Trần Thức Thái Cực Quyền
Phần 1
Trang bìa
(Bìa sách)
Trần Thức Thái Cực Quyền Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân (Trang tên sách)
Trần Thức Thái Cực Quyền Thẩm Gia Trinh, Cố Lưu Hinh — biên soạn Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân (Trang bản quyền)
Trần Thức Thái Cực Quyền Thẩm Gia Trinh, Cố Lưu Hinh — biên soạn Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân xuất bản Nhà in số 1 Bắc Kinh in · Nhà phát hành sách Tân Hoa Bắc Kinh phát hành 787 × 1092 mm · khổ 32 · 182 nghìn chữ · 10 25/32 tờ in Bản thứ 1 tháng 12 năm 1963 · In lần thứ 4 tháng 4 năm 1982 Số lượng in: 43.201–175.200 cuốn Số sách thống nhất: 7015·1209 · Giá: 1,10 nguyên Biên tập: Diêm Hải, Vương Khiết Thiết kế bìa: Chu Mộng Lân, Tôn Kim Vinh Lời Nói Đầu Bản In Lại Sách này đã được in hai lần vào các năm 1963 và 1964, sau đó không tái bản nữa.
Trần Thức Thái Cực Quyền được giới thiệu trong sách là một phái Thái Cực Quyền cổ xưa nhất. Quyền thức chia làm Lộ thứ nhất và Lộ thứ hai, đều là những bài quyền do cố danh quyền sư Trần Phát Khoa truyền dạy. Chương một, hai, ba của sách do Thẩm Gia Trinh chấp bút; chương bốn, năm do Cố Lưu Hinh chấp bút. Hình vẽ động tác được phác họa theo ảnh di vật của Trần Phát Khoa, những phần còn thiếu thì lấy ảnh của con trai Trần Phát Khoa là Trần Chiếu Khuê chụp bổ sung.
Trong quá trình biên soạn, sách đã nhận được sự giúp đỡ của Chu Nguyên Long, Thiệu Bá Chu, Dương Cảnh Huyên, Sào Chấn Dân, Lôi Mộ Ni và những người khác, và do Trần Chiếu Khuê hiệu đính.
Lần in lại này chỉ viết lại mục "Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền", lược bỏ phần "Lời tựa", nội dung nguyên bản không thay đổi. Chỗ nào trong sách còn chưa thỏa đáng, mong bạn đọc góp ý để sửa chữa.
Ban Biên tập Nhà xuất bản Thể dục Nhân dân Tháng 4 năm 1980
- Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền1
- Chương một · Tám đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền3
- Đặc điểm thứ nhất · Vận động ý - khí dưới sự chi phối của đại não5
- i. Nội khí và dụng ý5
- ii. Sự thực hiện vận động ý - khí8
- Đặc điểm thứ hai · Vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài11
- i. Thân chi duỗi dài11
- ii. Tác dụng sinh lý của thân chi duỗi dài13
- iii. Tám môn kình biệt và kình bằng (bồng) đàn hồi14
- iv. Nắm vững vận động đàn hồi (kình bồng)15
- Đặc điểm thứ ba · Vận động xoắn ốc triền ty thuận nghịch17
- i. Thực chất của vận động như triền ty18
- ii. Tác dụng của vận động xoắn ốc kiểu triền ty20
- iii. Các loại kình triền ty và yếu lĩnh của chúng21
- iv. Nắm vững vận động xoắn ốc23
- Đặc điểm thứ tư · Vận động hư thực lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy27
- i. Tỷ lệ hư thực28
- ii. Ba loại hư thực cơ bản30
- iii. Nắm vững hư thực32
- iv. Khinh trọng phù trầm và hư thực33
- Đặc điểm thứ năm · Vận động tiết tiết quán xuyến do yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp37
- i. Thực chất của tiết tiết quán xuyến38
- ii. Quan hệ giữa "nhất động toàn động" và yêu tích39
- iii. Tiết tiết quán xuyến và tăng cường các khớp40
- iv. Điều tiết độ động của các khớp40
- v. Nắm vững tiết tiết quán xuyến42
- Đặc điểm thứ sáu · Vận động nhất khí a thành liên miên bất đoạn, thao thao bất tuyệt44
- i. Sự thực hiện nhất khí a thành45
- ii. Thực lệ hành quyền của danh gia47
- iii. Thần khí động đãng và nhất khí a thành ①48
- iv. Kình biệt và nhất khí a thành48
- Đặc điểm thứ bảy · Vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu50
- i. Quyền cương nhu tương tế51
- ii. Thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương52
- iii. Thời kỳ luyện nhu thành cương52
- iv. Sự biến hoán cương nhu53
- v. Nắm vững cương nhu tương tế54
- Đặc điểm thứ tám · Vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn57
- i. Trình tự phát triển của khoái mạn58
- ii. Thời gian và điều kiện chuyển từ mạn sang khoái59
- iii. Khoái mạn tương gian và quân thanh, kình biệt60
- iv. Nắm vững khoái mạn tương gian62
- Kết ngữ63
- Chương hai · Đồ giải Lộ thứ nhất của Trần Thức Thái Cực Quyền65
- Thứ tự tên thức quyền Lộ thứ nhất65
- Mấy điểm nói rõ về đồ giải67
- Lộ thứ nhất của Trần Thức Thái Cực Quyền68
- Chương ba · Đồ giải Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền179
- Thứ tự tên thức quyền Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền179
- Lộ thứ hai của Trần Thức Thái Cực Quyền181
- Chương bốn · Trần Thức Thái Cực Quyền Thôi Thủ242
- i. Yếu nghĩa chung của thôi thủ243
- ii. Phương pháp thôi thủ Trần Thức244
- Giáp. Bốn chính cơ bản thôi thủ: bằng, lãm, tễ, án244
- Ất. Bốn ngung bổ trợ thôi thủ: thái, liệt, trửu, kháo248
- iii. Hai loại diễn biến của thôi thủ Trần Thức251
- iv. Thôi thủ Thái Cực Quyền kiêm bị âm dương252
- v. Yếu lĩnh động tác thôi thủ253
- (1) Thân pháp253
- (2) Thủ pháp254
- (3) Bộ pháp255
- (4) Nhãn pháp257
- (5) Triêm liên niêm tùy257
- (6) Nhất thân bị ngũ cung259
- (7) Đề hợp súc và phóng khai phát của phát kình261
- (8) Hô hấp và phương viên cương nhu262
- (9) Tác dụng của nội kình trong thôi thủ263
- vi. Tác dụng chỉ đạo về nguyên tắc của "Thái Cực Quyền Luận" đối với thôi thủ266
- Chương năm · Trần Thức Thái Cực Quyền Quyền Luận274
- Trần Hâm truyện lược275
- i. Thái Cực Quyền Kinh Phổ276
- ii. Thái Cực Quyền Quyền Phổ278
- iii. Trần Hâm Thái Cực Quyền Luận phân loại ngữ lục ①278
- 1. Tâm tĩnh thân chính, dĩ ý vận động278
- 2. Khai hợp hư thực, hô hấp tự nhiên281
- 3. Khinh linh viên chuyển, trung khí quán túc283
- 4. Triền nhiễu vận động, thư sướng kinh lạc286
- 5. Thượng hạ tương tùy, nội ngoại tương hợp288
- 6. Trước trước quán xuyến, thế thế tương thừa289
- 7. Hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền290
- 8. Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu295
- 9. Vận nhu thành cương, cương nhu tương tế295
- 10. Tiên mạn hậu khoái, khoái nhi phục mạn298
- 11. Xuyến bôn khiêu dược, hốt thượng hốt hạ299
- 12. Cương nhu câu mẫn, nhất phiến thần hành304
- 13. Bồi dưỡng bản nguyên, cần học khổ luyện306
- iv. Trần Hâm ngữ lục về quan hài thập tam mục ①308
- 1. Đầu308
- 2. Nhãn308
- 3. Nhĩ309
- 4. Tỵ, khẩu309
- 5. Hạng310
- 6. Thủ310
- 7. Quyền310
- 8. Phúc311
- 9. Yêu311
- 10. Tích, bối312
- 11. Khóa dữ đồn313
- 12. Túc314
- 13. Cốt tiết315
- v. Giao thủ quyền luận316
- 1. Cách thủ quyền luận tập lục316
- 2. Cách thủ thập lục mục320
- 3. Cách thủ tam thập lục bệnh320
- 4. Cách thủ ca nhị thủ323
- vi. Trần Hâm đẳng quyền luận đoản văn tuyển323
- 1. Vịnh Thái Cực Quyền323
- 2. Thái Cực Quyền triền ty pháp thi324
- 3. Thái Cực Quyền phát mông triền ty kình luận324
- 4. Thái Cực Quyền thôi nguyên giải325
- 5. Thái Cực Quyền thể dụng325
- 6. Thái Cực Quyền tổng luận hòa quyền kinh326
- 7. Trần Phục Nguyên Thái Cực Quyền luận326
- 8. Thái Cực Quyền chi yếu điểm330
- Giới thiệu Trần Thức Thái Cực Quyền Trần Thức Thái Cực Quyền do danh quyền sư Trần Vương Đình khởi tạo vào cuối đời Minh đầu đời Thanh. Trần Vương Đình là người Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam. Từ Trần Vương Đình trở đi, họ Trần đời đời truyền tập Thái Cực Quyền, không ngừng gia công tinh luyện bài quyền sẵn có, dần dần hình thành hai bài quyền Lộ một và Lộ hai lưu truyền đến cận đại. Động tác liên hoàn của hai bài quyền này đều đã được biên bài kỹ lưỡng; tốc độ và cường độ động tác khác nhau, thân pháp, lượng vận động và độ khó cũng khác nhau, nhưng đều hợp với nguyên tắc tuần tự tiến dần và cương nhu tương tế.
Động tác của Lộ thứ nhất tương đối đơn giản, nhu nhiều cương ít, chủ yếu là vận dụng bốn chính kình bằng - lãm - tễ - án, lấy vận dụng bốn ngung thủ thái - liệt - trửu - kháo làm phụ trợ; phương pháp dùng sức lấy kình triền ty làm chính, phát kình làm phụ; động tác cầu nhu thuận, lấy hóa kình làm cơ sở, dùng nhu đón cương và hóa cương, về ngoại hình có đặc sắc hoãn, nhu, ổn. Khi mới luyện, động tác cầu từ từ chậm rãi, và chú trọng rèn luyện kình triền ty. Khi động tác nổi lên, lấy thân pháp dẫn dắt thủ pháp, cầu đạt hiệu quả động phân (lực ly tâm), tĩnh hợp (lực hướng tâm) biến hóa không ngừng. Do tốc độ động tác khá chậm, khung quyền chia cao, trung, thấp, lượng vận động có thể điều tiết, cho nên vừa thích hợp với người thân thể khá tốt dùng để tăng cường thể chất, lại cũng thích hợp với người yếu và một số người mắc bệnh mạn tính để chữa bệnh giữ gìn sức khỏe.
Lộ thứ hai (Pháo Chùy) động tác khá phức tạp, đòi hỏi nhanh gọn, chặt chẽ, cương nhiều nhu ít, dụng kình lấy thái - liệt - trửu - kháo làm chính, lấy bằng - lãm - tễ - án làm phụ; động tác cầu kiên cương, mau lẹ, chú trọng rèn luyện kình đàn hồi. Trong bài quyền có động tác "xuyến băng khiêu dược, đằng nặc thiểm chiến", mang đặc sắc khoái, cương, dược. Nhìn bề ngoài, khoái, cương, dược của nó tuy không khác các phái quyền khác, nhưng về bản chất vẫn có đặc điểm riêng: khi vận động nó không ngừng xoay lưng chuyển tích, xoay cổ tay chuyển vai và xoay cổ chân chuyển gối, hình thành một loạt động tác xoắn ốc nhất động toàn động, xuyên suốt chỉnh thể, từ đó có thể thu được công dụng thống nhất giữa khai và phóng, hợp và thu, và trong khai ngụ hợp, trong hợp ly khai. Do bài quyền này tốc độ nhanh, bộc phát lực mạnh, tương đối thích hợp cho người thanh tráng niên hoặc người thể lực khá tốt luyện tập.
· 1 · Thông qua sự rèn luyện bài quyền, có thể dần dần suy ngẫm nội dung và yếu lĩnh của các kỹ pháp như cương nhu tương tế của Thái Cực Quyền, tức cái gọi là "công phu tri kỷ". Để vận dụng phương pháp triêm, liên, niêm, tùy nhằm cầu hiểu kình, Trần Thức Thái Cực Quyền còn sáng tạo ra thôi thủ mang tính đối kháng, tức "công phu tri bỉ". Thôi thủ Trần Thức Thái Cực Quyền nhấn mạnh xả kỷ tòng nhân, căn cứ vào ngoại lực của đối phương để phát huy kỹ pháp của mình. Đối phương động gấp thì ứng gấp, đối phương động chậm thì tùy chậm. Vì thế đi khung và thôi thủ phải thay nhau luyện tập, mới có thể nắm vững công phu hiểu kình, đạt mức thuần thục.
Trần Thức Thái Cực Quyền là một phái quyền cổ xưa; các phái Thái Cực Quyền khác (như Dương Thức, Ngô Thức, Vũ Thức, Tôn Thức) đều phát triển và sáng tạo trên cơ sở Trần Thức Thái Cực Quyền. Trần Thức Thái Cực Quyền bảo lưu khá nhiều đặc điểm kỹ kích "nhu hóa cương phát" trong động tác; học tập và nghiên cứu phái Thái Cực Quyền này có giá trị tham khảo rất lớn đối với việc kế thừa và sáng tạo võ thuật.
Hai lộ Thái Cực Quyền Lộ một và Lộ hai được giới thiệu trong sách là những quyền thức do cố Thái Cực Quyền sư Trần Phát Khoa (hậu duệ của Trần Vương Đình, 1887–1957) định ra vào những năm cuối đời.
· 2 · Chương một · Tám đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền Thái Cực Quyền là một loại quyền thuật ưu tú do tổ tiên chúng ta sáng tạo và dần dần phát triển trong thực tiễn sinh hoạt lâu dài. Trải qua mấy trăm năm thực hành lặp đi lặp lại và không ngừng tổng kết kinh nghiệm, con người mới dần dần nhận ra mối liên hệ nội tại và quy luật vận động của nó. Những quyền phổ Thái Cực Quyền do tiền nhân để lại chính là sự tổng kết của thực tiễn ấy. Nó cung cấp cho chúng ta những manh mối quý báu để nghiên cứu Thái Cực Quyền, giúp chúng ta học tập Thái Cực Quyền tốt hơn. Nhưng do hạn chế của thời đại, trong lý luận của tiền nhân cũng không ít cặn bã, cho nên trong thực tiễn chúng ta nên kết hợp với nhận thức mới của mình để kiểm nghiệm, loại bỏ cặn bã, hấp thu tinh hoa, nắm vững hơn nữa lý luận đúng đắn của nó, khiến loại quyền thuật này phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Vì vậy, khi học Thái Cực Quyền, ngay từ đầu đã phải nắm chắc những lý luận đúng đắn trong các quyền phổ Thái Cực Quyền ấy, và thông hiểu then chốt của nó, dung hội quán thông, rồi từ trên cơ sở đó phát triển tiến lên, dần dần đi sâu.
Thái Cực Quyền trong toàn bộ quá trình vận động từ đầu đến cuối đều xuyên suốt "âm dương" và "hư thực"; điều này trên động tác Thái Cực Quyền biểu hiện thành việc mỗi thức quyền đều có "khai và hợp", "viên và phương", "quyển và phóng", "hư và thực", "khinh và trầm", "nhu và cương" và "mạn và khoái", đồng thời trong động tác có những hình thức độc đáo thống nhất của các mặt đối lập như tả hữu, thượng hạ, lý ngoại, đại tiểu và tiến thoái. Đây là nguyên tắc cơ bản cấu thành Thái Cực Quyền.
· 3 · Thái Cực Quyền không chỉ độc đáo về ngoại hình, mà về nội công cũng có yêu cầu đặc thù. Khi luyện Thái Cực Quyền, trước hết phải dụng ý bất dụng chuyết lực, cho nên Thái Cực Quyền ở bên trong là vận động ý - khí, ở bên ngoài là vận động thần khí cổ đãng, cũng có nghĩa là vừa phải luyện ý, vừa phải luyện khí. Đặc điểm của vận động ý - khí này chính là tinh hoa của Thái Cực Quyền, và thống lĩnh các đặc điểm khác của Thái Cực Quyền. Ngoài ra, khi luyện Thái Cực Quyền, dưới sự chuyển hoán lẫn nhau giữa toàn thân duỗi dài và triền ty thuận nghịch, động tác phải biểu hiện được năng nhu năng cương, và giàu tính đàn hồi. Tính động thái của nó đòi hỏi nhất động toàn động, tiết tiết quán xuyến, tương liên bất đoạn, nhất khí a thành. Tốc độ của nó đòi hỏi có mạn có khoái, khoái mạn tương gian. Lực lượng của nó đòi hỏi có nhu có cương, cương nhu tương tế. Lập thân và động tác của nó đòi hỏi trung chính bất thiên, trong hư có thực, trong thực có hư và trong khai ngụ hợp, trong hợp ly khai. Có đủ những điều kiện này, Thái Cực Quyền mới có thể phát huy đầy đủ tác dụng đặc thù của nó. Về thể dục bảo vệ sức khỏe, nó không chỉ tăng cường khí quan vận động và khí quan nội tạng, mà còn rèn luyện và tăng cường năng lực chỉ huy của ý thức, tức năng lực "dụng ý bất dụng lực", có thể thuận lợi chỉ huy khí hoạt dược khắp toàn thân. Như vậy vừa luyện được khí, vừa luyện được ý, ý khí tương hỗ tăng trưởng và cường tráng, thân thể tự nhiên cường tráng. Tương tự, về kỹ kích nó cũng có tác dụng độc đáo: có thể dĩ khinh chế trọng, dĩ mạn chế khoái, khắc chế tự nhiên và nắm vững tự nhiên, khi động tác nổi lên có thể nhất động toàn động, "chu thân nhất gia", đạt công phu hiểu kình tri kỷ tri bỉ và tri cơ tri thế ①.
Lý luận của Trần Thức Thái Cực Quyền có chỗ giống với lý luận các phái Thái Cực Quyền khác, cũng có chỗ khác. Nay xin lần lượt trình bày từng đặc điểm của Trần Thức Thái Cực Quyền như sau.
- ① Tri cơ là biết thời gian, nắm vững thời gian; tri thế là biết không gian, nắm vững không gian.
· 4 · Đặc điểm thứ nhất · Vận động ý - khí dưới sự chi phối của đại não Quyền phổ quy định:
(1) "Dĩ tâm hành khí, vụ lệnh trầm trước, nãi năng thu liễm nhập cốt";
(2) "Dĩ khí vận thân, vụ lệnh thuận toại, nãi năng tiện lợi tòng tâm";
(3) "Tâm vi lệnh, khí vi kỳ", "khí dĩ trực dưỡng nhi vô hại";
(4) "Toàn thân ý tại thần, bất tại khí, tại khí tắc trệ".
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, Thái Cực Quyền là quyền luyện ý bằng ý, cũng là quyền hành khí luyện khí. Nhưng khi luyện quyền phải "dĩ tâm hành khí"; tâm là người ra lệnh, khí là "truyền kỳ" phụng lệnh mà hành; mỗi cử mỗi động đều phải dụng ý bất dụng lực, ý động trước rồi hình động sau, như vậy mới làm được "ý đáo khí đáo", khí đáo kình đáo, động tác mới có thể trầm trước, luyện lâu ngày khí mới có thể thu liễm nhập cốt, đạt công phu thâm nhập nhất của "hành khí". Vì thế có thể nói Thái Cực Quyền là một loại vận động ý - khí. "Dĩ tâm hành khí", "dĩ khí vận thân" và dụng ý bất dụng chuyết lực, là đặc điểm thứ nhất của Thái Cực Quyền.
i. Nội khí và dụng ý Như trên đã nói, khí chịu sự chỉ huy của ý, mà khí này không phải là không khí hô hấp phổi như người ta thường nói, mà là một loại "nội khí". Loại khí này trong lý luận y học của tổ quốc được gọi là "nguyên khí", "chính khí", khí thông hành trong kinh lạc, "tiên thiên khí" v.v., cho rằng được thừa hưởng từ trong thai mẹ; trong châm cứu và liệu pháp khí công, đến nay vẫn còn dùng thuyết này. Các nhà võ thuật thì gọi loại khí này là "trung khí", "nội khí", "nội kình" v.v., cho rằng luyện đến khi có khí này xuất hiện và nắm vững được khí này, công phu mới kể là "đáo gia", v.v.
· 5 · Tóm lại, từ xưa đến nay, bất luận là lý luận y học của tổ quốc, hay giới võ thuật, giới tôn giáo đều cho rằng có loại khí này tồn tại, các kinh nghiệm thực tiễn cũng chứng minh đúng là có một loại khí như vậy tồn tại. Nhưng khoa học cận đại vẫn chưa tra rõ đến cùng thực chất của loại khí này là gì; các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu học thuyết kinh lạc của y học tổ quốc cũng không nhất trí về cách nói đối với khí này, không biết theo ai. Ví dụ, có người nói khí này chính là thần kinh, có người nói là điện sinh học, có người nói là một loại dịch tiết đặc thù trong cơ thể người, có người nói là một loại hệ thống công năng đặc thù trong cơ thể người, v.v., mỗi người một ý, còn chờ khám phá thêm. Nhưng hiện tượng sinh lý của cơ thể người mang tính chỉnh thể, không thể nói ý động mà thần kinh, điện sinh học v.v. không động; vì thế, khi làm rõ khí được nói trong quyền luận, chúng tôi tạm giả định là một loại tổng hợp vật do thần kinh, điện sinh học, ô-xy trong máu v.v. cấu thành, tạm giả định là một loại công năng còn chờ làm rõ của cơ thể người; mục đích là trước tiên kế thừa lý luận của tiền bối, để chúng ta khai quật thêm.
Khi luyện Thái Cực Quyền, dường như đang làm "thể thao ý thức", phải luôn luôn chú trọng dụng ý, động tác thân thể chỉ là biểu hiện bên ngoài của ý. Trong "thể thao ý thức" này, cái ẩn bên trong là quá trình hoạt động của nội khí, cái hiển bên ngoài là biểu hiện động đãng của thần thái và ngoại khí; vì thế nội khí có thể do bên trong phát ra bên ngoài, cũng có thể do bên ngoài thu vào bên trong.
Tuy luyện Thái Cực Quyền phải "dĩ khí vận thân", nhưng khi luyện quyền không được chỉ lo nghĩ khí vận hành trong cơ thể như thế nào, mà phải chú ý vào động tác, nếu không thần thái sẽ đờ đẫn, khí không những không thể thông suốt, mà còn gây ra chứng bệnh khí thế tán mạn, khiến cả ý lẫn khí đều bị hại. Cho nên quyền phổ nói "ý tại thần, bất tại khí, tại khí tắc trệ". Chính vì thế, khi luyện quyền phải đặc biệt coi trọng biểu hiện thần thái bên ngoài, vì thần thái bên ngoài chính là biểu hiện của nội tâm lộ ra bên ngoài. Nội ý và ngoại thần không được lìa nhau trong khoảnh khắc; nội ý hơi lỏng lẻo một chút thì ngoại thần sẽ tán mạn. Điểm này khi luyện quyền không thể không biết.
Trần Thức Thái Cực Quyền chủ trương động tác phải có nhu có cương, có viên có phương, có mạn có khoái, · 6 · có khai có hợp. Chúng tôi cho rằng điều này hợp với quy luật sinh lý của cơ thể người. Mọi người đều biết, cơ thể người động thì điện vị sinh học tăng lên; cơ thể người tĩnh thì điện vị giảm xuống. Mà cương nhu, khai hợp, khoái mạn v.v. của động tác Thái Cực Quyền lại đúng lúc thúc đẩy điện vị lên xuống theo đó. Điện vị tăng lên thì tuần hoàn máu tăng nhanh, phân áp giảm xuống, ô-xy và huyết sắc tố cũng liền phân ly nhanh chóng, con người sẽ cảm thấy có khí. Trong điều kiện bình thường, thần kinh không thể giữ hưng phấn ở mức như nhau trong thời gian dài; vì thế điện sinh học thường mang hình dạng nhấp nhô, mà những nhấp nhô thao thao bất tuyệt của cương nhu, khoái mạn, phương viên v.v. trong động tác Thái Cực Quyền cũng đúng lúc hợp với quy luật này.
Xét về ý khí thì cũng hợp với quy luật trên. Như trên đã nói, thần thái bên ngoài và hoạt động của ngoại khí là biểu hiện của ý khí hiển ra bên ngoài, đại biểu cho ý khí bên trong. Khâu trung tâm của sự ngoại hiển thần khí này chủ yếu là đem ý thức bên trong quán chú vào động tác bên ngoài, và thúc đẩy trong động tác biểu hiện ra sự chuyên nhất, kiên cường và hoạt bát vô trệ của lực chú ý. Nhưng cường độ của lực chú ý, giống như hoạt động thần kinh bên trong, cũng có đặc điểm nâng cao và hạ thấp của tính động đãng ấy. Vì thế, luyện quyền phải thích ứng với đặc điểm này mới khiến lực chú ý ổn định được. Đồng thời, cũng chỉ có ổn định lực chú ý mới không khiến tư tưởng phân tán. Nhưng muốn duy trì lực chú ý ở cường độ như nhau trong thời gian dài khi luyện quyền, đây là điều khó làm được. Trên thực tế, cho dù trong khoảnh khắc, độ động đãng của lực chú ý cũng có phân biệt cao thấp. Vì thế, trong quá trình vận động, nếu áp dụng cách vận động không động đãng kiểu gió yên sóng lặng, không những trái với quy luật sinh lý trên, mà đồng thời cũng phá hoại tính ổn định của lực chú ý. Cho nên, để ổn định lực chú ý, Thái Cực Quyền đã áp dụng một loạt quy định (ví dụ khoái mạn tương gian, khai hợp tương ngụ, phương viên tương sinh và cương nhu tương tế v.v.), và khiến chúng thống nhất trong một vận động.
Những quy định này thúc đẩy vận động ý khí rất tự nhiên sinh ra động đãng, và khiến thần khí cổ đãng bên ngoài và ý khí động đãng bên trong được điều hòa, từ đó nâng cao vận động ý khí bên trong, ngược lại thúc đẩy động tác bên ngoài.
· 7 · Do Thái Cực Quyền là vận động ý khí, cho nên người luyện Thái Cực Quyền lâu năm, chỉ cần trong tư tưởng nghĩ đến một bộ vị nào đó, là có thể sinh ra hoạt động của khí. Vì thế, không ít người không tiếc năm tháng sớm tối đi khung, và thường xuyên chỉnh sửa khung, chính là để làm được điều này. Sau khi động tác Thái Cực Quyền đã luyện thành định hình, quá trình hưng phấn và ức chế trong vỏ đại não có thể chuẩn xác thay nhau hoạt động theo trình tự nhất định; đồng thời, cơ bắp cũng có thể co giãn một cách phối hợp, cho dù ngẫu nhiên bị kích thích đột ngột, cũng không khiến động tác phối hợp ấy bị tổn hại. Làm được điều này, chứng tỏ giữa hoạt động của cơ bắp và khí quan nội tạng đã thiết lập được quan hệ phối hợp vô cùng bền vững, chỉ cần ý đáo khí tựu đáo, khí đáo kình dã đáo.
ii. Sự thực hiện vận động ý khí Còn phải chỉ ra rằng, về dụng ý khí, Thái Cực Quyền và tĩnh công (tọa công, trạm công và ngọa công) là giống nhau, đều chú trọng luyện ý và luyện khí. Nhưng Thái Cực Quyền là luyện trong hành động (động trung cầu tĩnh), cho nên gọi là vận động ý khí; mà tĩnh công thì không có hành động, đơn độc cầu tĩnh, vì thế hai cái không thể lẫn lộn.
Chính vì Thái Cực Quyền là nội ngoại câu luyện, động trung cầu tĩnh, cho nên muốn làm tốt vận động ý khí bên trong, ắt phải thể hiện tốt thần khí cổ đãng bên ngoài. Như trong "Hành Công Tâm Giải" nói: "Hình như cốt bắt thố, thần tự bộ thử chi miêu". Mà muốn làm được công phu nội ngoại tương hợp và giao tương đoán luyện này, thì phải làm được yêu cầu của bảy đặc điểm dưới đây trong chương này, cũng có nghĩa là chỉ có thực hiện bảy đặc điểm dưới đây, đặc điểm Thái Cực Quyền là vận động ý khí này mới có thể thực hiện. Nói cách khác, đặc điểm tuy chia làm tám, nhưng trên thực tế cùng ở trong một chỉnh thể thống nhất, có liên hệ nội tại, tách ra nói chỉ là để cho tiện mà thôi.
Trước khi trình bày kỹ bảy đặc điểm còn lại, xin nói vắn tắt vai trò của bảy đặc điểm này đối với việc quán triệt đặc điểm vận động ý khí.
Đặc điểm hai — vận động đàn hồi, tức là thân chi duỗi dài, cũng có thể nói là do duỗi dài · 8 · mà sinh ra kết quả đàn hồi. Tính đàn hồi mềm mại là nhân tố nội tại thúc đẩy cổ đãng thân chi. Nếu không có tính đàn hồi, sẽ khiến động tác cứng nhắc, cũng không thể lại hình thành thần khí cổ đãng ngoại hiển, đương nhiên cũng không thể điều hòa với ý khí động đãng bên trong.
Đặc điểm ba — vận động xoắn ốc, có thể tăng cường tính khởi phục động đãng của động tác. Nếu động tác thẳng tới thẳng lui, không có phiên chuyển cao thấp, lý ngoại, sẽ không thể dẫn đến khởi phục động đãng của tinh thần, ý khí và thân pháp. Vì thế, phải kết hợp xoay cổ tay chuyển vai, xoay cổ chân chuyển gối và xoay lưng chuyển tích của vận động xoắn ốc thuận nghịch, để làm được Thái Cực kình xoắn ốc liên quán như nhất quán chú vào tất cả động tác. Như vậy, bất động tắc dĩ, động tắc tự nhiên hình thành thế cổ đãng, trở thành hạch tâm động tác để làm tốt vận động ý khí.
Đặc điểm bốn — điều chỉnh hư thực, là cái gốc của ý khí linh hoán, khiến người ta sinh cảm giác viên hoạt như châu, cũng là nguồn động lực của cổ đãng. Sự biến hoán hư thực thượng tùy hạ và hạ tùy thượng có thể thúc đẩy thần khí và thân pháp hoạt bát vô trệ, thần khí cổ đãng cũng do đó mà sinh. Nếu thượng hạ không thể tương tùy, hư thực không biết điều chỉnh, sẽ không thể đạt trung chính vô thiên của nội kình. Nội kình thiên thì khiến nội kình và thân pháp nghiêng về một bên, mất yêu cầu chi trì bát diện. Muốn khiến thần khí được cổ đãng trong tư thế nội kình nghiêng về một bên là điều không dễ đạt được.
Đặc điểm năm (tiết tiết quán xuyến) và đặc điểm sáu (nhất khí a thành), thực chất là hai giai đoạn của một đặc điểm; cái trước chỉ trong một thức quyền yêu cầu các khớp chính của toàn thân hình thành một con rồng quán xuyến, khiến từng tiết từng tiết lần lượt đi qua; cái sau là khi luyện toàn bộ khung phải quyền giá nhất thức tương liên bất đoạn nhất khí a thành, để mở rộng lượng vận động, đạt yêu cầu cụ thể tiết tiết cổ đãng. Nếu không thể tiết tiết quán xuyến, sẽ sinh đoạn kình, kình đoạn thì không có cổ đãng để nói. Nếu không thể nhất khí a thành, thì đoạn nhi bất liên, bất liên thì các thức quyền hình thành cô lập mà không thể nhất khí cổ đãng. Vì thế, hai đặc điểm này làm không tốt thì không thể khiến thần khí cổ đãng làm tốt, cho nên chúng tương quan thiết yếu.
· 9 · Đặc điểm bảy (cương nhu tương tế) và đặc điểm tám (khoái mạn tương gian) là hai đặc điểm thống nhất mâu thuẫn của hai mặt đối lập, cũng là đặc điểm về kỹ thuật nhất định phải có để làm được thần khí cổ đãng. Không có sự giao triền nhất thể của khoái mạn và cương nhu này, thì không dễ khiến mấy đặc điểm trước phối hợp chặt chẽ, khởi phục động đãng. Do hai đặc điểm này yêu cầu làm được "nhu nhi mạn", "cương nhi tốc", yêu cầu cương tốc nổi lên như đầu sóng đẩy tới, nhu mạn nổi lên như đuôi sóng rút lui, cho nên giao triền lẫn nhau như vậy sẽ hình thành tác dụng đẩy tiến thao thao bất tuyệt. Tác dụng của cương nhu tương tế và khoái mạn tương gian này, về thể dục có thể làm được hành khí nhu mạn và động tác điểm rơi cương khoái, khiến khí hành khắp thân khu, không đến nỗi có chút thái độ si ngốc; về kỹ kích có thể "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", có thể làm được tẩu của "nhân cương ngã nhu" và niêm của "nhân nhu ngã cương". Hai đặc điểm này có thể thúc đẩy vận động ý khí bên trong và thần khí cổ đãng ngoại hiển tiến đến đỉnh cao động đãng.
Từ đây có thể biết, đặc điểm một là đặc điểm thống hạt các đặc điểm khác, nhưng đồng thời nó lại phải dựa vào sự giúp đỡ của bảy đặc điểm khác mới có thể thực hiện. Quan hệ giữa chúng, như mẫu đơn và lá xanh, tương phụ tương thành, lại tương hỗ chế ước, tương hỗ thúc đẩy. Đây là điều khi mới học quyền nhất định phải biết.
Để tiện nắm vững đặc điểm thứ nhất, khái quát yếu lĩnh thành mấy điểm dưới đây.
(1) Khi luyện quyền, ý phải luôn quán chú vào động tác, dĩ ý hành khí, không được chỉ lo mặc tưởng nội khí vận hành như thế nào.
(2) Khi luyện quyền, động tác phải thuận toại, trầm trước, khi kình vận đến điểm cuối phải biểu hiện ra kình biệt, đây là ba biện pháp khiến ý khí được cổ đãng.
(3) Nắm chắc thần khí cổ đãng ngoại hiển, để làm được bất si bất ngốc, và ngược lại thúc đẩy vận động ý khí bên trong.
(4) Khéo vận dụng bảy đặc điểm khác, để phối hợp nâng cao vận động ý khí.
· 10 · Đặc điểm thứ hai · Vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài Quyền phổ quy định:
(1) "Hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền";
(2) "Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu";
(3) "Tùng yêu viên đang, khai khóa khuất tất";
(4) "Thần tụ khí liễm, thân thủ phóng trường".
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, hư lĩnh đính kình và khí trầm đan điền là thân khu phóng trường, hàm hung bạt bối là lấy tiền hung làm trụ cột để phóng trường hậu bối; trầm kiên trụy trửu là thủ tý phóng trường; tùng yêu viên đang và khai khóa khuất tất, đồng thời khiến thối bộ được viên hoạt xoay chuyển, là kết quả của thối bộ phóng trường trong tư thế đặc định này. Cho nên bộ pháp của Thái Cực Quyền phải trong tư thế viên đang tùng yêu và khai khóa khuất tất mà dùng xoay cổ chân chuyển thối để đảo hoán hư thực. Nhìn bề ngoài, là biểu hiện của kình triền ty ở thối, kỳ thực bên trong thúc đẩy thối phóng trường. Một loạt phóng trường này lại thúc thành toàn thân phóng trường; khiến thân chi không những sinh ra tính đàn hồi, hình thành bồng kình, mà còn do toàn thân phóng trường, thúc đẩy tinh thần cũng có thể tự nhiên đề khởi. Vì thế, chỉ cần có tư thế phóng trường, sẽ không dễ phát sinh tật bệnh nỗ trách cổ kình (chuyết lực), cung cấp điều kiện cho tùng khai tự nhiên và thân thủ phóng trường. Cho nên vận động đàn hồi của thân chi duỗi dài trở thành đặc điểm thứ hai của Thái Cực Quyền.
i. Thân chi phóng trường Như trên đã nói, luyện Thái Cực Quyền thân chi phải phóng trường, để tăng cường tính đàn hồi của toàn thân; có tính đàn hồi rồi, mới có thể tiến thêm thành bồng kình. Điều này có nghĩa là, bồng kình sinh từ tính đàn hồi, tính đàn hồi sinh từ thân chi phóng trường. Còn thân thể các bộ phóng trường như thế nào, nay theo quyền phổ trình bày như sau.
· 11 · (1) Hư lĩnh đính kình và khí trầm đan điền — cái gọi là đính kình hư lĩnh là đem đính kình hư hư lĩnh khởi lên trên, khí trầm đan điền là đem khí trầm xuống nhập đan điền; hai cái tổng hợp lại, về ý thức có ý đồ kéo ra theo hướng tương phản, điều này khiến thân khu có cảm giác phóng trường.
(2) Hàm hung bạt bối — hàm hung yêu cầu hung bộ vừa không ưỡn ra, cũng không lõm vào, khiến hung thành trụ cột cho tích bối bạt trường, vì trong lực học thanh chịu nén không cho phép bị uốn cong. Tích bối dựa vào trụ cột này để bạt trường, đây chính là bạt trường của tích bối. Về điểm này, khi mới học không được nhầm ưỡn hung là bạt bối, vì lưng còng sẽ khiến tiền hung lõm vào, như vậy sẽ khiến tiền hung mất tác dụng trụ cột, không những khiến bối mất tính đàn hồi bạt trường, đồng thời cũng có hại sức khỏe.
(3) Trầm kiên trụy trửu — tác dụng chính của trầm kiên là làm tí bộ và kiên bộ do hạ tháp mà tiếp chắc. Tí và kiên tiếp chắc, mới khiến tí sinh căn. Đồng thời, do trụy trửu, khiến giữa trửu và kiên bộ đạt phóng trường. Khi thủ tí tiến hành vận động triền ty kiểu xoắn ốc, chính là lấy trụy trửu làm trung tâm. Đồng thời, trụy trửu và tọa oản lại có thể khiến giữa trửu và oản phóng trường. Vì thế, trầm kiên trụy trửu và tọa oản là phóng trường của cả thủ tí.
(4) Khai khóa khuất tất chi xoay chuyển — đây là phóng trường của thối bộ. Thối đứng trên mặt đất, muốn phóng trường thì tương đối khó khăn. Vì thế, đối với thối bộ nêu ra yêu cầu khai khóa khuất tất, yêu cầu trong tư thế đặc định này (viên đang) dùng vận động kiểu xoắn ốc để biến hoán hư thực, điều này chủ yếu biểu hiện ở xoay chuyển của đầu gối. Như vậy, khi thối bộ xoay ra ngoài, khiến bên ngoài ở trạng thái phóng trường còn bên trong thì thu súc. Xoay chuyển của thối này phối hợp với xoay chuyển của thủ, tí, thân, trở thành xoay chuyển của toàn thân, dần dần tăng lên, có thể đạt kình chỉnh thể nhất thể "kỳ căn tại cước, phát ư thối, chủ tể ư yêu nhi hình ư thủ chỉ".
Tổng xét bốn điều quy định trên, có thể thấy Thái Cực Quyền đối với thân khu, thủ, túc đều có yêu cầu phóng trường. Như vậy, không những do phóng trường mà sinh tính đàn hồi, trở thành cơ · 12 · sở của bồng kình của Thái Cực Quyền, mà còn có thể khiến tinh thần con người tự nhiên đề khởi, không đến nỗi phát sinh cổ kình mà thành bệnh tượng chuyết lực ①.
ii. Tác dụng sinh lý của thân chi phóng trường Cơ bắp khi chịu lực có thể duỗi dài đến mức độ nhất định, nhưng khi ngoại nhân gây ra duỗi dài bị bỏ đi, nó liền lập tức khôi phục nguyên trạng, đây là tính đàn hồi cố hữu của cơ bắp. Vận động thường thấy nói chung chính là rèn luyện và nâng cao tính đàn hồi này. Theo sinh lý học cơ thể người, sự thu súc và phóng trường đàn hồi này của cơ bắp có thể có bốn tác dụng sau:
(1) Có thể khiến năng lực thu phóng của bản thân cơ bắp được rèn luyện tốt, có thể khiến mạng lưới mao mạch huyết dày đặc trong cơ bắp thông suốt.
(2) Có thể tăng cường tân trần đại tạ của tế bào tổ chức, kích thích mọi quá trình sinh mệnh trong cơ thể.
(3) Có thể tăng cường tác dụng trao đổi khí của cơ bắp và mọi khí quan tổ chức khác.
(4) Có thể khiến trong cơ thể được nhiều ô-xy hơn, đồng thời còn có thể nâng cao tỷ lệ lợi dụng ô-xy của các khí quan tổ chức.
Thái Cực Quyền không phải là một loại vận động thân chi đơn thuần; cái nó biểu hiện ra bên ngoài là thần thái cổ đãng, tư thế vô cùng phức tạp đa biến, cái ẩn bên trong là thần tụ khí liễm, "dĩ tâm hành khí", điều này đã nói rõ kỹ trong đặc điểm thứ nhất. Ngoài ra, Thái Cực Quyền không những nội ngoại câu luyện, mà còn trong tình huống toàn thân chi phóng trường tiến hành vận động triền ty thuận nghịch hình xoắn ốc giảo lai giảo khứ. Như vậy không những khiến tính đàn hồi của bản thân cơ bắp được
- ① Phóng trường là khiến trong thân thủ có cảm giác nhỏ mà dài, còn bồng lực sinh ra là do cổ kình khiến trong thân thủ có cảm giác thô mà ngắn. Cho nên thân chi phóng trường tự nhiên không đến nỗi phát sinh cổ kình mà thành bệnh tượng chuyết lực.
· 13 · rèn luyện tốt, mà còn nâng cao tốc độ tuần hoàn máu, do đó có thể tiêu trừ chứng bệnh do huyết hành bị trệ mà sinh ra. Đây là một trong những tác dụng quan trọng do Thái Cực Quyền phóng trường thân chi và đề khởi tinh thần mà có.
Ngoài ra, vận động đàn hồi của Thái Cực Quyền đối với việc hạ huyết áp cũng có ảnh hưởng rõ rệt, vì trong quá trình thu súc phóng trường của cơ bắp có thể sinh ra tam lân toan và tuyến cam toan v.v. là những sản vật có tác dụng khuếch trương huyết quản. Đồng thời, trong khi tiến hành hoạt động tiết tiết quán xuyến, số lượng mao mạch huyết mở ra trong cơ bắp tăng lên gấp nhiều lần, như vậy cũng mở rộng tiết diện ngang của huyết quản câu thông, do đó có thể khiến huyết áp hạ xuống. Ngoài ra, khi luyện quyền do cơ bắp lặp đi lặp lại phóng trường và khôi phục, cho nên huyết quản không dễ xơ cứng. Đặc biệt là dưới sự phối hợp của vận động xoắn ốc giảo lai giảo khứ, càng có thể phòng ngừa huyết quản xơ cứng. Người luyện Thái Cực Quyền lâu năm nhiều năm khi luyện quyền sẽ cảm thấy huyết quản trên lưng và trong tứ chi dường như đã mở rộng, khi động tác nổi lên khiến người ta cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái; nếu cách một thời gian không luyện, sẽ có một cảm giác bế tắc. Sự sinh ra hiện tượng này chính là do số lượng mao mạch huyết mở ra tăng giảm mà có.
iii. Tám môn kình biệt và kình bồng đàn hồi Thái Cực Quyền yêu cầu dụng ý bất dụng chuyết lực, nhưng không phải nói dụng ý bất dụng kình, vì Thái Cực Quyền chính là do tám môn kình cấu thành. Tám môn kình đều có tính đàn hồi phóng trường, cho nên gọi là "kình" mà không gọi là "lực". Tên gọi tám môn kình tuy có khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một bồng kình, bảy kình còn lại chỉ là do phương vị và tác dụng khác nhau mà có tên gọi khác mà thôi. Cho nên Thái Cực Quyền cũng có thể gọi là quyền bồng kình. Nay phân tích nội dung tám môn kình như sau, để nắm vững hơn đặc điểm thứ hai.
(1) Dưới toàn động, lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài triền ty, gọi là bồng kình;
(2) Dưới toàn động, lòng bàn tay do ngoài hướng vào trong triền ty, gọi là lãm kình;
(3) Hai tay đồng thời đem bồng kình giao xoa hướng ra ngoài bồng ra, gọi là tễ kình;
· 14 · (4) Bồng kình hạ xuống khi lòng bàn tay hướng xuống vòng triêm một điểm mà không lìa, gọi là án kình;
(5) Bồng kình hai tay giao xoa phân đôi ra tả hữu, tiền hậu, gọi là thái kình;
(6) Kình quyển súc bồng kình lại, trong khoảng cách ngắn bỗng nhiên run lên mà bắn ra, gọi là liệt kình;
(7) Khi cổ tay đã ra khỏi vòng phương viên, dùng bồng kình của tuyến phòng thủ thứ hai bồng ra, gọi là trửu kình;
(8) Khi trửu đã ra ngoài vòng phương viên, dùng bồng kình của thân bộ là tuyến phòng thủ thứ ba bồng ra, gọi là kháo kình.
Tổng hợp những điều đã nói trên, rốt cuộc quy căn, trong đó chủ yếu luyện là bồng kình. Bồng kình là một loại "kình lò xo" mềm mại không dứt. Đây là vấn đề trước tiên cần làm cho rõ.
iv. Nắm vững vận động đàn hồi (bồng kình) (1) Muốn luyện bồng kình, trước tiên phải tồi hủy tính cứng cương sẵn có trên thân người — phàm là động tác, ví dụ cầm một vật nặng lên, đều phải dùng lực, lâu ngày dài tháng sẽ khiến con người từ thuở ấu niên đã hình thành thói quen cổ kình cầm nặng và nâng nặng. Cổ kình chính là nỗ trách, lại gọi là chuyết kình, mà cái Thái Cực Quyền cần lại là kình lò xo toàn thân phóng trường. Vì thế, luyện Thái Cực Quyền nên chia làm hai giai đoạn: trước tiên là giai đoạn tiêu trừ cổ kình; sau đó là giai đoạn sinh trưởng kình lò xo mới. Cựu kình bất khứ, tân kình bất sinh, cho nên quyền luận nói: "Vận động như bách luyện cương, hà kiên bất tồi ①". Điều này có nghĩa là phải trải qua ngàn chùy trăm luyện hoàn toàn không dùng chuyết lực, và trong đủ loại tư thế phóng trường và tùng khai khác nhau tiến hành nhu động giảo lai giảo khứ, mới có thể đạt đến mức vô cùng nhu nhuyễn, mới có thể tồi khứ nhân thân
- ① "Hành Công Tâm Giải" là một văn kiện lý luận chỉ đạo đi khung, không phải là chuẩn tắc chỉ đạo hai người thôi thủ.
· 15 · cựu hữu đích cương kình, cũng có nghĩa là chỉ cần vận động như bách luyện cương, thì bất cứ cương kình nào cũng có thể tồi khứ vô di. Đây là tổng kết kinh nghiệm của tiền bối quyền sư, cho nên hóa ngạnh vi nhu như vậy là giai đoạn tất bất khả thiểu, khi mới học chớ nên coi nhẹ. Thời gian của giai đoạn này càng dài càng tốt, vì chỉ có như vậy mới có thể nhu nhuyễn thấu triệt hơn. Nếu không, nhu nhuyễn không thấu, tương lai khó tránh khiến người luyện tập dừng lại trong khuyết điểm nhu thiểu cương đa không dễ đạt cân bằng.
(2) Bồng kình không phải là kình cố hữu của nhân thân — ở trên đã nói, trong tám môn kình thì bồng kình là cơ bản. Bồng kình sinh từ tính đàn hồi; loại kình đàn hồi này không chỉ là tính đàn hồi của bản thân cơ bắp, mà là trên cơ sở tính đàn hồi của cơ bắp, đem cốt cách nhận đới v.v. liên hợp phóng trường với cơ bắp mà luyện ra. Cho nên nói nó không phải kình cố hữu của nhân thân, mà là kình phải trải qua luyện lâu mới có thể sinh ra. Sự phát triển của nó là từ vô đến hữu, từ hữu đến cường. Muốn luyện tập bồng kình đàn hồi này, nên theo bốn điều quy định trên của quyền phổ mà cố gắng làm. Yếu lĩnh then chốt của nó vẫn là trước tiên bắt đầu từ dụng ý, khiến trên tư tưởng có ý tứ phóng trường. Vận dụng như vậy đã lâu, lại phối hợp với phóng trường cụ thể trên thân chi, may ra không đến nỗi phát sinh lệch lạc.
(3) Thần tụ khí liễm là cơ sở tăng cường tính đàn hồi và nâng cao bồng kình — trong tình huống thân chi phóng trường, khiến tinh thần con người đề khởi mà tập trung, khí trầm mà nội liễm, đây là một hiện tượng tự nhiên sinh ra. Ngược lại, cũng có nghĩa là, chỉ cần thần tụ khí liễm, là có thể dẫn đạo trên ý thức có thần thái phóng trường, thúc đẩy thân chi phóng trường, từ đó nâng cao tính đàn hồi và tăng cường bồng kình. Trong khoảnh khắc thần tụ khí liễm, quần cơ bắp sẽ càng thu súc đầy đủ hơn, đồng thời quần cơ phản kháng thì càng tùng khai đầy đủ hơn; do đó trải qua rèn luyện tùng khai và thu súc lâu dài, cũng tự nhiên tăng cường tính đàn hồi của các bộ phận thân chi, đồng thời cũng nâng cao tố chất thân thể.
Để tiện nắm vững đặc điểm thứ hai, khái quát yếu lĩnh thành năm điểm dưới đây.
(1) Thái Cực Quyền chủ yếu là luyện tập bồng kình, bồng kình sinh từ tính đàn hồi, tính đàn hồi tắc sinh · 16 · do thân chi phóng trường, cho nên phải chú ý phóng trường của thân chi.
(2) Phóng trường của thân khu và thượng bộ, nhất định phải là hư lĩnh đính kình, khí trầm đan điền và hàm hung bạt bối.
(3) Phóng trường của thủ túc, nhất định phải là trầm kiên trụy trửu, tùng yêu viên đang và xoay chuyển khai khóa khuất tất.
(4) Khi luyện tập bồng kình, trước cầu miên nhuyễn để khử cựu lực (chuyết lực), đồng thời phóng trường để sinh trưởng tân kình đàn hồi.
(5) Chỉ có thần tụ khí liễm mà luyện quyền, mới là nhân tố nội tại tăng cường bồng kình.
Đặc điểm thứ ba · Vận động xoắn ốc triền ty thuận nghịch Quyền phổ quy định:
(1) "Vận động như trừu ty";
(2) "Vận động như triền ty";
(3) "Nhậm quân khai triển dữ thu liễm, thiên vạn bất khả ly Thái Cực";
(4) "Diệu thủ nhất vận nhất Thái Cực, tích tượng hóa hoàn quy ô hữu".
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, vận động Thái Cực Quyền nhất định phải có hình dạng như trừu ty. Trừu ty là xoay chuyển mà trừu ra, vì trực trừu trong xoay chuyển, tự nhiên hình thành một hình dạng xoắn ốc, đây là sự thống nhất của mặt đối lập khúc trực. Còn triền ty kình hay trừu ty kình đều chỉ ý tứ này. Vì trong quá trình triền, thân súc kỳ tứ chi đồng dạng sẽ sinh ra một hình tượng xoắn ốc, cho nên quyền luận nói, bất luận động tác lớn khai triển hay động tác nhỏ khẩn thấu, ngàn vạn lần không được lìa khỏi Thái Cực kình thống nhất của mặt đối lập này. Luyện thuần thục rồi, vòng triền ty này càng luyện càng nhỏ, đạt đến hữu viên bất kiến viên · 17 · đích cảnh giới, đến lúc đó thì thuần dĩ ý tri ①, cho nên vận động xoắn ốc thống nhất của mặt đối lập triền ty thuận nghịch trở thành đặc điểm thứ ba của Thái Cực Quyền.
i. Thực chất của vận động như triền ty Thái Cực Quyền nhất định phải vận động như triền ty, hoặc nói vận động như trừu ty. Hai loại ví von hình tượng này đều nói rằng, hình tượng của vận động như xoắn ốc. Đồng thời, xoắn ốc này lại phải đi đường hồ tuyến, giống như viên đạn sau khi qua đường rãnh xoắn trong nòng súng, khi nó vận động trong không gian, vừa có xoay chuyển tự thân hình xoắn ốc, vừa có đường vận động hình pa-ra-bôn. Kình triền ty của Thái Cực Quyền phải có hình tượng này.
Ở trên đã nói rõ ý nghĩa vận động phải như triền ty, vậy trong vận động thực tế nên vận hành như thế nào? Nói ra vô cùng tầm thường mà đơn giản, chính là dưới yêu cầu nhất động toàn động, khi động tác lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài phiên hoặc do ngoài hướng vào trong phiên ②, khiến nó hình thành hình tượng thái cực đồ (như hình 1). Đồng thời, do lòng bàn tay phiên trong phiên ngoài, biểu hiện ở thượng chi là xoay oản chuyển bàng, biểu hiện ở hạ chi là xoay cổ chân chuyển thối ③, biểu hiện ở thân khu là xoay lưng chuyển tích. Ba giả kết hợp lại, hình thành một đường cong xoay chuyển không gian căn tại cước, chủ tể ư yêu nhi hình ư thủ chỉ. Đây là yêu cầu Thái Cực Quyền nhất định phải làm được. Vì thế quyền phổ đặc biệt nêu ra rằng khi luyện quyền bất luận là khai triển phóng khai hay khẩn thấu
- ① Tiểu giá tử mà Dương Thiếu Hầu tiên sinh phóng chế những năm cuối đời, chỉ thấy phát kình, không thấy vận động. Đây là biểu hiện cụ thể của vòng vận động nhỏ đến không nhìn thấy, chỉ hiển lộ phát kình ra, là công phu thuần thục khẩn thấu bất kiến viên.
- ② Cái gọi là do trong phiên ra ngoài hoặc do ngoài phiên vào trong, đều lấy sự phiên chuyển của ngón trỏ làm chuẩn. Như trong hình 1, tay từ điểm 1 đến điểm 2, lúc này vận động của ngón trỏ là do trong phiên ra ngoài, nên là thuận triền; tay từ điểm 2 đến điểm 3, vận động của ngón trỏ là do ngoài phiên vào trong, nên là nghịch triền.
- ③ Sự phân chia triền ty thuận nghịch của thối bộ lấy hướng xoay chuyển của đầu gối làm chuẩn, tức là khi đầu gối do tất nội đảo vãng tiền chuyển do ngoại hướng hạ tà triền, hoặc do tất ngoại vãng hậu chuyển do nội hướng thượng tà triền, đều là thuận triền. Khi đầu gối do tất ngoại vãng tiền chuyển do nội hướng thượng tà triền, hoặc do tất nội vãng hậu chuyển do ngoại hướng hạ tà triền, đều là nghịch triền.
· 18 · (Giáp) Đồ thị triền ty tay trái (Ất) Đồ thị triền ty tay phải Thuyết minh: 1. Đoạn đường liền nét là thuận triền ty, đoạn đường đứt nét là nghịch triền ty. 2. Các điểm được ghi trong hình đều là điểm chuyển hoán của triền ty.
· 19 · thu liễm, đều không được trong khoảnh khắc lìa khỏi Thái Cực kình của "phiên chuyển lòng bàn tay" và "xoay oản chuyển bàng", điều này giống như trái đất vòng quanh mặt trời vận chuyển theo đường hồ tuyến, đồng thời bản thân trái đất còn tự chuyển xoay chuyển. Cho nên, Thái Cực kình không phải là một vòng tròn trên mặt phẳng, mà là xoắn ốc lập thể tăng lên.
ii. Tác dụng của vận động xoắn ốc kiểu triền ty Khi luyện quyền nếu tay là duỗi thẳng tùy triền mà không phiên chuyển lòng bàn tay, thối là tiền cung hậu tọa mà không có tả hữu xoay chuyển phối hợp, sẽ phát sinh khuyết điểm "đính kháng" tỷ lực (như hình 2). Để sửa chính khuyết điểm này, ắt phải dùng kình xoắn ốc. Vì bán kính độ cong của xoắn ốc là biến hóa; bất cứ áp lực nào đè trên thanh xoắn ốc này, đều có thể rất tự nhiên đem áp lực do xoay chuyển lạc không mà bị hóa khứ. Đây là phương pháp hóa kình khoa học. Từ hình 3 có thể thấy tác dụng của nó.
Hình 2 · Đồ thị vận động cung tuyến một chiều Hình 3 · Đồ thị vận động trừu ty xoắn ốc Triền ty kiểu xoắn ốc của Thái Cực Quyền là do lai của tên gọi quyền "Thái Cực". Loại vận động kiểu xoắn ốc này là phương thức vận động kiểu Trung Quốc độc đáo, hiếm thấy trên thế giới. Về thể dục · 20 · phương diện đoán luyện, nó có thể thúc đẩy toàn thân tiết tiết quán xuyến ① địa thôi kình, và do đó tiến đến cảnh giới nhất động vô hữu bất động của nội ngoại tương hợp. Điều này đối với khí quan nội tạng có thể khởi một tác dụng mát-xa. Đồng thời, khiến thần khí hiển ra bên ngoài phát sinh cổ đãng, do đó kiện cường vỏ đại não, từ đó có thể tiến thêm một bước tăng cường toàn thân nhất thiết tổ chức khí quan.
Thứ đến, về phương diện kỹ kích, tác dụng của triền ty kình cũng lớn. Hạch tâm kỹ kích của Thái Cực Quyền là công phu hiểu kình "tri kỷ tri bỉ" và "tri cơ tri thế". Hiểu kình có thể chia làm hai phương diện: một là vì mình hiểu kình, tức hiểu kình của động tác mình, phải từ đi khung mà có được; hai là vì người hiểu kình, tức hiểu kình của người khác, phải từ thôi thủ mà có được. Muốn cầu tri nhân, tất tiên tri kỷ, đây là quá trình nhận thức sự vật. Muốn khiến "tri kỷ" của đi khung đạt cảnh giới cao độ thuần thục, thì phải luyện thành công phu chu thân nhất gia. Công phu chu thân nhất gia là do nội ngoại tương hợp và tiết tiết quán xuyến mà luyện thành, mà hai giả này đều sinh từ động tác triền ty kiểu xoắn ốc. Vì thế về phương diện kỹ kích, triền ty kình cũng vô cùng trọng yếu.
iii. Các loại kình triền ty và yếu lĩnh của chúng Kình triền ty của Thái Cực Quyền theo tính năng có thể chia làm hai loại triền ty cơ bản: một loại là thuận triền ty khi lòng bàn tay do trong phiên ra ngoài, phần lớn trong thuận triền ty là bồng kình (như đoạn đường liền nét trong hình 1); một loại khác là nghịch triền ty khi lòng bàn tay do ngoài phiên vào trong, phần lớn trong nghịch triền ty là lãm kình (như đoạn đường đứt nét trong hình 1). Hai loại triền ty này tồn tại trong mọi quá trình vận động của Thái Cực Quyền, và quán xuyến thủy chung. Vì thế, trong mọi động tác cũng đều bao hàm sự biến hóa tương hỗ của hai kình bồng lãm; chúng là mâu thuẫn cơ bản trong vận động, đồng thời lại tương hỗ chuyển hóa trong nhất nguyên. Dưới hai triền ty cơ bản này, do phương vị bất đồng và biến hoán các dị, lại phân ra năm đôi triền ty phương vị bất đồng
- ① Tiết tiết quán xuyến là đặc điểm thứ năm của Thái Cực Quyền.
· 21 · (như hình 4). Phương vị triền ty của tả hữu và thượng hạ hợp thành một vòng tròn chỉnh, đồng thời kết hợp lý ngoại, khiến vòng tròn mặt phẳng biến thành vòng tròn lập thể, đây chính là đặc sắc tất cụ của vận động xoắn ốc kiểu Thái Cực. Thứ đến, để khi luyện quyền có tả hữu phùng nguyên, liên tùy ư nhân Hình 4 · Đồ thị mười hai triền ty kình biệt — đây là đồ cấu trúc: thuận triền ty / cơ bản triền ty / nghịch triền ty → phương vị triền ty → tả hữu triền ty · thượng hạ triền ty · lý ngoại triền ty · đại tiểu triền ty · tiến thoái triền ty.
và tiết tiết quán xuyến như chu thân nhất gia, lại có sự phối hợp của hai đôi triền ty phương vị đại tiểu, tiến thoái, để thỏa mãn nhu cầu đặc thù trên kiện thân và kỹ kích. Vì thế, mỗi một thức quyền của Thái Cực Quyền, trên cơ sở thuận nghịch cơ bản triền ty, ít nhất phải có ba đôi triền ty phương vị kết hợp lại để tiến hành vận động. Chỉ cần nắm vững quy luật này, là có thể khiến động tác khi vạch đường hồ tiến hành vận động có nhất định y cứ, bất luận là học tập hay sửa chính quyền thức, cũng liền dễ dàng hơn nhiều. Khi luyện quyền nếu cảm thấy một động tác nào đó có chỗ bất đắc thế và bất đắc kình, có thể căn cứ chỗ bất thuận toại của triền ty mà dịch chuyển một chút yêu thối, để cầu được thuận toại, liền có thể khiến tư thế được sửa chính. Cho nên nắm vững triền ty, chính là nắm vững công cụ tự sửa chính. Nay cử ví dụ để nói rõ tác dụng của nó.
(1) "Vân thủ" — thức quyền này, trong thập tam thế là thức duy nhất bao hàm song thuận chuyển song nghịch tả hữu đại triền ty. Khi vận động, cơ bản triền ty của hai tay là thuận triền ty khi lòng bàn tay do trong hướng ra ngoài, chuyển thành nghịch triền ty do ngoài hướng vào trong; phương vị triền ty của nó là tả hữu, thượng hạ và hơi hướng lý ngoại. Tả hữu, thượng hạ là một vòng tròn mặt phẳng, nếu · 22 · lại khiến vạch vòng hơi hướng lý ngoại, liền có thể thành một vòng tròn lập thể của đường cong không gian, có thể đạt công dụng khí thiếp tích bối.
(2) "Bạch hạc lượng sí" — cơ bản triền ty của nó là nhất thuận nhất nghịch, là một loại triền ty tương đối nhiều trong giá tử; phương vị triền ty của nó là tả hữu, thượng hạ và lý ngoại. Vì nhất thuận nhất nghịch, ở tay trái là nghịch triền ty hướng vào trong, hướng xuống, ở tay phải là thuận triền ty hướng ra ngoài, hướng lên, hai giả hợp lại, dưới yêu cầu lưỡng bác tương hệ ① trở thành một "hữu thuận tả nghịch phân bồng viên" của hữu thượng, tả hạ.
Các ví dụ trên nói rõ, các thức quyền của Thái Cực Quyền tuy hoa dạng phồn đa, chuyển hoán các biệt, nhưng phân tích từ cơ bản triền ty của nó thì vô cùng đơn giản. Tất cả quyền thức đều không ngoài ba loại tổ hợp "song thuận triền ty", "song nghịch triền ty" và "nhất thuận nhất nghịch triền ty". Nếu theo cách này thường xuyên phân tích và suy ngẫm giá tử mình thường đi, và liệt biểu thành ra, liền có thể trở thành y cứ luyện tập của mình. Có y cứ này rồi, thì có thể phân thanh kình biệt, làm được nội ngoại tương hợp và tiết tiết quán xuyến, trên cơ sở nâng cao tính đàn hồi đạt yêu cầu tư thế chính xác.
iv. Nắm vững vận động xoắn ốc Đặc điểm ba là do lai của tên quyền Thái Cực, tác dụng của nó đã như trên. Cho nên tiền nhân để khiến hậu học giả làm tốt vận động như triền ty, đã làm chuyên luận trong "Thái Cực Quyền Luận", đây là một thiên tổng kết thực tiễn của vận động. Trong đó, phần thứ nhất luận thuật kình triền ty. Muốn nắm vững đặc điểm ba, chỉ cần theo phần này mà tỷ chiếu luyện tập, và làm y cứ kiểm tra giá tử mình thường ngày, liền có thể có được tư thế và động tác chính xác. Nay đem
- ① Lưỡng bác tương hệ là khi vận động, hai cánh tay dường như có một sợi dây ràng buộc lẫn nhau, khi một cánh tay động, cánh tay kia cũng có thể trong điều kiện khiến sợi dây cơ bản duy trì căng chặt, đi theo vận động; cũng có nghĩa là, phải khiến hai cánh tay bên trong thủy chung hàm hữu bồng kình căng mở.
· 23 · phần này khái quát giải thích như sau.
(1) Do tinh thần thực chất nắm vững đặc điểm ba.
(Giáp) "Nhất cử nhất động, chu thân câu yếu khinh linh" — tinh thần nếu có thể đề khởi, liền có thể không có nỗi lo trì trọng, đây là phương pháp cầu khinh; ý khí nếu có thể linh hoán, thì ý khí sẽ không đến nỗi đãi trệ trên một điểm nào, đây là phương pháp cầu linh. Điểm thứ nhất để nắm vững triền ty kình, chính là trong quá trình vận động chu thân nhất định phải khinh phải linh, như vậy mới có thể cung cấp điều kiện có lợi cho việc làm tốt động tác triền ty.
(Ất) "Động tác tu tiết tiết quán xuyến" — trong vận động như triền ty, phải khinh linh, càng phải quán xuyến, đây cũng là một khâu trọng yếu trong vận động, khi học tập không được coi nhẹ. Nội dung tường tận của nó, có thể tham khảo đặc điểm thứ năm của chương này.
(Bính) "Thần nghi cổ đãng, khí nghi nội liễm" ① — nếu tâm ý không thể quán triệt vào trong động tác mà có nghĩ khác, biểu hiện ý si thần ngai, thì thần sẽ không dễ cổ đãng, đồng thời khí cũng không thể nội liễm dĩ tòng tâm, kết quả tạo thành khí thế tán mạn, kình vô hàm súc, thân pháp tán loạn. Vì thế, trước tiên phải đem tâm ý quán triệt vào trong động tác thao thao bất tuyệt và khởi phục bất dĩ, thì thần tự cổ đãng. Thứ đến, phải khiến hô hấp phổi phối hợp vận động. Do thần cổ đãng, khí tự thu liễm mà không đến nỗi tán mạn; khí bất tán mạn, liền có thể do thần đới đầu mà đồng thời động đãng khởi lên.
Tổng xét ba yêu cầu trên, có thể nói "vận động khinh linh dữ quán xuyến, thần khí cổ đãng dữ nội liễm" chính là tinh thần thực chất tất phải nắm vững khi nắm vững triền ty kình.
(2) Do kình biệt nắm vững đặc điểm ba.
(Giáp) "Vô sử hữu khuyết hãm xứ" — khi vận dụng triền ty kình, bất luận là thuận hay nghịch, đều cốt khiến tám môn kình vận đến trên cung bối của xoắn ốc, tức là trên mặt tiếp xúc của xoắn ốc, tuyệt không được khi thì ở cung bối, khi lại hãm ở trong cung, đây là chỗ triền ty dễ đụng
- ① Thần dữ khí khả cổ đãng, diệc khả nội liễm. Cho nên quyền luận nói, "Dục yếu thần khí cổ đãng, tiên yếu đề khởi tinh thần, thần bất ngoại tán".
· 24 · đáo đích khuyết điểm. Nếu nhất kinh hãm tại lý diện, không những tước nhược liễu bồng kình, đồng thời dã hội thất khứ triền ty trung đích ma sát đặc tính. Vì thế, nếu nhất hữu khuyết hãm, kình tựu bất năng đạt đáo xoắn ốc đích tiếp xúc diện thượng, dã tựu thất khứ triền ty kình đích khiên động tác dụng (như hình 5).
(Ất) "Vô sử hữu a đột xứ" — lộ tuyến vận dụng của triền ty kình, tại sở hữu quá trình trung đô yếu tố đáo khúc tuyến hoãn hòa, hình thành thuận toại đích tư thế; đồng thời, hựu yếu cầu miên nhuyễn nhi phú ư đàn tính, giá thị tiêu diệt a đột đích nhất chủng phương pháp. Tức sử tại phát kình thời, diệc yếu như nhuyễn bì tiên nhất dạng đích suất xuất khứ. Giá dạng, do ư thân thủ phóng trường, thân chi hựu Hình 5 · Đồ thị khuyết hãm triền ty — một chỗ trong thái cực đồ lõm vào trong, bên cạnh ghi "khuyết hãm".
Hình 6 · Đồ thị a đột trừu ty — đường triền ty xuất hiện nhiều chỗ gấp khúc a đột sắc nhọn và khuyết khẩu.
tượng đả liễu khí đích luân thai, dữ vật tiếp xúc tựu cụ hữu tùy cao trục đê đích niêm tẩu tác dụng. Nhược vận động nhất hữu a đột, tựu sản sinh lăng giác, phát sinh đính kháng đích mao bệnh, tòng nhi sử vận động thất khứ xoắn ốc xoay chuyển đích tác dụng (như hình 6).
(Bính) "Vô sử hữu đoạn tục xứ" — triền ty đích nhất thiết quá trình, vô luận thị thuận triền hoặc thị nghịch triền, vụ tu nhất triền đáo để. Sở vị "để", nãi thị đáo đạt liễu giá nhất quyền thức biểu hiện kình biệt đích lạc điểm xứ, dã tựu thị tiếp tố hạ nhất thức đích chuyển quan xứ. Đáo liễu thử xứ, do triệp điệt chuyển hoán ① tiếp tố hạ nhất triền ty, tương kình tiếp đáo hạ nhất quyền thức trung. Kình ký bất đoạn, dã tựu vô tu tục. Như triền chí bán đồ tương kình đoạn liễu, nhiên hậu hựu
- ① Ý nghĩa triệp điệt khả tường kiến đặc điểm thứ sáu.
· 25 · tương tha tiếp tục thượng khứ, giá thị yếu bất đắc đích. Nhân vi triền ty hữu liễu đoạn tục, tựu thị nhất cá không khích, giá nhất không khích bất đãn thất khứ ứng hữu đích khiên động tác dụng, thả vi đối phương tạo thành đắc cơ đích cơ hội. Nhân thử, tại vận động triền ty thượng thuyết thị bất duẫn hứa đích (như hình 7). Kỳ thứ, tức sử tại phát kình thời, tuy nhiên khả dĩ hữu đoạn tục, đãn nhưng tu hữu "kình đoạn ý bất đoạn, ý đoạn thần khả tiếp" đích yếu cầu, tức sở vị đoạn nhi phục liên.
Hình 7 · Đồ thị triền ty bất khả hữu đoạn tục — một vòng đường triền ty, phía trên ghi "đoạn này bất khả hữu đoạn tục", phía dưới ghi "đoạn này bất khả hữu đoạn tục", hai bên ghi "tương quan bộ vị".
Tổng xét ba mục trên, nói rõ trong quá trình triền ty, cũng có nghĩa là trong quá trình vận động, vạn bất khả phát sinh khuyết điểm khuyết hãm, a đột hoặc đoạn tục. Trong ba khuyết điểm, cho dù phạm một cái, cũng không thể lại phát huy tác dụng ứng hữu của triền ty kình. Đây là vấn đề bất khả hốt thị khi học tập.
Để tiện nắm vững, nay đem yếu lĩnh khái quát như sau.
(1) Triền ty kình là do lai mệnh danh của Thái Cực Quyền, không có triền ty kình sẽ không thể khiến kình vòng quanh thân chi tiết tiết thượng thăng, đạt chỉnh chỉnh nhất khí.
(2) Tu tri "quán xuyến" đích yếu cầu, bất cận thị vận động tu thông quá quan tiết bộ phận, nhi thả hoàn tu sử tha thông quá chỉnh cá quan tiết thượng hạ đích cơ nhục bộ phận, giá thị xoắn ốc triền ty đích tác dụng.
(3) Thái Cực Quyền hữu nhất đối cơ bản triền ty hòa ngũ đối phương vị triền ty thị giáo hòa học Thái · 26 · Thái Cực Quyền đích tối hảo đích công cụ.
(4) Vận động như triền ty, chỉ hữu tại khinh linh quán xuyến điều kiện hạ tài năng thực hiện; đồng thời, thần khí phương diện tất tu cổ đãng hòa nội liễm.
(5) Triền ty kình đích vận dụng bất khả sản sinh khuyết hãm, a đột hòa đoạn tục đẳng tam cá khuyết điểm.
Đặc điểm thứ tư · Vận động hư thực lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy Quyền phổ quy định:
(1) "Ý khí tu hoán đắc linh, nãi hữu viên hoạt chi thú, sở vị biến chuyển hư thực tu lưu ý dã."
(2) "Hư thực nghi phân thanh sở, nhất xứ hữu nhất xứ hư thực, xứ xứ tổng thử nhất hư nhất thực".
(3) "Lập thân tu trung chính an thư, chi trì bát diện"; "thượng hạ tương tùy nhân nan xâm".
(4) "Vĩ lư trung chính thần quán đính", "thượng hạ nhất điều tuyến".
Bốn điều quy định trên có thể nói rõ, sở hữu động tác của Thái Cực Quyền đô tất tu phân thanh hư thực. Động tác năng phân thanh hư thực địa chuyển hoán, tựu khả nại cửu bất bì, giá thị tối kinh tế đích nhất chủng động lực hoạt động. Nhân thử, luyện Thái Cực Quyền thời song thủ yếu hữu hư thực, song túc dã yếu hữu hư thực, vưu kỳ trọng yếu đích thị tả thủ hòa tả túc, hữu thủ hòa hữu túc yếu thượng hạ tương tùy địa phân thanh hư thực, dã tựu thị thuyết, tả thủ thực tắc tả túc ứng hư, hữu thủ hư tắc hữu túc ứng thực. Giá thị điều tiết nội kình sử chi bảo trì trung chính đích trung tâm hoàn tiết. Thử ngoại, hình thành lạc điểm đích hư trung yếu hữu thực, thực trung yếu hữu hư, tòng nhi xứ xứ tổng hữu thử nhất hư nhất thực, sử nội kình xứ xứ đạt đáo trung chính bất thiên. Sơ học thời, động tác khả dĩ đại hư đại · 27 · thực, dĩ hậu trục bộ luyện thành tiểu hư tiểu thực, tối hậu đạt đáo nội hữu hư thực nhi ngoại diện bất kiến hữu hư thực đích cảnh giới, giá thị điều chỉnh hư thực đích tối thâm công phu.
Hư thực linh hoán đích hạch tâm, tại ư ý khí đích linh hoán, đồng thời yếu tại "trung thổ bất ly vị" ① cập nội kình trung chính tình huống hạ lai hoàn thành. Vi thử, luyện quyền thời tất tu "vĩ lư trung chính", "an thư chi trì bát diện", "hư lĩnh đính kình", "thượng hạ nhất điều tuyến" địa tùy thời điều chỉnh hư thực. Sở dĩ lập thân trung chính, thượng hạ tương tùy địa điều chỉnh hư thực tựu thành vi Thái Cực Quyền đích đệ tứ cá đặc điểm.
i. Hư thực bỉ lệ Căn cứ Thái Cực Quyền lý luận, tại nhất thiết động tác nội đô tất tu phân thanh hư thực, sở dĩ luyện quyền thời yếu chú ý sử động tác xứ xứ hữu thử nhất hư nhất thực. Vi liễu tố hảo hư thực đích điều chỉnh, thủ tiên tất tu nhận thanh hư thực đích chính xác hàm nghĩa. Sở vị hư, bất thị toàn vô lực lượng; sở vị thực, diệc phi toàn bộ chiếm sát. Dĩ song túc lai thuyết, hư bất thị tại giá nhất chích cước thượng toàn vô hà trọng, thực diệc phi toàn bộ hà trọng đô phóng tại giá nhất chích cước thượng (đề thối, độc lập hòa giải oản cầm nã đẳng quyền thức lệ ngoại), nhi bất quá thị sử hư bỉ thực đích hà trọng khinh ta. Giá nhất hư thực danh từ đích sản sinh, tại lực học thượng lai thuyết, thị do ư nhân thể tổng hà trọng đích trọng tâm thường hữu thiên di. Đương trọng tâm thiên di đáo hữu biên thời, tắc thành vi hữu túc thực nhi tả túc hư, thiên tả thời, tắc hựu thành vi tả túc thực nhi hữu túc hư (như hình 8). Thượng diện thuyết quá, Thái Cực Quyền động lực bản thân tựu sản sinh ư trọng tâm thiên soa đích đảo hoán trung, như quả một hữu thiên soa, tựu thị thuyết trọng tâm chính bãi tại trung tâm tuyến thượng, na tựu hội hình thành song trọng ②, thất khứ động lực nhi hình thành trệ trọng đích mao bệnh. Thử thời như quả tương song thủ hư hư bồng khởi, tựu
- ① Trung thổ bất ly vị, chỉ nhân thể trọng tâm bất ly khai lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất đích ý tư, tường kiến hình 9.
- ② Song trọng thị song túc bất phân hư thực, thành vi song thực; song thủ dã bất phân hư thực, diệc thành vi song thực. Nhân thử thành vi song trọng, dĩ trí ngại ư hư thực trệ trụ, biến hoán bất linh, sở dĩ vi bệnh.
· 28 · khả thành vi song trầm ① đích công thủ, khả sử vận động trọng tân hoạch đắc chuyển hoán đích động lực.
Hư thực bất thị cố định đích, tha tùy trứ quyền thức biến hóa nhi biến hoán. Tại khai thủy học quyền thời, nghi thái thủ đại hư đại thực đích tư thế, như nhị bát chi bỉ (nhị bát chi bỉ thị chỉ lưỡng cước phụ trọng đích phân phối bỉ lệ, như dĩ toàn thân trọng nhất bách cân vi lệ, tắc nhất cước phụ đam nhị thập cân, lánh nhất cước phụ đam bát thập cân). Tùy trứ công phu đích thục luyện, tựu yếu chuyển vi tiểu hư tiểu thực đích tư thế, như lưỡng cước đích phụ trọng phân phối bỉ lệ vi tứ lục đẳng. Kinh quá giá chủng khẩn thấu công phu dĩ hậu, do ư động độ biến tiểu, tựu khả sử hư thực biến hoán đắc canh gia linh hoạt. Biến hoán linh hoạt đích nội tại căn do, tại ư ý khí chuyển hoán đích linh hoạt, nhân nhi khả dĩ tố đáo bất trệ trụ ư mỗ nhất diện, bất chuyên chú ư mỗ nhất điểm: lệ như mỗ thức ứng chú ý tả thủ, tắc năng hào bất phí lực địa lập tức chuyển đáo tả thủ thượng ②. Giá dạng tựu khả sử nhân tại luyện quyền thời hữu tả hữu phùng nguyên đích cảm giác, sản sinh viên hoạt như châu cổn tại bàn thượng đích thú vị. Tòng tư thế thượng thuyết, tại nhậm hà biến hoán hạ, giai bất năng sử "trung thổ ly vị"; bất ly vị tài năng tiền hậu tả hữu biến hoán nhi bất thụ trở. Nhược thân thể thiên ư nhất biên lai tiến hành biến hoán, tựu tu kinh quá điều chỉnh tài năng linh hoạt quá lai. Giá Hình 8 · Đồ thị trọng tâm thiên di — trong hình ghi: vĩ lư trung chính tuyến, trọng tâm tuyến, tả túc hà trọng 1/2 (hư), hữu túc hà trọng 1/2 (thực), dĩ e biểu thị trọng tâm thiên di.
- ① Song trầm thị song túc tuy vị phân hư thực, tựu thị vi vị hư thực, thành vi song thực, đãn thị song thủ khước thị toàn hư, hoặc thị vi vị hư thực. Giá dạng tựu thành liễu thiên hư, như thập tự thủ, vi thượng hạ tương tùy đích song thực song hư, thị vi song trầm. Thử thời lưỡng thủ lưỡng túc tuy nhiên vi song hư hòa song thực, đãn nhưng nội trung hữu chủ tân chi phân, sở dĩ bất vi bệnh.
