thuận, jun-tedori.

Tori đưa chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, hidari gyaku-gamae.

A. Uke nắm ve áo bên phải của Tori bằng tay trái. Tori nắm cổ tay Uke bằng tay phải, đặt ngón cái lên phần da nối giữa ngón cái và ngón trỏ của bàn tay Uke, và đặt các đầu ngón tay vào lòng bàn tay Uke.

B. Tori xoay người dứt khoát sang phải sao cho thăng bằng của Uke bị phá về phía trước. Tori vung cánh tay lên phía dưới cánh tay trái của Uke.

C. Tori trượt một bước tới trước bằng chân trái theo kiểu ayumi-ashi (bước đi thường), tức bước đi thường, nâng cánh tay Uke lên quá đầu.

D. Tori duy trì khóa trên cổ tay Uke và xoay trên cả hai chân để quay hẳn một vòng và đối diện cùng hướng với Uke. Cổ tay Uke phải được khống chế suốt trong toàn bộ động tác.

E. Tori trượt một bước bằng chân trái và bước một bước ngắn bằng chân phải để hoàn toàn giữ được thăng bằng, rồi sau khi kéo thẳng cánh tay Uke ra, đặt tay lên cùi chỏ để khóa khớp lại.

F. Tori lùi bước theo kiểu tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân phải, và tạo áp lực lên khớp cùi chỏ của Uke, vừa bước vừa kéo cho đến khi Uke bị quật ngã sấp mặt xuống.

Biến thể số 12

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười hai, kote-gaeshi (vặn ngược cổ tay), tức xoay cổ tay, kỹ thuật đầu tiên trong bốn kỹ thuật xoay cổ tay nhằm quật Uke ngã ngửa; trong trường hợp này dùng thế nắm tay nghịch, gyaku-tedori.

Tori đưa chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, hidari gyaku-gamae.

A. Khi Uke tung đòn bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay trái, dùng động tác xoay vào trong.

B. Tori nhường bước và xoay người sang phải bằng cách trượt một bước bằng chân phải theo một đường vòng cung, rồi nắm cổ tay phải của Uke bằng tay trái và kéo hắn tới trước thật mạnh cho mất thăng bằng. Điều quan trọng là Tori đặt ngón cái lên mu bàn tay Uke và các ngón tay vào phía trong cổ tay Uke.

C. Tori lúc này xoay lại đối diện Uke. Ông làm điều đó bằng cách

quét một bước bằng chân phải theo nửa vòng tròn, rồi tiếp theo bằng một bước lùi nhỏ hơn với chân trái. Tori gia cố thế nắm bằng cách đặt thêm tay phải lên bàn tay Uke, sao cho hai ngón cái của ông kề sát nhau và các ngón tay chỉ hơi chồng lên nhau trên cổ tay Uke.

D. Tori lùi bước và hơi lệch sang phải theo kiểu tsugi-ashi (bước nối tiếp, chân nọ theo chân kia), bắt đầu bằng chân trái, và tiếp tục xoay cổ tay Uke cho đến khi hắn bị quật ngã ngửa.

Biến thể số 13

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười ba, kote-gaeshi (vặn ngược cổ tay), tức xoay cổ tay, kỹ thuật thứ hai trong bốn kỹ thuật xoay cổ tay nhằm quật Uke ngã ngửa, và trong trường hợp này dùng thế nắm tay nghịch, gyaku-tedori.

Tori đưa chân phải lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân phải. Đây là thế thân hướng thuận bên phải, migi ai-gamae.

A. Khi Uke tung đòn bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay phải, phá thăng bằng Uke về phía trước.

B. Tori trượt một bước bằng chân trái, đưa chân mình hơi ra phía sau chân phải của Uke, và đặt tay trái lên phía bên trái cổ và vai Uke trong khi vẫn đang khống chế thế mất thăng bằng về phía trước của hắn. Ngón cái của Tori đặt trên cổ tay phải của Uke và các ngón tay vắt ngang qua mu bàn tay Uke.

C. Tori xoay lại đối diện Uke như trong kỹ thuật trước, nhưng hãy lưu ý rằng vị trí bàn tay có khác. Ngón cái phải của Tori vẫn ở trên cổ tay Uke và động tác xoay được gia cố bằng tay trái của Tori.

D. Tori lùi một bước và hơi lệch sang phải bằng chân trái, khiến Uke càng mất thăng bằng hơn nữa. Tori xoay cổ tay Uke ra xa khỏi thân mình và, tiếp tục xoay và đẩy, quay Uke lộn ngã ngửa.

Biến thể số 14

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười bốn, kote-gaeshi (vặn ngược cổ tay), tức xoay cổ tay, kỹ thuật thứ ba trong bốn kỹ thuật xoay cổ tay nhằm quật Uke ngã ngửa, trong trường hợp này dùng thế nắm tay thuận, jun-tedori.