- ② Giá thị chỉ nhân đích tập quán đa dụng hữu thủ, đãn hữu thời ứng chú ý tả thủ thời, nhưng cựu chú ý đáo hữu thủ thượng.
· 29 · thị nhất cá thất thế đích không khích, tịnh thả nhân vi đa liễu nhất đạo thủ tục, sử hành động chuyển mạn, tọa thất lương cơ. Giá dụng Thái Cực Quyền thuật ngữ lai thuyết, xưng vi thất cơ. Thất cơ, thất thế thị Thái Cực Quyền đích đại bệnh, sở dĩ biến hoán hư thực chỉ hữu tại chính trung lập thân đích tình huống hạ, tài khả dĩ đạt đáo linh hoạt chuyển hoán đích yếu cầu, giá thị tất tu chưởng ác đích trọng yếu quan kiện chi nhất.
ii. Tam chủng cơ bản hư thực (1) Cước đích hư thực — cước đích hư thực hoa phân, tựu thị nhất chích cước phụ trọng ta, lánh nhất chích cước phụ đam khinh ta. Án chiếu lực học nguyên lý, thân thể trọng lượng đích trọng tâm nhược vị ư lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất đích địa phương, tựu khả sử lưỡng cước quân hữu trứ lạc, xưng vi bán khinh bán trọng ① (như hình 9). Như quả trọng tâm vị trí siêu xuất liễu trung gian tam phân chi nhất đích phạm vi, tắc na chỉ hư cước tựu hội nhân quá hư nhi sản sinh phù bãi đích hiện Hình 9 · Bán khinh bán trọng Hình 10 · Thiên khinh thiên trọng
- ① Bán giả tựu thị nhân thân trọng lượng đích trọng tâm tại lưỡng thối gian cự ly đích trung gian tam phân chi nhất dĩ nội, giá thời lưỡng cước quân hữu hạ kình lạc tại địa diện thượng, chỉ bất quá khinh trọng bất đồng nhi dĩ, sở dĩ xưng vi bán hữu trứ lạc, hoặc xưng bán khinh bán trọng, giá thị chính xác đích tư thế.
· 30 · tượng, đã thành bệnh tượng thiên khinh thiên trọng①. (như trong Hình 10)
Ngoài ra, khi vận động hoặc khi phát kình, động tác phải đạt được khúc súc hữu dư (cong chứa mà vẫn còn dư). Cho dù sau khi phát kình, tứ chi cũng vẫn không nên duỗi thẳng hết mức. Bởi vì một khi đã duỗi thẳng, thì khi chuyển đổi hư thực, trước tiên phải đem thẳng đổi thành cong, rồi sau mới có thể đảo hoán co duỗi. Nhưng nếu tay chân ở trong tư thế khúc súc hữu dư, thì khi chạm vào liền có thể xoay chuyển tự nhiên, không phải phân tâm vào việc đảo hoán, đây là cơ sở khiến động tác có thể tự động hóa.
Tóm lại, yêu cầu của Thái Cực Quyền đối với hư thực của hai chân, bất luận khi nào và ở đâu, đều phải có sự đảo hoán một hư một thực này, lại càng phải từng bước thu nhỏ tỷ lệ, khiến cho sự chuyển biến hư thực mau lẹ hơn. Nếu hư thực của hai chân đổi không mau, thì không thể thích ứng với sự biến hóa của tay, khiến trên dưới không thể tương tùy, liền phải phân thành hai ngả, phá hoại yêu cầu động tác phải chu thân nhất gia (toàn thân một nhà).
(2) Hư thực của tay — phàm khi kình vận đến tay mà nâng lên đỡ (bằng) thì tay này là hư; vận đến tay mà trầm xuống thì tay này là thực. Động tác của hai tay trong Thái Cực Quyền, cũng như động tác của hai chân, cũng phải phân chia hư thực; cho dù khi hai tay cùng ấn, như quyền thức Lục Phong Tứ Bế (Sáu phong bốn bế) này, cũng là chia theo tỷ lệ bốn sáu. Nhưng tỷ lệ hư thực của tay hơi khác với chân: sau khi công phu tinh tiến, tỷ lệ của nó, trừ vài quyền thức cá biệt, đều ở trong khoảng ba bảy đến bốn sáu, tỷ lệ là lớn. Đây là để đạt được trầm trước tùng tĩnh (trầm ổn buông lỏng yên tĩnh), chuyên chủ một phương, lấy một phương làm chủ, phương kia làm khách mà quy định. Đặc biệt quan trọng là, không chỉ tứ chi phải đổi cho linh hoạt, mà ý khí lại càng phải đổi cho linh hoạt, khiến ý khí không trệ trên một tay, nhất là tay phải.
(3) Hư thực của tay và chân — việc phân chia hư thực tốn công phu nhất, phải kể là việc phân chia hư thực trên dưới của một tay một chân. Mà có tác dụng nhất đối với bảo kiện và kỹ kích, cũng chính là việc phân chia hư thực trên dưới của tay và chân này. Đây là hạch tâm khiến bộ pháp đạt được liên tùy (liền theo).
- ① "Thiên" là chỉ vị trí trọng tâm đã vượt ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa, khiến một chân đặc biệt nặng, còn chân kia thì trôi bồng bềnh trên mặt đất, hình thành thiên về một bên, vì vậy bên kia đương nhiên là thiên khinh; đây gọi là "thiên vô trước lạc" (thiên không chỗ dựa), hay gọi là thiên khinh thiên trọng, là một loại bệnh.
· 31 · Yêu cầu và cách làm của nó là: như tay phải trầm xuống là thực, thì chân phải ắt là hư; đợi đến khi tay phải chuyển lên đỡ (bằng) là hư, thì chân phải liền theo tay ở trên mà chuyển thành thực; làm như vậy, gọi là "phân hư thực trên dưới tương tùy". Cho nên trong Thái Cực Quyền 《Đả Thủ Ca》 có nói: "Bằng lãm tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan xâm" (Đỡ, lôi, chen, ấn phải nghiêm túc, trên dưới tương tùy người khó xâm nhập), tầm quan trọng của nó có thể suy ra được. Vì vậy, khi luyện quyền phải kiểm tra đầy đủ xem mỗi một động tác có đạt được yêu cầu trên dưới tương tùy này hay không. Lấy việc luyện một lượt giá tử mà nói, trong đó tư thế rất đa dạng, mà biến đổi tư thế lại thường xuyên như vậy, muốn làm được trên dưới tương tùy, đương nhiên phải tốn một phen công phu mới có thể nắm giữ thành thục. Sự chuyển đổi này, ngoài việc khi bước chân tay theo chân để chuyển đổi hư thực, đa số đều là chân theo tay để chuyển đổi hư thực. Tóm lại, làm được hư thực trên dưới của một tay một chân, thì vị trí trọng tâm có thể không ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa khoảng cách hai chân, khiến chân trái phải đều có chỗ dựa, cho nên nội kình có thể đạt được trung chính; nội kình trung chính rồi, mới có thể chống đỡ tám mặt. Loại hư thực này quy nạp vào điểm đáp của bàn chân trên mặt đất mà nói, là trong hư có thực và trong thực có hư. Chỉ khi có được loại hư thực trên dưới tương tùy này, bộ pháp mới có thể khinh linh bất trệ, tiến thoái tự như, mới có thể liên tùy với người mà không đến nỗi phát sinh bệnh tượng đâu đỉnh. Đồng thời, khi đã thuần thục rồi đẩy tay, chỉ cần chú ý đến một tay tiếp xúc với đối phương, còn tay kia và hai chân đều có thể do đó mà dưỡng thành thói quen trên dưới tương tùy, mà không phải phân tâm nữa, có thể được hiệu quả phối hợp tự động, cũng là mấu chốt của động trung cầu tĩnh (tìm tĩnh trong động) mà được tĩnh.
Phần 2
III. Sự nắm giữ hư thực
Như trên đã nói, Thái Cực Quyền lấy việc phân rõ hư thực và mô-men lệch tâm sinh ra do trọng tâm thiên di làm nguồn động lực; đây là tác dụng cơ giới tiết kiệm sức nhất, có thể khiến người ta lâu dài không mệt. Khi luyện quyền chỉ cần dịch chuyển một cái trọng tâm, là có thể động tác lên được. Trình tự rèn luyện hư thực này, thứ nhất là hư thực của hai chân, thứ hai là hư thực của hai tay, cuối cùng, và cũng là chủ yếu, là hư thực trên dưới của một tay một chân.
· 32 · Thái Cực Quyền khi luyện một lượt giá tử, hai tay để có thể đi vòng theo hình cung, phải liên tục biến đổi hư thực bất chợt, từ đó thúc đẩy hai chân phải điều chỉnh hư thực theo hư thực của tay. Cũng vậy, hai chân khi tiến thoái đều bước ra trong trạng thái hư, bước đến điểm của nó rồi mới đặt xuống mà chuyển thành thực. Đây là yêu cầu bước chân thông thường của Thái Cực Quyền, cho nên tay phải theo hư thực của chân mà chuyển đổi hư thực. Những điều này đều thuộc yêu cầu trên tùy dưới và dưới tùy trên, trên dưới tương tùy; luyện Thái Cực Quyền phải tuân theo yêu cầu này và dưỡng thành thói quen này. Lâu ngày luyện tập, một khi đã thành thói quen, thì khi người đến tự nhiên có thể sinh ra "liên" (liền) tự động, khi người đi lại tự nhiên có thể sinh ra "tùy" (theo) tự động, không còn phải tốn nhiều tâm ý để chỉ huy động tác nữa.
Phần 3
IV. Khinh trọng phù trầm và hư thực
Phân chia hư thực, nhìn qua thì không phải là một việc phức tạp, nhưng thực tế lại là một quá trình học tập vô cùng tỉ mỉ và đa dạng. Vì vậy, để học hư thực được tốt hơn, ắt phải tiến thêm một bước tìm hiểu quan hệ giữa bốn thứ khinh, trọng, phù, trầm với hư thực. Quyền luận nói: "Nhược bất cùng nghiên khinh trọng phù trầm chi thủ, hữu quật tỉnh đồ lao bất cập tuyền chi thán" (Nếu không nghiên cứu cùng tận cái tay khinh trọng phù trầm, thì có cái than thở đào giếng uổng công không tới mạch nước), điều này nói rõ tầm quan trọng của nó.
Để nắm giữ hư thực này một cách tỉ mỉ, nên trong từng quyền thức chăm chú tìm tòi, tìm ra khuyết điểm — mà sửa chữa cho hết. Lúc này có sáu mấu chốt phải nắm giữ; nắm giữ được sáu mấu chốt này, thì cơ bản có thể trở thành công thủ (tay thành thạo), mà không phải bệnh thủ (tay có bệnh).
(1) Phải "bán" (nửa), không được "thiên" (lệch) — cái gọi là "bán" là chỉ khoảng cách lệch tâm của trọng tâm thân người chưa vượt ra khỏi phạm vi một phần ba ở giữa khoảng cách hai chân; đây là một loại lệch tâm nằm trong vòng phương viên (vuông tròn), là tiêu chuẩn phân chia hư thực cho đúng. Cái gọi là "thiên" thì chỉ khoảng cách lệch tâm của trọng tâm thân người đã vượt ra khỏi phạm vi nói trên, khiến lệch tâm ra khỏi vòng phương viên — đó là do hư thực chia quá mức. Cho nên "bán" là có chỗ dựa, không phải bệnh; còn "thiên" thì đã không có chỗ dựa, là bệnh. Vì vậy khi phân hư thực phải "bán", không được "thiên". (Như trong Hình 11.)
· 33 · là có chỗ dựa, không phải bệnh; còn "thiên" thì đã không có chỗ dựa, là bệnh. Vì vậy khi phân hư thực phải "bán", không được "thiên". (Như trong Hình 11.)
(2) Phải "trầm", không được "trọng" — cái gọi là "trọng" là chỉ hiện tượng trệ sinh ra do điền thực quá mức. Cái gọi là "trầm" là chỉ tuy là trầm xuống, nhưng vẫn có thể "tự nhĩ đằng hư" (tự nó bay lên hư không); nói cách khác, trầm là sinh ra trong lúc trên dưới tương tùy: như chân trầm xuống là thực, mà tay nâng đỡ (bằng) là hư, thì có thể khiến trong thực có hư. Vì vậy "trầm" không phải bệnh, mà "trọng" là bệnh (nhưng bán khinh bán trọng thì trừ ra). Cho nên khi phân hư thực, phải "trầm", không được "trọng".
(3) Phải "khinh", không được "phù" — "khinh" là ở trong phương viên khiến động tác biểu hiện khinh linh mà có chỗ dựa; còn "phù" là ra khỏi phương viên, khiến gót chân nổi lên phiêu diêu không chỗ dựa — tức là hư quá mức, cho nên phù là một loại bệnh tượng. Vì vậy, khi phân hư thực, phải "khinh", không được "phù".
(4) Ba thứ hư thực không bệnh — khi luyện quyền nên học tập và làm được ba thứ hư thực không bệnh là "song khinh①", "song trầm" và "bán khinh bán trọng". Trong ba
- ① Dưới sự hành khí khi tâm ý hư linh bất muội và thanh minh tại cung, cổ đãng đỉnh kình; ở trên thì hai cánh tay tương liên, ở dưới thì hai chân tương tùy; hư thực chỉ có phần vi mạt, nhưng lại có thể tự nhiên khinh linh chuyển đổi — đó là song khinh, cho nên không phải bệnh.
· 34 · thứ hư không này, lại lấy công phu "song khinh", "song trầm" là tương đối tỉ mỉ khó làm; làm không tốt, thì có khả năng chảy vào "song phù①" (tay hư chân cũng hư) và "song trọng" (tay thực chân cũng thực), đây là điều phải hết sức chú ý. Đặc biệt là công thủ của "song khinh", "song trầm" và bệnh thủ của "song phù", "song trọng", trong lúc chuyển dịch tay chân chỉ có sai biệt hào ly; vì thế lại càng phải đề phòng khả năng "sai chi hào ly, mậu dĩ thiên lý" (sai một hào ly, lệch đi ngàn dặm) này phát sinh.
Bảng 1. Bệnh thủ và công thủ trong phân chia hư thực
| Số hiệu | Tên bệnh thủ | Bệnh tượng | Số hiệu | Tên công thủ | Công năng | Phụ ký |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Song trọng | Bệnh ở điền thực | 1 | Song khinh | Tự nhiên khinh linh | Bảng này theo quyền luận 《Thái Cực Quyền khinh trọng phù trầm giải》 phân tích mà được. Toàn bộ phân chia hư thực có tất cả mười hai hạng, trong đó công thủ chỉ có ba hạng, mà bệnh thủ lại có chín hạng, chiếm ba phần tư. Vì vậy, khi luyện tập hơi bất cẩn, liền dễ xuất hiện bệnh thủ, nên gia tăng chú ý. |
| 2 | Song phù | Bệnh ở phiêu diêu | 2 | Song trầm | Tự nhĩ đằng hư | |
| 3 | Thiên khinh thiên trọng | Thiên vô trước lạc | 3 | Bán khinh bán trọng | Bán hữu trước lạc | |
| 4 | Bán phù bán trầm | Thất chi bất cập | ||||
| 5 | Thiên phù thiên trầm | Thất chi thái quá | ||||
| 6 | Bán trọng thiên trọng | Trệ nhi bất chính | ||||
| 7 | Bán khinh thiên khinh | Linh nhi bất viên | ||||
| 8 | Bán trầm thiên trầm | Hư nhi bất chính | ||||
| 9 | Bán phù thiên phù | Mang nhi bất viên |
(5) Cách thủ là biện pháp quan trọng để cứu chữa thiên trọng, thiên phù② — khi cá nhân đơn
- ① Song phù là hai tay hư, hai chân do đại hư đại thực quá mức, khiến trong quá trình vận động không những bàn chân hư kia nổi lên, mà ngay cả bàn chân quá thực kia khi chuyển đổi cũng bị kéo cho đứng không vững mà nổi lên, đến nỗi toàn thân phiêu diêu không chỗ dựa, thành song phù, cho nên là bệnh.
- ② Cái gọi là thiên trọng thiên phù, là do tay và chân cùng một bên trên dưới đều hư, hoặc trên dưới đều thực, khiến kình dồn về một bên mà hình thành. Vì vậy, việc phân hư thực trên dưới tương tùy chính là để đưa ra nhằm không xảy ra thiên trọng thiên phù.
· 35 · độc luyện tập, là có thể làm được yêu cầu chuyển đổi hư thực mà không ra khỏi góc — tức là không đến nỗi ra khỏi phương quyển mà phát sinh hư thực thiên trọng, thiên phù. Nhưng khi đẩy tay với người, đã liên quan đến sự việc của hai phương diện, quyết không thể dựa vào nguyện vọng chủ quan mà phiến diện nghĩ rằng không ra khỏi góc là có thể không ra khỏi góc. Nếu đối phương dùng cách thủ (cách tay) của thái, liệt để cưỡng nắm, cưỡng đánh, thì bản thân mình có khi cũng khó tránh phải ra khỏi góc. Vì vậy, liền không thể không dùng cách thủ để cứu chữa loại hư thực ra khỏi góc này, khiến nó trở lại trong phương quyển, đạt được hư thực bán khinh bán trọng. Ví dụ, tay phải ra khỏi góc, tay trái xuất kích; người đón tay trái, thì tay phải lại có thể trở về trong tứ chính của phương quyển. Đây là thủ pháp cứu chữa hư thực của mình khi ra khỏi góc. (Như trong Hình 12.)
(6) Phải làm tốt hư thực, chớ quên cách thủ — ví dụ khi đẩy tay, nếu đối phương là một kẻ đại khai đại triển phủ ngưỡng khuynh tà, thường muốn dùng thủ pháp xuất ngung để chế người, thì lúc này nếu không dám dùng hoặc không quen dùng cách thủ để đối phó cách thủ của hắn, mà vẫn muốn dùng tứ chính để đối phó tứ ngung của hắn, cùng hắn chiêm niêm vạch vòng · 36 · thúc đẩy không ngừng, thì động tác như vậy đã trái với quy định ngung thủ đối với ngung thủ, sẽ khiến bản thân bất giác sinh ra hư thực thiên trọng, thiên phù; có thể nói đây là một khuyết điểm của việc quen dùng tứ chính. Cho nên, quyền luận nói: "Thái liệt trửu kháo cánh xuất kỳ, hành chi bất dụng phí tâm cơ" (Thái, liệt, cùi chỏ, vai càng xuất kỳ, làm nó không phải phí tâm cơ), điều này vừa hay nói rõ tầm quan trọng của ngung thủ. Nếu quên mất việc nắm giữ ngung thủ, thì sẽ khiến thiên trọng, thiên phù của hư thực không được sửa chữa, hơn nữa còn thúc đẩy mình tiến thêm một bước ra khỏi góc. Đây là khuyết điểm sinh ra do quen tứ chính mà quên tứ ngung, trở thành "một chân".
Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ tư, khái quát yếu điểm của nó như sau.
(1) Phân rõ ba thứ hư thực chủ yếu, tức hư thực của chân, hư thực của tay và hư thực của một tay một chân.
(2) Chú ý điều chỉnh hư thực của tay và chân ở tay trái chân trái và tay phải chân phải — đây là mấu chốt chính của "thượng hạ tương tùy nhân nan xâm" (trên dưới tương tùy người khó xâm nhập).
(3) Phải căn cứ nguyên tắc khinh trọng phù trầm, thường xuyên kiểm tra khuyết điểm trong việc phân chia hư thực của mình.
(4) Phải làm được ba thứ hư thực không bệnh là song khinh, song trầm và bán khinh bán trọng; điều này phải khắc khắc lưu tâm, lâu dài rèn luyện mới có thể dưỡng thành.
(5) Khi đẩy tay chớ quên nguyên tắc "ngung thủ đối đãi ngung thủ". Tứ chính thủ và tứ ngung thủ phải chuyển đổi lẫn nhau, cả hai đều phải luyện.
Phần 4
Đặc điểm thứ năm: Vận động tiết tiết quán xuyến của yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp
Quyền phổ quy định:
(1) "Yêu tích vi đệ nhất chủ tể, nhất động vô hữu bất động" (Yêu và tích là chủ tể thứ nhất, một cái động thì không có gì không động);
(2) "Chu thân tiết tiết quán xuyến, vô sử ti hào gian đoạn" (Toàn thân từng tiết quán xuyến, chớ để chút tơ hào gián đoạn);
· 37 · (3) "Dục yếu chu thân nhất gia, tiên yếu chu thân vô hữu khuyết hãm" (Muốn toàn thân một nhà, trước phải toàn thân không có khuyết hãm);
(4) "Hành khí như cửu khúc châu, vô vi bất đáo" (Hành khí như hạt châu chín khúc, không chỗ nhỏ nào không tới).
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, để đạt được nhất động toàn động (một động thì toàn động), ắt phải lấy yêu tích làm trung tâm, bởi vì yêu là trục giữa quay song song trái phải, còn tích là cơ sở của uốn cong trên dưới. Động tác Thái Cực Quyền đã cần nhất động toàn động, thì trên đường vận động không thể đơn thuần quay ngang trái phải, cũng không thể chỉ làm động tác uốn cong trên dưới, trước sau, mà ắt phải liên hợp yêu và tích lại, khiến đường vận động hình thành một đường cong không gian vừa là trái phải, vừa là trên dưới, trước sau, để thiết lập cơ sở cho nhất động toàn động. Nói cách khác, chỉ có thông qua lấy yêu tích làm trung tâm, mới có thể khiến chín khớp vận động chủ yếu của toàn thân① lần lượt quán xuyến lại với nhau. Ngoài ra, còn phải làm được toàn thân không khuyết hãm, quán xuyến như hạt châu tròn chín khúc; như vậy công phu mới có thể tiến tới mức toàn thân một nhà. Cho nên vận động tiết tiết quán xuyến của yêu tích dẫn đầu, nội ngoại tương hợp, trở thành đặc điểm thứ năm của Thái Cực Quyền.
Phần 5
I. Thực chất của tiết tiết quán xuyến
Để làm rõ thực chất của tiết tiết quán xuyến, thử lấy nửa thân dưới làm ví dụ để giải thích. Khi kình khởi từ gót chân, qua khớp cổ chân, vòng quanh bắp chân nâng lên đến khớp gối, rồi từ khớp gối xoay nâng lên, vòng quanh đùi đến khớp hông, có thể làm được không có chút tơ hào gián đoạn — đó gọi là tiết tiết quán xuyến của nửa thân dưới. Điều này nói rõ rằng cái gọi là quán xuyến không chỉ động ở khớp, mà còn phải khiến toàn bộ chân vừa vòng vừa nâng lên mà động. Nếu không qua đùi và bắp chân mà chỉ do các khớp cổ chân, gối, hông v.v. động, thì thuộc về động từ tiết này nhảy vọt đến tiết khác — đây là một loại "linh đoạn kình" (kình đứt rời). Vì vậy, chỉ có kình nâng lên qua đùi và bắp chân mới là "quán xuyến kình" đích thực②.
- ① Chín khớp chủ yếu chỉ: cổ, tích, yêu, hông, gối, cổ chân, vai, cùi chỏ và cổ tay.
- ② "Linh đoạn kình" chỉ khớp vận động, còn "quán xuyến kình" thì cơ và khớp cùng động.
· 38 · Làm rõ được quán xuyến kình rồi, thì có thể tìm ra điểm đặt lực. Nếu khiến chân trước cung sau tháp mà không có xoay trái phải, thì bất luận thế nào cũng không thể đem khớp và cơ quán xuyến lại với nhau; lúc này chỉ có thể biểu hiện sự co và phóng của khớp, không có quan hệ trực tiếp với việc duỗi dài của cơ. Tay cánh nếu duỗi thẳng co thẳng, tình hình cũng như vậy. Cho nên, yêu cầu quán xuyến này ngoài việc vận dụng kiểu nâng lên xoắn ốc theo đường triền ty (dây leo) thì không có cách nào đạt được.
Phần 6
II. Quan hệ giữa nhất động toàn động với yêu tích
Động tác Thái Cực Quyền trước tiên yêu cầu chín khớp chủ yếu bên ngoài có thể lần lượt quán xuyến mà vận động lên, như vậy mới có thể khiến nội tạng sinh ra tác dụng "mát-xa". Khi luyện quyền quyết không được để vài khớp động mà vài khớp khác không động. Để làm được toàn thân khớp lần lượt toàn động, ắt phải tìm ra khâu trung tâm của nó trên thân người, và dùng nó để lãnh đạo các khớp lần lượt vận động; như vậy mới khiến động tác trở nên tương đối đơn giản. Nếu không, phải vận dụng não lực để chăm lo chín khớp lần lượt tiết tiết cùng động, điều này sẽ gây ra cố thử thất bỉ (chăm cái này mất cái kia), bận rộn không ngừng, không những không thể đạt được mục đích quán xuyến toàn động, mà còn mất đi yêu cầu động trung cầu tĩnh.
Chúng ta biết rằng, hai cơ quan yêu và tích này ở giữa thân người, chúng tự · 39 · nhiên có công năng của trục giữa. Vì vậy, nếu có thể khiến yêu tích phối hợp với vận động xoắn ốc của đặc điểm thứ ba, thì có thể đạt được yêu cầu tiết tiết quán xuyến; cho nên trong Thái Cực Quyền gọi yêu tích là chủ tể thứ nhất. Vì có trục giữa này, hai tay mới có thể vận dụng tính thống nhất của lực ly tâm và lực hướng tâm, làm được "động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" (động thì tách, tĩnh thì hợp) (như trong Hình 13).
Phần 7
III. Tiết tiết quán xuyến và tăng cường khớp
Thái Cực Quyền luyện đến mức tiết tiết quán xuyến rồi, thì có thể đạt được công phu toàn thân một nhà. Luyện thành công phu này, chỉ cần đơn giản hơi động một chút, là có thể khiến mọi bộ phận trong ngoài toàn thân phối hợp mà động lên. Loại vận động quán xuyến các khớp này có thể tăng cường khớp, ngăn cản khớp phát sinh hiện tượng thoái hóa. Theo quy luật sinh lý học thân người, khớp thường xuyên hoạt động có ích cho việc bảo toàn kết cấu bình thường của tổ chức sụn trên mặt khớp; nếu không thường hoạt động, thì tổ chức sụn sẽ phát sinh tác dụng thoái hóa dạng xơ. Giả sử lâu dài không hoạt động, các cơ quan phụ thuộc của nó còn tiến thêm một bước cứng hóa, như vậy hình thành trạng thái cứng rắn khớp không linh. Nguyên nhân sinh ra những bệnh biến này, đều là do sự suy giảm tiết dịch xương bôi trơn mặt khớp.
Do đó có thể thấy, yêu cầu tiết tiết quán xuyến của Thái Cực Quyền có tác dụng quan trọng đối với việc tăng cường cơ năng khớp. Thông thường luyện Thái Cực Quyền đều trước tiên cầu khai triển, động tác khai triển cũng mở rộng biên độ hoạt động của xương cốt thân người. Cho nên khi luyện Thái Cực Quyền trên khớp thường phát ra một tràng tiếng động, khiến người ta cảm thấy nhẹ nhõm; điều này nói rõ khớp đã được rèn luyện. Như vậy không những có thể bảo trì công năng bình thường của khớp, mà còn có thể khiến cơ năng xương cốt không ngừng tăng cường, tăng tốc cung ứng máu cho khớp và xung quanh nó; vì vậy đến già cũng có thể bước đi khỏe như thanh niên.
Thái Cực Quyền tuy yêu cầu tiết tiết quán xuyến, nhất động toàn động, nhưng độ động của động tác nó · 40 · là lớn nhỏ không đồng đều. Ảnh hưởng của động tác thường ngày của người đối với khớp là không đồng đều: trong chín khớp, chuyển động dễ nhất và nhiều nhất là khớp cổ tay, chuyển động nhỏ nhất và ít nhất là cột sống. Mà yêu cầu tiết tiết quán xuyến của Thái Cực Quyền lại vừa hay trái ngược với điều này: yêu cầu khớp cổ tay động càng nhỏ càng tốt, còn cột sống thì yêu cầu duỗi dài và động phải lớn hơn một chút, tức là độ động của thẳng và cong phải làm lớn hơn một chút. Độ động của khớp cổ tay giảm nhỏ rồi, liền khiến người ta không thể không mở rộng thân pháp để giúp đạt được yêu cầu tiết tiết quán xuyến, không thể không lấy yêu tích làm chủ tể, nếu không thì không có cách nào uyển chuyển tự nhiên mà chuyển qua. Nếu độ động của khớp cổ tay không giảm nhỏ, thì cổ tay vừa xoay, một động tác có thể không liên quan đến tích mà dễ dàng chuyển qua, trượt qua, yêu đương nhiên động ít rồi. Cho nên các danh gia Thái Cực Quyền thường nói: "Luyện Thái Cực Quyền phải luyện trên thân, không được luyện trên tay." Đối với khớp cổ tay mà nói, ắt phải giảm nhỏ độ động của khớp cổ tay, buộc mỗi cử mỗi động không thể không vận dụng thân pháp, vận ra từ yêu tích.
Tác giả có một người bạn, anh ta luyện Thái Cực Quyền đã nhiều năm, nhưng chỉ chú ý ở thủ pháp, vận động không vận đến trên thân, khi động tác chỉ thấy cánh tay động, còn thân thể thì như một cây gậy gỗ, theo bộ pháp tiến lên và lùi lại. Sau được người khác chỉ điểm, anh ta dùng hai đôi tấm mỏng kẹp hai cổ tay lại (tổng cộng bốn miếng), hai đầu tấm kẹp mỗi bên khoan hai lỗ, dùng dây cao su buộc tấm kẹp lại, chỉ cho phép cổ tay có độ cong nhỏ. Luyện như vậy không lâu, liền đem động chuyển trước kia trên tay chuyển dời lên trên thân; một khi đã vận đến trên thân, thì có thể động tắc câu động, yêu cầu tiết tiết quán xuyến cũng có tiến triển khá hơn, tì khí (khí thế) cũng dần dần cổ đãng, thân thể và tứ chi cũng sinh ra thú vị viên hoạt như hạt châu. Đây là kết quả của việc giảm nhỏ độ động khớp cổ tay để nâng cao thân pháp.
· 41 ·
Phần 8
V. Sự nắm giữ tiết tiết quán xuyến
Khi vận động ắt phải lấy yêu tích làm động cơ, lấy yêu tích làm trung tâm; như vậy mới có thể luyện tốt công phu tiết tiết quán xuyến. Mà để làm được chủ tể ở yêu tích, không cố thử thất bỉ và không phân tán tư tưởng, thì chỉ có vận dụng lực ly tâm có độ nghiêng để khởi phát động tác (Hình 15), mới có thể tự nhiên đem kình vận lên yêu tích. Cho nên khi luyện giá tử, ắt phải dưỡng thành thói quen động tác này, như vậy mới khiến khi vận động không phân tán tâm tư, không những có thể làm được động của yêu tích dẫn đầu, mà còn có thể làm được động trung đắc tĩnh (được tĩnh trong động). "Động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" là miêu tả tác dụng "động phân" và "tĩnh hợp" của lực ly tâm. Tuy do lực ly tâm khiến hai cánh tay đồng thời xoắn ốc mà tách ra, nhưng vì hai cánh tay tương liên, trong lúc khai vẫn ngụ ý nội kình thu hợp; đây thuộc về khai trung ngụ hợp của toàn thân. Thứ hai, do không phải khai thẳng thu thẳng, khiến cánh tay cũng có khai theo kiểu xoắn ốc; đây là khai trung ngụ hợp và hợp trung ngụ khai của cùi chỏ hợp cổ tay khai và cổ tay hợp cùi chỏ khai. Cái trước là khai hợp tương ngụ của toàn thân, cái sau là khai hợp tương ngụ của cánh tay. Loại khai trung ngụ hợp và hợp trung ngụ khai của toàn thân và cánh tay này, chính là biểu hiện cụ thể của "Thái Cực" đồ (âm dương). Luyện thành công phu này, mới có thể tung hoành trước sau, trái phải gặp nguồn, chạm vào thì xoay chuyển tự nhiên, biến hóa muôn vàn, cung cấp điều kiện có lợi cho nội ngoại câu luyện, và cũng là cơ sở để giải trừ bốn thứ bệnh "đỉnh biển đâu kháng" (húc, dẹp, buông, chống) trên kỹ kích (như trong Hình 13).
Đệ nhất lộ quyền của Trần thức Thái Cực Quyền lấy vận kình làm chủ. Trong quá trình vận kình, đồng thời sinh ra hóa kình, hóa xong thì phải phát kình, đây là quy luật phát triển của vận động. Thái Cực Quyền hiện đại được sửa đổi vì mục đích bảo kiện, hầu như toàn là vận kình, đối với phát kình đã xóa bỏ · 42 · xu thế không dùng. Nhưng Thái Cực Quyền vốn là quyền vận phát tịnh dụng (vận và phát cùng dùng), cho nên mới cấu thành bát môn ngũ bộ①. Vì vậy có người đem minh kình của phát kình đổi thành ám kình, để đạt được có ý phát kình mà không có hình phát kình — tức là đem phát kình đổi thành phóng kình, để giảm độ cương của phát kình, nhằm phù hợp yêu cầu rèn luyện thể dục. Cái gọi là phát kình, là dưới trầm kiên trụy trửu (chìm vai buông cùi chỏ), dẫn dắt các loại nội kình khúc súc hữu dư truyền từ lưng sống đến cánh tay rồi phát ra. Cho nên quyền phổ quy định: "Kình do tích phát" (kình phát từ tích) — tức là do tích gỡ khấu mà phát ra. Chỉ có loại phát kình này mới là trung chính kình; nó do toàn thân hội hợp các khớp mà phát ra. Vì vậy, nguyên tắc tiết tiết quán xuyến, bất luận là vận kình, phát kình và phóng kình đều phải quán triệt, bởi vì vận kình tiết tiết quán xuyến chính là cơ sở của phát kình tiết tiết quán xuyến. Phát kình ngoài việc có chút không thích hợp với người già và người yếu, nếu người trẻ khỏe có thể luyện đến mức vận phát câu năng (vận và phát đều có thể), thì không những có thể luyện thành công năng bát môn của tứ chính, tứ ngung, mà còn rất có lợi cho việc tăng cường thể lực.
Do đó có thể thấy, vận kình tiết tiết quán xuyến không những có thể đặt cơ sở cho công phu toàn thân một nhà, mà còn có thể cung cấp điều kiện cho phát kình tiết tiết quán xuyến. Phát kình phải tiết tiết quán xuyến là để có thể tăng cường kình của nó, tập trung kình vào lưng sống, rồi phát ra. Đồng thời, ngược lại lại thúc đẩy vận động; cho nên hai cái chúng nó tác dụng lẫn nhau, lại tăng trưởng lẫn nhau; vì vậy đối với bảo kiện và kỹ kích đều có tác dụng vô cùng tốt.
Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ năm, nay khái quát yếu lĩnh như sau.
(1) Yêu tích liên hợp làm trục giữa, động tác cánh tay phải có độ nghiêng (khoảng 45 độ);
(2) "Động phân" và "tĩnh hợp" sinh ra từ trục giữa, là mấu chốt trung tâm của việc vận dụng lực ly tâm để đạt được quán xuyến;
(3) Khai trung ngụ hợp, hợp trung ngụ khai là biểu hiện cụ thể của tiết tiết quán xuyến và xoay chuyển tự nhiên;
- ① Bát môn chỉ tám loại nội kình, tức bằng, lãm, tễ, án (còn gọi là tứ chính) và thái, liệt, trửu, kháo (còn gọi là tứ ngung); ngũ bộ chỉ năm loại bộ pháp, tức tiền tiến, hậu thoái, tả cố, hữu phán, trung định.
· 43 · (4) Tiết tiết quán xuyến của phát kình là thủ đoạn tăng cường quán xuyến của vận kình;
(5) Giảm nhỏ độ động của khớp cổ tay, là thủ đoạn tất yếu để nâng cao tác dụng của thân pháp.
Phần 9
Đặc điểm thứ sáu: Vận động nhất khí a thành liên tương bất đoạn, thao thao bất tuyệt
Quyền phổ quy định:
(1) "Vãng phục tu hữu chiết điệp, tiến thoái tu hữu chuyển hoán" (Đi rồi trở lại phải có gấp chồng, tiến thoái phải có chuyển hoán);
(2) "Thu tức thị phóng, phóng tức thị thu" (Thu chính là phóng, phóng chính là thu);
(3) "Kình đoạn ý bất đoạn, ý đoạn thần khả tiếp" (Kình đứt ý không đứt, ý đứt thần có thể nối);
(4) "Như trường giang đại hà, thao thao bất tuyệt, nhất khí a thành" (Như sông dài sông lớn, cuồn cuộn không dứt, một hơi mà thành).
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, Thái Cực Quyền không lấy nhất động toàn động làm thỏa mãn, mà còn yêu cầu khi luyện hết một lượt giá tử có thể tiến thêm một bước làm được nhất khí a thành, nội kình bất đoạn. Đây là một phương pháp nữa để tăng đại lượng vận động. Phương pháp cụ thể của nó là: trên thủ pháp khi gặp vãng phục, phải xen vào chiết điệp; trên bộ pháp khi gặp tiến thoái, phải xen vào chuyển hoán; khi khai hợp, thu phóng, phải có ý và kình của "thu tức thị phóng" và "phóng tức thị thu". Đương nhiên, đặc điểm này cũng như đặc điểm thứ năm, là được thực hiện dưới sự trợ giúp của vận động triền ty xoắn ốc. Nếu sau khi phát kình xuất hiện hiện tượng đoạn kình, thì phải tiếp nối cái dư ý của phát kình này. Vạn nhất ý cũng đứt①, thì phải vận dụng dư thần của ý và kình để tiếp nối. Để làm được điểm này, kình phải có chiết điệp chuyển hoán, động tác phải dụng ý bất dụng lực, nhờ đó thân pháp thu phóng thống nhất như nước sông Trường Giang thao thao bất tuyệt,
- ① Cái gọi là ý đoạn, là chỉ ý và động tác thoát khỏi nhau, trong ngoài không nhất, ý chạy ra ngoài, động tác vô chủ.
· 44 · ở giữa không có chỗ dư để hạ kình, cũng không có lúc ý chạy ra ngoài; như vậy tự nhiên có thể đạt được yêu cầu nhất khí a thành. Vì vậy, vận động nhất khí a thành liên tương bất đoạn, thao thao bất tuyệt có thể làm đặc điểm thứ sáu của Thái Cực Quyền.
Phần 10
I. Sự thực hiện nhất khí a thành
Đặc điểm này là biện pháp cụ thể tiếp sau đặc điểm thứ năm, trên cơ sở nhất động vô hữu bất động tiến thêm một bước tăng đại lượng vận động. Đặc điểm thứ năm chú trọng ở yêu cầu chín khớp chủ yếu phải nhất động toàn động, nhờ đó khiến khí quan vận động và khí quan nội tạng nội ngoại tương hợp, để nâng cao lượng vận động của mỗi quyền thức. Còn đặc điểm thứ sáu thì chủ yếu yêu cầu trên cơ sở nhất động toàn động, từ động tác thứ nhất của một lượt giá tử bắt đầu, cho đến khi luyện xong một lượt giá tử, ở giữa không có chỗ hạ kình và lúc đoạn kình, cũng không có tình huống thần khí đình trệ nghĩ việc khác, lại càng không có biểu hiện thở một hơi, rời khỏi dụng ý, mà là phải làm được từ đầu đến cuối liên tương bất đoạn, nhấp nhô cuồn cuộn theo kiểu sóng không ngừng, nói cách khác, phải đem một lượt giá tử nhất khí a thành. Lượng vận động qua lần nâng cao này, đối với việc tính độ động sau khi luyện xong một lượt giá tử, phải là độ động của chín khớp nhân với động tác của một giá tử; giả định quyền thức của giá tử là bảy mươi hai thức, thì luyện xong một lượt giá tử phải nhất khí hoàn thành sáu trăm bốn mươi tám động lượng. Đây là một loại sáng tạo đặc thù xuất sắc của tổ tiên chúng ta trên thể dục vận động. Nhưng muốn đem loại vận động phức tạp đa biến này làm cho từ đầu đến cuối liên tương bất đoạn, từ phương diện lớn mà nói thì phải làm được hai phương diện dưới đây.
(1) Trên thủ pháp — khi vận động phàm gặp động tác nhất vãng nhất phục, giữa vãng phục phải vận dụng chiết điệp để bù đắp khoảng giữa, khiến hai động tác trước sau có thể nối liền với nhau theo đường cong hòa hoãn. Cách làm của chiết điệp này là: khi vận động đến tận cùng, trước khi sắp làm một động tác, như động tác sau là phải đi xuống và đi tới, thì phải trước tiên gấp lên một cái (chiết), rồi chồng lại một cái (điệp) về phía sau, sau đó mới tiếp làm quyền thức sau; như vậy liền với · 45 · kình của động tác rất tự nhiên và nối liền theo đường cong hòa hoãn. Đây chính là thuyết pháp quy định trong quyền luận: "Ý dục hướng thượng tất tiên ngụ hạ, ý dục hướng tiền tất tiên ngụ hậu" (Ý muốn hướng lên ắt trước ngụ xuống, ý muốn hướng tới ắt trước ngụ sau). Làm như vậy, không những kình của quyền thức trước và quyền thức sau đã nối liền, mà còn khiến quyền thức sau, do quan hệ lực gia tốc của quyền thức trước, trở nên càng trầm ổn và tăng cường hơn, giống như cách viết chữ lớn bằng bút lông với bút pháp hồi phong. Vì vậy, vận động Thái Cực Quyền, ngoài việc một động tác có thể làm xong trong một vòng, nếu trong động tác có nhất vãng nhất phục (như chỗ nối hai quyền thức), thì phải gia thêm chiết điệp, mới có thể khiến kình của động tác trên không chút gián đoạn mà quán xuyến vào động tác dưới. Đây là phương pháp trên thủ pháp nhờ có chiết điệp mà đạt được liên tương bất đoạn.
(2) Trên bộ pháp — phàm khi động bộ tiến thoái, giữa chúng dùng một "chuyển hoán" để bù đắp khoảng giữa, khiến bộ pháp trước sau cũng có thể nối liền theo đường cong hòa hoãn. Cách làm của chuyển hoán này là: bước tới hay lùi lại đều không được thẳng đường mà tiến thẳng lùi thẳng, mà ắt phải xen một chuyển hoán vào giữa bước trước và bước sau. Loại chuyển hoán này chính là hai bước cố, phán trong ngũ bộ của Thái Cực Quyền①. Có bộ pháp chuyển hoán của hai bước cố, phán rồi, không những có thể khiến kình của chân nối liền mạnh mẽ, mà còn khiến chân không rời khỏi triền ty, có thể liên hợp trên dưới nhất trí với triền ty của hai cánh tay, phát huy công dụng quán xuyến "động khởi vu cước căn, hình vu thủ chỉ" (động khởi từ gót chân, hiện hình ở ngón tay).
Toàn bộ sáo lộ của Thái Cực Quyền bên trong là không ngừng có vãng phục, cho nên cũng là không ngừng có chiết điệp. Có chiết điệp xen vào trong động tác, luyện quyền lên liền tỏ ra có một cảm giác lưu luyến quyến luyến, sinh ra thần thái tựa tùng phi tùng, tương triển vị triển (như buông mà không buông, sắp mở mà chưa mở), và biểu hiện trạng thái nhấp nhô ba đào cuồn cuộn, như thể một sóng đi qua, lại là một sóng dâng lên không ngừng.
Một lượt giá tử của Thái Cực Quyền bên trong là không ngừng có tiến thoái, cũng là không ngừng có chuyển hoán. Có chuyển hoán xen vào giữa tiến thoái, liền khiến tiến thoái không còn là tiến thẳng lùi thẳng,
- ① Bộ pháp cố phán lấy hai chữ mục quang cố phán để hình dung là vì Thái Cực Quyền vận động theo nguyên tắc bộ tùy thân chuyển và thân tùy nhãn động, nên gọi vậy. Trái là cố, phải là phán.
· 46 · mà là có thể hiển ra sự hồi toàn uốn lượn và sinh sinh bất dĩ. Chúng ta khi luyện quyền trên đất bùn, sau khi luyện xong một lượt giá tử, trên đất bùn có thể để lại nhiều vòng tròn của gót chân; đây chính là dấu vết chính xác mà hai bước cố, phán của sự chuyển hoán này để lại.
Tóm lại, giữa vãng phục mà cánh tay có chiết điệp, giữa tiến thoái mà chân có chuyển hoán, thì không những có thể khiến nội kình trước sau nối liền, mà còn có thể khiến kình dùng trong quá trình vãng phục tiến thoái đều là viên kình, không đến nỗi phát sinh bệnh đỉnh kháng và đâu biển, cũng có thể khiến hai mặt đối lập vãng phục và tiến thoái thống nhất lại với nhau.
Phần 11
II. Thực lệ danh gia hành quyền
Khoảng năm 1914, khi hội nghị thường niên của Bắc Kinh Thể Dục Nghiên Cứu Xã thời trước kết thúc, các võ thuật gia đủ loại phái trong toàn thành, như Kỷ Tử Tu, Trương Sách, Thượng Vân Tường, Vương Mậu Trai, Hứa Vũ Sinh v.v. tham gia biểu diễn dư hứng. Về phương diện Thái Cực Quyền khi đó, có Dương Trừng Phủ và Ngô Giám Tuyền cùng biểu diễn Thái Cực Quyền. Hai ông đều dùng đại giá tử; khi biểu diễn, hai vị khiến khán giả chỉ cảm thấy là tiến và lùi trong lúc trái phải gặp nguồn, cuồn cuộn không dứt mà nhấp nhô mãi, như thể đứng trên chiếc thuyền nhỏ vượt ngang sông Trường Giang; động tác của họ bề ngoài vô cùng miên nhuyễn, bên trong lại tỏ ra hàm chứa kiên cương; chậm khi vừa đến vuông, nhanh khi đến tròn, phối hợp khai hợp hết mực đều rõ, như vòng ngọc không đầu mối, không nhìn rõ nối nhau ở đâu. Khi tiến thoái họ không tỏ ra là đang tiến thoái, chỉ cảm thấy từng bước đang chuyển đổi tư thế; thời gian biểu diễn xong khoảng hơn tám phút, người có mặt ai cũng than thở là tuyệt vời.
Các danh gia khi đi giá tử có thể đạt được yêu cầu thâm tinh chính xác này, đương nhiên chủ yếu là do kết quả của cần học khổ luyện, công phu đến nhà. Nhưng bên trong nếu thiếu chiết điệp của vãng phục và chuyển hoán của tiến thoái, thì muốn đạt được động đãng bất dĩ và nhất khí a thành như vậy là có khó khăn.
· 47 ·
Phần 12
III. Thần khí động đãng và nhất khí a thành①
Từ phương diện tư thế làm thế nào để đạt được liên tương bất đoạn, đã như trên đã nói. Tiết này chú trọng trình bày về phương diện thần khí nên làm thế nào để đạt được liên tương bất đoạn, nhờ đó khiến trong ngoài nhất trí, chân chính đạt được liên tương bất đoạn.
Muốn kiểm tra phương diện thần khí có đứt hay không, chỉ cần xem thần khí của người luyện quyền là đình trệ hay là động đãng; nói cách khác, chỉ cần thần khí của người luyện quyền theo động tác mà biểu hiện ra thần thái động đãng, thì chứng minh lúc này người này đã đem ý quán chú vào trong động tác rồi, chứng minh hắn đang dụng ý luyện quyền; cho dù bề ngoài thấy như kình đã đứt, nếu ý thức vẫn còn tồn tại trong động tác, thì chỉ có thể nói nội kình của hắn trong vận động đã giảm yếu, mà không thể nói kình đã đứt. Vì vậy, khi luyện tập đi giá tử, nên chú ý nắm giữ đặc tính động đãng của thần khí, bởi vì đây là tiêu chí duy nhất biểu thị nội kình bất đoạn. Cho nên, luyện Thái Cực Quyền ngay từ đầu liền nên chú ý đem nội ý và ngoại thần ngụ vào trong động tác, không chút gián đoạn; lâu dài có thể dưỡng thành thói quen, làm được không đi giá tử thì thôi, hễ đi giá tử thì thần khí ắt động đãng không ngừng, tư tưởng không có thì giờ lơ đãng. Làm như vậy, cho dù vạn nhất tư tưởng có lơ đãng, vẫn có thể cố gắng hết mức duy trì sự tồn tại của thần, có thể mau chóng tiêu trừ hiện tượng kình đoạn ý trì.
Thái Cực Quyền 《Chính Công Giải》 nói: "Thái Cực giả viên dã, vô luận thượng hạ tả hữu, bất ly thử viên dã. Thái Cực giả phương dã, vô luận thượng hạ tả hữu, bất ly thử phương dã. Viên chi
- ① "Thần khí động đãng" mà bản mục này chỉ, hơi khác với "thần khí cổ đãng" của đặc điểm thứ nhất. "Thần khí cổ đãng" là nói rõ khi vận động phải cổ đãng thần khí của nó trong việc vận dụng tám môn kình biệt, ngược lại lại thúc đẩy vận động nội tại của ý khí tăng cường. "Thần khí động đãng" là chỉ trong vận động thông thường dưỡng thành thói quen thần khí động đãng: không vận thì thôi, hễ vận thì thần khí theo động tác mà động đãng, nói rõ nội tại ý cố không rời khỏi động tác, không có chạy ra ngoài.
· 48 · xuất nhập, phương chi tiến thoái, tùy viên thấu phương chi vãng lai. Phương vi khai triển, viên vi khẩn thấu①, phương viên quy củ chi chí, thục năng xuất thử dĩ ngoại tai" (Cái ra vào của vòng tròn, cái tiến thoái của hình vuông, theo cái vãng lai của tròn tụ về phương. Phương là khai triển, viên là khẩn thấu; cái cùng cực của quy củ phương viên, ai có thể ra ngoài điều này). Đây là nguồn gốc của yêu cầu phương viên tương sinh trong Thái Cực Quyền. Khi mới học Thái Cực Quyền, mọi động tác đều yêu cầu tròn, cho dù chỗ chuyển quan cực nhỏ cũng đều yêu cầu nó đi vòng tròn. Về tròn, phía trước đã nói rất nhiều, nhưng vẫn nên chỉ ra một điểm dưới đây: khi công phu đã luyện đến mức khá thuần thục rồi, khi vận động đến điểm cuối, phải biểu hiện ra kình biệt quy định của quyền thức này; mà muốn biểu hiện ra kình biệt, thì phải hiện ra phương trong lúc đi vòng — nói cách khác, muốn trong quá trình vận động biểu hiện ra kình biệt, thì phải có phương. Cho nên quyền luận nói: "Chỉ viên vô phương thị hoạt quyền, chỉ phương vô viên thị ngạnh quyền" (Chỉ tròn không vuông là quyền trượt, chỉ vuông không tròn là quyền cứng).
Quyền luận lại nói: "Chiết phóng đắc kỳ thời trung, văn thể chi bản; súc phát thích đương kỳ khả, vũ sự chi căn" (Gấp và phóng được đúng thời trung, là gốc của văn thể; súc và phát thích đáng chỗ nên, là căn của vũ sự); lại nói: "Hô vi khai, vi phát, hấp vi hợp, vi súc. Cái hấp tắc tự nhiên đề đắc khởi, diệc nã đắc nhân khởi; hô tắc tự nhiên trầm đắc hạ, diệc phóng đắc nhân xuất. Thử thị dĩ ý vận khí, phi dĩ lực sử khí dã" (Thở ra là khai, là phát, hít vào là hợp, là súc. Bởi vì hít vào thì tự nhiên nâng lên được, cũng nhấc được người lên; thở ra thì tự nhiên trầm xuống được, cũng thả được người ra. Đây là dùng ý vận khí, không phải dùng lực khiến khí). Điều này nói rằng khi công phu đạt đến cao thâm thì có thể không còn vận dụng tư thế đại khai đại hợp để tiến hành súc phát, mà chỉ vận dụng sự trướng súc của cơ nhục và da là có thể tiến hành súc phóng. Dùng thuật ngữ Thái Cực Quyền mà nói, đây là công dụng của "thốn kình" (kình tấc), cũng là cơ sở của khí công. Đến công phu này, liền có thể không phải lo lắng có sự phát sinh hữu đoạn hữu tục, bởi vì lúc này đã đạt đến cảnh giới cao độ của phương viên tương sinh rồi.
Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm này, đặc biệt khái quát yếu lĩnh của nó như sau.
(1) Khi gặp động tác có vãng phục, ắt phải xen có chiết điệp — đây là biện pháp tất yếu để trên thủ pháp đạt được liên tương bất đoạn.
(2) Khi gặp thân thể có tiến thoái, ắt phải xen có chuyển hoán — đây là trên bộ pháp
- ① Khai triển và khẩn thấu trong "phương vi khai triển, viên vi khẩn thấu" nói ở đây, khác với "tiên cầu khai triển, hậu cầu khẩn thấu" nói trong 《Hành Động Tâm Giải》. Cái sau chỉ việc luyện tập Thái Cực Quyền phải trước tiên mở rộng vòng của nó, rồi sau theo công phu tinh thâm mà khẩn thấu vòng của nó. Còn cái trước chỉ là: "Khi thở ra, thân thể và tứ chi trướng ra, hình thành khai triển, đạt được phóng kình của hình vuông"; "Khi hít vào, thân thể và tứ chi thu lại, hình thành khẩn thấu, đạt được bằn kính của hình tròn".
· 49 · làm được biện pháp tất yếu của liên tương bất đoạn.
(3) Kình đứt rồi, phải có ý tại; khi ý không đến, phải có thần tại — đây là phương pháp cứu chữa kình đứt.
(4) Có thể thần khí động đãng mà đi giá tử, thì có thể chứng minh đã đem ý quán chú vào trong động tác rồi. Ý tại, là tiêu chí của nội kình bất đoạn.
(5) Phương viên tương sinh của Thái Cực kình, là từ "hô vi khai triển, vi phương" và "hấp vi khẩn thấu, vi viên" mà sinh ra.
Phần 13
Đặc điểm thứ bảy: Vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu
Quyền phổ quy định:
(1) "Vận kình như bách luyện cương, hà kiên bất tồi" (Vận kình như thép luyện trăm lần, cứng nào không tổn), "cực nhu nhuyễn, nhiên hậu cực kiên cương" (Cực nhu nhuyễn, rồi sau cực kiên cương).
(2) "Ngoại tháo nhu nhuyễn, nội hàm kiên cương, thường cầu nhu nhuyễn chi ư ngoại, cửu chi tự khả đắc nội chi kiên cương; phi hữu tâm chi kiên cương, thực hữu tâm chi nhu nhuyễn dã" (Bên ngoài rèn nhu nhuyễn, bên trong hàm chứa kiên cương, thường cầu nhu nhuyễn ở bên ngoài, lâu dài tự nhiên có thể được kiên cương ở bên trong; không phải kiên cương có tâm, mà thực là nhu nhuyễn có tâm).
(3) "Thái Cực Quyền quyết bất khả thất chi miên nhuyễn. Chu thân vãng phục, dĩ tinh thần ý khí vi bản, dụng cửu tự nhiên quán thông yên" (Thái Cực Quyền quyết không được mất đi miên nhuyễn. Vãng phục toàn thân, lấy tinh thần ý khí làm gốc, dùng lâu tự nhiên quán thông).
(4) "Vận kình chi công phu, tiên hóa ngạnh vi nhu, nhiên hậu luyện nhu thành cương. Cập kỳ chí dã, diệc nhu diệc cương. Cương nhu đắc trung, phương kiến âm dương. Cố thử quyền bất khả dĩ cương danh, diệc bất khả dĩ nhu danh, trực dĩ Thái Cực chi vô danh danh chi" (Công phu vận kình, trước hóa cứng thành mềm, rồi sau luyện mềm thành cứng. Đến lúc cùng cực, vừa mềm vừa cứng. Cương nhu được trung, mới thấy âm dương. Cho nên quyền này không thể lấy cương để gọi, cũng không thể lấy nhu để gọi, mà thẳng lấy vô danh của Thái Cực để gọi nó).
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, việc học Thái Cực Quyền trước tiên phải phá hủy kiên ngạnh kình vốn có trong động tác của người ta, khiến nó hóa thành nhu nhuyễn; đây là thời kỳ hóa nhu. Thời kỳ này càng dài, thì càng có thể phá hủy cương ngạnh một cách triệt để. Yếu điểm lúc này là vẫn phải không mất miên nhuyễn, dưới sự nhu nhuyễn tiến bước về phía kiên cương có tính đàn hồi hơn. Đây · 50 · cái cương này không phải là cương của "gang sống" sinh ra từ nỗ trách và cổ kình, mà là cương đàn hồi sinh ra từ tùng khai và phóng trường. Bởi vì thân thể và tứ chi phóng trường, lại không ngừng xoắn ốc mà vặn qua vặn lại, liền có thể sinh ra tính đàn hồi này. Vì vậy, lại có thể gọi là "bằng kình cương" (cương của bằng kình). Căng chặt như vậy mà có thể xoa nắn cho càng nhu nhuyễn, thì chất lượng bên trong cũng có thể càng kiên cương①. Chỉ có loại cương có tính đàn hồi này mới có thể đạt được yêu cầu "ngoại tháo nhu nhuyễn, nội hàm kiên cương". Sự biến hoán cương nhu này là do sự ẩn hiện của tinh thần ý khí mà nắm giữ. Cái gọi là "ẩn tắc nhu", "hiển tắc cương" chính là đạo lý này. Sau khi công phu tinh tiến, kình có thể ẩn nội cực sâu, khiến ngoại hình tỏ ra cực nhu, khiến người ta cảm thấy như thể lại trở về trên nhu rồi, kỳ thực chất lượng bên trong lại càng cương hơn. Vì vậy, vận động cương nhu tương tế từ nhu đến cương, từ cương đến nhu trở thành đặc điểm thứ bảy của Thái Cực Quyền.
Phần 14
I. Quyền cương nhu tương tế
Đối với cách nhìn cương nhu của Thái Cực Quyền, thế nào mới coi là đúng, đây là vấn đề mà người luyện quyền đều mong biết. Để giải đáp vấn đề này, còn phải bắt đầu nói từ hoàn cảnh phát triển của Thái Cực Quyền. Nhân dân lưu vực Hoàng Hà đa số thích tập ngạnh công quyền, cho nên quyền Trần thức lưu truyền ở vùng đó cũng có xu thế phát triển theo hướng kiên cương. Nhưng người truyền nhà Trần, lại vẫn có thể bảo trì nguyên tắc Thái Cực âm dương, biểu hiện đặc sắc cương nhu tương tế. Ở lưu vực Trường Giang, tri thức phân tử học Thái Cực Quyền vì bảo kiện chiếm tỷ trọng rất lớn. Họ để thích ứng nhu cầu thể chất, dần dần phát triển theo hướng nhu nhuyễn. Nhưng người truyền nhà Dương cũng vẫn bảo trì phong cách "nhu trung ngụ cương, miên lý tàng châm" (trong mềm ngụ cứng, trong bông giấu kim) của Thái Cực Quyền. Các thức Thái Cực Quyền lưu hành hiện nay, từ phương diện tổ chức giá tử mà nhìn, đại thể là giống nhau, nhưng từ phương diện cương nhu mau chậm mà nhìn, thì mỗi thức đều có đặc sắc riêng. Vì vậy, những người thông thường học Thái
- ① Như dây cót của đồng hồ, có cương đàn hồi nhu nhuyễn nhất, cũng là cương có chất lượng kiên cố nhất.
· 51 · người luyện quyền có thể tùy theo nhu cầu của mình mà học điều mình thích. Còn thuyết thuần nhu vô cương hoặc thuần cương vô nhu, thì bất cứ võ thuật nào cũng đều không có. Cho dù là ngạnh công quyền thường được gọi, bên trong nó cũng vẫn có cương có nhu. Huống chi Thái Cực Quyền là một loại quyền thuật do âm dương tương tế sinh ra một loạt đặc sắc vừa tương tế vừa đối lập. Vì vậy, cái gọi là "nhu công Thái Cực Quyền" hay "cương công Thái Cực Quyền" là không tồn tại.
Phần 15
II. Thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương
Một người bất luận hắn có luyện qua võ thuật hay vận động khác hay không, nhưng trong sinh hoạt thường ngày ắt phải thường xuyên cầm vật nặng, dùng sức. Như vậy, liền khiến mỗi người trong động tác đều không khỏi mang theo cổ kình cương ngạnh. Nếu muốn học tốt vận động Thái Cực Quyền, thì đối với những cổ kình vốn có này ắt phải lấy khí thế "bách luyện thành cương, hà kiên bất tồi" (luyện trăm lần thành thép, cứng nào không tổn) mà loại bỏ nó đi — đây là yêu cầu sơ kỳ của luyện Thái Cực Quyền.
Trong thời kỳ này, phải cố gắng cầu nhu nhuyễn, ắt phải trong quá trình "thiên chùy bách luyện" (ngàn lần đập trăm lần luyện) đi giá tử khiến cương ngạnh kình vốn có trong động tác của người ta hóa thành nhu nhuyễn kình, và dưỡng thành thói quen nhu nhuyễn này. Đây là thời kỳ tồi khứ cương ngạnh vốn có và kiến lập nhu nhuyễn mới. Đặc sắc của thời kỳ này là tận lực cầu nhu, dưới nguyên tắc hào bất dụng lực mà động tác chậm rãi. Lúc này càng không dùng lực, thì càng dễ khiến người ta phát hiện khuyết điểm trong động tác, cũng có thể càng mau chóng tồi khứ cương ngạnh kình trong động tác. Vì vậy, có thể nói đây là một "lò luyện thép" tốt nhất, có thể đem vận động luyện đến tiết tiết nhu nhuyễn mà quán xuyến lại với nhau.
Yêu cầu của thời kỳ cầu nhuyễn tồi cương nói trên, là yêu cầu sơ kỳ của hóa ngạnh chuyển nhu. Bản kỳ này thì là thời kỳ chuyển nhu thành cương. Thời kỳ này, trước tiên phải làm rõ cương là loại cương có tính chất nào và làm thế nào mới có thể vận nhu thành cương. Quyền phổ nói, luyện quyền phải "hữu tâm cầu nhu, vô ý thành cương" (có tâm cầu mềm, không ý thành cứng), cho nên động tác không được dùng lực, yêu cầu toàn thân buông lỏng. Loại "tùng" (buông lỏng) này · 52 · là tùng có ý thức, nhưng không phải là tùng tĩnh mịch mà không có ý đồ, đồng thời nó và nỗ trách cổ kình cũng hoàn toàn không có chỗ chung. Cái gọi là "tùng" (buông lỏng) có nghĩa là do phóng trường thân thể và tứ chi mà đạt được tùng khai, do phóng trường của tùng khai mà khiến thân thể và tứ chi sinh ra tính đàn hồi. Tính đàn hồi tăng cường, thì trở thành bằng kình; bằng kình chính là lò xo kình mà Thái Cực Quyền yêu cầu. Sự tăng cường của lò xo kình này chính là cương mà Thái Cực Quyền yêu cầu.
Làm rõ tính chất của cương rồi, nay lại bàn một chút xem làm thế nào mới có thể vận nhu thành cương. Sự tăng cường của cương tính là nhờ nội khí quán xuyến mà thực hiện. Sự nâng cao chất lượng của cương tính, thì nhờ triền ty kình vặn qua vặn lại để tăng cường độ dai của tính đàn hồi mà thực hiện. Vì vậy, vận động như triền ty và phóng trường thân thể tứ chi liền trở thành mấu chốt để làm được vừa nhu nhất vừa cương nhất. Đây chính là điều quyền phổ nói: "Thường cầu nhu nhuyễn chi ư ngoại, cửu chi tự đắc kiên cương chi ư nội", "phi hữu tâm chi kiên cương, thực hữu tâm chi nhu nhuyễn". Thái Cực Quyền chính là như vậy mà từ nhu nhuyễn biến thành kiên cương; và chỉ có loại kiên cương do nhu nhuyễn biến thành này mới có thể đạt được cảnh giới thuần thục hốt nhu hốt cương, diệc nhu diệc cương.
Phần 16
IV. Biến hoán của cương nhu
Biến hoán cương nhu, trên thần khí mà nói, là thông qua ẩn và hiển mà biểu hiện ra: ẩn tắc nhu, hiển tắc cương; trên tư thế mà nói, là thông qua khai và hợp: trong quá trình vận kình biểu hiện là nhu, khi vận động đến điểm đáp thì biểu hiện là cương. Do có sự phối hợp giữa ẩn hiển của thần khí và khai hợp của kình thế, cương nhu liền được biểu hiện đầy đủ. Điểm đáp là điểm vận động đến tận cùng, chính là chỗ thần hiển khí tụ, cho nên lúc này chỗ này vận dụng cương pháp, có thể nói là vừa đúng chỗ. Ngoài điều đó ra, trong mọi quá trình chuyển hoán khai hợp, vì đều là quá trình thần khí cổ đãng và viên hoạt chuyển hoán biến hóa, lúc này đều nên dùng nhu pháp. Khái quát mà nói, mỗi động tác quyền thức đều có khai hợp, mỗi quá trình khai hợp đều có điểm đáp của vận động; điểm đáp phải dùng cương kình, còn các chỗ khác đều dùng nhu kình, để làm được cương nhu tương tế. Đây chính là chỗ đúng để vận dụng cương nhu tương tế, là một nguyên tắc phải tuân thủ · 53 · tắc, cũng là cơ sở để luyện ra bát môn kình biệt. Về phương diện này, có thể căn cứ theo thuyết pháp trong 《Cương Nhu Tương Tế Luận》 trong quyền phổ của Trần Nãi Chu, quy nạp chuyển hoán cương nhu thành năm điểm, để làm tham khảo.
(1) Nếu thuần dùng cương pháp, thì khí trải khắp toàn thân, khiên xế bất lợi, đến điểm đáp ắt không thể biểu hiện kiên cương.
(2) Nếu thuần dùng nhu pháp, thì khí tán không tụ, không có chỗ về, đến điểm đáp cũng không thể biểu hiện kiên cương.
(3) Nên cương mà dùng nhu, thì khí nên tụ mà không tụ; nên nhu mà dùng cương, thì khí nên tán mà không tán — đều không đắc được diệu dụng của cương nhu tương tế.
(4) Cho nên người thiện dụng cương nhu, khi đến điểm đáp thì dùng cương, như chuồn chuồn chấm nước, vừa chạm liền bay lên; đây là hình tượng chính xác của biểu hiện cương điểm. Trong mọi lúc vận động chuyển hoán thì dùng nhu, như bánh xe xoay chuyển lăn đi không ngừng; đây là hình tượng chính xác của biểu hiện nhu điểm.
(5) Ắt như vậy, mới đắc được diệu dụng của cương nhu tương tế, mới có thể loại bỏ khuyết điểm khí khiếm bất thực và nhu trệ bất lợi.
Phần 17
V. Sự nắm giữ cương nhu tương tế
(1) Cố gắng cầu nhu nhuyễn — khi mới học đi giá tử, chủ yếu là học tập các loại tư thế. Thông qua học tập những tư thế bất đồng này, trước tiên hóa khứ cương ngạnh kình vốn có trên thân, loại cương ngạnh kình này ai ai cũng có. Cho nên, ở giai đoạn này nên bất di dư lực mà tận lực cầu nhu nhuyễn; điều này đối với những người trước kia đã học ngạnh công quyền rồi sau chuyển học Thái Cực Quyền, lại càng tỏ ra quan trọng.
(2) Cố gắng phóng trường thân thể tứ chi, để sinh đàn hồi cương — sau khi luyện tập rất nhu, rất chậm như vậy một hai năm, nếu trong động tác đã trừ sạch cương ngạnh, đạt đến mức miên nhuyễn, và đã dưỡng thành thói quen này, thì có thể chuyển sang bước luyện tập tiếp theo. Lúc này, trước tiên trên ý niệm phải có ý niệm phóng trường khắp mọi chỗ của toàn thân, và trong tư thế động tác · 54 · theo quy định của quyền luận mà tiến hành đại lực bài tập chuyên môn phóng trường (như hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền, hàm hung bạt bối v.v.), nhờ đó khiến tâm ý và thân thể tứ chi trong sự phối hợp chặt chẽ mà chuyên tâm toàn thần phóng trường, để cầu đắc đàn hồi cương. Khi mới luyện quyền, đối với các quy định phóng trường, như hàm hung bạt bối v.v., chỉ dùng ý niệm là được; mà đến giai đoạn này, thì nên tiến hành chung trong dụng ý và thân thể tứ chi, bởi vì đến lúc này đã không còn đến nỗi vì phóng trường mà nhiễm thành bệnh tượng cổ kình ngược lại nữa.
(3) Làm tốt "nhu hành khí, cương lạc điểm" (nhu hành khí, cương đáp điểm) — sau khi phóng trường toàn thân đạt được yêu cầu, liền có thể tiến thêm một bước ở điểm đáp của mỗi khai hợp, kết hợp với sự ngoại hiển của thần khí mà hình thành điểm vuông, biểu hiện ra kình biệt của tứ chính và tứ ngung; đây là bài tập về phương trong "phương viên tương sinh" của Thái Cực Quyền. Ở điểm vuông phải biểu hiện ra cương vô cùng kiên cương (tức là phải khiến thân thể tứ chi căng cực chặt và dài), mà sau khi cương qua rồi thì yêu cầu trong toàn bộ quá trình vận động biểu hiện ra hành khí vô cùng nhu nhuyễn. Cả một lượt giá tử nên tiến hành dưới tình huống cương nhu tương tế như vậy. Vì vậy, khi luyện quyền nên ghi nhớ chắc chắn sáu chữ yếu lĩnh: "nhu hành khí, cương lạc điểm".
(4) Vận dụng cương nhu và "ý khí phong phát" — vận dụng cương nhu, ắt phải kết hợp với sự vận dụng của tâm ý, thần khí và hô hấp; tức là trên cơ sở "ý khí phong phát"
· 55 · mà phối hợp vận dụng hô hấp sâu dài để khiến thân thể tứ chi trầm xuống mà phóng trường, nhờ đó tăng cường tính đàn hồi, thành đàn hồi cương (như phát kình v.v.); trên cơ sở ý tĩnh khí liễm, mà khiến cơ nhục của tứ chi liên đới tùng khai, từ đó hình thành nhu nhuyễn hoạt bát vô trệ, do nhu nhuyễn biến hóa muôn vàn. Hai cái này trên sinh lý đều là một loại hiện tượng tự nhiên.
Tóm lại, cương của Thái Cực Quyền, không phải là cương của cổ kình; nhu của Thái Cực Quyền, không phải là nhu không có tính đàn hồi; mà là "ý khí phong phát" ngoại hiển để thành cương, ý tĩnh khí liễm nội ẩn để thành nhu. Tâm ý vừa động, thần khí theo đó; thần khí ẩn hiển, thì nhu cương biến hoán. Cho nên trong việc luyện tập một lượt giá tử, thần khí nên hốt ẩn hốt hiển, tâm ý nên không ngừng chỉ huy, thần khí còn phải không ngừng ẩn hiển và cổ đãng; như vậy cơ nhục mới có thể không ngừng biến hoán cương nhu. Đây là một con đường trọng yếu để nắm giữ và luyện tập biến hoán cương nhu.
Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ bảy, khái quát yếu lĩnh của nó như sau.
(1) Sơ kỳ phải hóa khứ cương ngạnh kình vốn có, càng nhu nhuyễn càng tốt; khoảng thời gian này cũng là càng dài càng tốt, thông thường cần một, hai năm.
(2) Toàn thân luyện đến miên nhuyễn rồi, thì có thể tiến thêm một bước cụ thể luyện tập phóng trường toàn thân, để luyện cương kình.
(3) Hành khí dùng nhu, lạc điểm dùng cương, là giới hạn phân chia cương nhu của Thái Cực Quyền.
(4) Tâm ý kết hợp với sự hốt ẩn hốt hiển của thần khí và hô hấp, là pháp tắc của Thái Cực Quyền đối với biến hoán cương nhu.
(5) Cương nhu đồng dạng đạt đến trình độ cao cấp, là tiêu chuẩn của danh hiệu diệu thủ Thái Cực Quyền①.
- ① Theo Trần Hâm 《Tổng Luận Phát Minh》 nói: "Thuần âm vô dương thị nhuyễn thủ, thuần dương vô âm thị ngạnh thủ; nhất âm cửu dương căn đầu côn, nhị âm bát dương thị tán thủ; tam âm thất dương do giác ngạnh, tứ âm lục dương loại hảo thủ; duy hữu ngũ âm tịnh ngũ dương, âm dương vô thiên xưng diệu thủ; diệu thủ nhất vận nhất Thái Cực, tích tượng hóa hoàn quy ô hữu" (Thuần âm không dương là tay mềm, thuần dương không âm là tay cứng; một âm chín dương là gậy đầu cán, hai âm tám dương là tán thủ; ba âm bảy dương còn thấy cứng, bốn âm sáu dương loại hảo thủ; chỉ có năm âm cùng năm dương, âm dương không lệch gọi là diệu thủ; diệu thủ một vận một Thái Cực, dấu vết hóa hết về hư vô). Đây là tiêu chuẩn của Trần thức đối với độ cương nhu của Thái Cực Quyền. Vì Trần Gia Câu ở vào sườn dốc Hoàng Hà, người tập ngạnh công quyền nhiều, do đó sợ rằng vì hoàn cảnh rèn luyện mà dần dần thiên về kiên ngạnh, nên có các danh hiệu ngạnh thủ, tán thủ, hảo thủ, diệu thủ, để làm tiêu chuẩn hạn chế người luyện quyền thiên về kiên ngạnh.
· 56 ·
Phần 18
Đặc điểm thứ tám: Vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn
Quyền phổ quy định①:
(1) "Động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy" (Đối phương động gấp thì ứng gấp, đối phương động chậm thì theo chậm);
(2) "Bỉ bất động, dĩ bất động; bỉ vi động, dĩ tiên động" (Người kia không động, ta không động; người kia hơi động, ta động trước);
(3) "Sơ học nghi mạn, mạn bất khả si ngai; tập nhi hậu khoái, khoái bất khả thác loạn" (Mới học nên chậm, chậm không được si ngai; tập rồi sau nhanh, nhanh không được thác loạn);
(4) "Hình kháng ngũ nhạc, thế áp tam phong, do từ nhập tật, do thiển nhập thâm" (Hình chống năm núi, thế ép ba đỉnh, từ chậm vào nhanh, từ nông vào sâu).
Từ bốn điều quy định trên có thể thấy, khi mới luyện sáo lộ Thái Cực Quyền (một lượt giá tử), động tác nên càng chậm càng tốt, có thể kéo dài thời gian. Động tác chậm lại rồi, mới có cơ hội sửa đổi, mới có thể kiểm tra ra chỗ không thuận lợi. Nhưng chậm không được chậm đến mức mặt mày biểu hiện si ngai; đây là hạn độ của chậm. Về sau, theo mức độ thuần thục nâng cao, có thể dần dần nhanh lên, rút ngắn thời gian cần để đi một lượt giá tử. Nhưng từ chậm chuyển nhanh, đồng dạng cũng phải có một hạn độ, tức là phải làm được tuy nhanh, nhưng động tác vẫn trầm ổn, vẫn biểu hiện ra kình biệt, và không phát sinh hiện tượng phù phiêu và thác loạn. Đây là nói về độ dài ngắn của thời gian cần để luyện một lượt giá tử. Trên tiền đề có thể chậm có thể nhanh này, khi vận dụng vào mỗi quyền thức thì phải đem cặp đối lập khoái mạn này thống nhất vào một
- ① Trong quyền phổ, hàm nghĩa của khoái mạn có hai nội dung:
Hàm nghĩa thứ nhất chỉ độ dài ngắn của thời gian cần để luyện một lượt giá tử. Như Giáp luyện một lượt giá tử cần mười hai phút, Ất cần mười lăm phút, thì chúng ta nói "Giáp khoái Ất mạn".
Hàm nghĩa thứ hai chỉ tốc độ vận động trong mỗi quyền thức. Nó là chậm ở chỗ chuyển quan, qua chuyển quan rồi dần dần nhanh, vận đến điểm đáp thì nhanh nhất, phát xong lại chuyển chậm.
Trong bốn câu nguyên tắc được dẫn dụng hiện nay, hai câu đầu chỉ hàm nghĩa thứ hai, hai câu sau chỉ hàm nghĩa thứ nhất. Đây là vấn đề phải phân rõ khi học tập.
· 57 · quyền thức, tức ở chỗ chuyển quan phải chậm, qua chỗ chuyển quan rồi thì dần dần nhanh lên, vận đến điểm đáp thì nhanh nhất, sau đó lại chuyển chậm, cứ thế tuần hoàn lặp lại. (Như trong Hình 17.) Cho nên mỗi quyền thức của Thái Cực Quyền đều phải trải qua sự rèn luyện có thể chậm có thể nhanh; như vậy mới có thể khi đẩy tay "bỉ vi động, dĩ tiên động", "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", sáng tạo điều kiện có lợi cho mình, và có thể đạt được sự thống nhất của khoái mạn tương gian.
Cho nên, vận động khoái mạn tương gian từ mạn đến khoái, từ khoái đến mạn trở thành đặc điểm thứ tám của Thái Cực Quyền.
Phần 19
I. Trình tự phát triển của khoái mạn
Giai đoạn mới học Thái Cực Quyền, quyết không được nhanh, phải tận lực cầu chậm, càng chậm càng tốt. Bởi vì chậm có thể chăm chú suy đoán tính chính xác của tư thế, có thể từ thô đến tinh, đối với lai long khứ mạch của mỗi động tác đều có đủ thời gian để thẩm tra; như vậy, tư thế liền dễ sửa chữa, và ở chỗ chuyển quan có thể kiểm tra ra có thuận lợi hay không. Nhưng chậm, cũng không phải là chậm vô thời hạn; thông thường sau một hai năm học tập, mô phỏng, kiểm tra và sửa chữa, là được. Điểm này khi mới học phải có một khái niệm chính xác. Đây là thời kỳ chỉ cầu tư thế chính xác, không cầu kình biệt phân minh.
Sự chậm của thời kỳ này còn phải có một điều kiện, tức là chậm phải trên tiền đề đề khởi tinh thần và thần bất ngoại tán mà cầu chậm. Nếu động tác chậm đến mức trên thần khí biểu hiện ra trì độn và ngai bản, trên hành động biểu hiện ra trệ trọng và bất linh, thì đã trái với yêu cầu của vận động ý khí Thái Cực Quyền rồi. Vì vậy, chậm phải trong trạng thái thần khí cổ đãng và ý khí linh hoán mà cầu chậm; đây là tiêu chuẩn của Thái Cực Quyền đối với chậm. Vì thế, khi mới học quyết không được nhiễm phải thói quen ý trệ, thần ngai này, gây khó khăn cho việc nâng cao về sau.
Về sau theo mức độ thuần thục nâng cao, có thể dần dần nhanh tốc độ lên; nhưng nhanh không được thác loạn, đây là thời kỳ rèn luyện kình biệt. Cuối cùng, sau khi công phu tinh tiến, quyền thức có thể từ khai triển phát triển thành khẩn thấu, khiến tốc độ vận động lại dần dần hoãn lại, mà chỗ chuyển quan · 58 · thì góc tốc độ lại càng nhanh hơn. Đây là công phu ba tầng: trước chậm, sau nhanh, lại hoãn; cũng là ba trình tự phát triển của khoái mạn.
Phần 20
II. Thời gian và điều kiện của việc chuyển từ mạn sang khoái
Vào lúc nào và dưới điều kiện nào thì chuyển từ mạn sang khoái là thích hợp nhất? Để trả lời vấn đề này, trước tiên phải làm rõ hai tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái.
(1) Động tác trầm ổn — trong toàn lượt giá tử, cho dù động nhanh hơn trước một chút, nhưng vẫn không được thay đổi tính trầm ổn vốn có của vận động; đây là gia tốc chính xác. Nếu không thể, và tỏ ra phù phiêu, thì chứng tỏ động tác đã gia tốc quá mức, phải lập tức chậm lại một chút. Dưới sự chỉ dẫn của tiêu chuẩn này, có thể theo mức độ thuần thục nâng cao mà dần dần nhanh lên.