A. Uke nắm hai cổ tay của Tori từ phía trước.

B. Tori dùng động tác quét ra ngoài bằng tay trái phá thăng bằng Uke về phía trước, rồi nắm tay phải của Uke bằng tay phải của mình, đặt lòng bàn tay lên mu bàn tay Uke theo thế thuận, jun-tedori.

C. Tori gia cố thế nắm bằng cách thêm tay trái vào cùng với sức của tay phải và trượt một bước theo nửa vòng tròn bằng chân trái, khiến Uke càng bị đẩy tới trước hơn nữa.

D. Tori tiếp tục xoay cổ tay Uke và kéo, quay Uke lộn ngã ngửa.

Biến thể số 15

Đây là một biến thể của kỹ thuật căn bản thứ mười lăm, kote-gaeshi (vặn ngược cổ tay), tức xoay cổ tay, kỹ thuật thứ tư trong bốn kỹ thuật xoay cổ tay nhằm quật Uke ngã ngửa, trong trường hợp này dùng thế nắm tay thuận, jun-tedori.

Tori đưa chân trái lên trước để đón đòn tấn công của đối thủ khi Uke bước tới bằng chân của hắn. Đây là thế thân hướng nghịch bên trái, hidari gyaku-gamae.

A. Khi Uke tung đòn bằng tay phải, Tori chặn đòn bằng lưỡi dao bàn tay trái.

B. Tori nắm cổ tay Uke và, dùng toàn bộ động tác quét ra ngoài, phá thăng bằng Uke về phía trước. Lúc này ông thêm tay phải vào thế nắm trên cổ tay Uke.

Ngón cái trái của Tori đặt ở phía trong cổ tay Uke và các ngón tay ở phía sau cổ tay và bàn tay Uke. Tori đặt tay phải lên tay phải của Uke, với ngón cái ở phía sau và các ngón tay vắt ngang qua lòng bàn tay Uke đang ngửa lên.

C. Tori bước một bước ngắn bằng chân phải để tiến lại gần Uke hơn một chút, rồi trượt một bước tới trước bằng chân trái theo kiểu ayumi-ashi (bước đi thường), tức bước đi thường, và nâng cánh tay Uke lên để xoay người luồn xuống dưới. Trong khi làm vậy, tay trái ông trượt vòng xuống để nhập cùng tay phải, sao cho cả hai ngón cái đều đặt trên mu cổ tay Uke và các ngón tay thì ở trong lòng bàn tay Uke.

D. Tori tiếp tục xoay thân mình và khống chế cổ tay Uke cho đến khi phía bên phải của ông đối diện với phía trước của Uke.

Tori tiếp tục xoay cổ tay Uke và, hạ thấp hông cùng hơi khuỵu gối để hạ trọng tâm, dùng cánh tay Uke như một đòn bẩy để quật Uke tới trước sao cho hắn lộn ngã ngửa.

Một người hiểu các nguyên lý của aikido hay judo và áp dụng những nguyên lý ấy vào đời sống hằng ngày thì khó lòng tranh cãi gay gắt hay gây ồn ào nơi công cộng, và hẳn sẽ kiên nhẫn hơn người khác. Tuy vậy, dù một người có cẩn trọng đến đâu để không chuốc lấy rắc rối, và dù tính cách hắn có dễ mến hay thái độ có đúng mực đến đâu, vẫn có những lúc hắn buộc phải tự vệ hoặc phải lao đến bảo vệ người khác.

Nếu bạn đã dành nhiều giờ luyện tập các kỹ thuật trong sách này, bạn sẽ biết theo bản năng cách xử sự khi đối diện một kẻ tấn công. Tuy nhiên, có một hai điều cần nói về tự vệ.

Có một châm ngôn cổ của các võ sĩ đạo Samurai rằng: Nếu địch quay lại tấn công ta, ta đối mặt với hắn; nếu hắn bỏ đi, ta để hắn đi. Thật khôn ngoan khi nhớ rằng sẽ có lúc ta nên lánh xa rắc rối, hoặc tùy tình thế mà quay gót bỏ chạy. Chỉ kẻ ngu hay kẻ điên mới liều lĩnh chống lại một người có súng. Súng có thể nổ và giết người, và trừ khi tình huống của bạn là chuyện sống chết tuyệt vọng, tốt nhất hãy đứng thật yên và im lặng. Cơ hội thực sự duy nhất của bạn là khi kẻ cầm súng không thạo và đứng quá gần bạn. Nếu hắn là tay sành sỏi, hẳn hắn sẽ giữ một khoảng cách thích hợp trong khi vẫn chĩa súng uy hiếp bạn.

Với những cuộc tấn công bằng dao, bạn cũng phải hết sức cẩn thận, và nên biết cách nhận ra trình độ của kẻ tấn công. Nếu hắn xông tới với lưỡi dao giơ cao, sẵn sàng đâm xuống người bạn, thì bạn đang đối phó với một kẻ biết rất ít về đấu dao. Nhưng nếu hắn hạ mình vào thế jigotai (thế tự vệ) và chĩa mũi dao lên phía bạn, với chuôi dao nằm trong tay hắn và lòng bàn tay hướng lên, thì bạn đang đối mặt với một kẻ biết chính xác mình đang bắt đầu điều gì và hết sức nguy hiểm.