(2) Có thể biểu hiện ra kình biệt — Thái Cực Quyền là do bát môn ngũ bộ cấu thành. Khi vận kình nên biểu hiện đầy đủ một trong bát kình (như bằng lãm tễ án của tứ chính, hoặc thái liệt trửu kháo của tứ ngung). Nếu động tác quá nhanh, vừa xoay liền trượt qua, thì không dễ biểu hiện ra kình biệt yêu cầu. Vì vậy, nếu cảm thấy mình rất khó biểu hiện ra kình biệt nữa, thì chứng tỏ động tác đã gia tốc quá mức, nên chậm lại một chút. Đây cũng là tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái①.
Hai điểm nói trên, chính là hai tiêu chuẩn của việc chuyển từ mạn sang khoái. Có hai tiêu chuẩn này rồi, liền có thể chỉ dẫn chúng ta nắm giữ chính xác thời gian và điều kiện của việc chuyển từ mạn sang khoái, khiến tốc độ vận động vừa đúng chỗ mà từ mạn chuyển thành khoái. Cái khoái được chỉ ở đây, cũng không phải là đem toàn bộ động tác Thái Cực Quyền đều đổi thành động tác nhanh, mà là trong khai hợp của mỗi quyền thức, chỗ chuyển quan chiết điệp đều phải lấy tùng phi tùng, tương triển vị triển mà biểu hiện ra lưu luyến miên
- ① Bất luận nhanh thế nào, để biểu hiện trầm ổn và kình biệt, giá tử thập tam thế của đệ nhất lộ nhanh nhất cũng không quá tám, chín phút. Đây là tốc độ khi thầy Dương Trừng Phủ năm 1914 công khai biểu diễn Thái Cực Quyền tại hội nghị thường niên của Nam Kinh Thể Dục Nghiên Cứu Xã.
· 59 · nhuyễn và nhuyễn nhuyễn động tác chậm. Vì vậy, cái gọi là khoái, chỉ là biểu hiện ra trong quá trình từ tròn chuyển sang vuông. (Như trong Hình 17.) Loại vận động gia tốc này là cơ sở sinh ra bát môn kình biệt; nếu không có loại góc gia tốc này, thì không có cách nào biểu hiện ra kình biệt của tứ chính và tứ ngung, cũng không có cách nào thích hợp yêu cầu "động cấp tắc cấp ứng". Phát kình của Thái Cực Quyền, chính là lợi dụng quá trình gia tốc này mà thực hiện: dưới điều kiện khai trung ngụ hợp và nội kình khúc súc, khi đạt đến gần mục tiêu, đột nhiên như dây cung tuột khấu mà chấn một cái mà phát, đem nội kình từ trong khoảng cách ngắn phát ra ngoài. Võ thuật gia gọi đây là "thốn kình" (kình tấc)①.
Phần 21
III. Khoái mạn tương gian và câu thanh, kình biệt
Căn cứ lý luận nói trên có thể biết, phàm là động tác mạn đơn độc hoặc động tác khoái đơn độc đều không hợp với yêu cầu âm dương tương tế của Thái Cực. Thứ hai, đối với lực chú ý của nhân loại
- ① "Thốn kình", phàm là súc phát kình trong khoảng cách một xích, đều gọi là thốn kình.
· 60 · mà nói, từ cơ sở sinh lý tâm lý có thể thấy rằng muốn khiến lực chú ý tiến hành chú ý lâu dài với cường độ ngang nhau mà không phá hoại tính ổn định của nó là không thể. Muốn khiến lực chú ý ổn định và ý chủng bất hoán tán, thì phải khiến cường độ của lực chú ý có cao có thấp. Mà Thái Cực Quyền là vận động ý khí, nó yêu cầu đem ý quán chú vào trong động tác, cho nên để không khiến ý chủng hoán tán, thì động tác phải khoái mạn tương gian; như vậy mới có thể phối hợp đặc tính khởi phục của ý khí, thúc đẩy lực chú ý được ổn định và thần khí cổ đãng. Kỳ thực, khoái mạn tương gian của động tác cũng là một loại bản năng tự nhiên của nhân loại; nó vừa là tất yếu của bảo kiện, cũng là không thể thiếu của kỹ kích. Vì vậy, lấy một quyền thức mà nói, yêu cầu đạt được khoái mạn tương gian (như trong Hình 17). Nhưng mà lấy một lượt giá tử mà nói, loại khoái mạn tương gian của mỗi quyền thức này còn yêu cầu có biên độ biến hóa đều đặn. Điều này cũng có nghĩa là, từ khi vận động bắt đầu đến khi kết thúc, cần chậm thì đều là chậm như nhau, cần nhanh thì đều là nhanh như nhau; dùng thuật ngữ Thái Cực Quyền mà nói, thì là phải làm được "câu thanh" (đều rõ). Giả sử có thể đạt được yêu cầu này, thì hô hấp của hắn ắt có thể điều tiết rất "câu thanh", sẽ không có hiện tượng dần dần trở nên cấp xúc. Loại công phu khiến động tác và hô hấp cả hai đều đạt được "câu thanh" này, là một loại biểu hiện cụ thể của tu dưỡng hữu tố của Thái Cực Quyền, là chân công phu có được do luyện lâu. Vì vậy, khi bắt đầu từ mạn chuyển khoái, quyết không được sợ hô hấp cấp xúc mà không dám làm động tác gia tốc — đó là nhân ế phế thực (vì nghẹn mà bỏ ăn). Tóm lại, Thái Cực Quyền phải như sóng của sông Trường Giang sông lớn, vừa thao thao bất tuyệt vừa câu thanh mà khởi phục vận động.
Thái Cực Quyền là do bát môn ngũ bộ cấu thành. Khi mới học, để hóa khứ chuyết lực cương ngạnh vốn có của thân thể tứ chi, cho nên tạm thời có thể không biểu hiện ra kình biệt, có thể chỉ tròn không vuông. Thời kỳ này cho phép không biểu hiện ra kình biệt, là vì luyện tập chưa đủ, công phu chưa sâu và thói quen chưa dưỡng thành; là vì lúc này nếu yêu cầu biểu hiện ra kình biệt, thì dễ sinh ra bệnh nỗ trách cổ kình, không còn có thể sinh ra đàn hồi kình của phóng trường thân thể tứ chi nữa.
Sau khi luyện qua công phu cầu nhuyễn tồi cương một hai năm, tự giác cương kình đã trừ sạch, thì có thể biểu hiện ra kình biệt khi đi giá tử. Biểu hiện ra kình biệt, chính là luyện tập · 61 · Thái Cực Quyền sở tất bất khả thiểu, cũng là bát kình sở yêu cầu, tức là khi gia tốc lực đến điểm đáp phải biểu hiện ra:
(1) Hướng ngoại có bằng kình, hướng nội có lãm kình, song hợp có tễ kình;
(2) Hướng xuống có án kình, song phân có thái kình, phát xuất có liệt kình;
(3) Cổ tay ra khỏi phương viên có trửu kình, cùi chỏ cánh tay lại ra khỏi phương viên có kháo kình.
Vận động như vậy, mới có thể nói là Thái Cực Quyền do bát môn ngũ bộ cấu thành. Vì thế, luyện quyền đến một thời kỳ nhất định rồi khi đi giá tử, nên làm đầy đủ động tác khoái mạn tương gian này. Khoái mạn tương gian vào luyện lâu tập, liền có thể khiến bát môn kình từ vô đến hữu, từ hữu đến cường, làm được bát môn ngũ bộ đúng như tên gọi.
Phần 22
IV. Sự nắm giữ khoái mạn tương gian
(1) Khi mới học tận lực cầu mạn — khi mới học, để tiện cho việc kiểm tra và sửa chữa mỗi động tác, ắt phải chậm, phải tuần tự tiệm tiến luyện qua thời kỳ cầu mạn này; quyết không được nóng vội, để tránh gây khó khăn cho việc nâng cao thêm.
(2) Phải trong tình huống tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán mà cầu mạn — khi mới học, vì kiểm tra và sửa chữa tư thế mà không thể không chậm. Nhưng như trên đã nói, chậm phải có một hạn độ; nói cách khác, không được chậm đến mức tựa động tựa đình, mắt định thần ngai, như thể ở đó nghĩ ngợi điều gì. Loại chậm này gần với công phu đứng giá tử, không phải điều hành động cần. Vì vậy, chậm phải trên tiền đề tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán mà cầu chậm; như vậy mới không đến nỗi sinh ra khuyết điểm si ngai và tinh thần hoán tán.
(3) Phải trong tình huống động tác trầm ổn và có thể biểu hiện ra kình biệt mà cầu khoái — cầu khoái cũng như cầu mạn, cũng không phải là đi lên khoái vô hạn; đồng dạng phải có một hạn độ: tuy nhanh, nhưng động tác vẫn phải trầm ổn. Khoái trầm ổn, là khoái mà Thái Cực Quyền yêu cầu; không trầm ổn thì là bệnh tượng. Đồng thời, còn phải trong tình huống có thể biểu hiện ra kình biệt mà cầu khoái, bởi vì biểu hiện ra kình rồi, liền hạn chế được khoái. Loại khoái này là có lợi vô hại · 62 · khoái — nó không đến nỗi phù phiêu bất trầm và kình biệt bất phân, không đến nỗi mất đi công năng phương viên tương sinh.
(4) Chỗ chuyển quan chậm, chuyển về điểm vuông thì nhanh — ba điểm trên nói rõ phân tấc nên nắm giữ đối với khoái mạn khi đi một lượt giá tử; nay lại bàn một chút về nguyên tắc khoái mạn của mỗi quyền thức. Thái Cực Quyền quy định, phàm ở chỗ chuyển quan chiết điệp thì nên chậm, qua chuyển quan rồi thì vận dụng gia tốc kình mà vận động lên nhanh, cứ thế tuần hoàn lặp lại mà tiến hành. Đồng thời, trong một lượt giá tử, sự biến hoán khoái mạn tương gian này còn yêu cầu đạt được "câu thanh". Đây là cơ sở để rèn luyện bát môn kình biệt, khiến nó từ vô đến hữu, từ hữu đến cường.
Để tiện cho việc nắm giữ đặc điểm thứ tám, khái quát yếu lĩnh của nó như sau.
(1) Khi mới học phải chậm, là để có cơ hội kiểm tra sửa chữa.
(2) Cầu mạn ắt phải lấy tinh thần đề khởi và ý khí linh hoán làm tiền đề.
(3) Theo mức độ thuần thục nâng cao, nên dần dần rút ngắn thời gian cần để đi một lượt giá tử. Nhưng cầu khoái, ắt phải lấy động tác trầm ổn và có thể biểu hiện ra kình biệt làm tiền đề.
(4) Nguyên tắc của khoái mạn tương gian là: chỗ chuyển quan chiết điệp thì chậm, qua chuyển quan rồi thì dần dần nhanh lên, qua điểm vuông rồi thì lại chuyển chậm. Đồng thời, khi chuyển quan thì hành khí phải chậm, điểm đáp ở tận cùng thì phải nhanh.
(5) Trong cả lượt giá tử, biên độ biến hóa của khoái mạn tương gian yêu cầu đạt được câu thanh.
Phần 23
Kết ngữ
Tám đặc điểm của Thái Cực Quyền là được chọn lọc ra từ quyền phổ Thái Cực Quyền, qua nhiều lần tinh luyện. Kinh nghiệm luyện quyền quý giá mà tiền nhân để lại, đã sớm trở thành nguyên tắc luyện tập Thái Cực Quyền hiện nay, cũng là chuẩn tắc mà mọi người luyện Thái Cực Quyền nhất trí tuân theo.
Ngoài ra nên chỉ ra rằng, đặc điểm tuy chia thành tám, nhưng thực chất của nó là một; cho nên khi luyện tập giá tử hoặc đẩy tay, không được cô lập mà đối đãi những đặc điểm này, ắt phải trong mỗi động tác đều dần dần làm được phù hợp với những đặc điểm này. Bởi vì bất cứ quyền thức hay động tác nào, đều phải vận dụng ý thức tập trung để chỉ huy toàn bộ quá trình động tác (đặc điểm · 63 · nhất), khiến thân thể tứ chi trên tiền đề tinh thần đề khởi mà có tính đàn hồi (đặc điểm hai), và trong sự biến hoán hư thực linh hoạt (đặc điểm bốn) cùng thuận nghịch xoắn ốc triền ty (đặc điểm ba), thúc thành nội ngoại tương hợp, đạt được tiết tiết quán xuyến của nhất động vô hữu bất động (đặc điểm năm) và nhất khí a thành của liên tương bất đoạn (đặc điểm sáu), biểu hiện ra chất lượng cương nhu tương tế (đặc điểm bảy) và tốc độ hữu mạn hữu khoái (đặc điểm tám); đây là đặc sắc mà Thái Cực Quyền nên có.
Từ phân tích trên có thể thấy, những đặc điểm này là tương hỗ y lại, tương hỗ chế ước, tương hỗ thúc tiến và tương hỗ chuyển hóa. Vì vậy, nếu cô lập mà đối đãi, ý đồ chỉ quán triệt một đặc điểm mà bỏ đi đặc điểm khác, thì không những tổn hại cái sau, mà đồng thời cũng ảnh hưởng cái trước. Cho nên những đặc điểm này không phải là đặc hữu của một động tác đặc định, lại càng không phải là một động tác nào chỉ có một đặc điểm nào, mà là đặc điểm mà mỗi quyền thức cấu thành toàn bộ sáo lộ Thái Cực Quyền đều nên có.
Thái Cực Quyền lưu hành hiện nay, bất luận là thức nào, cũng không hỏi tư thế là khai triển hay khẩn thấu, lại càng không quản lượt giá tử này có nhiều hơn mấy quyền thức hay ít hơn mấy quyền thức, chỉ cần quan sát kỹ càng, thì những giá tử Thái Cực Quyền ngoại biểu tuy có sai dị này, bên trong ít nhiều đều có những đặc điểm cộng đồng này. Chỗ bất đồng, chỉ là có cái biểu hiện rõ ràng ở ngoài, còn có cái thì lấy phương thức ám kình mà ẩn tàng bên trong. Điều này cũng nói rõ Thái Cực Quyền lưu hành mấy trăm năm mà không bị võ thuật khác đồng hóa, và vẫn có thể độc cụ nhất cách, đều là những đặc điểm cộng đồng này đã làm trung lưu để trụ. Vì vậy, khi học tập Thái Cực Quyền, không được coi nó là chuyện tầm thường mà đối đãi.
Nhưng khi mới học muốn một cái liền nắm giữ được tám đặc điểm này, đây là không thể. Khi mới học chỉ cần nhận thức được những đặc điểm này, biết nó là tổng kết kinh nghiệm mà tiền nhân để lại, hiểu rõ nó là nhân tố cơ bản cấu thành Thái Cực Quyền, thì không khó căn cứ theo kinh nghiệm của tiền nhân, tuân theo phương hướng mà tiền nhân đã chỉ ra mà vững bước tiến lên, không khó thu được công hiệu mà Thái Cực Quyền nên có.
· 64 · Chương hai: Đồ giải đệ nhất lộ Trần thức Thái Cực Quyền
Phần 24
Thứ tự tên các quyền thức của đệ nhất lộ Trần thức Thái Cực Quyền
| Số | Tên thức | Số | Tên thức |
|---|---|---|---|
| Thức 1 | Thức dự bị | Thức 16 | Phi thân chùy |
| Thức 2 | Kim cương đảo đối | Thức 17 | Bối triết kháo |
| Thức 3 | Lãn trát y | Thức 18 | Thanh long xuất thủy |
| Thức 4 | Lục phong tứ bế | Thức 19 | Song thôi thủ |
| Thức 5 | Đơn tiên | Thức 20 | Tam hoán chưởng |
| Thức 6 | Đệ nhị kim cương đảo đối | Thức 21 | Trửu để chùy |
| Thức 7 | Bạch hạc lượng sí | Thức 22 | Đảo quyển quăng |
| Thức 8 | Tà hành ảo bộ | Thức 23 | Thoái bộ áp trửu |
| Thức 9 | Sơ thu | Thức 24 | Trung bàn |
| Thức 10 | Tiền thang ảo bộ | Thức 25 | Bạch hạc lượng sí |
| Thức 11 | Đệ nhị tà hành ảo bộ | Thức 26 | Tà hành ảo bộ |
| Thức 12 | Tái thu | Thức 27 | Thiểm thông bối |
| Thức 13 | Tiền thang ảo bộ | Thức 28 | Yểm thủ quăng chùy |
| Thức 14 | Yểm thủ quăng chùy | Thức 29 | Lục phong tứ bế |
| Thức 15 | Đệ tam kim cương đảo đối | Thức 30 | Đơn tiên |
· 65 ·
| Số | Tên thức | Số | Tên thức |
|---|---|---|---|
| Thức 31 | Vận thủ | Thức 58 | Vận thủ |
| Thức 32 | Cao thám mã | Thức 59 | Bãi cước điệt xoa |
| Thức 33 | Hữu sát cước | Thức 60 | Tả hữu kim kê độc lập |
| Thức 34 | Tả sát cước | Thức 61 | Đảo quyển quăng |
| Thức 35 | Đặng nhất căn | Thức 62 | Thoái bộ áp trửu |
| Thức 36 | Tiền thang ảo bộ | Thức 63 | Trung bàn |
| Thức 37 | Kích địa chùy | Thức 64 | Bạch hạc lượng sí |
| Thức 38 | Phiên thân nhị khởi cước | Thức 65 | Tà hành ảo bộ |
| Thức 39 | Thú đầu thế | Thức 66 | Thiểm thông bối |
| Thức 40 | Toàn phong cước | Thức 67 | Yểm thủ quăng chùy |
| Thức 41 | Đặng nhất căn | Thức 68 | Lục phong tứ bế |
| Thức 42 | Yểm thủ quăng chùy | Thức 69 | Đơn tiên |
| Thức 43 | Tiểu cầm đả | Thức 70 | Vận thủ |
| Thức 44 | Bão đầu thôi sơn | Thức 71 | Cao thám mã |
| Thức 45 | Tam hoán chưởng | Thức 72 | Thập tự bãi liên |
| Thức 46 | Lục phong tứ bế | Thức 73 | Chỉ đang chùy |
| Thức 47 | Đơn tiên | Thức 74 | Bạch viên hiến quả |
| Thức 48 | Tiền chiêu | Thức 75 | Lục phong tứ bế |
| Thức 49 | Hậu chiêu | Thức 76 | Đơn tiên |
| Thức 50 | Dã mã phân tông | Thức 77 | Tước địa long |
| Thức 51 | Lục phong tứ bế | Thức 78 | Thượng bộ thất tinh |
| Thức 52 | Đơn tiên | Thức 79 | Thoái bộ khóa hổ |
| Thức 53 | Song chấn cước | Thức 80 | Chuyển thân song bãi liên |
| Thức 54 | Ngọc nữ xuyên toa | Thức 81 | Đương đầu pháo |
| Thức 55 | Lãn trát y | Thức 82 | Kim cương đảo đối |
| Thức 56 | Lục phong tứ bế | Thức 83 | Thu thế |
| Thức 57 | Đơn tiên |
· 66 ·
Phần 25
Mấy điểm nói rõ về đồ giải
1. Các hình phân giải động tác trong đồ giải đệ nhất lộ là được mô vẽ theo ảnh quyền của bạn học Trần Chiếu Khuê. Các hình phân giải động tác trong đồ giải đệ nhị lộ (pháo chùy) là được vẽ theo ảnh quyền của thầy Trần Phát Khoa; ngoài ra, căn cứ theo nhu cầu của việc phân giải động tác, lại theo thể hình của bạn học Trần Chiếu Khuê mà tăng vẽ thêm một số hình.
2. Để tiện cho độc giả tra đối phương hướng của quyền thức, quy ước phương hướng của tư thế trong ảnh hình là: quay mặt về phía độc giả bằng hướng nam, quay lưng về phía độc giả bằng hướng bắc, bên phải của người quay mặt về phía độc giả bằng hướng đông, bên trái của người quay mặt về phía độc giả bằng hướng tây. Sau khi độc giả luyện tập thuần thục rồi, có thể căn cứ theo hình dạng sân bãi mà tùy chọn phương hướng, không nhất định phải đem thức dự bị bắt đầu từ đứng quay mặt về hướng nam.
3. Tất cả mũi tên có đường liền nét hoặc đường đứt nét trong hình, đều biểu thị xu hướng động tác của tay hoặc chân; tất cả mũi tên trong hình đều biểu thị xu hướng động tác từ hình này quá độ đến hình sau. Phàm động tác tương đối đơn giản, dùng văn tự là có thể nói rõ, thì không còn biểu thị xu hướng động tác của nó trong hình, có thể tham khảo văn tự và hình sau là có thể hiểu rõ; ngoài ra, đối với quyền thức giống với một thức nào đó ở phía trước, mà hình phân giải động tác được lược từ mấy bức thành một hoặc hai bức, thì có thể tham khảo hình phân giải của quyền thức giống nhau ở phía trước, không còn biểu thị xu hướng động tác của nó trong hình đã lược thành một hoặc hai bức nữa.
4. Mũi tên có đường liền nét biểu thị xu hướng động tác của tay phải hoặc chân phải, mũi tên có đường đứt nét biểu thị xu hướng động tác của tay trái hoặc chân trái.
5. Do động tác của chân trong Thái Cực Quyền cũng khá tinh tế, để biểu thị chân và mặt đất, bên cạnh chân có vẽ bóng mờ để phân biệt. (Tham khảo hình dưới đây.)
· 67 · (Tiếp theo trang trước, điểm thứ 5 của mấy điểm nói rõ về đồ giải — cách biểu thị bóng mờ của chân với mặt đất)
a. Bên cạnh chân có bóng mờ liền thành một khối, biểu thị cả bàn chân chạm đất.
b. Bên cạnh chân không có bóng mờ, biểu thị cả bàn chân rời đất.
c. Bóng mờ bên cạnh chân chỉ liền ở chỗ gót chân, biểu thị gót chân chạm đất.
d. Bóng mờ bên cạnh chân chỉ liền ở chỗ mũi chân, biểu thị mũi chân chạm đất.
Phần 26
Trần thức Thái Cực Quyền đệ nhất lộ
Thân thể đứng ngay ngắn, khoảng cách hai chân hơi rộng hơn vai, hai mũi chân hơi xoay ra ngoài, hai cánh tay buông xuôi tự nhiên, mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 1)
Yếu điểm:
· 68 · Thức dự bị là sự chuẩn bị về ý thức và tư thế trước khi bắt đầu động tác; nó yêu cầu: nội cố tinh thần, ngoại thị an dật (bên trong củng cố tinh thần, bên ngoài tỏ ra an nhàn); hư lĩnh đỉnh kình, tức là đầu phải ngay ngắn, đỉnh đầu phải hư hư lĩnh khởi, đỉnh kình như thể được treo lơ lửng; môi khẽ khép, răng khẽ chạm, cằm dưới hơi thu vào trong; trầm kiên, tức là hai vai hơi cuộn về trước, và buông lỏng trầm xuống; hàm hung bạt bối, tức là ngực không lõm vào hay ưỡn ra mà ngậm lại, lưng sống phải có ý kéo dài lên xuống; đang phải khai, và có cảm giác tròn hư; hai gối hơi cong, đứng mà không thẳng cứng, khớp gối để lại dư địa; toàn thân buông lỏng, hô hấp tự nhiên, ý tồn đan điền.
Những yếu điểm nói trên, không những khi làm thức dự bị, mà còn khi làm bất cứ động tác nào của toàn bộ quyền sáo, đều phải khắc khắc chú ý. Ngoài ra, như trên đã nói, các phương diện tuy cố nhiên mỗi cái có yêu cầu riêng, nhưng lại ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ: do vai hơi cuộn về trước và tùng trầm, liền dễ làm được hàm hung bạt bối, tinh thần nội cố, khí trầm đan điền và hư lĩnh đỉnh kình; do gối hơi cong, thì đang dễ khai mà tròn (đang tức là phần hội âm giữa hai chỗ đại tiểu tiện; khai đang tức là cảm thấy có khí đề khởi và phần da thịt này không sa xuống).
Động tác một: Thân hơi hạ ngồi xổm, hai cùi chỏ hơi cong, hai lòng bàn tay hướng xuống (hai tay có ý hợp kình), mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 2) Thân thể hơi xoay sang trái; đồng thời hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, nâng lên về phía góc chéo trước trái đến cao ngang vai, hai lòng bàn tay vẫn hướng xuống. (Hình 3) Thân thể xoay sang phải, và tiếp tục hạ ngồi xổm, trọng tâm toàn bộ chuyển lên chân phải, chân trái nâng lên; trong lúc xoay thân, hai tay vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền mà triển khai về phía sau phải, lòng bàn tay hướng về sau phải, các ngón tay duỗi dài chớ mềm. (Hình 4)
Động tác hai: Mũi bàn chân trái vểnh lên, lấy mặt trong gót chân dán đất mà xẹt về phía trước trái · 69 · ra, theo trọng tâm tiến về trước, dần dần đến chân trái đạp chắc; đồng thời hai chưởng vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền, triển khai triền ty về phía sau phải và hơi trầm, cùng lúc chân trái đạp chắc, hai tay theo thân trọng lượng tiến về trước. (Hình 5 Giáp, Hình 5 Ất) Trọng tâm tiến về trước chuyển lên chân trái, thân thể theo đó xoay trái; chân phải bước lên trước một bước, lấy mũi chân điểm đất; đồng thời hai tay từ sau hướng tới trước tả nghịch, hữu thuận triền, tay trái lòng bàn tay hướng xuống, cong cùi chỏ tễ về trước, tay phải theo lúc chân phải bước lên mà liêu về trước, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 6)
· 70 · Động tác ba: Chưởng phải biến thành quyền, từ ngoài hướng lên thuận triền; chưởng trái từ trong hướng xuống thuận triền; đồng thời chân phải nâng về. (Hình 7) Chưởng trái hạ đến trước bụng, quyền phải liền hạ vào trong lòng bàn tay trái; đồng thời chân phải đạp đất chấn cước bên cạnh chân trái. (Hình 8)
Yếu điểm:
1. Triền ty kình chính là Thái Cực kình, là hạch tâm cấu thành Thái Cực Quyền. Nó là do hai loại triền ty cơ bản đối lập thống nhất lại. Bất cứ động tác nào của toàn bộ Thái Cực Quyền, từ đầu đến cuối đều không được rời khỏi triền ty kình. Vì vậy, triền ty kình quán xuyến suốt quá trình của mọi động tác. Thuận nghịch hai loại triền ty là điều mà động tác của toàn bộ quyền đều phổ biến có; mỗi động tác trong quyền thức đều có thuận nghịch triền ty, cho nên thuận nghịch triền ty là thuộc về triền ty cơ bản có tính phổ biến. Còn lý ngoại, thượng hạ, tả hữu, tiền hậu, đại tiểu, năm cặp này là để hình dung điểm bất đồng về phương vị và đại tiểu của triền ty trong mỗi động tác, cho nên thuộc về triền ty phương vị có tính đặc thù. Nhưng không có nghĩa là trên triền ty thuận nghịch có tính phổ biến thì chỉ có một cặp triền ty phương vị đơn nhất, mà là căn cứ theo yêu cầu của mỗi động tác, có cái là đơn nhất, như tả hữu thuận nghịch; có cái thì vừa có bất đồng thượng hạ, lại vừa có bất đồng lý ngoại, như động tác ba (Hình 7) chính là như vậy. Về triền ty kình có thể tham khảo đặc điểm thứ ba, và ở · 71 · Trong đặc điểm thứ ba có đồ triền ty để tham khảo.
2. Thức này là thế thứ nhất trong thập tam thế của Thái Cực Quyền; ở giữa đã trải qua việc vận dụng năm cặp triền ty kình, cuối cùng một cái đảo (chấn cước và quyền phải đập xuống vào trong lòng bàn tay trái), tức là biểu thị quyền thức này kết thúc.
3. Tác dụng của chấn cước là khiến khí toàn thân trầm xuống, và có lợi cho tuần hoàn máu. Ví dụ, đứng lâu cảm thấy mệt mỏi, mà hoàn cảnh lại không cho phép đi lại, thì hai chân lấy mũi chân điểm đất, nâng gót chân lên, rồi hạ xuống chấn nhẹ; vận động như vậy mấy lần, đồng dạng có thể thu được công hiệu khôi phục mệt mỏi. Ngoài ra, nặng nhẹ của chấn cước có thể căn cứ theo tuổi tác và thân thể mạnh yếu của người luyện mà định; nhưng bất luận nhẹ hay nặng đều phải khiến kình trầm xuống được chỉnh. Kình chỉnh hay không, còn có thể căn cứ theo tiếng chấn cước mà phán đoán.
4. Bất cứ động tác nào của Thái Cực Quyền đều yêu cầu "trầm kiên trụy trửu". "Trầm kiên" đã được giải thích trong yếu điểm của thức dự bị; "trụy trửu" tức là hai cánh tay trong bất cứ động tác nào, khớp cùi chỏ đều phải giữ cong nhất định, không được thẳng cứng, và đầu cùi chỏ có ý trụy xuống.
5. Chưởng trong Trần thức Thái Cực Quyền yêu cầu các ngón tay cong về sau, tức là ngoài ngón tay cái ra, bốn ngón còn lại đều cong nhẹ về phía mu bàn tay (tham khảo hình chưởng trong các hình). Như vậy, có thể khiến khí quán chú vào giữa các đầu ngón (khí đạt lưỡng sao), còn có thể cảnh tỉnh và tiêu trừ khuyết điểm cánh tay dùng chuyết lực.
Động tác một: Thân trước hơi xoay trái, rồi chuyển thành hơi xoay phải, tức thì xoay về chính; đồng thời hai tay ở trước bụng dưới theo thân xoay từ trái hướng ra ngoài và lên rồi sang phải và xuống vòng một vòng nhỏ (lại trở về tư thế của Hình 8). Tiếp đó thân thể lại từ hơi xoay trái chuyển thành hơi xoay phải; đồng thời hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, hợp kình giao nhau ở trước ngực; từ chân trái thực chuyển thành chân phải thực. (Hình 9) Hai tay mở rộng vòng triền ty, hữu thượng thuận, tả hạ nghịch triền mà tách ra, hình thành khai kình; khi khai từ chân phải thực biến thành chân trái thực. (Hình 10–11) Trọng tâm toàn bộ chuyển lên chân trái, chân phải nâng lên, tức lấy gót chân xẹt ra về phía phải dán đất; đồng thời hai tay · 72 · Tiếp tục vạch cung, từ đại khai chuyển thành đại hợp song thuận triền (Hình 12 Giáp); trọng tâm dần dời sang phải, mũi bàn chân phải đạp vững, thân thể hơi xoay trái, tay phải hơi mở sang trái. (Hình 12 Ất)
Động tác hai: Thân thể hơi xoay phải, theo trọng tâm dời sang phải, dần đến chân phải biến thành thực; đồng thời hai tay từ hợp lại mở ra, tay phải đại thuận triền chuyển cánh tay mở sang phải, tay trái tiểu nghịch triền rồi lật bàn tay đặt trước lưng eo trái, lòng bàn tay trái hướng lên. (Hình 13) Thân thể xoay thẳng, điều chỉnh hậu khóa, toàn thân buông lỏng, khí trầm xuống. (Hình 14)
Yếu điểm: 1. Khi chân phải bước ra, phải đúng lúc tay phải hướng trái thuận triền trầm xuống, thì mới có cái thế · 73 · cảm giác tay trầm xuống sang trái mà đè chân phải đẩy ra sang phải. Đến khi tả nghịch, hữu thuận lại hợp nhau, động tác này biểu hiện đầy đủ yêu cầu "nhất động vô hữu bất động" của đặc điểm thứ năm.
2. Trần thức Thái Cực Quyền khi bắt đầu mỗi thức đều phải do bên trong dẫn động bên ngoài, cho nên về hình dáng bên ngoài có một vòng nhỏ dẫn dắt động tác phía sau. Như khi bắt đầu làm Kim cương đảo đối (Vajra Pounds the Mortar) từ thức dự bị, hai tay ở bên hông co khuỷu hơi nâng, tức lòng bàn tay hướng xuống hơi ấn, tạo thành hợp kình, rồi mới động tác lên; khi bắt đầu làm Lãn trát y (Lazily Tucking the Robe) từ Kim cương đảo đối, hai tay thì vạch một vòng nhỏ trước bụng (như đường chấm hai tay trong Hình 8). Khi mỗi thức hoàn thành đều có một động tác điều chỉnh, như Kim cương đảo đối cuối cùng là một cái giậm, còn Lãn trát y cuối cùng là thân thể xoay thẳng, điều chỉnh hậu khóa.
3. Thức này biểu hiện đầy đủ quan hệ trên dưới (tay với chân) tương tùy. Vạch một · 74 · Khi vòng chuyển lên bằng kình thì tay là hư, chân dưới tay liền biến thành thực, ngược lại thì là hư. Đây cũng là mấu chốt để cầu được nội kình trung chính (nhưng người nâng chân đứng riêng thì trừ ra. Vì một chân đứng, để giữ trung chính, cân bằng trọng tâm, chân riêng đang đứng là thực, tay trên chân thực vẫn phải thực). Điều này trong Hình 10 và Hình 11 biểu hiện rõ nhất.
4. Lãn trát y là một trong những thức cơ bản của Trần thức Thái Cực Quyền, nó được hình thành bởi tay trái tiểu lý nghịch triền và tay phải đại ngoại thuận triền; yêu cầu làm được không có lồi lõm, không có khuyết hãm và nội kình không đứt đoạn, nhất là tiểu lý nghịch triền khó hơn, phải chú ý và luyện tập nhiều mới đạt được yêu cầu. Trong thức Lãn trát y này, càng phải chú ý trong thu (khi co vòng) có phóng, trong phóng (khi mở vòng) có thu; mấu chốt là trong quá trình thu phóng thêm nhiều thành phần triền ty trong ngoài, thì dễ đạt được yêu cầu ấy; chỉ khi đạt được yêu cầu ấy mới có thể "khiên động vãng lai khí thiếp bối".
5. Hai cánh tay bằng kình chuyển thành hợp kình: do khí dán vào lưng sống và hai cánh tay đụng nhau, khiến bằng kình không mất, thì sinh ra diệu dụng "hợp trung ngụ khai"; đồng dạng do hai cánh tay đụng nhau, khi hai cánh tay tách ra thành khai kình, bên trong lại vẫn có hợp kình, lại sinh ra diệu dụng "khai trung ngụ hợp".
· 75 · Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời sang trái, chân trái biến thành thực; đồng thời hai tay trước tiên mỗi tay tại chỗ xoay cánh tay vạch một vòng nhỏ (để dẫn khởi động tác), tức tay phải đại thuận triền chuyển cánh tay bằng đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền bằng đến trước ngực, hai tay hình thành hợp kình; thân thể hơi xoay phải, trọng tâm dời sang phải, tay trái lấy bên ngón cái áp sát sườn phải cuộn xoay vào trong, thành lòng bàn tay hướng trái, tay phải nghịch triền khiến lòng bàn tay lật hướng xuống (Hình 15 Giáp, Hình 15 Ất). Thân thể hơi xoay phải, trọng tâm dời sang phải, chân phải biến thành thực; đồng thời, tay phải chuyển cánh tay thuận triền, lòng bàn tay trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình, hướng lên trên phải vạch cung tễ ra (Hình 16).
Động tác hai: Thân thể lại hơi xoay trái, trọng tâm lại dời về chân trái, chân trái biến thành thực. Đồng thời, tay phải thuận triền nâng đỡ lên, kình xuyên tới lòng bàn tay và ngón tay, ngón tay chớ mềm; tay trái nghịch triền chuyển cánh tay, lấy một bên khớp cổ tay phía mu bàn tay vạch cung bằng sang trái trên, kình xuyên tới mu bàn tay, năm ngón tay xiên rủ xuống, ngón tay chớ mềm. (Hình 17—18) Thân thể tiếp tục hơi xoay trái; đồng thời hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài. (Hình 19) Lập tức hai bàn tay hợp kình ấn xuống phải (bắt đầu hít ra một hơi sâu, khi hô hấp sâu kết thúc thì đúng lúc hai ấn tới đáy, lấy hô khí làm chủ, động tác phối hợp làm khách); đồng thời, thân thể theo hai tay ấn phải mà xoay phải, trọng tâm cũng theo đó dời sang chân phải, chân trái bước sát sang phải lấy mũi bàn chân chấm bên cạnh chân phải. (Hình 20)
Yếu điểm: · 76 · 1. Hai tay từ hợp chuyển khai hoặc từ khai chuyển hợp, đều phải lấy lưng sống eo làm trục (sự xoay chuyển của thân thể) để dẫn dắt; khi xoay trái phải thân trên vẫn phải thẳng đứng, chớ cúi trước ngửa sau; khi hai lòng bàn tay ấn xuống, phải khí dán lưng sống, nách tròn rỗng, lấy tay phải làm chủ, tay trái làm khách.
2. Thức Lục phong tứ bế này có nghĩa là sáu phần phong bốn phần bế. Tác dụng của nó giống với "kim cương đẩu lực" trong Ngũ Cầm Kinh của Hoa Đà. Khi hai tay ấn xuống, phải chúm môi thở ra thật chậm một hơi dài sâu, điều này rất có ích cho việc điều chỉnh hệ hô hấp.
Động tác một: Thân thể hơi xoay phải rồi xoay trở lại sang trái; đồng thời tay phải thuận triền hướng vào trong, tay trái · 77 · Tay nghịch triền hướng ra ngoài mỗi tay lật một vòng, lập tức tay phải biến thành câu thủ nâng lên bên phải, lòng bàn tay trái vạch cung dời tới trước bụng; khi thân thể xoay qua lại trái phải, chân trái cũng theo đó lấy mũi bàn chân chấm đất xoay trở. (Hình 21—22)
Động tác hai: Tiếp theo trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, nâng chân trái lên, thân thể ngồi xổm, tức lấy gót chân trái hướng trái hư hư dán đất đạp ra, lúc này gốc khóa càng mở rộng, theo trọng tâm dời sang trái, dần đến mũi bàn chân trái chạm đất, chân trái biến thành thực. (Hình 23—24)
Động tác ba: Lòng bàn tay trái từ trước bụng hơi nâng lên trên phải, tức vạch cung sang trái thuận triền, triền đến bên trái cao ngang vai thì lấy gốc bàn tay hơi ấn xuống; khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái chuyển ấn, tay phải phối hợp hơi thuận triền hướng ngoài hình thành khai kình; tỷ lệ thực hư hai chân cũng đồng thời gia tăng, vừa hình thành Đan tiên thì buông lỏng hậu khóa, xoay thẳng thân thể. (Hình 25—26)
· 78 · [đến khi lòng bàn tay trái triền đến bên trái] thì tay phải phối hợp hơi thuận triền hướng ngoài hình thành khai kình; tỷ lệ thực hư hai chân cũng đồng thời gia tăng, vừa hình thành Đan tiên thì buông lỏng hậu khóa, xoay thẳng thân thể. (Hình 25—26)
Yếu điểm: 1. Trong động tác một, khi hai tay tại bên phải thân thể mỗi tay lật một vòng trọn, phải vận dụng lưng sống eo làm trục để dẫn dắt, mới làm được viên kình tiêu sái, đồng thời khiến động tác ấy biểu hiện ra kình từ gót chân phải qua lưng sống thăng lên mà hình thành nơi ngón tay trái, rồi buông lỏng hậu khóa, khi xoay thẳng lại thì lại biểu hiện kình ấy từ ngón tay trái vắt ngang lưng sống, cho đến khi tay phải hợp bằng mà móc lên. Động tác này lấy gót chân trái chạm đất làm thực, nhưng phải chú ý "hư" chẳng phải hoàn toàn vô lực, "thực" chẳng phải hoàn toàn đứng chết, bởi vì khi gót chân trái chạm đất xoay trở, trọng tâm trên chân trái cũng theo sự xoay chuyển của thân thể mà có tăng giảm.
2. Trong động tác hai, chân trái bước sang trái, yêu cầu mũi bàn chân vểnh lên, lấy gót chân dán đất nhẹ nhàng đạp ra, như mèo bắt chuột khi bước, mới có thể vững mà không trệ, nhẹ mà không phù, tỏ ra trầm ổn mà lại nhanh nhẹn.
3. Thái Cực Quyền yêu cầu ý khí phải chuyển đổi cho linh hoạt; Đan tiên chính là một ví dụ hay: khi tay trái triền sang trái thì ý chú vào tay trái, đến khi hoàn thành xoay thẳng thân thể thì ý lại chuyển chú vào tay phải, cho nên Hình 25 và Hình 26 khác nhau: Hình trước ý chú tay trái, Hình sau đã chuyển sang tay phải.
4. Thức này lấy vận động tay trái làm chủ, gia tăng lượng vận động của tay trái, bởi vì trong toàn · 79 · bộ quyền tay trái vận động ít hơn tay phải. Ngoài ra, yêu cầu tay trái chuyển cánh tay sang trái như roi mềm vung ra, vận kình đến ngón giữa lòng bàn tay trái (như Hình 25). Do thức này đối lập với Lãn trát y lấy vận động tay phải làm chủ, cho nên Lãn trát y và Đan tiên là thức thứ hai của Thái Cực Quyền, gọi là nhị nghi thức. Ngoài ra, tuy đều lấy luyện một tay làm chủ, nhưng phải khiên động đến nhất động vô hữu bất động, để đạt được tiết tiết quán xuyến. Yêu cầu này khó hơn luyện toàn động bằng hai tay, phải lấy vận dụng đặc điểm thứ năm làm trọng điểm.
5. Tám đặc điểm của Thái Cực Quyền phải biểu hiện trong mỗi động tác, cũng có thể nói Thái Cực Quyền là quyền vận động liên hợp tám đặc điểm. Tuy nhiên, đối với một động tác nào đó thì lấy một đặc điểm nào đó làm nội dung chính, các đặc điểm còn lại là thứ yếu, nhưng không có nghĩa là không vận dụng các đặc điểm còn lại nữa. Vì vậy phải làm rõ đặc điểm thứ năm nêu trên chỉ là nói trong thức ấy lấy đặc điểm này làm chủ mà thôi.
6. Bất cứ động tác nào của Thái Cực Quyền đều yêu cầu "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư", cho nên khi làm thức này phải chú ý khiến cánh tay phải và khớp gối phải hơi co, không được duỗi thẳng.
Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, cửa đáy quần mở rộng; đồng thời hai cánh tay trầm xuống, trái nặng phải nhẹ, lòng bàn tay trái tại bên trái nghịch triền một vòng trọn, tay phải câu thủ biến thành chưởng ngoại thuận triền thành lòng bàn tay hướng ngoài trên, hai cánh tay ngoại bằng và hợp giữ kình. (Hình 27)
Động tác hai: Hai tay mở rộng vòng triền ty, lấy tả nghịch, hữu thuận triền từ trái mà lên hợp giữ kình chuyển sang phải; tay trái dời đến trước ngực phải, lòng bàn tay hướng phải, tay phải chuyển đến bên phải, cao ngang đầu; khi hai tay bắt đầu chuyển sang phải, trọng tâm dời phải, chân phải biến thành thực. (Hình 28) Trở xuống giống · 80 · phần sau của lời giảng động tác hai của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối", chỉ khác là phương hướng khác, khi thức này hoàn thành thì mặt hướng chính đông.
Động tác ba giống động tác ba của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối", chỉ khác là phương hướng khác, thức này mặt hướng chính đông. (Tiếp Hình 7—8)
Yếu điểm: 1. Trong động tác một, hai tay mỗi tay triền một vòng nhỏ để dẫn động động tác phía sau, làm động tác chuẩn bị cho thức này.
2. Hợp kình của hai tay trong Hình 27 khác với hợp kình trong các tư thế hợp thức phía trước, mà là hợp kình trong khai thế, cần phân biệt cho rõ.
3. Tư thế trong Hình 28 là do hai cánh tay tương hệ, trải qua tả nghịch, hữu thuận mỗi tay triền một vòng mà hình thành, đồng thời là hai cánh tay tương hệ hợp giữ kình dưới, vận dụng thân pháp lấy lưng sống eo làm trục mà hoàn thành.
4. Còn lại giống yếu điểm của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối".
Động tác một giống động tác một của Đệ tam thức "Lãn trát y", chỉ khác là chỗ nối động tác này với "Kim cương đảo đối", hai tay không vạch vòng nhỏ trên bụng dưới mà trực tiếp làm động tác bắt chéo trước ngực. (Hình 29—31)
Động tác hai: Theo chân phải bước ra sang phải, tiếp theo trọng tâm dời sang chân phải, chân trái sát lại chân phải, lấy mũi bàn chân hư điểm bên cạnh chân phải; đồng thời với việc trọng tâm dời phải, hai tay đều nghịch triền, tay phải vạch cung tách lên trên phải, tay trái tách xuống dưới trái. (Hình 32—) Tất cả động tác của thức này đều phải làm theo hướng chính đông, từ bốn bức Hình 29—32 cho thấy · 81 · (đều cho thấy mặt chính của nó)
Yếu điểm: 1. Thức này và Đệ tam thức "Lãn trát y" đều nối tiếp vào "Kim cương đảo đối", nhưng động tác nối tiếp khác nhau: thức này không lấy hai tay vạch vòng nhỏ trước bụng để nối tiếp, mà yêu cầu khí dán lưng sống, hai cánh tay trước tiên hơi mở rồi sau hợp lại bắt chéo; như vậy để nối liền với kình của quyền thức trước, đồng thời lại biểu hiện ý muốn hợp ắt trước phải rời ra, để đạt tới đặc điểm · 82 · — thứ sáu, "tương liên bất đoạn". Khi hợp đến điểm cuối, lại phải trước tiên hơi hợp rồi mới khai, điều này lại biểu hiện ý muốn khai ắt trước ngụ hợp. Khi khai hợp đều phải chú ý gốc bàn tay, mới không sinh ra khuyết điểm lồi lõm.
2. Thức này hoàn thành sau hai lần hợp hai lần khai. Đặc điểm của lần khai hợp sau là: khi hai chân mở thì hai tay hợp, đến khi hai tay mở thì hai chân lại hợp, hai tay do song thuận triền mà hợp, do song nghịch triền mà khai.
3. Khi làm thức này có thể kiểm tra xem có phù hợp các yêu cầu như hư lĩnh đỉnh kình, trầm kiên trụy trửu, hàm hung bạt bối, khuất tất viên đang, đồng thời kiểm tra trong thức ấy lấy mũi bàn chân trái chấm đất và chân phải đạp vững có đủ khí thế chống đỡ tám mặt không. Thức này yêu cầu lấy đặc điểm thứ năm và thứ tư làm chủ mà biểu hiện ra.
Động tác một: Thân thể hơi xoay trái; đồng thời hai tay, phải thuận, trái nghịch triền, tại hai bên trái phải mỗi bên một vòng nhỏ, tay trái chuyển cánh tay nâng lên đến trước trán, tay phải ấn xuống; khi hai tay mỗi tay triền nửa vòng thì thân thể xoay phải cho thẳng; trọng tâm vẫn ở chân phải, chân phải là thực, theo lúc xoay thân lấy mũi bàn chân trái chấm đất xoay trở. (Hình 33—34)
· 83 · Động tác hai: Thân thể tiếp tục xoay phải, chân trái nâng lên, hướng trái trước (đông bắc) xiên phương lấy gót chân nhẹ nhàng dán đất đạp ra. Đồng thời, tay phải hơi hướng phải sau (tây nam) xiên phương nghịch triền mà lên mở ra, đến cao ngang vai, lòng bàn tay xiên hướng phải trước; tay trái thuận triền, hướng trước vai phải (đông nam) vạch cung đẩy ra, khuỷu tay vẫn giữ co. (Hình 35)
Động tác ba: Thân thể xoay trái, trọng tâm dời trái, chân trái biến thành thực. Đồng thời, tay trái tiếp tục thuận triền mà xuống, qua trước bụng hướng trái vòng qua gối trái, tức biến câu hướng lên trái nâng đến cao ngang vai; tay phải từ ngoài vào trong triền chuyển nghịch triền, co cánh tay triền qua bên tai phải, lòng bàn tay hướng tai phải. (Hình 36)
Động tác bốn: Thân thể hơi xoay phải; tay phải qua bên tay phải từ trái trước hướng phải tiếp tục nghịch triền, tách khỏi tay trái. (Hình 37) Buông lỏng khóa phải, thân thể hơi xoay trái, hai vai trầm xuống, tay phải hơi ấn xuống, tay trái huyền. (Hình 38 — Tất cả động tác của thức này đều làm theo hướng chính đông, điểm rơi của chân trái phải giống như Hình 39, trong Hình 33—38 đều cho thấy mặt chính của nó)
Yếu điểm: 1. Tay phải, tay trái và chân trái của động tác hai phải đồng thời mở ra theo ba phương hướng (phương hướng xem lời giảng động tác).
· 84 · 2. Trong động tác một, hai, khi hai tay động tác, xem ra dường như tay trái qua thân thể hướng phải, tay phải qua thân thể hướng trái triền, kỳ thực hai tay đều chuyển động ở hai bên trái phải, lấy eo làm trục thân pháp mà hoàn thành. Cho nên không thể chỉ vung cánh tay.
3. Kình lực của lòng bàn tay phải triền qua bên tai phải phải có cảm giác đến từ tay trái thành câu và chân trái thành cung. Lòng bàn tay phải qua bên tai phải chuyển cánh tay nghịch triền mà ra, phải khiến lưng sống căng chặt, sinh ra công dụng khí dán lưng sống.
4. Hai bức Hình 37, 38 nhìn bề ngoài dường như giống nhau, kỳ thực nội kình của hình trước là song khai, còn hình sau do khuỷu trầm xuống, khiến toàn thân khí trầm xuống, nội kình liền biến thành song hợp.
5. Thức này là tả câu hữu chưởng, đối lập đúng với thức "Đan tiên". Thức này tại hai bên trái phải làm triền ty thuận nghịch lẫn nhau, chúng dưới điều kiện thống nhất mà mỗi bên tự động tác, có thể khiến thân thể cảm thấy nhẹ nhàng vui vẻ.
· 85 · Động tác một: Hai mũi bàn chân theo thân thể hơi xoay phải; đồng thời, tay trái câu thủ biến thành chưởng cùng tay phải song thuận triền, hướng trước ngực trái lấy gốc bàn tay hợp bằng, tay trái ở trước, tay phải hợp bên khuỷu trái. (Hình 39)
Động tác hai: Thân thể hơi xoay phải và hướng phải dưới hạ xuống, trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, tức xoay chuyển mà đứng lên, nâng chân trái trở về, mũi bàn chân trái tự nhiên rủ xuống, gối phải hơi co, thành thức độc lập phải; khi thân xoay phải hai tay lấy tả nghịch, hữu thuận triền, theo chân trái nâng lên thì biến thành song nghịch triền hướng xuống hợp kình, hai lòng bàn tay xiên hướng trước xuống. (Hình 40—41 — Từ Hình 39 đến 45, phương hướng tư thế trong hình đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong lời giảng động tác)
Yếu điểm: 1. Trong động tác một (Hình 39), hai lòng bàn tay phải dưới hai cánh tay tương hệ mà trước sau tương đối hợp kình. Thân xoay phải, hai tay lấy tả nghịch, hữu thuận hướng phải chuyển nửa vòng thì hai lòng bàn tay hướng xuống, đồng thời chân phải dần hạ xuống; qua nửa vòng rồi, hai tay bắt đầu nâng lên, hai lòng bàn tay lại trước sau tương đối; chân trái nâng lên, thân thể đứng dậy, thành thức độc lập phải, hai lòng bàn tay · 86 · tâm lại đều xiên hướng trước xuống hợp kình. Khi song nghịch triền phải chú ý ngón út hai tay.
2. Thức này là ý lần đầu thu hồi tỳ bà, yêu cầu vận dụng kình đàn hồi sau khi chân phải hạ xuống và kình triền ty nhỏ của hai tay tả nghịch hữu thuận khiến thân thể xoay chuyển mà lên, thành thức độc lập.
3. Thức này là thức độc lập hợp kình, muốn đạt được ổn định thì khó hơn đạt được ổn định bằng khai kình, mấu chốt ở chỗ đỉnh kình lĩnh khởi, khí trầm đan điền, hai tay nghịch triền và ý chú ngón út hai tay, như vậy mới dễ đạt được ổn định.
Động tác một: Tiếp theo chân trái bắt đầu hạ xuống; đồng thời hai tay hướng phải đảo lấy tả thuận, hữu nghịch hạ triền (nội kình chớ mất, để tiếp thức trước). (Hình 42) Chân trái triền kình hướng trước (đông) hạ xuống, mũi bàn chân xiên hướng trái trước, thân thể xoay trái. Đồng thời, tay trái thuận triền chuyển cánh tay đến trước ngực, lòng bàn tay hướng phải trước; lòng bàn tay phải nghịch triền đến trên cẳng tay trái, lòng bàn tay hướng trái trước, hai cánh tay bắt chéo. Thân thể tiếp tục xoay trái. (Hình 43—44)
Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, chân phải hướng phải trước (đông nam) xiên phương ngang bước một bước; đồng thời hai lòng bàn tay nghịch triền tách hướng trái phải mở ra, hai lòng bàn tay đều hướng ngoài, ngón tay hướng lên. (Hình 45 và hình chính diện của Hình 45)
Yếu điểm: 1. Từ hai lòng bàn tay rơi ở bên phải mà triền đến trước ngực, phải làm được nội kình không đứt; khi hai cánh tay bắt chéo phải gia căng hợp lại một cái, rồi sau tách hướng trái phải mở ra; khi mở ra phải chú ý hai · 87 · ngón cái của bàn tay.
2. Khi từ thức độc lập xoay thân sang trái, bước lên phải ổn định, trong quá trình từ trên dưới chuyển thành trái phải triền ty đều là hợp kình, và không được có chỗ đứt đoạn lồi lõm.
Động tác giống động tác của Đệ bát thức "Tà hành ảo bộ", chỉ khác động tác nối tiếp hơi lạ, nhưng vẫn có thể dùng lời giảng của Đệ bát thức để phối hợp mà tham khảo hình ảnh. (Hình 46—48, lại tiếp Hình 35—38. Hình 46 là chân theo phương hướng hình chính diện của Hình 45 mà hạ xuống, kỳ thực động · 88 · tác và phương hướng chân trái bước lên vẫn giống Đệ bát thức, là hướng đông bắc xiên phương bước lên)
Yếu điểm: giống yếu điểm của Đệ bát thức "Tà hành ảo bộ".
Động tác, phương hướng và yếu điểm đều giống Đệ cửu thức "Sơ mục". (Hình 39—41)
Động tác, phương hướng và yếu điểm đều giống Đệ thập thức "Tiền thang ảo bộ". (Hình 42—45)
Động tác một: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời sang chân trái, chân phải nâng lên; theo lúc xoay thân và trọng tâm dời trái, lòng bàn tay phải biến thành quyền thuận triền đến trước ngực; lòng bàn tay trái nghịch triền hợp trên phía trên cánh tay phải, bắt chéo với cánh tay phải, lòng bàn tay hướng vai phải. (Hình 49) Hai tay thuận triền trầm xuống, điểm bắt chéo hai cánh tay dời về trước; đồng thời chân phải theo khí trầm mà đạp đất giậm chân. (Hình 50)
Động tác hai: Chân trái hướng trái trước (đông bắc) xiên phương bước lên, trọng tâm dần dời trái; đồng thời điểm bắt chéo hai cánh tay tiếp tục dời về trước, lập tức hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, hướng trái · 89 · trên, phải dưới vạch cung tách ra, lòng bàn tay phải hướng xuống, lòng bàn tay trái hướng ngoài. (Hình 51—52)
Động tác ba: Thân thể hơi xoay phải, toàn thân khí hướng xuống trầm. Đồng thời, quyền phải thuận triền, hướng phải mà lên qua trước ngực thu vào bên sườn phải; tay trái từ nghịch triền biến thành thuận triền dời hướng trước ngực. (Hình 53)
Động tác bốn: Thân thể hơi xoay trái; đồng thời, hai tay thuận triền hợp trước ngực, lòng bàn tay trái và lòng quyền phải đều hướng lên, quyền phải đặt trên lòng bàn tay trái (tựa dừng mà không dừng, thân thể tiếp tục trầm xuống để súc kình). Trọng tâm nhanh chóng dời trái, thành tả cung bộ, chân phải hơi co chớ thẳng · 90 · thẳng. Đồng thời, quyền phải nhanh chóng hướng phải trước (đông, hơi lệch nam) phát ra, lòng quyền theo đó chuyển hướng xuống; tay trái cũng nhanh chóng thu về bên sườn trái. (Hình 54 — Từ Hình 49 trở đi là chân theo phương hướng hình chính diện của Hình 45 mà hạ xuống, kỳ thực trong động tác phương hướng chân trái bước lên là đông bắc xiên phương, trong Hình 49—54 đều cho thấy mặt chính của nó)
Yếu điểm: 1. Thức này (Hình 51, 52) yêu cầu biểu hiện ra yểm phóng kình; khi yểm yêu cầu cửa đáy quần trầm xuống, mới có thể khiến kình siết chặt; khi phóng thì trước tiên phải siết chặt rồi sau mới tách ra làm phóng kình. Yểm phóng kình là khiên động kình, không được vượt ra ngoài vòng tay chân, và nó là cơ sở của súc phát.
2. Súc kình của Thái Cực Quyền phải giống như giương cung, phải siết chặt mới thành súc. Súc không có nghĩa là độ cong gia tăng, mà là chỉ súc đủ tính đàn hồi trước khi phát và không có khuyết hãm, yêu cầu năm cung (tức một cung lưng sống, hai cung tay và hai cung chân) đều bằng đầy. Cái gọi là "khuyết hãm" ở đây không phải chỉ kình đứt, mà là chỉ kình chưa đạt tới lưng cung, do đó tính đàn hồi không đủ. Chỉ khi luyện được tiết tiết quán xuyến, toàn thân như một nhà, mới có thể thành một cây cung dẻo dai đầy đủ, có tính đàn hồi mạnh mẽ.
3. Thức này giậm chân phải và phát quyền phải, phải biểu hiện ra cương kình của Thái Cực Quyền. Thái Cực Quyền đối với vận kình và phát kình là coi trọng như nhau. Tuy Trần thức đệ nhất lộ lấy nhu, vận làm chủ, · 91 · Đệ nhị lộ (pháo chùy) lấy cương, phát làm chủ; nhưng trong nhất lộ cũng có động tác cương, phát làm phụ (như Yểm thủ quăng chùy v.v.), trong nhị lộ cũng có động tác nhu, vận làm phụ (như Lãn trát y v.v.); đây là để đạt được mục đích cương nhu tương tế và chuyển đổi linh hoạt cùng dùng.
4. Quyền luận yêu cầu "lực do tích phát", "phát kình như phóng tiễn", "phát kình tu trầm trước tùng tĩnh", "chuyên chú nhất phương". Cho nên trước tiên phải "súc cung" để súc kình, rồi do lưng sống "thoát khấu" mà phát, kình chuyên chú ở phía "mũi tên", cuối cùng như kình xuyên qua bia tên mà chấn động một cái, để hoàn thành động tác này. Nhìn từ tư thế, khi phát kình, tuy một tay hướng trước, một tay hướng sau (hoặc một trên một dưới, một trái một phải) để giữ cân bằng, nhưng kình lực vẫn lấy một phương làm chủ (thực), phương kia làm khách (hư), mà không phải song trùng.
Động tác một: Thân thể hơi xoay phải; đồng thời, quyền phải biến thành chưởng thuận triền, hướng phải sau hơi thu, lòng bàn tay trái vẫn ở bên sườn trái hơi nghịch triền để phối hợp. (Hình 55) Tiếp theo thân thể hơi xoay trái; đồng thời hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, vạch cung hướng trước ngực bắt chéo, hợp kình, tay trái ở trên, lòng bàn tay hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng lên. (Hình 56)
· 92 · Động tác hai: Thân thể xoay phải, trọng tâm dời phải sang chân phải; đồng thời, lòng bàn tay phải thuận triền hướng phải trên, lòng bàn tay trái nghịch triền hướng trái dưới mở ra. (Hình 57—58 — Từ Hình 55 đến 57, trong đó chân trái vẫn ở đông bắc xiên phương, vị trí chân trái phải giống Hình 58, từ Hình 58—76, phương hướng tư thế trong đó đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong lời giảng động tác) Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng thu về, lấy mũi bàn chân hướng trước điểm trước chân trái. Đồng thời, hai tay tả nghịch, hữu thuận triền, tay trái co khuỷu ngang cánh tay trước ngực, lòng bàn tay hướng xuống; tay phải theo chân phải hướng trước mà hướng trước ngực liêu lên, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 59)
Động tác ba giống động tác ba của Đệ nhị thức "Kim cương đảo đối". (Tiếp Hình 7—8)
Yếu điểm: 1. Từ khai kình và phát kình của thức trước Yểm thủ quăng chùy, chuyển thành hợp kình của thức này, tay phải phải hơi thu vào trong rồi hướng phương phát kình đẩy về trước một cái, đưa kình đứt nối liền lại, khiến nội kình không đứt, quán xuyến vào trong hợp kình của thu hồi song hợp phía sau.
2. Mỗi động tác nửa vòng mở ra hết mức của thức này, biến thành động tác co rút lại thành nửa vòng hợp lại cực nhỏ, yêu cầu cảm thấy toàn thân đầy đặn, khí thế bàng bạc.
3. Điểm khác của thức này với hai lần Kim cương đảo đối trước là: lần thứ nhất biểu hiện ra bằng kình của năm đôi phương vị trong Thái Cực Quyền; lần thứ hai là khai kình tiếp trên từ Đan tiên, chuyển · 93 · thành hợp kình; lần thứ ba chủ yếu đưa kình đứt sau phát kình của thức trước nối liền lại. Đó là sự kết thúc của thức thứ năm trong Thái Cực thập tam thế.
Động tác một: Hai tay hướng trái phải nghịch triền mở ra, năm ngón tay rủ xuống, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 60) Hai tay tiếp tục nâng lên, chuyển thành thuận triền, đến cao ngang vai thì lòng bàn tay lật hướng trước trên. (Hình 61) Trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên, tức lấy gót chân hướng phải dán đất đạp ra, lập tức trọng tâm dời phải, thành mã bộ; đồng thời hai tay tiếp tục hơi nâng lên, tức theo chân phải bước sang phải mà hướng trước ngực thuận triền bắt chéo khép lại, lòng bàn tay trái ở ngoài. (Hình 62—63)
· 94 · Động tác hai: Hai tay biến thành quyền, quyền phải trước mặt từ trong hướng phải nghịch triền mà khai, tức từ phải hướng trước biến thuận triền mà hợp, vòng một vòng trọn, lòng quyền hướng vào trong; tay trái hướng trái nghịch triền mà khai, tức biến thuận triền theo lúc tay phải hợp mà hơi hợp, lòng quyền hướng phải; khi tay phải hướng phải vòng nửa vòng, trọng tâm hơi dời phải, thân hơi xoay phải, khi tay phải vòng thành một vòng, trọng tâm dời trở lại, thân thể xoay thẳng. (Hình 64)
Động tác ba: Thân thể hơi xoay trái, trọng tâm dời trái, cung chân trái. Đồng thời, hai quyền thuận triền, quyền phải dời đến trước tai trái, cao ngang đầu, lòng quyền hướng vào trong; quyền trái tại chỗ cũ bên trái thuận triền một vòng nhỏ, để phối hợp quyền phải hợp kình, lòng quyền hướng trái trước. (Hình 65) Trọng tâm dời phải, cung chân phải, thân thể xoay phải. Theo lúc xoay thân, quyền phải hướng phải dưới vạch cung thuận triền đến bên chân phải, lòng quyền hướng lên; quyền trái từ trái hướng phải qua trước mặt thuận triền, cao ngang đầu, lòng quyền hướng vào trong, cùng quyền phải hợp giữ kình. (Hình 66)
· 95 · Yếu điểm: 1. Thức này từ hợp kình của thức trước Kim cương đảo đối chuyển thành khai kình song nghịch, sau khi khai biến thành song thuận triền, lòng bàn tay lật hướng ngoài hợp kình của hai tay, lập tức hai tay thuận triền bắt chéo khép lại; trong lúc khai khai hợp hợp này, phải chú ý thực hư của hai tay và thực hư của hai chân, nhất là thực hư giữa tay và chân. Về điểm này có thể tham khảo đặc điểm thứ tư.
2. Động tác hai, ba (Hình 64—66) là động tác sau khi hai lòng bàn tay biến thành quyền, phải liên quán làm một, phải tiến hành động tác dưới yêu cầu khí dán lưng sống và lấy eo làm trục; mấu chốt ở chỗ đặc biệt mở rộng triền ty trong ngoài, và phải lấy triền ty trước dẫn dắt triền ty sau; chỉ có như vậy mới có thể khiến động tác trong ba hình thức liên làm một, và khiến nội kình không mất, biến đổi qua lại trong tình trạng không chút lồi lõm, về điểm này có thể tham khảo đặc điểm thứ năm.
3. Thức này trong bất cứ quá trình khai hợp và hợp khai nào đều giàu nhu kình, là nhu kình trong tứ ngung, làm một loại phụ trợ trong tứ chính giá tử.
Động tác một: Thân thể xoay trái 90 độ. Đồng thời, tay phải nghịch triền, vạch cung nâng lên, lòng quyền hướng trái; tay trái chuyển cánh tay thuận triền, vạch cung trái hạ xuống bên hông eo trái, lòng quyền hướng sau. (Hình 67)
Động tác hai: Thân thể tiếp tục hơi xoay trái. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay lấy nghịch triền chuyển thuận triền, cánh tay phải co lại trước đỉnh đầu; quyền trái tại bên trái làm vòng thuận triền cực nhỏ, rồi lấy mặt quyền áp chặt vào hông eo trái, lập tức thân thể hơi xoay phải, lấy phần lưng gần vai phải kháo ra sau phải; đồng thời cửa đáy quần càng trầm xuống, mắt nhìn mặt bàn chân trái. (Hình 68)
· 96 · Yếu điểm: 1. Hai cánh tay phải có bằng kình tương hệ giữ nhau, để đạt được kình khai trung ngụ hợp; chỉ cần lấy eo làm trục giữa, lưng phải tự nhiên chuyển gấp lại được, thì không có lo chăm cái này mất cái kia.
2. Hình 68 biểu hiện sự vận dụng cánh tay phải trước đỉnh đầu, phải lấy tiểu nghịch triền khiến cánh tay chuyển đến trước đỉnh đầu; mấu chốt của thức này ở chỗ lấy quyền trái áp chặt hông eo trái, khiến lưng phải càng căng chặt, biểu hiện ra kháo kình của lưng.
3. Kháo kình phát ra của thức Bối chiết kháo này, trong Đệ nhị lộ pháo chùy thì nhiều hơn. Thức này là một loại kháo kình trong tứ ngung thủ, làm một loại phụ trợ trong tứ chính giá tử.
Động tác một: Trọng tâm dời trái, thân thể hơi xoay phải. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền, từ trên qua trước ngực hướng phải vạch cung hạ xuống bên chân phải, lòng quyền hướng lên; quyền trái rời hông eo trái nghịch triền, từ trái vạch cung nâng lên, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 69) Quyền phải biến nghịch triền từ phải vạch cung · 97 · lên, lại chuyển thành thuận triền, triền đến lòng quyền hướng trái; đồng thời quyền trái biến thuận triền, co khuỷu ngang cánh tay qua trước ngực mà xuống, đặt trước bụng, lòng quyền hướng lên. (Hình 70)
Động tác hai: Thân thể hơi xoay trái. Đồng thời, quyền trái biến thành chưởng, lấy nghịch triền hướng phải trước duỗi ra, lòng bàn tay hướng phải sau; quyền phải thuận triền co khuỷu hạ xuống, đặt trước ngực, trên cánh tay trái, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 71) Trọng tâm hơi dời phải. Đồng thời, tay trái thuận triền trầm xuống, lòng bàn tay hướng phải sau; quyền phải thuận triền thu gom dưới ngực, cùng lòng bàn tay trái hợp giữ kình, căng chặt lưng sống. (Hình 72) Thân thể hơi xoay trái, đồng thời với khóa kình trầm xuống, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền, đột nhiên do lưng sống "thoát khấu", hướng phải trước lấy bên xương trụ gần cổ tay phát kình; tay trái thuận triền lấy tốc độ phát kình của quyền phải mà thu về, đặt bên hông eo trái. (Hình 73)
Yếu điểm: 1. Trần thức Thái Cực Quyền không chỉ hai tay vận dụng triền ty kình, kỳ thực hai chân cũng đồng thời vận · 98 · dụng. Thức này do bước chân lớn, cửa đáy quần rộng, là ví dụ rõ nhất của chân bộ biểu hiện triền ty kình. Chân bộ triền ty là: khi một tay trên một chân nào đó thuận triền, thì chân ấy nói chung cũng theo đầu gối xoay ra ngoài thuận triền; ngược lại thì đầu gối xoay vào trong nghịch triền (nguyên tắc chân bộ triền ty, tham khảo yếu điểm 2 của Đệ nhị thập nhất thức "Trửu để chùy"). Nhìn tư thế trong hình của thức này, hai chân dường như không hề động đậy, chỉ thấy hai cánh tay biến đổi động tác, kỳ thực chân bộ cũng theo đó triền ty.
2. Thái Cực kình là nội kình khởi từ gót chân, phát ở chân, chủ tể ở lưng sống eo, mà hình thành ở ngón tay; triền ty thì là một đường lộ vận động khá dài mà nội kình này đi qua. Trong toàn thân đường lộ như vậy có hai đường, tức từ gót chân trái đến ngón tay phải và từ gót chân phải đến ngón tay trái, chúng lần lượt bắt chéo hình chữ thập ở lưng sống.
3. Muốn khiến các khớp toàn thân quán xuyến như một đường, ắt phải do xoắn ốc của triền ty mà hoàn thành. Triền ty chủ tể ở lưng sống eo, dẫn dắt hai cánh tay, mà cơ sở ở hai chân, nếu chân bộ không có triền ty, thì không thể đạt được cảnh giới chu thân nhất gia. Về điểm này phải chú ý.
4. Thức này sở dĩ gọi là "xuất thủy", là vì loại phát kình này, như ý "vật sắp vén lên mà gia thêm tỏa xuống", tức là, ở điểm cuối của nửa vòng hướng xuống có mang kình hướng lên, cho nên lại gọi là đẩu kình (kình rung) của xuất thủy.
5. Phát kình của thức này thuộc liệt kình trong tứ ngung thủ, sở dĩ nó không gọi là "đả" hay "kích", là vì liệt kình là một loại đả kích khoảng cách ngắn, cho nên lại có người gọi nó là "thốn kình".
Động tác một: Trọng tâm hơi dời phải, thân thể hơi xoay phải. Đồng thời, khuỷu phải hơi co, quyền phải hơi thu, lòng quyền hướng vào trong; lòng bàn tay trái duỗi trước ở bên trong cổ tay phải, lập tức hai tay hướng ngoài hơi bằng (để dẫn động động tác phía sau). (Hình 74) Tiếp theo trọng tâm dời sang chân trái, thân thể hơi xoay trái; đồng thời, cánh tay phải thuận triền hướng trái dưới bằng đến trước bụng, tay trái tiểu nghịch triền theo cánh tay phải · 99 · lan bằng giữ. (Hình 75) Trở xuống giống phần sau lời giảng động tác một của Đệ tứ thức "Lục phong tứ bế". (Tiếp Hình 16)
Động tác hai: Giống phần trước lời giảng động tác hai của Đệ tứ thức "Lục phong tứ bế". (Hình 77, tiếp Hình 76, trong đó chỗ khác là, lòng bàn tay trái của thức này qua hông eo rồi lại ấn xuống một động) Tiếp theo mũi bàn chân trái xoay ra ngoài, thân thể xoay trái (ngực từ hướng nam chuyển thành hướng đông), trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng thu về, hướng trái trước (nam, hơi lệch đông), lấy mũi bàn chân điểm đất. Đồng thời, lòng bàn tay phải thuận triền tiếp tục triền lấy lòng bàn tay nâng đỡ lên; lòng bàn tay trái nghịch triền thu chuyển về bên sườn trái, lấy mu bàn tay căng giữ, lòng bàn tay xiên hướng lên. (Hình 77 — Từ Hình 77—85, động tác trong hình đều phải thân thể hướng đông mà làm, trong hình đều cho thấy mặt chính của nó)
· 100 · Động tác ba: Thân thể tiếp tục hơi xoay trái; đồng thời, hai tay thuận triền lật bàn tay đặt riêng hai bên tai, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài; lấy mũi bàn chân phải điểm đất xoay trở, gối phải theo thân thể chuyển hướng. (Hình 78) Chân phải hơi nâng lên hướng phải (nam) bước, trọng tâm lập tức dời sang chân phải, chân trái hướng phải bước sát, lấy mũi bàn chân điểm bên cạnh chân phải, đồng thời thân thể xoay phải; hai lòng bàn tay hợp kình, theo lúc xoay thân hướng phải dưới ấn. (Hình 79)
Yếu điểm: 1. Thức này với động tác của Lục phong tứ bế về cơ bản giống nhau, chỉ khác sự chuyển đổi trên bộ pháp và đường lộ kình của song thôi. Thôi kình của thức này khá cương, và khi thôi đến điểm cuối gốc bàn tay sau phải biểu hiện ra liệt kình trầm xuống, do đó tốc độ của một cái trầm cũng nhanh hơn.
2. Thức này tức tiếp sau phát kình của thức trước. Bởi vì phát kình là cầu kình đứt, kình không đứt không thể vượt ra ngoài thân mà gia vào bên ngoài, nhưng lại phải cùng thức này tương liên không đứt mà nối liền lại. Phần trước của động tác một (Hình 74) liền đóng vai trò tiếp giữ kình của phát kình, và dẫn dắt động tác phía sau. Yêu cầu "đoạn nhi phục liên, năng đoạn năng tiếp", xem rõ đặc điểm thứ sáu.
3. Sau phát kình của thức trên, chuyển thành hợp, sau hợp lại khai; phải ở trong hợp khai · 101 · trong đó thân chuyển một kình vặn lưng, chuyển thành thế hai tay đỡ (song thác) tay trái sau tay phải trước; hai tay đỡ trong khi thuận triền đôi đòi hỏi phải sinh ra hợp kình, để chuẩn bị cho động tác song thôi.
Động tác: Thân chuyển sang phải; đồng thời, chưởng phải hướng vào trong, lướt nhẹ trước ngực rồi thuận triền thu về, lòng bàn tay hướng vào trong; chưởng trái nghịch triền xoay cánh tay duỗi thẳng ra trước, chuyển thành lòng bàn tay hướng lên trên. (Hình 80) Thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, chưởng phải thuận triền đẩy ra với kình bằng (chưởng), lòng bàn tay nghiêng ra ngoài; chưởng trái theo đà chuyển thân nghịch triền thu về trước bụng, lòng bàn tay hướng lên trên. (Hình 81) Thân lại chuyển sang phải; đồng thời, chưởng phải thuận triền thu về trước bụng, chưởng trái từ trước bụng hướng lên nghịch triền đưa ra trước, qua phía trên cánh tay phải đẩy ra với kình bằng (chưởng). (Hình 82) Trong khi động tác, theo đà chuyển thân lấy mũi chân trái điểm tại chỗ mà xoay trở, đầu gối trái xoay theo hướng chuyển thân.
Thức Tam hoán chưởng này, khi hai chưởng thay phiên duỗi ra thu về, động tác phải tròn hoạt: khi lưng và háng (khố) hơi xoay sang phải thì chưởng trái duỗi ra, khi lưng và háng hơi xoay sang trái thì chưởng phải duỗi ra; lưng và háng xoay hai vòng khứ hồi, chưởng trái duỗi ra trước hai lần, chưởng phải duỗi ra trước một lần, nên gọi là Tam hoán chưởng. Tam hoán chưởng là phương pháp triền nã (cuốn bắt), vì thế chưởng duỗi ra trước không phải là đánh ra, mà là tròn xoay mà triền nã đường kình và khớp xương của đối phương. Tuy trọng tâm đều ở chân phải, nhưng do sự khai hợp khi động tác qua lại, lưng và háng khai hợp trong khi xoay, dẫn dắt khớp gối của hai chân cũng khai hợp trong khi xoay, vẫn · 102 · nhiên là "nhất động vô hữu bất động" (một phần động thì không phần nào không động).
Do động tác của thức này và thức sau liền sát nhau không hề gián đoạn, lại do hai thức có chỗ yếu lĩnh giống nhau, nên yếu lĩnh của thức này cũng được gộp vào thức sau.
Động tác: Tiếp liền thân lại chuyển sang trái; đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở ra xuống trái, tay phải mở ra lên phải. (Hình 83) Thân tiếp tục hơi chuyển sang trái; đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hơi cuốn đến ngang vai, hai lòng bàn tay đều hướng xuống (đây là giai đoạn bắt đầu của Trửu để chùy). (Hình 84) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền hợp kình; trong quá trình hợp, cánh tay trái từ nghịch triền chuyển thành thuận triền, theo đà cuốn mà dựng cẳng tay trái lên, lòng bàn tay xoay cuốn hướng sang phải; chưởng phải biến thành quyền, thuận triền từ phải hướng ra trước, gập cùi chỏ hợp kình sang trái, qua phía dưới cánh tay trái vạch một vòng nhỏ rồi đặt ở phía dưới cùi chỏ trái, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 85)
Yếu lĩnh:
1. Đặc điểm của thức trên và thức này là trong động tác chặt chẽ mà đạt được tiết tiết quán xuyến (từng đốt xuyên suốt) và nhất động vô hữu bất động. Vì thế, đầu gối trái cũng lấy mũi chân trái điểm đất mà xoay trở, làm trục mà xoay theo đà chuyển thân; nhưng phải chú ý, "hư" không phải hoàn toàn vô lực, "thực" không phải · 103 · hoàn toàn đứng chết; về điểm này, có thể tham khảo yếu lĩnh 1 của thức thứ năm "Đan tiên".
2. Muốn đạt yêu cầu tiết tiết quán xuyến và nhất động vô hữu bất động của Thái Cực Quyền, then chốt là ở việc vận dụng triền ty kình (kình cuốn tơ) của toàn thân; chỉ có qua triền ty mới có thể khiến kình khởi từ gót chân, tiết tiết quán xuyến mà đi đến ngón tay. Vì thế, triền ty của chân và triền ty của tay giữ địa vị quan trọng ngang nhau; trong phần thuyết minh động tác không nhắc đến triền ty của chân, là vì triền ty của chân và của cánh tay (trừ khi nâng chân độc lập và thoát khỏi cầm nã) đều là trên dưới nhất trí. Nguyên tắc như sau: (1) hễ tay là thuận triền, thì chân (gối) phía dưới tay ấy cũng thuận triền từ trong ra ngoài; (2) hễ tay là nghịch triền, thì chân (gối) phía dưới tay ấy cũng nghịch triền từ ngoài vào trong; (3) hễ chân phải thuận triền ra ngoài, thì chân trái nghịch triền vào trong, và ngược lại; (4) ví như nghịch triền của tay đối với gót chân trái, phát đến chân thì đương nhiên là nghịch, lên đến háng (khố) rồi thì tự nhiên xéo qua eo lưng, hình thành lưng bên trái căng chặt, bên phải lỏng, rồi chuyển lên cánh tay phải, tay phải bèn thành thuận triền. Cho nên, triền ty của tay chân là trước sau giao chéo qua lưng, tự nhiên hình thành tác dụng toàn thân nhất gia (một nhà).
3. Thức trên là trong song hợp chặt chẽ đạt được tiết tiết quán xuyến và toàn động; thức này là trong động tác đại khai triển biểu hiện ra nhất động vô hữu bất động. Sau cùng, do chuyển thân mà hợp lại một cái, thu nhỏ vòng triền ty, chặt chẽ song hợp lại với nhau; kình lực bên trong tuy khác nhau, nhưng khiến cho khứ lai (đi lại) và khí dính sát lưng thì là như nhau. Vì thế, nên chú ý đến sự vận dụng lưng.
4. Từ thức trên làm thẳng đến khi song hợp ở điểm cuối của thức này, lại càng phải khiến đỉnh kình hư hư lĩnh khởi; sau khi luyện quyền lâu ngày, luyện đến thức này sẽ khiến cho các khớp kình và khớp xương phía trên lồng ngực kêu răng rắc, đây là hiện tượng tự nhiên sinh ra sau khi luyện quyền lâu ngày, không nên miễn cưỡng cầu, để khỏi sinh ra tệ hại. Chỉ có đạt đến cảnh giới ấy mới đủ để chứng minh rằng trong động tác của thức đó, đã đạt được yêu cầu toàn động và các khớp xương mở lỏng.
Động tác một: Trọng tâm dời sang phải. Đồng thời, chưởng trái qua trước mặt nghịch triền mà xuống; quyền phải biến · 104 · chưởng từ dưới cùi chỏ trái qua trước bụng rồi hướng lên sang phải, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má phải, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước trái. (Hình 86) Chân trái nâng lên, qua bên mắt cá chân phải lùi về phía sau trái (tây bắc) theo đường chéo hình cung, trọng tâm theo đó dời về sau, chân trái biến thành thực. Đồng thời, chưởng phải nghịch triền đẩy ra trước; chưởng trái ở trước ngực qua phía dưới cẳng tay phải đang duỗi ra trước, giao chéo mà qua, tức từ phía dưới trái theo khi chân trái lùi về sau mà mở ra theo hình cung về phía sau trái. (Hình 87–88; hình phụ 87 và hình chính diện 88. Phương hướng của tư thế trong hai hình 87, 88 đã chuyển thành phù hợp với phương hướng trong thuyết minh động tác. Hình 86 phía trước và các hình 89–92 về sau đều cho thấy chính diện của chúng, kỳ thực đều nên cùng phương hướng với hình 87 và 88, đều là ngực hướng về chính đông mà làm động tác)
· 105 · Động tác hai: Hai tay và hai chân mỗi bên thuận triền một vòng nhỏ (lấy chuyển kình), tiếp đó trọng tâm dời sang trái. Đồng thời, chưởng trái từ bên trái hướng lên, từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, cong theo hình cung cuốn đến bên má trái, lòng bàn tay nghiêng hướng về phía trước phải; chưởng phải từ tiểu thuận đến đại thuận triền, từ phải sang trái cuốn qua trước ngực mà xuống. (Hình 89) Chân phải nâng lên, qua bên mắt cá chân trái lùi về phía sau phải (tây nam) theo hình cung chéo, trọng tâm theo đó dời về sau, chân phải biến thành thực. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền đẩy ra trước; chưởng phải ở trước ngực qua phía dưới cẳng tay trái đang duỗi ra trước giao chéo mà qua, tức từ phía dưới phải theo khi chân phải lùi về sau mà mở ra theo hình cung về phía sau phải. (Hình 90)
Động tác ba giống động tác hai, chỉ trái phải đổi ngược nhau. (Hình 91, rồi theo hình chính diện của 88)
· 106 · Yếu lĩnh:
1. Thức này là từ khai mà hợp, lại từ hợp mà khai. Khai rồi lại hợp và lại khai. Động tác khai trung ngụ hợp (trong khai có chứa hợp), hợp trung ly khai (trong hợp có rời khai) đặc biệt này được hoàn thành trong khi liên tục lùi bước.
2. Trong khi liên tục lùi bước, không phải là lùi một mạch trôi chảy. Theo yêu cầu "tiến thoái tu hữu chuyển hoán" (tiến thoái phải có chuyển hoán), trong hai động tác lùi bước có kẹp vào một tư thế song khai và sự chuyển hoán của nội kình. Như vậy mới không cảm thấy là lùi một mạch, mà cảm thấy khai kình trước sau khi vận dụng triền ty. Đồng thời, có chuyển hoán thì thành ra trong thoái có tiến, tiến tức là thoái, thoái tức là tiến, tiến thoái tự như, khiến nó thành phép thoái của Thái Cực Quyền có thể chống đỡ tám mặt.
3. Đảo cuốn quăng là thức duy nhất của Thái Cực Quyền liên tục lùi về sau; nó đòi hỏi trong khi lùi phải kẹp chút thuận nghịch triền ty nhỏ, và phải làm cho tròn chuyển thuận toại, không có khuyết hãm lồi lõm và không có khuyết điểm nội kình gián đoạn, hợp với yêu cầu của đặc điểm thứ sáu.
5. Thức này cũng có thể làm phát kình hình ra bên ngoài, tức khi lùi bước về đến điểm dừng, gót chân đạp đất thành tiếng, đồng thời tay trước phát kình ra ngoài, tay sau dùng trầm kình mà trầm giữ.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng trái xoay cánh tay thuận triền, mở ra xuống phía dưới trái, lòng bàn tay hướng xuống; chưởng phải nghịch triền mở ra xéo lên trên phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 92. Hình này tiếp theo hình chính diện của hình 88 mà xuống, cho nên tuy các hình 92–96 đều cho thấy chính diện, kỳ thực vẫn nên làm động tác với ngực hướng về đông.) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải thuận triền hướng ra trước rồi vào trong, biến thành nghịch triền vòng một vòng sang phải; chưởng trái theo chưởng phải khi vòng từ trước phải hơi dời sang trái, tức theo khi chưởng phải vòng sang phải mà thuận triền vạch cung sang phải đến trước sườn phải. (Hình 93)
Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, thân chuyển sang trái, chân phải nâng gót, lấy mũi chân sát đất, qua phía trong mắt cá chân phải lùi về sau phải (hướng nam, hơi lệch tây) theo đường xéo, đến điểm dừng thì gót chân đáp xuống giậm đất, và trọng tâm dời về sau, thân đồng thời chuyển sang phải. Theo thân · 107 · thể chuyển sang trái, đồng thời chưởng phải thuận triền, cong theo hình cung thu về, lấy ngón tay áp vào bụng trái; cùi chỏ trái qua phía trong chưởng phải căng lên, chưởng trái nghịch triền, lấy mu bàn ngón tay áp vào sườn phải mà lên; theo khi thân chuyển sang phải và chân phải giậm đất, đồng thời chưởng trái đẩy ra xéo về phía trước trái bằng chưởng, chưởng phải lấy ngón tay áp theo thân mà dời đến bụng phải. (Hình 94–95)
Yếu lĩnh:
1. Thức này khi hai cánh tay vòng ôm hợp lại (hình 94) như một vòng tròn nguyên vẹn, phải thành tề kình (kình ép) dai chắc đàn hồi; trọng điểm của nó là ở dưới khí áp vào lưng, căng chặt da lưng để xoa động lưng; đồng thời là lúc súc dĩ đãi phát (tích trữ để chờ phát).
· 108 · 2. Tuy hình 94 đã đưa chân phải lùi về sau, nhưng chưa giậm chân; giậm chân phải ăn khớp nhất trí với lúc phát chưởng trái, để hình thành khai kình, như tư thế trong hình 95.
3. Thoái bộ áp trửu là bổ phát kình ở cự ly ngắn, phải nhu trung ngụ cương (trong mềm có cứng); khi động kình đã sẵn, trong khoảnh khắc dùng đan điền kình lấy chưởng trái trầm kình phát ra, phải ăn khớp với tiếng gót chân phải giậm đất, khiến toàn thân kình lực hoàn chỉnh.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, rồi chuyển sang phải. Chưởng trái theo thân chuyển sang trái hơi dời sang trái, tức theo thân chuyển sang phải mà cánh tay từ trái lên trên phải nghịch triền đến trước sườn phải, lòng bàn tay hướng lên; đồng thời chưởng phải nghịch triền giơ lên về phía sau phải, lòng bàn tay hướng sang phải. Theo khi chưởng phải giơ lên, chân phải nâng lên. (Hình 96)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, chân phải đặt xuống bên cạnh chân trái, trước lấy mũi chân chạm đất, tiếp liền lấy gót chân đạp đất giậm chân, trọng tâm liền dời sang chân phải, gót chân trái nâng lên. Theo khi chân phải đáp xuống, tay phải nghịch triền (gập cùi chỏ để mũi cùi chỏ qua phía trên chưởng phải) từ trên vạch cung đến trước lông mày trái; chưởng trái thuận triền dời xuống dưới sườn trái, lòng bàn tay hướng lên, hai cánh tay giao chéo trước ngực. (Hình 97, hình chính diện của hình phụ 97. Phương hướng của hình 96 nhất trí với phương hướng của hình chính diện 97, nên hình 96 cũng nên làm động tác với ngực hướng về đông)
· 109 · Động tác ba: Thân hơi chuyển sang trái, chân trái mở ngang một bước về phía sau trái (hướng bắc, hơi lệch tây) theo đường xéo, khuất gối ngồi xổm; đồng thời, hai tay thuận triền căng ra ngoài, lòng bàn tay chuyển hướng ra ngoài xuống, theo khi chân trái mở bước thì hai cánh tay hơi hợp lại, hai lòng bàn tay chuyển hướng vào trong, kế đó hai tay trái nghịch triền, phải thuận triền, tay trái mở ra lên trên trái, tay phải mở ra xuống dưới phải, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. (Hình 98–99, hình phụ 98 và 99)
Yếu lĩnh:
1. Thức này khi bắt đầu nên chú ý đến độ lớn nhỏ của thuận nghịch triền ty. Để cho động tác đắc thế và đắc kình, khi chưởng phải qua dưới cùi chỏ trái thì nên thu nhỏ đường kính vòng; đây cũng là lúc đại tiểu thuận nghịch triền bắt đầu hình thành. Trước song khai phải hít vào, chuyển sang song khai thì phải thở ra, thở ra cho đến khi hai tay mở đến điểm dừng, đây cũng là điều khiến động tác này đạt đến thần khí cổ đãng · 110 · phương pháp.
2. Khi song hợp (hình 98), đòi hỏi hợp trung ngụ khai (trong hợp có chứa khai), then chốt là ở trước khi song hợp, phải để khí áp vào lưng, khi hai chưởng giao chéo song hợp thì lòng bàn tay phải chuyển hướng ra ngoài xuống một cái, như vậy mới có thể trong hợp ngụ có khai kình; nếu không đạt được hợp trung ly khai, thì kình sẽ bị vo tròn đọng lại trên thân, mất đi tính đàn hồi, thành bệnh biển (bẹp).
3. Thức này khi thân trung chính ngồi xổm xuống, khố khẩu (miệng háng) phải rộng. Như vậy, sẽ khiến khí hội âm tự nhiên từ vĩ lư (xương cụt) thăng lên, đây là điều rất có lợi. Nhưng, khi ngồi xổm thì độ cao của khố khẩu không được thấp hơn đầu gối, để khỏi hình thành đãng đang (háng xệ), nếu có đãng đang sẽ khiến hai bên ngoài của hai bàn chân hư phù, do đó lại khiến cho việc chuyển hoán hư thực sinh ra nhu trệ (chậm trễ), cho nên đồng thời cũng nên tránh bệnh song trọng của chân.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, chân phải bước kề về bên trái, lấy mũi chân điểm bên cạnh mũi chân trái. Đồng thời, chưởng phải xoay cánh tay thuận triền qua trước bụng vạch cung sang trái, lòng bàn tay hướng lên; chưởng trái nghịch triền qua trước mặt hướng sang phải gập cùi chỏ hợp ở phía trên cánh tay phải. (Hình 100, hình chính diện của hình phụ 100) Chân phải bước ra xéo về phía trước phải (đông nam). Phần sau giống động tác hai của thức thứ bảy "Bạch hạc lượng sí". (Tiếp hình 31–32)
· 111 · Yếu lĩnh:
Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ bảy "Bạch hạc lượng sí".
Động tác và yếu lĩnh đều giống thức thứ tám "Tà hành ngạo bộ". (Tiếp hình 33–38)
Động tác một giống động tác một của thức thứ chín "Sơ thu". (Tiếp hình 101)
Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân phải, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái (ngực chuyển hướng bắc), chân phải theo đà chuyển thân lùi về sau theo hình cung, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái. Đồng thời, tay phải thuận triền, lật thành lòng bàn tay hướng ra ngoài; tay trái nghịch triền, qua trước bụng hợp kình sang phải, lấy chưởng áp vào phía dưới cẳng tay phải, lòng bàn tay hướng vào trong. (Hình 102, hình chính diện của hình phụ 102)
Động tác ba: Thân hơi ngồi xổm xuống; đồng thời, hai tay hơi thuận triền hơi hợp lại, liền chuyển thành nghịch triền mở ra sang trái phải (chú ý ngón út), tay trái hướng vào trong gập cổ tay cho lòng bàn tay hướng vào trong, tay phải là chưởng ngang, cổ tay hướng lên, cho lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 103, hình chính diện của hình phụ 103)
Động tác bốn: Lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển sang phải; lấy mũi chân trái điểm đất xoay trở, đầu gối trái theo đà chuyển thân mà chuyển hướng. Đồng thời, tay phải hợp sang trái vào bên sườn bụng trái, lòng bàn tay · 112 · hướng lên; tay trái thuận triền, theo đà chuyển thân gập cánh tay đẩy xuống phía trước, lòng bàn tay hướng ra trước. (Hình 104, một góc nhìn nghiêng khác của hình phụ 104) Chân trái bước lên một bước, kế đó trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực. Đồng thời, chưởng trái qua trước ngực sang trái rồi đặt bên cạnh háng trái, lòng bàn tay hướng xuống phải; chưởng phải thuận triền duỗi ra trước, lòng bàn tay hướng lên. (Hình 105, một góc nhìn nghiêng khác của hình phụ 105)
Động tác năm: Lấy gót chân trái làm trục, thân nhanh chóng chuyển về phía sau phải, chân phải lấy nửa trước bàn chân sát đất theo đà chuyển thân chuyển nửa vòng về phía sau phải, liền lấy gót chân đạp đất giậm chân. Theo đà chuyển thân, · 113 · tay phải thuận triền chuyển vào trong đến khi lòng bàn tay hướng ra ngoài, theo đà chuyển thân cong xuống ấn đến bên cạnh háng phải, lòng bàn tay hướng xuống; chưởng trái gập cánh tay lật lên, qua bên tai trái đẩy ra phía trước xuống dưới. (Hình 106, hình chính diện của hình phụ 106)
Yếu lĩnh:
1. Trong động tác bốn (hình 105), chân trái bước lên và chưởng duỗi ra trước phải nhất trí; trong động tác năm (hình 106), gót chân phải đáp đất giậm chân phải nhất trí với tay phải ấn xuống và tay trái đẩy ra trước.
· 114 · 2. Cái mà khí công gọi là "thông tam quan" (khai thông ba cửa ải), tức đòi hỏi khí đi qua vĩ lư quan (cửa ải xương cụt), giáp tích quan (cửa ải kẹp sống lưng) và ngọc chẩm quan (cửa ải gối ngọc), nó bao gồm toàn bộ thần kinh giao cảm và phó giao cảm của cột sống. Công pháp ngồi, nằm, đứng của khí công là dùng tĩnh công pháp để mặc cho khí tự phát đi qua tam quan; còn "hành công" (công phu động) này của Thái Cực Quyền thì là động trung cầu tĩnh (trong động tìm tĩnh), trong quá trình nhất động vô hữu bất động, thông qua chuyên nhất nhi động, khiến ý chí tập trung, để cầu được cái "tĩnh" trong động. Quyền luận nói: "Tâm bất tĩnh, tắc bất chuyên, động tác toàn vô định hướng hĩ" (Tâm không tĩnh thì không chuyên nhất, động tác hoàn toàn không có hướng nhất định). Hành công của Thái Cực Quyền, do động tác và ý thức có phương hướng nhất định hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời, trong quá trình hành công, nội kình và ngoại hình lại phải làm được vĩ lư chính trung thần quán đỉnh, khí trầm đan điền hải để gian và hàm hung bạt bối, khai khố viên đang, thúc đẩy khí từ trong háng đi qua. Như vậy, đã rèn luyện được con đường tuần hoàn lớn từ trước xuống dưới rồi sau lên trên của toàn thân. Ngày tháng về sau, khiến "thông tam quan" trong khí công có thể không cầu thông mà tự thông.
3. Thức này là động tác hoàn toàn lấy thông lưng làm chính. Hình 101 là tư thế khí đi qua các đốt xương cổ, hình 102 là tư thế khí đi qua mấy đốt xương ngực trên, hình 104 là tư thế khí đi qua mấy đốt xương ngực dưới, hình 105 là tư thế khí đi qua các đốt xương thắt lưng, hình 106 là tư thế khí đi qua các đốt xương cùng. Đây là nói riêng mỗi hình lấy mấy đốt nào đó làm chính mà động tác, chứ không phải nói các đốt khác thì không động, vì Thái Cực Quyền là nhất động vô hữu bất động.
4. Trong "Trần thị Thái Cực Quyền hội tông" (sách này do Trần Hâm viết, Trần Tích Phủ biên ấn, chia làm hai tập thượng hạ), thức quyền "Hải để châm" (kim đáy biển), nó là hai chân mở ngang, hổ khẩu chưởng phải mở ra rơi xuống giữa hai chân, điều này đối với tác dụng thông lưng và khí từ trong háng đi về sau, rồi từ vĩ lư thăng lên sống lưng, là có giúp đỡ nhất định.
Động tác một: Hai tay mở ra sang trái phải với khai kình. (Hình 107, hình chính diện của hình phụ 107) Phần sau giống động tác một, hai, ba, bốn của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy", chỉ có phương hướng khác nhau; khi thức thứ mười bốn hoàn thành, chân trái ở đông bắc, chân phải ở tây nam, còn · 115 · khi thức này hoàn thành, chân trái ở tây nam, chân phải ở tây bắc. (Hình 108–109, rồi tiếp hình 52–54)
Yếu lĩnh:
Giống yếu lĩnh của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy".
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm hơi dời về sau; đồng thời hai tay trước tiên mỗi tay xoay cánh tay tại chỗ vạch một vòng nhỏ (để dẫn khởi động tác), tức tay phải đại thuận triền xoay cánh tay với đến bụng · 116 · trước, tay trái tiểu nghịch triền vòng đến trước ngực, hai tay hình thành hợp kình. (Hình 110) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời về trước, chân trái biến thành thực; đồng thời, tay phải xoay cánh tay thuận triền, chưởng trái tiểu nghịch triền, hai tay hợp giữ kình, cong theo hình cung chen ra về phía trên phải. (Hình 111)
Động tác hai: Thân chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân trái, chân phải nâng lên về trước. Đồng thời, tay phải thuận triền đỡ lên; tay trái nghịch triền xoay cánh tay, lấy khớp cổ tay ở phía mu bàn tay cong theo hình cung bằng (chưởng) về phía trên trái, năm ngón tay rủ xuống. (Hình 112) Thân tiếp tục hơi chuyển sang trái, chân phải bước lên một bước; đồng thời hai tay thuận triền lật chưởng đặt ở hai bên tai, lòng bàn tay nghiêng hướng ra ngoài. (Tiếp hình 19) Phần sau giống thuyết minh phần sau của động tác hai thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Hình 20)
Yếu lĩnh:
Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".
· 117 ·
Động tác và yếu lĩnh đều giống thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21–25, rồi tiếp hình 113)
Động tác một: Thân chuyển sang trái, gối phải hơi duỗi không thẳng cứng. Đồng thời, tay móc phải biến thành chưởng thuận triền, cong sang trái dời lên đến trước trán phải, lòng bàn tay hướng sang trái; chưởng trái từ trong ra ngoài trái thuận triền hơi duỗi, cánh tay không thẳng cứng, lòng bàn tay hướng xuống. (Hình 114) Thân hơi chuyển sang phải, chân trái kề nửa bước sang phải, lấy mũi chân điểm đất, chân phải biến thành thực. Đồng thời, chưởng phải từ thuận triền chuyển thành nghịch triền mở ra sang phải, lòng bàn tay từ hướng xuống chuyển thành hướng sang phải; chưởng trái từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải thuận triền đến bên phải thân, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải. (Hình 115) Thân hơi chuyển sang trái, chân trái mở ngang nửa bước sang trái. Đồng thời, tay phải cong theo hình cung rơi xuống, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái từ thuận triền chuyển thành nghịch triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài, vạch cung lên trên. (Hình 116)
· 118 · Động tác hai: Trọng tâm dời sang chân trái, chân phải qua phía sau chân trái lén bước một bước sang trái (đông), thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay qua trước mặt cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái, lòng bàn tay chuyển hướng sang trái; chưởng phải xoay cánh tay qua trước bụng cong theo hình cung nghịch triền vận sang trái và lên, lòng bàn tay lật hướng lên trên trái. (Hình 117) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái mở ngang một bước sang trái (đông). Đồng thời hai tay thuận triền, chưởng trái xoay cánh tay từ trái xuống dưới qua trước bụng sang phải nghịch triền vận lên, lòng bàn tay nghiêng hướng lên trên phải; chưởng phải xoay cánh tay từ trái lên trên qua trước mặt vận sang phải, lòng bàn tay hướng sang phải. (Hình 118) Trọng tâm dần dời sang trái, thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng phải cong theo hình cung vận xuống, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái thuận triền, xoay cánh tay lật chưởng hướng ra ngoài nghịch triền vận lên (theo hình 116).
Động tác ba, bốn đều lặp lại động tác hai. (Theo hình 117–118 rồi tiếp 116–118, sau tiếp 119)
· 119 · sau tiếp 119)
Yếu lĩnh:
1. Thức này phải chú ý đến yêu cầu hư thực của thượng hạ tương tùy (trên dưới theo nhau), kiểm tra xem có rõ ràng biểu hiện được yêu cầu này ra không: tức khi một tay nào đó xoay lên bằng (chưởng) thành hư, thì trọng tâm phải dần dời đến chân ở phía dưới tay ấy, chân ấy liền biến thành thực; một khi đã bằng lên rồi chuyển thành bằng xuống, thì chân ấy liền phải chuyển thành hư. Làm như vậy, sẽ thống nhất hư thực của hai tay và hư thực của hai chân vào trong toàn bộ thượng hạ hư thực, hình thành chỗ nào cũng luôn có một hư một thực (trừ khi nâng chân độc lập, thoát khỏi cầm nã), đạt được yêu cầu ý khí linh hoạt chuyển hoán, sinh ra thú vị tròn hoạt như hạt châu.
2. Do thức này bước ngang, nên rất dễ biểu hiện yêu cầu về viên đang (háng tròn). Viên đang là hình thức tất phải có để sinh ra ám kình ốc vít của chân. Viên đang đúng và tiêu chuẩn, tức là không được hình thành cao trạm nhi tiêm đang (đứng cao mà háng nhọn), đê trạm nhi đãng đang (đứng thấp mà háng xệ), đòi hỏi động tác được làm trong tình trạng không nhọn không xệ, để đạt được viên đang chính xác.
3. Vận thủ là thức duy nhất trong Thái Cực Quyền rèn luyện đại triền ty từ song thuận chuyển thành song nghịch. Thức này phải biểu hiện đầy đủ tác dụng lưng và eo hợp nhất làm một, trở thành trục xe hình cầu; then chốt là nó không phải triền ty trái phải trên mặt phẳng, mà có thành phần triền ty trong ngoài, và lấy đó làm dẫn đạo. Qua yêu cầu này, tiến thêm một bước có thể kiểm tra xem "khí áp vào lưng" có áp chặt không, eo như trục tròn có tròn mà hoạt không.
Động tác một: Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân phải bước xéo nửa bước về phía trước phải (tây nam). Đồng thời, tay trái nghịch triền, thu về trước ngực; tay phải thuận triền, qua trước bụng hợp lại sang trái, hai cánh tay giao chéo trước ngực, cánh tay phải ở ngoài. (Hình 120) Hai cánh tay trước tiên hơi hợp lại, co nhỏ vòng giao chéo, kế đó hai tay nghịch triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay nghiêng hướng xuống; trọng tâm khi hai cánh tay hơi hợp thì hơi dời sang phải, khi hai tay mở ra thì lại dời sang trái. (Hình 121)
Động tác hai: Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang chân phải. Đồng thời, tay phải xoay cánh tay nghịch · 120 · triền đến bên cạnh tay phải, lòng bàn tay nghiêng hướng vào trong; tay trái tiểu thuận triền hợp sang phải, lòng bàn tay hướng lên.
(Hình 122) Lấy gót chân phải làm trục, thân tiếp tục chuyển sang trái, trọng tâm toàn bộ dời sang chân phải, chân trái nâng thu về, qua phía trong mắt cá chân phải lùi bước về sau (tây), lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, khoảng cách hai chân bằng vai. Đồng thời, chưởng trái gập cánh tay nghịch triền thu về bên hông trái, lòng bàn tay hướng lên; chưởng phải thuận triền đẩy ra trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 123–124, hình chính diện của hình phụ 124)
Yếu lĩnh:
1. Phần sau của động tác hai, chưởng phải đẩy ra, chưởng trái thu vào và chân trái lùi bước · 121 · phải phối hợp nhất trí.
2. Thức này tiếp ngay sau song khai của Vận thủ, cho nên khi làm động tác hợp khai, phải chú ý yêu cầu "ý dục hợp tất tiên ly khai, ý dục khai tất tiên ly xá" (muốn hợp ắt trước phải rời khai, muốn khai ắt trước phải rời buông). Tức là trước khi hợp, trước tiên đem hai gốc chưởng trầm xuống dưới, rồi song hợp lại; sau khi hợp rồi, trước khi lại khai, cũng phải trước tiên thu chặt một chút vòng hợp, rồi mới mở đôi ra sang trái phải.
3. Khi tay phải vòng một vòng nhỏ thu về bên tai phải, phải để khí áp vào lưng, trước tiên dùng sàm kình (kình đỡ). Chỉ có sàm đủ rồi mới buông ra, mới có thể buông ra một loại án kình xoay chuyển.
4. Thức này khi tay phải đẩy ra trước làm động tác cao thám, phải có thế chống đỡ tám mặt. Điểm khác biệt giữa thức này và Tà hành ngạo bộ là: tay phải của Tà hành ngạo bộ qua bên tai phải là kình mở ra sang trái phải; còn thức này là kình trước sau khai trung ngụ hợp, và đòi hỏi trong đường triền ty không có khuyết điểm lồi lõm và nội kình gián đoạn.
Động tác một: Tay phải tiểu thuận triền lật xuống đến trước bụng, lòng bàn tay hướng sang trái, ngón tay hướng xuống; tay trái từ bên hông xoay cánh tay nghịch triền đến trước ngực, lòng bàn tay hướng lên. (Hình 125, hình chính diện của hình phụ 125. Tư thế trong hình 125 ở sau hình chính diện của hình 125, là lúc đã sắp đá ra sang phải) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm vẫn ở chân phải; đồng thời, · 122 · hai tay trái nghịch, phải thuận triền, tay trái phụ ở phía trong cẳng tay phải, lấy cẳng tay phải bằng (chưởng) ra trước, cao ngang vai. (Hình 126, hình chính diện của hình phụ 126)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, tay trái nghịch triền, từ phải xuống dưới qua trước bụng mở ra sang trái, lòng bàn tay hướng sang phải; chưởng phải thuận triền hơi dời xuống, lòng bàn tay hướng xuống, hai cánh tay mở ra (lúc này mũi cùi chỏ trầm xuống một cái, là khai trung ngụ hợp). (Hình 127, hình chính diện của hình phụ 127) Thân hơi chuyển sang phải, tay phải xoay cánh tay thuận triền hợp vào trong đến bên trái trước ngực, tay trái từ trái lên trên vạch cung sang phải đến phía trên cánh tay phải, hai cánh tay giao chéo; đồng thời chân trái qua trước chân phải bước ngang sang phải, mũi chân hướng ra trước. (Hình 128, hình chính diện của hình phụ 128)
· 123 · Động tác ba: Chân phải căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước phải; đồng thời, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng xuống, chưởng phải liền nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân phải, chưởng trái cũng theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau trái. (Hình 129, hình chính diện của hình phụ 129)
Yếu lĩnh:
Động tác chính của Sát cước là lấy khai của lý đại song thuận triền, chuyển thành hợp của đại song thuận triền; khi hai cánh tay song hợp, chân trái bước ngang, từ hư biến thành thực; đồng thời, chân phải biến · 124 · hư, tức lấy chân phải đá lên, lúc này hai cánh tay liền chuyển thành đại song nghịch triền vỗ chà ra sang trái phải; lúc này nên chú ý ngón út của hai tay. Trong quá trình sát cước đại thuận đại nghịch triền như vậy, Then chốt khiến chân trái độc lập vững vàng là ở chỗ mu bàn chân phải đá lên có tác dụng bằng phẳng thẳng.
Động tác một: Chân phải thu về, rơi xuống sang phải (đông), mũi chân vểnh ra ngoài đạp vững, thân đồng thời chuyển sang phải, trọng tâm dời sang chân phải, gót chân trái rời đất nâng lên; đồng thời, hai tay thuận triền từ trái phải xuống dưới hợp lại giao chéo trước ngực. (Hình 130, hình mặt sau của hình phụ 130) Thân hơi chuyển sang phải; đồng thời, hai tay thuận triền hướng lên qua trước mặt mở ra sang trái phải, lòng bàn tay hướng ra ngoài. (Hình 131)
· 125 · Động tác hai: Chân trái căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước trái; đồng thời, chưởng trái nghịch triền đón đánh (chà) vào mu bàn chân trái, chưởng phải cũng theo đó nghịch triền vỗ xuống về phía sau phải. (Hình 132)
Yếu lĩnh:
1. Khi chuyển hoán một hợp một khai, phải giữ vững vàng, tức khi trọng tâm dời lên chân phải, phải do hai tay hợp kình mà nâng chân trái lên. Đồng thời, khi trọng tâm dời sang phải thì thân phải trung chính.
2. Phải nâng chân trái lên khi hai tay mở ra sang trái phải, rồi đá chân trái lên trên; hướng đá là ở giữa phía trái và phía trước, tức là hợp với đường quyền thành 45 độ là thích hợp.
Động tác một: Chân trái thu về nâng lên, lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau trái 135 độ; đồng thời, hai tay lấy thuận nghịch triền giao chéo trước ngực; trong khi chuyển thân, hai chưởng biến thành quyền nghịch triền một vòng giao chéo hợp kình ở trước ngực. (Hình 133, hình chính diện của hình phụ 133)
Động tác hai: Kế đó mũi chân trái vểnh lên, lấy gót chân đạp ra sang trái (tây); đồng thời hai quyền nâng lên, qua trước ngực phát ra sang trái phải, tâm quyền hướng xuống. (Hình · 126 · 134, hình chính diện của hình phụ 134)
Yếu lĩnh:
1. Khi thân chuyển một cái phải giữ vững vàng; khi chuyển thân, phải căng bằng mu bàn chân trái đã nâng lên càng nhiều càng tốt, cho mũi chân hướng xuống, để giảm bớt trọng lượng rủ xuống của chân trái. Chuyển thân phải vận dụng quán tính khi hai cánh tay song nghịch triền để dẫn thân xoay qua. Cho nên, có người gọi là "Quải thụ đăng cước" (treo trên cây đạp chân), vì hai cánh tay song nghịch xoay một cái ở trên, giống như hai tay treo trên cây vậy. Thức này còn phải chú ý các yêu cầu lập thân trung chính, khí trầm đan điền và đỉnh kình bất thất (không đánh mất đỉnh kình).
· 127 ·
Động tác một: Chân trái thu về nâng lên; đồng thời, hai tay biến thành chưởng, tay trái thuận triền vạch cung đến trước ngực, tay phải hơi nghịch triền, hai lòng bàn tay đều hướng sang phải. (Hình 135) Mũi chân trái vểnh ra ngoài rơi xuống sang trái (tây nam), thân chuyển sang trái. Đồng thời, tay trái thuận triền xoay cánh tay đến trước ngực, lòng bàn tay hướng phải trước; chưởng phải nghịch triền đến phía trên cẳng tay trái, lòng bàn tay hướng trái trước, hai cánh tay giao chéo. (Hình 136)
Động tác hai giống động tác hai của thức thứ mười "Tiền thang ngạo bộ", chỉ khác phương hướng. Trong thức thứ mười chân phải bước ra xéo về phía đông nam, còn thức này chân phải bước ra xéo về phía tây bắc. (Hình 137)
Yếu lĩnh:
Giống thức thứ mười "Tiền thang ngạo bộ".
Động tác một: Thân chuyển sang phải, mũi chân phải vểnh ra ngoài, trọng tâm dời sang chân phải, chân trái nâng lên, qua phía trong mắt cá chân phải bước lên xéo về phía trước trái (tây nam), kế đó trọng tâm dời sang trái. Đồng thời, chưởng trái thuận triền, từ trái qua trước mặt dời sang phải biến thành quyền, tâm quyền hướng vào trong; tay phải · 128 · chưởng từ thuận triền thành nghịch triền, vạch cung sang phải sau biến thành quyền, tâm quyền hướng trước lên. (Hình 138)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, quyền phải thuận triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng vào trong; quyền trái thuận triền, qua trước ngực mà xuống rơi về bên trái, tâm quyền hướng lên. (Hình 139, hình chính diện của hình phụ 139) Thân tiếp tục hơi ngồi xổm xuống, chân trái tiếp tục cung ra trước. Đồng thời, quyền trái nghịch triền gập cùi chỏ nâng lên về phía trên trái, tâm quyền hướng xuống; quyền phải nghịch triền đấm xuống phía trước (từ ngoài vào trong nghịch triền một vòng nhỏ), tâm quyền hướng vào trong. (Hình 140, hình chính diện của hình phụ 140)
· 129 · Yếu lĩnh:
1. Trọng điểm của thức này là phải trong khi phủ phục đạt được yêu cầu "vĩ lư chính trung thần quán đỉnh" (xương cụt ngay giữa, thần xuyên qua đỉnh); chỉ cần vĩ lư ngay giữa, mới khiến thân không ngã về phía trước, tức do xương cụt ép xuống, có thể khiến toàn bộ xương sống quán xuyến; chỉ cần trên xương sống đàn hồi đầy đủ (tam quan đại đạo đã mở ra), thì có thể bật dậy một cái, bất kỳ trọng áp nào cũng không đè nổi; nếu vĩ lư đổ xuống một cái, mất đi đàn hồi, thì phủ phục dưới đất không thể đứng dậy nổi nữa.
2. Phải trong khi phủ phục không đánh mất đỉnh kình, tức là do hai quyền lấy kình song thuận triền vạch đối nhau một vòng trên mặt đất, như vậy không những xoa động lưng, mà trên đỉnh đầu cũng đồng dạng xoay một vòng nhỏ. Cho nên lại gọi là "Thần tiên nhất bả trảo" (thần tiên chụp một cái), tức là sau khi chụp một vòng thì biến thành quyền, rồi lại xoay một vòng trên mặt đất, và đấm xuống dưới, giống như sau khi gạt bỏ bụi đất trên mặt đất, đem vật cắm trồng xuống vậy, do đó lại gọi là Tài chùy (đấm trồng cây).
Động tác một: Thân chuyển sang phải, trọng tâm ở chân trái, chân phải hơi duỗi không thẳng cứng; đồng thời, quyền trái gập cánh tay theo đà chuyển thân hơi dời xuống, quyền phải xoay cánh tay, gập cùi chỏ, gập cổ tay nâng lên, hai tâm quyền đều hướng vào trong. (Hình 141, hình chính diện của hình phụ 141) Lấy gót chân trái làm · 130 · trục, thân tiếp tục chuyển sang phải, chân theo đà chuyển thân thu về nửa bước, lấy mũi chân điểm đất. Đồng thời, quyền phải thuận triền rơi xuống về bên phải thân, tâm quyền hướng lên; quyền trái nghịch triền từ trái ra trước gập cùi chỏ nâng lên, tâm quyền hướng vào trong. (Hình 142) Trọng tâm dời đến chân trái, chân trái ngồi xổm xuống (tăng cường đàn hồi của chân trái); đồng thời, quyền phải xoay cánh tay nghịch triền từ phía sau thân cong theo hình cung nâng lên, quyền trái nghịch triền rơi xuống về bên trái thân. (Hình 143)
Động tác hai: Trọng tâm dời về trước, gót chân phải rơi xuống đạp vững, chân trái căng bằng mu bàn chân đá lên phía trước trên; đồng thời hai quyền biến thành chưởng nghịch triền, tay phải ra trước lên, tay trái ra sau xuống · 131 · vạch cung, lòng bàn tay phải hướng ra trước, lòng bàn tay trái hướng vào trong xuống. (Hình 144, hình chính diện của hình phụ 144) Chân trái chưa rơi xuống đất, chân phải liền đạp đất nhảy lên, đá lên phía trước trên với mu bàn chân căng bằng, chưởng phải liền đón đánh vào mu bàn chân phải về phía trước, kế đó chân trái rơi xuống đất, chưởng trái khi chưởng phải đón đánh mu bàn chân phải thì giơ ngang sang trái. (Hình 145–146, hình chính diện của hình phụ 146)
Yếu lĩnh:
· 132 · Nhị khởi cước là động tác huấn luyện nhảy bật, là hai chân trái phải lần lượt rời đất nhảy lên đá ra, cho nên lại gọi là Thích nhị khởi (đá hai cái). Nhị khởi cước của Trần thức Thái Cực Quyền có bốn cách luyện, có thể căn cứ vào thể lực mạnh yếu và mục đích của người luyện mà chọn. Nay theo thứ tự từ dễ đến khó, liệt kê như sau:
(1) Lấy nhất khởi thay cho nhị khởi, tức là chỉ lấy chân phải đá lên, lấy chưởng phải đón đánh vào mu bàn chân phải, mà không có quá trình hai chân rời đất, nhưng khi luyện vẫn phải có thượng đề kình của nhị khởi;
(2) Tức theo phương pháp thuyết minh động tác ở trên mà rèn luyện, đặc điểm của nó là lấy đại khai đại triển mở rộng vòng triền ty để hỗ trợ thân nhảy lên và đá hai cái;
(3) Giảm bớt động tác và thu nhỏ vòng triền ty, chỉ cuốn một vòng, tức hai chân lần lượt rời đất đá lên;
(4) Sau khi Kích địa chùy, phiên thân một cái, hai chân liền lần lượt rời đất đá lên, đây là cách đơn giản nhất, cũng là cách khó nhất.
(Còn gọi là Hộ tâm chùy — đấm che tim, hoặc Đả hổ thế — thế đánh hổ)
Động tác một: Chân phải rơi xuống chưa chạm đất, chân trái liền nhảy lên; đồng thời hai tay từ trái lên trên rồi bằng (chưởng) lên trên phải thuận triền (hai tay phải có lĩnh kình, dẫn thân bay lên giữa không trung, giống tư thế ném rổ bóng rổ. Nếu người yếu, có thể cho chân phải rơi xuống trước, chân trái rồi nâng lên, không làm động tác có quá trình rời đất). (Hình 147. Hình này tiếp theo hình chính diện của hình 146 mà xuống, cho nên từ hình 147–151 vẫn nên làm động tác với ngực hướng về đông) Kế đó chân phải rơi xuống đất, chân phải ngồi xổm xuống, tiếp theo chân trái bước ngang một bước xéo về phía sau trái (tây bắc), hạ thấp chân trái (bộc), đầu gối trái hơi khuất; thân đồng thời chuyển sang phải; hai chưởng theo đà chuyển thân rơi xuống về phía trước phải, lòng bàn tay hướng xuống phải. (Hình 148) Thân chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, cung chân trái, đạp chân phải, đầu gối phải hơi khuất; đồng thời hai chưởng biến thành quyền xoay cánh tay trái nghịch, phải thuận triền, quyền trái qua trước bụng cuốn lên trên trái cho tâm quyền hướng sang trái, quyền phải từ phải cuốn · 133 · đến trước ngực, tâm quyền hướng lên trên trái (thành thức Tả đả hổ). (Hình 149)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang phải, chân phải dời sang trái một chút, lấy mũi chân điểm đất; đồng thời, quyền trái nghịch triền gập cánh tay thu vào trong đến ngang đầu, quyền phải thuận triền gập cánh tay thu vào trong đến trước ngực. (Hình 150) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái ngồi xổm xuống, phía trong gót chân phải sát mặt đất, vạch ra bộc bộ về phía trước phải (nam, hơi lệch đông); đồng thời hai quyền trái nghịch, phải thuận triền theo thân ngồi xổm mà trầm xuống. (Hình 151) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải, cung chân phải. Đồng thời hai tay xoay cánh tay nghịch triền, quyền trái theo đà chuyển thân dời sang phải, tâm quyền hướng phải sau; quyền phải qua trước ngực mà xuống cuốn đến bên phải bụng, tâm quyền hướng vào trong. (Hình 152. Tư thế trong hình này là chính diện, kỳ thực chỗ hai chân đạp vẫn như hình trên tại chỗ chưa động, từ hình 152–154 cũng vẫn là ngực hướng về đông mà làm động tác) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải. Đồng thời, quyền trái qua trước ngực sang trái thuận triền đến trước hông trái, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải từ phải sau lên trên, xoay cánh tay gập cùi chỏ nghịch triền đến bên tai phải, tâm quyền hướng xuống. (Hình 153) Thân chuyển sang trái, trọng tâm hơi dời sang trái, đầu gối trái hơi khuất, quyền trái thu vào trong một chút đến trước bụng, · 134 · Quyền phải xoay cánh tay, cổ tay gập vào trong duỗi ra trước, hai tâm quyền đều hướng vào trong. (Hình 154)
Yếu lĩnh:
1. Thức này đòi hỏi thành phần lý ngoại triền ty (triền ty trong ngoài) nhiều hơn, và đòi hỏi trong động tác trong ngoài đạt được tiết tiết quán xuyến, chu thân nhất gia (toàn thân một nhà). So với trước, đây là điều cần tiến thêm một bước luyện tập. Thức quyền này dễ biểu hiện rõ ràng yêu cầu nhất động toàn động (một phần động thì toàn thân động).
2. Do thành phần lý ngoại triền ty nhiều, liền thúc đẩy tác dụng lưng và eo liên hợp chủ tể, mà trong chủ tể lại lấy lưng giữ vị trí thứ nhất (là chủ yếu để dẫn tiến lạc không · 135 · triền ty). Cho nên thức này trong vận động Thái Cực Quyền là một trong những hình thức chính để rèn luyện lý ngoại, thuận nghịch triền ty kình.
3. Thức này khi động tác lên, khố khẩu (miệng háng) đòi hỏi thấp (nhưng thấp không quá đầu gối); nó khi chuyển hoán hư thực trong chân, lúc đó càng dễ cảm thấy khí của hội âm (phần giữa của tiền âm và hậu âm) xông lên vĩ lư, đây là yêu cầu chính của viên đang biểu hiện trong thức này.
4. Trong thức này, kình bằng (chưởng) của ngoại thuận triền và kình bằng của nội nghịch triền, đòi hỏi khi chuyển góc ngoặt chuyển hoán mặt bằng triền ty, động tác xoắn ốc của nó đều có thể đạt đến trên da, và không có khuyết hãm tồn tại bên trong; đây tức là nói, chỉ có xoắn ốc trên da mới có thể đạt được tác dụng dắt động của triền ty kình (triền ty kình có thể đạt đến trên mặt da mà không có khuyết hãm hay không, trong thức này dễ biểu hiện ra nhất).
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dời sang trái, chân trái hơi cung. Đồng thời tay trái thuận triền lật xuống đến trước bụng trái, tâm quyền hướng lên; tay phải thuận triền hơi lật sang phải trước đến trước bụng, tâm quyền hướng vào trong lên. (Hình 155. Trong hình này chỗ hai chân đạp vẫn như hình trên tại chỗ chưa động, ngực vẫn hướng về đông, từ hướng ngực hướng về đông bắt đầu động tác của thức này) Thân chuyển sang phải, trọng tâm dời sang phải, cung chân phải, chân trái duỗi mà không thẳng; đồng thời hai quyền biến thành chưởng nghịch · 136 · triền, qua trước ngực mở ra sang phải. (Hình 156) Hai tay nghịch triền sang phải mà xuống, biến thành phải thuận, trái nghịch triền xoay lên trên đất, chưởng trái qua trước bụng vạch cung lên trên trái đến ngang đầu, lòng bàn tay hướng ra ngoài; chưởng phải cong theo hình cung cuốn đến trước bụng, lòng bàn tay hướng sang trái. Đồng thời trọng tâm dời sang trái, chân phải nâng lên về trước. (Hình 157)
Động tác hai: Mũi chân phải vểnh ra ngoài bước lên nửa bước về phía trước, thể trọng dời về trước, chân trái theo đó nâng lên; trong khi chân phải nâng lên bước tới, đồng thời hai tay thuận triền, chưởng phải đẩy ra trước, chưởng trái qua trước mặt cong theo hình cung rơi xuống sang phải, cẳng tay trái rơi trên cẳng tay phải, hai cánh tay giao chéo hợp kình, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. (Hình 158) Hai cánh tay thuận triền mở ra sang trái phải, lòng bàn tay đều hướng ra sau; đồng thời, chân trái từ sau dưới lên trên lấy khỏa kình (kình quấn) cong theo hình cung quấn lên, lấy phía trong bàn chân đón đánh vào chưởng trái. (Hình 159, lúc này ngực nên hướng về nam) Lấy gót chân phải làm trục, thân chuyển về phía sau phải (180 độ, ngực hướng bắc); theo khi chuyển thân, đồng thời hai tay từ khai chuyển thành lý hợp, giao chéo trước ngực, cánh tay trái ở trên; chân trái cũng theo đà chuyển thân từ trên quét chuyển sang phải sau. (Hình 160) Thân tiếp tục hơi chuyển sang phải, chân trái rơi xuống đất; đồng thời hai tay thu nhỏ vòng hợp kình, lòng bàn tay trái hướng xuống, lòng bàn tay phải hướng vào trong. (Hình 161, hình chính diện của hình phụ 161, hình chính diện của hình 161 tiếp liền sau hình 160, kỳ thực là ngực hướng bắc, mà từ hình 161 trở đi đã phù hợp với phương hướng trong thuyết minh động tác)
· 137 · Yếu lĩnh:
1. Toàn phong cước là kình quét đất (tảo thang thối) một chân đứng, một chân lơ lửng giữa không trung; bốn vòng phía trước là biểu hiện khai hợp trước khi quét của toàn phong (từ hình 158–161 để hoàn thành động tác xoáy quét của Toàn phong cước).
2. Hình 159 biểu hiện động tác quét lên của Toàn phong cước, chưởng trái và phía bên chân trái vỗ rồi chuyển thân; trong quá trình chuyển, đòi hỏi chân trái hơi cong không thẳng mà chuyển ngang qua, nhưng không cho phép gập chân mà chuyển qua; đây là sự huấn luyện đối với thối kình (kình chân) và thăng bằng của tay phải, cần bỏ ra ít thời gian để luyện tập.
3. Trần thức Thái Cực Quyền để thích ứng với các đối tượng khác nhau, có những động tác chia làm hai cách luyện khó và dễ. Cách luyện khác của thức này là (bắt đầu từ hình 158) trước tiên đưa chân phải lên nửa bước về trước, gót chân trái nâng lên, hai tay giao chéo trước ngực; tiếp theo chân trái đá lên về phía trước (không phải quét ngang), sau khi đá thì gập gối thu chân chuyển thân rơi xuống (không phải duỗi thẳng chân mà chuyển ngang qua); sau khi chân trái đạp vững, nâng chân phải lên đạp ra ngang bằng gót chân. Điểm khác biệt của nó là bỏ đi kình quét ngang, thay đổi thành hai động tác đá chân và đạp chân.
· 138 · bỏ đi kình quét ngang, thay đổi thành hai động tác đá chân và đạp chân.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm hơi dịch sang trái; đồng thời, hai lòng bàn tay lật hướng ra trước, và thu nhỏ vòng giao chéo, tức thì hai chưởng nghịch triền qua trước bụng phân hướng hai bên mở ra (ý chú vào hai ngón út); thân thể theo lúc hai tay phân khai mà chuyển về chính, khẩu đương càng trầm xuống. (Hình 162) Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, chân phải thu về, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân trái; đồng thời, hai chưởng biến thành quyền thuận triền, từ hai bên mà xuống hướng trước bụng hợp trụ kình, hai cẳng tay giao chéo, cánh tay trái ở trên, lòng quyền đều hướng vào trong xuống. (Hình 163, hình chính diện của hình phụ 163) Thân thể tiếp tục hơi chuyển sang trái (bồng kình toàn thân không mất), hai cánh tay thu nhỏ vòng giao chéo (để súc kình), chân phải nâng lên. (Hình 164, hình chính diện của hình phụ 146)
Động tác hai: Hai quyền thuận triền phân hướng hai bên phát kình; đồng thời chân phải móc lên mũi chân, lấy gót chân hướng sang phải đạp ra phát kình. (Hình 165)
Yếu lĩnh:
1. Điểm khác nhau giữa thức này và thức thứ ba mươi lăm "Đăng nhất căn" là, thức trước đạp chân trái, thức này đạp chân phải. Làm động tác Đăng nhất căn này, phải trước khi đạp làm tốt súc kình đầy đủ, rồi sau mới phát, để đạt được yêu cầu "súc nhi hậu phát".
· 139 ·
Động tác một: Chân phải nâng gối thu về, chân trái đứng độc lập; đồng thời, quyền phải thuận triền rơi xuống trước đương, quyền trái thuận triền hơi rơi xuống. (Hình 166) Lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải (đông). Đồng thời, cánh tay phải ngoại chuyển hướng vào trong thuận triền, từ trước đương mà lên, theo đà chuyển thân hướng sang phải hình cung hạ lật đến bên chân phải, cánh tay phải buông xuống, lòng quyền hướng lên; quyền trái chuyển cánh tay nghịch triền từ trong dưới chuyển hướng ra ngoài trên, dựng thẳng cẳng tay trái, lòng quyền hướng vào trong. (Hình 167)
Động tác hai: Hai quyền biến thành chưởng hợp trước ngực, song thuận triền rơi xuống, tay phải hơi thấp hơn tay trái, chân phải vẫn nâng lên. (Hình 168) Hai chưởng từ hai bên giơ lên, dẫn thân thể đứng lên (như hai tay ném bóng rổ với song lĩnh kình), mũi chân phải nâng lên. (Hình 169—170, sau khi thân thể được dẫn đứng lên trong hai hình, vẫn phải cùng hướng với hình 168, hai · 140 · hình cho thấy chính diện và mặt bên của nó) chân phải bàn chân đạp đất duỗi ra, thân hơi chuyển sang phải, chân trái bước sang trước trái (đông bắc), hai chân khuất gối hạ tấn; đồng thời, chưởng phải biến thành quyền nghịch triền đến trước bụng trái, chưởng trái nghịch triền hướng vào ngực thu hợp bồng, chưởng trái đặt trên khuỷu tay phải giao chéo. (Hình 171)
· 141 · Động tác ba: Quyền phải chuyển cánh tay thuận triền hướng xuống phải, chưởng trái nghịch triền hướng lên trái phân khai thành hình cung, lòng quyền phải hướng xuống, lòng chưởng trái hướng ra ngoài. (Tiếp hình 52; hình 51 tức là thế biến của hình 171)
Động tác bốn giống với động tác ba của thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy". (Tiếp hình 52—54)
Yếu lĩnh:
1. Chân phải sau khi đạp không rơi xuống đất. Do hai quyền thuận triền rồi thu về, dẫn dắt chân phải thu về; trong quá trình thu về, do hai quyền trái hướng tới trước, phải hướng tới sau song lật, khiến chân phải thu về và chân trái độc lập ổn định lại.
2. Yêu cầu đỉnh kình thượng ngạc, khí hướng xuống trầm, thùy kiên thùy chửu, chân trái đạp phẳng vững vàng. Thì tự nhiên độc lập vững vàng.
3. Trọng điểm của thức này và thức thứ mười bốn "Yểm thủ quăng chùy", đều ở phát kình, chỉ có động tác bồng tiếp khác nhau.
4. Thức này sau khi chuyển thân đạp chân, chuyển thành hai tay trên dưới lật chuyển mà hợp trụ kình (hình 167); hợp xong hai tay phân một cái, sinh ra khai kình (hình 168); phân xong hai tay lập tức giơ lên và hai chưởng thượng thác, như bưng quả bóng rổ nhảy lên, và hướng vào rổ ném vào vậy, như thế có thể đem thân thể dẫn đứng lên.
Động tác một: Thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, quyền phải biến thành chưởng đại nghịch triền, khuất chửu, lòng chưởng hướng xuống, hổ khẩu mở ra; chưởng trái từ bên sườn trái tiểu nghịch triền đến dưới ngực. (Hình 172, hình mặt bên phía bên kia của hình phụ 172) Mũi chân phải xoay ra ngoài bước tới trước; đồng thời, chưởng phải hướng tới trước thuận triền lật chưởng khiến lòng chưởng hướng lên, chưởng trái thuận triền giao đáp trên cẳng tay phải. (Hình 173) Tiếp liền chân trái hướng tới trước bước một bước lớn, mũi chân hơi khấu vào trong, bộc thối; đồng thời hai chưởng nghịch triền lật chưởng, chưởng phải hướng xuống, chưởng trái hướng tới trước xuống phân khai lấy gốc bàn tay đột nhiên chém ra. (Hình 174)
· 142 · · 143 · Động tác hai: Tiếp liền, thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải từ trên phải thuận triền rơi xuống bên sườn phải, lòng chưởng hướng vào sườn; chưởng trái thuận triền từ dưới chuyển lên, cẳng tay dựng thẳng, lòng chưởng hướng tới trước trên. (Hình 175) Trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền chuyển cánh tay hơi rơi, chưởng phải thuận triền từ trên hướng sang trái, hai chưởng giao chéo nội hợp hướng sang trái (đông) phát kình. (Hình 176)
Yếu lĩnh:
1. Động tác của thức này phải hoàn thành một mạch liên tục, không chút dừng lại, mục đích ở chỗ thuận theo yếu kình mà cho đi, tức là thuận theo hướng yếu cầu, không đỉnh kháng, do hai chưởng nghịch triền song phẫu mà giải phóng.
2. Động tác cuối cùng của thức này, phải trong quá trình không dừng lại, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, hai chưởng hợp đến điểm cuối, giao chéo đột nhiên hướng sang trái đánh một cái; lúc này nên chú ý gốc bàn tay của hai chưởng.
3. Thức quyền Tiểu cầm đả này, phân thành hai phần động tác trái phải, nhưng lại biểu hiện thống nhất, mục đích ở chỗ vận dụng xoáy ốc triền ty, thuận theo yếu kình, do song thuận triền thủ pháp và song nghịch triền khai kình, lại chuyển thành song thuận hợp kình và song nghịch phát kình.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, hai chưởng biến thành quyền, quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền hướng tới trước xuống duỗi, lòng quyền hướng xuống; quyền trái nghịch triền từ dưới trái thu về, vạch một vòng nhỏ hợp đáp trên cánh tay phải, lòng quyền hướng xuống; trọng tâm vẫn ở bên trái, cung chân trái. (Hình 177) Trọng tâm dịch vào chân trái, lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải sau, chân phải thu vào nửa bước, lấy · 144 · mũi chân điểm đất; đồng thời hai quyền tiểu thuận triền tại trước ngực hợp trụ kình, lòng quyền đều hướng vào trong trên. (Hình 178) Hai quyền biến thành chưởng lấy song thuận triền khẩn súc giao chéo vòng rồi rơi xuống, tức chuyển cánh tay thành song nghịch triền, hướng hai bên phân khai, sắp đạt đến điểm cuối thì chuyển thành song thuận triền, lấy mu bàn tay phóng kình, hai lòng chưởng hướng vào nhau; mũi chân phải vẫn điểm đất. (Hình 179)
Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái; đồng thời, hai chưởng theo đà chuyển thân hơi dịch sang trái, hai khuỷu trầm xuống, hai chưởng tức lấy hữu thuận, tả nghịch triền thu về đến bên hai tai, lòng chưởng hướng vào hai gò má; đồng thời trọng tâm lại hơi dịch sang trái, vẫn lấy mũi chân phải điểm đất. (Hình 180) Chân phải bước tới trước nửa · 145 · bước, theo trọng tâm tiền dịch, chân phải khuất gối biến thực, thân thể chuyển sang phải; đồng thời, hai chưởng từ bên hai gò má hướng sang phải hơi rơi xuống, tức theo đà chuyển thân song thuận triền hướng tới trước đẩy ra; ý chú hai ngón út của hai chưởng, lòng chưởng hướng ra ngoài. (Hình 181)
Yếu lĩnh:
1. Yếu điểm của thức này ở chỗ song nghịch khai rồi biến thành song thuận mà đạt đến điểm cuối. Dùng hai mu bàn tay phóng ra và khuỷu trầm xuống, và do trầm chửu đem hai chưởng chuyển đến bên hai tai, hình thành nửa thức đầu của Bão đầu.
2. Những thức dùng hai chưởng hợp mà hướng tới trước án kình, trong quyền sáo đệ nhất lộ có ba loại kình: (1) "Lục phong tứ bế", nó là hai tay hướng tới trước biểu hiện ra bốn phần bế và sáu phần phong kình; (2) "Song thôi thủ", nó là hai tay hướng tới trước lấy gốc bàn tay đẩy kình ra; (3) "Bão đầu thôi sơn", nó là hai tay hướng tới trước án, hơi súc, phóng ra bước lớn, cung gối phải, mông không co duỗi, từ sống lưng phóng kình ra.
3. Loại hai chưởng tiền án này hình thức và nội kình đều khác nhau, đã như trên thuật. Ngoài ra, nó khi thôi sơn phóng kình, còn phải lấy hô khí (phát ra âm "hư") để phối hợp cùng gốc bàn tay hạ tháp, cùng nhau phóng ra, mới khiến sự thôi động của thôi sơn đúng mức.
Động tác một: Thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, tay trái thuận triền lật chưởng hơi tiền duỗi, khiến lòng chưởng hướng lên; tay phải thuận triền khuất chửu thu vào đến trên cánh tay trái. Đồng thời phối hợp lấy gối trái nội triền, gối phải ngoại triền. (Hình 182) Thân hơi chuyển sang trái. Đồng thời, chưởng phải thuận triền hướng tới trước chuyển, chuyển oản nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng trái thuận triền khuất chửu thu vào đến trước ngực, lòng chưởng hướng lên phải. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ nhất). (Hình 183)
Động tác hai: Thân lại hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng trái qua trước ngực mà lên thuận triền hướng tới trước, chuyển thành nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng phải thuận triền khuất chửu thu vào đến trước ngực, lòng chưởng hướng lên trái. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ hai · 146 · chưởng). (Hình 184) Thân hơi chuyển sang trái, gối phải càng cung về trước; đồng thời, chưởng phải qua trước ngực mà lên thuận triền hướng tới trước chuyển thành nghịch triền, hoành chưởng đẩy ra; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống, lòng chưởng xiên hướng vào trong phải. Đồng thời phối hợp lấy gối phải ngoại triền, gối trái nội triền (hoàn thành lần đổi chưởng thứ ba). (Hình 185)
Yếu lĩnh:
1. Thức này tiến hành động tác trong tình huống bất động bộ, và không có đại khai đại hợp, mà chỉ trong phạm vi rất nhỏ trước ngực biến hoán thủ pháp, nó chuyển cánh tay thu về là thuận triền, chuyển đến thôi động thì là nghịch triền, đây là đặc điểm của hoán chưởng.
· 147 · 2. Trong quá trình tam hoán chưởng, không những đạt được yêu cầu nhất động vô hữu bất động trong phạm vi nhỏ trước ngực này, mà còn phải trong khi chuyển đổi đầu trái phải, trên bồng kình không có khuyết hãm (hình dạng lồi lõm và kình đoạn tục), cốt yếu toàn ở vận hóa trong ngực và giữa lưng.
3. Tam hoán chưởng, lần thứ nhất dùng chưởng phải đẩy ra, lần thứ hai dùng chưởng trái đẩy ra, lần thứ ba vẫn như cũ dùng chưởng phải đẩy ra, nó trong tình huống không đổi chân hình thành ba lần chuyển đổi; khi chuyển đổi do sự biến hoán của eo mông và sự xoay ốc của chân, khiến hư thực của nội kình ở eo đương và chân cũng theo ba lần chuyển đổi, khiến nó vẫn phù hợp yêu cầu thượng hạ tương tùy; nhưng một chân chống đỡ toàn thân khá lâu, lượng vận động tức khá lớn. Thức này không những nâng cao hiệu quả thể dục, mà cũng nâng cao kỹ năng hóa kình của kỹ kích (đây là kiệt tác những năm cuối của thầy Trần Phát Khoa).
Động tác giống với động tác hai của thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Tiếp hình 18—20)
Yếu lĩnh:
Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".
Động tác và yếu lĩnh giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Tiếp hình 21—26)
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm càng hơi dịch sang trái. Đồng thời, câu thủ phải biến thành chưởng, khuất chửu chuyển cánh tay, dựng cẳng tay thuận triền đến trước mặt, lòng chưởng hướng lên trái; tay trái nghịch triền hướng sang trái xuống án, lòng chưởng hướng xuống. (Hình 186)
Động tác hai: Trọng tâm dịch sang phải, lấy gót chân phải làm trục, thân thể chuyển sang phải, mũi chân phải xoay ra ngoài; chân trái nâng lên, theo đà chuyển thân hướng vào chân phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải. Đồng thời, tay phải chuyển cánh tay nghịch triền hoành chưởng hướng sang phải hình cung ngoại triển, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng trái chuyển cánh tay rơi xuống, theo đà chuyển thân hình cung dịch sang phải, lòng chưởng hướng sang phải. (Hình 187)
· 148 · Yếu lĩnh:
Động tác của thức này như cầm trường thương múa động vậy, hai cánh tay là hợp kình. Trước hết chưởng trái như cầm chuôi thương hướng lên trái lĩnh lên, chưởng phải tại bên phải hướng lên trái hoành thác, như cầm cán thương, đem chân phải dẫn lên, lúc này da bên trái eo căng, mà bên phải lỏng, đây là một động tác đặc thù vận dụng eo khiến người ta cảm thấy thoải mái.
Động tác một: Chân trái hướng sang trái hoành khai một bước, trọng tâm tức thì dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, tay trái nghịch triền chuyển cánh tay hướng lên trái lật chuyển, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng phải chuyển cánh tay từ bên phải thuận triền rơi xuống, lòng chưởng hướng xuống trái. (Hình 188)
Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái, trọng tâm tiếp tục dịch sang trái, chân phải hướng vào chân trái thu sát, lấy mũi chân phải điểm trước chân trái;
· 149 · tay trái nghịch triền một vòng. (Hình 189) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, hình cung thượng lật, lòng chưởng hướng ra ngoài; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, từ trên xuống dưới hình cung dịch sang phải, hai tay tại bên phải trên dưới hợp trụ kình. (Hình 190)
Yếu lĩnh:
1. Yếu điểm chính của Tiền chiêu, là chưởng phải thác rồi chuyển một cái, luyện kình chuyển này, nâng cao công năng phía bên phải của eo, Hậu chiêu thì nâng cao công năng phía bên trái của eo, cho nên thống xưng là tiền hậu chiêu, cũng có thể hợp lại thành một thức quyền.
2. Tiền chiêu được xếp sau Đan tiên, nó liên hợp Hậu chiêu, lại thống xưng là tà đan tiên, biểu thị sau Đan tiên, tiếp liền làm một tà thức đan tiên. Nó vận dụng tiểu thân pháp để nhu động eo sống lưng. Trọng điểm ở linh hoạt địa tả hữu biến hoán, khiến người ta cảm thấy có một loại thú vị viên hoạt.
Động tác một: Tay trái nghịch triền chuyển cánh tay, qua trước ngực mà lên hướng lên trái lật chuyển, lòng chưởng hướng sang trái; tay phải thuận triền chuyển cánh tay, từ bên phải mà xuống, khuất chửu hướng lên phải thác, lòng chưởng xiên hướng vào trong trên, hai tay tại bên trái trên dưới hợp trụ kình; trọng tâm vẫn ở chân trái. (Hình 191) Thân hơi hạ tấn, chân phải hơi hướng tới trước, mũi chân lìa đất nâng lên. Đồng thời, chưởng trái hướng sang trái sau · 150 · Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái; đồng thời, chưởng phải khuất chửu chuyển cánh tay thuận triền đến trước mặt, chưởng trái chuyển cánh tay hơi khuất chửu nghịch triền hướng sang trái xuống án; trọng tâm vẫn ở chân phải. (Hình 194) Lấy gót chân phải làm trục, mũi chân xoay ra ngoài, thân thể chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền hướng lên phải lật, ngoại triển, lòng chưởng hướng tới trước xuống; chưởng trái theo đà chuyển thân hướng tới trước vạch cung. (Hình 195) Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, mũi chân phải tiếp tục xoay ra ngoài, trọng tâm toàn bộ dịch vào chân phải, chân trái hướng tới trước nâng lên. Đồng thời, chưởng phải theo đà chuyển thân lấy nghịch triền hướng sang phải sau (đông) hình cung hoành triển; chưởng trái hơi rơi xuống, chuyển cánh tay khuất chửu hướng tới trước trên thác. (Hình 196) Chân trái hướng tới trước · 151 · bước, theo trọng tâm tiền dịch, cung chân trái, chân trái biến thực. Đồng thời, tay trái thuận triền theo đà trọng tâm tiền dịch tiền thác; tay phải nghịch triền hướng tới sau ngoại xanh, cao ngang vai, lòng chưởng xiên hướng sau xuống, hoàn thành Dã mã phân tông thứ hai. (Hình 197)
Động tác ba: Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm hơi dịch sang trái, chân trái càng cung về trước; đồng thời, chưởng trái theo đà chuyển thân lấy nghịch triền lật chưởng hướng sang trái trước án ra, chưởng phải nghịch triền từ bên phải hình cung thu đến trước ngực. (Hình 198) Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải. Đồng thời, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, qua trước ngực hữu án; chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, hướng sang phải triển khai, lòng chưởng hướng sang phải. (Hình 199) Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, · 152 · chưởng phải thuận triền rơi xuống đến trước bụng phải, lòng chưởng hướng sang trái trước; chưởng trái qua trước ngực mà xuống, nghịch triền khuất chửu hướng sang trái nâng lên đến cao ngang vai, lòng chưởng hướng sang trái. (Hình 200) Thân hơi chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải; đồng thời, chưởng trái thuận triền, từ bên trái mà xuống triền đến trước bụng, chưởng phải hướng sang phải nghịch triền đến cao ngang bụng, lưng lòng chưởng xiên hướng sang phải sau xuống. (Hình 201) Thân thể chuyển sang trái, mũi chân trái xoay ra ngoài, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, chưởng trái thuận triền khuất chửu, oản, qua trước ngực hướng sang trái hình cung lật ra, lòng chưởng lật hướng vào trong trên; chưởng phải từ bên phải qua trước mặt hướng sang trái nghịch triền duỗi ra, lòng chưởng nghiêng hướng tới trước xuống. (Hình 202)
· 153 ·
1. Dã mã phân tông là một đại phô thân pháp khiến khí đạt đến tứ sào, như ngựa hoang không chịu trói buộc mà phi nước đại vậy. Yêu cầu duy nhất của thức này là da và cơ thịt hai bên chuỗi xương sống từ dưới cằm đến lưng phải có ý song phân khai kình, như ngựa giũ bờm; vì ở bộ vị này của thân thể là "bạt trường dễ dàng phân khai khó", động tác biên độ nhỏ, khó mà đem nó phân khai, cho nên phải trái phải lặp đi lặp lại luyện tập.
2. Thức này dễ biểu hiện ra thuận nghịch đại triền ty kình nhất. Nó trong yêu cầu lập thân trung chính an thư, chi xanh bát diện, tất cả động tác đều phải tương đối biểu hiện ra Thái Cực lục triền ty kình; hai tay là thử thượng bỉ hạ, thử hạ bỉ thượng, thử lý bỉ ngoại, thử ngoại bỉ lý, thử thuận bỉ nghịch, thử nghịch bỉ thuận, khai trung ngụ hợp, hợp trung ngụ khai mà chuyển động. Cho nên, nó rất có thể làm một ví dụ đại biểu cho Thái Cực lục triền ty kình.
3. Thái Cực Quyền yêu cầu tất cả động tác, đều do eo sống lưng làm chủ tể mà vận động, cho nên khí thiếp tích bối (khí dán vào sau lưng) là hạch tâm của vận động. Nhưng đối với bối tích (như bảy đốt xương sống vùng cổ), là bộ vị khó nhất phân khai và nhu động nó, vì thế thức quyền này, chính là để phù hợp yêu cầu này mà được liệt vào quyền sáo.
Động tác giống với động tác hai của thức thứ hai mươi chín "Lục phong tứ bế". (Hình 203, tiếp hình 19—20)
Yếu lĩnh:
Tham khảo yếu lĩnh của thức thứ tư "Lục phong tứ bế".
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21—26)
· 154 ·
Động tác một: Thân thể chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái, chân phải hơi duỗi chớ thẳng. Theo lúc chuyển thân, câu thủ phải biến thành chưởng thuận triền, từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến trước sườn trái (chú ý nội kình không mất, không biển), lòng chưởng hướng sang trái; tay trái thuận triền hướng sang trái duỗi ra, lòng chưởng hướng xuống. (Hình 204) Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải, cung chân phải, chân trái duỗi mà chớ thẳng. Đồng thời, chưởng phải chuyển cánh tay nghịch triền, từ trước sườn trái mà lên qua trước mặt hướng sang phải triển khai, lòng chưởng hướng tới trước; chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền, theo đà chuyển thân khuất chửu hơi nâng, lòng chưởng hướng lên. (Hình 205)
Động tác hai: Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, mũi chân trái khấu vào trong, trọng tâm hướng về sau dịch vào chân trái, chân phải hơi thu vào trong, lấy mũi chân điểm đất. Đồng thời, chưởng trái từ bên trái qua trước mặt nghịch triền rơi xuống đến trên khuỷu tay phải; chưởng phải chuyển cánh tay thuận triền, từ bên phải mà xuống hướng tới trước trên liêu đến trước ngực. (Hình 206) Hai tay tại trước ngực nghịch triền, lấy triền ty kình dẫn khởi toàn thân, nâng lên chân phải, chân trái đạp đất nhảy lên. (Hình 207—208) Hai chân trái trước phải sau rơi xuống (cho nên lại tên Song lạc cước), đạp đất chấn cước, trái nặng phải nhẹ; hai chưởng theo lúc chấn cước hạ án, lòng chưởng lật hướng xuống. (Hình 209)
Yếu lĩnh:
· 155 · 1. Nội hợp của hình 207 là súc kình, khiến tính đàn hồi của bồng kình nơi thân chi tăng mạnh, phải lấy lĩnh kình của hai cánh tay hơi mở mà hợp và thượng đàn kình của chân trái, mượn đà lĩnh thân chi một cái mà nhảy lên, sau đó tự nhiên lần lượt rơi xuống.
2. Tác dụng của chấn cước đã thấy ở yếu lĩnh 3 của thức thứ hai "Kim cang đảo đối". Ngoài ra, trong xã hội cũ, nếu có người bị người ta lấy các thủ pháp "tiết nã trảo bế" v.v. làm bị thương đến hôn mê hoặc ngây dại, để khôi phục bình thường, thường là đem thân thể người bệnh dựng thẳng nhấc lên, hướng xuống đất đảo một cái, do chấn động, có thể khiến tuần hoàn ở một bộ phận nào đó khôi phục lại.
· 156 ·
Động tác một: Chân phải hơi nâng, tay phải hơi nhấc, tay trái tại trước ngực phối hợp hợp trụ kình (tư thế giống hình 206). Chân phải hướng tới trước dược tiến nửa bước; đồng thời, chưởng phải hướng tới trước bình thôi phát kình, và dẫn dắt chân trái hướng tới trước dược tiến một bước lớn, thân thể theo đó chuyển sang phải, chưởng trái cũng theo đó tiền thôi (hình thành quá trình hai chân đằng không, như hình 210; nếu già yếu có thể không làm động tác quá trình đằng không, như hình phụ 210) thân thể lăng không tiếp tục hướng sang phải sau chuyển 270 độ, chân trái rơi xuống đất, tiếp theo chân phải cũng theo đà chuyển thân hướng sang phải hoành hành lạc bộ; đồng thời, hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, tay phải hướng lên phải, tay trái hướng xuống trái hướng biệt triển khai, hình thành khai kình. (Hình 211)
· 157 · Động tác hai: Thân thể chuyển sang trái chính (hướng nam), gối trái hơi khuất; hai chưởng lấy thuận triền mà hợp, lấy nghịch triền phân khai, phải trên trái dưới. (Hình 212)
Yếu lĩnh:
1. Thức này do hai động tác liên hợp thành một động tác, yếu điểm của nó ở chỗ tiếp liền ba bước, tức là chân phải tiền dược nửa bước, chân trái tiền khiêu một bước lớn và chân phải lại hoành lạc một bước. Ba bước này phải tiếp liền hoàn thành. Như thoi trên máy dệt trong hai lớp sợi rất nhanh chóng xuyên qua vậy, đây là xuyên sác kình đúng với tên gọi, khác với động tác trong quyền thức Ngọc nữ xuyên sác sau này phát triển thành xuyên sác hướng bốn góc lật chuyển.
2. Thức này như một loại tam cấp khiêu viễn đặc thù, là trong ba bước nhảy dùng xoay chuyển thân thể mà hoàn thành; về mặt kỹ kích mà nói, nó thích dụng để xuyên ra khỏi vòng vây, là trong tư thế diệc công diệc thủ mà xuyên ra.
3. Nếu sân vận động nhỏ, hoặc già yếu, hoặc muốn giảm nhỏ lượng vận động, đều có thể bỏ đi động tác đằng không khiêu dược, đổi thành phương pháp luyện tập chuyển thân thượng bộ.
Động tác một: Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, chân phải nâng về, mũi chân một khi điểm bên cạnh chân trái rồi, tức lấy gót chân hướng sang phải thiếp đất lật ra; đồng thời hai tay vạch cung, do đại khai chuyển thành song thuận triền đại hợp. (Tiếp hình 12)
Động tác hai giống với động tác hai của thức thứ ba "Lãn trát y". (Tiếp hình 13—14)
Yếu lĩnh:
Giống với yếu lĩnh của thức thứ ba "Lãn trát y" trước.
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ tư "Lục phong tứ bế". (Hình 15—20)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ năm "Đan tiên". (Hình 21—25, sau tiếp hình 113)
· 158 ·
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi mốt "Vận thủ". (Hình 114—119)
Động tác một: Thân thể chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang trái, gối trái cung ra; đồng thời hai chưởng tương hệ lấy hữu nghịch, tả thuận triền mà hướng sang phải bình dịch đến bên phải thân thể, cao ngang vai, lòng chưởng đều hướng sang phải. (Hình 213) Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân thể đứng lên, chân phải nâng lên, từ bên trái mà lên qua trước ngực mà lên hướng sang phải hoành bãi; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền, từ bên vai phải hướng sang trái, chưởng trái trước, chưởng phải sau hoành hành nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài, liên tục kích hưởng hai tiếng, hai lòng chưởng đều hướng sang trái. (Hình 214)
Động tác hai: Hai chưởng phách mu bàn chân rồi biến thành quyền, tay trái lý nội nghịch triền từ bên trái mà xuống qua trước ngực hướng sang phải vạch cung, tay phải ngoại thuận triền rơi xuống trước bụng, hai cánh tay hợp kình giao chéo trước ngực, quyền trái điệp trên cánh tay phải; chân phải hoành bãi rồi, từ bên phải rơi xuống, bên cạnh chân trái đạp đất chấn cước, toàn thân khí hướng xuống trầm, gót chân trái hơi nâng lên. (Hình 215) Chân phải khuất gối hạ tấn, mũi chân trái kiều lên, lấy gót chân thiếp đất hướng sang trái sản xuất, gối phải khấu vào trong, tùng khoá, hợp đương hạ trầm, mông, bên trong gối phải và phía sau chân trái cùng nhau thiếp đất. Cùng · 159 · lúc, quyền phải qua trước mặt mà lên hướng sang phải hình cung giơ lên, lòng quyền xiên hướng lên phải; quyền trái qua bên trong cánh tay phải mà xuống theo chân trái sản xuất tiền duỗi, lòng quyền hướng lên. (Hình 216) Thân thể hướng tới trước mà lên, đặng chân phải, cung chân trái, thành tả cung bộ. Đồng thời, quyền trái lấy mặt quyền hướng tới trước trên xung khởi, lòng quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống bên hông phải. (Hình 217)
Yếu lĩnh:
1. Thức này phân thành hai giai đoạn bãi cước và điệt xoa; trong giai đoạn bãi cước, khi bãi cước nhìn như hai tay đi phách chân, kỳ thực phải tay và chân tương hỗ nghênh kích, chân phải ngoại bãi rơi xuống thì thân thể vẫn phải trung chính, khi chấn cước phải hạ trầm kình chỉnh; trong giai đoạn điệt xoa, nói về tác dụng kỹ kích của nó, là dự phòng bất thận ngã đảo, có thể lợi dụng mông hạ trầm trước đất bật lên, tức lấy sau cước xanh khởi và tả quyền thượng xung (hai cái phải đồng thời, nhất trí địa động tác), đằng nhiên nhi khởi, đạt được hiệu quả bại trung thủ thắng.
2. Thức này khá khó làm, đối với người từ nhỏ đã học, vẫn là dễ làm được. Để thích hợp với các đối tượng khác nhau như già yếu, thích hợp luyện tập trên nền xi măng hoặc mặc quần âu, thức này cũng có thể đổi thành "Bãi cước hạ thế", tức là sau khi bãi cước, đem một cái ngã trong giai đoạn sau hủy bỏ, đổi thành chân phải khuất gối hạ tấn, chân trái hướng · 160 · bộc bộ tiền phác do, tiếp làm động tác của hình 218 phía sau.
Động tác một: Trọng tâm toàn bộ dịch vào chân trái, thân hơi chuyển sang trái, chân trái đứng lên, gối trái hơi khuất, chân phải nâng lên, mu bàn chân phải căng phẳng, mũi chân hướng xuống. Đồng thời, hai quyền thuận triền, quyền trái từ bên trái trước mà xuống, quyền phải từ bên phải sau hướng tới trước mà lên, hai quyền tại trước ngực giao chéo mà qua; theo lúc chân phải sắp nâng lên, hai quyền biến thành chưởng, tay phải thuận triền từ trước ngực phải thượng thác, tay trái nghịch triền hạ án (như hình 222, chỉ trái phải tương phản); theo lúc chân phải nâng lên, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái nghịch triền triển khai, thành tả thức Kim kê độc lập. (Hình 218)
Động tác hai: Chân trái hơi khuất (súc kình), tức dược khởi, hai chân đằng không, tức thì hai chân trái trước, phải sau rơi xuống, đạp đất chấn cước (trái nặng phải nhẹ. Là Song lạc cước), hai gối hơi khuất; chưởng phải theo chân phải rơi xuống đồng thời hạ án đến trước hông phải, chưởng trái cũng hướng sang trái hông trước hạ án. (Hình 219) Thân hơi chuyển sang phải rồi chuyển sang trái, chân phải hướng sang phải (nam) hoành khai một bước lớn, chân trái khuất gối hạ tấn. Hai chưởng theo lúc thân hơi chuyển sang phải từ trên phải giơ lên, tức theo lúc khai hữu bộ và thân chuyển sang trái qua trước ngực hướng sang trái lấy tả nghịch, hữu thuận đại triền · 161 · đến ngang vai, lòng chưởng đều hướng sang trái. (Hình 220) Trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng sang phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, thành chân phải thực, chân trái hư; đồng thời hai chưởng thuận triền, phân biệt rơi xuống bên hai hông. (Hình 221)
Động tác ba: Tiếp theo chân trái đạp thực, trọng tâm dịch sang trái, biến thành chân trái thực, tức lại đem trọng tâm dịch về chân phải, vẫn biến thành chân phải thực, gót chân trái vẫn lìa đất nâng lên. Đồng thời, chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền khuất chửu thượng thác, chưởng phải nghịch triền tại bên phải phối hợp hạ án. (Hình 222) Tức thì chân trái nâng lên, theo chưởng trái hướng lên trái, chưởng phải hướng xuống phải đều lấy nghịch triền triển khai, thành hữu thức Kim kê độc lập. (Hình 223)
· 162 · Yếu lĩnh:
1. Sau khi thức trước điệt xoa bật lên (hình 218), tức là chuẩn bị tốt cho thức này. Then chốt làm tốt độc lập, ở chỗ mu bàn chân của chân nâng lên phải căng phẳng, mũi chân cố sức hướng xuống, để giảm nhẹ trọng lượng đòn treo của chân; và lấy hai cánh tay trên dưới trái phải phân triển, đối lạp để giữ thăng bằng, như thế có thể khiến thân thể đạt được ổn định.