Cũng nên nhớ rằng, bất chấp quan niệm phổ biến cho rằng ngược lại, không phải kẻ bắt nạt nào cũng hèn nhát.

Trước khi trình bày một số kỹ thuật tự vệ dựa trên các động tác aikido, đây là một hai câu chuyện về tấn công và phòng thủ mà bạn có thể muốn nghe. Tôi kể chúng vì học trò của tôi luôn thấy chúng rất thú vị, dù vào lúc ấy chắc hẳn chúng có vẻ nghiêm trọng đủ đường. Chúng cho thấy rằng người ta không bao giờ biết được bạo lực có thể ập đến vào lúc nào hay dưới hình thức nào.

Lần đầu tiên tôi áp dụng một kỹ thuật chống lại người khác bên ngoài sân tập là khi tôi còn là một cậu bé khoảng mười ba tuổi. Tôi đến thăm một vị sư thầy Zen và phát hiện một tên trộm đang trốn trong tủ. Tôi chộp lấy tên trộm nhưng hắn đánh vào tay tôi rồi bỏ chạy.

Tôi kịp bắt được hắn trước khi hắn thoát ra khỏi nhà và quật hắn bằng một biến thể của seoi-nage (đòn quật qua vai), vốn là kỹ thuật ưa thích của tôi hồi đó. Cú ngã khiến hắn hụt hơi nặng và hoảng sợ vì những cơn đau ở ngực và lưng. Người bạn sư thầy của tôi giúp hắn phần nào, và sau khi sơ cứu cho hắn, thầy quyết định không gọi cảnh sát mà để hắn đi đường hắn.

Vào một dịp khác, tôi bắt gặp một đám thanh niên đang bắt nạt một người bạn học của tôi. Chúng tôi học cùng lớp ở trường đại học nhưng anh ấy không phải người tập judo. Khi tôi hỏi chuyện gì đang xảy ra thì tên cầm đầu đánh vào mặt tôi. Chúng tôi bị bao quanh bởi khoảng một tá đồng bọn của hắn, và hầu như không có chỗ để ra một nage-waza (kỹ thuật quật ngã), nên tôi đáp trả theo cách tương tự và tung cho hắn một atemi-waza (đòn đánh vào điểm yếu) vào một trong mười hai huyệt hiểm nhất trên thân thể, tức đám rối mặt trời, mà chúng tôi gọi là suigetsu. Hắn gục xuống đất bất tỉnh và băng nhóm của hắn bỏ chạy, để mặc tôi hồi tỉnh cho hắn bằng phương pháp cấp cứu gọi là katsu, vốn được dạy cho người tập judo.

Đôi khi thật khó biết nên chọn cách hành động nào khi đối mặt với rắc rối từ một băng nhóm. Câu chuyện này cho thấy sự nhanh trí đã giải quyết một vấn đề cụ thể như thế nào.

Sự việc xảy ra ở quê tôi, Fukuoka, vào cuối chiến tranh, khi một viên cảnh sát Nhật được gọi đến một quán rượu để dẹp một vụ ồn ào. Viên cảnh sát bị đánh vào mặt khi ông đề nghị một binh sĩ Đồng minh rời khỏi quán. Phản ứng của ông là đánh trả. Khi những binh sĩ khác trong nhóm xúm lại vây ông, ông quay người và chạy ra khỏi tòa nhà. Bọn lính đuổi theo, hét lên rằng ông là kẻ hèn. Lúc ấy ông là một judoka đai đen cấp bốn hoặc cấp năm và là một võ sĩ rất thiện nghệ.

Viên cảnh sát chạy vừa đủ nhanh để luôn dẫn trước và không bị bắt cho đến khi ông tới một cây cầu hẹp bắc qua sông. Khi tới giữa cầu, ông quay lại đối mặt bọn lính, và khi chúng xông tới chỗ ông, ông lần lượt quật từng tên qua cầu xuống nước. Ông quật khoảng nửa tá tên theo cách ấy và số còn lại rút lui.

Đó là một màn trình diễn judo thành công mỹ mãn cả về tinh thần lẫn thể chất, và mang lại cho dân thị trấn trận cười lớn nhất từ lâu. Thật không may cho viên cảnh sát, lúc ấy nhà chức trách đang lấy lòng chính quyền chiếm đóng, và dường như vụ việc không làm hài lòng cấp trên của ông, nên ông vẫn chỉ là một cảnh sát viên.

Cũng trong thời kỳ chiếm đóng ấy, chính tôi cũng gặp chút rắc rối, tại Yokohama. Hồi đó tôi mới ngoài hai mươi và đang ở đẳng cấp bốn hoặc năm dan.

Ứng dụng tự vệ

Tôi đang đạp xe về nhà trong bóng tối thì một quân nhân Đồng minh chặn tôi lại, cho rằng ánh sáng từ đèn xe tôi sẽ khiến Quân cảnh chú ý vì đã qua giờ giới nghiêm, khi mà mọi binh sĩ phải trở về doanh trại.