2. Trong khoảng từ Kim kê độc lập thứ nhất quá độ đến Kim kê độc lập thứ hai có bốn vòng, để cầu được ổn định trong quá trình hoán vị, rồi sau mới làm Kim kê độc lập thứ hai, như thế, độc lập thứ hai có thể súc nhi hậu phát địa thượng hạ nhất tề phát kình, hiển xuất toàn thân bồng ý bột phát ra ngoài.
3. Bất luận thức trước điệt xoa rơi xuống đất hoặc đổi thành hạ thế không rơi xuống, đều là do thấp nhất mà phấn khởi, đạt đến cao nhất đích độc lập quyền thức, có thể luyện tập tính đàn hồi của chân và đề kình của mông, đây là đặc điểm của thức này. Đồng thời, khi hình thành độc lập, đỉnh kình phải huyền khởi, tinh thần phải chấn tác, khiến khí biến thân khu, hình thành hình tượng "ý khí phong phát".
Động tác một: Chân phải khuất gối hạ tấn. Đồng thời, chưởng trái qua trước mặt nghịch triền mà xuống; chưởng phải từ bên phải mà lên do thuận triền chuyển thành nghịch triền, hình cung triền đến bên má phải, lòng chưởng xiên hướng sang trái trước. (Hình 224) Dưới đây giống với phần thuyết minh hình 87—88 trong động tác một của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng". (Tiếp hình 87—88, hình chính diện của hình phụ 87 và 88)
Động tác hai, ba giống với động tác hai, ba của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng". (Hình 89—91, lại tiếp hình chính diện của 88)
Yếu lĩnh:
· 163 · Giống với yếu lĩnh của thức thứ hai mươi hai "Đảo quyển quăng".
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi ba "Thoái bộ áp chửu". (Hình 92—95)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi bốn "Trung bàn". (Hình 96—99)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi lăm "Bạch hạc lượng sí". (Hình 100)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi sáu "Tà hành ngạo bộ". (Tiếp hình 33—38)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi bảy "Thiểm thông bối". (Tiếp hình 101—106)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi tám "Yểm thủ quăng chùy". (Hình 107—109, lại tiếp hình 52—54)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ hai mươi chín "Lục phong tứ bế". (Hình 110—112, tiếp hình 19—20)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi "Đan tiên". (Hình 21—25, sau tiếp hình 113)
· 164 · Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi mốt "Vận thủ". (Hình 114—119)
Động tác và yếu lĩnh đều giống với thức thứ ba mươi hai "Cao thám mã". (Hình 120—124)
Động tác một: Tiếp sau khai thức của thức trước Cao thám mã, chân trái nâng về, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải, vẫn là chân phải thực, chân trái hư; đồng thời, hai chưởng chuyển cánh tay tả nghịch, hữu thuận triền, chưởng trái từ bên trái mà lên hướng sang phải, chưởng phải từ bên phải mà xuống hướng sang trái vạch cung, hai tay lấy oản bộ giao chéo trước ngực. (Hình 225) Lấy gót chân phải làm trục, thân thể chuyển sang phải, vẫn lấy mũi chân trái điểm đất; đồng thời, hai tay nghịch triền, thu nhỏ giao chéo vòng, tay trái ở trong, hai tay hợp trụ kình. (Hình 226) Thân thể tiếp tục chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn, chân trái nâng lên hướng sang trái (đông bắc) hoành mại một bước lớn, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái; đồng thời, hai tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, lòng chưởng đều hướng ra ngoài. (Hình 227)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, trọng tâm tiếp tục dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, hữu · 165 · chưởng chuyển cánh tay thuận triền, từ bên phải mà xuống qua trước bụng hướng sang trái triền đến dưới nách trái, lòng chưởng hướng sau xuống; chưởng trái chuyển cánh tay thuận triền, khuất chửu khiến cẳng tay dựng thẳng, lòng chưởng hướng lên phải. (Hình 228) Thân hơi chuyển sang phải. Đồng thời, chưởng trái thuận triền, qua trước cổ hướng sang phải hợp trên cánh tay phải, lòng chưởng hướng xuống; tay phải tại dưới nách trái thuận triền, khiến lòng chưởng chuyển hướng xuống. Trọng tâm đồng thời càng dịch sang trái. (Hình 229)
Động tác ba: Chân phải nâng lên, từ bên trái trước mà lên hướng sang phải ngoại bãi nửa vòng; đồng thời chưởng trái nghịch triền hướng sang trái nghênh phách mu bàn chân phải bên ngoài. (Hình 230) Lấy gót chân trái làm trục, thân · 166 · thân chuyển sang phải (tây); đồng thời hai chưởng biến thành quyền, tả nghịch, hữu thuận triền, quyền phải qua trước ngực rồi sang phải xuống dưới, quyền trái chuyển cánh tay khuất chửu từ trái lên trên, nhất tề phát kình; quyền phải cao ngang hông, tâm quyền hướng lên, quyền trái cao hơn đầu một chút, tâm quyền hướng phải. (Hình 231)
Yếu điểm:
1. Thức này là từ khẩn hợp đến đại khai, lúc này yêu cầu khí thế hạ trầm; khi chuyển sang trái hai hông phải tương liên, là trong hợp ngụ khai; sau đó lại khai, là trong khai ngụ hợp.
2. Do chưởng trái giao thoa đập vào mặt ngoài bàn chân phải, cho nên gọi là Thập tự bãi liên. Sau khi đập lấy quyền trái thượng cử, quyền phải hạ phiên đồng thời phát kình, lấy sự phối hợp phát kình này để đạt được ổn định sau khi chuyển thân.
3. Khi làm động tác Thập tự bãi liên, thường thấy thoải mái và sau lưng nóng lên, đây là hiện tượng thúc đẩy khí biến khắp thân thể.
Động tác một: Chân trái hơi nhảy lên sang trái, chân phải rơi xuống chỗ chân trái đã đạp, đặng địa chấn cước; thân chuyển sang phải, chân trái bước chéo sang phía trước trái (tây nam), trọng tâm dần dần dịch sang trái. Theo chân phải rơi xuống chấn cước, tay trái chuyển cánh tay thuận triền đến bên phải ngực; quyền phải thuận triền từ phải lên trên rồi sang trái rơi trên tiểu tí trái; theo chân trái bước ra, quyền trái · 167 · theo thân chuyển nghịch triền từ trước ngực rồi sang phải vén lên, khuất chửu dựng tiểu tí lên, lấy tiểu tí đẩy nhẹ ra trước, tâm quyền hướng phải; quyền phải thuận triền phiên đến bên hông phải, tâm quyền hướng trước.
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang phải. Quyền trái chuyển cánh tay thuận triền rơi xuống trước ngực; quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền từ phải lên trên, qua bên tai phải rơi xuống trước ngực ở phía trong cánh tay trái, hai tay hợp trụ kình. (Hình 233, hình này biểu thị mặt bên, kỳ thực hai chân vẫn ở chỗ cũ như chỗ hai chân đạp trong hình 233 không động) Thân chuyển sang trái, trọng tâm dịch sang trái, cung chân trái. Đồng thời, quyền trái chuyển cánh tay thuận triền thu hồi vòng về dưới sườn trái, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay nghịch triền đánh ra phía trước trái dưới phát kình. (Hình 234, kèm hình mặt bên của hình 234)
Yếu điểm:
1. Thức này phải chú trọng đặc biệt đến súc kình. Khi hai quyền hợp trụ kình trước ngực, hai hông phải đại khai, viên đang và khí dán vào sau lưng. Ở tư thế này, cũng dễ nhất kiểm tra ra năm cây cung — cung hai tay, cung hai chân và cung sau lưng có vận hành đồng đều qua đang hay không, trên lưng năm cây cung có tăng cường tính đàn hồi hay không, tức là có cảm thấy hiện tượng căng chặt trên lưng năm cây cung hay không.
2. Thức này lại là một động tác luyện tập "hông đả", nguồn gốc động lực của nó ở tại · 168 · hông phải một phiên, mà đem kình của quyền phải phóng ra, chỉ vào trong đang của đối phương.
3. Khi thức này phát kình, bề ngoài là nghiêng lệch sang phải, tựa hồ hình dáng không chính, nhưng nội kình lúc phát kình ở tại lực thượng lĩnh của tay trái lĩnh ra sau, thuộc hư, mà tay phải chỉ đang trầm xuống là thực, chân phải lại là hư; do loại "thượng hạ tương tùy" này, bèn đem nội kình điều chỉnh cân bằng, mà đạt được trung chính; đây là trung chính chính xác, tuy hình dáng tựa hồ không chính, nhưng nội kình vẫn là trung chính bất thiên.
Động tác một: Thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, quyền phải nghịch triền thu về trái ở bên hông trái, quyền trái nghịch triền trước sườn trái, phối hợp vòng một vòng nhỏ, hai tay hợp trụ kình chớ biều. (Hình · 169 · 235, hình mặt bên của hình 235) Thân chuyển sang phải, trọng tâm dịch sang phải rồi vẫn dịch về trái. Đồng thời, hai tay nghịch triền, từ trái ra trước dời đến trước ngực, cao ngang ngực; theo trọng tâm dời về chân trái, hai quyền chuyển thành lật trong ngoài giảo, hợp trụ kình. (Hình 236, hình mặt bên của hình 236)
Động tác hai: Lấy gót chân trái làm trục, thân chuyển sang trái, chân phải nâng lên, mu bàn chân phải căng phẳng, mũi chân hướng xuống. Đồng thời, quyền phải chuyển cánh tay thuận triền, từ phải xuống dưới theo chân phải nâng lên xoay chuyển thượng xung, cao ngang mắt, tâm quyền hướng vào trong; chưởng trái chuyển cánh tay nghịch triền một vòng thu đặt ở bên hông trái. (Hình 237)
Yếu điểm:
1. Thức này do "tả lý nghịch triền và hữu ngoại thuận triền" phải không lồi không lõm mà khiến thân thể bình xoay đi lên; hai tay chuyển thành thượng hạ nghịch thuận triền ty, đem quyền phải triền đến trước mặt, quyền trái triền đến ngang hông, phải không chút khuyết hãm mà hoàn thành, đây là trọng điểm của thức này.
2. Thức này phải nắm vững sự xoắn ốc thăng lên sau khi song hợp. Ngoài ra, tay trái đặt ở bên hông trái, phải làm được nghịch triền chính xác, phải từ ngoài trái triền trở về ngang hông, đây cũng là mấu chốt khiến chân trái trung chính lập vững.
Động tác: Thân thể hơi chuyển sang trái, chân phải bước ra phía trước phải; đồng thời hai quyền biến thành chưởng thuận triền phiên chưởng phân đặt bên hai tai, lòng chưởng nghiêng hướng ra ngoài. (Tiếp theo hình 19) Phần sau giống như phần sau của động tác hai thức thứ 4 "Lục phong tứ bế". (Hình 20)
Yếu điểm:
Xem yếu điểm của thức thứ 4 "Lục phong tứ bế".
· 170 · Thức thứ bảy mươi sáu: Đơn tiên (Đơn roi / Single Whip) Động tác và yếu điểm đều giống với thức thứ năm "Đơn tiên". (Hình 21–26)
Thức thứ bảy mươi bảy: Tước địa long (Sẻ đất bay) Động tác một: Thân thể chuyển sang trái, chân trái cung phía trước. Đồng thời hai tay biến thành quyền nghịch triền, quyền phải từ phải mà xuống qua trước bụng hướng lên trái liêu lên, tâm quyền hướng lên; quyền trái hướng phải hợp vào phía trên cánh tay phải, tâm quyền hướng vào trong, hai tay hợp trụ kình. (Hình 238) Trọng tâm chuyển sang phải, thân hơi chuyển sang phải, chân phải khuất gối hạ tấn; đồng thời, hai tay hữu thuận, tả nghịch triền, quyền trái từ phía trong cánh tay phải hướng trái mà xuống, quyền phải từ phía ngoài cẳng tay trái hướng phải mà lên phân biệt triển khai, quyền trái duỗi đến trên gối trái, tâm quyền trái hướng lên phải, tâm quyền phải hướng lên phải. (Hình 239)
Động tác hai: Thân hơi chuyển sang trái, chân trái hạ trầm bộc thối (chân duỗi thấp), chân phải tiếp tục hạ tấn; quyền trái duỗi về trước đến phía trên mắt cá chân trái, tâm quyền hướng lên, quyền phải hơi hạ trầm; mắt nhìn thẳng phía trước. (Hình 240) Mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể hướng trước mà khởi, đạp chân phải, cung chân trái, thành tả cung bộ. Đồng thời, quyền trái lấy mặt quyền hướng lên trước xung khởi, tâm quyền hướng vào trong; quyền phải chuyển cánh tay thuận triền hạ lạc bên hông phải. (Hình 241)
Yếu điểm: 1. Thức này khác với Điệt xoa (ngã xoạc) ở chỗ chỉ là không ngã, là ở quyền phải chuyển cánh tay từ trên · 171 · Khi đá sang phải, chân phải phía sau không dán vào mặt đất, nhưng phải cố gắng hạ tấn, các bộ phận khác yêu cầu giống với Điệt xoa (ngã xoạc).
2. Thức này cũng như Điệt xoa, để thích hợp với các đối tượng khác nhau, có thể đổi thành chân trái bắp chân không dán đất, mà cố gắng làm đến thế hạ (hình 239). 3. Thức này trước tiên làm song hợp bồng kình (kình đỡ), bồng rồi phóng (lợi dụng ly tâm lực), phóng đến cực khai và cực thấp thì lại lợi dụng hướng tâm lực của hai tay lại hợp sau khi phóng, đem kình vận dụng lên quyền phải, nổi lên tác dụng lĩnh thân lên.
Thức thứ bảy mươi tám: Thượng bộ thất tinh (Bước lên bảy ngôi sao) Động tác: Mũi chân trái vát ra ngoài, thân thể chuyển sang trái, trọng tâm hướng trước toàn bộ dời vào chân trái, chân phải tiến lên nửa bước, lấy mũi chân điểm đất. Theo thân thể chuyển sang trái đồng thời, quyền trái thuận triền lý hợp; quyền phải thuận triền, từ phải mà xuống theo chân phải thượng bộ hướng trước qua phía ngoài cổ tay trái xung khởi, hai quyền lấy cổ tay giao xoa, tâm quyền đều hướng vào trong. Theo chân phải thượng bộ lấy mũi chân điểm đất thì, hai quyền lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trên mà vào trong xuống dưới rồi về trước vòng một vòng nhỏ sau hướng trước biến chưởng hơi đĩnh. (Hình 242–243)
Yếu điểm: 1. Mỗi thức quyền của Thái cực quyền, khi luyện tập đều yêu cầu "nhất động vô hữu bất động", · 172 · mà trong mỗi thức quyền lại tất có phần chủ yếu của vận động nó; thức này thì lấy cổ tay làm chủ, đối với cổ tay có sự huấn luyện tốt. Đương nhiên trong các thức quyền khác cổ tay cũng hoạt động, mà trong thức này các bộ phận khác cũng hoạt động, ở đây chỉ là nói bộ phận nào làm chủ mà thôi. 2. Do Thái cực quyền yêu cầu động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy, lại phải triêm niêm liên tùy, khử bỏ đính biển đâu kháng, cho nên cơ hội vận dụng cầm nã lẫn nhau khá nhiều; thức này là một loại chuyển pháp để giải thoát hai tay bị cầm nã.
Thức thứ bảy mươi chín: Thoái bộ khóa hổ (Lùi bước cưỡi hổ) Động tác một: Hai chưởng ở trước ngực vẫn lấy điểm giao xoa dán sát cổ tay làm trục, từ trước mà xuống vào trong mà lên vẫn phiên uyển trở lại; đồng thời, theo hai chưởng phiên chuyển, theo lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển sang phải (nam), chân phải thoái hậu một bước. (Hình 244) Hai cánh tay hơi hợp, khẩn súc một cái giao xoa vòng sau chấn hai chưởng, tức hướng tả hữu hạ phương phân khai, tâm chưởng đều hướng xuống. (Hình 245)
Động tác hai: Trọng tâm dịch sang phải, chân trái hướng chân phải thu sát, lấy mũi chân điểm bên cạnh chân phải; đồng thời hai tay hữu nghịch, tả thuận triền, chưởng phải từ phải mà lên hướng trước mặt hoa hồ, chưởng trái từ trái mà lên hướng trước bụng hoa hồ, hai tay thượng hạ hợp trụ kình. (Hình 246) Thân hơi · 173 · hạ tấn; đồng thời, hai chưởng chuyển cánh tay nghịch triền, chưởng phải hướng lên phải, chưởng trái hướng xuống trái phân biệt triển khai, tâm chưởng phải xiên hướng lên phải, tâm chưởng trái xiên hướng xuống trái, thành khóa hổ thức. (Hình 247)
Yếu điểm: 1. Thức quyền duy nhất liên tục thoái hậu trong bài quyền này là Đảo niện quăng (Đảo niện hồng), mà thức tiến một bước rồi tiếp theo thoái hậu một bước thì chỉ có Thoái bộ khóa hổ. Thức trước là thuận ứng yếu kình mà hướng trước thượng bộ, thức này vẫn là thuận ứng cấp kình mà thoái bộ. Đây là luyện pháp nhất tiến nhất thoái.
· 174 · 2. Thức trước hai cổ tay từ dưới mà vào trong về trước phiên, tự nhiên có bồng kình phát ra; thức này phiên trở lại một vòng sau đột nhiên chấn một cái, kình như thoát còng, sau đó song phân mà khai, đồng thời khí và đảng kình phải hạ trầm.
Thức thứ tám mươi: Chuyển thân song bãi liên (Xoay thân hai lần vỗ sen) Động tác một: Lấy gót chân phải làm trục, thân thể hướng hữu hậu chuyển 180 độ, chân trái nâng lên theo chuyển thân hướng hữu hậu bãi. Đồng thời, chưởng phải theo chuyển thể cũng bình toàn 180 độ, nghịch triền hoành chưởng ở hữu thượng phương, tâm chưởng hướng phải; chưởng trái thuận triền hướng hữu hậu hoành tảo đến trước chửu phải, tâm chưởng hướng phải. (Hình 248–249)
Động tác hai: Chân trái hướng trước (tây bắc) xiên phương lạc bộ, theo trọng tâm tả di, chân trái khuất gối hạ tấn, thân thể đồng thời hữu chuyển; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền từ phải hơi hạ lạc. (Hình 250) Trọng tâm toàn bộ dời vào chân trái, thân thể khởi lập, chân phải nâng lên, từ trái mà lên qua trước ngực mà lên hướng phải hoành bãi; đồng thời hai chưởng tả nghịch, hữu thuận triền, từ phải hướng trái, chưởng trái trước, chưởng phải sau hoành hành nghênh phách mặt ngoài mu bàn chân phải, liên tục kích hưởng hai tiếng, hai tâm chưởng đều hướng trái. (Tiếp hình 214, duy phương hướng hơi dị, trong hình tư thế bộ phận ngực hướng nam, mà thức này ngực phải hướng đông bắc xiên phương)
Yếu điểm:
· 175 · 1. Phàm động tác chuyển thể mà một chân độc lập, một chân nâng lên, đều phải trong quá trình chuyển thể biểu hiện vừa ổn định lại vừa "nhất động vô hữu bất động". Then chốt ở chỗ hai cánh tay hợp rồi sau khai (hợp là song thuận triền, chuyển thành khai thì biến thành song nghịch triền), do khai kình đem thân thể dẫn chuyển qua, đây là do tác dụng cân bằng của song nghịch triền đối khai mà đạt được thân thể ổn định. 2. Ngoài ra, muốn đạt được ổn định, còn phải lập thân trung chính. Mà then chốt của trung lập, lại hệ ở đỉnh kình hư huyền; nếu đỉnh kình không hư hư huyền khởi, hơi có thiên ỷ, liền lập tức không thể ổn định, vì đầu bộ cư ở đỉnh cao nhất của thân thể, phía trên hơi thiên, thì ảnh hưởng đến độ nghiêng của toàn thân phía dưới rất lớn. Cho nên nhất thiết động tác của Thái cực quyền đều phải đỉnh kình hư huyền, như vậy, không những giảm bớt trọng lượng đầu chiến hạ áp, mà còn sinh ra công hiệu củng chính thiên ỷ.
Thức thứ tám mươi mốt: Đương đầu pháo (Pháo đón đầu) Động tác một: Chân phải sau khi ngoại bãi, hướng hữu hậu (nam) phương lạc bộ; đồng thời hai chưởng biến quyền, chuyển cánh tay thuận triền hạ tỏa, tức chuyển hướng trước thượng hơi xung, hai tâm quyền tương đối, quyền trái ở trước, quyền phải ở sau; theo xung quyền tả tất tiền cung. (Hình 251) Động tác hai: Trọng tâm hậu di, chân phải khuất gối hạ tấn biến thực, tả tất hơi khuất, thân · 176 · thể hữu chuyển; đồng thời, hai quyền chuyển cánh tay thuận triền, từ trước mà xuống vào trong mà lên, hồ hình lý thu vào bên hữu hiếp, tâm quyền trái hướng vào trong, tâm quyền phải hướng trái (hình 252), trọng tâm tiền di, cung chân trái, đặng chân phải thành tả cung bộ, thân hơi chuyển sang trái; đồng thời, hai quyền chuyển cánh tay thuận triền hướng trước đẩu kình, hai chửu hơi khuất, quyền trái hơi hoành tí ở trước, tâm quyền trái hướng vào trong, tâm quyền phải hướng trái. (Hình 253)
Yếu điểm: 1. Toàn bộ bài quyền của Thái cực quyền lấy văn tượng thủy, vũ tượng chung, cho nên khi luyện đến thức Đương đầu pháo này, thì phải "ý khí phong phát" mà biểu hiện bá phóng súc phát tứ kình, cũng tận kỳ sở năng mà đem tứ kình phát huy ra. ① 2. Thức này phải đối với phương diện động của Thái cực kình làm một lần kiểm tra cuối cùng, tức là trong quá trình bá phóng, có hay không lìa khỏi triền ty kình của Thái cực kình; khi súc phát thì căn của nó có ở chân không, và có hay không do gót chân đạt đến hai quyền. 3. Kình phát ra trong thức này, vận dụng là đẩu kình; đẩu kình là một loại của ải kình cự ly ngắn. Đẩu kình, phải biểu hiện ra một loại kình kinh giác như trên da dính tia lửa, phải do một cái đẩu mà ra.
Thức thứ tám mươi hai: Kim cương đảo chùy (Kim cương giã cối) Động tác một: Trọng tâm hậu di, chân phải khuất gối hạ tấn, chân phải biến thực, thân thể hữu chuyển; đồng thời, hai tay tả nghịch, hữu thuận triền hướng hữu hậu phương triển khai, tâm chưởng hướng hữu hậu phương, thủ chỉ thư triển vật nhuyễn. (Tiếp hình 4, duy chân trái bất đồng, trong hình chân trái lìa địa, cai thức chân trái hư đạp ở mặt đất, phương hướng diệc bất đồng, thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" là ngực bộ hướng nam tiến hành động tác, thức này là ngực bộ hướng bắc tiến hành động tác) Động tác hai: Trọng tâm tiền di; đồng thời hai chưởng vẫn lấy tả nghịch, hữu thuận triền, hướng phải
- ① "Chàng" (đâm) là do đại quyển thu súc thành tiểu quyển, nhất bàn dụng vu kính kình, biểu hiện ở trong "tẩu", chàng đến tận cùng triền ty, liền thành "súc" kình. "Phóng" là do tiểu quyển khai triển thành đại quyển, nhất bàn dụng vu kính kình, biểu hiện ở trong "niêm", phóng đến hư xử của đối phương, liền thành phát kình.
· 177 · hậu kế tục vi triển hạ trầm. (Tiếp hình 5, duy nam bắc phương hướng tương phản) Hậu đồng thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" động tác hai hình 6 thuyết minh. (Tiếp hình 6, duy nam bắc phương hướng tương phản) Động tác ba đồng thức thứ hai "Kim cương đảo chùy" động tác ba, duy phương hướng bất đồng, nam bắc tương phản. (Hình 7–8)
Yếu điểm: Thứ nhất "Kim cương đảo chùy" trong bài quyền Trần thức đệ nhất lộ Thái cực quyền, biểu hiện ra ngũ đối thuận nghịch triền ty của Thái cực quyền ngụ ở trong động tác khai thủy; thứ hai "Kim cương đảo chùy" biểu hiện ra kết thúc của đệ nhị thế; thứ ba "Kim cương đảo chùy" biểu hiện ra kết thúc của đệ ngũ thế, thức này là thứ tư "Kim cương đảo chùy", biểu hiện ra kết thúc của toàn sáo. Yếu điểm của nó đồng với yếu điểm của thức thứ hai "Kim cương đảo chùy".
Thức thứ tám mươi ba: Thu thế (Thu thức) Động tác: Thân thể khởi lập, hai tất hơi khuất; đồng thời hai tay nghịch triền phân hướng tả hữu lưỡng trắc hạ thùy, tâm chưởng đều hướng hậu, khôi phục dự bị thức tư thế. (Án hình 1)
Yếu điểm: 1. Khi khôi phục đến tĩnh thái tư thế, vẫn phải án các yếu điểm trong dự bị thức kiểm tra một lượt. 2. Luyện xong sau, căn cứ vào trình độ tăng thêm của tần suất hô hấp của bản thân, thì có thể phán đoán trong quá trình luyện tập "dĩ khí vận thân" làm được như thế nào, hô hấp điều tiết đủ tiêu chuẩn hay không. Nếu phát sinh hiện tượng khí suyễn, thì phải kiểm tra động tác và hô hấp phối hợp có tự nhiên hay không. 3. Trần thức đệ nhất lộ Thái cực quyền và đệ nhị lộ Pháo chùy, giả thiết đều lấy mặt hướng nam khai thủy luyện tập, khi thu thế thì đều mặt hướng bắc. Nếu đem đệ nhất lộ hoặc đệ nhị lộ liên tục luyện tập hai lần, hoặc đem đệ nhất lộ và đệ nhị lộ án liên luyện tập, tối hậu thu thế thì có thể khôi phục thành mặt hướng nam.
· 178 · Chương ba: Trần thức Thái cực quyền đệ nhị lộ đồ giải Trần thức Thái cực quyền đệ nhị lộ quyền thức danh xưng thứ tự Đệ nhất thức Dự bị thức Đệ thập tứ thức Phiết thân chùy (Nghiêng thân đấm) Đệ nhị thức Kim cương đảo chùy Đệ thập ngũ thức Trảm thủ (Chém tay) Đệ tam thức Lãn trát y (Biếng mặc áo) Đệ thập lục thức Phiên hoa vũ tụ (Lật hoa múa tay áo) Đệ tứ thức Lục phong tứ bế Đệ thập thất thức Yểm thủ quăng quyền (Che tay đấm cùi chỏ) Đệ ngũ thức Đơn tiên Đệ thập bát thức Phi bộ ảo loan chửu Đệ lục thức Ban lan chửu Đệ thập cửu thức Vận thủ (tiền tam) Đệ thất thức Hộ tâm chùy Đệ nhị thập thức Cao thám mã (Cao thám ngựa) Đệ bát thức Ảo bộ tà hành Đệ nhị thập nhất thức Vận thủ (hậu tam) Đệ cửu thức Sát yêu áp chửu quyền Đệ nhị thập nhị thức Cao thám mã Đệ thập thức Tỉnh lãm trực nhập Đệ nhị thập tam thức Liên châu pháo (nhất) Đệ thập nhất thức Phong tảo mai hoa Đệ nhị thập tứ thức Liên châu pháo (nhị) Đệ thập nhị thức Kim cương đảo chùy Đệ nhị thập ngũ thức Liên châu pháo (tam) Đệ thập tam thức Tí thân chùy Đệ nhị thập lục thức Đảo kỵ lân (Cưỡi kỳ lân ngược)
· 179 · Thức 27 Bạch Xà Thổ Tín (Rắn Trắng Phun Lưỡi) (1) Thức 50 Yêm Thủ Quăng Chùy (Che Tay Đánh Cùi Chỏ) Thức 28 Bạch Xà Thổ Tín (2) Thức 51 Tả Xung (Xung Trái) Thức 29 Bạch Xà Thổ Tín (3) Thức 52 Hữu Xung (Xung Phải) Thức 30 Hải Để Phiên Hoa (Đáy Biển Lật Hoa) Thức 53 Đảo Sáp (Chọc Ngược) Thức 31 Yêm Thủ Quăng Chùy Thức 54 Hải Để Phiên Hoa Thức 32 Chuyển Thân Lục Hợp Thức 55 Yêm Thủ Quăng Chùy Thức 33 Tả Khỏa Tiên Pháo (Bọc Pháo Trái) (1) Thức 56 Đoạt Nhị Quăng (Đoạt Hai Cánh Tay) (1) Thức 34 Tả Khỏa Tiên Pháo (2) Thức 57 Đoạt Nhị Quăng (2) Thức 35 Hữu Khỏa Tiên Pháo (1) Thức 58 Liên Hoàn Pháo (Pháo Liên Hoàn) Thức 36 Hữu Khỏa Tiên Pháo (2) Thức 59 Ngọc Nữ Xuyên Thoa (Ngọc Nữ Xâu Thoi) Thức 37 Thú Đầu Thế (Thế Đầu Thú) Thức 60 Tứ Đầu Đương Môn Pháo Thức 38 Phách Giá Tử (Chẻ Giá) Thức 61 Ngọc Nữ Xuyên Thoa Thức 39 Phiên Hoa Vũ Tụ (Lật Hoa Múa Tay Áo) Thức 62 Tứ Đầu Đương Môn Pháo Thức 40 Yêm Thủ Quăng Chùy Thức 63 Phiết Thân Chùy (Xoay Thân Đấm) Thức 41 Phục Hổ (Hàng Phục Cọp) Thức 64 Ảo Loan Trửu (Cùi Chỏ Vặn Loan) Thức 42 Mạt Mi Hồng (Xoa Lông Mày Đỏ) Thức 65 Thuận Loan Trửu (Cùi Chỏ Thuận Loan) Thức 43 Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy Thức 66 Xuyên Tâm Trửu (Cùi Chỏ Xuyên Tim) Thức 44 Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy Thức 67 Oa Lý Pháo (Pháo Trong Ổ) Thức 45 Tả Đăng Nhất Căn (Đá Gót Trái) Thức 68 Tỉnh Lãm Trực Nhập Thức 46 Hữu Đăng Nhất Căn (Đá Gót Phải) Thức 69 Phong Tảo Mai Hoa (Gió Quét Hoa Mai) Thức 47 Hải Để Phiên Hoa Thức 70 Kim Cang Đảo Đối (Kim Cang Giã Cối) Thức 48 Yêm Thủ Quăng Chùy Thức 71 Thâu Thế (Thu Thế) Thức 49 Tảo Thang Thối (Nghịch Hĩnh Pháo — Pháo Xoay Cẳng)
· 180 · Trần Thức Thái Cực Quyền Đệ Nhị Lộ Đệ Nhị Lộ của Trần Thức Thái Cực Quyền tức là bài quyền thứ hai, thường gọi là "Nhị Thức", còn có tên là "Pháo Chùy" (Quyền Pháo). Nhị Thức bắt đầu từ đầu cho đến thức Đan Tiên (Đơn Tiên) đầu tiên: tức từ thức Dự Bị, Thượng Bộ Kim Cang Đảo Đối, Lãn Trát Y, Lục Phong Tứ Bế, cho đến Đan Tiên — năm động tác này hoàn toàn giống với Đệ Nhất Lộ. Sở dĩ phải lặp lại năm động tác này là để trước tiên làm vài thế quyền mềm mại nhằm duỗi gân cốt, thích ứng với yêu cầu luyện Nhị Thức. Vì vậy, phần thuyết minh động tác của Đệ Nhị Lộ trong chương này được nói bắt đầu từ sau thức Đan Tiên thứ nhất (ngực hướng về nam). Thuyết minh bốn thế quyền trước Đan Tiên xin xem ở Đệ Nhất Lộ, nơi đây không nhắc lại. Để tiện thuật lại, các hình 1–26 và thuyết minh của chúng trong đồ giải Đệ Nhất Lộ sẽ không lặp lại trong đồ giải Đệ Nhị Lộ; còn hình 26 trong đó thì được kê làm hình 1 của đồ giải này. Phần thuyết minh về đồ giải cũng xin xem ở đồ giải Đệ Nhất Lộ.
Thức Thứ Sáu Phiết Lan Trửu (Cùi Chỏ Nghiêng Đỡ) (ngực hướng về nam)
Động tác: Trọng tâm hơi chuyển sang phải; đồng thời, tay móc phải biến thành quyền tại bên phải với thuận triền nhỏ, làm cho lòng nắm tay hướng lên, tay trái biến thành quyền từ trái xuống dưới nghịch triền đến trước ngực; tiếp liền trọng tâm chuyển sang trái; khi trọng tâm chuyển sang trái, quyền trái qua trước ngực đánh ngang sang trái bằng mắt nắm tay để phát kình, quyền phải từ phải sang trái cũng đánh ngang bằng mắt nắm tay để phát kình, hai tay: lòng quyền trái hướng lên, lòng quyền phải hướng xuống. (Hình 2) Trọng tâm chuyển sang phải; khi trọng tâm chuyển sang phải, hai tay: trái nghịch, phải thuận triền, từ trái sang phải đánh ngang bằng mắt nắm tay để phát kình, lòng quyền trái hướng xuống, lòng quyền phải hướng lên. (Hình 3)
Yếu điểm:
Thức này có hai lần phát kình trái phải, phải làm liền kề nhau. Từ Đan Tiên quá độ đến phát kình sang trái, phải trước tiên đưa trọng tâm hơi chuyển sang phải, rồi mới phát kình, để đạt yêu cầu "tích trữ rồi sau mới phát". Khi phát kình, sự di chuyển của trọng tâm và sự phát kình của hai quyền phải nhất trí, cầu cho kình được chỉnh.
Thức Thứ Bảy Hộ Tâm Chùy (Đấm Hộ Tâm) (ngực hướng về đông bắc)
Động tác: Trọng tâm toàn bộ chuyển vào chân phải, chân trái nâng lên, thân thể xoay trái, chân phải đạp đất nhảy lên, kế đó chân trái đáp xuống đất, chân phải cũng theo đó bước chéo về phía trước bên trái (đông nam). Cùng với lúc chuyển thân, quyền trái nghịch triền hướng vào trong hơi nâng lên, tức theo thân xoay hướng phía sau bên trái, theo đường vòng cung thuận triền đến bên hông trái, lòng quyền nghiêng hướng lên phải; quyền phải trước nghịch sau thuận triền, theo thân xoay từ phải lên trên, qua bên trước trán phải sang trái, cùng lúc chân phải bước xuống thì đánh xuống. (Hình 4) Quyền trái thuận triền nâng sang trái cao ngang vai, quyền phải thuận triền thu vào. (Hình 5) Quyền trái từ trái ra trước, qua bên ngoài quyền phải xuống dưới vào trong, quyền phải từ trong ra ngoài, hai quyền giao nhau vượt qua trước ngực; kế đó hai tay thuận triền, quyền trái thu vào, quyền phải lấy mu nắm tay gần cổ tay đẩy ra trước (bằng kình); đồng thời trọng tâm chìm xuống. (Hình 6)
Yếu điểm:
Động tác Thái Cực Quyền, hễ muốn mở rộng vòng tròn thì trước tiên phải thu nhỏ vòng tròn; điều này nhằm tăng cường kình bằng (kình đỡ), khiến trong điều kiện "khí dán vào sống lưng" mà dẫn nội kình xuyên suốt đến gốc bàn tay. Khi hai tay làm động tác nghịch triền đôi trong ngoài trái phải mở ra trước ngực, tức hình thành tác dụng hợp kình phải trước trái sau; cuối cùng, như chữ ∞, khiến hai vòng hội hợp trước ngực để che giữ tim; đồng thời dần dần thu nhỏ vòng tròn, hình thành kình tích trữ như dây cung căng, để tăng cường kình bằng.
Thức Thứ Tám Ảo Bộ Tà Hành (Bước Chéo Đi Nghiêng) (ngực hướng đông chuyển đông nam)
Sau khi hai quyền trên đây che giữ ngực, hai quyền mở ra thành chưởng, và làm động tác triền ty phải thuận trái nghịch, hợp nhau trước ngực. Lúc này tay phải ở trên, tay trái ở dưới, lòng bàn tay phải hướng trái, lòng bàn tay trái hướng lên. Tiếp đó vẫn làm động tác song phân phải thuận trái nghịch. (Hình 7, 8, 9) Sau đó, lại song hợp trước ngực, nhưng lúc này tay phải đã chuyển xuống, tay trái đã chuyển lên, hai lòng bàn tay đều hướng xuống. Tiếp đó tay phải lại chuyển lên, tay trái thì chuyển sang trái; đồng thời thân pháp nâng cao, chân phải nâng lên, chân trái đứng độc lập, hai chưởng hợp giữ kình. (Hình 10) Đợi khi lại chuyển thành khai kình (kình mở), khiến chân phải đáp xuống đất dậm một cái mà biến thành thực. Tiếp đó chân trái bước triền một bước về phía đông bắc, chưởng phải thuận triền từ trước chìm xuống sang phải. Đồng thời, chưởng trái nghịch triền chuyển vòng cung lên sang phải; khi chuyển đến lúc chưởng trái mở sang trái, thì chưởng phải vừa thuận triền lên đến bên tai phải. Lúc này chân trái là thực — đó là tư thế khởi. Tiếp đó chưởng phải ở bên tai phải chuyển nửa vòng rồi nghịch triền phóng về phía trước bên phải.
mở; đồng thời, chưởng trái sau khi hơi nghịch triền sang phải, liền thuận triền mở ra sang trái, trở thành song khai kình (kình mở đôi). Lúc này, ngực hướng về nam. (Hình 11)
Yếu điểm:
Thức này khi chân phải đáp xuống đất, là tay phải mở, tay trái hợp; đợi khi tay trái chuyển sang mở ra ngoài trái, thì tay phải lại chuyển đến bên tai phải để hợp. Do tả hợp hữu khai và tả khai hữu hợp, khiến nội khí xoay vần mà chìm xuống; cuối cùng, khi hoàn thành thức này, hai chưởng trái phải đồng thời dưới song nghịch triền mở đôi ra; đợi khi mở đến tận cùng, lại lấy song thuận triền hợp đôi vào. Khi song hợp, các ngón của hai tay phải dựng hướng lên; đồng thời, nội kình của hai cùi chỏ cũng phải hợp nhất. Tiếp đó, tức khắc khí trầm đan điền, trọng tâm cũng đồng thời chuyển đến chân phải. Thức này do sự biến đổi khai hợp, phối hợp dậm chân và xoay ngó trái phải, khiến khí buộc phải đi xuống, là một loại công phu cơ bản của hành công luyện khí trầm xuống, cũng là một thế quyền dễ khiến người ta cảm nhận được cuối cùng khí trầm đan điền nhất.
Thức Thứ Chín Sát Yêu Áp Trửu Quyền (Hạ Eo Ép Cùi Chỏ Đấm) (ngực hướng về đông nam)
Động tác: Sau khi hai chưởng của thức tà hình trên đây đã tách ra, chưởng phải bên phải dùng thuận triền, khi chuyển lên trên thì biến chưởng thành quyền đặt ở phía trên đầu gối phải. Đồng thời, chưởng trái ở bên trái dùng tiểu thuận triền trên biến thành quyền, đối diện từ xa với quyền phải, hợp kình ở phía trên trái. Đáy quần chìm xuống, hình thành đương (háng) tròn thấp; chân từ trái thực chuyển thành phải thực; lúc này ngực hướng về nam. (Hình 12)
Thức Thứ Mười Tỉnh Lãm Trực Nhập (Vượt Rào Giếng Đi Thẳng Vào) (ngực hướng về bắc)
Động tác: Chân trái nâng lên bước ra 180° sang bên phải, khiến ngực chuyển hướng về bắc. Quyền trái biến thành chưởng, và theo chân trái từ trên nghiêng về phía trước dưới của ngực một cái ấn kình, kình ở gốc bàn tay. Đồng thời quyền phải thuận triền, cũng biến thành chưởng khi chìm xuống.
lật chưởng tâm hướng lên khiến gần bên trái hông. Khi xoay chuyển thì lấy lưng eo làm trục giữa. Lúc này chân phải là thực. (Hình 13)
Thức Thứ Mười Một Phong Tảo Mai Hoa (Gió Quét Hoa Mai) (ngực hướng về nam)
Động tác: Sau khi hoàn thành động tác tay trái ấn từ trên xuống dưới 180°, tiếp đó do tay phải tiếp nhận kình liệt thoát của tay trái, dùng thuận triền từ dưới rồi lên trên thái (ngắt) chuyển 180°; đến phía trên bên phải thì lại chuyển thành nghịch triền mở ra. Đồng thời, tay trái ở dưới nghịch triền tách xuống phía dưới bên trái, hình thành song khai kình. Lúc này chân trái là thực, và làm trục giữa xoay chuyển; chân phải theo thân xoay phải bước ngang về phía tây của chân trái. Cuối cùng hình thành tư thế như hình 13. Lúc này hai tay đều đã biến thành song nghịch triền.
Yếu điểm:
Tác dụng của ba thức quyền trên đây chủ yếu ở chưởng phải trong song khai của thức thứ tám: giả định đã bị thái nã (ngắt bắt), cho nên trước tiên trong lúc tiểu thuận triền biến chưởng thành quyền, thì theo yếu kình của thái, chuyển mà ấn xuống xoay người vòng qua. Đây là cơ sở dùng liên tùy (liền theo) để cầu giải thoát. Khi xoay thân, đồng thời dùng kình ấn xuống của chưởng trái và kình nâng lên của chưởng phải, khiến hai tay trái phải run lên nhất trí trên dưới, để đạt mục đích giải thoát. Trong quá trình đại xoay thân như vậy, phải khiến xoay chuyển trầm ổn; phương pháp là không cho phép bình toàn (xoay ngang), mà phải khiến xoay chuyển từ · 186 · trên xuống dưới (khi ấn hợp), rồi lại từ dưới lên trên (khi mở bằng kình), hầu đạt được trong trầm ổn tác dụng giải thoát của nghịch triền. Loại triền ty đại xoay thân này dễ khiến người ta sinh ra hiện tượng "khuyết hãm", "lồi lõm" và "đoạn tục". Vì vậy, nếu muốn tránh khuyết điểm trên, yếu điểm là ở dưới sự liên hệ của hai cánh tay mà giữ chắc kình bằng, đồng thời vận dụng lưng eo làm trục giữa, khiến có thể căng mà xoay chuyển, sinh ra quán lực xoay như cối xay gió. Trong quá trình xoay chuyển, trước tiên hướng ra sau dưới 180° một cái ấn hợp kình, để tăng cường tính trầm ổn; đồng thời không ngừng lại mà lại hướng ra sau trên 180° một cái mở kình bằng, cuối cùng hoàn thành đại xoay thân 360°. Về vận dụng kình loại, nửa vòng trên là hợp kình xoay chuyển lấy tay trái làm chủ; nửa vòng dưới là khai kình xoay chuyển lấy tay phải làm chủ. Như vậy khiến nội kình không ngừng hiển lộ ra ngoài mà đạt tới lưng cung, cũng không đến nỗi lại sinh ra các khuyết điểm như khuyết hãm.
Thức Thứ Mười Hai Kim Cang Đảo Đối (Kim Cang Giã Cối) (ngực hướng về nam)
Động tác: Khi thức trên hoàn thành, dùng song khai kình của tả hữu song nghịch triền. Thức này là từ khai kình của tả hữu song nghịch triền chuyển thành hợp kình của tả hữu song thuận triền, khiến khí chú vào ngón út. Lúc này chân trái là thực. (Hình 15) Sau khi hợp lại lại chuyển thành song phân kình của thượng hạ nghịch triền, khi đạt đến điểm cuối là hữu thượng tả hạ, chưởng phải xoay một cái biến thành quyền, rồi từ trên thuận triền mà xuống; đồng thời chưởng trái nghịch triền đến trước bụng dưới, lòng bàn tay hướng lên; cuối cùng là khiến quyền phải rơi vào trong lòng bàn tay trái một cái hợp kình; đồng thời khi chân trái là thực, chân phải nâng lên dậm chân xuống đất. (Hình 16)
Yếu điểm:
Sau khi hoàn thành đại xoay thân 360°, nội khí phải như bánh xe chấn động ra bốn phía, rồi sau đó lại hạ xuống vào trong đan điền, và giã cho chắc — đây là tác dụng chính của thức này. Khi nó từ tương khai tương hợp của tả hữu chuyển thành tương khai tương hợp của thượng hạ cùng dậm chân, có thể khiến khí lại càng giã chắc hơn trong đan điền. Động tác dậm chân này có thể nhẹ có thể nặng, chủ yếu ở chỗ có thể vận dụng ý khí hạ đạt xuống, chứ không ở nhẹ nặng của cái dậm chân. Vì vậy, ngoài việc dùng âm thanh dậm chân để kiểm nghiệm kình chỉnh hay không chỉnh, còn phải xem có thể làm được công phu động tĩnh tương hợp hay không, để đạt tới "một tĩnh thì không có gì không tĩnh".
Thức Thứ Mười Ba Tý Thân Chùy (Đấm Che Thân) (ngực hướng về nam)
Động tác: Bắt đầu từ một hợp kình sau thức trên, hai tay đều nghịch triền tách xuống trái phải; cùng lúc song khai, chân phải bước ngang nửa bước sang phải; sau khi khai lại hợp, lúc này hai tay từ dưới hướng lên trước tiếp tục nghịch triền, cuối cùng đặt tay trái ở phía ngoài tay phải, hợp trước ngực, hình thành khai khoa (mở háng) viên đương (háng tròn), chân trái là hư. (Hình 17) Đây là từ hợp mà khai, khai rồi lại hợp, là tiểu khai tiểu hợp khít khao. Tiếp đó chưởng phải hướng sang sau phải chuyển ra ngoài nghịch triền thành quyền, chưởng trái hướng xuống trái nghịch triền cũng thành quyền. Sau song phân, quyền phải từ dưới hướng lên phải nghịch triền, lại từ trước đỉnh đầu mà vượt qua. Quay trở về bên trái. Khi quyền trái nghịch triền đến giữa hông trái, · 188 · Nắm đấm phải bỗng thu người trở lại, phát kình cùi chỏ về phía trên bên phải; trọng tâm chuyển sang phải, chân phải chuyển thành thực, toàn thân theo đó chìm xuống sang phải, chân cũng theo đó hạ thấp. (Hình 18)
Yếu điểm: Dưới thế ngậm ngực cất lưng, do hai luồng triền ty nghịch siết chặt rồi nới vòng để tăng cường tính đàn hồi bên trong của kình bồng (peng) ở hai cánh tay, có thể khởi lên tác dụng tích kình hình vòng quanh thân. Nó chủ yếu luyện tay phải và eo lưng, từ vòng lớn chuyển thành vòng nhỏ để tăng cường tích kình (trong đó đồng thời có kình tựa vai hướng sang phải); cuối cùng, từ một vòng nhỏ tiến tới không vòng, đưa kình xuyên suốt tới đầu cùi chỏ. Bởi vậy, đây là một thức quyền vận động chặt chẽ, đòi hỏi dưới sự tương hợp của hai luồng triền ty nghịch, tiếp tục chuyển qua bằng hai luồng triền ty nghịch. Trong quá trình chuyển, ắt phải làm được nội kình không khuyết tổn và không đứt đoạn. Cho nên yếu điểm của nó nằm ở chỗ vận dụng eo lưng làm trục giữa; khi tay phải bắt đầu bằng triền nghịch rồi chuyển tới trước mặt lại triền nghịch một vòng lớn, phải biểu hiện được sự xuyên suốt từng đốt một. Khi lại từ triền nghịch chuyển sang triền thuận và bỗng nhiên lại chuyển một lần nữa thành triền nghịch phát kình cùi chỏ ra phía trên bên phải, đòi hỏi phải thấy được kình khởi từ gót chân mà thành hình nơi đầu cùi chỏ.
Thức thứ mười bốn Phiết thân chùy (ngực hướng nam chuyển đông nam) Động tác: Khi ở thức trên nắm đấm trái đặt nơi háng phát kình cùi chỏ phải, giả định rằng nắm đấm trái đặt nơi háng bỗng bị thái (bắt gạt); thì lúc này thuận theo yếu kình của động tác thái, trước tiên lấy một vòng nhỏ bên phải triền thuận bên trái triền nghịch, thân người hơi chuyển sang phải, chân phải thành thực, tiếp đó liền lấy thế lật trở lưng nắm đấm với bên trái triền thuận bên phải triền nghịch, dùng kình bồng phản kích ra phía bên trái. Đồng thời, tay phải dùng tiểu triền nghịch phóng kình về phía sau bên phải để giữ thăng bằng (đây là phát kình hai chiều cùng mở). Nhưng phát kình ắt phải chuyên chủ một bên, thức này lấy bên trái làm chủ, bên phải làm khách, cho nên nắm đấm phải thuộc về phóng kình, còn nắm đấm trái thì thuộc về phát kình. Đồng thời, khi phát ra thì chân phải là thực, ngực hướng đông nam. (Hình 19)
· 189 · Yếu điểm: Khi bên trái chuyển tới háng trái mà cánh tay trái lại bị thái, để không mất cũng không chống đối, thích ứng với yếu kình của động tác thái, nên thuận theo phương hướng yếu kình của đối phương, dùng kình đánh ra về phía bên trái. Đây là cách thức trực tiếp rõ ràng nhằm cầu giải thoát. Bởi vậy, thức này lấy nắm đấm trái phản kích làm chủ, nhưng căn nguồn của cú đánh lại nằm ở nắm đấm phải đang triền thuận xoay ở trên bên phải, thông qua nó mà đem nội kình quán chú theo lối triền miên vào trong cánh tay trái.
Thức thứ mười lăm Trảm thủ (ngực đông nam chuyển bắc) Động tác: Thức này giả định rằng ở cú đánh của thức trên "Phiết thân chùy" vẫn chưa được giải thoát, thì lại thuận theo phương hướng yếu kình bước chéo lên chân phải; tay phải dùng triền thuận từ sau bên phải hướng lên trên theo thân lật chuyển tới, và hợp vào phía trên tay trái; cùng lúc bàn tay trái bị thái bỗng nhiên nhấc lên, mé bàn tay phải như dao chém xuống, tạo thành thế hai chiều cùng mở bổ về phía trước với bên trái cao bên phải thấp, và phụ thêm động tác chấn cước chân phải chìm xuống. Đây là bước chéo lên chân phải, khiến hai tay ở trong vòng tròn vuông của mình, là cách thức đánh tung thoát ra khi hai tay và một chân đồng thời cùng dùng. Lúc này, ngực đã chuyển hướng bắc. (Hình 20)
Yếu điểm: Đây là cách giải thoát tay trái bị thái lần thứ hai. Cách thường dùng nhất trong kình thái là ép xuống dưới khiến đối phương khó bề theo kịp, làm cho người bị thái không thể không nghiêng về thế quỳ, do đó không thể không áp dụng cách bước lên lấy tay dẫn thân, để tăng tốc cách giải thoát lấy "hữu chước" (chém phải), "tả đề" (nhấc trái) và "chấn cước" (dậm chân) ba thứ cùng thi hành. Cho nên, dưới yêu cầu kình của tay phải không đứt đoạn, dùng vòng xoay tiểu thuận triền để bước lên chân phải, khiến bàn tay trái bị thái ở vào trong vòng tròn vuông của mình; đây là phương pháp cơ bản lấy nhẹ chế nặng. Trước khi bước lên và sau khi bước lên cũng như · 190 · Khi chém xuống, vĩ lư (xương cụt) đều phải ngay chính giữa, tuyệt đối không được vì cú đánh xuống mà khiến vĩ lư đổ về phía trước.
Thức thứ mười sáu Phiên hoa vũ tụ (ngực hướng bắc chuyển nam, lại chuyển đông bắc) Động tác: Giả định lần giải thoát thứ hai vẫn chưa thành công, nghĩa là dưới thế nhấc lên chém xuống vẫn chưa thể chém đứt tay thái của đối phương, thì phải dùng động tác lật xoay của thân thể để giải thoát thêm một bước, tức là thuận theo kình chém kháng cự hướng lên của đối phương, bỗng nhiên nhảy vọt lên; tay trái triền nghịch nhấc lên vòng qua đỉnh đầu, và lật người trở lại. Đây là đại chuyển thân từ dưới lên trên. Lực quán tính của động tác lật do tay trái dẫn dắt. Lúc này, tay phải cũng dùng triền nghịch từ dưới lên trên để phụ trợ, và dùng kình hai chiều cùng mở để nhảy vọt thân thể và lật mặt trở lại. Đồng thời, chân trái nhấc lên, và dẫn dắt chân phải cũng theo đó nhảy lên. Động tác này bao gồm có hai cánh tay và kình tựa vai để giải thoát bàn tay bị thái. (Hình 21, hình này là khoảnh khắc nhảy lên chuyển mặt) Tiếp đó, trong quá trình xoay chuyển tiếp tục từ trên xuống dưới, khi tay trái ở bên trái từ triền nghịch chuyển thành triền thuận đi xuống, thì chân trái đồng thời chạm đất dậm một cái chấn cước. Đây là động tác tay trái và chân trái đồng thời tiến hành. Khi chân trái chạm đất mà chân phải bước lên phía trước sang phải, bàn tay phải phải đồng thời triền nghịch từ phía sau trên chuyển thành triền thuận, và chém xuống phía trước bằng mé bàn tay (khi chém thì kình giống như kình chém của động tác bổ khung). Đồng thời, tay trái thành nắm đấm triền thuận đánh ra về phía sau bên trái với tư cách là khách. Lúc này chân trái là thực. (Hình 22, hình này là tư thế khi xoay chuyển thân thể chạm đất chém một cái)
· 191 · Yếu điểm: Đặc điểm của cách giải thoát trảm thủ ở thức trên là cánh tay của cả hai bên đều ở phía trước, khoảng cách từ điểm tác dụng của lực tới hai bên đều bằng nhau; còn động tác chuyển thân của thức này "Phiên hoa vũ tụ" thì vận dụng tác dụng xoay chuyển của thân pháp và eo lưng, khiến khoảng cách từ điểm tác dụng của lực bỗng nhiên hình thành sự đối chiếu chênh lệch (mình gần, đối phương xa). Nghĩa là, khiến điểm giải thoát xa đối phương và gần mình. Quan hệ một gần một xa này hình thành sự biến đổi về độ lớn của mô-men lực. Sau khi chuyển thân, hai chân là chân trái chạm đất chấn cước trước, chân phải chạm đất hơi sau, như vậy là đã tăng cường lực quán tính xoay của trục eo, do đó cũng tăng cường kình chém xuống của tay phải, đây chính là chỗ then chốt của thêm một phương pháp cầu giải thoát. Cách giải thoát này lấy động tác chém xuống của mé bàn tay phải để tiếp nhận lực quán tính xoay khi tay phải triền thuận lật chuyển. Đồng thời, khi chém xuống phải buông lỏng và có tính đàn hồi, như vậy mới có thể xúc tiến thức sau nhẹ nhàng nhảy vọt lên. Cách giải thoát này cũng là một tấm gương khác về lấy nhẹ chế nặng, là biểu hiện cụ thể của một động tác hai công dụng, nghĩa là, trong giải thoát có chứa đánh, trong đánh có chứa giải thoát — cách dùng kép. Cho nên thức này chủ yếu là một tay giải thoát, tay kia thuận theo vòng xoay mà chém xuống.
Thức thứ mười bảy Yểm thủ quăng quyền (ngực hướng đông bắc chuyển đông) Động tác: Đây là thức quyền chủ yếu dùng để luyện tập tích kình và phát động, trong khung thức của lộ thứ hai, hễ là sau những thức quyền đặc biệt thì phần nhiều dùng nó để liên hệ lại. Đây là Yểm thủ quăng quyền thứ nhất của lộ quyền thứ hai. Nó mượn tính đàn hồi của cú chém ở thức trên, hai tay lấy song thuận nhảy vọt thân thể lên, và đổi vị trí trước sau của chân trái chân phải, tiếp đó chân phải chạm đất chấn cước thành thực, chân trái bước tới kiễng lên thành hư. Đồng thời, lấy song nghịch triền đem kình của toàn thân uốn cong tích tụ lại, thu nhỏ vòng tròn của hai cánh tay để tăng cường tích kình. Lúc này, tay trái ở trên, tay phải ở dưới, chân phải hư mà chân trái thực. (Hình 23) Tiếp đó, nửa đoạn sau là phát động. Trước khi phát, tay phải trước tiên làm vòng nhỏ triền nghịch đặt nơi thắt lưng, tâm nắm đấm hướng lên; đồng thời tay trái tương đối triền nghịch, tâm nắm đấm hướng xuống, đây là động tác tích kình bên trái. Khi tay phải ở nơi thắt lưng bên phải, tay phải chìm kình xuống, và trong sự trầm ổn vẫn lấy triền nghịch dùng đột · 192 · Thế phát đem kình phát ra phía trước. Lúc này, tâm nắm đấm hướng xuống. Đồng thời, tay trái tương đối chuyển thành triền nghịch, đem nắm đấm phóng kình về phía sau để thu về, và đặt nơi thắt lưng trái. Tâm nắm đấm hướng xuống. Khi tích kình, chân phải là thực; khi phát kình, chân trái là thực. (Hình 24)
Yếu điểm: Thức này là thức quyền được vận dụng nhiều nhất (sáu lần) trong bộ khung thứ hai, yếu điểm của nó nằm ở chỗ tăng cường luyện tập kình "tích kình như kéo cung". Nó do động tác ngậm ngực cất lưng làm dẫn dắt, khiến hai cánh tay có kình hợp lại hình chữ 6. Khi luyện tập phát kình, phải có kình phát kiểu nâng vật lên rồi hạ xuống. Bởi vậy, nửa đoạn trên phải như kéo cung để tăng cường tính đàn hồi, nửa đoạn dưới lại càng phải có triền kình như phóng tên cắm sâu vào bia. Đây là biểu hiện cụ thể khiến động tác phát được xa dài. Vì thế, trước khi phát kình phải có vòng nhỏ chìm xuống, mới khiến kình tích có kéo theo và kình phát hai thứ hợp làm một, không được chỉ dùng kình tích phát đường thẳng không có kéo theo.
Thức thứ mười tám Phi bộ ảo loan trửu (ngực hướng đông chuyển bắc, lại chuyển nam) Động tác: Sau khi phát kình ở thức trên "Yểm thủ quăng quyền", hai nắm đấm làm một tiểu nghịch triền tại chỗ cũ, hợp kình lại trước sau; khi nắm đấm phải triền nghịch hướng tới trước, nắm đấm trái triền nghịch hướng ra sau để mở, chân phải theo đó nhấc lên, và bước bay về phía trước nhảy tới, chạm đất thành thực. Đồng thời, lấy · 193 · Chân phải làm trục xoay gót, khiến chân trái vạch cung vượt qua chân phải, thuộc về phía đông của chân phải, làm cho thân bay lên xoay chuyển 270°. (Hình 25) Đây là giả định ở thức trên "Yểm thủ quăng quyền" sau khi tay phải phát ra kình bị người ta thái, không kịp thu về mà áp dụng thức quyền này. Đối phương là thuận theo phương hướng phát mà yếu kình, vì thế, không thể không mau chóng thuận theo, để thích ứng với người, dùng phi bộ thuận theo và biến hóa kình. Trong quá trình thuận theo phi bộ, tự nhiên lật người chuyển sang trái, dùng kình bối chiết kháo (lưng gập tựa) để giải thoát tay phải bị thái, có phần giống với các thức "Ngọc nữ xuyên thoa" của lộ thứ nhất, Cũng là bước nhảy, nhưng thủ pháp khác nhau. (Hình 26) Sau khi xoay chuyển 270° đại chuyển thân, giả định kình bối chiết kháo của đại chuyển thân vẫn không thể giải thoát tay phải bị thái, thì sau khi chuyển thân, hai tay lấy song nghịch triền hợp làm một, tâm bàn tay trái đè lên bàn tay thái của đối phương, khiến hai cánh tay hình thành một vòng tròn nằm ngang, và lấy kình cùi chỏ phải đánh tới trước. Đây là động tác cuối cùng một động hai công dụng, là giải thoát, cũng là tiến công. Sau khi chuyển thân, chân phải thực; khi phát kình cùi chỏ, chân trái thực. Thế Ảo loan trửu cuối cùng hình thành như hình 27.
· 194 · Yếu điểm: Đây là phương pháp cuối cùng dùng kình bối chiết kháo để giải thoát tay phải bị thái. Bởi vì quan hệ xoay chuyển thân thể, lại có thể khiến khoảng cách của điểm tác dụng lực bỗng nhiên hình thành sự đối chiếu chênh lệch có lợi cho mình, để đạt tới lấy nhẹ chế nặng; đây là thức quyền và cú đánh không cầu giải thoát mà tự giải thoát. Đồng thời, thức này khác với mấy thức trước ở chỗ đem bàn tay trái đè nơi cùi chỏ phải, và lấy lưng cùi chỏ liên hợp đánh ngang đối phương. Đây là một loại thức quyền đặc biệt đè chặt cẳng tay của đối phương khi tới thái, để cố định điểm thái của đối phương, không cho hắn biến đổi, và quật người ta ngã ngang ra ngoài. Bởi vậy, cũng là một động tác hai công dụng. Yếu điểm của nó nằm ở chỗ sau khi bước bay ra vẫn có thể lập thân trung chính mà chạm đất. Đặc biệt phải chú ý là sau khi phát ra, hai cánh tay vẫn phải uốn cong tích kình có thừa, chứ không phải duỗi thẳng tay ra hết mức. Vì thế phải vận dụng phi bộ bước ra để thích hợp với yếu kình. Đây là phương pháp giải thoát cuối cùng trong một chuỗi động tác giải thoát, cũng chính là ví dụ về luyện tập thái liệt (bắt gạt) và giải thoát khỏi thái liệt của bộ khung thứ hai. Thức này tuy lấy kình cùi chỏ đánh tới trước, nhưng gốc của nó vẫn ở kình bối chiết kháo của bên phải. Vì thế, yếu lĩnh của nó phải trên cơ sở lập thân trung chính, mới có thể đạt được sự thống nhất của cùi chỏ và kháo cùng dùng.
Thức thứ mười chín Vận thủ (ba lần đầu, ngực hướng nam) Động tác: Hai tay đồng thời đi sang trái, lại đồng thời đi sang phải, sau đó lại đi sang trái vận động, thành · 195 · Thành ba động tác vận thủ, hơi khác với vận thủ của lộ thứ nhất. Sau kình hợp của thức trước Ảo loan trửu, trọng tâm hoàn toàn chuyển sang chân trái, chân phải bước tới sát bên, lấy mũi bàn chân chấm bên cạnh chân trái; đồng thời, bàn tay trái triền nghịch vận chuyển sang trái, nắm đấm phải biến thành bàn tay triền thuận vận sang trái. (Hình 28) Tiếp đó trọng tâm chuyển sang phải, chân phải đạp vững, gót chân trái trước tiên rời đất nhấc lên; đồng thời, hai tay phải nghịch, trái thuận triền, bàn tay phải qua trước mặt, bàn tay trái qua trước bụng vận chuyển sang phải. (Hình 29) Tiếp đó chân trái mở ngang nửa bước sang trái, trọng tâm dần dần chuyển sang trái, chân trái đạp vững, chân phải biến hư; đồng thời, hai tay trái nghịch, phải thuận triền, bàn tay trái qua trước mặt, bàn tay phải qua trước bụng vận chuyển sang trái. (Hình 30)
Yếu điểm: Thức này phải dưới vận động đường cong hòa hoãn mà làm sự biến hóa triền ty của trái thuận phải nghịch và phải thuận trái nghịch, và trong điều kiện không động bước mà nhấc chân và đặt chân, đầy đủ biểu hiện yêu cầu phân chia hư thực của tay chân trên dưới tương tùy, đây cũng là yêu cầu cơ bản của thức này. Bộ khung thứ hai trải qua mấy thức quyền nhảy nhót mệt sức trước đó, tới đây có thể điều chỉnh một chút động tác hô hấp. Cho nên hai tay trong động tác hình chữ ∞ này, đối với tốc độ vận động là có thể chậm, có thể nhanh; đây là nơi phân đoạn tự nhiên của bộ khung thứ hai.
Thức thứ hai mươi Cao thám mã (ngực hướng tây) Động tác: Sau khi làm ba động tác vận thủ trước, lấy gót chân trái làm trục, thân thể chuyển phải, gót chân phải rời đất; đồng thời, hai tay phải nghịch, trái thuận triền, bàn tay phải qua trước mặt, bàn tay trái qua trước bụng vận chuyển sang phải, khi bàn tay trái vận chuyển tới bên phải thân thì tâm bàn tay hướng lên. (Hình 31) Tiếp đó chân phải nhấc lên, thân thể tiếp tục chuyển phải; đồng thời, bàn tay phải triền thuận qua dưới bàn tay trái · 196 · Thu vào từ bên trong, tâm bàn tay hướng lên, bàn tay trái triền nghịch qua phía trên bàn tay phải đẩy tới trước, tâm bàn tay hướng ra ngoài và xuống dưới. (Hình 32)
Thức thứ hai mươi mốt Vận thủ (ba lần sau) Động tác: Sau khi làm Cao thám mã, tiếp đó hai tay lấy phải nghịch trái thuận đem tay phải chuyển hướng tới phía trước bên phải, mà tay trái chuyển hướng tới trước ngực. Cùng lúc hai tay chuyển đổi này, toàn thân lấy chân trái làm trục xoay chuyển 90°. Đồng thời, chân phải chạm đất dậm một cái chấn cước mà biến thành thực, chân trái mở ngang một bước sang trái, trước tiên lấy gót chân chạm đất. (Hình 33) Trọng tâm chuyển sang chân trái. Chân trái · 197 · Đạp vững, chân phải bước nửa bước sang bên trái, trước tiên chạm đất bằng mũi bàn chân; đồng thời, hai tay quấn nghịch bên trái, quấn thuận bên phải, lòng bàn tay trái đi qua trước mặt, lòng bàn tay phải đi qua trước bụng, vận chuyển sang trái. (Hình 34) Tiếp đó chân phải đạp mạnh, chân trái mở ngang nửa bước sang trái; đồng thời, hai tay quấn nghịch bên phải, quấn thuận bên trái, lòng bàn tay phải đi qua trước mặt, lòng bàn tay trái đi qua trước bụng, vận chuyển sang phải. (Hình 35)
Yếu điểm: Trong bộ khung thứ hai có ba động tác vận thủ phía trước và ba động tác vận thủ phía sau; ba động tác trước ngực hướng về nam; ba động tác sau ngực hướng về bắc, yêu cầu cơ bản và tác dụng của động tác đều giống nhau, không nhắc lại nữa. Vì thế, yếu điểm của thức này cũng không bàn đến bản thân động tác vận thủ nữa, mà chỉ nói về cái chuyển từ động tác nâng chân chính diện làm cao thám mã rồi quay về phía sau lưng. Động tác này đòi hỏi phải xoay người qua trong đường cong hoãn, vặn ốc không ngừng và nội kình xâu chuỗi, cho nên nhất định phải làm tốt một vòng nhỏ thu tay trái về trước ngực theo nghịch quấn trong quá trình xoay người. Thông qua nghịch quấn này để chuyển dịch thân mình, có thể đem thân mình và vặn ốc chuyển đổi qua trong trạng thái treo giữa không trung. Như vậy không những khiến nội kình không ngừng, mà còn có thể xâu chuỗi nội kình vào động tác tiếp theo. Cho nên thức này cũng là một động tác có độ khó khá cao để luyện tập xâu chuỗi từng tiết từng tiết một.
Để dễ làm xong động tác xoay người trở lại, sau khi Trần Phát Khoa đến Bắc Kinh, để khiến Thái Cực Quyền Trần thức phổ cập hóa, trong cái xoay này đã thêm vào hai thức quyền là vân thủ và cao thám mã. Như vậy liền không còn yêu cầu xoay gấp giữa không trung mà xâu chuỗi nữa, nên dễ làm hơn.
Thức thứ hai mươi hai: Cao thám mã (ngực hướng bắc chuyển tây bắc) Động tác: Sau khi chuyển chưởng sang phải của thức trên, khi thân lại xoay sang trái, hai tay trước tiên cùng quấn thuận mà cùng hợp lại, khiến hai tay giao nhau trước ngực rồi vượt qua, lại cùng quấn nghịch mà cùng mở ra.
lên. Khi hợp thì chân trái là thực. (Hình 37) Khi khai thì chân phải là thực (Hình 38). Đây là một thức quyền liên hệ với thức tiếp theo, kình giống như "Bạch hạc lượng sí" trong bộ thứ nhất, chỉ có điều hai tay cao thấp khá cân bằng, hai chân vượt ra rộng hơn, phải thể hiện được đāng tròn.
Yếu điểm: Đây là một thức quyền do song thuận mà hợp, rồi lại do song nghịch mà khai, đòi hỏi trong quá trình chuyển khai sau khi hợp không có góc cạnh và lồi lõm, khiến kình vặn ốc vận đến trên lưng cung. Đồng thời, đòi hỏi dưới tư thế mở rộng và khai triển, xâu chuỗi từng tiết mà tăng cường luyện tập tính đàn hồi, để nâng cao băng kình. Khi hợp phải chú ý hai ngón cái, lấy ngón tay trái làm chủ; khi khai thì chú ý hai ngón út, lấy ngón tay phải làm chủ.
Thức thứ hai mươi ba: Liên châu pháo (một) (ngực hướng tây bắc chuyển tây) Động tác: Từ khai kình của thức trên đến hợp kình của thức này, là do song nghịch quấn mà hợp. Lúc này, tay phải nghịch quấn đến bên phải ngực, lòng bàn tay hướng ra trái; tay trái nghịch quấn đến trước ngực, lòng bàn tay hướng ra phải, hai tay hợp thành một hợp kình trước ngực. Lúc này chân trái thực, chân phải hư. Tiếp đó, hai tay thuận quấn băng ra trước, đồng thời chuyển chân phải thành thực, khi hai tay băng song thuận mà đi xuống, chân trái lùi lại một bước, trọng tâm cũng lập tức chuyển sang trái, ngồi trên chân trái làm thực. Khi hai tay hạ tháp xuống, hình thành thế toàn thân súc kình. (Hình 38) Tiếp đó, hai tay lại chuyển song nghịch băng về phía trước trên, cuốn lên súc lại, chuyển chân phải thành thực. Sau đó hai tay lại lập tức từ trước quấn thuận xuống sang trái sau. Khi hai tay hạ tháp xuống, lại chuyển chân trái thành thực. Đây là trên cơ sở súc kình trước đó lại thêm một súc nữa. Cuối cùng lấy song nghịch quấn phát ra băng kình. Lúc này lòng bàn tay phải hướng ra ngoài, lòng bàn tay trái hướng xuống. Trong khi phát kình, chân phải bước lên nửa bước về phía trước, chân trái cũng theo đó bước theo nửa bước, gót chân cọ đất có tiếng. (Hình 38, 39) Đây là động tác liên châu pháo thứ nhất, thức này có tổng cộng ba động tác liên châu pháo.
Yếu điểm: Thức này thích hợp với thủ pháp khai môn khi Thái Cực Quyền tiến vào vòng người để hoạt động. Đặc điểm của nó là lấy hai tay chủ động xoay tròn làm thức quyền tiến vào vòng người. Thủ pháp của nó giống như đẩy cối nước, lấy tay trái xoay tròn ở trong để phòng ngự lỗ ngực, lấy tay phải xoay tròn ở ngoài để tiến công về phía trước. Hai tay như vậy kết hợp trong ngoài, không ngừng dùng tay trái thêm nguyên liệu, dùng tay phải chuyển động cối đá. Đồng thời, hai chân theo bộ pháp theo bước mà theo vào. Tuy không cầu dính đối phương, nhưng chỉ cần một bộ phận nào đó của cánh tay phải xoay tròn công kích chạm đến một điểm nào đó của đối phương, thì tại nơi chạm đó có thể làm điểm dính, liền tùy chỗ mà dính vào mà biến hóa muôn vàn. Thức này đã dùng "lấy thân tiến thoái" và thân pháp trung chính linh hoạt biến đổi, khi khách quan cần ứng biến và chuyển đổi, đều có dư dật, và đủ để chống đỡ tám mặt. Cái Tiếp theo, vì thức trên là song khai của triển sí, cho nên thức này trước tiên phải cuốn nó lên súc lại. Đây là để súc rồi sau mới phát. Đồng thời, để phát được giòn hơn, trước khi phát kình lại thu nhỏ một vòng, để tăng cường thêm tính đàn hồi của nó, rồi trầm ổn mà phát kình ra. Khi phát kình, tuy chân phải là thực, nhưng vì quan hệ trung chính "trung thổ bất ly vị", mức thực của chân trước và hư của chân sau đòi hỏi chênh lệch không lớn, để có thể nhanh chóng xoay tròn mà tiến lên về phía trước.
Thức thứ hai mươi tư: Liên châu pháo (hai) (ngực hướng tây) Thức thứ hai mươi lăm: Liên châu pháo (ba) (ngực hướng tây) Động tác: Khi làm liên châu pháo thứ hai và thứ ba, tay phải từ trước trên thuận quấn về phía trước ngực, tay trái từ trái sau dưới thuận quấn hợp với tay phải trước ngực. Lúc này, ngồi trên chân trái lại hình thành toàn thân súc kình. (Hình 40) Về sau động tác từ Hình 40 đến Hình 41, giống với liên châu pháo thứ nhất (tức giống động tác từ Hình 38 đến Hình 39).
Thức quyền này có thể theo nhu cầu của người luyện tập, làm liên tiếp mấy lần hoặc đưa ra chuyên luyện, động tác của nó giống với mấy liên châu pháo trước. Nhưng để khiến cả bộ khung khi kết thúc vẫn trở về chỗ cũ, cho nên khi thức này làm thêm mấy lần, thì "Bạch xà thổ tín" phía sau cũng phải làm thêm mấy lần như vậy, khiến số lần làm hai thức quyền này bằng nhau. Các yếu điểm khác giống với "liên châu pháo" thứ nhất.
Thức thứ hai mươi sáu: Đảo kỵ lân (ngực hướng tây chuyển đông) Động tác: Sau khi liên châu pháo của thức trên tiến ba bước, hai chưởng cùng song hợp với nhau; trước tiên đem chưởng trái nghịch quấn chuyển hướng về trước ngực, ngón tay dựng đứng, lòng bàn tay hướng phải. Đồng thời, chưởng phải nghịch quấn chuyển hộ ở ngoài cẳng tay trái, trọng tâm dịch về trước, chân phải là thực (Hình 42). Tiếp đó, tay phải nghịch quấn sang phải sau trên, tay trái nghịch quấn sang trái trước dưới; đồng thời nhấc chân trái lên, hai tay tách ra, lấy chân phải làm trục xoay, xoay sang phải 180° (Hình 43), xoay người hướng đông; khi xoay đến đông, do khai mà hợp đem thân mình dẫn xoay lại. Lúc này tay phải ở dưới phải, lòng bàn tay hướng xuống; tay trái ở trên trái, ngón tay dựng đứng. Lúc này, chân trái theo thân xoay chuyển lại vẫn nhấc lên. (Hình 44)
Yếu điểm: Lấy chân phải làm trục, khi chân trái theo thân xoay bước vượt lại, thân trên vẫn không được ngả trước hoặc ngả sau. Do chân trái theo thân thể xoay sang phải sau 180° mà bước ngược vượt qua, cho nên lấy ý "bước ngược", đặt tên là "Đảo kỵ lân".
Thức thứ hai mươi bảy: Bạch xà thổ tín (một) (ngực hướng đông) Động tác: Sau khi chân trái của thức trên bước ngược vượt qua, tiếp ngay lấy tay phải làm chủ thuận quấn ra trước một vòng nhỏ, dùng băng kình của ngón tay đánh ra. Đồng thời, tay trái ở sau vẫn lấy nghịch quấn phối hợp với tay phải cùng phát về trái sau. Lúc này, chân trái tiến nửa bước đặt đất làm thực, chân phải lập tức theo vào, cọ đất có tiếng, hoàn thành băng phát của Bạch xà thổ tín thứ nhất. (Hình 45) Thức quyền này là động tác ao bộ mà người ta ít có, phải tốn chút công phu mới thuần thục đắc kình, hoặc đưa ra chuyên luyện.
Yếu điểm: Thức này cũng có thể làm một loại thủ pháp khai môn, là cách lấy ao bộ tiến vào vòng người; đều là lấy thân tiến thoái, không cho phép có thân pháp ngả ngửa nghiêng ngả, tránh sinh ra tật chỉ chống đỡ được một mặt trong vòng người. Để có thể làm được biến đổi linh hoạt dọc ngang trước sau, sự phân chia hư thực trong thức quyền này giống với "liên châu pháo"; cũng đòi hỏi tiểu hư tiểu thực (1), để sau khi tiến vào vòng, chạm đến bất cứ bộ phận nào, liền có được tác dụng dính bám thuận lợi. Chỗ khác nhau là ở chỗ thức trước liên châu pháo là thuận bộ, thức này "Bạch xà thổ tín" là ao bộ (đôi khi để đơn giản dễ làm, có người đổi "Bạch xà thổ tín" thứ hai thành (1) Tiểu hư tiểu thực, chính là chỉ tỷ lệ phân phối tải trọng của hai chân: giả định hai chân chịu tải tổng cộng 100 cân, một chân 55 cân, chân kia 45 cân, như vậy chỉ cần động một chút là có thể rất nhanh chuyển đổi hư thực qua lại; cho nên người công phu sâu thì sự khác biệt hư thực nhỏ, vòng tròn biểu hiện ra bên ngoài cũng nhỏ.
"Yểm thủ quăng chùy", về sau lại làm Bạch xà thổ tín thứ ba, như vậy thì dễ làm hơn nhiều). Khi luyện tập ao bộ tiến về trước, ban đầu sẽ có chút không thuận, cho nên nhất định phải luyện tập nhiều. Đồng thời, thức quyền này là súc phát ở cự ly ngắn, cho nên phải hàm hung bạt bối, do cột sống dẫn đầu, làm được xâu chuỗi từng tiết và kình phát từ cột sống. Đây là động tác đại biểu cho kình phát từ cột sống của cả bộ khung. Nếu chỉ do hai cánh tay thể hiện phát ra cong vẹo là không hợp yêu cầu. Nếu có thể đưa ra chuyên luyện thì càng tốt.
Thức thứ hai mươi sáu: Bạch xà thổ tín (hai) (ngực hướng đông) Thức thứ hai mươi bảy: Bạch xà thổ tín (ba) (ngực hướng đông) Động tác: Súc kình của "Bạch xà thổ tín" thức trên là do hợp thế của "Đảo kỵ lân" phân chuyển rồi lại một hợp kình mà hoàn thành. Còn súc kình của "Bạch xà thổ tín" này, thì là tiến hành súc kình sau khi phát kình của "Bạch xà thổ tín". Đây là điểm khác nhau của hai "Bạch xà thổ tín". Khi bắt đầu, tay phải ở trước lấy thuận quấn súc đến trước ngực, lòng bàn tay hướng trái. Đồng thời, tay trái ở bên trái, lấy nghịch quấn chuyển đến bên sườn trái. Khi súc thì hai cánh tay hợp giữ kình, trọng tâm dịch về sau, chân phải là thực, mũi chân trái chấm đất là hư. (Hình 46) Tiếp đó, chưởng phải ở trước thuận quấn làm chủ một vòng nhỏ, dùng băng kình của ngón tay đánh ra. Đồng thời, chưởng trái ở sau, lấy nghịch quấn phối hợp với chưởng phải cùng phát kình. Lúc này, chân trái tiến nửa bước về trước, đặt đất làm thực, chân phải lập tức theo vào, cọ đất có tiếng, hoàn thành "Bạch xà thổ tín" thứ hai. (Hình 47) Thức này cũng có thể theo nhu cầu của người luyện tập, làm thêm mấy lần Bạch xà thổ tín có số lần giống với "liên châu pháo".
Yếu điểm: Giống với Bạch xà thổ tín thứ nhất.
Thức thứ ba mươi: Hải để phiên hoa (ngực hướng đông chuyển tây) Động tác: Đây là một thức quyền đặc biệt. Sau khi tay phải của thức trên phát ra băng kình về phía trước, liền cùng tay trái ở sau song thuận quấn giao nhau mà hợp. Sau khi hợp, lấy song khai kình hữu thuận tả nghịch đem thân xoay sang phải 180°. Lúc này trọng tâm dịch sang chân trái, hình thành tư thế độc lập. Trong quá trình xoay hướng tây, tay trái tay phải thành quyền, quyền phải lấy lưng quyền đánh phát xuống dưới sau, lòng quyền hướng trước. Quyền trái đánh phát lên trên sau, lòng quyền hướng phải. (Hình 48, từ Hình 48 trở đi cho đến hình cuối cùng, do trước đây khi chụp ảnh cho thầy Trần Phát Khoa đều chụp ảnh mặt trái của động tác, cho nên tất cả các hình ảnh phía sau, lấy mặt hướng về người đọc là hướng bắc, lưng hướng về người đọc là hướng nam, mặt hướng về người đọc phía trái là hướng đông, mặt hướng về người đọc phía phải là hướng tây, phía sau không nhắc lại nữa).
Yếu điểm: Thức quyền này lấy vận động khớp khuỷu tay làm chủ. Quyền trái đánh phát về sau trên và quyền phải về sau dưới, đánh phát lên xuống, là sự phát động về phía sau ít có, cho nên yếu điểm của nó ở chỗ khi phát động lên xuống về phía sau đòi hỏi giữ được sự cân bằng của thân mình.
Thức thứ ba mươi mốt: Yểm thủ quăng chùy (ngực hướng tây) Động tác: Ở thức trên nhấc chân phải lên, hai quyền ở trên dưới phân biệt đánh phát về phía sau bên sau, quyền phải thuận quấn hơi nhấc lên rồi lại lấy thuận quấn chìm xuống, lưng quyền hướng xuống, chân phải đồng thời chấn chân xuống đất. Đồng thời, quyền trái phối hợp với quyền phải lấy nghịch quấn hơi chìm xuống rồi lập tức nâng lên, toàn thân trọng tâm đều ở trên cái chấn của chân phải. Đợi quyền phải thuận quấn đến lòng quyền lại hướng lên, và thêm một chút chìm kình, rồi lại chuyển thành nghịch quấn mà phát kình ra. Tay phát ra, vẫn phải lưu lại dư dật, không được duỗi thẳng hết mức. Đồng thời, quyền trái nghịch quấn nâng lên chuyển một cái thành thuận quấn phát ra về sau làm khách, để giữ được song phát có chủ có khách. (Hình 49)
Yếu điểm: Giống với thức thứ mười bảy "Yểm thủ quăng chùy".
Thức thứ ba mươi hai: Chuyển thân lục hợp (ngực hướng tây do bắc chuyển nam) Động tác: Do khai của thức trên "Yểm thủ quăng chùy", đem tay phải đã phát động ở phía trước thuận quấn thu về trước vai trái; đồng thời, tay trái nghịch quấn duỗi ra trước ngực. Đồng thời trọng tâm dịch sang phải, thân thể xoay sang phải. (Hình 50) Sau đó tiếp lấy hai quyền tách ra sang trái phải. (Hình 51) Tiếp Chuyển toàn bộ trọng tâm sang chân trái, lấy gót chân trái làm trục, nhấc chân phải lên, thân mình xoay sang phải-sau; đồng thời, hai nắm đấm khép lại giao nhau trước bụng, nắm đấm phải ở trong, lòng cả hai nắm đấm đều hướng vào trong. (Hình 52)
Phần 27
Thức thứ ba mươi ba. Tả quả tiên pháo (1)
Tiếp đó bàn chân phải đặt xuống giậm chân. (Hình 53) Đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước; hai tay chuyển thành song thuận, phát kình cứng ra hai bên ngoài trái phải và hơi về phía sau. Lúc này, lòng nắm đấm hướng ra trước lên trên, khi phát thì tay trái chân trái là chủ yếu. Đây là thế biến trong quả tiên (biến). (Hình 54)
Yếu điểm: Hàm hung bạt bối nghĩa là xương sống căng cứng từ trên xuống dưới. Thức này do quan hệ của "quả", nên xương sống căng cứng cả bốn mặt trên dưới trái phải, là một thức quyền đặc biệt nữa để luyện lực phát ra từ xương sống, cũng là thức quyền luyện bộ pháp hoành hành của bộ khung thứ hai. Đây là một loại bộ pháp kiểu quần chiến. Khi chân và cánh tay giao nhau · 207 · Lúc này là "quả", là sự tích lực của chân. Khi tách hai chân ra thành "tiên", là sự phóng lực của chân, có thể khiến người ta luyện thành công phu nhẹ thân nhảy ngang. Yếu điểm của thức này là trước khi phát, phải quấn chặt một cái, khiến khí trầm xuống hơn nữa, sau đó mới có thể phát kình sang trái phải một cách dứt khoát, biểu hiện ra tính đàn hồi cứng rắn. Như vậy liên tiếp tích và phát hai lần. Đồng thời, khi hai tay từ song khai thuận triền chuyển thành song hợp nghịch triền làm thành "quả", chính là lúc toàn thân quấn chặt, khí dán vào xương sống, hình thành lúc tích lực đầy đủ; vừa đặt chân xuống giậm chân, tức khắc là sự phát kình trái phải của "tiên".
Phần 28
Thức thứ ba mươi tư. Tả quả tiên pháo (2) (ngực hướng nam)
Động tác: sau khi "chuyển thân lục hợp" và thức trước "quả tiên pháo" phát động sang trái phải, hai nắm đấm lại chuyển thành song nghịch, trọng tâm trước hết dịch sang phải, khiến chân phải thành thực, sau đó lại đưa hai nắm đấm hợp trước bụng dưới, trọng tâm dịch sang trái; đồng thời nhấc chân phải lên, hạ xuống bên trái chân trái, khiến hai nắm đấm và hai chân giao nhau quấn lại. Đây lại là một "quả". (Hình 55) Lúc này hai cánh tay quấn chặt, có kình trầm xuống, xương sống cũng phải căng cứng. Tiếp đó chuyển hai nắm đấm thành song thuận, phát kình cứng ra hai bên ngoài trái phải và hơi về sau, đồng thời chân trái bước ngang sang trái một bước, đây lại là một "tiên". (Hình 56) Thức này cũng có thể tùy theo nhu cầu mà liên tiếp làm thêm vài cái, động tác giống như tả quả tiên pháo (2).
· 208 · Yếu điểm: Đây là một thức quyền quần chiến vừa là "tẩu" (đi), vừa là "công" (đánh). Yếu điểm của nó là khi nhảy ngang rơi xuống phải biểu hiện trầm ổn không phù phiếm; đồng thời trong quá trình một quấn một biến, không được đứt kình, để thích ứng với yêu cầu của quần chiến là không có khe hở để tìm. Cho nên, ở điểm nối tiếp sau khi phát kình song khai của quả tiên thứ nhất phải làm ra một cái "chiết điệp", khiến nội động năng chuyển tiếp theo đường cong nhẹ nhàng vào quả tiên thứ hai.
Phần 29
Thức thứ ba mươi lăm. Hữu quả tiên pháo (1) (ngực từ nam chuyển bắc)
Động tác: kình song thuận phát của quả tiên thứ hai ở thức trên là kình song khai; sau khi khai lại có một kình song trầm ra ngoài xuống, hai nắm đấm đều đổi thành song nghịch triền tích lại, và hợp trước bụng dưới, lưng nắm đấm đối nhau; đồng thời, lấy chân trái làm trục xoay, nhấc chân phải lên, lợi dụng kình song hợp của hai nắm đấm, cánh tay trái vòng nhỏ, cánh tay phải vòng lớn. Dẫn thân mình xoay sang trái 180°, chân trái lấy bàn chân dán đất quét xoay nửa vòng theo thân xoay. (Hình 57) Lúc này, hai nắm đấm cũng chuyển thành song thuận hướng ra hai bên trái phải, và hơi về sau phát ra kình cứng. Khi phát lấy tay trái, chân trái làm chủ, hình thành quả tiên thứ nhất sau khi xoay thân. (Hình 58)
Yếu điểm: Nó lấy chân trái làm trục xoay ở giữa, dùng thế "quả" tích lực để xoay thân · 209 · thân. Chân trái theo thân xoay quét ngang nửa vòng, trong quá trình này vẫn phải giữ thân mình vững vàng, đây là điều kiện quan trọng để kình phát của một "tiên" sau khi xoay thân dứt khoát hay không dứt khoát. Các yếu điểm khác giống như hai quả tiên trước.
Phần 30
Thức thứ ba mươi sáu. Hữu quả tiên pháo (2) (ngực hướng bắc)
Động tác: thức quyền này giống như quả tiên thứ hai trước khi xoay thân, chỉ khác là ngực đã xoay hướng về phía bắc. (Hình 59, 60, 61)
Yếu điểm: giống thức thứ ba mươi tư.
Động tác: sau khi phát kình song khai của quả tiên ở thức trên, chân phải chuyển cung sang phải-sau 90° không cùng độ rộng với chân trái. Sau đó chân trái chuyển cung sang trái-sau nửa bước, xoay qua thân mình. Đồng thời, phần trên lấy nắm đấm phải thuận triền vạch cung từ ngoài vào trong, chuyển đến dưới cùi chỏ trái, lòng nắm đấm hướng vào trong. Nắm đấm trái nghịch triền, từ ngoài-dưới lên trong-trên dựng đứng lên, lòng nắm đấm hướng sang phải, hình thành thế song hợp. Lúc đó, chân phải thực. (Hình 62) Tiếp đó đem cánh tay trái đã dựng đứng, thuận triền ép ngang sang trái, từ phải sang trái-sau làm động tác phóng kình giả (tân), đồng thời chân trái lùi bước sang trái-sau, vẫn lấy chân phải làm thực, để phối hợp với tay phải xoay dưới cùi chỏ đưa cẳng tay ra trước ngang, thuận triền phát ra kình cùi chỏ của cẳng tay ngang. (Hình 63)
· 210 · Yếu điểm: Thức này khi bắt đầu dựng đứng cánh tay trái, đưa ngang sang phải đâm, hình thành thế biến của việc tích lực, yêu cầu đem nội kình trong thân mình rót đầy đủ. Chân phải chuyển cung nửa vòng, bước tháo về phải-sau, có thể thúc đẩy kình rót đầy đủ. Đây là tác dụng "lùi tức là tiến", "giữ tức là công". Bởi vì khi cánh tay trái dựng đứng vừa gập ngang, hình thành sự tăng cường của hợp kình, cánh tay phải lập tức vượt qua trên cánh tay trái mà phát ra kình cùi chỏ, tức là cái gọi là xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị, khiến đối phương khó phòng ngự. Loại thức quyền lấy cẳng tay đưa ngang phát ra kình cùi chỏ này, ngoài "đoạt nhị quăng" ở sau cùng là thức quyền luyện kình phát cùi chỏ ra, trong bộ khung thứ hai không còn thức quyền nào khác luyện kình phát cùi chỏ, cho nên phải tỉ mỉ tập luyện (nghe nói đây là chọn ra từ quyền phổ của Thích Kế Quang)
Phần 31
Thức thứ ba mươi tám. Phách giá tử (ngực hướng đông bắc)
Động tác: thức này sau khi "thú đầu thế" phát kình, nắm đấm phải hướng xuống rồi chuyển lên một thuận triền nhỏ. Đồng thời, nắm đấm trái hướng lên rồi chuyển xuống một nghịch triền nhỏ. Khi sự chuyển động đối ứng đến lúc nắm đấm trái ở dưới, nắm đấm phải ở trên thành một đường thẳng đứng, thì nhảy chân phải lên; đồng thời, chân trái bước ra trước một bước. Lúc này hai nắm đấm đều biến thành chưởng, chặt chẽ giao nhau hợp đôi lại, và khiến đũng (háng) tròn mà trầm xuống, bên trong giấu kình vai tựa (kháo) ở cự ly gần. Lúc này chân trái · 211 · chân là thực. (Hình 65) Động tác trên là phát ra kình vai tựa trái trong lúc tích lực; không cần tích lực nữa, chỉ cần buông lỏng thế tích lực của thức trước, tức là phát động; là dùng tay trái hướng lên ngoài thuận triền phát ra, là kình đánh lên duy nhất trong Thái Cực quyền. Mục tiêu đánh trúng là cằm dưới của người. Thức này là thức quyền có thể dùng cả chùy (nắm đấm) lẫn chưởng, cũng là phép đánh ra sau của tay phải hướng xuống trong nghịch triền làm động tác giả. (Hình 66)
Yếu điểm: Đây là thức quyền sau khi phát kình bằng (bằng) của thức trên chuyển thành tích lực, và trong tích lực có ngụ ý phóng kình. Khi hai tay giao nhau bước ngang nửa bước, kình chặt của chưởng đập mặt của tay phải ở trên đánh sang trái-trên và kình vai tựa ra ngoài trái của vai trái phải đồng thời cùng dùng. Hai kình chỉ có một là kình tựa, một rõ một tối, một cánh một hư, là đặc điểm của thức này. Bởi vì phàm khi dùng kình vai tựa phát ra, đầu dễ bị người khống chế nhất. Cho nên thức này trong cự ly gần bảy tấc, đồng thời dùng chưởng đập mặt có thế đánh tới trước, do đó đối với đầu không những có tác dụng bảo vệ, mà còn bổ sung cho sự không đủ của kình vai tựa.
· 212 · Trong lúc tích thế tích lực mà dùng kình tựa, phải có kình trung chính an ổn; nếu kình tựa rơi vào khoảng không, thì ở một bên tựa, cúi chỏ đánh và tay bằng (bằng) đều đã tích sẵn chờ phát, bất cứ lúc nào cũng có thể cứu chữa điều không kịp.
Hình 66 là một trong những thủ pháp lấy bằng thủ làm chủ. Nó sau kình phát bằng, kình chặt của chưởng và kình vai tựa, lại thêm một kình đánh lên độc nhất. Đây là kình phát kiểu liên châu, mục đích là đánh trúng đối phương chứ không phải đánh văng đối phương. Nhưng đánh trúng cằm dưới của đối phương, cũng có khả năng khiến đối phương ngã. Đây là một phép đánh đặc biệt trong thủ pháp của Thái Cực quyền. Đồng thời, do thức quyền trước đã tích lực đầy đủ cho hai tay hai chân, cho nên cú đánh lên của thức này, yếu điểm của nó ở chỗ trong một cái trầm kình có thể tập trung kình của nó cao độ hơn nữa, như vậy mới khiến động tác đánh lên biểu hiện ra nội kình cứng rắn mà trầm ổn.
Phần 32
Thức thứ ba mươi chín. Phiên hoa vũ tụ (ngực từ đông nam chuyển đông bắc)
Động tác: đây là sau cú đánh lên chia đôi kình của thức trên, biến thành thân pháp trầm xuống. Trước khi động tác, phải thêm một kình đàn hồi trầm ổn nữa, và do đỉnh kình dẫn đầu kéo thân mình lên. Đây là yêu cầu "ý muốn lên trên, ắt trước phải ngụ xuống dưới". Cho nên, dưới sự phối hợp của thần khí cổ động chuyển từ sau-dưới thành trước-trên, dẫn tay phải từ sau-dưới nghịch triền hướng trước xuống. Đồng thời, tay trái ở trước làm vòng nhỏ thuận triền, phối hợp tay phải hợp kình lại. Tiếp đó, tay phải vẫn lấy nghịch triền từ trước-trên hướng trước xuống dùng cạnh chưởng chặt xuống, giống như dùng búa bổ củi vậy. Khi chặt toàn thân phải buông lỏng ra, phải dùng kình đàn hồi; đồng thời, tay trái hướng trái-sau làm động tác đánh giả (tân). Khi hai tay hướng sang phải-sau, nhấc chân trái lên; khi hai tay đến trước-trên, chân trái rơi xuống thành thực; đồng thời chân phải bước ra trước một bước. Khi tay phải chặt xuống là thực, chân phải là hư. (Hình 67)
· 213 · Yếu điểm: Thức này cũng là chọn ra từ quyền phổ của Thích Kế Quang, nó khác với thức trước: thức trước là từ dưới đánh lên, mà thức này là từ trên chặt xuống. Để làm tốt cái chặt xuống, trước hết phải hợp kình lại ở trước ngực, sau đó liên hợp nội kình của thân mình, và chặt xuống sau khi chuyển vòng. Lúc này, yêu cầu tay chân phối hợp nhịp nhàng, và dưới sự đắc thế đắc kình biểu hiện ra một cái chặt cứng rắn. Cho nên, hai tay phải sau khi chuyển qua một vòng lớn, mới bắt đầu chặt xuống; giống như cầm búa lớn chuyển một vòng rồi đập sắt vậy. Đây là thức quyền duy nhất chuyển vòng rồi chặt xuống của bộ khung thứ hai. Khi phát cái chặt xuống, thân khu phải trung chính không lệch, và có sự buông lỏng đàn hồi, đây là biểu hiện cụ thể của việc lợi dụng lực quán tính của một vòng xoay để tăng cường kình chặt xuống; phải làm cho hai tay và hai chân đồng thời cùng dùng, để đạt đến yêu cầu vô cùng phối hợp.
Phần 33
Thức thứ bốn mươi. Yểm thủ quăng chùy (ngực từ đông bắc chuyển đông)
Động tác: thức này nối tiếp sau "phiên hoa vũ tụ", khác với "yểm thủ quăng chùy" trước; thức này phải do đỉnh kình dẫn đầu kéo thân mình lên, nhấc chân phải lên, hạ xuống ở chỗ song song với chân trái giậm chân thành thực; đồng thời, đưa chân trái duỗi ra trước một bước nhỏ thành hư. Thức này yêu cầu khi nhảy lên thì chân trước chân sau đổi vị trí cho nhau. Khi thân khu được dẫn lên, tay phải thuận triền cùng tay trái nghịch triền hợp đôi lại, lúc chân phải rơi xuống đồng thời, hai tay lấy song nghịch triền tách ra, rồi lại chuyển tích lên. Lúc này tay phải đổi chưởng thành nắm đấm, đặt ở bên hông phải, và dưới một cái trầm kình lấy nắm đấm phải làm chủ phát kình ra. Lúc này, tay trái lấy nghịch triền hướng ra sau làm động tác giả phóng kình. (Hình 68)
Yếu điểm: Khi làm cái chặt xuống trong thức "phiên hoa vũ tụ", là buông lỏng mà chặt một cái, khiến người ta có khí thế khuếch tán kình ra bốn phía, giống như túi tro rơi xuống đất, tro tán ra bốn phía.
· 214 · ra; bởi vì là kình chặt buông lỏng, cho nên khi làm thức quyền tiếp theo thì lợi dụng tính đàn hồi của cái chặt xuống để dẫn thân mình lên, giống như tập trung kình bốn phía vào một điểm mà dẫn lên vậy. Đến khi chân phải rơi xuống giậm chân và chân trái duỗi ra bước tới, trong ý niệm lại có ý đồ đưa kình tản ra. Đây là thần thái mà thức quyền này phải có.
Phần 34
Thức thứ bốn mươi mốt. Phục hổ (ngực từ đông chuyển đông nam)
Động tác: sau khi nắm đấm phải phát kình ở thức trên, nghịch triền thu nắm đấm phải về, đồng thời tay trái nghịch triền thành nắm đấm, hướng trái-trước buông ra. Khi nắm đấm phải nghịch triền hướng sau, đưa chân phải ở phía sau lùi thêm nửa bước sang phải-sau thành thực, đến khi nắm đấm phải nghịch triền hướng ngoài phải làm một vòng lớn, lại làm một vòng nhỏ, khiến nắm đấm phải đến góc trán trái, thì hoàn thành thức quyền phục hổ. Đồng thời, nắm đấm trái thu về làm một vòng nhỏ hướng trong trái, khi chuyển đến bên hông trái thì chống ở bên hông trái. Lúc này chân phải thực, chân trái hư. (Hình 69)
Yếu điểm: Thức này khi xoay một vòng lớn trái phải trước sau và trên dưới (đại tích lực), phải khiến thân khu trong khi vận chuyển càng vận càng thấp, đồng thời vòng lớn cũng càng xoay càng nhỏ, đây là một ví dụ rõ ràng nhất của việc hình thành thân khu xoáy ốc đi xuống. Thức này khác với các thức quyền thông thường ở chỗ trong tư thế khai mà hình thành súc động; bởi vì thân khu càng vận chuyển về chỗ thấp, tính đàn hồi của súc kình tác dụng lên chân cũng càng lớn. Loại súc kình này, có thể chuẩn bị tốt cho lực đàn hồi nhảy lên nhẹ nhàng linh hoạt của thức sau, đây là thức quyền thấp nhất của bộ khung thứ hai, cũng là thức quyền rõ ràng nhất về triền ti của chân phối hợp với triền ti của tay.
Động tác: thức quyền trên là đại súc thân pháp, khi làm thức này, thì là ở thức trên · 215 · Thân pháp phóng đại trong trường hợp thân pháp đã tích súc đầy đủ. Trên cơ sở bên phải của sống lưng đã duỗi dài và đàn hồi đầy đủ, vận dụng quá trình thu súc của tính đàn hồi hồi phục nơi lưng eo, dùng tay phải thuận triền (thuận quấn) vạch cung từ trên xuống rồi chuyển ra trước quật một cái (giả định tay trái của thức trước "Ngọa Hổ Sát Yêu" đã bị thải), quyền trái dùng nghịch triền (nghịch quấn) từ dưới ra sau vạch lên một vòng tròn khép kín, mượn lực ly tâm của quyền phải quật ra trước để lĩnh thân mình lên, chân phải cũng theo đó nhảy tới trước một bước lớn, chân trái theo sau bước tới. Lúc này hai chân rời khỏi mặt đất. (Hình 70) Nhảy tới bên đối diện, khi chân phải chạm đất làm thực điểm, khiến thân mình xoay trái 180° giữa không trung, đặt chân trái về phía đông của chân phải. Lúc này, quyền trái cũng từ trên nghịch triền xuống đặt nơi lưng eo. (Hình 71) Trong quá trình nhảy tới xoay thân, một kình "bối chiết kháo" (kình tựa gãy lưng) biểu hiện rất tự nhiên, để gỡ bỏ bàn tay trái bị thải, và thu tay trái về đặt nơi lưng eo.
Yếu điểm: Thức này chủ yếu dựa trên súc kình của thức trên. Trước khi nhảy tới, phải ngồi lùi eo chân một chút để tăng cường đàn kình. Sau đó mượn tính đàn hồi của súc kình, khiến thân nhảy vọt lên về trước, đây là mấu chốt để đạt được khinh linh và dễ xoay chuyển. Khi xoay thân nhất định phải giữ thân trung chính, đây là bảo đảm để kình "bối chiết kháo" được phát phóng an toàn, cũng là cách tự nhiên thoát ra mà không phải cầu thoát ra.
cơ sở.
Thức thứ bốn mươi ba: Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy (ngực hướng nam)
Động tác: Sau khi thức này nhảy lên xoay thân, quyền trái chống lưng eo, tiếp đó tay phải vạch vòng trước ngực bằng thuận triền. Khi tay phải vạch vòng xuống dưới, chân phải lập tức nhấc lên làm hư. (Hình 72) Khi tay phải vạch vòng lên trên, chân phải lại hạ xuống làm thực, hoàn thành một lần "giảo thủy" (khuấy nước). (Hình 73) Tiếp đó tiếp tục làm thêm hai lần động tác "giảo thủy". (Hình 74, 73, rồi tiếp 74, 73, 74)
Yếu điểm: Theo yêu cầu của kỹ năng vận động mà nói, thức quyền càng đơn giản thì càng khó làm tốt yêu cầu "nhất động toàn động" (một động tác khiến toàn thân động). Thức này chỉ có một tay phải vạch vòng, chân phải phối hợp lên xuống phân hư thực để tiến hành vận động, động tác như vậy khá đơn giản, cho nên đây là công phu cơ bản để luyện triền ty kình (kình quấn tơ) đạt tới tiết tiết quán xuyến. Muốn đạt tới "nhất động toàn động", yếu điểm vẫn nằm ở sự dẫn dắt của lưng eo và sự buông lỏng của kình nơi cánh tay, vạch vòng như chiếc roi — đây là mấu chốt để làm tốt thức quyền này.
Nơi đây chính là phân đoạn thứ hai của giá thứ hai, có thể tùy nhu cầu mà lặp lại làm vài lần. Bởi vì trước khi "giảo thủy", đã liên tục tiến hành một loạt vận động khá kịch liệt, nên ở đây có thể khiến người ta được hưu chỉnh nhất định.
· 217 · Thức thứ bốn mươi bốn: Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy (ngực hướng nam, chuyển bắc)
Động tác: Tiếp thức trên, xoay thân lại, đổi thành tay trái "giảo thủy" vạch vòng. Cách làm của nó cơ bản giống với động tác "giảo thủy" của tay phải, điểm khác là phải làm được việc khi tay trái tay phải thay phiên và xoay thân thì phải giữ nội kình không đứt. Thức trên khi tay phải vạch vòng đến lúc từ dưới chuyển sang trái, quyền trái đang chống nơi eo trái buông ra và nghịch triền hướng lên phải để đón, hình thành sự tương hợp trái hơi dưới, phải hơi trên. Lúc này chân phải nhấc lên làm hư, vừa khi giao nhau xong, hai tay lập tức biến thành song nghịch triền, do lưng eo dẫn đầu và tay phải kéo dắt, xoay thân mang chuyển 180° sang phải. Đồng thời, chân phải chạm đất làm thực, và làm trục giữa của sự xoay chuyển. Theo đó, chân trái cũng lập tức cùng thân làm cung chuyển, đặt về phía tây của chân phải, hoàn thành quá trình xoay thân. Đồng thời, tay trái từ nghịch triền chuyển thuận vạch vòng sang phía trái, tay phải thì sau một tiểu thuận triền đặt nơi bên phải lưng eo. (Hình 75) Đây là điểm khởi đầu sau khi "Tả Hoàng Long Tam Giảo Thủy" xoay thân. Về sau cũng như "Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy", khi tay trái vạch xuống, chân trái phải nhấc lên làm hư. (Hình 76) Khi tay trái vạch lên, chân trái lại hạ xuống làm thực. (Hình 77), hoàn thành một lần "giảo thủy". Tiếp đó làm thêm hai lần động tác "giảo thủy". (Hình 78, 77, rồi theo hình 78, 77, 78)
Yếu điểm: Yêu cầu của bản thân thức này giống với "Hữu Hoàng Long Tam Giảo Thủy", nhưng phải đặc biệt chú ý là khi xoay thân đổi tay, không những phải xoay với đường cong hòa hoãn, đồng thời còn yêu cầu quán xuyến một hơi, không để xảy ra đứt đoạn và lồi lõm. Mấu chốt của nó nằm ở chỗ khi tay trái buông ra và tay phải tương hợp, hình thành hai cánh tay tương hệ, có thể làm được khi tách ra xoay một vòng nữa thì kình liền từ tay phải đổi sang tay trái.
Tuy yếu điểm và động tác của thức này giống với thức trước, nhưng để khiến tay trái có được mức linh hoạt như tay phải, thức này có thể làm nhiều lần hoặc hơn mười lần; khi vận động thức này vị trí chân phải không đổi, cho nên làm nhiều lần tại chỗ cũng không tổn hại đến kết cấu của toàn bộ bài quyền.
Thức thứ bốn mươi lăm: Tả Đăng Nhất Căn (ngực hướng bắc)
Động tác: Sau "giảo thủy" của thức trên, khi cánh tay trái thuận triền vạch cung từ trong ra ngoài, tay phải đang chống eo buông ra, và thừa thế gia nhập vòng vạch tương đối lại tương phân; khi chuyển đi qua một vòng rồi chuyển xuống dưới, liền trở thành song hợp kình. Lúc này lòng bàn tay đối lòng bàn tay, hai tay tương đối hơi hẹp hơn vai, đặt trước bụng. Khi tay phải gia nhập đến cuối cùng thành hợp, chân trái từ thực chuyển hư. (Hình 79) Dưới hai tay không ngừng vạch vòng, tiếp tục lấy song thuận triền siết chặt một hợp, khiến hai chưởng biến thành quyền giao nhau trước ngực. Lúc này, tay trái ở ngoài, tay phải ở trong, đồng thời, nhấc chân trái lên. (Hình 80) Sau khi đạt tới điểm cuối của giao nhau, phát kình hai tay và chân trái ra hết sức về hai bên trái phải cùng một lượt. Đây là đá chân trái phát kình trong tư thế đứng độc lập trên chân phải. Lúc này tay trái làm chủ, tay phải làm khách. (Hình 81)
Yếu điểm: Đàn kình của thức này là song khai kình sinh ra trong song hợp, bởi vì khi hai tay làm song hợp, cùi chỏ và cánh tay trên có song khai kình. Đồng thời, khi hai chân hơi cong mà song hợp, do viên đang (háng tròn) khiến chân cũng có song khai kình. Điều này chứng tỏ hai cánh tay và hai chân đều có kình ngoại nả tương hệ, đây là mấu chốt để phát kình được tùng thúy. Đợi khi hai tay và chân trái cùng phân phát về hai bên trái phải, do tác dụng ổn định của hai tay phân phát, khiến thân mình khi phát ra được tính ổn định nhất định. Cách phát kình này là biện pháp tốt để luyện dây chằng khớp và tăng cường tính đàn hồi của nó.
Thức thứ bốn mươi sáu: Hữu Đăng Nhất Căn (ngực hướng bắc chuyển nam)
Động tác: Sau "Tả Đăng Nhất Căn" của thức trên, hai tay từ nghịch triền hợp về phía trái một cái, kéo dắt thân mình xoay sang trái; đồng thời chân trái chạm đất dậm chân một cái, và nhấc chân phải lên, hình thành chân trái đứng độc lập, hai tay hợp kình tại hai bên đầu gối phải. (Hình 82) Tiếp đó phát kình hai tay và chân phải ra hết sức về hai bên trái phải cùng một lượt, đây là đá chân phải phát kình trong tư thế đứng độc lập trên chân trái. Lúc này tay phải làm chủ, tay trái làm khách. (Hình 83)
· 220 · Yếu điểm: Thức này là nhấc chân trái xoay ngang sang trái, khi xoay ngang không dễ đạt được xoay chuyển ổn định, cho nên, yếu điểm của nó nằm ở việc nhấc đỉnh kình lên và hai tay nghịch triền hợp kình lẫn nhau, khiến sống lưng căng chặt, mũi chân trái hướng xuống, để giảm nhẹ trọng lượng chìm xuống của chân trái treo giữa không. Đây là tư thế súc kình cần nắm vững khi xoay thân trước cước đăng phải. Sau khi chân trái chạm đất dậm chân một cái, lập tức nhấc chân phải, phát chân phải và hai tay trái phải cùng một lượt ra hai bên.
Thức thứ bốn mươi bảy: Hải Để Phiên Hoa (ngực hướng tây)
Động tác: Giống thức thứ ba mươi "Hải Để Phiên Hoa", chỉ có mức xoay thân nhỏ hơn, còn lại đều giống nhau. (Hình 84)
Thức thứ bốn mươi tám: Yểm Thủ Quăng Chủy (ngực hướng tây)
Động tác: Chân phải hạ xuống dậm chân làm thực; lúc này tay phải là thuận triền, tay trái là nghịch triền. Khi tay trái chuyển về phía trước trái, chân trái tiến thêm một bước về phía trước trái; đồng thời chưởng phải biến thành quyền chuyển nghịch triền phát kình ra, quyền trái sau khi nghịch triền chuyển, phát kình ra phía sau trái làm khách. (Hình 85)
Yếu điểm: Giống thức thứ mười bảy.
· 221 · Thức thứ bốn mươi chín: Tảo Thảng Thối (chuyển eo đập, ngực hướng đông, chuyển bắc, sau chuyển nam rồi chuyển bắc)
Động tác: Sau khi "Yểm Thủ Quăng Chủy" phát kình, tay phải ở trước nghịch triền thu về rồi vạch một vòng ra trước, tay trái ở sau nghịch triền vạch một vòng ra trước rồi ra sau. (Hình 86) Khi tay phải lại nghịch triền từ trước thu về đến trước eo phải, chân phải dậm đất dậm chân một cái; lúc này quyền trái nghịch triền nâng lên trước trên. (Hình 87) Ngay sau khi dậm chân, mũi chân phải hơi hất ra ngoài, bước ra nửa bước nhỏ về phía sau phải, hình thành quán tính xoay chuyển, mang thân xoay về phía sau phải · 222 · khoảng 280°, chân phải ngồi xổm xuống, chân trái cũng theo đó duỗi chân vạch cung quét ngang 280°, quét đến phía tây bắc của chân phải. (Hình 88)
Yếu điểm: Thức này là luyện kình đập mắt cá chân khi chân quét ngang. Để xoay chuyển chân trái một cách ổn định, quét ngang một vòng tròn khép kín, tất phải khiến ý khí biểu hiện như thể chân phải đã mọc rễ trên mặt đất. Thứ hai, để tăng cường kình quét ngang của chân, phải lợi dụng việc chân phải bước nửa bước nhỏ về phía sau phải, mũi chân hất ra, để dẫn dắt sự xoay chuyển của thân mình, hình thành quán tính xoay chuyển. Thứ ba, phải làm tốt trên dưới phối hợp nhất trí, mới có thể khiến thân mình xoay chuyển khinh linh mà trầm ổn; điều này chủ yếu ở nửa vòng đầu của vận động là như vậy, biến thế là từ cao chuyển xuống thấp, mà ở vòng sau của vận động, thì nội kình lại phải từ thấp chuyển lên cao rồi sau đó hạ xuống. Đây cũng là một động tác có độ khó khá cao, là vận động luyện chân lĩnh thân, có thể khiến cơ bắp chân duỗi dài và tăng cường. Để tăng cường kình quét ngang của chân, có thể tách ra làm chuyên luyện tán thủ, cũng có thể làm hai lần 360° tảo thảng thối.
Thức thứ năm mươi: Yểm Thủ Quăng Chủy (ngực hướng bắc chuyển đông)
Động tác: Sau khi thức trên xoay qua 280°, hai tay giao nhau hợp trước ngực (Hình 89A); tiếp đó hai chưởng biến chưởng, phân biệt vạch cung lên trên mở ra về hai bên trái phải; đồng thời, chân phải rời đất nhấc lên, chân trái liền đạp đất nhảy vọt lên. (Hình 89B) Tiếp đó chân phải hạ xuống phía tây nam, chân trái theo đó hạ xuống phía đông bắc. Hai tay từ trên song nghịch triền hợp trước ngực, rồi thuận triền mà khai, nghịch triền mà hợp, sau đó quyền phải đánh ra, quyền trái thu về dưới sườn trái. (Hình 90) Điểm khác của thức này với thức thứ mười bảy trước chỉ có động tác nhảy bước, đợi sau khi hai chân chạm đất, liền giống với các thức "Yểm Thủ Quăng Chủy" khác.
· 223 · Yếu điểm: Đây là một động tác ổn định khi giá thức xoay tròn bay lên đạt tới điểm cuối, là bài luyện bay lên theo đường xoắn ốc sau khi thân mình lật lớn xoay chuyển, cũng là một sự rèn luyện tốt về mặt thể dục đối với cơ quan phân tích tiền đình; muốn đạt được tác dụng ổn định này, khi tảo thảng thối kết thúc lập thân tất phải trung chính. Yếu điểm: Giống thức thứ ba mươi mốt.
Thức thứ năm mươi mốt: Tả Xung (ngực hướng đông)
Động tác: Vì động tác là do chân trái ở trước bắt đầu, nên gọi là "Tả Xung". Nó sau khi thức trên "Yểm Thủ Quăng Chủy" phát kình, quyền phải thuận triền thu về, quyền trái nghịch triền duỗi ra trước, hai quyền hợp kình, hình thành hai quyền tương đối. (Hình 91) Tiếp đó mượn tay trái duỗi ra trước cùng tay phải cùng chìm xuống vạch một vòng về phía sườn phải, khi vạch đến sau trên thì thu chân trái về, và nhấc lên làm hư. (Hình 92) Khi hai quyền lại từ trên chuyển đến bên eo trái, chân trái chạm đất dậm chân một cái. Khi vạch đến trước dưới, bước chân phải ra; hai quyền chuyển đến trái · 224 · Ép sườn ra sau, trầm kình xuống (Hình 93), đây là tư thế tích lực của Xung chùy. Tiếp đó dùng hai cẳng tay phát kình rung về phía trước và lên trên. Khi vạch vòng rồi trầm xuống, bàn chân trái ở phía sau là thực; khi hai nắm đấm rung kình ra trước, bàn chân phải là thực. (Hình 94)
Yếu điểm: Động tác của thức này là hai nắm đấm từ bên phải chuyển sang bên trái, vạch trọn hai vòng lớn trước sau trên dưới. Động tác phải liên tục không ngừng, hoàn thành trong một hơi, cho nên tất phải lợi dụng quán tính xoay, có như vậy mới khiến kình xuyên suốt đến cái rung cuối cùng. Nếu ở giữa có ngắt đoạn, sẽ mất tác dụng tăng cường kình lực. Đồng thời, đây là một thức quyền cần thiết để luyện kình rung. Khi mới học, sau khi vung hai vòng lớn mới phát kình rung, về sau có thể dần · 225 · —vung dần nhỏ lại, từng bước giảm xuống còn một vòng; cuối cùng, chỉ cần ý niệm vừa phát động là có thể phát kình rung như vậy. Đây là công phu sâu nhất của việc phát kình rung.
Thức thứ năm mươi hai — Hữu xung (ngực hướng đông)
Động tác: Vì động tác bắt đầu từ chân phải ở phía trước, nên gọi là "Hữu xung" (xung bên phải). Thức này trước tiên chân phải ở trước, cuối cùng đổi thành chân trái ở trước; hai nắm đấm trước tiên từ bên sườn trái chuyển sang bên sườn phải, vạch hai vòng lớn rồi rung kình ra ngoài; ở hai điểm này, thức này hoàn toàn ngược với thức trên, cho nên đường đi động tác của nó đối xứng với thức trên. (Hình 95, 96, 97)
Yếu điểm: Giống "Tả xung".
Thức thứ năm mươi ba — Đảo suất (ngực hướng đông, chuyển đông bắc)
Động tác: Sau khi thức trên phát ra song kình rung, giả định tay phải bị thái (loại thái kình này thường có thể khiến người bị thái quỳ xuống), để làm được triêm niêm liên tùy, khiến nó không chống đối, tay phải liền dùng nghịch triền hạ tùy, khiến tay phải hợp với tay trái. Khi hợp, tay trái lót phía dưới tay thái, và dùng tay phải đè xuống, làm giải thoát bước đầu. Lúc này tay phải hướng xuống là thực, chân phải bước lên là hư, đứng song song với chân trái, mũi chân chấm đất, như vậy hai tay gần sát phần trên dưới của thân mình, đây là "giải thoát trong hợp", lại là một ví dụ nữa của việc dùng nhẹ chế nặng. (Hình 98)
· 226 · Thức thứ năm mươi tư — Hải để phiên hoa (ngực hướng đông)
Động tác: Nếu như thức trên đảo sáp không thể "giải thoát trong hợp", thì lại trầm xuống thêm rồi đột nhiên xoay một cái, kéo dài thân thể, chuyển thành hai tay khai trên dưới. Đây là dưới tình trạng khí dán vào sống lưng, do đỉnh kình dẫn thân thể lên, là lần giải thoát thứ hai, là phương pháp "giải thoát trong khai" sau "giải thoát trong hợp". Đồng thời với "khai giải", tay phải thuận triền chuyển sang phải trên rồi chuyển phải dưới, tay trái nghịch triền chuyển sang trái dưới rồi chuyển trái trên, toàn thân kéo dài, chân trái đứng độc lập, chân phải nâng lên (làm chuẩn bị để đá); nắm đấm trái phóng kình lên trên về phía trái, tâm quyền hướng phải; nắm đấm phải phóng kình xuống dưới về phía sườn lưng phải, tâm quyền hướng trước; động tác của nó giống mấy thức "Hải để phiên hoa" trước, chỉ có thức này chỉ hơi chuyển thân, mấy thức trước biên độ chuyển thân lớn hơn. (Hình 99)
Yếu điểm: Thái cực quyền phần nhiều dùng thái kình hướng xuống, khiến đối phương khó dùng liên tùy để được giải thoát; vì thế, tay phải nghịch triền hướng xuống, chân phải bước tới trước; tay trái lót vào phía dưới tay thái. Do chân phải của "Đảo sáp" bước lên, tức khiến hai tay mình gần sát tâm vòng của mình, từ đó tăng mô-men tác dụng lên đối phương, đồng thời giảm mô-men tác dụng của mình; một lớn một nhỏ, lại là một điển phạm dùng nhẹ chế nặng, có thể khiến mình · 227 · —"đắc thế". Cách giải thoát đè trên lót dưới này là hình thức bước đầu để cầu giải thoát. Nếu vẫn không thoát được, đã sinh ra chống đối với đối phương, thì nên thuận theo kình chống đối của hắn mà đi ngược lại đường đi của nó, chuyển tay trái lên trên tay thái của đối phương, khiến tay trái chém xuống và tay phải nâng lên, làm cho giống như "Trảm thủ". Đồng thời chấn một cái ở chân trái, khiến toàn thân kéo dài mà đứng dậy, hai tay khai kình ra hai bên. Đây là hình thức giải thoát biến hoán, nói rõ ở vùng hải để có sự phiên chuyển và biến hoán của song khai, song hợp, cũng là thủ pháp đánh phát và giải thoát dùng chung một chiêu.
Thức thứ năm mươi lăm — Yểm thủ quăng chùy (ngực hướng đông)
Động tác: Dưới tình trạng chân phải của thức trên đã nâng lên, tiếp làm phát kình, động tác của nó giống thức thứ năm mươi mốt. (Hình 100)
Yếu điểm: Giống thức thứ ba mươi mốt.
Thức thứ năm mươi sáu — Đoạt nhị quăng (một) (ngực hướng đông, chuyển nam)
Động tác: Sau khi thức trên "Yểm thủ quăng chùy" phát kình, trước hơi khai hai tay ra, tức thì nắm đấm trái nghịch triền, nắm đấm phải thuận triền, từ bên phải chuyển về hợp thành một hợp kình. Lúc này nắm đấm phải ở dưới ngoài, nắm đấm trái ở trên trong, đồng thời chân phải bước theo nửa bước, khiến sát với chân trái. Sau đó hai nắm đấm chuyển thành song thuận, khiến nắm đấm phải thu lên trên về tới ngực, nắm đấm trái trầm xuống tới trước gối trái, đồng thời chân trái bước ra trước nửa bước (Hình 101). Tiếp đó, trọng tâm chuyển về trước, khiến chân trái là thực; đồng thời do hợp kình, lấy chân trái làm trục thân xoay sang phải 180°. Chân phải ở phía sau đồng thời nâng lên lùi bước về phía sau trái (dịch ngang nửa bước). Trong quá trình xoay thân, hai nắm đấm tiếp tục ở trước ngực trong ngoài song phiên hợp trụ kình mà thuận triền. Khi xoay thân đến thân mình hướng đông, nắm đấm phải vừa ở trong trước trên, nắm đấm trái thì ở ngoài trước dưới. Khi nắm đấm phải từ trong chuyển xuống ngoài rồi chuyển lên trong, chân phải theo đó nâng lên, men theo mặt đất thu · 228 · —về, hai cánh tay hợp trụ kình. Lúc này nắm đấm phải cong ở ngoài, nắm đấm trái cong ở trong. (Hình 102) Động tác nói trên là tích kình, động tác sau đó tức là phát kình sau khi tích. Nó dưới sự ôm vòng của hai nắm đấm căng kình đầy đủ, nắm đấm phải hơi nâng lên, khi chuyển đến phía trong nắm đấm trái, liền trầm kình xuống. Đồng thời chân phải chấn một cái, men theo mặt đất lách ra ngoài, trên dưới tương tùy lách đến tâm vòng của đối phương, cánh tay phải nằm ngang phát kình ra từ cẳng tay, đồng thời nắm đấm trái nghịch triền phóng kình về phía sau trái. Đây là động tác đặc biệt tay phải và chân phải cùng tiến, cũng là trên dưới tương tùy trong tư thế. Khi phát kình chân trái là thực. (Hình 103)
Yếu điểm: Yếu điểm của thức quyền này là xoay thân trong hợp kình, khác với các thức trước xoay thân trong khai kình, cho nên đây là nội dung chủ yếu luyện tập của thức này. Thức này giả định phía sau gặp tập kích, thì dùng xoay thân để hóa giải tập kích ấy, và lợi dụng xoay thân để tăng cường tích kình, khiến thức quyền sau có thể phát ra giòn hơn, đây là tác dụng đặc biệt của thức này. Trong khi xoay · 229 · —thân, phải giữ vĩ lư ở giữa và thần quán đỉnh, tức là đỉnh kình không mất, vĩ lư không đổ.
Sau khi xoay thân, khi cánh tay phải nằm ngang hợp trụ kình, giả định khớp cổ tay phải ở trước bị thái, thì lúc này không cần tìm phương pháp giải thoát khác, có thể nắm đấm phải và chân phải đồng thời chấn một cái, lách ra trước theo mặt đất, và do cẳng tay phải nằm ngang băng kình ra ngoài (băng kình là kình lò xo, đứng đầu trong bát kình của Thái cực quyền, là một loại kình phòng ngự. Nếu có thể dùng trong băng phát kình, thì bằng một chiêu hai dụng; loại chiêu kích này chỉ cần tay run một cái là phát ra được, cho nên khoảng cách ngắn mà hiệu dụng lớn, là cách phát kình đơn giản nhất). Đây cũng là tác dụng liên hợp của giải thoát và kích phát trong một chiêu hai dụng. Yếu điểm của nó là phải tìm được giải thoát dưới "trung thổ bất ly vị" và "dĩ thân tiến thoái"①, cũng là thủ pháp kích phát để tiến vào vòng của người, đặc biệt là dùng băng vào kích phát, là thủ pháp đơn giản nhất của một chiêu hai dụng.
Thức thứ năm mươi bảy — Đoạt nhị quăng (hai) (ngực hướng nam, chuyển tây rồi chuyển nam)
Động tác: Sau khi thức trên băng phát kình, giả định vẫn chưa được giải thoát, thì phải tiếp tục làm "Đoạt nhị quăng" thứ hai; cho nên, nên có nhân tự thượng bộ. Đây là động tác theo người băng tỏa tiến lên hai bước, trong khung quyền là ít thấy, cho nên phải luyện tập như một động tác. Động tác này, khi bắt đầu là nắm đấm phải thuận triền thu lên trên vào trong, đồng thời nắm đấm trái từ dưới ngoài lên trên, chân trái theo đó bước theo một bước. (Hình 104) Khi nắm đấm trái tới phía ngoài cánh tay phải rồi dùng kình hướng lên trên và cánh tay phải ở phía trong nắm đấm trái triền hướng xuống dùng kình, và áp sát thân mình trên dưới đối kình, thì cánh tay phải bị thái đã được giải thoát. Đồng thời với giải thoát, lại bước chân phải lên, đây cũng là chuẩn bị cho động tác băng phát của cánh tay phải—
- ① "Trung thổ bất ly vị" và "dĩ thân tiến thoái" là thuật ngữ Thái cực quyền, ý nói khi tay và chân lần lượt liên hệ tiến lên, phải di động như lá cờ lớn dựng đứng không đổ.
· 230 · Chuẩn bị tích kình. (Hình 105)
Sau khi thức trên đã bước chân trái, liên tiếp bước chân phải thứ hai, đây là bước cuối cùng của nhân tự thượng bộ. Hai nắm đấm như cánh quạt gió ở trước ngực trong ngoài lần lượt phiên triền một vòng lớn. Động tác trên, khi nắm đấm phải thuận triền hướng trước lên trong, chân phải thu về nửa bước, mũi chân chấm đất. Tiếp đó nắm đấm phải trước ngực trầm kình xuống phối hợp với nắm đấm trái hướng lên, để lần thứ hai giải thoát tay phải bị thái. Đồng thời chân phải chấn chân xuống, và thừa thế lách tới trước theo mặt đất. Đồng thời, nắm đấm phải đưa ngang cánh tay ra trước, băng kình ra ngoài. (Hình 106)
Yếu điểm: Nếu băng phát kình của thức trên vẫn chưa đủ để giải thoát tay phải bị thái, để tránh chống đối, thì phải vận dụng liên tùy mà kéo theo bước lên liên tiếp. Cho nên, nội dung luyện tập chủ yếu của thức này là liên tục tiến lên hai bước mà vẫn không xảy ra đoạn kình, và phải luôn có cơ thế có thể thoát và có thể kích. Muốn đạt yêu cầu này, yếu điểm của nó là hai cánh tay liên hệ với nhau khiến hai nắm đấm phiên động lên xuống trong khi hành tiến, lấy việc lắc động sống lưng để thoát khỏi việc tay phải bị thái.
Do "Đoạt nhị quăng" thứ nhất vẫn chưa tìm được giải thoát, thì phải thuận theo yếu kình, trong quá trình đẩy đối phương lui ra sau, vừa thoát vừa kích mà băng kình ra ngoài. Đây là tác dụng thống nhất của thôi động và giải thoát. Cho nên, nó bất luận là bước chân trái hay bước chân phải, đều phải · 231 · Xoay động sống lưng mà tiến. Đây là mấu chốt của việc khi phát băng kình có thể khiến tích kình của sống lưng phóng kình ra như dây cung bật khỏi lẫy hay không.
Thức thứ năm mươi tám — Liên châu pháo (ngực hướng tây)
Động tác (một): Sau khi tay phải của thức trên băng phát kình, nắm đấm trái tích ở sau bên trái như dây cung bật khỏi lẫy kích mà rung ra, đồng thời nắm đấm phải thuận triền thu về đặt ở bên sườn phải. Khi kích ra chân trái là thực. (Hình 107)
Động tác (hai): Động tác (một) là kình rung của nắm đấm trái, động tác (hai) là kình rung của nắm đấm phải, hai cái cơ bản giống nhau, chỗ khác nhau là sống lưng lắc động. Khi nắm đấm trái thuận triền thu về đặt trước ngực, thì nắm đấm phải như liên châu phát ra ngoài. Khi nắm đấm phải phát ra chân phải là hư. (Hình 108)
Động tác (ba): Giống động tác một. (Hình 109)
Yếu điểm: "Xung chùy" là kình rung do hai nắm đấm phát ra, thức này là kình rung do từng nắm đấm phát riêng. Yếu điểm của nó ở chỗ buông lỏng thân chi, rồi đột nhiên rung ra ngoài, là cương kình khoảng cách ngắn. Sau khi phát ra vẫn phải cong tích cánh tay; độ cong tích lấy việc có thể phát lại làm chuẩn.
· 232 · Việc dùng kình của động tác (hai), giống như thợ mộc dùng khoan tay khoan lỗ, có tác dụng kích ra liên hoàn, đây là thức quyền đặc biệt để rèn luyện eo lưng và tính đàn hồi của hai cánh tay.
Thức thứ năm mươi chín — Ngọc nữ xuyên thoa (ngực hướng tây, chuyển bắc rồi chuyển đông)
Động tác: Sau khi thức trên phát kình, giả định nắm đấm trái bị thái, tức thì nắm đấm trái hơi thu vào trong rồi duỗi ra, đồng thời bước chân trái phi bộ nhảy tới. (Hình 110) Đồng thời chân phải theo đó tiến lên, đưa thân mình xoay sang phải 180°, đặt chân phải ở phía tây chân trái, để giải thoát việc nắm đấm trái bị thái; và do đó xoay thân dùng bối chiết kháo kình kích phát đối phương. Đồng thời, hai nắm đấm ở trước ngực song nghịch hạ tỏa hợp trụ kình. (Hình 111)
Thức thứ sáu mươi — Hồi đầu đương môn pháo (ngực hướng đông)
Từ khi xoay thân của thức trên chân trái thực, qua giai đoạn khuỷu chân phải thực; tiếp đó hai quyền song thuận triền rung kình ra trước lên, lúc này chân trái là thực. (Hình 112)
Yếu điểm: Bối chiết kháo kình của Thái cực quyền đều là vì liên tùy, là kình bất đắc dĩ mới dùng, là không dễ dàng dùng thân pháp để kích phát. Bởi vì trong quá trình phi thân liên tùy của "Ngọc nữ xuyên thoa"
· 233 · Trong động tác này, vận dụng cú tựa (kháo) của thân xoay, không những có thể thoát được tay bị thái (bắt), mà còn có thể lập tức dùng thức "quay đầu pháo đương môn" (hồi đầu đương môn pháo) để công kích đối phương. Đây là cách đơn giản nhất dùng để vừa thoát vừa phát kình, cho nên trong quá trình xoay thân thường dùng cú tựa gấp sau lưng để cầu thoát. Bước bay xoay thân của "Ngọc Nữ Xuyên Thoa," cùng lấy kháo kình công kích đối phương, cũng là một ví dụ khác của việc vận dụng nguyên tắc trên. Yếu điểm của nó là trước khi nhảy bật ra phải trầm kình ở chân phải trước, sau đó mới bước chân trái bật tới trước. Trong quá trình "hạ cánh," còn phải chú ý giữ thân trung chính, đây là điều kiện tất yếu để vận dụng kháo kình. Tiếp đó, hai quyền lại thuận triền mà đẩu kình ra.
Phần 35
Thức thứ 61: Ngọc Nữ Xuyên Thoa (ngực hướng đông, chuyển bắc rồi chuyển tây)
Động tác: Thức này cùng với "Ngọc Nữ Xuyên Thoa" trước, đều là thức quyền phi thân nhảy vọt, và trong quá trình xoay thân nhảy vọt đều vận dụng công kích bằng kháo kình gấp sau lưng để cầu thoát. Điều khác nhau là thức trên bị bắt tay trái, cho nên dùng kháo kình gấp sau lưng của vai trái khi xoay người sang phải; thức này bị bắt tay phải, dùng kháo kình gấp sau lưng của vai phải khi xoay người sang trái. Kháo kình gấp sau lưng của xoay trái và xoay phải nên song hành với nhau. Sau khi phát kình ở thức trên, giả định tay phải bị bắt, thu tay phải lại chút rồi duỗi ra, tay trái đồng thời thu về bên hông, đồng thời chân phải cũng lập tức bật tới trước một bước lớn. (Hình 113) Tiếp đó chân trái theo đó bước tới, đưa thân mình xoay sang trái.
· 234 · Xoay theo 180°, vòng chân trái sang phía đông của chân phải, để thoát quyền phải khỏi bị bắt. (Hình 114)
Phần 36
Thức thứ 62: Quay Đầu Pháo Đương Môn (ngực hướng tây)
Động tác: Sau khi xoay thân hạ cánh từ thức trên, hai quyền nghịch triền về phía sau dưới mà trầm kình, lập tức đẩu kình ra hướng phải trước trên. Khi trầm kình thì chân trái là thực; khi phát kình thì chân phải là thực. (Hình 115)
Yếu điểm: Giống thức thứ 60.
Động tác: Ở thức trên chân phải ở trước, chân trái ở sau; sau khi hai quyền song thuận triền phát kình ra trước, hai cánh tay ràng buộc nhau mà hơi hàm súc thế. Giả định có tình huống bị tập kích từ phía sau trái hoặc phải, cho nên hai quyền ở trước song thuận triền một vòng nhỏ, khiến tay trái chuyển đến trước ngực và hợp kình cùng tay phải ở trên phải, ngực chuyển về nam. (Hình 116) Khi hai quyền lại chuyển sang phải, hai bên khai kình, liền đưa quyền trái thuận triền sang sau trái, lấy bối phản chùy phát kình ra. Đồng thời quyền phải thuận triền phóng kình sang sau phải, trọng tâm dời sang chân trái làm thực. Khi phát kình thì quyền trái là chủ, quyền phải là khách. (Hình 117)
· 235 · Yếu điểm:
Đây là thức quyền được áp dụng sau khi hai quyền ở thức trên đẩu kình ra phía phải trước, bỗng nhiên phía trái phát hiện có thể bị tập kích. Yêu cầu của nó là chỉ cần quay đầu nhìn một cái, quyền trái liền rất tự nhiên dùng bối phản chùy phát kình ra. Muốn làm tốt cú đánh này, chủ yếu là trên cơ sở hạ trầm ở đương khẩu, giống như trước bụng dưới có một vòng nhỏ xoay một cái, rồi do lưng sống dẫn đầu, vận dụng lực ly tâm đưa lưng quyền trái quăng ra.
Phần 37
Thức thứ 64: Nựu Loan Chửu (ngực hướng nam, chuyển bắc)
Động tác: Sau khi quyền trái ở thức trên phát kình ra sau trái, giả định sau khi phát quyền trái lại bị bắt, liền không chút chậm trễ mà trầm kình hai quyền, hậu chuyển song nghịch, hai cánh tay hợp kình lại. Đồng thời mang xoay thân mình sang trái 180°, chân phải cũng theo tới một bước lớn đến phía đông của chân trái. Quyền trái mở ra thành chưởng, đè lên cánh tay bắt của đối phương (cũng tức là đặt trên quyền phải của mình), khiến hai cánh tay như hình vòng hợp thành một cánh tay, dùng quyền phải đè trong chưởng trái làm tâm xoay chuyển, lấy tiểu tí phải nghịch triền phát chửu kình ra phía phải ngực. Đồng thời chưởng trái cũng theo sự xoay chuyển của quyền phải mà lật lên, tâm chưởng hướng lên, chân trái làm thực. (Hình 118)
Yếu điểm:
Thức trên sau khi phát kình quyền trái bị bắt, để không đỉnh không kháng, không thể không bước một bước lớn, xoay người lại, đè điểm bắt của đối phương làm trục giữa của xoay cánh tay, phát chửu kình ra phía trước. Đây là chửu kình ở cự ly gần, cũng là phương pháp đơn giản để thoát khỏi bị bắt. Dùng chưởng đè lên bàn tay bắt của đối phương, và lấy đó làm trung tâm, khiến tay bắt của đối phương khó đổi thay, rồi lấy chửu phải đánh ngang sang phải. Đây là cách đánh kịch liệt, cũng là một thức quyền khác không cầu thoát mà tự thoát.
· 236 ·
Phần 38
Thức thứ 65: Thuận Loan Chửu (ngực hướng bắc)
Động tác: Đây là tiếp theo thức trên "Nựu Loan Chửu," sau khi chửu ngang từ trước ngực đánh ra nội phải, nếu vẫn chưa thoát được sự bắt của nó, liền tiếp tục thuận theo yếu kình, tách hai tay của mình ra, dùng chửu phải nghịch triền và chửu trái thuận triền một vòng nhỏ, phát kình xuống dưới. Bởi vì chân phải ở phía phải trước là hư, nên rất tự nhiên cứ men theo mặt đất mà chui tới, chân trái ở sau theo đó tiến tới. (Hình 119)
Động tác: Đây là tiếp theo thức trên "Thuận Loan Chửu," sau khi hai chửu trầm xuống phát kình, lấy chưởng trái hộ ngực, dùng chửu phải nghịch triền một vòng nhỏ, triển khai bộ pháp về phía phải để đánh ra. Chân phải chui theo mặt đất, chân trái ở sau theo đó tiến tới. Chân phải ở trước là hư. Nhưng khi phát chửu kình, chân phải lập tức biến thành thực. (Hình 120)
Yếu điểm:
Phàm cánh tay vượt ra ngoài vòng phương viên, thì gọi là "xuất ngung"; vượt vào trong vòng phương viên, thì gọi là "tiến ngung." Xuất ngung cần dùng thái lệ (bắt và liệt); tiến ngung cần dùng chửu kháo. Cho nên công dụng của chửu kháo giống như binh khí ngắn giao nhau, đánh nhanh thắng nhanh, không có chỗ để vòng vo. Vì thế, cần phải có liên · 237 · những biện pháp dùng từng hạt, để cầu được sự giải thoát cuối cùng. Thức này chính là sự tiếp nối của biện pháp ấy. Khi tay phải vẫn chưa thoát được, thuận theo yếu kình, chân phải men theo mặt đất chui tới, chửu phải đánh ra sang phải, đồng thời chân trái theo sau men mặt đất đá một cái—đây là tạo thành khí thế như dây cung bật khỏi móc, tạo thành yếu điểm của việc lấy nhẹ chế nặng và chửu kích liên châu.
Phần 39
Thức thứ 67: Oa Lý Pháo (ngực hướng bắc)
Động tác: Đây là từ sau khi tay trái của "Triệt Thân Chùy" bị bắt, một chuỗi liên tiếp vận dụng chửu kình đánh liên châu, giải trừ được tay trái bị bắt, đến đây là một lần phát kình tiếp ngay sau khi giải trừ. Nó lấy hữu thuận tả nghịch hàm kình cả hai trước ngực, khiến quyền phải ở dưới ở trong, quyền trái ở trên ở ngoài; đồng thời thu chân phải đang ở trước về, tạo thành tư thế khúc súc khí dán vào lưng sống; sau khi súc thế, quyền phải lập tức lật ra ngoài, dùng lưng quyền đánh ra hướng phải trước; đồng thời quyền trái nghịch triền sang sau trái đến bên hông trái phóng kình, để phối hợp với cú đánh của quyền phải. Khi quyền phải đánh ra phía trước, đè chân phải ra ngoài, trọng tâm dời tới trước, chân trái cũng theo đó tiến nửa bước. (Hình 121)
Yếu điểm:
Thức thứ 63 "Triệt Thân Chùy" là bối phản chùy của tay trái, thức này thì là bối phản chùy của tay phải. Yếu điểm của thức này là dưới sự men đất tiến tới của thức trên, lấy gần bỏ xa, trong khi lòng bàn chân hạ trầm và vận dụng lực ly tâm, lấy trụy chửu làm then chốt mà dùng lưng quyền phản kích ra; chân phải cũng theo đó men đất mà tiến. Để kình phát ra càng dứt khoát, thì phải dưới hợp kình hữu thuận tả nghịch của hai quyền, thu nhỏ vòng tròn, để tăng cường súc kình, rồi do chửu dẫn thân mà phản kích ra phía phải ngoài. Thức này yêu cầu một động mà toàn thân đều động, và điều này chỉ có thể làm được vừa đúng mức trên cơ sở lưng sống phối hợp, vận dụng lực quán tính.
· 238 ·
Phần 40
Thức thứ 68: Tỉnh Lan Trực Nhập (ngực hướng bắc, chuyển nam)
Động tác: Tiếp tục thức trên, sau khi quyền phải phát kình, hữu thuận tả nghịch hợp lại trước ngực, hai quyền lại lấy hữu thuận tả nghịch khai kình sang phải, mang thân mình lấy chân phải làm trục giữa xoay chuyển mà xoay sang phải 180°, chân trái cũng theo đó xoay cung đến phía đông của chân phải. Khi ngực xoay đến mặt nam, hai quyền ở trước ngực làm thuận triền trong ngoài trên dưới, như kiểu cối xay gió uốn cánh tay xoay một vòng. Khi quyền phải lật vào trong lên trên, chân phải làm thực. (Hình 122) Khi quyền phải lật ra ngoài xuống dưới và quyền trái lật vào trong lên trên, chân trái làm thực. (Hình 123)
Yếu điểm:
Thức này chủ yếu là dưới đương khẩu của kỵ mã thức, hai quyền đủ đầy động kình mà lật trước ngực, làm một vòng thuận triền trên dưới trong ngoài, xoa động lưng sống, để rèn luyện công phu khí do lưng sống mà phát. Khi làm thức này, hai chân đứng song song cũng phải triền trong ngoài, phải biểu hiện ra thần thái kình khởi từ gót chân, đạt đến đầu quyền. Đây là một thức quyền để hiệu chỉnh động tác, đạt đến tư thế chính xác.
Động tác: Sau thức trên "Tỉnh Lan Trực Nhập," để chuyển hướng mặt bắc, hai quyền biến thành hai chưởng, khiến hai chưởng lấy hữu thuận tả nghịch triền ty mà phân nhánh trên dưới rồi hợp đôi trước ngực;
· 239 · Sau đó lấy tả nghịch hữu thuận lật mở vòng tròn của nó ra, thúc đẩy thân mình xoay sang phải 90°. Lúc này chân trái làm thực, và lấy chân trái làm trục giữa xoay chuyển, chân phải theo đó quét ngang sang phải đến phía đông của chân trái. Khi chưởng phải từ trên thuận triền xuống dưới, đợi đến trước bụng dưới, thì tâm chưởng đã lật chuyển hướng lên trái. Đồng thời chưởng trái cũng lấy nghịch triền từ trên trái án kình xuống dưới phải, hợp cùng chưởng phải ở trước bụng dưới. (Hình 124) Tiếp đó, chưởng trái án giữ một điểm rồi nghịch triền ra sau trái, trọng tâm vẫn ở chân trái; chưởng phải theo đó thuận triền khai kình lên trên, để mang xoay thân mình xoay thêm 90° sang phải. Lúc này vẫn lấy chân trái làm trục giữa xoay chuyển. (Hình 125)
Yếu điểm:
"Phong Tảo Mai Hoa" của thức này cùng với "Phong Tảo Mai Hoa" của thức thứ 10 cơ bản giống nhau; điều khác là "Phong Tảo Mai Hoa" của thức thứ 10 xoay 360°, còn thức này thì xoay 180°. Tác dụng của nó chủ yếu là khiến người luyện tập cuối cùng chuyển thành mặt bắc mà kết thúc giá tử (bài quyền) thứ hai.
Phần 41
Thức thứ 70: Kim Cang Đảo Chùy (ngực hướng bắc)
Động tác: Thức này là một "Kim Cang Đảo Chùy" tiếp tục không ngừng sau "Phong Tảo Mai Hoa." Nó giống với "Kim Cang Đảo Chùy" làm sau khi xoay 360° của thức thứ 12, cho nên không thuật lại nữa. (Hình 126)
· 240 · Yếu điểm (2): Giống thức thứ 12.
Phần 42
Thức thứ 71: Thâu Thế (ngực hướng bắc)
Động tác: Thức này kế thừa thức trên "Kim Cang Đảo Chùy," lập tức hai tay tách ra trái phải, lấy hai tay song nghịch triền hợp hội đến trước ngực; sau khi ngón tay hai tay chạm nhau, tâm chưởng hướng xuống, lại nghịch triền hai tay phân đôi ra trước rồi xuống, dừng ở hai bên đùi; tâm chưởng hướng ra sau, khôi phục về thức dự bị. (Xem Hình 1)
Yếu điểm:
Giá tử (bài quyền) thứ hai cũng giống như vậy, lấy "văn tượng" bắt đầu, "võ tượng" kết thúc, mặt nam mà khởi, mặt bắc mà kết; nếu không đem giá tử thứ nhất và thứ hai luyện liên tục với nhau, hoặc là giá tử thứ hai không muốn luyện liên tiếp hai lần, thì phải thêm vào hai thức quyền "Kim Cang Đảo Chùy" và "Thâu Thế" này.
· 241 · Chương 4: Thôi Thủ của Thái Cực Quyền Trần Thức Phương pháp thôi thủ (đẩy tay) hai người của Thái Cực Quyền Trần Thức, nguyên trước gọi là "trịch thủ" hoặc "đả thủ," là một môn vận động cạnh kỹ sáng tạo độc đáo của phái Thái Cực Quyền, kế thừa và phát triển các phương pháp kỹ kích của võ thuật dân gian đời Minh. Nó tổng hợp kế thừa và phát triển ba phương pháp "cầm, điệt, trịch đả" (bắt, vật, ném đánh), cho nên tính kỹ kích nguyên thủy của nó vô cùng mãnh liệt. Triền ty triêm tùy và vận động xoáy ốc kiểu triền ty, là nội dung trung tâm trong thành tựu sáng tạo của nó. Căn cứ vào lý luận "Thái Cực lưỡng nghi, hữu nhu hữu cương" (Thái Cực có hai nghi, có nhu có cương), nó yêu cầu lấy nội kình biến hóa linh hoạt, giàu đàn hồi và dẻo dai, "cương nhu tương tế, khinh trầm kiêm bị" (cương nhu hỗ trợ nhau, nhẹ nặng đều đủ) làm thống soái.
Trần Vương Đình nói trong "Quyền Kinh Tổng Ca": "Tung phóng khuất thân nhân mạc tri, chư kháo triền nhiễu ngã giai y" ("chư kháo" chỉ hai người lấy cánh tay tựa vào nhau, vận dụng tám phương pháp và loại kình "bằng lữ tễ án thái liệt chửu kháo"), hai câu này khái quát mà nói rõ đặc điểm và phương pháp của thôi thủ. Bốn câu nguyên thủy của "Đả Thủ Ca": "Bằng lữ tễ án tu nhận chân, thượng hạ tương tùy nhân nan xâm, nhậm nhân cự lực lai đả ngã, tứ lạng hóa động bát thiên cân" (Bằng lữ tễ án phải nghiêm túc, trên dưới theo nhau người khó xâm phạm, mặc người sức lớn đến đánh ta, bốn lạng hóa động tám nghìn cân)—đây là giải thích tác dụng của "chư kháo" và nguyên tắc lấy bốn tay bằng lữ tễ án làm công phu cơ bản.
Đến cuối thế kỷ mười tám, Vương Tông Nhạc người Sơn Tây, cùng với Vũ Vũ Tương và Lý Diệc Dư, hai thầy trò người Vĩnh Niên Hà Bắc vào giữa đến cuối thế kỷ mười chín, đều phát huy lý luận Thái Cực Quyền và kỹ pháp thôi thủ, và căn cứ vào kinh nghiệm luyện quyền của riêng mình mà viết nên những luận văn tổng kết về Thái Cực Quyền và thôi thủ. Những quyền luận này, lời gọn ý đủ, được sao chép lưu truyền rộng rãi, trở thành · 242 · Lý luận chỉ đạo cho người tập Thái Cực Quyền và đẩy tay; Trần Trọng Thân đời Trần gia cùng con là Trần Hâm, đồng thời với Vũ và Lý, cũng đã trình bày lý luận Thái Cực Quyền và đẩy tay mà Trần gia tích lũy qua nhiều đời.
Phần 43
1. Những yếu nghĩa chung của đẩy tay
Từ khi Thái Cực Quyền thức Dương thịnh hành, gọi "huề thủ" hoặc "đả thủ" là "thôi thủ" (đẩy tay), thì "đẩy tay" đã thành một danh từ thông dụng. Đẩy tay là hai người bắt tay nhau, quấn lấy nhau, vận dụng phương pháp luyện tập độc đáo của động tác Thái Cực Quyền như con vít. Căn cứ vào nguyên tắc "triêm liên niêm tùy, bất đâu bất đỉnh, vô quá bất cập, tùy khuất tựu thân", vận dụng tám phương pháp và loại kình là bồng, lữ, tễ, án, thải, liệt, trửu, kháo để luyện tính linh mẫn của xúc giác toàn thân và cảm giác trong cơ thể, dò biết kình lực của đối phương lớn nhỏ, cương nhu, hư thực, dài ngắn, nhanh chậm và hướng động. Chọn điểm triêm niêm hợp với nguyên lý đòn bẩy làm điểm tựa, vận dụng tác dụng dẫn kéo của tính đàn hồi và ma sát (điểm lực), phát huy kỹ xảo "dẫn tiến lạc không", "thừa thế tá lực", "dĩ khinh chế trọng", nắm vững chiến lược chiến thuật "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy", "bỉ bất động, kỷ bất động, bỉ vi động, kỷ tiên động", dẫn động trọng tâm đối phương; vào thời cơ và điểm lực thích đáng nhất lại "dĩ trọng kích khinh, dĩ thực phá hư" mà phát kình ra. Cách phát kình này phải "trầm trước tùng tĩnh, chuyên chú nhất phương", đi từ hình cung rồi thẳng tới mục tiêu, vừa vững vừa chuẩn, như khi bắn tên mũi tên cắm sâu vào bia, thừa thế phát đối phương ra dứt khoát. Yêu cầu chung là hóa được và phát được; hóa kình tùng tĩnh, phát kình dứt khoát. Môn thể thao đối kháng này vừa luyện được lực lượng và sức bền, vừa luyện được các tố chất thân thể như linh mẫn, kỹ xảo và tốc độ.
Phương pháp đẩy tay phát triển cận đại, để tránh tai nạn thương tổn, đã hạn chế việc dùng các phương pháp như trảo nã, vật suất, đả kích; vì thế đã trở thành một môn võ thuật mà nam nữ già trẻ ai cũng luyện được.
· 243 · Việc luyện tập bài quyền Thái Cực vốn cùng song hành với "đẩy tay". Khi bài quyền đã luyện thuần thục tinh tế, trung chính viên mãn, trong ngoài hợp nhất và hư thực cương nhu đầy đủ, thì có thể phát huy đầy đủ kỹ xảo đẩy tay. Trong khi luyện quyền, nếu lại luyện đẩy tay, thì vừa có thể đem các loại kình thu được từ việc đi giá thức vận dụng viên dung vào việc đẩy tay trong luyện tập đối kháng, đồng thời lại có thể kiểm nghiệm mức độ chính xác của việc luyện tập bài quyền Thái Cực, tiện cho việc sửa chữa, bổ sung tư thế và động tác. Tổ chức thi đấu đẩy tay có thể uốn nắn một số cách luyện xuyên tạc lý luận Thái Cực Quyền, uốn nắn cách hiểu phiến diện về đẩy tay, khiến kỹ thuật Thái Cực Quyền được khôi phục và phát triển.
Phần 44
2. Phương pháp đẩy tay thức Trần
Bộ pháp cơ bản của đẩy tay thức Trần là một tiến một thoái, cũng có thể liên tục tiến bộ hoặc liên tục thoái bộ. Thủ pháp là bồng lữ tễ án, gọi là tứ chính thủ; mỗi khi bốn tay đẩy qua một vòng tức là một tiến một thoái, người tiến làm tễ án, người thoái làm bồng lữ. Khi đẩy tay tứ chính thủ đã thuần thục, rồi xen vào thải liệt trửu kháo, đây là tứ ngung thủ, cũng gọi là đại lữ, đại kháo. Sau khi bộ pháp cơ bản đã thuần thục, có thể luyện đẩy tay "tản bộ", tức động bộ không câu nệ phương hướng, cũng có tên gọi "loạn thải hoa".
Khi đẩy tay thức Trần, nếu Giáp có chân phải (trái) ở trước, thì Ất có chân trái (phải) ở trước, khiến hai tay ở thượng chi đẩy nhau, chân trước ở hạ chi cũng niêm hóa lẫn nhau, làm cho tay chân đồng thời luyện được xúc giác linh mẫn. Phàm bên tiến bộ, chân trước đạp vào phía trong chân trước của đối phương. Chân trước hai bên tựa sát dán vào nhau, có thể dùng làm phương pháp quản cước về sau, làm huấn luyện cơ sở để phát triển kỹ xảo ngã pháp.
Trước khi hai người bắt tay, đứng đối diện nhau, trung chính an thư mà thành tư thế nghiêm. Đối diện · 244 · Khoảng cách đứng, lấy việc hai bên giơ hai tay ra trước ngang tầm (nắm quyền), mặt quyền chạm nhau làm chuẩn. Nếu Giáp bước tới chân phải (trái), thì Ất bước tới chân trái (phải), thành thức cung bộ, nhưng trọng tâm rơi vào giữa hai chân, tiện cho lúc tấn công thì ngồi thực chân trước, lúc dẫn hóa thì ngồi thực chân sau; đồng thời mỗi người lấy tay phải (trái) bồng ra phía trước, cao không quá mày, lòng bàn tay hướng ra ngoài (lòng bàn tay hướng ra ngoài là để tiện thải nã), hai vai thả lỏng, khớp khuỷu rủ xuống, mặt ngoài phía dưới khớp cổ tay dán dính bồng vào nhau. Phàm khi bắt tay, cánh tay phải tùng nhu, nhưng điểm niêm trước của tay công thủ chính phải lấy ý quán kình mà bồng giữ, không được nhuyễn hóa; Vũ Vũ Tương đã tổng kết đúng: "nhất cử động, duy thủ tiên trước lực, tùy tức tùng khai", lực mà ông chỉ là lực có tính đàn hồi và tính dai sau khi tùng khai, không phải là lực chuyết cố sức cổ trướng; cho nên Lý Diệc Dư trong "Ngũ tự quyết", mục "tâm tĩnh" nói: "bỉ hữu lực, ngã diệc hữu lực, ngã lực tại tiên; bỉ vô lực, ngã diệc vô lực (bồng kình bất đâu), ngã ý nhưng tại tiên". Trần Hâm nói: "bất khả hữu lực, diệc bất khả vô lực, chiết kỳ trung nhi dĩ". Khớp cổ tay hướng về đường giữa ngực mình, khi lòng bàn tay hướng vào trong thì ngón cái hướng về đầu mũi; khi lòng bàn tay hướng ra ngoài thì ngón út hướng về đầu mũi; đồng thời xương trụ dưới khớp cổ tay trái (phải) nhẹ dán vào phần thượng bác phía trên khớp khuỷu của đối thủ. (Như hình 1: Song đáp thủ) Sau đó một bên chủ động tấn công dùng pháp án, bên kia dùng pháp bồng dẫn hóa, tức bắt đầu luyện tập bồng lữ tễ án, tuần hoàn lặp lại, liên miên không dứt.
Bồng kình Do thân thể và chi thể duỗi dài sinh ra một loại tính đàn hồi, giống như dây cung được lực đàn hồi của lưng cung kéo dài mà sinh ra tính đàn hồi, hình thành một loại kình lò xo, gọi là bồng kình. Phàm lấy ý quán chú vào bất cứ bộ phận nào của chi thể, xoay chuyển mà duỗi dẫn về phía trước (thuận triền ty), đều là tác dụng của bồng kình.
Trong đẩy tay, bồng là lấy tay phải (trái) bồng giữ song án của đối phương, điểm niêm làm chuyển động trục tâm xoay tròn, theo sự xoay tròn trục tâm "chủ tể tại yêu tích", dùng vòng cung xoáy trôn ốc của triền ty để tẩu hóa, đồng thời thải nã bàn tay đối thủ mà dẫn tiến (thải nã hiện chỉ thức Trần vận dụng), đồng thời lấy chỗ xương trụ của tay trái (phải) nhẹ bồng tay phải (trái) của đối phương · 245 · thượng bác mà dẫn tiến. Việc hợp nhất thải liệt, mục đích là khiến đối phương đứng không vững. Thân dần ngồi sau, đồng thời thu khố, chuyển yêu, đạp cước, chân sau dần biến thành thực, chân trước dần biến thành hư, thành thế "hạ dịch ngoại bãi". (Như hình 2: Giáp án Ất bồng.)
Lữ kình Lữ kình cũng sinh ra trong điều kiện thân thể và chi thể duỗi dài; khi thân chi vận chuyển vào trong trái hoặc trong phải, và làm xoáy trôn ốc nghịch triền ty, thì sinh ra lữ kình. Do quan hệ xoáy ốc, mở rộng mặt tiếp xúc, do đó tăng lớn tác dụng ma sát. Phàm lấy ý quán chú vào bất cứ bộ phận nào của chi thể, xoay chuyển mà tẩu hóa về phía sau hoặc sang trái hoặc sang phải, đều là tác dụng của lữ kình.
Lữ kình là mặt trái của bồng kình. Trong đẩy tay, khi đối phương song án, qua bồng hóa của ta mà không đắc kình, liền biến thành tễ tiếp tục tiến công, ta vẫn dần vạch cung bồng về, dẫn hắn gần đến bên trái hoặc bên phải thân mình mà hóa, khiến hắn lạc không (lữ để dẫn tiến vào thân mình là lạc không mà dụ đối phương vào sâu, nhưng tay phải bồng giữ, và phải chú ý khi lữ về cánh tay mình chớ dán vào thân mình, "khuỷu không dán sườn", mũi khuỷu chớ để chuyển về phía sau thân, e rằng bị bức bách không thể phát kình phản kích). Khi lữ thì ngồi thực chân sau, chuyển yêu lạc khố, đang bộ hạ dịch ngoại bãi. (Như hình 3: Giáp tễ Ất lữ. Hình 5: Ất tễ Giáp lữ.)