Hắn tắt đèn của tôi và tôi lại bật lên. Trò vô lý này lặp đi lặp lại vài lần cho đến khi tôi gạt tay hắn ra. Hắn bèn đánh tôi ngã khỏi xe bằng một cú đấm giữa hai mắt. Khi tôi nhặt mình và chiếc xe lên khỏi mương, tôi mời hắn thử đánh tôi lần nữa. Khi hắn vung tay phải, tôi quật hắn xuống đất rất dễ dàng.

Sau đó tôi chợt nghĩ rằng hắn có thể muốn nếm thử sức nặng của một cú đấm vào mặt, nên tôi ngồi đè lên ngực hắn và đấm hắn vài cái. Tôi dừng lại khi thấy hắn chảy máu rất nhiều từ mũi và miệng. Cú ngã xuống nền đất cứng hẳn đã gây chảy máu trong. Hắn trở nên rất lo lắng và van xin tôi gọi người giúp, điều tôi sẵn lòng làm. Quân cảnh đến rất nhanh và đưa hắn tới bệnh viện.

Có thể bạn cho rằng tôi đấm người lính ấy là sai, và hôm nay hẳn tôi sẽ không hành xử như vậy. Tuy nhiên, bạn sẽ hiểu rằng hồi đó tôi còn khá trẻ và đang luyện tập rất chăm chỉ cho một loạt cuộc thi đẳng cấp cao, nên tinh thần chiến đấu của tôi hết sức hăng hái.

Một thời gian sau, tôi bị hai binh sĩ Đồng minh tấn công tại một nơi rất hẻo lánh trên con đường quanh co và dốc. Người lính thứ nhất, một gã rất cao lớn và vạm vỡ, hỏi đường tới doanh trại, và khi tôi quay người chỉ hướng, hắn đánh vào mặt tôi. Tôi đánh rơi hai gói đồ đang mang, quật hắn xuống đất rồi quay lại phòng thủ trước đồng bọn của hắn, nhưng gã nhỏ hơn quyết định bỏ chạy.

Gã to xác đứng dậy và chuẩn bị tấn công tôi lần nữa. Lúc này chúng tôi đang đứng ở mép con đường, nơi đổ dốc thẳng đứng, cách sân bóng chày bên dưới chừng 50 feet. Gã lính bèn ghì lấy tôi và cố đẩy tôi qua mép đường. Điều này thật không may, vì chính tôi là người quật hắn qua mép đường bằng một kỹ thuật gọi là tomoe-nage, nghĩa là quật theo vòng tròn. Hắn ngã rất nặng và bị thương khá trầm trọng.

Nhà chức trách của Quân đội Chiếm đóng biết ơn tôi vì hóa ra hai gã ấy đã phạm nhiều vụ tấn công người dân trong vùng và gây ra một loạt vụ cướp. Người dân địa phương cũng hài lòng rằng bọn chúng đã bị bắt.

Một trong những học trò của tôi ở Tokyo là một đại tá Không quân Hoa Kỳ. Ít lâu sau khi trở về Mỹ, ông thấy mình rơi vào một tình huống khó chịu trong một quán rượu khi một gã rất hung hăng túm lấy ve áo và đe dọa ông. Người bạn của tôi bèn nói với kẻ ấy rằng hắn là kẻ bắt nạt và khoác lác, và yêu cầu hắn buông tay ra. Gã ấy từ chối và siết chặt thêm, thế là viên đại tá áp dụng động tác vặn cổ tay được dùng trong kỹ thuật căn bản thứ mười và minh họa rất rõ trong biến thể thứ mười. Cánh tay gã đàn ông bị gãy ở hai chỗ, tại cổ tay và cẳng tay. Viên đại tá sau đó rời quán rượu nhưng tốt bụng gọi điện thoại trước để xin một xe cứu thương.

Vài kỹ thuật tự vệ được trình bày ở đây đều dựa trên các động tác aikido. Dĩ nhiên còn nhiều kỹ thuật khác nữa, nhưng bạn có thể học mọi thứ mình muốn từ thầy của mình khi đã đạt tới một trình độ thành thạo nhất định.

Học trò của tôi rất thích luyện bài go-shin-jitsu kata (bài quyền tự vệ), một trong những bài được dạy ở Kodokan, gồm 21 kỹ thuật chống lại nhiều kiểu tấn công khác nhau.

Bạn sẽ thấy một phần văn bản, đặc biệt là phần nói về kỹ thuật, có tính lặp lại.

Điều này nhằm giúp việc học từ cuốn sách này trở nên đơn giản nhất có thể. Chẳng hạn, bạn có thể muốn tìm hiểu một kỹ thuật nào đó mà không phải liên tục tham chiếu lại các trang trước, và khi đọc phần giới thiệu biến thể số 12, tức vặn cổ tay, kote-gaeshi, bạn sẽ biết rằng giống như kỹ thuật căn bản thứ 12, nó được thiết kế để quật ngã đối thủ theo một cách cụ thể.