Tễ kình Hai kình bồng lữ là chủ kình của tứ chính, án tễ là phụ trợ kình của bồng lữ. Có lúc tính đàn hồi của lữ kình không đủ, để tránh phát sinh bệnh biển, dùng hai tay giao nhau để tăng mạnh lữ kình, hợp hai cánh tay thành như hình vòng, trong lực học gọi là hợp lực. Như thế có thể tả hữu phùng nguyên, hư thực hỗ biến mà phát kình, gọi là tễ kình. Trong đẩy tay, khi song án của ta bị đối phương bồng hóa lữ dẫn mà cảm thấy đã bất đắc thế, tức biến tay trước (tay bị bồng, bị lữ là tiền thủ) thành khuỷu cong, lòng bàn tay xiên hướng ra ngoài và xuống, hoặc bình viên (tay và khuỷu ngang nhau) tễ về trước, hoặc lập viên (tay ở dưới, khuỷu ở trên) tễ về trước, tay sau dán dưới khớp khuỷu của tay trước, lòng bàn tay hướng ra ngoài, để trợ thế của tay trước (lòng bàn tay sau xiên hướng trước lên, làm pháp phòng vệ phòng đối phương đả kích mặt, cũng tiện cho đối phương tiếp thủ nã hoặc lữ, hoặc biến thành án, dần dần bức bách đối phương đứng không vững, thân ngồi về trước, chân trước thành thực).
· 246 · Án kình Án là lấy tâm bàn tay làm trục tâm, dùng bốn phía của bàn tay xoay chuyển áp bách để tìm cái hư không của đối phương, cố gắng lên trên, ở vị trí trên tay người khác; như thế không những công dụng nhiều, phạm vi rộng, mà thiên địa bàn lớn, dễ chuyển thành ba kình khác của tứ chính, cũng dễ chuyển thành hai kình thải liệt của tứ ngung. Trong đẩy tay, án là lấy hai bàn tay mình án giữ một cánh tay đối phương và chuyển đổi hư thực trong song án, một tay khống chế khớp cổ tay, một tay khống chế khớp khuỷu, khiến đối phương không dễ hoạt biến và phản kích; trầm kiên, thùy trửu, tọa uyển, hư hư lung trụ, không dùng chuyết lực; trường kình hướng về trước nhẹ nhàng án lên thân đối phương, trong tay nhẹ nặng đều có. Không những hai bàn tay đang hỗ hoán hư thực, hốt ẩn hốt hiện, mà quanh một bàn tay hư thực cũng tức tức biến đổi, tâm bàn tay · 247 · quanh xoay trên cánh tay đối phương, tức là không ngừng di động điểm lực, tưởng tượng vô số lần án về trước, dần dần bức bách đối phương đứng không vững, thân dần ngồi về trước, chân trước thành thực. (Như hình 4: Ất án Giáp bồng.)
Tóm lại, hai kình bồng lữ là thủ pháp tẩu hóa kình, lữ kình phải đi xuống, đạp bộ phải hạ dịch ngoại bãi, ngồi thực chân sau; khi yêu khố biến đổi trọng tâm, cũng phải khiến kiên khố thẳng đứng, hai vú và hai góc bụng thành thẳng đứng, chớ để thân thể phủ ngưỡng nghiêng lệch, thủy chung bảo trì lập thân trung chính. Cánh tay mình phải khinh linh nhu nhuyễn, nhưng lại không được mất bồng kình, để khỏi mất thế "tùng khai ngã kình vật sử khuất". Cho nên phần tí trửu quyết không được dán vào thân mình, phải để dư địa xoay chuyển tẩu hóa; dưới nách cũng thủy chung giữ có khe hở ước khoảng một nắm tay. Đồng thời mũi khuỷu không được chuyển về phía sau thân, để khỏi bị bức bách mà không thể xuất kình phản kích.
Hai kình án tễ là thủ pháp tiến công: ngồi thực chân trước, xuất thủ không nên quá mũi chân, khớp khuỷu rủ xuống thủy chung cong mà không thẳng; ở bất cứ góc độ nào cũng cố gắng để vai và khố thẳng đứng, hai vú và hai góc bụng thẳng đứng, không để thân thể phủ ngưỡng oai tà, phải bảo trì "lập thân trung chính", "thượng hạ nhất điều tuyến".
Thải kình Thải kình ngược với tễ kình: tễ là song hợp, mà thải là song phân; hình thức của nó giống như một tay nắm cành cây, một tay hái quả. Thải kình là cơ sở của cầm nã. Cầm nã thủ phát triển từ trong thải kình mà ra. Tác dụng chính của nó là ở chỗ xuất ngung chế ngung và khiên động đối phương. Quyền luận nói: "thải thiên kháo địa tương ứng cầu". Thải pháp là lấy chưởng chỉ hư hư · 248 · lung giữ cánh tay đối phương, thừa thế tá lực mà từ nhẹ bỗng nhiên trầm trọng thải một cái. Tốc độ nhanh, khoảng cách ngắn, điểm rơi chuẩn, mãnh lực thải một cái, không đột nhiên nắm chết trì trệ nặng nề, đây là phép kinh chiến, dễ nhất khiên động gót chân đối phương, nhưng cũng dễ chấn động thần kinh não đối phương; vì thế không nên khinh dụng; người công lực tương đương có thể thử lẫn nhau xem dụng kình đắc đáng hay không.
Liệt kình Đặc sắc của liệt kình là vận dụng điểm nhọn của chỉ chưởng, lấy phương thức đột kích mà run ra một loại kình trong khoảng cách gần, là cơ sở của nội bế huyệt trong cầm nã xưa nay. Liệt chủ yếu dùng đả kích bằng run, chứ không phải phát kình; thường dùng khi tay đã đạt điểm mà thế phát đã biến, muốn phát không được, thì đổi thành liệt kình mà run ra. Nếu khi dùng liệt, xúc giác biết đối phương đã bị khiên động, thì lại có thể thừa thế chuyển thành phát kình. Liệt kình này cùng với án kình đều thuộc loại thủ pháp có phạm vi vận dụng khá rộng. Liệt kình ngoài tác dụng chính là đả kích bằng run, còn có tác dụng ngược hướng với bồng kình: là hình cung tức hóa tức đả, chỉ khác là hướng ngược nhau. Bồng là tẩu hóa về phía sau hoặc trái hoặc phải; liệt là hình cung hơi hóa rồi xoay xiên bồng ra phía trước góc xiên, như hình vật ném; bồng là khiến đối phương ngã nghiêng về phía sau lưng ta hoặc trái hoặc phải, liệt là khiến đối phương xoay về trái phải của bản thân mà ngã sau.
Tóm lại, liệt kình và thải kình, chúng là một mặt đối lập; trong quá trình thải gặp trở ngại, tức có thể chuyển thành liệt; liệt gặp trở ngại, tức có thể chuyển ngay thành thải. Đây là sự thống nhất của thải và liệt, giống như hai kình bồng lữ của tứ chính. Nhưng thải, liệt là thống nhất trong bồng, lữ; giữa chúng lấy bồng, lữ làm chủ, thải, liệt làm khách.
Trửu kình Trửu, kháo với thải, liệt, tuy cùng là ngung thủ; nhưng thải, liệt dùng khi thủ uyển đã ra ngoài vòng tròn vuông tròn, mà trửu, kháo thì dùng khi thủ pháp tiến vào nội vòng của vòng tròn vuông tròn (tham khảo hình 12 của chương hai); đây cũng thuộc xuất ngung, cho nên thải, liệt ví như "trường binh" tiếp chiến, mà trửu, kháo là "đoản binh" để dùng. Trong quá trình đẩy tay nếu hình thành phủ tà xuất quyển, thì dùng thải, liệt bổ cứu; nếu hình thành ngưỡng biển tiến vào nội quyển, thì dùng trửu, kháo làm hậu bị quân.
Trửu chi vi dụng, cánh tay kia phải thấu lên cánh tay khuỷu phát ra phía trước, khiến một khuỷu biến thành hai · 249 · Trửu chi vi dụng, như các thức quyền của bộ thứ hai là "ảo loan trửu", "thuận loan trửu" thì có thể tiến kích tả hữu. Dùng trửu, liệt đều ở vị trí chữ nhân giữa bộ, khác với thải thiên, kháo địa; nó ví như tác dụng của sĩ tướng trong cờ tướng. Trửu kích là lấy mũi khuỷu hoặc phần chung quanh khuỷu dán chặt vào thân thể người mà kích ra; vì lấy mũi khuỷu kích ngực sườn người dễ làm thương người, nay đã không cho phép áp dụng vào ngực sườn; khi đẩy tay dùng bộ khuỷu tiến kích ngực sườn đối phương, chỉ cho phép dán chặt cánh tay đối phương mà dùng trửu pháp phóng kình.
Kháo kình Phàm dùng một bộ phận nào đó của thân thể lấy lực chấn đàn run động để kích người, đều gọi là kháo kình. Kháo kình như tướng soái trong cờ tướng tự mình ra trận, bát diện uy phong, khí thế bức người; cũng có khi vì một cánh tay trái hoặc phải xuất ngung, mà cánh tay kia lại không kịp chi viện, ở trong tình thế bất đắc dĩ như thế, mới vận dụng thân pháp lấy kiên kháo kích. Kiên kháo có phân biệt tiền kiên, trắc kiên, hậu kiên. Kiên kháo phải làm được khi kháo ra trọng tâm không lệch về một bên, và nhắm vào trọng tâm đối phương mà kích ra, để khỏi có cái lo lạc không thất thế. Khi kiên kháo phải đỉnh kình trầm xuống, thân pháp trung chính; khi tiền kiên, trắc kiên kháo ra, phần vai không được vượt quá mũi gối.
Ngoài kiên kháo ra, còn có "thất thốn kháo": khi bị bồng lữ phủ khuynh thất thế, tức thì thừa thế tiến bộ sáp đang, cúi thân lấy vai khêu tiểu phúc đối phương để nghênh ngã (phải là người có công phu yêu thối mới làm được); còn có "bối chiết kháo", là nhảy lên gấp xoay thân thể lấy lưng kích ra. Đây là khi gặp bị thải yếu kình, để thuận ứng yếu kình mà cho nó, trong quá trình cho thì quay lưng lại thân thể, là phương pháp tự nhiên giải thoát thế bị thải. Đồng thời còn có thể được cơ hội tiến công: trong xung kích đột nhiên chuyển chiết phát kình, là một chiêu hai dụng, cho nên gọi là bối chiết kháo kình. Sử dụng kháo pháp, phải yêu thối thân thừa thế niêm dán thân chi đối phương; đợi đối phương hơi động tức thì phát kình; khi cần thiết phải bộ pháp hơi theo vào, xâm chiếm địa vị đối phương, mới có thể phóng kình dứt khoát mà bản thân không mất trọng tâm.
Trửu kích kiên kháo trong đẩy tay đều là thừa thế mà dùng. Tiền bối quyền gia họ Trần có người chuyên lấy trửu kích kiên kháo nổi tiếng, nhưng nói chung cũng có người bị bức thất thế mà tùy dùng trửu kiên. Tức khi thủ uyển vào trong nội quyển vuông tròn mà thất thế thì dùng trửu pháp; trửu pháp thất thế thì theo đó dùng · 250 · vai; dùng kiên kháo và bối chiết kháo đều là phương pháp thiếp thân kháo đả. Kẻ lấy bộ khố đàn kích đối phương cũng thuộc phạm vi của kháo pháp. Phương pháp lấy thân công kích này, thân nhập hổ huyệt, thiệp hiểm tiết đoản, thường là biểu hiện của "bát bì đởm đại công phu thuần", dám bức cận đối phương; ví như trong cờ tướng lấy tướng soái tự mình tác chiến, có uy lực nhất định của nó, nhưng nếu vận dụng không khéo thì nguy cơ hiện ra ngay, cho nên không phải là phép chính thường. Thái Cực Quyền đẩy tay tuy có bát pháp bát kình, mà cơ bản công phu thì lấy tứ chính đẩy tay làm thượng. Cho nên trong "Đả thủ ca" có câu "bồng lữ tễ án tu nhận (chân), thượng hạ tương tùy nhân nan tiến"; từ đây cũng có thể thấy quan hệ chủ tòng giữa tứ chính đẩy tay và tứ ngung đẩy tay. Đây là kinh nghiệm quý báu mà tiền nhân luyện quyền tổng kết ra, là vấn đề đáng để chúng ta chú ý khi luyện tập.
Ngoài ra, còn phải nhận thức rằng: trong tứ chính đẩy tay lại lấy hai kình bồng lữ làm chủ; bồng là thuận triền, lữ là nghịch triền; nghịch từ thuận mà đến, tương phản tương thành. Bồng, lữ là mâu thuẫn lẫn nhau mà lại thống nhất; xoáy trôn ốc thức thuận triền là ly tâm lực, xoáy trôn ốc thức nghịch triền là hướng tâm lực.
Phần 45
3. Hai sự diễn biến của đẩy tay thức Trần
Đẩy tay thức Trần vốn nã, ngã, trịch đả (phát kình) kiêm thi dụng, thừa thế hoạt biến. Nã pháp vốn lấy nã mạch, trảo cân, phản cốt làm chủ, sau vì tránh phát sinh tai nạn thương tổn, đã không khinh truyền thụ và vận dụng; khi đẩy tay vận dụng nã pháp, cũng thích khả nhi chỉ, và phát triển thành lấy việc nã trụ kình lộ của đối phương làm chủ, nã thành đắc cơ đắc thế tức chỉ. Người công phu thuần tinh, một cử thủ, một đầu túc, viên chuyển, nhu hòa, khinh linh mà khống chế kình lộ đối phương, tức có thể khiến đối phương thất cơ thất thế, không có cách chuyển biến, tức có thể phát kình; hoặc vừa đợi phóng nhậm chuyển biến, tức thuận ứng điểm chuyển biến mà phát kình. Đây là kỹ thuật cao cấp của việc nã trụ kình lộ đối phương.
Đẩy tay thức Trần vốn khi thoái bộ dùng bồng kình để hóa khai tễ kình hoặc kháo kình của đối phương, · 251 · Hạ thấp thân người ngồi xuống, mà thân pháp vẫn giữ được trung chính không lệch, đạt tới mức bắp chân của chân trước chạm đất, mũi bàn chân hếch lên, nhô lên hạ xuống theo thế (do chân trước duỗi ra xa, có thể phát huy tác dụng khống chế hai chân của đối phương, khi sử dụng thủ pháp vật ngã thì cực kỳ tinh xảo). Nhưng với thế tấn thấp như vậy, nổi lên chìm xuống, tới lui qua lại, lượng vận động của eo và chân rất lớn, cho nên nếu không luyện từ nhỏ thì khó có thể làm được. Hiện nay nói chung lấy nguyên tắc không hạ thân ngồi xuống, khiến cho càng thích hợp với đại chúng.
Phần 46
4. Thôi thủ Thái Cực Quyền là kiêm bị cả âm và dương
Các nhà triết học cổ đại nước ta cho rằng, trên thế giới tồn tại hai loại lực không thể phân chia mà lại đối kháng lẫn nhau, đó là âm và dương. Hai giả là nguồn gốc của sự biến hóa và phát triển của vạn vật, sự hòa hợp của âm dương là sự chuyển hóa và thống nhất của các mặt đối lập của mâu thuẫn. Thái Cực chính là một học thuyết âm dương bao hàm hai loại lực lượng âm và dương. Âm dương đại biểu cho những sự vật đối lập như động tĩnh, cương nhu, hư thực, khinh trầm, nhanh chậm v.v., đối với quan hệ giữa hai mặt đối lập, hai giả có quan hệ thống nhất là nương tựa lẫn nhau, ước chế lẫn nhau, hỗ dụng lẫn nhau.
Thái Cực Quyền lấy học thuyết âm dương làm cơ sở lý luận, đòi hỏi động tĩnh, cương nhu, hư thực, khinh trầm, nhanh chậm đều kiêm bị, lại đòi hỏi dương không rời âm, âm không rời dương, âm lấy dương làm chủ, dương lấy âm làm gốc, đạt tới trình độ đổng kình là cương nhu chập chờn, âm dương tương tế, tiến thêm một bước đòi hỏi đạt tới giai đoạn "thần minh" là hốt âm hốt dương, âm dương không có dấu vết để tìm. Cho nên khi luyện tập Thái Cực Quyền và thôi thủ, không thể thiên về nhu, cũng không thể thiên về cương, mà phải âm dương tương tế. Phàm thiên về nhu thì chỉ được một mặt của Thái Cực, chỉ có thể gọi là nhu quyền, không thể gọi là Thái Cực Quyền; thiên về cương thì chỉ có thể gọi là cương quyền, cũng không thể gọi là Thái Cực Quyền. Phàm có thể nhu có thể cương, có khinh có trầm, hư thực kiêm đáo, cấp ứng hoãn tùy, động tĩnh hợp nghi mới là Thái Cực Quyền hoàn chỉnh.
"Cực nhu nhuyễn, nhiên hậu năng cực kiên cương" (Cực mềm mại, sau đó mới có thể cực cứng cỏi), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất tồi" (Vận kình như thép luyện trăm lần, không gì cứng mà không phá) — các luận thuyết Thái Cực Quyền cổ điển đã nói đúng rằng luyện Thái Cực Quyền phải phát triển mặt như của— · 252 · —nhu tới cực độ, đồng thời cũng phải phát triển mặt cương tới cực độ, cương nhu chập chờn, biến hóa chằng chịt, mới có thể như sách 《Chu Dịch·Hệ Từ》 đã nói: "Biến động bất cư, chu lưu lục hư, thượng hạ vô thường, cương nhu tương dịch, bất khả vi điển yếu, duy biến sở thích" (Biến động không dừng, lưu khắp sáu hư, trên dưới vô thường, cương nhu đổi nhau, không thể lấy làm điển yếu, chỉ có biến mới là nơi thích ứng). Muốn nâng cao kỹ thuật thôi thủ Thái Cực Quyền, dương cương âm nhu ắt phải kiêm bị, mới có thể cuối cùng cầu được kỹ thuật cao cấp toàn diện "hóa kình tùng tịnh, phát kình thúy càn" là có thể hóa, có thể phát.
Phần 47
5. Yếu lĩnh động tác thôi thủ
Khi thôi thủ ắt phải lập thân trung chính, bất thiên bất ỷ, hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền, vĩ lư trung chính, thảng kình mãn túc, trầm kiên đọa trửu, hàm hung bạt bối, thượng hạ tương tùy, huyệt bách hội trên đỉnh đầu và huyệt hội âm trong đũng luôn giữ được đường thẳng đứng ("thượng hạ nhất điều tuyến", trên dưới một đường); cột sống phải từng đốt từng đốt tùng trầm mà lại hư hư đối chuẩn, phần eo phải tùng trầm trực thụ, phải hơi chuyển động, không thể mềm nhũn sụp đổ, không thể lắc lư; khiến thân pháp khi bất kỳ biến hóa nào đều giữ được trung chính, có thể tám mặt chống đỡ; các đốt xương cột sống và các xương sườn ngực lưng từng đốt từng đốt tùng trầm, mà ý hướng lên trên (nội kình từ trong đũng hướng lên trên tới lưng sống, gọi là "khí thiếp bối", "lực do tích phát", "chủ tể tại yêu"), kỵ cúi về trước, lệch trái nghiêng phải, càng kỵ ngửa ra sau; khi tay chân tiến tới, huyệt mệnh môn của eo lưng chống ra sau, thảng kình phải chìm xuống, điều này nhất trí với yêu cầu luyện quyền. Lấy huyệt mệnh môn của eo lưng (hậu đan điền) làm trục tâm điều tiết sự thăng bằng của toàn thân, và làm nguồn gốc của sức bộc phát lấy eo làm chủ tể, chúng tôi đã chứng minh trong thực tiễn rằng nó là then chốt để luyện tốt kỹ xảo thôi thủ.
Sự biến hóa hư thực của thân pháp, then chốt ở chỗ lấy huyệt mệnh môn của eo lưng làm trục tâm mà rút đổi hai khe eo trái phải (hai thận); khe eo rút về trái thì trái thực mà phải hư, khe eo rút về phải thì phải thực mà trái hư; lấy huyệt mệnh môn của eo lưng làm trục mà hai thận trái phải rút đổi (hình dạng bên ngoài là sự rút đổi hai bên eo) biến hóa hư thực, là nơi tổng hư thực của toàn thân, cũng là nơi có quyết khiếu "nguyên động yêu tích", "nội động bất lệnh nhân tri" (nguồn động ở eo lưng, động bên trong không để người biết).
· 253 · Thái Cực Quyền dưới yêu cầu thân pháp nói trên, vận dụng "triêm, liên, niêm, tùy" (dính, liền, dính chặt, theo), lấy bất đâu bất đỉnh, bất biển bất kháng làm nguyên tắc, đối phương ấn thì ta bằng (peng), đối phương tề thì ta lũm (lu), chỉ bốn chữ bằng lũm tề ấn này, tuần hoàn vô cùng, lại càng phải phân biệt rõ ràng kình biệt, luyện tập lâu dài, theo quy theo củ, đánh tốt nền tảng vững chắc viên mãn nhu thuận.
Thái Cực Quyền và thôi thủ đều trước tiên chú trọng thân pháp, thân pháp đoan chính mới có thể chế người mà không bị người chế, thân pháp sai lệch thì khắp nơi dâng sơ hở cho người, sao có thể chế người? Cái gọi là "kỳ thân chính, bất lệnh nhi tòng; kỳ thân bất chính, tuy lệnh bất tòng" (thân mình chính thì không ra lệnh mà người theo; thân mình không chính thì dù ra lệnh người không theo), chính là đạo lý này. Thái Cực Quyền và thôi thủ, lấy hư tĩnh làm cực trí, lấy trung chính thân pháp làm cơ sở, hư thì không gì không bao dung, tĩnh thì không gì không ứng, thân pháp trung chính thì đã có thể tám mặt chống đỡ, cũng có thể tám mặt chuyển hoán, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, cho nên lý luận truyền thống của Thái Cực Quyền và thôi thủ đều nhấn mạnh thời thời trung chính. Danh quyền sư nổi tiếng Trần Gia Câu là Trần Trường Hưng (1771—1853) nổi tiếng vì lập thân trung chính, người đương thời gọi ông là "Bài vị đại vương". Trần thức quyền gia lấy lập thân trung chính làm đệ nhất yếu nghĩa, các quyền gia Dương, Vũ nhị thức phát triển trực tiếp từ Trần thức cũng nghiêm khắc tuân thủ quy định này, đáng để chúng ta nghiên cứu nguyên lý ở đâu.
Khi mới học thôi thủ, triền ti chuyển vòng phải rộng lớn, cầu cho viên mãn nhu thuận, không có chỗ lồi lõm, khuyết hãm, gián đoạn và đỉnh kháng (tham kiến đặc điểm thứ ba của chương thứ nhất), động tác phải chậm không nên nhanh, nhanh thì khắp nơi dễ trượt qua; sau khi công phu tăng sâu thì dần dần thu vòng nhỏ lại, có thể chậm có thể nhanh, thích hợp với yêu cầu "động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy" (động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm).
Khớp vai luôn phải tùng nhu viên hoạt mà hạ trầm, khớp khuỷu luôn phải rơi xuống, dùng ý rót vào. Tiến công dẫn hóa luôn phải thủ cánh tay tùng nhu, dụng ý bất dụng lực, mới có thể linh hoạt vô trệ, khiến đối phương không dễ phát giác động hướng của ta. Cột sống tùng trầm, xương cùng hữu lực, thảng kình chìm tốt, tự nhiên ổn trọng mà lại linh hoạt. Phàm những điều này, luôn luôn quý ở sự nghiêm cẩn.
Quyết khiếu của dẫn hóa tiến kích là ở chỗ nội kình không để người biết, ý ở trước người, lấy điểm dính làm trục tâm xoay chuyển, từng bước cầu được "tiên dẫn hậu tiến", "bán dẫn bán tiến", "tức— · 254 · —tức dẫn tiến". Trần Hâm gọi là: "Lưỡng thủ chuyển lai tự loa văn" (Hai tay xoay lại như vân ốc), "Cách bạc lệnh kỳ cốt chuyển, phương năng dĩ chân kình dẫn động" (Khiến xương cánh tay chuyển động, mới có thể lấy chân kình dẫn động), khiến đối phương "dục tiến bất đắc thế, dục thoái bất cảm, thử dẫn tiến chi diệu cảnh dã" (muốn tiến không được thế, muốn thoái không dám, ấy là diệu cảnh của dẫn tiến). "Tiên dẫn hậu tiến" là dẫn hóa kình tới khiến nó rơi vào khoảng không rồi mới tiến kích; "bán dẫn bán tiến" là phần cánh tay trên khuỷu hơi lùi về sau, hạ đan điền (tiểu phúc) hơi tiến tới, từ khuỷu xuống đến cổ tay bàn tay tiến theo, thành thế súc hấp mà phát hô; "tức dẫn tức tiến" là tiểu quyển chuyển quan, gọn gàng bắn thẳng, Trần Hâm gọi là "hư lung trá dụ, chỉ vị nhất chuyển" (vây hư lừa dẫn, chỉ vì một chuyển), cũng tức là pháp tiệt kình tới của đối phương. Một mặt luyện quyền, một mặt thôi thủ, sửa chữa thủ pháp, thân pháp, bộ pháp và nhãn pháp; tiến công thoái hóa, thượng hạ tương tùy, khiến từng cái hợp với yếu lĩnh rèn luyện Thái Cực Quyền; minh quy củ nhi thủ quy củ, thoát quy củ nhi hợp quy củ (rõ quy củ mà giữ quy củ, thoát quy củ mà hợp quy củ); kiên trì nguyên tắc, không lấy thắng bại làm niệm, không vọng dụng chuyết lực, mới có thể phát triển kỹ xảo.
Bắt đầu từ tùng tĩnh, khinh nhu, cùng một bước với luyện quyền; công phu lâu ngày, toàn thân hợp nhất, từ tùng tĩnh, khinh nhu mà dần vào trầm trước, hai vai tùng nhu linh hoạt, hai đầu khuỷu chìm xuống, tay trước đi, tay sau theo; một tay về, tay khác theo, "lưỡng thủ chuyển lai tự loa văn". Hai cánh tay khống chế hai tay đối phương, khống chế các khớp của họ (khớp cổ tay là sao tiết, khớp khuỷu là trung tiết, khớp vai là căn tiết), khiến khó biến hóa linh hoạt. Trong đó còn có cái khéo của cầm nã, triêm tùy không rời, trong tay dường như nhu mà không nhu, dường như cương mà không cương, ngoài như bông, trong như thanh thép, có thể vận dụng phương pháp dẫn tiến lạc không, sau đó mới giảng cầu phóng kình; tiểu quyển chuyển quan, gọn gàng bắn thẳng (Trần Hâm nói "hư lung trá dụ, chỉ vị nhất chuyển"), như điện quang lóe mạnh, nhanh vô cùng. Phàm những điều này đều là ý, không ở ngoại hình, kình của đối phương vừa chạm vào da lông ta, ý của ta đã vào trong xương đối phương, khắp nơi ý ở trước người, thì không đến nỗi đâu đỉnh cứng đụng, không đến nỗi chỉ cậy dũng của huyết khí, cũng không đến nỗi cứng gắng chỉ cầu khinh linh mà không cầu nội kình sung mãn (đúng như Trần Hâm nói "tức cầm tức túng triền ti kình, tu vu thử nội hội thiên cơ" — vừa bắt vừa thả kình triền ti, phải ở trong đó mà hội được thiên cơ). Sau đó càng luyện càng tinh mật, linh xảo, tùy cơ ứng biến, toàn thân khinh linh, chạm vào đâu thì đó động, khắp nơi có thể khúc tuyến nhu hóa, khắp nơi có thể trực tuyến cương phát, khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát, súc phát tòng tâm sở dục.
· 255 · Bước động phải khinh linh, hai chân phải phân hư thực, lại phải trong hư có thực, trong thực có hư, hư thực thẩm thấu lẫn nhau, khiến biến hóa được linh hoạt. Hai chân phân rõ hư thực, then chốt ở sự rút đổi của hai khớp háng, sự rút đổi của hai khớp háng nhất trí với sự rút đổi của khe eo, cũng tức là bộ pháp phải biến đổi theo sự biến đổi của thân pháp; sắp muốn bước chân trái, khe eo trước hết rút phải và lạc thực, khí chìm xuống bên phải bụng, khớp háng phải theo đó thu vào mà chìm xuống, chân phải là thực, sau đó chân trái bước ra, ngược lại cũng vậy.
Bộ pháp lại phải hô ứng với thủ pháp, khiến thượng hạ tương tùy. Cái gọi là "thượng ư lưỡng bạc tương hệ, hạ ư lưỡng thối tương tùy" (trên thì hai cánh tay liên hệ nhau, dưới thì hai chân theo nhau), lại phải khiến tay chân có ý tương hấp tương hệ. Tay với chân hợp, khuỷu với gối hợp, vai với háng hợp — ngoại tam hợp ắt phải chú ý, khiến thượng hạ hoàn chỉnh không loạn. Động ắt tiến bước, tiến ắt "sáo sáp" (bao khớp). Sáo là chân trước khống chế bên ngoài chân trước đối phương, sáp là chân trước chen vào giữa chân bước của đối phương. Sáo phong sáp bức, túc tiến kiên tùy, pháp đại la đại kháo (vận dụng bốn kình thái liệt trửu kháo) chính ở trong đó.
Sáo phong sáp bức là phương pháp khống chế chân và chiếm thế của hạ thể khi sử dụng pháp vật ngã trong thôi thủ; sự nội khấu và ngoại phiết của khớp gối có tác dụng lấy kình đàn hồi đánh động bước của đối phương, cũng có tác dụng tiêu hóa việc đối phương dùng khớp gối đánh động bước của ta. Trần Hâm nói "quyền trung thôi thị yếu vật pháp, bất minh vật pháp thân đồ lao" (trong quyền thôi là cần pháp vật ngã, không rõ pháp vật ngã thì thân uổng công). Pháp vật ngã trong Trần thức thôi thủ nay vẫn tiếp tục giữ gìn. Hư thực của hai chân phải linh hoạt biến hoán, lại phải tháp yêu lạc khố, kình của chân thực triền nhiễu chìm xuống như cắm sâu vào đất, khiến có thể vững bước khi vận hóa, không vì bị bức, bị dẫn mà phá hoại thân pháp; khi triêm hóa hoàn kích, háng trước chìm xuống, hình cung hơi hướng lên trên mà tiến về trước bức tới, nhất trí với động tác hình xoáy ốc của thủ pháp, mới có thể khi phóng kình lợi dụng tốt hơn phản tác dụng lực của mặt đất, khiến kình khởi từ gót chân, rót vào eo lưng, thông qua xương sống, hình thành ở ngón tay.
Khi thôi thủ, ý phải liền, hình phải liền, sắp muốn phóng kình, bước phải ám tiến, thắng ở tiến bước, không bại ở thoái bước; thân thủ bộ ắt phải thượng hạ tương tùy; tiến tay mà không tiến thân, thân tay tiến mà không tiến bước, không những triêm phong bất thành, phóng kình phù mà bất trầm, không thể liên hoàn phóng kình, mà cũng dễ bị đối phương khiên động. Khi phóng kình, thân, thủ, bộ và nhãn thần phải · 256 · —nhất tề câu đáo, đỉnh gối, đỉnh chân, đỉnh mũi, đỉnh tay và nhãn thần phải nhắm cùng một phương hướng, khiến điểm lực tập trung.
Các nhà quyền pháp, lấy nhãn thần làm tôn, người phát lệnh là não, người truyền lệnh là nhãn thần, chỗ tinh xảo hoàn toàn dựa vào nhãn pháp. Ý của ta có thể vào trong xương đối phương, hoàn toàn dựa vào nhãn lực có thể "địch tình dự hiểu" (biết trước tình địch), cái gọi là "nhất nhãn khán thấu" (một mắt nhìn thấu). Cổ quyền gia còn coi trọng "tiên dĩ nhãn pháp nhiếp phục đối phương" (trước tiên dùng nhãn pháp khuất phục đối phương); biến hóa của dẫn kình phát kình, ý ở dẫn đầu, ánh mắt cũng theo đó biến hoán, thân thủ bộ theo sự động của ánh mắt mà chuyển hoán. Sắp muốn đánh lên trên, ắt trước phải ngụ ý hướng xuống, ánh mắt cũng phải trước hơi nhìn xuống rồi sau hướng về trước hướng lên bắn thẳng, thì phương hướng phát kình đúng mà ý xa kình dài. Khống chế kình lộ của đối phương lấy tay nào làm chủ, thì ánh mắt phải nhìn vào chỗ đó. Ánh mắt quyết không được có sai lệch với phương hướng động.
Phóng được người ra, ánh mắt vẫn phải chú về trước, mới có tác dụng "nhất khắc như thủy chiến" (một khắc như trận đầu), "kình đoạn ý bất đoạn" (kình đứt ý không đứt), "thần khí bất lệnh cát đoạn" (thần khí không để bị cắt đứt), "phóng kình như nhập mộc tam phần" (phóng kình như vào gỗ ba phần). Nhãn thần thì phải kiêm cố chu thân thượng hạ, cho nên ánh mắt nên có chuyên chú, mà nhãn thần quyết không được nhìn đờ, ắt phải như nhãn thần của mèo bắt chuột. Có người cho rằng chỗ tinh xảo của Thái Cực Quyền ở xúc giác linh mẫn, không coi trọng vận dụng nhãn pháp, có người thậm chí nghiêng đầu nhìn bên, biểu thị chuyên ở tay nghe kình, đây là hiểu lầm. Phải biết rằng, thị giác, thính giác và xúc giác là hữu cơ phối hợp với nhau, không phải ly tán.
Khi thôi thủ không những hai tay phải triêm liên niêm tùy, mà thân pháp, bộ pháp cũng phải có ý triêm liên niêm tùy, không trước không sau, phối hợp động tác. Đây là biểu hiện của việc làm được thượng hạ tương tùy, chu thân nhất gia trong động tác. Hình phải liên, ý phải liên, theo sự động của người mà co duỗi tiến thoái, có thể bất đâu, bất đỉnh, bất biển, bất kháng, đây gọi là công phu "đổng kình". Đổng kình là do "xả kỷ tòng nhân" (bỏ mình theo người) mà đến, khắp nơi có thể phát giác và thuận theo quy luật biến hóa khách quan. Có thể làm được thượng hạ tương tùy trên hư thực, thì tiến công thoái hóa có thể xả kỷ tòng nhân và · 257 · —viên chuyển tự như; từ người mà vẫn chủ tể ở ta, không mất trung chính bất thiên của ta, thì có thể chế người mà không bị người chế. Đây là công dụng của thủ pháp, thân pháp và bộ pháp đạt tới triêm liên niêm tùy.
Vận hóa trước tiên ở eo chân, kế ở ngực, lại kế ở tay. Cho nên nói: "Khẩn yếu toàn tại hung trung yêu gian vận hóa" (điều cốt yếu hoàn toàn ở vận hóa trong ngực và nơi eo), "hữu bất đắc cơ đắc thế xứ, thân tiện tán loạn, tất chí thiên ỷ, kỳ bệnh tất ư yêu thối cầu chi, thượng hạ tiền hậu tả hữu giai nhiên" (có chỗ không được cơ được thế, thân liền tán loạn, ắt đến thiên ỷ, bệnh của nó ắt phải tìm ở eo chân, trên dưới trước sau trái phải đều vậy). Trong đó khúc duỗi vãng lai hình xoáy ốc triền ti, là tác dụng chính của "dẫn tiến lạc không hợp tức xuất" (dẫn vào khoảng không, hợp là phát ra). Tay ở điểm dính không rời mặt chống đỡ, làm sự xoay chuyển động tác trục tâm, có thể viên chuyển tự như, từ triêm hóa mà biết trước hư thực của đối phương. Tác dụng kình của điểm dính thân thủ, tức là diệu dụng "triền trung bất triền" (xoay mà không xoay), trong triêm hóa không mất cơ thế của ta. Khi phóng kình tay không vượt quá đầu ngón chân, kình lực có thể chìm thấu, thân mình cũng không mất trọng tâm, có thể giữ thế súc của "bát diện chi trì" (tám mặt chống đỡ), sau đó có thể "thao thao bất tuyệt", kình không đứt, và có thể liên hoàn phóng kình.
Trần thức thôi thủ đã yêu cầu làm được không để đối thủ chạm tới thân mình, mà mình có thể khống chế trọng tâm đối phương, lại yêu cầu làm được dám để đối thủ áp sát thân mình, đạt tới đáp tay tức có biện pháp, cận thân cũng có biện pháp. Công phu triêm liên niêm tùy, ở trên tay, cũng ở trên thân. Đáp tay hơi dẫn tức phát kình là một pháp, đáp tay dẫn khiến cận thân, thụ nhi chế chi, chế nhi tồi chi; dĩ thân thụ thủ, khiến một tay hoặc hai tay đối phương đặt vào chỗ vô dụng, mà tay ta vẫn có thể hoạt biến: đây lại là một pháp. Xa không sợ, gần không sợ, có thể xa có thể gần, có thể súc có thể phát, có thể nhu có thể cương, thì đã làm hết được khả năng của thôi thủ.
Thôi thủ tới giai đoạn đổng kình, vận kình phải hốt ẩn hốt hiện, tự hữu thực vô, tự vô thực hữu; công phu thuần túy giả, theo động hướng kình lực của người, có thể triêm tẩu không chút sai. Nội kình tiềm di mặc hóa, ý ở trước người; nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân (người không biết ta, ta riêng biết người); nhưng y theo chỗ nào, tức y hướng chỗ đó phóng kình (Trần Hâm nói: "Y trước hà xứ hà xứ kích, vô tâm thành hóa như châu viên, thử thị bản địa phong quang, tối nan tối nan" — y theo chỗ nào thì chỗ đó kích, vô tâm thành hóa như châu viên, đây là phong quang bản địa, khó nhất khó nhất). Tùy cảm nhi ứng, tự nhiên có thể không nê (không câu nệ) ở bát pháp, bát kình như bằng tễ ấn thái liệt trửu kháo; đây là từ triêm liên niêm tùy đạt tới đổng— · 258 · —kình giai đoạn, tiến thêm mà đạt tới công phu "giai cập thần minh" là chạm đâu thành viên, có thể hóa có thể phát. Nguyên tắc chung là đối phương lấy cương tới, ta lấy nhu ứng, trong nhu ngụ cương, khiến người khó phòng, thời thời tồn một mảnh linh cơ, khắp nơi mật dính với đối thủ, triêm tẩu tương sinh, ý ở trước người.
Trần Trọng Sân nói: "Hồn hạo lưu hành, tự nhiên nhất khí. Khinh như dương hoa, kiên như kim thạch. Hổ uy tỉ mãnh, ưng dương tỉ tật. Hành đồng hồ thủy lưu, chỉ mâu hồ sơn trĩ. Tiêu tức tại bất tức bất ly chi gian, tinh thần tại dẫn nhi vị phát chi tế" (Mênh mông chảy khắp, tự nhiên một khí. Nhẹ như hoa dương, cứng như vàng đá. Oai hổ sánh mạnh, tung ưng sánh nhanh. Đi như nước chảy, dừng như núi đứng. Tin tức ở giữa không gần không xa, tinh thần ở lúc dẫn mà chưa phát). Vũ Vũ Tương trong 《Thái Cực Quyền Luận》 cũng nói: "Tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà" (Tĩnh như núi cao, động như sông lớn). "Tĩnh như sơn nhạc" là biểu thị sự ổn định trầm trọng khi định thế, nghiêm chỉnh hữu lực; mà trong tĩnh có thế dự động, gọi là "thị tĩnh do động" (xem tĩnh như động), cũng tức là "tinh thần tại dẫn nhi vị phát chi tế"; "động nhược giang hà" là biểu thị khi động tác thì sóng nhấp nhô, thao thao bất tuyệt, hình thành sự biến hoán linh động của hư thực, không ngừng tẩu hóa hình cung, không ngừng trực tiến triêm bức, mà khi biến chuyển vẫn chu thân quy củ hợp nhất, gọi là "thị động do tĩnh" (xem động như tĩnh), cũng tức là "tiêu tức tại bất tức bất ly chi gian". 《Thập Tam Thế Hành Công Ca Quyết》 của Dật Danh thị nói "tĩnh trung xúc động động do tĩnh, nhân địch biến hóa thị thần kỳ" (trong tĩnh chạm động, động vẫn như tĩnh, nhân địch biến hóa là thần kỳ), đều là khai triển thôi thủ khi phải "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà" chu thân nhất gia, hoàn thành yêu cầu "súc kình như trương cung, phát kình như phóng tiễn" (súc kình như giương cung, phát kình như bắn tên). Trong khẩu thụ quyết khiếu của Trần Vũ hai nhà, sự tương biến súc phát của toàn thân chỉnh thể kình là cần "nhất thân bị ngũ cung". Nay thử tổng hợp phương pháp thao tác cụ thể "nhất thân bị ngũ cung" của Trần Vũ hai nhà, thuật tóm tắt như sau.
Nhất thân bị ngũ cung chỉ thân khu như một cây cung, hai tay là hai cây cung, hai chân là hai cây cung. Ngũ cung hợp nhất, tức là chỉnh thể kình của toàn thân, "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà", có thể súc có thể phát, thao thao bất tuyệt.
Thân cung lấy eo làm cung bả (cán cung), huyệt mệnh môn của eo lưng sau rốn luôn lấy ý rót vào, trung định mà không thiên ỷ dao động; khi phóng kình huyệt mệnh môn phải chống ra sau, "hạp môn" (đốt thứ bảy xương cổ · 259 · —tiết) và xương vĩ lư làm cung sao (đầu cung), trên dưới đối xứng, điều tiết cường độ kình, tăng cường thế súc hấp của nó (thân cung của Vũ thức, lấy đại chùy làm một trong các cung sao, cường độ điều tiết kình nhỏ hơn "hạp môn"). Thân cung bị, thì phần eo nhu nhận trung định mà chìm xuống, trên ở "hạp môn" hư thụ, đại chùy hơi phồng lên có ý thượng đề (tức tác dụng bạt bối, khí thiếp bối); dưới ở xương vĩ lư tiền tống mà nội kình có ý thượng phiên. Xương vĩ lư phải tiền tống, thì không có bệnh đột đồn (đít nhô); đồn lại phải có ý thượng phiếm, thì nội kình từ trong bàng thượng phiên, qua lưng sống tới đỉnh đầu mà xuống, khí lạc đan điền, lâu ngày nhâm đốc nhị mạch tự nhiên tiếp thông.
Thủ cung lấy khuỷu làm cung bả, lấy ý rót vào tiết khuỷu, khiến trầm trước tùng tĩnh mà có định hướng. Cổ tay và xương quai xanh dưới cổ làm cung sao, cung sao ắt phải cố định, trước sau đối xứng. Tay trong tùng nhu linh hoạt dùng "tọa uyển" (ngồi cổ tay) để cố định (gốc bàn tay hơi trước lực mà chìm xuống, tiết cổ tay nhu mà bất nhuyễn gọi là "tọa uyển"). Xương quai xanh dùng ý để cố định, không để thiên ỷ dao động, xương quai xanh quản động hướng của hai tay, cố định xương quai xanh là tiền đề cố định hai tay.
Túc cung lấy gối làm cung bả, xương háng và gót chân làm cung sao. Túc cung bị, thì khớp gối hữu lực mà hơi tiền đĩnh, xương háng tùng trầm mà hậu xanh, gót chân chìm xuống mà kình hướng lên trên, kình của eo chân tự nhiên tương thuận tương tùy, gọi là "hữu thượng tất hữu hạ, hữu tiền tất hữu hậu, hữu tả tất hữu hữu" (có trên ắt có dưới, có trước ắt có sau, có trái ắt có phải), tương phản tương thành, đối lạp quân xứng, tự nhiên có thể kình khởi từ gót chân, chủ tể ở eo, thông qua lưng sống, hình thành ở ngón tay.
Ngũ cung lấy thân cung làm chủ, thủ cung túc cung làm phụ, thế là lấy eo làm trục, trên ở hai bạc tương hệ, dưới ở hai chân tương tùy, thượng hạ tương tùy, trung gian tự nhiên tương tùy. Mỗi khi đứng một thế, ngũ cung câu bị, hình thành thế súc bát diện chi trì. Nguyên động yêu tích, chu thân kình chỉnh, thì có thể "cơ do kỷ phát, lực tòng nhân tá" (cơ do mình phát, lực từ người mượn), hình cung tẩu hóa, trực tuyến phát động, súc phát tương biến, thao thao bất tuyệt. Người công phu cực sâu, chạm đâu thành viên, nhưng y theo chỗ nào tức từ chỗ đó phóng kình.
Ngũ cung hợp nhất là quy định cụ thể của nội ngoại chỉnh thể kình. Luyện quyền và thôi thủ đều nên vừa động thế tức ngũ cung câu bị. Ngũ cung hợp nhất thì "tĩnh như sơn nhạc, động nhược giang hà", · 260 · "Lập thân cần trung chính an thư, năng bát diện chi trì" (đứng thân phải trung chính thoải mái, có thể chống đỡ tám mặt), "kình dĩ khúc súc nhi hữu dư" (kình nhờ cong mà tích lại nên có dư), và thế "khúc trung cầu trực, súc nhi hậu phát" (trong cong tìm thẳng, tích rồi mới phát) liền có thể hiện ra.
(VII) Sự đề hợp súc và phóng khai phát của phát kình Luyện tập đẩy tay, nên trước hết thuần thục bốn tay bằng, lũ, tễ, án, ra sức mềm mại thuận hòa tròn đầy, toàn thân một nhà, trước học nhu hóa, sau cầu phát kình. Phát kình nên ra sức khiến hai chân đối phương rời đất, hướng sau (cũng có thể hướng trái hoặc hướng phải) hướng lên lượn qua không trung ném ra là tốt nhất. Giai đoạn luyện tập phát kình, cần nghiên cứu phương pháp đề phóng kết hợp với hô hấp, khiến hít súc đủ, thở phát thấu; hít đủ để thấy cái khéo của mình, phát thấu để thấy cái diệu của mình; súc được khéo, mới có thể phát được diệu.
Hít là đề, là hợp, là súc; thở là phóng, là khai, là phát. Bình thường, cần luyện đơn và luyện đôi phương pháp đề phóng. Luyện đơn là rút ra mấy thức quyền chính diện, phản diện mà liên tục chuyên tập súc phát; lực chấn đạn của ngực, vai, lưng, háng, mông v.v. đều cần luyện đơn thuần thục, phải có [điểm]. Luyện đôi là phương pháp "cho ăn" để nghiên cứu mức độ chính xác của súc phát kình. Phát kình cần tập trung mà mãnh thấu, càng cần trầm trầm, khiến phát kình cực kỳ khắc nhập mà sắc bén; động quý ở ngắn, ý quý ở xa, kình quý ở dài, tập trung thì chuyên chú... phương mà lực thấu, nhanh thì thừa thế mà không đến nỗi mất thế, muốn đi là đi, không phạm bệnh do dự, thì đối phương không dễ biến hóa; trầm thì chế trụ lực của hắn, khiến không thể biến hóa linh hoạt; động ngắn thì một chạm là phát, hắn không kịp tẩu hóa, mà mình đã nhảy ra. Bậc công phu cao diệu, có thể khiến đối phương không thấy mình động, mà mình đã lượn qua không trung ném ra. Ý xa kình dài, thì phóng người càng xa. Bậc công phu thuần túy, động đến cực vi, dẫn đến cực dài, phát đến cực chợt, hít thì tự nhiên có thể nhấc được gót chân của người, lợi dụng phản lực của hắn, động trọng tâm của hắn; thở thì tự nhiên có thể trầm xuống, phóng người ra mà gọn gàng dứt khoát. Khi hít đề thì khí trầm xuống tiểu phúc (hạ đan điền, huyệt Trung Cực), khi hô hấp thì một phần khí thở ra, một phần khí hạ trầm xuống tiểu phúc, một phần khí chuyển hành đến vùng đản (trung đan điền, huyệt Đản Trung), khi thở ra thì nửa thổ nửa trầm, mới có dư không hết, cuồn cuộn không tuyệt. Thượng đan điền ở huyệt Bách Hội, từ đầu đến cuối hư linh đỉnh kình (đỉnh đầu như treo hư không), để giữ cho thân đứng trung chính khi hít đề, thở phóng.
Các cao thủ Thái Cực quyền cận đại như Trần Phát Khoa, Dương Trừng Phủ v.v., khi vận hóa thì nhẹ mềm · 261 · tròn hoạt, hoàn toàn không chịu lực, khiến đối phương mất thăng bằng, có cảm giác lơ lửng mất trọng lượng; khi phóng kình do tốc độ nhanh, điểm rơi chính xác, nội kình đủ, tại điểm dính bỗng nhiên phóng kình, đối phương không kịp cảm giác, không cách nào vận hóa, đã bị ném qua không trung, đạt đến kỹ xảo cao cấp của súc phát tương biến.
(VIII) Hô hấp và phương viên cương nhu Sự vận dụng qua lại của hô hấp, không ra ngoài sự hỗ biến của phương viên và hỗ hoán của cương nhu. Dính liền mật thiếp, tiếp chuyển nhu hóa thành viên (tròn); được thời được vị, cương kình thôi bách thành phương (vuông); sự xoay chuyển của kình là viên, phóng phát là phương. Kình dính tùy như keo như sơn, chính là từ sự ma sát do gia tốc hướng tâm, ly tâm của triền toàn mà sinh ra. Điểm hạch tâm của mặt dính tùy, chính là một điểm trên trục hướng tâm của triền toàn. Thuận xoay là tác dụng của ly tâm lực, nghịch xoay là tác dụng của hướng tâm lực. Sự biến hóa chằng chịt của thuận xoay nghịch xoay, càng vi tế linh xảo, "khúc trung cầu trực", "súc nhi hậu phát", thì sự vận dụng viên trung hữu phương, phương trung hữu viên càng hiển thị sự tinh diệu của nó. "Đả Thủ Ca" rằng: "Dẫn tiến lạc không hợp tức xuất, chiêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh" (dẫn vào làm không, hợp là ra; chiêm liên niêm tùy, không mất không chống), rất hoàn mỹ mà thuyết minh tác dụng của hô hấp với phương viên cương nhu. Khi phát kình, "khúc trung cầu trực", ngoài phương mà trong viên, khúc súc hữu dư, cuồn cuộn không tuyệt; thở thì thân chi khai triển thành phương, hít thì thân chi khẩn thấu thành viên, tùy lực tựu viên mà vãng lai; hít thì đề kình thành nhu, thở thì phóng kình thành cương. Yêu cầu cao nhất là tốc chiến tốc quyết, cho nên cũng phải dưỡng thành kỹ thuật một hít một thở mà thắng phụ lập phán (phân định ngay), Dương Ban Hầu được truyền của họ Trần liền chủ trương "nhất hanh nhất ha, thắng phụ lập phán" (một tiếng hanh một tiếng ha, thắng phụ phân định ngay). Do đó bởi vì hô hấp liền ảnh hưởng đến sự hỗ tương biến hóa của phương viên cương nhu, dần dần đến khi hô hấp luyện được cực kỳ tự nhiên, tuyệt nhiên không dụng lực, mà lại có thể đề khiến hắn đến không thể không đến, phóng khiến hắn đi không thể không đi; xả kỷ tòng nhân (bỏ mình theo người) mà cầm túng tại ngã (giữ buông ở mình), xả kỷ tòng nhân mà vẫn do kỷ; cầm túng tại ngã là do kỷ, do kỷ mà vẫn tòng nhân. Vận động như thế, liền có thể biểu hiện thành không ngừng phương nhi viên, viên nhi phương, khiến cho cái viên của nó để ứng vô cùng. Trong đó chất lượng là cương nhi nhu, nhu nhi cương, chợt nhu chợt cương, diệc nhu diệc cương, đợi đến khi cương nhu không vết tích có thể tìm, phương viên không hình dạng có thể thấy, đó là trong đẩy tay đạt đến diệu · 262 · cảnh giới của tay.
Tuyệt cú "Vịnh Thái Cực Quyền" của Trần Trọng Sân rằng: "Động tĩnh vô đoan tùy thế chuyển, dẫn tiến lạc không nhậm nhân lai, nhược phi Thái Cực đồ trung đắc, na hữu thần cơ bão phụ hoài" (động tĩnh không đầu mối, theo thế mà chuyển; dẫn vào làm không, mặc người đến; nếu không phải được trong đồ Thái Cực, thì đâu có thần cơ ôm ấp trong lòng). Công phu đạt đến giai đoạn "giai cập thần minh" này, hô hấp tự nhiên hợp nhịp, cương nhu phương viên không những kiêm bị, mà cũng không vết tích có thể tìm, hỗn nhiên mà thành một hình tròn của đồ Thái Cực.
(IX) Tác dụng của nội kình trong đẩy tay Nội kình là một loại kình ẩn chứa bên trong (tham kiến Chương Một), là một danh từ chuyên dụng của phái Thái Cực quyền. Nó là một loại "đàn kình" (kình đàn hồi) và "nhận kình" (kình dai bền) được rèn luyện ra từ sự tùng nhu của "thần thư thể tĩnh" (thần thoải mái thân yên tĩnh) bằng ý quán chú. Nhu trung hữu cương là đàn kình, cương trung hữu nhu là nhận kình. Cái gọi là "nhu lý hữu cương công bất phá, cương trung vô nhu bất vi kiên" (trong nhu có cương thì công không phá; trong cương không nhu thì không bền vững), biện chứng mà thuyết minh đặc tính của đàn kình và nhận kình cùng tính thống nhất của đối lập. Nội kình có đặc điểm "thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng" (thần để biết điều sắp đến, trí để chứa điều đã qua), ẩn bên trong mà không hiển lộ ra ngoài, theo động của người mà không ngừng thay đổi phương hướng, bất đâu bất đỉnh (không mất không chống), không một ly sai, nội động không khiến người ta biết, nên gọi là "nội kình". Nội kình sung mãn, thì tính đàn hồi và tính dai bền liền đủ. Đây là một loại kình độc đáo sinh ra từ sự kết hợp của bài quyền Thái Cực và đẩy tay. Về thực chất và vận hành của nội kình Thái Cực quyền, Trần Hâm cho rằng là dĩ ý hành khí (dùng ý dẫn khí), khinh khinh vận động, phát ư đan điền, vận ư cốt phùng chi nội (vận trong khe xương), lại từ trong khe xương vận đến cơ phu (da thịt), quán chú vào tứ sao (bốn đầu ngón: hai ngón tay, hai đầu ngón chân), phục quy ư đan điền, triền nhiễu vãng lai, khinh linh viên chuyển, dần dần sinh ra một loại nội kình miên nhuyễn mà lại trầm trọng, ngoài tựa bông gòn, trong như thanh thép. Công phu càng sâu, chất lượng của nội kình càng cao; Vũ Vũ Tương, người được truyền lão giá và tân giá của họ Trần, hình dung loại kình này là "tự tùng phi tùng, tương triển vị triển" (tựa lỏng mà không lỏng, sắp mở mà chưa mở), "hành khí như cửu khúc châu, vô vi bất đáo" (hành khí như chuỗi châu chín khúc, không chỗ nào không đến), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất thôi" (vận kình như thép luyện trăm lần, không gì cứng mà không phá).
Nội kình là tiềm di mặc hóa (âm thầm chuyển hóa) mà xoay theo kiểu triền toàn, nó chảy cực kỳ nhanh như thủy ngân; nhìn ở ngoại hình, nó khinh linh mà không rơi vào phiêu phù, trầm trước mà không dính vào ngưng trệ, giàu ý thú triền ti quanh co. Nội kình chủ yếu là từ khi luyện quyền giá · 263 · rèn luyện ra, nó là một loại kình hồn hậu linh hoạt, cực kỳ trầm trọng mà lại cực kỳ hư linh. Khi đẩy tay nếu không có nội kình, dù đã làm được "nhất thân bị ngũ cung" (toàn thân có đủ năm cái cung), nắm được liên hệ hữu cơ của hô hấp súc phát, vẫn là không thể khiến đối phương "dẫn chi sử lai, bất đắc bất lai, phóng chi sử khứ, bất đắc bất khứ" (dẫn hắn đến, không thể không đến; phóng hắn đi, không thể không đi). Trần Hâm nói: "Đãn dẫn nhi bất kích, hữu thuận thế khiên chi sử tiến, dĩ đẩu tha nhân chi kình; đẩu túc tắc kỳ kình tự tán, toàn thể vô lực, dục tiến bất đắc thế, dục thoái bất cảm, thử dẫn tiến chi diệu cảnh dã" (chỉ dẫn mà không đánh, có thuận thế kéo hắn tiến lên, để đẩu kình của người; đẩu đủ thì kình của hắn tự tán, toàn thân không lực, muốn tiến không được thế, muốn lùi không dám, đây là diệu cảnh của dẫn tiến). Loại đẩu kình này chính là bắt nguồn từ nội kình sung mãn, cũng thuyết minh lúc Thái Cực quyền triền nhiễu vận chuyển cần nội kình, là có quan hệ với thực tiễn của đẩy tay.
Đẩy tay nếu chỉ dựa vào xúc giác nhạy bén, mà thiếu một loại nội kình hồn hậu khinh linh "cực nhu nhuyễn, nhiên hậu năng cực kiên cương" (cực mềm mại, rồi sau mới có thể cực cứng rắn), "vận kình như bách luyện cương, vô kiên bất thôi", thì ngang với có bị động mà không có chủ động, có vũ khí nhẹ mà không có vũ khí nặng, rất khó dẫn động đối phương, phóng kình gọn gàng; ngược lại, dễ bị đối phương dẫn động.
Mặt âm nhu khinh linh của Thái Cực quyền, ví như gió hòa mưa nhỏ; mặt dương cương trầm trước của Thái Cực quyền, ví như sấm sét muôn quân, cả hai cùng đủ mà hỗ dụng, mới được cái toàn vẹn của "Thái Cực lưỡng nghi, hữu nhu hữu cương" (Thái Cực hai nghi, có nhu có cương). Dương cương và âm nhu cả hai hòa hợp không kẽ hở, tức là hai nghi vẫn trở về Thái Cực. Phàm lệch về cương mà không nhu thì phải đề phòng té ngã; lệch về nhu mà không cương, khó đương đầu với địch mạnh. Một khi cử động, khinh nhu và trọng cương cùng phát, thì khắp nơi có thể khống chế trọng tâm của đối phương, khiến mất thăng bằng, khắp nơi có thể vượt qua điểm phòng thủ của đối phương mà tiến thoái khinh linh, khiến đối phương không biết tay ta từ đâu mà đến, đạt đến cảnh giới "xuất thủ bất kiến thủ, thủ đáo bất năng tẩu" (ra tay không thấy tay, tay đến thì không thể đi). Đó mới là diệu thủ của Thái Cực quyền. Nội kình tức là bao hàm đại dụng toàn thể của âm dương hỗn luân nhu hóa cương phát. Trần Hâm nói: "Nhược thị công phu thuần thục, do kỳ đại vô ngoại chi viên, tạo đáo kỳ tiểu vô nội chi cảnh, bất ngộ địch tắc dĩ, như ngộ kình địch, tắc nội kình tốt phát, như tấn lôi liệt phong chi tồi khô lạp hủ, thục năng đương chi" (nếu công phu thuần thục, từ cái vòng lớn không ngoài của nó, tạo đến cảnh nhỏ không trong của nó, không gặp địch thì thôi, nếu gặp kình địch, thì nội kình phát đột ngột, như sấm chớp gió dữ phá cây khô đập vật mục, ai có thể đương nổi). Nếu kình triền nhiễu chiêm liên niêm tùy không có nội kình sung túc, thì ra tay không có uy lực, hóa cũng hóa không tốt, phát cũng phát không tốt; muốn dẫn động đối phương thì không có tác dụng, liền không thể đắc cơ đắc thế mà chế người; muốn hóa động đối · 264 · phương đến kình, lại dễ bị ép bẹp mà thân pháp bị phá hoại, do đó ở vào cục diện bị động mất cơ mất thế mà bị chế ngự bởi người. Trần Hâm chỉ ra: "Khí bất do trung tâm đan điền nhi phát, tắc khí vô sở bản nhi thất ư cuồng vọng, tất chí thất bại. Thử nội kình chi bất khả bất nghiên luyện dã; quả năng nghiên luyện chí thử, tắc thần hồ kỳ kỹ hĩ" (khí không phát từ trung tâm đan điền, thì khí không có gốc mà mất vào cuồng vọng, ắt dẫn đến thất bại. Nội kình này không thể không nghiên cứu rèn luyện; nếu có thể nghiên cứu rèn luyện đến đây, thì kỹ thuật thần diệu vậy).
Nội kình là vô định hướng, mà cũng hữu định hướng, "vô định hướng" là "viên", "hữu định hướng" là "phương", hai giả hỗ biến, hỗ vi kỳ căn (làm gốc cho nhau), nó là "cương nhu kiêm chí nhi hỗn ư vô tích" (cương nhu đều đến mà hòa lẫn không vết tích), là linh hoạt thiện biến. Nhưng tất phải phương pháp đúng, cương nhu hư thực của Thái Cực lưỡng nghi tất phải kiêm bị, cộng thêm không ngừng khổ luyện, mới có thể công phu thượng thân (công phu lên thân), dần dần đạt tinh diệu. Nói suông "dẫn tiến lạc không", "tứ lạng bạt thiên cân" mà công phu không thượng thân, cương nhu không kiêm bị, cái gọi là "quyền vô công, nhất tràng không" (quyền không công phu, chỉ là một màn không), là không chịu nổi khảo nghiệm của thi đấu đẩy tay. Trần Hâm nói: "Súc biến vô hình tịnh vô cùng, vô cùng công phu tại bách luyện; bất tật nhi tốc đắc chân tể, như thử phương xưng Thái Cực quyền" (súc biến vô hình và vô cùng, công phu vô cùng ở trăm lần luyện; không nhanh mà nhanh, đắc được chân chủ, như thế mới gọi là Thái Cực quyền). Khi đẩy tay lấy chiêm liên niêm tùy của kình triền ti làm linh hồn, nhưng lại cần lấy nội kình cương nhu kiêm bị làm thống soái, đây là nguyên tắc huấn luyện của các bậc tiền bối Thái Cực quyền, cực kỳ biện chứng mà quán triệt hàm nghĩa của Thái Cực. Trong kình triền ti có sự quán chú của nội kình, mới có thể phát huy tác dụng "năng hối vạn pháp vi nhất, năng diễn nhất pháp vi vạn" (có thể hội muôn pháp thành một, có thể triển khai một pháp thành muôn). Trước (chiêu thức) là pháp, pháp có muôn ngàn; lấy một pháp chế một pháp, ngang với một chìa khóa mở một ổ khóa. Kình quán triệt ở trung tâm, kình là một loại nội kình cương nhu kiêm bị, lấy một quán muôn, lấy giản ngự phồn, ngang với nắm được chìa khóa tổng. Cho nên Vương Tông Nhạc nói: "Tuy biến hóa vạn thù, nhi duy lý nhất quán" (tuy biến hóa muôn ngàn khác nhau, mà chỉ một lý xuyên suốt). "Biến hóa vạn thù" là trước pháp, "duy lý nhất quán" là nội kình "chiêm liên niêm tùy bất đâu đỉnh" cương nhu, hư thực đều đủ, "tự tùng phi tùng", "tựu khúc tựu thân" (thì co thì duỗi). Thái Cực quyền coi trọng nội kình, được cái một thì muôn sự xong. Đẩy tay mang tính y liệu, giải trí không cần cầu nội kình, nhưng đẩy tay mang tính thi đấu thì tất phải cầu nội kình.
· 265 · Sáu. Tác dụng chỉ đạo về nguyên tắc của "Thái Cực Quyền Luận" đối với đẩy tay "Thái Cực Quyền Luận" là tác phẩm kinh điển về mặt lý luận của Thái Cực quyền, đối với đẩy tay cũng là một sự chỉ đạo lý luận rất tốt, tế tâm nghiên cứu nội dung của nó và dùng nó để chỉ đạo luyện tập đẩy tay, thì có thể được hiệu quả sự bán công bội (nửa công gấp đôi).
(I) Bốn nguyên tắc cơ bản của công phu đẩy tay Thái Cực quyền (1) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Thái Cực giả vô cực nhi sinh, động tĩnh chi cơ, âm dương chi mẫu dã; động chi tắc phân, tĩnh chi tắc hợp" (Thái Cực là do Vô Cực mà sinh, là cơ của động tĩnh, là mẹ của âm dương; động thì phân, tĩnh thì hợp). Cái mà cổ nhân gọi là "Thái Cực", là tượng trưng của đối lập thống nhất, là cơ khu của mọi động tĩnh; do Thái Cực sinh âm dương, như thuận nghịch, nhu cương, khinh trầm, viên phương, hư thực, khai hợp v.v. đều thuộc về đó. Khi vận động thì tận dụng ly tâm lực và hướng tâm lực, cho nên động thì phân, tĩnh thì hợp; phân là dương, hợp là âm. Trần Hâm nói: "Thái Cực lưỡng nghi, thiên địa âm dương, hạp tịch động tĩnh, nhu chi dữ cương" (Thái Cực hai nghi, trời đất âm dương, khép mở động tĩnh, nhu với cương), chính là chỉ quy luật này. Loại mâu thuẫn này tồn tại trong toàn bộ quá trình đẩy tay, và xuyên suốt từ đầu đến cuối của mỗi quá trình động tác. Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ nhất của đẩy tay, tức là nó phải phù hợp với pháp tắc mâu thuẫn của sự vận động sự vật, tức "mâu thuẫn và khai hợp".
(2) Quá trình hai bên dựng tay đối luyện khi đẩy tay, cũng là quá trình không ngừng sinh ra mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn. Cái mà "Thái Cực Quyền Luận" nói "vô quá bất cập, tùy khúc tựu thân" (không quá không thiếu, tùy cong mà duỗi), chính là chỉ động tác phải phù hợp với bốn điểm sau:
- ① Tất phải "vô quá" (không quá); vô quá gọi là "chiêm kình", quá thì gọi là "đỉnh bệnh" (bệnh chống);
- ② Tất phải "năng cập" (có thể đến); năng cập gọi là "niêm kình" (kình dính), bất cập gọi là "biển bệnh" (bệnh bẹp);
· 266 ·
- ③ Tất phải "tùy khúc" (theo cong); tùy khúc gọi là "liên kình" (kình liền), không theo mà cong gọi là "đâu bệnh" (bệnh mất);
- ④ Tất phải "tựu thân" (theo duỗi); tựu thân gọi là "tùy kình" (kình theo), duỗi quá sớm, gọi là "kháng bệnh" (bệnh chống).
Mọi quá trình của đẩy tay đều yêu cầu có đủ bốn công "chiêm niêm liên tùy" (dính dính liền theo), không sinh ra bốn bệnh "đỉnh biển đâu kháng" (chống bẹp mất kháng). Trần Hâm nói: "Chiêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận ngã hư linh, di gia chỉnh trọng" (chiêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng). Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ hai là "chiêm liên niêm tùy".
(3) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Nhân cương ngã nhu vị chi tẩu, ngã thuận nhân bối vị chi niêm; động cấp tắc cấp ứng, động hoãn tắc hoãn tùy; tuy biến hóa vạn đoan, nhi lý vi nhất quán" (người cương ta nhu gọi là tẩu (đi); ta thuận người bối gọi là niêm (dính); động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm; tuy biến hóa muôn mối, mà lý là một xuyên suốt). Đây là biện pháp để làm được bốn công, tránh bốn bệnh. Điều đó nói rằng, người cương thì ta nhu, dùng "tẩu" để dẫn hắn. Đây là sự vận dụng "quyển hợp" trong cục diện bị động. Đồng thời, để gián kình (thử kình), vận dụng thế và kình thuận toại, bức bách đối phương thành "bối", chuyển hóa thành ta cương người nhu, dùng "niêm" để bức hắn. Khi niêm tẩu, đối phương động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm, như thế thì có thể có bốn công mà không có bốn bệnh. Trần Hâm nói: "Tiền hậu tả hữu, thượng hạ tứ bàng, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp tương tương" (trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, chậm gấp cùng đưa nhau). Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ ba là "cấp hoãn niêm tẩu" (niêm tẩu gấp chậm).
(4) "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Do trước thục nhi tiệm ngộ đổng kình, do đổng kình nhi giai cập thần minh, nhiên phi dụng lực chi cửu, bất năng khoát nhiên quán thông yên" (từ quen chiêu thức mà dần ngộ hiểu kình, từ hiểu kình mà lên đến thần minh, nhưng không phải dùng sức lâu dài, thì không thể bỗng nhiên thông suốt vậy). Khi đẩy tay, sau khi thuần thục nắm được ba nguyên tắc cơ bản trước, thì có thể lĩnh ngộ kình của người, thăm dò động hướng của đối phương, cái gọi là hiểu được kình của người. Đến lúc này, có thể tín thủ nhi ứng (tùy tay mà ứng), đạt đến cảnh giới "thần minh" tự động. Đây là kết quả của nhiều năm nhiều lần suy ngẫm, thực tiễn và nghiên cứu lý luận cuối cùng đạt được sự khoát nhiên quán thông. Cho nên nguyên tắc cơ bản thứ tư là "thực tiễn và lý luận nhất trí".
· 267 · Bốn nguyên tắc cơ bản của công phu đẩy tay
| Số thứ tự | Nguyên tắc cơ bản | Cách làm cụ thể |
|---|---|---|
| 1. | Mâu thuẫn khai hợp | Động tác phải trong khai ngụ hợp, trong hợp ngụ khai để đạt đến thống nhất của mâu thuẫn đối lập. |
| 2. | Chiêm niêm liên tùy | Phải làm được đề thượng bạt cao (nhấc lên kéo cao), lưu luyến triền nhiễu, xả kỷ vô ly (bỏ mình không lìa), hắn đi thì ta ứng. |
| 3. | Cấp hoãn niêm tẩu | Khiến hành động niêm tức là tẩu, tẩu tức là niêm, và động gấp thì ứng gấp, động chậm thì theo chậm. |
| 4. | Thực tiễn và lý luận nhất trí | Kết hợp nghiên cứu sâu kinh nghiệm của người trước với việc mình dụng công nhiều. |
(II) Cách sắp xếp bản thân để vận dụng bốn nguyên tắc cơ bản "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền; bất thiên bất ỷ, hốt ẩn hốt hiển; tả trọng tắc tả hư, hữu trọng tắc hữu đạp, ngưỡng chi tắc di cao, phủ chi tắc di thâm; tiến chi tắc dũ trường, thoái chi tắc dũ xúc; nhất vũ bất năng gia, dăng trùng bất năng lạc; nhân bất tri ngã, ngã độc tri nhân; anh hùng sở hướng vô địch, cái giai do thử nhi cập dã" (đỉnh đầu hư linh, khí trầm xuống đan điền; không lệch không nghiêng, chợt ẩn chợt hiện; bên trái nặng thì bên trái hư, bên phải nặng thì bên phải tối; ngẩng lên thì càng cao, cúi xuống thì càng sâu; tiến thì càng dài, lùi thì càng gấp; một lông cũng không thêm được, con ruồi cũng không đậu được; người không biết ta, ta một mình biết người; anh hùng đi đến đâu cũng vô địch, đều do đó mà đạt tới). Cho nên, để vận dụng bốn nguyên tắc cơ bản, tất phải theo quyền luận trên đây làm tốt sáu điểm sau:
(1) Đỉnh kình phải hư hư lĩnh khởi (nhẹ nhàng dẫn lên), thì tinh thần tự nhiên nâng lên. Đồng thời khí trầm xuống đan điền. Do thượng lĩnh hạ trầm, khiến thân khu dài ra mà sinh tính đàn hồi thành băng kình (kình căng). Trần Hâm nói: "Diên lộ triền nhiễu, tĩnh vận vô hoảng, cơ phu cốt tiết, xứ xứ khai trương" (dọc đường triền nhiễu, tĩnh vận không hoảng, da thịt khớp xương, chỗ chỗ khai trương). Nếu là kình cứng đờ (ngạnh bang bang), thì sẽ mất băng kình, cũng liền không thể lại thông qua chiêm niêm để cầu hiểu kình.
(2) Lập thân cần trung chính an thư, có thế chống đỡ tám mặt, khiến thân khu khi đẩy tay không đến nỗi lệch về một bên hoặc dựa vào thân tay của đối phương, để tránh kình của mình bị người hiểu. Nếu lệch về một bên, thì không dễ thuận toại mà vận dụng công phu niêm tẩu.
(3) Trên tiền đề thần khí nội ẩn thì nhu, ngoại hiển thì cương, khi đẩy tay phải có · 268 · có tác dụng biến đổi cương nhu khi ẩn khi hiển, đây chính là biểu hiện của việc không ngừng gián kình trong quá trình cầu hiểu kình.
(4) Khi đẩy tay yêu cầu làm được hai tay có hư thực, hai chân có hư thực, một tay một chân trên dưới cũng phải phân hư thực, hình thành chỗ chỗ đều có một hư một thực này. Trần Hâm nói: "Hư thực kiêm đáo, hốt kiến hốt tàng" (hư thực cùng đến, chợt thấy chợt tàng); "thực trung hữu hư, nhân kỷ tương tham; hư trung hữu thực, thục trắc cơ quan" (trong thực có hư, người mình cùng xen; trong hư có thực, ai đoán được cơ quan). Đợi sau khi chuyển đổi hư thực thuần thục, chỉ cần chú ý một tay, tay kia và hai chân do trên dưới tương tùy, tự nhiên cũng liền theo đó linh hoạt chuyển đổi. Cho nên Trần Hâm lại nói: "Thiên cổ nhất nhật, chí lý tuần hoàn, thượng hạ tương tùy, bất khả không đàm" (nghìn xưa như một ngày, chí lý tuần hoàn, trên dưới tương tùy, không thể nói suông). Đây là cơ sở của gián kình, hóa kình và công phu đắc được hiểu kình.
(5) Đối phương ngẩng lên đến thì cao mà dẫn hắn, khiến có cảm giác cao không thể với mà mất trọng tâm; đối phương cúi xuống đến thì càng dẫn xuống dưới, khiến có cảm giác như đến bờ vực sâu, lay lắt muốn rơi; đối phương tiến bức thì càng dẫn càng hư, khiến có cảm giác dài không thể tới; đối phương lùi chạy thì niêm bức khiến có cảm giác bị truy bức. Đây là phù hợp với yêu cầu của hóa kình và phát kình của chiêm, niêm, liên, tùy, như thế thì có thể tránh phát sinh bốn bệnh đỉnh biển đâu kháng.
(6) Khi đẩy tay tinh thần phải nâng lên, như thế toàn thân mới có thể khinh linh quán xuyến, và phải khinh linh đến mức có sự nhạy cảm "nhất vũ bất năng gia" (một lông cũng không thêm được). Đồng thời phải triền ti theo kiểu xoáy ốc mà không ngừng biến động, phải xoay chuyển đến mức hình thành khí thế "dăng trùng bất năng lạc" (ruồi không thể đậu). Nếu động tác biểu hiện trì trọng bất linh, thì không dễ hiểu kình; nếu vận động mà không có triền ti, thì mất hóa kình, cũng mất kỹ xảo kình triền ti của bán hóa bán tiến, minh hóa ám tiến, tức hóa tức tiến. Không có hóa kình, thì biến thành so sức, liền không thành đẩy tay kiểu Thái Cực nữa. Có thể hóa mà không thể phát, có thể nhu mà không thể cương, cương nhu không thể tương tế, đều không phải cái toàn vẹn của Thái Cực lưỡng nghi.
Có được sáu công năng liệt kê trên, thì có thể quán triệt bốn nguyên tắc cơ bản của đẩy tay, đạt đến công phu hiểu được kình của người mà không bị người hiểu kình của mình, khiến thi đấu có thể ở vào thế bất bại.
· 269 · Sự vận dụng cụ thể của bốn nguyên tắc cơ bản
| STT | Mục chính | Giải thích |
|---|---|---|
| 1 | Hư linh đỉnh kình, khí trầm đan điền | Phải được thực hiện trong điều kiện tinh thần được nâng lên, khí đi xuống và toàn thân được kéo dài ra. |
| 2 | Bất thiên bất ỷ (không lệch không nghiêng) | Phải đứng cho thân mình ngay ngắn, chống đỡ tám hướng, xương cùng ngay giữa và thần xuyên lên đỉnh đầu. |
| 3 | Ẩn hiện bất thường | Khi ẩn thì mềm, khi hiện thì cứng; khi ẩn khi hiện, cứng mềm tương trợ. |
| 4 | Trái nặng thì phải yếu, trái nặng thì phải hư | Hai tay phân hư thực, hai chân phân hư thực; một tay một chân trên dưới đi theo nhau, đất phân hư thực. |
| 5 | Ngước lên càng cao, cúi xuống càng sâu; tiến vào càng dài, lùi ra càng gấp | Bốn mục liệt kê trên phải tuân theo mà thực hiện, tuyệt đối không được đi ngược lại; nó mô tả phương hướng của dính, liền, dán, theo. |
| 6 | Một lông cũng không thêm được, một con ruồi cũng không đậu được | Nhẹ nhàng linh hoạt đến mức một lông cũng không thêm được; xoay chuyển đến mức một con ruồi cũng không đậu được. |
| 7 | Không cho người biết, nhưng khéo biết người | Dính tức là chạy, chạy tức là dính; người khác không biết là đang dính hay đang chạy; bằng sự dẫn vào của dính và sự buông rỗng của chạy, thông qua dính chạy mà biết được người. |
(3) Đẩy tay trong Thái Cực quyền đòi hỏi dùng sức người để khắc chế tự nhiên "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Thuật này có rất nhiều môn phái bên cạnh; tuy thế thức có khác nhau, nhưng đại khái đều không ngoài việc mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh. Có sức đánh không sức, tay chậm nhường tay nhanh — ấy đều là khả năng tự nhiên bẩm sinh, không liên quan đến những gì đạt được do học lực. Xét câu 'bốn lạng gạt ngàn cân', rõ ràng không phải thắng bằng sức; xem hình ảnh một cụ già có thể chống đỡ cả đám đông, thì nhanh nhẹn làm được gì?" Do đó có thể thấy rằng đẩy tay trong Thái Cực quyền không phải so sức mạnh mà là so kỹ xảo. "Mạnh hiếp yếu, chậm nhường nhanh" là bản năng tự nhiên, không phải chức năng của kỹ xảo. Cái gọi là kỹ xảo, chính là thuận theo tự nhiên để khắc chế tự nhiên, đạt tới "yếu thắng mạnh, chậm thắng nhanh". Nguyên lý điểm tựa của đòn bẩy và sự chuyển hóa xoắn ốc trong thế giới tự nhiên chính là có chức năng "bốn lạng gạt ngàn cân". Đẩy tay vận dụng nguyên lý này thì có thể hóa giải mọi trọng lực, gọi là hóa kình. Có công phu hóa kình này thì có thể dùng nhẹ khắc chế nặng. Đồng thời, vận động của Thái Cực quyền là vận dụng lực ly tâm, và lấy eo · 270 · lấy sống lưng làm trục giữa, khiến mọi động tác đều đi theo vòng trong; đi vòng trong, và "tốc độ đường thẳng" tương đối chậm, mà vẫn có thể thắng được cái nhanh đi vòng ngoài. Đó là nguyên do của "người đến sau mà ta đến trước", cũng là then chốt của việc chậm thắng nhanh.