Một số học trò có thể hơi sốt ruột với thuật ngữ tiếng Nhật được dùng song song với phần mô tả tiếng Anh, nhưng tôi đã đề nghị ông Macintosh đưa chúng vào vì vài lý do. Một lý do khá ích kỷ là tiếng Anh của tôi không tốt chút nào, và đôi khi tôi thấy khó nhớ từ tiếng Anh khi dạy một môn — suy cho cùng — là nghệ thuật Nhật Bản, và tôi thấy nhẹ nhõm khi nói jun-tedori thay vì regular hand-grip (nắm tay thông thường); học trò của tôi thường tử tế chiều ý tôi trong chuyện này.

Một lý do khác là nếu bạn đi ra nước ngoài và muốn luyện aikido ở Đức, Pháp, Ý, Hà Lan hay Nam Tư, như tôi từng làm, thì dù bạn không biết ngôn ngữ của đất nước ấy, ít nhất bạn cũng sẽ có vài từ chung với những người bạn tập và càng thêm thích thú buổi tập của mình.

Dĩ nhiên hầu như không thể tinh thông aikido chỉ từ một cuốn sách. Bạn sẽ cần gia nhập một võ đường và luyện tập dưới sự hướng dẫn của một người thầy, vì có vô vàn điều phải học về sự phối hợp đúng đắn của thân thể trước khi áp dụng các kỹ thuật khác nhau. Ảnh tĩnh không thể hiện được dòng chảy và nhịp điệu của các động tác. Những nét tinh tế ấy chỉ có thể được hiểu và cảm nhận sau khi miệt mài luyện tập trong sân tập; tuy nhiên, cuốn sách này sẽ đóng vai trò một người dẫn đường cho các nguyên lý và chi tiết. Nó cũng sẽ hữu ích nếu bạn là thành viên của một câu lạc bộ nhỏ, nơi một huấn luyện viên có bằng cấp chỉ có thể ghé thăm thỉnh thoảng.

CÁC KỸ THUẬT TỰ VỆ

Tự vệ 1

Phần đầu của thế tự vệ này dựa trên kỹ thuật thứ mười, kote-hineri (vặn cổ tay), và cũng có thể thấy được lợi ích của nó trong biến thể thứ mười. Phần thứ hai là oshi-taoshi (đẩy ngã), kỹ thuật căn bản thứ tư.

Nếu bạn đã học kỹ các kỹ thuật thì sẽ không gặp vấn đề gì. Hãy nhớ rằng trước khi áp dụng khóa, bạn phải lùi lại để kéo đối thủ tới trước và làm mất thăng bằng. Hãy chắc chắn rằng bạn vặn cổ tay hắn sao cho lưỡi dao bàn tay của hắn xoay với ngón út ở trên cùng. Tiếp theo áp dụng kỹ thuật căn bản thứ tư để quật hắn xuống. Hãy duy trì khóa cổ tay từ lúc bạn nắm cổ tay hắn cho đến khi bạn quyết định thả hắn ra.

Tự vệ 2

Thế tự vệ này dùng một khóa tay thẳng, một đòn quật hông mạnh của judo (trong khi vẫn giữ khóa tay), và một khóa tay nữa để cố định đối thủ khi hắn đã nằm dưới đất.

Chúng tôi không thường dùng các đòn quật của judo vì như thế là tiếp xúc thân thể, và trừ khi bạn đã khống chế được đối thủ — chẳng hạn bằng một khóa tay — các kỹ thuật ghì vật sẽ đưa bạn tới quá gần kẻ tấn công. Đây chỉ là một trong một tá cách đối phó với hình thức tấn công này, và nó được đưa vào vì tỏ ra hiệu quả.

Đòn quật hông, o-goshi, khá dễ thực hiện trong trường hợp này vì bạn đưa đối thủ lên đầu ngón chân và lộn hắn qua hông mình bằng cách dùng cánh tay bị khóa của hắn như một đòn bẩy.

Nếu hắn kháng cự, khớp cùi chỏ của hắn sẽ bị tổn thương.

Một đòn quật lớn như thế, dùng chống lại một người không biết cách ngã, có thể gây thương tích, đặc biệt nếu hắn ngã xuống đầu.

Tự vệ 3

Kỹ thuật ở đây là dùng động tác tay mạnh mẽ của o-mawashi (quét vòng lớn) và khóa tay thẳng, ude-hishigi. Bạn có thể thấy một phiên bản của nó, gọi là hikitaoshi (kéo ngã), trong biến thể số 5.

Kẻ tấn công nắm cánh tay bạn bằng cả hai tay ở cổ tay và cùi chỏ. Hãy giữ các ngón tay duỗi thẳng. Chuyển thăng bằng sang chân trái. Kéo ra khỏi hắn một chút để dụ hắn tới trước. Đá mạnh và nhanh vào khớp gối hắn bằng toàn bộ chiều dài bàn chân. Điều này sẽ gây cho hắn chút đau đớn (nếu không thực sự làm gãy chân hắn), phá vỡ tư thế và kéo tâm trí hắn rời khỏi cánh tay bạn.

Giờ bạn có thể tập trung thoát khỏi tay nắm của hắn. Việc này được thực hiện bằng cách nhúng tay xuống theo đúng cách bạn thực hiện động tác tay căn bản o-mawashi, quét vòng lớn. Bí quyết thành công ở đây là dùng các ngón tay để chỉ hướng và dẫn cánh tay theo một chuyển động tròn nhúng xuống, làm hạ cùi chỏ bạn xuống.

Khi hoàn tất động tác tay, bạn đang ở tư thế aikido căn bản và hoàn toàn thăng bằng, trong khi cổ tay kẻ tấn công, vẫn đang nắm cổ tay bạn, đã bị bẻ cong. Từ đây có thể thực hiện nhiều động tác, nhưng trong trường hợp này chúng tôi chọn trình bày một khóa tay mạnh, ude-hishigi. Đây là một khóa vững chắc vì khi bạn nắm cổ tay kẻ tấn công bằng tay trái, bạn đè xuống cùi chỏ hắn bằng trọng lượng cơ thể và duy trì khóa bằng cách đặt cánh tay mình lên khớp cùi chỏ của hắn. Chỉ cần rất ít áp lực để khống chế hoàn toàn. Hãy gấp bàn tay phải hắn vào trong cánh tay bạn như hình minh họa.

Nếu đến lúc này hắn chưa mất hứng, bạn có thể áp dụng một khóa cổ tay bằng tay phải để quật hắn xuống úp mặt.

Tự vệ 4

Thế tự vệ này dùng phần đầu của kỹ thuật căn bản thứ mười lăm, kote-gaeshi (vặn cổ tay) (bạn cũng nên nghiên cứu động tác mở đầu trong biến thể thứ mười lăm), nhưng sau đó, thay vì xoay người xuống dưới cánh tay giơ cao của đối thủ, bạn khóa cổ tay hắn và bước tới bằng chân trái.

Đẩy cánh tay trái của bạn tới trước bên dưới cánh tay hắn, hãy dồn thân thể mình vào khớp cùi chỏ của hắn để quật hắn xuống úp mặt.

Bạn có thể thấy kỹ thuật cùi chỏ này vận hành rất hiệu quả trong biến thể thứ tư. Chỉ khác là trong ứng dụng này của oshi-taoshi (đẩy ngã), cánh tay của Uke bị khóa bởi chính cánh tay phải của hắn.

Tự vệ 5

Kỹ thuật căn bản thứ sáu được dùng trong thế tự vệ này. Đó là ude-garami (khóa tay xoắn).

Trước khi luyện tập với dao hay gậy, hãy học động tác kata căn bản và dạng tự do để chắc chắn bạn hiểu những điều cơ bản. Bạn sẽ nhớ rằng khóa tay xoắn này được dùng vì Uke rút cánh tay lại để kháng cự khi bạn đã cố làm thẳng nó để thực hiện oshi-taoshi, khóa cùi chỏ đẩy ngã.

Khi áp dụng khóa này, hãy đẩy cánh tay đã gập của Uke ra sau, sát bên đầu hắn. Nếu bạn đẩy cánh tay hắn ra xa khỏi đầu về phía góc sau bên phải, bạn có thể làm tổn thương khớp vai của hắn.

Người tập judo sẽ thấy rằng một khi Uke đã bị phá thăng bằng, hắn có thể được tiễn thêm một đoạn bằng o-soto-gari (quét chân ngoài lớn).

Nếu bạn dùng dao sắc hay rìu trong luyện tập, nên dán băng dính trong suốt lên lưỡi cắt. Nó trông vẫn sắc nhưng an toàn hơn một chút so với lưỡi hoàn toàn trần.

Tự vệ 6

Kỹ thuật được dùng ở đây là kote-gaeshi (vặn cổ tay), như trình bày trong kỹ thuật căn bản thứ mười hai và biến thể thứ mười hai. Bạn đang đối mặt với một kẻ có súng ngắn. Bạn hãy giả định rằng nó đã lên đạn và hắn thực sự muốn ra tay. Bạn đứng thật yên. Hắn có thể đang run sợ, hoặc có thể là một kẻ giết người tâm thần. Có thể cả hai. Dù thế nào, khẩu súng cũng có thể nổ. Nếu đây là chuyện sống chết thì bạn không có lựa chọn, bạn sẽ phải liều và đọ tốc độ của mình với hắn. Nếu hắn là một sát thủ chuyên nghiệp được huấn luyện thì bạn sẽ thua. Alex Macintosh thì không phải — nếu phải, ông ấy đã đứng xa John Waite hơn.

Nếu kẻ tấn công ở đủ gần để bạn với tới hắn thì bạn có cơ hội, và thường trong tình huống như thế có một khoảng dừng trong tích tắc trước động tác đầu tiên và trước khi cò súng được bóp. Hãy di chuyển nhanh và dứt khoát. Tay bạn không được trượt. Khi áp dụng khóa cổ tay bằng cả hai tay, hãy giữ mắt trên khẩu súng. Khi quật đối thủ, hãy nhớ rằng bạn sẽ không có cơ hội thứ hai, nên hãy quật hắn thật nhanh và thật mạnh, như thể bạn muốn hắn xuyên qua sàn nhà. Khi hắn chạm đất, hắn hẳn sẽ mất hết hứng, nhưng bạn phải duy trì khóa cổ tay cho đến khi hắn buông súng. Hãy nhặt khẩu súng lên và chĩa vào hắn. Sẽ là công lý thi vị nếu bắn hắn bằng chính khẩu súng của hắn, nhưng điều đó bị coi là vô văn minh và trái với tinh thần đích thực của aikido.

Tự vệ 7

Những bức ảnh của kỹ thuật tự vệ này gần như tự giải thích.

Khi bạn đã đạt tới một mức thành thạo nhất định trong luyện tập, bạn nên thử bản lĩnh của mình trước một khẩu súng nạp đạn giả. Trong Thế chiến II, quân du kích ở Nam Tư đã quan sát các lực lượng biệt kích Anh luyện chiến đấu tay không và thử một kỹ thuật tương tự như kỹ thuật được trình bày, nhưng dùng đạn thật. Một số người trong bọn họ bị thương nặng, nhưng câu trả lời của họ trước lời chỉ trích của người Anh là kẻ thù sẽ dùng đạn thật và sẽ bắn để giết.

Cho đến khi luyện tập, bạn sẽ không bao giờ biết mình có thể thành công đến đâu, hay nhanh đến đâu. Chúng tôi đã thử kỹ thuật tự vệ này với đạn giả và thấy rằng bạn có thể thắng được khẩu súng, và ngay cả khi nó có nổ, bạn cũng đã ra khỏi đường đạn.

Cùng với khóa tay, bạn nên dùng một đòn chặn ngang cổ họng kẻ tấn công. Nếu muốn, bạn có thể tăng cường khóa cổ này bằng cách luồn ngón cái thật sâu vào trong cổ áo hắn, nắm lấy ve áo bằng các ngón tay và dùng cạnh cổ tay làm một thanh ngang qua khí quản hắn, để cắt nguồn không khí và làm hắn bất tỉnh.

Không nên lẫn lộn một khóa chặn cổ với một đòn siết cổ, tức áp lực đặt lên các động mạch ở hai bên cổ và cắt nguồn máu lên não.

Khi luyện những kỹ thuật tự vệ này, bạn phải luôn di chuyển nhanh và dứt khoát, như thể mạng sống của bạn phụ thuộc vào đó. Ai mà biết được, một ngày nào đó có thể đúng là như vậy.

Tôi chân thành hy vọng rằng, sau khi đọc cuốn sách này, bạn sẽ sớm bắt đầu luyện tập và tận hưởng cảm giác khỏe khoắn và tự tin đến từ sự thấu hiểu đúng đắn các nguyên lý và thực hành aikido. Một cảm giác hòa làm một với ki, tức khí — tinh thần dẫn dắt tâm trí và điều khiển thân thể.

Sau một thời gian ngắn, tôi tin rằng bạn sẽ có thể mang các nguyên lý của aikido vào cuộc sống hằng ngày. Nếu bạn không thể, hoặc không muốn, thì tôi đã thất bại trong việc truyền đạt cho bạn tinh thần đích thực của môn võ. Bởi lẽ, dù niềm vui đến từ việc thực hiện aikido trong sân tập là đáng quý, nó chẳng là gì so với sự điềm tĩnh, thăng bằng về tinh thần lẫn thể chất và sự mãn nguyện đến từ việc sống mọi lúc theo con đường của tinh thần.

Tôi biết rằng aikido có thể tạo nên khác biệt trong thái độ sống của bạn, đối với đồng nghiệp nơi công sở, bạn bè, và thậm chí cả kẻ thù, vì ta phải thừa nhận rằng một người có tinh thần và có khả năng cho tình bạn chân thật và bền lâu, đáng tiếc thay, chính những phẩm chất ấy đôi khi lại khơi lên lòng thù hận nơi kẻ khác. Ở đây tôi nhớ đến một câu nói cổ: 'Ta không mong các ngươi là những nhà sư, vì nhà sư thì nhiều, mà là những con người, vì con người thì ít.'

Tôi hy vọng bạn sẽ tận hưởng aikido trọn vẹn. Tôi cũng biết rằng đây hẳn là mong ước của các thầy tôi, Giáo sư Uyeshiba và Giáo sư Tomiki, và cả những quý ông lỗi lạc khác trong thế giới aikido: Kisshomaru Uyeshiba, con trai của bậc đại sư, Koichi Tohei và Gozo Shioda. Đúng là phương pháp luyện tập của chúng tôi có khác nhau đôi chút, nhưng nguyên lý của aikido vẫn không đổi.

Đôi nét về các tác giả

Senta Yamada là một trong số ít người Nhật

đạt được các học vị cao về cả aikido lẫn judo. Ông là một người thầy được kính trọng và giữ đẳng cấp lục đẳng (sixth dan) ở cả hai môn.

Ông cũng giành được nhất đẳng (first dan) môn kendo, đấu kiếm Nhật Bản. Yamada sinh tại Fukuoka, miền Nam Nhật Bản năm 1924 và lần đầu luyện judo ở trường Trung học khi mới 11 tuổi. Ông đoạt đai đen nhất đẳng ở tuổi 16.

Yamada thi đấu judo trong các cuộc thi Đông–Tây Nhật Bản, và ở những thời điểm khác nhau chiến đấu cho cả hai phe và được chọn làm Đội trưởng.

Ông được trao lục đẳng sau khi đánh bại năm võ sĩ ngũ đẳng khác trong các cuộc thi.

Một thời gian sau chiến tranh, ông được Giáo sư Uyeshiba, bậc đại sư aikido của Nhật Bản, mời theo học với thầy tại nhà riêng ở tỉnh Wakayama và ở Tokyo.

Yamada cũng là học trò của Giáo sư Kenji Tomiki ở Kodokan và ở Đại học Waseda.

Alex Macintosh, người Scotland ở London, phỏng vấn viên

và nhân vật truyền hình, khởi nghiệp kinh doanh ở Úc năm 1949. Trở về Anh năm 1954 và gia nhập Dịch vụ Truyền hình B.B.C. năm 1955. Được bổ nhiệm làm Phát thanh viên chính năm 1956 và dẫn nhiều chương trình Giải trí nhẹ nhàng và phóng sự cho truyền hình lẫn phát thanh B.B.C. Là phỏng vấn viên tự do từ năm 1961.

Hiện thuộc Ban Thời sự và Thời cuộc của B.B.C., Glasgow, Scotland. Giải thưởng của giới phê bình năm 1959. Giải Truyền hình Quốc gia của 'Daily Mirror' năm 1961. Lần đầu gặp Yamada và trở thành học trò cùng người bạn thân của ông tại Hội Judo London.

Lời từ biệt của Senta Yamada gửi Alex Macintosh

Trang phục

TRANG PHỤC — Aikido có thể được luyện tập trong hầu như bất kỳ bộ trang phục nào. Bạn có thể mặc áo phông và quần bò, đồ đấu vật, hoặc khi trời nóng thì đồ tắm. Mặc gì thật ra không quan trọng. Điều quan trọng nhất là bạn luyện tập và tận hưởng việc luyện tập.

Khi lần đầu đến thăm một câu lạc bộ, có lẽ bạn nên mặc áo sơ mi và quần dài; sau đó khi quyết định trở thành thành viên, bạn sẽ thấy thoải mái hơn khi mặc giống những người tập aikido khác. Đó thường là cùng loại áo khoác và quần như của người tập judo.

Bạn sẽ có cảm giác thuộc về nhóm nếu tất cả đều mặc giống nhau, và có điều gì đó hấp dẫn ở một lớp học trong bộ vải cotton trắng tinh tươm đang thực hiện các kỹ thuật aikido.

Cùng với áo khoác và quần trắng, người ta đeo một đai màu để biểu thị trình độ của người tập.

Giáo sư Uyeshiba và các huấn luyện viên của ông mặc áo khoác và quần kiểu Nhật cùng chiếc hakama truyền thống, trông như một chiếc váy dài, sẫm màu, có chia hai ống. Người ta có thể nghĩ rằng bộ áo dài này sẽ cản trở chuyển động, nhưng không phải vậy. Chắc chắn tôi chưa từng thấy chuyển động của Giáo sư Uyeshiba bị chiếc hakama hạn chế, và bộ trang phục này quả thật mang lại vẻ trang nghiêm cho buổi tập.

Vì chúng tôi luyện cả judo lẫn aikido nên Giáo sư Tomiki và tôi thích mặc judogi (bộ đồ judo). Nó thoải mái khi mặc, tiết kiệm khi mua và dễ giặt ủi. Tuy nhiên, bộ đồ judo được làm bằng cotton dày gia cố, thiết kế để chịu được các kỹ thuật ghì vật, nên có thể trở nên rất nóng. Một lựa chọn khôn ngoan hơn là áo khoác và quần bằng cotton mịn hơn mà người tập karate mặc. Áo khoác hơi ngắn hơn và khá nhẹ. Khi được giặt đúng cách, chất liệu ấy tạo ra âm thanh đanh gọn khi các động tác aikido được thực hiện thật tốt.

Dù là bộ trang phục nào, nó cũng phải luôn sạch không tì vết khi bạn bước lên thảm. Và dĩ nhiên, không chỉ trang phục mà cả thân thể, tóc, móng tay và hơi thở của bạn cũng phải sạch sẽ và tươi mới. Làm khác đi không chỉ là thất lễ mà còn là sự xúc phạm tới nhân cách của đối thủ. Vì cùng lý do ấy, nhai kẹo cao su trong võ đường bị coi là hành vi khiếm nhã.