(4) Làm thế nào để phòng ngừa "bệnh song trùng"
"Thái Cực Quyền Luận" nói: "Đứng như cái cân bằng, động như bánh xe; lệch chìm thì đi theo, song trùng thì trì trệ. Thường thấy những kẻ nhiều năm công phu thuần thục mà không thể vận hóa, đều là tự để người khác chế phục; ấy là chưa ngộ ra bệnh song trùng vậy." Cái gọi là bệnh song trùng chính là hiện tượng bệnh lý khi hai bên trong đẩy tay giằng co bất động. Điều này hình thành do sự kháng đỉnh phát sinh trên tư thế và trên kình biệt. Để giải trừ bệnh này, trên thân thể phải "đứng như cái cân bằng", trên bộ pháp phải "động như bánh xe". Cái gọi là cân bằng, chính là đầu như kim chỉ, eo như gốc cây, hai cánh tay liên kết với nhau mà chuyển động như hai đĩa, khiến mình hình thành thân pháp giống như một chiếc thủy bình. Dùng thân pháp như vậy để thăm dò đối phương, thì nhẹ nặng phù trầm của đối phương không gì là không thể phân biệt rõ ràng. Nếu lệch chìm về phía mình, thì chạy để dẫn nó; nếu lệch chìm về phía đối phương, thì dính để theo nó; đây là công dụng "đứng như cái cân bằng" trong thân pháp. Sự xoay chuyển của hai cánh tay liên kết ở phần trên, sự biến đổi của hai chân đi theo nhau ở phần dưới, giống như một chiếc thủy bình lắp trên bánh xe hình cầu, có thể xoay chuyển trái phải, trước sau, trên dưới. Bộ theo thân xoay chuyển, thân theo mắt mà động, mắt và thân đi theo nhau, thì xoay chuyển tiến lui đều tự nhiên, đây là thành quả của "động như bánh xe" trong bộ pháp. Bởi vậy, nếu có thể dẫn vào theo ra, thì thân pháp và bộ pháp đều có thể tránh được hiện tượng bệnh song trùng.
Biện pháp phòng ngừa "hiện tượng bệnh song trùng"
| STT | Mục chính | Giải thích | |
|---|---|---|---|
| 1 | Đứng như cái cân bằng | Toàn thân có một sức bồng nhất định; chỉ dưới điều kiện thân đứng ngay giữa mới có thể đạt được sự cân bằng như thủy bình. | Dùng thân pháp như vậy để thăm dò đối phương, nhẹ nặng phù trầm không gì là không thể phân biệt rõ ràng. |
| 2 | Động như bánh xe | Dưới điều kiện lấy eo lưng làm trục giữa và hai cánh tay liên kết nhau, then chốt của hoạt động nằm ở chỗ trên dưới hư thực đi theo nhau. | Một tác dụng khác của động như bánh xe là khi đối phương sắp động thì chiếu theo mà cho, nếu đối phương cho kình thì xoay mà nhận lấy. |
· 271 · (5) Yêu cầu đạt tới hiểu kình trong khi tránh "bệnh song trùng"
"Thái Cực Quyền Luận" nói: "Muốn tránh bệnh này, phải biết âm dương; dính tức là chạy, chạy tức là dính; âm không rời dương, dương không rời âm; âm dương tương trợ, mới gọi là hiểu kình." Muốn phòng ngừa bệnh song trùng, về phương diện kình biệt, trước tiên phải hiểu đạo lý dính tức là chạy và chạy tức là dính, để đạt tới sự thống nhất của dính và chạy. Sự thống nhất của dính và chạy là do xoắn ốc mà có; đã thống nhất dính chạy, thì có thể tùy thời chuyển đổi lẫn nhau, và linh hoạt thay đổi phương hướng của dính và chạy. Trong khoảnh khắc thay đổi này, gọi là "thính kình①". Thính kình là dùng xúc giác và cảm giác trong cơ thể để thăm dò động hướng của kình nơi đối phương: nếu đối phương hơi xoay về phía sau trái hoặc sau phải, thì lập tức dùng dính theo thuận triền; nếu đối phương hơi xoay sang trái hoặc phải, thì lập tức dùng chạy theo nghịch triền. Đây là yêu cầu "đối phương không động, mình không động; đối phương hơi động, mình động trước". Do dính chạy thống nhất, nên hình thành âm dương tương trợ; do dính liền dán theo, nên đạt được công phu hiểu kình. Đó là diệu dụng của việc chuyển từ tránh song trùng mà có được hiểu kình.
Công phu đạt tới hiểu kình trong quá trình phòng ngừa bệnh song trùng
| STT | Cách tránh song trùng | Cách đạt được công phu hiểu kình |
|---|---|---|
| 1 | Phải biết âm dương | Phải biết đầu đuôi ngọn ngành động tác của đối phương và độ lớn của kình, phải làm được sự thống nhất của dính chạy, như chậm nhanh, nhẹ nặng, cứng mềm v.v., đây là cách thức cơ bản của hiểu kình |
| 2 | Dính tức là chạy, chạy tức là dính | Đây là khâu trung tâm của đẩy tay, nó thể hiện nguyên tắc thu tức là phóng, phóng tức là thu. Yêu cầu trong dính chạy phải như vòng tròn không có đầu mối. Nếu không thể dính chạy tương sinh, thì đẩy tay không có gì gọi là hiểu kình. |
| 3 | Âm không rời dương, dương không rời âm | Dính chạy là đường lối, âm dương là chất lượng. Biểu hiện cụ thể của nó là nhanh chậm xen nhau, mềm cứng tương trợ, tròn vuông tương sinh, nhẹ nặng đổi nhau, hư thực tương ứng, khai hợp tiếp nối. Bao nhiêu thứ ấy đều nằm trong động tác cụ thể của dính tức là chạy, chạy tức là dính. |
(6) Giai đoạn "thần minh" sau khi hiểu kình và ranh giới của xả kỷ tòng nhân "Thái Cực Quyền Luận" nói: "Sau khi hiểu kình, càng luyện càng tinh, ngầm nhận mà suy ngẫm,
- ① Cái gọi là thính kình, là dùng xúc giác của da và cảm giác trong cơ thể để thăm dò độ lớn, dài ngắn và động hướng của kình nơi đối phương.
· 272 · dần dần đạt tới mức tùy tâm sở dục. Điều này vốn là xả kỷ tòng nhân, nhưng nhiều người lầm mà bỏ gần cầu xa. Cái gọi là 'sai một ly, đi một dặm', người học không thể không phân biệt rõ". Trên cơ sở thuần thục, phải tiến thêm một bước nghiên cứu về lý luận, thông qua sự sờ mó khách quan và sự suy ngẫm chủ quan, khiến chủ quan và khách quan đạt tới thống nhất. Định hình động lực luyện được từ thực tiễn dần dần đạt tới mức tùy tâm sở dục, đạt tới giai đoạn "thần minh" tự động hóa. Đây là công phu cao nhất của đẩy tay. Tới giai đoạn này, vẫn phải phân biệt rõ ranh giới của xả kỷ tòng nhân, để cầu đạt sự vận dụng chính xác. Đẩy tay yêu cầu xả kỷ tòng nhân, đây là yêu cầu cơ bản để sinh ra dính liền dán theo. Nhưng tòng nhân phải có chừng mực, không thể mù quáng theo mãi; nguyên tắc của nó là: "theo gần chứ không theo xa". Xa thì cô quân thâm nhập, khiến mình ra khỏi vuông tròn. Đây là để người ta lợi dụng mà chế mình, là trao cán cho người. Trần Hâm nói: "Địch nếu trá dụ, không thể đuổi sát; nếu vượt qua giới hạn, tình thế khó xoay lại, huống chi một khi mất thế, dù hối cũng sao kịp". Điều này nói rằng, về phương diện này tuy khác biệt nhỏ, nhưng đối với được mất cuối cùng lại quan hệ rất lớn.
· 273 · Chương Năm: Quyền luận Thái Cực quyền thức Trần Trần Hâm để lại nhiều trước tác về lý luận Thái Cực quyền thức Trần; ông từng giảng giải tỉ mỉ từng thế về lý pháp và vận động, trở thành môn học chuyên môn của dòng họ Trần qua nhiều đời. Nhưng lý luận mà Trần Hâm trình bày tản mác trong các thiên, không đủ hệ thống, cũng không đủ tập trung. Tác giả (Cố Lưu Hinh) vốn yêu thích Thái Cực quyền và nghiên cứu tận cùng đạo lý của nó, nên đã phân loại trích lục quyền luận của Trần Hâm từ mấy cuốn sách, để tiện tham khảo và suy ngẫm khi luyện quyền.
Các quyền luận trích lục theo phân loại dưới đây chủ yếu căn cứ vào "Trần Thị Thái Cực Quyền Đồ Thuyết" do Trần Hâm soạn và phần trước tác của Trần Hâm trong cuốn "Trần Thị Thái Cực Quyền Hối Tông" do Trần Tích Phủ soạn. Cuốn sau hiệu đính sơ sài, sai chữ thiếu chữ khá nhiều; may được cụ Lý Kiếm Hoa dựa theo bản chép tay của nguyên cảo (nguyên tên là "Thái Cực Chân Kinh") để hiệu chính văn tự, nên gần như không còn sai sót.
Một hai trăm năm trước, Thái Cực quyền cũng là một loại quyền thuật mang tính kỹ kích, cho nên trong cổ quyền luận có nhiều phần lấy động tác của thức Trần lão giá làm ví dụ, xuất phát từ góc độ kỹ kích để luận thuật. Cuốn sách này để tiện nghiên cứu và chỉnh lý lý luận Thái Cực quyền, đặc biệt là để phổ biến đẩy tay Thái Cực quyền, nên cũng chọn dùng những quyền luận ấy cho thích hợp; mong độc giả phê phán mà tiếp nhận, làm được việc cổ vi kim dụng.
· 274 · Lược truyện Trần Hâm Trần Hâm, tự Phẩm Tam (1849–1929), người làng Trần Gia Câu, huyện Ôn, tỉnh Hà Nam. Ông nội là Trần Hữu Hằng, thúc tổ là Trần Hữu Bản, đều nổi tiếng về Thái Cực quyền gia truyền. Hữu Bản còn sáng tạo ra tân giá thức Trần. Cha là Trần Trọng Sinh (1809–1871), chú là Trần Quý Sinh (1809–1865); Hữu Hằng trung niên chết đuối ở hồ Động Đình, nên Trọng Sinh và Quý Sinh bèn đổi sang học quyền với thúc phụ là Hữu Bản.
Trọng Sinh có lưng vượn cổ hổ, vóc vạc hơn người thường; ba tuổi đã tập võ, khi lớn lên cùng em là Quý Sinh đều vào võ trường. Thời Hàm Phong, các bậc quyền gia ở Trần Gia Câu lấy Trọng Sinh, Quý Sinh và con của Trần Trường Hưng (1771–1853) là Canh Vân làm công phu tốt nhất; Trọng Sinh có thể vận dụng cây thiết thương nặng ba mươi cân để tác chiến, lại càng nổi tiếng vũ dũng. Trần Hâm cùng anh là Nghiêu theo cha học quyền. Nghiêu mười chín tuổi vào võ trường, · 275 · Ông hẹn Trần Tử Minh đến Trần Gia Câu sưu tầm sử liệu Thái Cực quyền, thấy di cảo của ông mà khen hay. Đầu xuân năm 1931, ông đề nghị với Quan Bách Ích, quán trưởng Quốc thuật quán Hà Nam, mua sách của ông; họ Quan bèn góp bảy trăm đồng mua được một bản từ Xuân Nguyên, giao cho Khai Phong Khai Minh thư cục xuất bản năm 1933, đóng chỉ bốn tập. Sau khi Trần Hâm mất, vì nhà nghèo nên quan tài để nhiều năm chưa chôn; Xuân Nguyên nhận được tiền nhuận bút mới lo việc mai táng. Năm 1935, Trần Tích Phủ (Chiếu Phi) biên soạn "Trần Thị Thái Cực Quyền Hối Tông" (bản Nam Kinh, hai tập) cũng thu vào đồ thuyết của ông, chỉ có điều bản được dùng là một bản thảo khác, nội dung hơi ít hơn sách trước, văn tự cũng đôi chỗ khác nhau. "Thái Cực Quyền Dẫn Mông Nhập Lộ" là bản giản minh của "Trần Thị Thái Cực Quyền Đồ Thuyết"; "Tam Tam Quyền Phổ" là bản tu đính quyền phổ Hình Ý theo lý pháp Thái Cực quyền — Đường Hào từng đọc qua sách ấy tại chỗ Xuân Nguyên, chỉ được phép sao chép mục lục, phần tu đính của ông ước chừng ba phần mười của nguyên phổ Hình Ý. Xuân Nguyên qua đời năm 1949, di cảo của Trần Hâm không biết lưu lạc nơi ai. Từ khi Trần Vương Đình đời thứ chín họ Trần ở Trần Gia Câu sáng tạo Thái Cực quyền, họ Trần đời đời tập quyền ấy, danh thủ xuất hiện liên tục, mà trước tác lại rất ít. Trải bảy lần truyền đến Trần Hâm mới bắt đầu coi trọng ghi chép văn tự.
(Tư liệu truyện này được biên soạn căn cứ vào "Trần Thị Thế Truyện Thái Cực Quyền Thuật" của Trần Tử Minh, "Ôn Huyện Trần Quân Mộ Minh" của Trương Gia Mưu, "Trần Thị Gia Thừa" của Trần Hâm và những điều Đường Hào thuật lại lúc sinh thời)
Một. Thái Cực Quyền Kinh Phổ Trần Hâm Thái Cực lưỡng nghi, trời đất âm dương, khép mở động tĩnh, mềm với cứng. Co duỗi qua lại, tiến lui tồn vong, một khai một hợp, có biến có thường. Hư thực đều tới, chợt hiện chợt tàng, cương nhu mỗi thứ một nửa, dẫn vào tiến tới tinh tường. Hoặc thu hoặc phóng, chợt căng chợt duỗi, đan xen biến hóa, muốn đè trước nâng. Trước phải có việc, chớ giúp chớ quên, thật tích lực lâu, mộc mạc mà càng tiến. Doanh hư có hình, ra vào không phương, thần để biết tới, trí để giấu lui. Khách chủ phân minh, trung đạo rực rỡ, kinh quyền dùng lẫn, bù ngắn cắt dài. Thần long biến hóa, ai đo được mênh mông? Dọc đường dằng dai, tĩnh vận không hoảng. Cơ phu cốt tiết, khắp chốn khai trương, không trước không sau, đón tiễn tương xứng. Trước · 276 · sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp nhanh nhạy, chậm gấp cùng nhau. Nâng cao lấy thấp, như nguyện được đền, không trệ nơi dấu vết, không sa vào hư không, chí thành vận động, bắt thả tùy ý, thiên cơ hoạt bát, hạo khí lưu hành. Giả thua trá bại, quyền hành chế thắng, thuận tới nghịch lui, khiến người khó lường. Tùy thời chế nghi, giấu diệu quyết bên trong, trên đi dưới đánh, tuyệt không thiên lệch. Đánh đông kích tây, trái phải đều nên, lạnh đi nóng tới, ai biết mối manh? Ngàn xưa một ngày, chí lý tuần hoàn, trên dưới đi theo, không thể nói suông. Tuần tự tiến tới, nghiên cứu kỹ càng, người chịu khổ được, cuối cùng tới vững chắc. Tới nhanh tới chớp, quấn quanh hồi xoay, lìa hình được giống, sao chẳng trăng tròn. Tinh luyện đã cùng cực, nhỏ nhất cũng là vòng; mặt trời đứng bóng thì xế, mặt trăng tròn thì khuyết. Cho nên như trá dụ, không thể đuổi sát, nếu vượt giới hạn, thế khó xoay về. Huống chi mất thế, dù hối sao kịp? Ta giữ cõi ta, không hèn không ngạo, chín khúc ruột dê, không thể nhường chút nào; nếu nhường người khác, người đứng ta ngã, gấp tranh phong, lên được chớ xuống; chiếm thêm một phần, ta giữ thế thắng, một người giữ ải, muôn người mất dũng. Dính liền dán theo, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng. Tỉ mỉ êm ái, trung quyền hậu kình, hư lung trá dụ, chỉ vì một chuyển; được thế nơi mạch tới, chuyển quan có khó gì? Trong thực có hư, người ta tham chiếu; trong hư có thực, ai đo được cơ quan? Không che không đỡ, không đỉnh không dây dưa (trì), không mềm không cứng, không thoát không dính, đột nhiên mà tới, người không biết vì sao, chỉ thấy như gió thổi đổ, ngã nhào tuyệt diệu, cõi linh khó nói thành lời. Thử hình dung một phen: trong tay có quyền, nên nhẹ thì nhẹ, châm chước không lệch; nên nặng thì nặng, như hổ xuống núi. Dẫn xem người tới, tiến do ta đi; tới nên nghe thật, đi quý thần tốc. Một lần dòm thế nó, một lần nhìn khe nó, có khe để thừa, không dám không vào, mất cơ hội này, e khó có lại; một điểm cõi linh, vì người chỉ ra. Về thân pháp, vốn không nhất định, không định mà có định, ở người tự dụng. Ngang dọc điên đảo, đứng ngồi nằm núp, trước cúi sau ngửa, kỳ chính tương sinh. Hồi xoay tựa nghiêng, tụ nhảy đều trúng (đều có trung khí thu phóng, chủ tể ở trong.) Ngàn biến muôn hóa, khó vẽ hình nó. Khí không lìa lý, một lời khả tận, khai hợp hư thực, tức là quyền kinh. Dùng sức lâu ngày, hoát nhiên thông suốt, ngày ngày đổi mới không ngừng, tự đạt thần thánh. Hỗn nhiên không dấu, diệu thủ không không, nếu có quỷ thần, giúp hư linh ta, há biết lòng ta, chỉ giữ một kính.
· 277 · Hai. Quyền phổ Thái Cực quyền Trần Hâm Trung khí (tức nguyên khí thái hòa, không lệch không nghiêng, không thái quá không bất cập) quán túc, tinh thần gấp trăm lần (mười năm dụng công, mười năm dưỡng khí). Lâm trận giao chiến, tuyệt kỵ tiến trước; nếu bất đắc dĩ, nếm nhẹ mang dẫn, tĩnh để chờ động, củng cố lũy lệ của ta. Trận đường hoàng, cờ chỉnh tề, có phòng bị thì không lo, để nó lén doanh; một dẫn một tiến, kỳ chính tương sinh, giả thua trá bại, biến bại thành công. Một dẫn tức tiến, chuyển (chuyển là từ dẫn mà chợt xoay) tiến như gió, tiến tới bảy phần, nhanh chóng đình lại. Binh hành quỷ kế, nghiêm phòng phía sau xâm nhập (trước sau đều là địch), trước sau trái phải, đều phải để tâm. Tiến bộ chớ chậm, không thẳng không theo hết, chân theo tay vận, vòng xoay như thần. Chợt lên (tay chân lên) chợt xuống (tay chân xuống), hoặc thuận (dùng thuận triền pháp, kình nó thuận) hoặc nghịch (dùng đảo chuyển pháp, kình nó nghịch); ánh mặt trời chiếu khắp, không rơi biên tế (trên đây là địch xâm ta). Ta tiến đánh người, khiến nó không phòng; nó nếu phòng được, ắt không phải diệu phương (bốn câu là ta xâm người). Đại tướng lâm địch, không đâu không cẩn thận; mặc nó vây quanh, cùng nhau tiến vào; chém tướng đoạt cờ, cái chân của bá vương. Chí lý Thái Cực, một lời khó hết; âm dương biến hóa, tồn tại ở người. Hơi dính hư ngụy (học và nghĩ dùng chung, phải hạ công phu thật) thì diệu lý khó tìm. (Quyền pháp có kinh có quyền, sinh cơ vô cùng, biến hóa do ta, không đợi suy nghĩ.)
Ba. Trần Hâm Thái Cực Quyền Luận Phân Loại Ngữ Lục① 1. Tâm tĩnh thân chính, dĩ ý vận động "Người học lên sân đánh quyền, đoan nhiên cung kính đứng, khép mắt nghỉ khí, hai tay buông xuống, thân trụ đoan chính, hai chân song song, trong tâm không có gì cả, một niệm không nghĩ gì, mục mục hoàng hoàng,
- ① Tất cả những gì tập lục đều căn cứ theo cách thức phương pháp luyện tập của thức Trần lão giá mà ghi ra, nhưng có thể dùng để tham khảo khi luyện tân giá, và có thể chứng minh lão giá nói chung là khó luyện, phức tạp.
· 278 · hỗn nhiên như cảnh tượng vô cực của đại hỗn độn, nên hình nó không thể gọi tên, gọi nó là Vô Cực, là tượng hình vậy."
"Thái Cực là sinh từ Vô Cực. Âm dương từ vi tế tới hiển trước, tuần hoàn không mối, tức là cơ sinh sinh của nó vậy. ... Lên sân đánh quyền, tay chân tuy chưa vận động, mà trong cái đoan nhiên cung kính ấy, cái cơ khai hợp âm dương của nó, cái số tiêu tức doanh hư của nó, đã đều gửi trong tâm phúc. Lúc này chuyên nhất chí, ngưng tụ thần, chuyên chủ ở kính, mà âm dương khai hợp, tiêu tức doanh hư, chỉ là chưa hiện hình thôi. Thời không thể gọi tên, cũng gọi nó là Thái Cực. Nói điều này để chỉ cho người học khi mới lên sân, trước hết rửa lòng gột nghĩ, bỏ đi vọng niệm, bình tâm tĩnh khí, để chờ nó động. Như vậy rồi sau mới có thể học quyền."
"Quyền gọi là Thái Cực, thật là sự vận hành tự nhiên của thiên cơ, sự khai hợp tự nhiên của âm dương, một chút cũng không giả gắng gượng; kẻ gắng gượng đều không phải lý tự nhiên của Thái Cực, không được gọi là Thái Cực quyền." "Tinh thần quý ở chỗ uẩn súc, không thể lộ ra góc cạnh."
"Tĩnh để chờ động." "Thái hòa nguyên khí tới lúc tĩnh, không tĩnh thì không thấy cái lạ của động."
"Không khoe không trương, độ lượng ung dung, tuy nói là tập võ, văn ở trong đó vậy."
"Thân phải lấy đoan chính làm gốc."
"Thân pháp đoan ngưng chớ nghiêng, thu liễm tinh thần, không có quyết khiếu nào khác; tâm bình khí hòa thì được."
"Người thân pháp chính, thân trụ đoan chính, không chỗ thiên lệch, hư linh hàm chứa bên trong, nên không sợ người khác đẩy ngã."
"Không lệch không nghiêng, không thái quá không bất cập."
"Không lệch không nghiêng, không phải nói về dấu vết hình tích, mà là nói thần tự nhiên được trung vậy." "Nếu kiêm mang pháp phủ ngưỡng co duỗi, thì quy củ mới hoàn toàn hợp nhất. Luyện lâu thuần thục thì khởi lạc tiến lui, xoay chuyển tự do, mà nhẹ nặng, hư thực, cương nhu đều phát cùng lúc."
"Đánh quyền vốn là để bị thân pháp; thân pháp có chính có tà, có thẳng có cong, có thuận có nghịch; có thiên về trước, có thiên về sau; có thiên về trái, có thiên về phải; có thiên về trên, có thiên về dưới;
· 279 · có ngồi trên đất, có bay trên không; có bó lại, có tản ra; các thứ thân pháp không thể kể hết, đều có trung khí để xuyên suốt. Điều này tùy lúc lấy ý hội mà tự biết."
"Thân tuy có khi nghiêng lệch, mà trong nghiêng lệch tự gửi trung chính, không thể chấp nê."
"Giá thức tức là khi thân pháp có khi nghiêng lệch, ấy cũng là cái thiên của trung chính; trong thiên có chính, có chân ý; có chân ý thì cả một mảng ý vị dằng dai của nó không giống với cứng đờ ưỡn ngực bá đạo, chảy vào phái cứng."
"Lấy hào nhiên chi khí trong tâm, vận khắp toàn thân; tuy có khi hình thể nghiêng tựa, mà trong nghiêng tựa tự có trung chính chi khí để chủ tể."
"Về thân pháp, vốn không nhất định, không định mà có định, ở người tự dụng: ngang dọc điên đảo, đứng ngồi nằm núp, trước cúi sau ngửa, kỳ chính tương sinh, hồi xoay tựa nghiêng, tụ nhảy đều trúng (đều có trung khí thu phóng, chủ tể ở trong), ngàn biến muôn hóa, khó vẽ hình nó."
"Thân pháp bất luận là đại thân pháp chuyển quan hay tiểu thân pháp quá giác, lấy linh động mẫn tiệp làm quý."
"Ai hiểu được pháp chuyển thân này, thì thần cơ biến hóa ở trong đó."
"Đánh quyền tâm là chủ."
"Lấy tâm làm chủ, mà ngũ quan bách hài không gì không nghe theo."
"Thiên quân có chủ tể, bách hài nghe theo."
"Vận dụng ở tâm, đây là chân quyết." "Trung hòa nguyên khí, tùy ý sở chi; ý chi sở hướng, toàn thần quán chú."
"Động tĩnh hoãn cấp, vận chuyển tùy tâm."
"Vận hóa toàn ở một tâm."
"Tứ thể theo tâm mà vận, quan hài đều vui mà thuận theo, mà cốt yếu đều lấy càn khôn chính khí mà hành vậy."
"Trong tâm không một vật gì, cực kỳ hư linh; một khi có chỗ chấp trước, thì không hư không linh, · 280 · Chỉ lấy tĩnh mà giữ gìn, nuôi dưỡng lòng thành cho đến khi động và tĩnh đều thích hợp, biến hóa khôn lường."
"Diệu cơ vốn phát ra từ tâm."
"Hỏi: chủ tể của sự vận hành là gì? Đáp: chủ tể ở tại tâm. Tâm muốn trái phải thay nhau vận hành, thì tay chân trái phải liền thay nhau vận hành; tâm muốn dùng kình triền ti để chuyển vòng thuận, thì hai tay trái phải liền dùng kình triền ti chuyển vòng thuận; tâm muốn trầm khuỷu áp vai, khuỷu liền trầm, vai liền áp; tâm muốn ngực bụng khép phía trước, kình lưng xoay xuống, khung ngực mở tròn, thì ngực hướng về trước mà khép, kình lưng xoay xuống, khung ngực liền mở tròn — không gì là không như ý. Tâm muốn khuất hai gối, hai gối liền khuất; chân phải chạy theo tay phải, chân trái chạy theo tay trái, mà gối cùng chân trái phải đều theo đó — bằng không thì sinh ra nhiều tì vết rối ren. Đó là lý do vì sao thân thể và tay chân không thể không theo tâm. Cho nên ta nói: tâm là chủ tể vận hành của một thân."
"Có người hỏi: đại khái của quyền đã được nghe rõ, song khi đánh không ra được thần tình, vì sao? Đáp: điều đó ở chỗ bình nhật phải bỏ lòng ham nhanh, như Mạnh Tử nói, tất phải có việc ở đó mà chớ cưỡng cho đúng, tâm chớ quên, chớ giúp cho lớn. Lúc lâm trận trước tiên phải bỏ cái khí khinh phù hoảng trương, thanh tâm quả dục, bình tâm tĩnh khí, mỗi thế đều theo khuôn phép, tích lâu công chín, rồi sau cái tầng tầng quanh co trong đó, trải hết cảnh khó, khổ qua ngọt tới, cơ thú tràn đầy, không thể ngăn được, trong tâm có tình có cảnh, tự nhiên đánh ra thần tình. Tóm lại, đó đều là việc sức người làm được; còn đến cái vô tâm thành hóa, là ở sự hàm dưỡng, ngày tháng ung dung, để chờ nó tự đến thì được vậy."
"Một mảnh linh cơ vẽ Thái Hòa, hoàn toàn nhờ tấc vuông [tấm lòng] mà biến ra nhiều, hữu tâm vận đến chỗ vô tâm, nước thu trong lắng hiện ra Thái A [bảo kiếm]."
"Quyền tuy là tiểu kỹ, đều gốc ở chính lý Thái Cực."
"Quyền tuy là võ nghệ, được chính đạo của nó (đạo Trung Dung — không lệch không nghiêng, không thừa không thiếu), thì không đâu là không thích hợp."
2. Khai hợp hư thực, hô hấp tự nhiên "Khai hợp hư thực, tức là quyền kinh."
"Lấy nguyên khí vốn có trong thân ta, vận hành trong thân ta, cái co duỗi qua lại, thu phóng cầm phóng, cũng chỉ là một khai một hợp với một hư một thực mà thôi."
"Một khai một hợp, thuật quyền hết ở đó vậy."
"Động tĩnh tuần hoàn, há có lúc gián đoạn! Điều ta nói là: một động một tĩnh, một khai một hợp, đủ hết cái diệu trong quyền."
"Một khai một hợp diệu nhập vi, trên dưới bốn bên tan vào cơ hóa, dẫu cho sáu đứa con [sáu căn] đều khéo miệng, cũng khó tả được bông tuyết bay."
"Khai hợp vốn không định, khuất duỗi thế liền nhau. Thái Cực phân âm dương, thần long biến vô phương."
"Khép mở cương nhu theo tự nhiên, một dương một ức lý tuần hoàn."
"Một khai một hợp, có biến có thường, hư thực cùng đến, chợt hiện chợt ẩn."
"Trong khai có hợp, trong hợp có khai; trong hư có thực, trong thực có hư."
"Trong thực có hư, trong hư có thực — cái diệu dụng tự nhiên của Thái Cực; đến lúc kết quả, mới ngộ ra cái tinh diệu của lý ấy."
"Cả thân cùng hợp thành một khối, thần khí không tán, mới có thể nhất khí lưu thông, hộ vệ khắp thân."
"Đánh quyền để điều dưỡng huyết khí, hô hấp theo tự nhiên. ... Điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan. ... Nhẹ nhàng vận hành, lặng lẽ dừng lại, chỉ lấy ý tứ mà vận hành."
"Đầu thẳng, mắt nhìn ngang; vai hợp với vai, khuỷu hợp với khuỷu, tay hợp với tay, gốc đùi hợp với gốc đùi, gối hợp với gối, chân hợp với chân. Bình tâm tĩnh khí; khi hợp thì trên dưới cùng hợp lại một chỗ, khí quy về đan điền, các pháp hợp đều dùng pháp triền nghịch (đảo)."
"Khai thì đều khai, hợp thì đều hợp." "Đến lúc hợp, khí ắt phải quy về đan điền."
"Một khai một hợp, không gì là không tự nhiên."
"Không chỉ lấy thế mà hợp, nên trước hết lấy thần mà hợp."
· 282 · "Hợp là hợp cái thần của toàn thân, không chỉ hợp bốn chi."
"Một khai một hợp âm dương đủ, bốn chi (hai tay hai chân) ân cần căng khớp xương."
"Mỗi ngày tinh tường ngắm đồ Thái Cực, một khai một hợp ở trong thân ta."
"Tâm phải hư; tâm hư thì bốn chi đều hư. Đan điền và kình lưng, gót chân phải thực; ba chỗ một khi thực, thì cái hư của bốn chi đều thành thực — đó gọi là hư mà thực."
"Lý âm dương của trời đất, không qua tiêu tức doanh hư mà thôi, cho nên Khổng Tử chuộng tiêu tức doanh hư. Đánh Thái Cực quyền cũng là tiêu tức doanh hư. Tức là thở, là khí hô hấp, là sinh trưởng; cho nên con của người ta gọi là tức [con], vì nó do mình sinh ra; nhân khí vi, nên gọi là tức. Tiêu là giảm, là lùi. Doanh là ở giữa đầy tràn. Hư là ở giữa trống không."
3. Khinh linh viên chuyển, trung khí quán túc "Có thể kính, có thể tĩnh, tự giữ được hư linh."
"Tâm thân không được sử khí, nhẹ nhàng vận động."
"Lấy linh động nhanh nhẹn làm chuộng."
"Hơn nữa tâm một khi hư, thì toàn thân đều hư; chỉ hư mới linh, linh đủ để ứng địch."
"Người đánh quyền, tay cực hư cực linh, vật có chạm vào liền biết, liền có thể tùy cơ mà ứng; không chỉ tay, mà sau lưng cả thân đều là hư linh."
"Qua lại khuất duỗi, như gió thổi cành dương; thiên cơ động đậy, sống động hồn nhiên, không chút trệ cơ."
"Lấy tấm lòng hư linh, nuôi cái khí cương trung."
"Còn như tay chân vận động, không ngoài một vòng, tuyệt không đi thẳng lại thẳng." "Vòng được vẽ có chính có nghiêng, không gì ngoài một vòng một Thái Cực." "Dọc đường triền ti, tĩnh vận không hoảng."
"Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."
"Lìa hình mà được tựa — nào phải trăng tròn, tinh luyện đã tột, nhỏ mấy cũng là vòng." "Vòng là toàn thân chuyển, không chỉ tay chân; mà tay chân ở ngoài dễ thấy, nên lấy tay chuyển mà nói."
· 283 · "Càng nhỏ càng nhỏ đến khi không còn vòng, mới về cái chân thần diệu của Thái Cực."
"Trung khí của đánh quyền đi tới đâu, ai có thể cấm ngăn!"
"Lấy hào nhiên chi khí mà hành, không đâu là không thích hợp."
"Tâm kình một khi phát, mà gân mạch khớp xương khắp thân không gì không theo; cái hình thành ở ngoài đều do cái phát từ trong — cho nên gọi là nội kình."
"Nội kình phát thế nào, hành thế nào? Phát từ tâm, hành nơi tủy xương của tứ chi, sung khắp cơ phu của tứ chi."
"Không trệ, không tức, không trái, không lìa, không lệch, không nghiêng — tức là trung khí."
"Trung khí được mười phần đầy đủ, khí thế thịnh túc."
"Quyền lấy trung khí vận hành, người ta mới tâm phục, thế là giáo hóa thành thiên hạ."
"Lấy dẫn chân làm chỉ; người học phần nhiều tính táo, chưa hạ công phu, trước đã thích đánh người, không biết xâm đến đâu, liền lấy nơi đó dẫn kích, không câu nệ định cách."
"Trung khí quán túc, vật đến thuận ứng, vật không thể trái."
"Quyền gia tay thành, có thể bình được chí mình, tự nhiên không có khí ngang."
"Trung khí vận đến tay mới là vận đủ."
"Ngón chân cái chờ khí của tay đi đủ rồi, mới cùng tay hợp lại một chỗ; lúc đó mới có thể đạp thực."
"Kình của nó đều phát từ trong tâm, nhập vào tủy xương, đạt ra ngoài tới cơ phu; là một luồng kình, không phải mấy luồng kình, tức là khí phát ra từ trong tâm. Được cái trung chính của nó tức là trung khí, nuôi nó tức là hào nhiên chi khí."
"Trung khí quán nơi giữa lưng."
"Nếu hỏi cái tin thật ở trong đó, phải tìm nơi khớp xương sống lưng."
"Trung khí từ trên huyệt Bách Hội, xuống quán huyệt Trường Cường, như một sợi chỉ xâu thành."
"Trung khí quán nơi giữa tâm thận, thông lên đỉnh đầu, xuống tới hội âm, ... trung khí sung thực ở trong, rồi sau khai hợp cầm tung, tự nhiên không trở ngại." "Trung khí ắt từ giữa cánh tay chậm rãi vận hành, không được hoảng trương sơ lược, thuận theo lẽ đương nhiên của nó, vận cái tự nhiên, chớ để lệch nghiêng, mà lấy tâm khí hành nơi giữa hai cánh tay — ấy là trung khí."
"Hình của nó như dừng, ý của nó không dừng, dần dần sung mãn nội kình của nó; ắt khiến kình từ trong tủy xương sung tới cơ phu, cho đến đầu ngón tay. Chờ nội kình mười phần sung túc, thì cơ trí của thế sau tự động."
"Nhất khí vận hành, tuyệt không dừng lại, thuần là hào khí lưu chuyển khắp thân, thế không thể ngăn."
"Chỉ nhờ toàn thân không linh, một luồng trung khí theo thế mà dương lên."
"Hai người đối địch, là quan hệ tính mạng; ngoài quán sát người, trong quán sát mình, biết mình biết người, trăm trận trăm thắng; mà một mực lấy trung khí ngự trị, không mất đạo đại trung chí chính."
"Lấy trung khí trong tâm vận nơi giữa tứ chi; đó là chỗ người ta không thấy mình, chỉ mình ta biết; phải luôn luôn lấy thần mà hội, lâu rồi tự tỏ."
"Dẫn đỉnh kình lên (đỉnh kình: trung khí của tâm. Dẫn, như nâng lên). Đỉnh kình ở đâu? Ở huyệt Bách Hội; ý chỉ cần dẫn giữ một chút (dẫn là dẫn cái tinh thần toàn thân của nó, khiến nó không lệch không nghiêng) là đủ, không được quá, quá thì cằm dưới treo lên, đứng không vững vàng. Đây là mấu chốt của một thân, nơi trung khí đi qua — không thể không biết. Trung khí lên thông Bách Hội, xuống thông hai mươi đốt sống; chỗ này một khi thông thì trên dưới đều thông, khí mạch toàn thân đều thông, tự nhiên không có tệ nạn nghiêng đổ. Hai gân sau ót là vật phò trợ trung khí; chỗ không có gân giữa hai gân là đường lưu thông lên xuống của trung khí, xuống giữa xương sống đến đốt thứ hai mươi mốt thì dừng. Tức là hai mạch Nhâm Đốc trước sau cũng đều phò trợ trung khí của ta.
Trung khí khó gọi tên nhất, mà đường trung khí đi cũng khó gọi tên nhất — không hình không tiếng; không hao công phu lâu dài thì không thể biết. Cho nên 'không lệch không nghiêng' không phải nói về dấu vết hình tướng, mà là nói cái tên của thần tự nhiên được trung. Tức là trung khí vận trong tứ chi cũng chính là dòng bên của trung khí này, không phải có một trung khí riêng khác. Chỗ này không lệch, rồi sau trung khí trong tứ chi đều không lệch; dẫu hình tích tứ chi biểu hiện nhiều thế lệch, mà trung khí lưu trong tứ chi tự nhiên không lệch. Ý này có · 285 · thể lấy thần mà minh vậy."
"Khí không phải có hai; cái mềm mà kình là trung khí, cái thuần cứng là hoành khí. Công dụng của nó: không lệch không nghiêng, không thừa không thiếu, là công dụng của trung khí, không phải thể của trung khí. Thể của trung khí tức là chính khí âm dương trong tâm ta, tức là cái 'hào nhiên chi khí phối đạo nghĩa' mà Mạnh Tử nói."
4. Triền ti vận động, thư sướng kinh lạc "Mọi kinh lạc đều có lợi cho quyền."
"Đánh Thái Cực quyền phải rõ kình triền ti; triền ti là pháp môn vận trung khí; không rõ điều này tức là không rõ quyền."
"Thái Cực quyền là pháp triền ti. Tiến triền, thoái triền, tả hữu triền, thượng hạ triền, lý ngoại triền, đại tiểu triền, thuận nghịch triền — mà phải không gì là vừa dẫn vừa triền, vừa tiến vừa triền, không thể mỗi thứ là một chiêu riêng; nếu mỗi thứ là một chiêu riêng, thì không phải âm dương lấy nhau làm gốc."
"Toàn thân đều là triền kình; đại lược lý triền ngoại triền đều là tùy động mà phát. Có tay trái trước, tay phải sau; tay phải trước, tay phải sau, mà hợp lại một cách thuận; cũng có khi tả lý hợp, hữu bối hợp; cũng có khi dùng phản bối kình mà hợp về phía sau lưng — mỗi thứ tùy theo thế của nó mà vận hành theo cách tự nhiên. Kình của nó đều phát từ trong tâm, nhập vào tủy xương, đạt ra ngoài tới cơ phu; là một luồng kình, không phải mấy luồng kình. Tức là khí phát từ trong tâm; được cái trung chính của nó thì là trung khí, nuôi nó tức là hào nhiên chi khí."
"Ý thú trong đó, chớ cắt đứt thần khí; thần khí không đứt thì huyết mạch tự nhiên lưu thông."
"Trong khoảng trời đất chưa từng có cái đi mãi mà không trở lại; cũng chưa từng có cái thẳng mà không cong."
"Vì vật có đối đãi, thế có hồi hoàn — lý không đổi của xưa nay." "Cái gốc của vệ sinh là diệu quyết hoàn khí. Có thể khéo vận khí, mới có thể vệ được sinh mệnh của mình."
"Tự nhiên phải theo thầy giỏi, lại nên tìm bạn cao; mỗi nơi theo khuôn phép; một sợi chỉ khai linh minh; một tầng sâu một tầng, tầng tầng ý vô cùng; một khai liền một hợp, khai hợp chuyền nhau kế tục."
"Ngũ vận lục khí tư biến hóa, võ thuật được đó tự thông thần."
· 286 · "Mạch Nhâm khởi ở Hội Âm, lên theo trong bụng đến Thiên Đột, Liêm Tuyền thì dừng. Mạch Đốc cũng từ Hội Âm khởi, qua Trường Cường, thuận sống lưng nghịch hành lên đến Bách Hội, xuống đến Nhân Trung thì dừng. ... Nhâm Đốc của thân người, nói theo bụng lưng, ... đều ở nơi trung, có thể chia, có thể hợp. Chia để thấy âm dương không lìa nhau; hợp để thấy hỗn luân không khe hở. ... Người ta có thể rõ Nhâm Đốc để vận khí giữ thân, ... hành thuật đạo dẫn, lấy đó làm cái gốc (khước bệnh diên niên). Đánh quyền để điều dưỡng huyết khí, hô hấp theo tự nhiên, quét trừ vọng niệm, trút hết trọc khí, trước định căn cơ, thu thị phản thính, hàm quang mặc mặc, điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan (tức đan điền); công lâu thì trong chớp mắt nước trung phát hỏa, trong tuyết hoa nở, hai thận nóng như nước sôi, bàng quang như lửa cháy, chân khí tự đủ. Nhâm Đốc như bánh xe, tứ chi như đá núi. Không niệm mà phát, thiên cơ tự động. Mỗi lần đánh một thế, nhẹ nhàng vận hành, lặng lẽ dừng lại, chỉ lấy ý tứ vận hành, thì thủy hỏa tự nhiên hỗn dung. ... Luyện hơn mười năm về sau, toàn thân hỗn độn, cực kỳ hư linh, không biết thân là ta, ta là thân, cũng không biết thần do khí sinh, khí tự có thần; vòng thì trúng quy, gấp thì trúng củ, không nghĩ mà được, không gắng mà trúng, ... không biết vì sao mà như vậy; cũng không biết Nhâm là Đốc, Đốc là Nhâm, trung khí là trung khí vậy. Lúc thời đều thích hợp, tự nhiên hợp nhịp. Đây nói sự lên xuống thuận nghịch của Nhâm Đốc, phò trợ trung khí để thành công. Khí động do thận mà sinh, tĩnh rồi vẫn quy túc nơi thận. Mỗi một hô một hấp, sự ra vào của chân khí đều ở đó. ... Tóm lại, dẫu nói ngàn lời vạn ngữ, không gì bằng thanh tâm quả dục, bồi cái bản nguyên, để dưỡng nguyên khí. Thân vốn cường tráng, đánh quyền tự hơn người một bậc."
"Kình này đều do trong tâm phát; mặt ngoài đùi cánh tay tựa như tơ quấn. Triền xiên thuận nghịch vốn có định; rất đáng nông sâu suy xét kỹ. Suy xét công phu thật lâu ngày, một khi khoát nhiên Thái Cực quyền; thân người mọi chỗ đều Thái Cực, một động một tĩnh đều hỗn nhiên."
"Kình cánh tay do tâm phát, hành nơi vai, qua khuỷu, đến ngón tay — đó là pháp thuận triền. Từ xương đến cơ phu, từ vai đến ngón tay, là xuất kình vậy. Từ ngón tay đến vai là pháp đảo (nghịch) triền; cái gọi là nhập kình là dẫn nó mà đến, khiến địch gần lại ta vậy."
· 287 · "Kình của hai chân đều do ngón cái chân dẫn khởi, qua Dũng Tuyền, lên qua mắt cá ngoài, triền vào trong, xiên lên, qua Tam Lý, vượt gối, qua Huyết Hải, đến gốc đùi; chỗ giữa hai gốc đùi gọi là đương, tức huyệt Hội Âm vậy (vì hai kình đối đầu nhau, đó là chỗ kết huyệt; chỗ này là nơi quy túc của kình chân, kình lưng hơi hạ xuống, hạ đến gốc đùi này mà chống mở, thì kình đương tự tròn). Vận động sau gót chân đạp đất, dần đến ngón chân thông qua Thông Cốc, Đại Chung, Ngoại Phì cũng như Ẩn Bạch, Đại Đôn, Lệ Đoài, thật sự đạp trên đất (ngón chân bàn chân phải bấu chặt đất, Dũng Tuyền phải hư, không hư thì ngón chân không dính lực, dùng không ra lực — ấy là trước sau thực, giữa hư).
Kình của quan thể, mỗi thứ theo kinh lạc của mình mà vận hành, không chút nào sai lệch."
"Một đi một lại vận một vòng, khí cơ trên dưới không dừng lại; từ xưa Thái Cực đều như vậy, cớ sao phải ngoài thân vọng mưu cầu."
5. Thượng hạ tương tùy, nội ngoại tương hợp "Một thân ắt khiến trên dưới theo nhau, nhất khí quán thông."
"Nội ngoại thượng hạ ắt theo, kình của nó không thể trái ngược."
"Người phát lệnh là tâm, người truyền lệnh là tay, người xem sắc là mắt. Đó là thuyết tam đáo của tâm, thủ, nhãn — thiếu một không thể."
"Trên dưới tay chân đều theo nhau; sau tiến về trước chuyển chớ chậm trễ."
"Không trước không sau, đón tiễn tương xứng; trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp cùng đưa."
"Tay trên vận thế nào, chân dưới vận thế ấy; trên dưới theo nhau, tự nhiên hợp nhịp."
"Cốt yếu của tay hoàn toàn ở bàn tay; ngón tay dẫn khởi sự vận động toàn thân, chân theo tay lại càng trọng yếu." "Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."
"Giữa ngực bụng theo tay chân mà vận; trên dưới nhất khí quán thông; nói động thì cùng động, nói dừng thì cùng dừng."
· 288 · "Đánh đầu thì đuôi động, tinh thần quán xuyến; đánh đuôi thì đầu động, mạch lạc khai thông; đánh vào giữa thì đầu đuôi đều động, trên dưới bốn bên khấu lại như cây cung."
"Nội ngoại nhất khí lưu chuyển."
"Tám thể (đỉnh, đương, tâm, nhãn, nhĩ, thủ, túc, yêu) then chốt ngài phải nhớ; sức người vận thành đoạt thiên công."
"Thái Cực quyền ngàn biến vạn hóa, không đâu là không kình; thế tuy không đồng, mà kình quy về một. Cái gọi là một: từ đỉnh đến chân, trong có tạng phủ gân xương, ngoài có cơ phu bì nhục; tứ chi bách hài liên kết mà thành một. Đập nó mà không nứt, đâm nó mà không tán. Trên muốn động thì dưới tự theo; dưới muốn động thì trên tự dẫn; trên dưới động thì phần giữa ứng; phần giữa động thì trên dưới hòa. Nội ngoại liên nhau, trước sau nương cần — cái gọi là 'nhất dĩ quán chi' [một sợi xâu suốt], há phải là nói cái ấy ư!"
"Tâm và thân không được sử khí, nhẹ nhàng tuân giữ quy củ, theo thế tự nhiên của nó mà vận. Lấy tay dẫn khuỷu, lấy khuỷu dẫn vai; dưới thì lấy chân dẫn gối, lấy gối dẫn đùi. Chỗ yếu của nó hoàn toàn ở lấy ngón tay ngón chân dẫn mà vận hành. Có người hỏi: tay chân hoàn toàn không dùng khí, thì vận động thế nào? Đáp: khí trong tay chẳng qua chỉ dẫn giữ vai cánh tay mà thôi, không được quá, quá thì không linh. Còn như chân, so với tay chỉ nặng hơn một chút."
6. Triêm trước quán xuyến, thế thế tương thừa "Một đạo của quyền là tiến thoái không ngừng, thần khí quán xuyến, tuyệt không gián đoạn." "Người mới học dùng công, trước cầu phục ứng, lai mạch chuyển quan, nhất khí tương sinh." "Thế trên thế dưới, nhất khí thừa tiếp, chớ để thần khí gián đoạn." "Đánh quyền hoàn toàn ở thế khởi; một khi khởi được thế, về sau không gì không được thế. Dẫu không có địch, tay không vận, cũng cảm thấy thừa tiếp được thế, cơ thế linh hoạt. Cho nên ta nói mỗi một thế hoàn toàn ở chỗ khởi; ở chỗ tiếp xương đưa mộng, thế kia hạ xuống thế nào, thế này dâng lên thế nào, phải cẩn thận suy xét. Lại hoàn toàn ở chỗ mỗi lần hạ xuống phải nghĩ thế nào mới tính là đi đến mười phần đầy đủ, không chút khiếm khuyết. Thần khí đã đủ, thế này tựa có thể dừng, mà cơ của thế sau đã động, muốn dừng mà lại không thể dừng; vì cái cơ muốn dừng sắp dừng của nó lại đã gọi dậy · 289 · thế dưới vậy. Cho nên ta nói: cảnh lúc này, tựa dừng mà không dừng (không dừng là vì thần chưa đủ), không dừng mà dừng (cái dừng chỉ một đường, thế dưới liền khởi)."
"Học Thái Cực quyền mỗi chiêu đều phải cẩn thận suy xét; một chiêu không suy xét, thì cơ trí tình lý của thế này rốt cuộc mờ tối. Tức là chỗ kế trên khởi dưới lại càng phải lưu tâm; chỗ này không lưu tâm, thì lai mạch không chân, chuyển quan cũng không linh động; một chiêu tự thành một chiêu riêng, không thể từ đầu đến cuối nhất khí quán thông. Không thể nhất khí quán thông, thì với Thái Hòa nguyên khí rốt cuộc khó hỏi bến."
"Bình thường đánh quyền, hoàn toàn ở một khởi một chuyển — cái gọi là 'đắc thế tranh lai mạch, xuất kỳ tại chuyển quan'. Lúc tay của thế này sắp khởi, ắt trước phải khiến tay thừa tiếp thế trên thế nào, không để cắt đứt thần khí huyết mạch; sau khi đã thừa tiếp, ắt nghĩ tay làm sao đắc cơ đắc thế. Lai mạch chân, cơ thế được, chuyển quan tự nhiên linh động. Có thể như vậy, ngày khác cùng người giao thủ, tự nhiên thân đứng trước ở đất không bại, chỉ huy như ý."
Mỗi thế sắp thành, "dấu như dừng, khí lại không dừng; ắt chờ nội kình chậm rãi vận đến mười phần sung túc, cơ của thế sau nhảy nhót muốn động, mới có thể đánh thông thế trên với thế dưới, giữa không cách ngại, nhất khí lưu hành. Không chỉ một thế như vậy; quyền từ đầu đến cuối, cuối mỗi thế đều như vậy."
"Tiếp xương đấu mộng, cẩn thận suy xét."
"Lý tinh pháp mật, điều lý lũ tích."
"Tầng lũy khúc chiết, đều đến chỗ tột cùng của nó."
7. Hư lĩnh đỉnh kình, khí trầm đan điền "Hỏi: mấu chốt của đánh quyền ở đâu? Đáp: ở dưới huyệt Bách Hội, từ Đại Chùy sau ót thông đến Trường Cường; chỗ động của nó ở hai mạch Nhâm Đốc."
"Huyệt Bách Hội dẫn cả thân."
"Đỉnh kình là trung khí xung lên đỉnh đầu vậy. Không dẫn thì khí sụp; dẫn quá thì không những khí toàn thân đều ở trên, gót chân không vững, bệnh treo ngược lên, mà đỉnh cũng mất cứng, Xoay trở không linh hoạt, cũng lộ ra vẻ vụng về, là ở chỗ giữ được mức giữa của "dường như có, dường như không" mà thôi."
"Đánh quyền hoàn toàn là đỉnh kình, đỉnh kình dẫn dắt tốt, thì tinh thần toàn thân được chấn hưng làm một."
"Cương lĩnh hoàn toàn ở đỉnh kình, cho nên đỉnh kình vừa dẫn lên thì tinh thần toàn thân đều chấn hưng." "Đỉnh kình, trung khí là một luồng chính khí; ý trong tâm vừa dấy lên là đi đến đỉnh đầu, trung khí tự nhiên dẫn lên, không phải có vật gì nâng nó lên, mà là ý như thế."
"Quyền từ đầu đến cuối, đỉnh kình quyết không thể mất; một khi mất đỉnh kình, tứ chi dường như không có chỗ nương tựa, hơn nữa không có tinh thần, cho nên tất phải dẫn lên, để làm cương lĩnh của toàn thân."
"Đỉnh kình dẫn lên, ý như trên đỉnh đầu phá tan trời, không được dùng khí quá mức."
"Đỉnh kình dẫn lên, nghiêng mà ngụ chính, khoeo chân mở ra (đầu gối mở ra) hợp lại (kình hợp giữ), như nửa vầng trăng."
"Trung khí ở trên từ huyệt Bách hội, ở dưới xuyên qua huyệt Trường cường, như một sợi chỉ xâu thành."
"Dẫn đỉnh kình lên — dẫn đỉnh kình không phải là nói cứng đạp vào hai gân lớn sau gáy và giữa hai tai, mà là trung khí nâng lên. Dường như hữu ý, dường như vô ý; không nhẹ không nặng; dường như có dường như không. Một chút linh kình chợt bùng trong tâm, chảy xuống đỉnh sau, không được nâng quá, cũng không được không tới; nâng quá thì treo lơ lửng ở trên, không tới thì khí lưu lại trong ngực, khó hạ xuống. Đây là kiểu đỉnh kình."
"Trung khí xuyên suốt giữa tâm và thận; ở trên thông với đỉnh đầu, ở dưới đạt tới hội âm."
"Đỉnh kình dẫn lên, trọc khí hạ xuống, trung khí tụ lại vào đan điền."
"Thân người lấy eo làm giới hạn giữa, khí đi lên đi xuống, ở giữa lấy eo làm ranh giới."
"Mạnh Tử nói: Chí là tướng soái của khí, khí là cái làm đầy thân thể. Tâm như tướng quân, khí như binh lính; tướng quân vừa ra lệnh thì binh lính đều nghe theo. Thanh khí thăng lên đi đến tay, trọc khí giáng xuống đi đến chân; khí đều đi đến đầu ngón tay mới dừng. Đan điền là chỗ quy túc của toàn bộ khí trong thân, như chỗ đóng quân của binh mã. Khí đi lên đi xuống dường như hai đọan, thực ra là một khí thông suốt."
"Huyệt Bách hội dẫn dắt toàn thân, phải khiến thanh khí thăng lên, trọc khí giáng xuống. Thanh khí làm sao thăng lên? Không bình tâm tĩnh khí thì không thể; trọc khí tất phải giáng xuống đến chân. Một thế đã xong, lên · 291 · [...] thể thanh khí đều khiến quy về đan điền, vì tâm khí vừa hạ xuống thì toàn bộ khí của toàn thân không có cái nào là không cùng hạ xuống."
"Kình của toàn thân phát ra ngoài, đều phát từ đan điền; thu vào trong, đều thu về đan điền; nhưng đều do tâm chủ tể, khắp nơi đều thấy khí tượng của thái hòa nguyên khí." "Khí quy về đan điền, trên hư dưới thực, trung khí tồn tại ở giữa, hư linh hàm chứa ở trong."
"Thế đã thành, tâm bình khí hòa, trung khí quy về đan điền."
"Khí của đan điền chia làm năm chỗ, thực ra là một khí thông suốt, trên dưới không được sụp đổ, ấy là một. Tâm khí vừa dẫn, khí đan điền thăng lên: sáu phần đến tim, lại một phần chia hai nhánh, ba phần thăng lên đến vai trái, ba phần thăng lên đến vai phải, đều từ trong khe xương vai xuyên đến các đầu ngón tay trái phải; cái ở trong khe xương gọi là trung khí, cái hiện nơi cơ phu gọi là triền ti kình (kình quấn tơ). Bốn phần còn lại cũng chia hai nhánh: hai phần hành nơi đùi trái, hai phần hành nơi đùi phải, đều từ trong tủy xương xuyên đến các ngón chân trái phải.
"Còn như thuyết trung khí quy về đan điền, không cần câu nệ, chỉ cần khiến khí giáng xuống bụng dưới dưới rốn mà thôi. Nếu xét kỹ, đan điền không phải là nguồn của khí, cớ sao riêng nói quy về đây? Đây bất quá chỉ nói đại ý mà thôi. Nếu truy đến nguồn, nguyên khí toàn thân đều xuất từ thận; thận thủy đủ thì khí tự nhiên mạnh; dưỡng ở vị, vị được dưỡng thì khí cũng mạnh; tàng ở can, can khí vừa động thì nghịch khí sinh ngang, khí không được bình; ngâm dưỡng ở tâm, tâm không vọng niệm thì tâm bình mà khí tự nhiên hòa; phế chủ thanh, thực ra là lấy tâm mà kêu lên, cơ của tâm đi đến đâu, không cần tiếng ra khỏi miệng mà tâm đã hiểu trước; mạnh ở đởm, đởm thì không sợ gì phía trước, khí cũng theo đó; vận ở tỳ, kinh này nhiều khí ít huyết, nghe tiếng thì động, động thì vận hóa không ngừng, tâm vừa động thì tỳ liền động ngay. Phụ thêm đại trường, đại trường nhiều khí ít huyết, lại là quan truyền đạo; lại bổ trợ bằng tiểu trường, tiểu trường ở trước trên rốn, sau bám vào sống lưng, cặn bã uế tạp không lưu, trọc khí đi mà thanh khí đến. Các kinh lạc trên đây đều có ích cho quyền, cho nên nói đến. Nếu chuyên nói về thận, thận là quan tác cường, kỹ xảo xuất ra từ đó, kinh này ít huyết nhiều khí, tàng tinh nơi chí, là chỗ ở của tinh thần, là gốc của tính mệnh. Thận có hai quả, mỗi quả hai [nhánh], một buộc vào tâm, một thông lên trên đến não; nơi khí sinh ra, thực bắt đầu từ đây, chỗ quy túc tất quy về đây. Còn như mệnh môn, thực là cửa ra vào của khí giữa hai quả thận, cho nên gọi là mệnh [...] · 292 · [...] môn."
"Mệnh mạch là thận, là nơi trung khí từ đó mà ra. Động thì ra, tĩnh thì vào. Có định mà không định — ý nói thế biến đổi không ngừng theo thời, cho nên hai khí âm dương biến đổi cũng không định." "Ra từ thận, vào từ thận, ấy là chân quyết."
"Thế Khoá Hổ định thức: trên lưng phía trên eo, huyệt Phách hộ và Cao hoang hướng về phía trước sườn mà hợp; phía trước ngực, hàng thứ nhất hai bên sườn — Uyên dịch, Đại bao — thuộc tam tiêu; hàng thứ hai — Triếp cân, Nhật nguyệt — cũng thuộc thiếu dương tam tiêu; hàng thứ ba — Vân môn, Trung phủ, Thực đậu, Hung hương — thuộc phế và tỳ; hàng thứ tư — Quyết âm, Kỳ môn, Thiên trì — thuộc can đởm; hàng thứ năm — dương minh đại trường: Khuyết bồn, Khí hộ, Lương môn, Quan môn — thuộc vị tràng; hàng thứ sáu — thiếu âm: Cách phủ, Thần tàng, U môn, Thông cốc — thuộc tâm thận; hàng giữa — Hoa cái, Tử cung, Ngọc đường, Đản trung, Trung đình, Cưu vĩ.
Hai bên sườn trái phải, từ Uyên dịch, Đại bao cho đến U môn, Thông cốc hai bên, đều hướng về Ngọc đường, Đản trung mà hợp lại; sườn trái phải đều ứng hô lẫn nhau — đây là thức của hai bên sườn trái phải phía trên eo.
Phía dưới eo, hai bên Khí xung, Duy đạo đều hướng về Khí hải, Quan nguyên, Trung cực mà hợp lại — đây là thức phía dưới hai bên sườn mềm."
"Thế nào gọi là thiểm thông bối (chớp xuyên qua lưng)? Lấy trung khí từ tâm giáng xuống qua rốn đến đan điền, lại từ đan điền cùng nhâm mạch nghịch hành mà vượt lên rốn, vượt Thượng quản, Hoa cái, Thiên đột, Liêm tuyền đến Thừa tương (môi dưới); đốc mạch tiếp lấy, nghịch hành Thủy câu, Nhân trung, Tố liêu (đầu mũi), vượt Thần đình, Thượng tinh, Tín hội, Tiền đỉnh cho đến Bách hội, giáng xuống vượt Hậu đỉnh, Cường môn, Não hộ, Phong phủ, Á môn, Đại chùy, Đào đạo, Thân trụ, Thần đạo, Linh đài, Chí dương, Cân súc, Tích trung, Huyền xu, Mệnh môn, Dương quan, Yêu du, cho đến Trường cường (đều là các du huyệt trên lưng sống), lại đến Hội âm thì cùng tận (ấy là nhâm mạch phía trước, đốc mạch phía sau, chỗ khởi đầu của hai mạch ở dưới). Trung khí từ Bách hội xuống thông Trường cường, Hội âm, ấy gọi là thông bối. Thiểm (chớp) là như người ôm giữ sau lưng eo, phía trước eo ưỡn mạnh về trước một cái, đầu và vai hạ xuống một cái, phía sau Trường cường và Hoàn khiêu (tức xương ngoài đùi) dùng sức bẩy mạnh phần bụng dưới của hắn, lật lên một cái, cho nên tay tự tan mở, chớp qua trước mặt từ trên đầu lưỡi, ngã ngửa trước ta. Ấy gọi là thiểm thông [...] · 293 · [...] bối."
"Thông bối là thế nào? Khi đầu và vai cắm xuống, mông vểnh lên một cái, thì đốc mạch từ huyệt Trường cường nghịch hành mà lên thông Bách hội, cho đến Nhân trung, nhâm mạch tiếp lấy giáng xuống cho đến đan điền — ấy là dẫn dương vào âm một vòng. Tay phải từ cánh tay trên nhấc lên, nhâm mạch liền từ đan điền nghịch hành mà lên cho đến huyệt Thừa tương; tay phải theo thân chuyển ngược, tay xuống dưới, đốc mạch từ Nhân trung nghịch hành qua đỉnh đầu, qua đỉnh sau, từ Đại chùy thuận hành mà xuống, lại đến Trường cường — ấy là từ âm phụ vào dương lại một vòng nữa. Đợi khi chân phải lui về sau chân trái, tay phải từ dưới nhấc lên đến trên, thì đốc mạch lại từ Trường cường nghịch hành mà lên, đã đến đỉnh đầu Bách hội rồi. Thế là đốc mạch vận lên đã hơn nửa vòng; đợi thế sau lấy Diễn thủ chùy hợp giữ lại, thì đốc mạch từ Bách hội xuống đến huyệt Nhân trung, nhâm mạch từ Thừa tương giáng xuống cho đến đan điền — ấy là ba vòng. Với một thế thông bối, mà đốc mạch lên xuống ba lần qua lưng nó, ấy gọi là thông bối.
Tay phải từ đầu đến cánh tay trên là thuận triền pháp (pháp quấn xuôi); từ cánh tay trên nhấc lên, chuyển qua thân, tay xuống dưới, lại từ dưới nhấc lên đến sau trên, cho đến thế sau Diễn thủ chùy, đều là nghịch triền pháp."
"Thế Diễn thủ chùy: thế này chân phải đạp sau dùng kình, kình từ đạp sau nghịch hành mà lên, đến trong đũng, lại thượng hành qua Ý xá, Hồn môn, Thần đường, Cao hoang, Phách hộ, đến Kiên ngu, lại từ Kiên ngu hạ hành vào Tiểu hải, chia vào Thủ tam lý, hạ hành Hợp cốc (ngón hai), Trung chử (ngón bốn), Uyển cốc (ngón út), cho đến đốt thứ ba của ngón thứ tư. Kình của chân phải dùng nghịch triền pháp, từ dưới nghịch triền mà lên, đến Hội âm, chéo vào Ý xá, cho đến Kiên ngu, lại dùng nghịch triền pháp quấn đến đầu chùy, mu bàn tay hướng lên, là hợp kình. Đốc mạch nghịch hành mà lên, từ Trường cường lên qua Bách hội, xuống đến Nhân trung; nhâm mạch từ Thừa tương tiếp giữ, hạ hành vào đan điền, trước sau chuyển một vòng, để trợ kình của quyền phải. Và việc dẫn đỉnh kình cũng hoàn toàn nhờ vào đốc mạch này. Đầu gối phải bên phải hướng vào trong hợp giữ kình. Trong ngực phải hư, chỉ hư thì mới linh, kình hướng về trước mà hợp. Kình chân hạ xuống, mông lật lên trên, thì phía trước Khí hải, đan điền và trong đũng tự nhiên hướng về trước hợp giữ kình; đũng không hợp thì hạ thể và bàn chân đều không vững, không hư thì xoay trở trái phải không linh, cho nên tất phải hướng về trước hợp giữ kình, đồng thời lấy hư viên.
· 294 · Diễn thủ chùy: kình của ngũ quan bách hài đều tụ vào nắm đấm.
Người diễn thủ dễ tham về phía trước; không biết rằng tham về phía trước quá mức, không những trái phải dễ bị hất lên, mà xoay trở trái phải không linh, dễ thất bại. Cho nên thà thiếu một hai phần, quyết không được vượt ranh giới một ly — ấy gọi là "nỏ mạnh đến cuối, không thể xuyên thủng lụa mỏng của nước Lỗ", là lỗi của việc quá mức. Người diễn chùy nên răn."
8. Hàm hung bạt bối, trầm kiên trụy trửu (ngậm ngực nhổng lưng, chìm vai rũ cùi chỏ)
"Ngực phải hợp giữ kình, lại phải hư."
"Ngực phải hư hàm như cái khánh."
"Ngực như khom lạy hướng về trước hơi cong, bọc giữ bốn phía."
"Giữa ngực bụng từ huyệt Thiên đột đến dưới rốn ở Âm giao, Khí hải, Thạch môn, Quan nguyên, như cái khánh gập lại như hình khom lạy — ấy gọi là ngậm giữ ngực, ấy là hợp giữ kình, phải hư."
"Bình tâm tĩnh khí, chớ để hoạnh khí lấp đầy trong ngực."
"Ngực phải hàm súc, khí giáng xuống đan điền, không để hoạnh khí lưu lại ở trên."
"Hoạnh khí nơi ngực cách dỡ xuống đáy chân; nếu không thể thì cũng nên dỡ xuống đến đan điền."
"Giữa ngực mở ra lỏng lẻo: ngực vừa lỏng thì toàn thân thư sướng. Không được hữu tâm, cũng không được vô tâm. Từ Hoa cái đến Thạch môn phải hư hư hàm giữ, chớ để hoạnh khí hoành hành trong ngực."
"Ngực cũng theo tay chuyển vòng."
"(Thế Bạch nga lượng sí) Kình trong ngực cũng như theo giữ tay phải và tay trái, trước từ phải xuống dưới, rồi trái lên trên đến phải, vòng một vòng lớn."
"Kình nội trong ngực như thái hòa nguyên khí chuyển vòng."
"Thái hòa nguyên khí vận hành trong ngực, một động một tĩnh hợp với nhẹ nặng."
"Đánh quyền, vận động hoàn toàn ở tay dẫn dắt, chuyển quan hoàn toàn ở lỏng vai; công phu lâu thì khe xương vai tự mở, không thể miễn cưỡng. Vai trái phải lỏng không xuống thì chuyển quan không linh. Và lỏng vai không phải là rũ vai; khớp xương mở thì vai tự lỏng xuống."
"Vai sụp xuống, không được đưa lên."
"Cơ quan chuyển vòng hoàn toàn ở vai, cho nên khe xương trong vai nên khiến cho mở rộng."
· 295 · "Cánh tay như thể treo trên vai vậy."
"Các huyệt Kiên ngu, Kiên tỉnh, Phù đột đều lỏng xuống."
"Khe xương ở đầu vai cánh tay phải mở; ban đầu chưa mở, không được khiến nó mở cưỡng. Khi công phu chưa tới mà tự mở, trong tâm nói đã mở, rốt cuộc vẫn chưa mở; tất phải khổ công lâu ngày, tự nhiên mới mở được, mới tính là mở. Chỗ này vừa mở, thì cánh tay toàn bộ qua lại co duỗi, như gió thổi cành liễu, thiên cơ lay động, sống động không chút trệ, đều buộc vào đây. Đây là chốt xoay của cánh tay, là chỗ liên quan tới linh động, không thể không biết."
"Hai vai phải thường xuyên lỏng xuống; thấy có nổi lên, liền lỏng xuống ngay; nhưng nếu bất đắc dĩ nổi lên, cứ để nó nổi, nổi xong liền lỏng. Không lỏng thì toàn bộ cánh tay chuyển đổi không linh. Cho nên nên nổi thì nổi, nên lỏng thì lỏng. Mỗi thế xong, ngực hướng về trước hợp lại, hai vai ứng hô lẫn nhau. Đây là thức của hai vai."
"Cúi vai một cái tựa, phá tường đồng."
"Hai cùi chỏ phải chìm xuống; không chìm thì vai nổi lên, không thích dụng cho việc dùng."
"Đầu cùi chỏ hướng xuống... đầu gối và đầu cùi chỏ trên dưới chiếu nhau."
"Cùi chỏ ở trước sau, trái phải, trên dưới, đều phải ứng hô hợp giữ kình."
9. Vận nhu thành cương, cương nhu tương tế (vận mềm thành cứng, cứng mềm trợ giúp nhau)
"Đánh quyền lấy mũi làm ranh giới giữa; tay trái quản nửa thân trái, tay phải quản nửa thân phải, mỗi chân theo mỗi tay mà động. Tâm thân không được dụng khí, nhẹ nhàng vận động, lấy tay dẫn cùi chỏ, lấy cùi chỏ dẫn cánh tay; khí trong tay chỉ đủ dẫn lên tay và cánh tay mà thôi, không được quá, quá thì sai vào cứng. Thượng thể tay vận động thế nào, hạ thể cũng theo đó, trên dưới tương tùy, ở giữa tự nhiên đều theo — ấy là một khí thông suốt. Kình đũng phải mở phải hư; đũng mở rồi thì tâm khí mới phát động."
"Cơ phu cốt tiết, khắp nơi khai trương."
"Muốn cứng trước phải mềm, muốn nâng trước phải nhấn."
"Người đời không biết, đều cho (thái cực quyền) là thuật mềm; nào ngờ từ khi ra công đến nay, ngàn lần đập trăm lần luyện (luyện thân này trăm lần thành hán sắt), cứng mà quy về mềm, mềm mà đạt đến · 296 · [...] nơi cương, cương nhu không dấu vết có thể thấy. Nhưng xét từ bên ngoài mà nhìn, dường như mềm, cho nên lấy mềm mà đặt tên, nào phải vậy sao? Và "mềm" là nói đối với "cứng" mà thôi. Thuật này không thể gọi là mềm, cũng không thể gọi là cứng, chỉ có thể đặt tên là thái cực. Thái cực là cứng mềm cùng tới, mà hòa lẫn không dấu vết. Công phu của nó nhiều, cho nên thành tựu của nó khó."
"Âm dương lấy nhau làm gốc, không thể chia làm hai đoạn."
"Thắng cứng thì dễ, thắng mềm thì khó."
"Mềm có thể thắng cứng; lấy lui làm tiến, ấy là đạo của Khôn. Khôn phối với Càn; Càn là cứng. Khôn cực mềm mà động thì cứng. Quyền này bề ngoài dường như mềm, thực ra cực cứng."
"Cho nên quyền thuật lấy mềm thắng cứng, nhân đó mà trúng."
"Đánh quyền há chẳng dùng khí? Không dùng khí thì toàn thân do đâu mà vận động? Nhưng vốn lấy cái khí cực đại cực cương của nó, để trực dưỡng không hại mà thôi."
"Một âm một dương, tất phải lấy trung quyền vận hành chúng. Trung quyền là không lệch không nghiêng, tức là trung khí trong tâm ta (không trệ không ngừng, không trái không lìa, không lệch không nghiêng, ấy là trung khí), cái gọi là hạo nhiên chi khí vậy."
"Khí này hành trong tay chân, không cứng không mềm tự ung dung."
"Hồn hạo lưu hành, tự nhiên một khí, nhẹ như hoa dương liễu, vững như vàng đá, oai hổ sánh mãnh, cánh ưng sánh nhanh; đi như nước chảy, dừng như núi đứng." "Lấy cái tâm hư linh, dưỡng cái khí cương trung."
"Một đoàn thái hòa nguyên khí trong ngực, tràn đầy bốn chi, cực mềm cực cứng, thực đủ đức cương kiện của Càn và thuận của Khôn. Khi nó tĩnh, âm dương sở tồn, không dấu vết có thể tìm; khi nó động, xem dường như cực mềm, thực ra cực cứng; cương nhu đều đủ — ấy gọi là: âm dương hợp đức."
"Vận động dường như mềm mà thực cứng, tinh thần tàng ẩn bên trong mà không lộ, ấy là thượng thừa."
"Khôn cực mềm, mà động thì cứng." "Nhu thuận tế dĩ cương trực."
"Càn cương Khôn nhu, âm dương cùng dùng, không lệch không nghiêng, không quá không tới."
· 297 · "Âm dương hỗ dụng, đạo trời sở tàng, động tĩnh không lệch, ấy là mạnh của ngươi."
"Luyện lâu thuần thục, thì lên xuống tiến lui, xoay trở tự do, mà nhẹ nặng, hư thực, cương nhu cùng phát."
"Mặc người bốn phía đến khinh, thân này toàn nhờ hư linh, quan hài không đâu không để ý,... mặc ngươi gian xảo nảy sinh, tự nhiên cương nhu đều đủ."
"Quyền lấy thái cực mà đặt tên, người xưa tất có cái thâm hiểu lẽ thái cực, rồi nơi toàn thân trên dưới, trái phải, trước sau, lấy tay chân xoay trở vận động, phát minh cái uẩn súc của thái cực, lập tên ấy để định thành phép; nghĩa cực tinh, phép cực nghiêm,... Tuy nói quyền là đạo nhỏ, mà đạo lớn thái cực tồn tại ở đó.... Người đời sau, việc không bắt chước cổ, không chảy vào cuồng vọng thì rơi vào lệch nghiêng; mà cầu một kẻ không cứng không mềm, đúng mực vừa khéo, để hợp với lẽ thái cực — e cũng gồ ghề khó lắm thay."
"Triều đình vua Ngu giữ trung, Khổng môn một lẽ xuyên suốt, ngoài ra không còn uẩn súc gì.... Thần diệu mà hiểu rõ, còn ở người."
"Nhưng cương nhu đã phân, mà phát dụng có khác. Tứ chi phát động, khí hiện ra ngoài, mà trong giữ tĩnh trọng — ấy là thế cương; khí đồn ở trong mà ngoài hiện nhẹ hòa — ấy là thế nhu. Dùng cương không được thiếu nhu, thiếu nhu thì vây quanh không nhanh; dùng nhu không được thiếu cương, thiếu cương thì thúc bách không mau. Cương nhu tương tế, thì niêm, du, liên, tùy, đằng, thiểm, đẩu, không, lôi, quán, tễ, nại, không đâu không được tự nhiên. Cương nhu không được dùng lệch, dùng võ há có thể xem nhẹ!"
10. Tiên mạn hậu khoái, khoái nhi phục mạn (chậm trước, nhanh sau; nhanh rồi lại chậm)
"Từ đầu đến cuối, phải chậm rãi vận hành; chậm được bao nhiêu cứ chậm, chậm đến mười phần công phu, thì có thể linh đến mười phần. Chỉ khi linh đến mười phần hỏa hầu, thì địch nhân theo không kịp ta, trở lại cho thuật của ta là kỳ dị — ấy là tình thường của người; nào ngờ đó là hiệu quả của công phu khó trước."
"Mỗi chiêu trong, ngũ quan bách hài thuận theo thế tự nhiên, mà khí âm dương ngũ hành · 298 · [...] vận hành ở trong đó, như có nói: 'Động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm; một động một tĩnh, lấy nhau làm gốc'. Ấy gọi là: 'Trong dương có âm, trong âm có dương'. Đây chính là bản nhiên của thái cực quyền."
"Luyện thái cực quyền có ba tầng công phu theo bước: bước thứ nhất, khi học nên chậm, chậm không nên ngây ngô; bước thứ hai, học rồi mà nhanh, nhanh không được rối loạn; bước thứ ba, nhanh rồi lại chậm, ấy là nhu; nhu lâu thì cương tự tại trong đó, ấy là cương nhu tương tế." (Một mục này là lời của Trần Phục Nguyên.)
11. Xuyên bôn khiêu dược, hốt thượng hốt hạ (luồn chạy nhảy nhót, bỗng lên bỗng xuống)
"Thanh long xuất thủy là pháp tiến thẳng bằng phẳng mà tung; chân trái theo chân phải tung về trước, trong đũng Hội âm, Trường cường kình theo đỉnh kình mà nâng lên; tung về trước như mèo linh vồ chuột, toàn là tinh thần, vừa hư vừa linh."
"Dẫn mông: chỉ đỗ ninh hạ (bấm vặn đầu ngón tay xuống) tiếp liền Thanh long xuất thủy; trong khe hai thế, trước tiên lỏng vai phải xuống, nửa thân phải theo đó cùng xuống, chân dưới lại dâng lên để tung về trước. Khi chưa tung, tay phải nắm như đầu roi da muốn đánh về trước, trước thu về sau, rồi từ sau lật lên hướng trước vòng một vòng lớn mà đánh tới, thân cũng theo đó tung về trước. Quyết của việc tung: tay phải phía trước dẫn về trước, các huyệt Ẩn bạch, Đại đôn, Lệ đoài, Khiếu âm, Hiệp khê của chân phải phía sau đều dùng kình. Kình từ đáy chân qua Dũng tuyền đến gót chân lật lên, nghịch hành mà lên: Nạo ủy trung, Điện môn, Thừa phù, Hoàn khiêu, chéo vào Phù biên, thượng hành vượt Hồn môn, Phách hộ, đến Phụ phân, lại chéo lên, từ Khúc viên qua Tiểu hải, chéo vào Chi câu, Dương trì, dọc đường lật chuyển. Mở tay ra, bó giữ năm ngón, tay phải dẫn thân tung về trước, chân trái dùng sức đạp xuống, theo tay phải đều đến trước; tay trái cũng theo thân đến trước. Sau khi chân rơi xuống đất, tay trái rơi xuống trước vú phải dừng lại.
Nội kình: nửa thân phải đều dùng hữu chuyển kình (hữu chuyển tức thuận chuyển, từ trong xoay ra ngoài), tay phải dùng triền ti kình từ nách thượng hành, từ trong xoay ra ngoài chéo quấn đến đầu ngón; chân phải cũng dùng triền ti kình thuận triền đến gốc đùi, thượng hành gặp Phù biên, cùng nhau thượng hành đến Phụ phân, phân hành đến nách, chéo quấn đến đầu ngón; tay trái chân trái phải dùng đảo chuyển kình, rồi sau mới có thể theo · 299 · Tay phải chân phải chuyển vòng rồi tung về trước, vốn hoàn toàn do tâm; tâm kình vừa nâng, phía trên đỉnh kình dẫn giữ, ở giữa đan điền kình phát, thượng hành lệch về nửa thân phải; phía dưới hai chân, chân phải dùng pháp nhảy, gót chân phải dùng sức đạp về sau. Trước khi tung, toàn là súc kình, tụ tinh hội thần, đoàn kết khí của nó. Khi vừa tung, thuần là kình vồ về trước, một mạch tiến thẳng. Tay phải dẫn chuyển dẫn tiến, như diều hâu vồ chim cút, chim ưng già bắt thỏ khôn — chí nó chuyên, thần nó ngưng, tiến nó nhanh, khí nó (khí tức phách lực) vững. Ngọc nữ xuyên toa bình tung thân pháp — đây cũng là bình tung pháp, càng xa càng tốt; đều phải tùy sức mình mà làm, tất được khí tượng ung dung, chớ lộ khí nỗ lực căng mới tốt."
"Nội kình của nó phát nguyên xa nhất: từ Bộc tham nghịch hành mà lên, vượt qua lưng vai sau đến Phụ phân, cho đến ngón tay phải."
"Ngọc nữ xuyên toa là thuận triền bình tung pháp.... Tiến như gió,... thủ pháp, bộ pháp, chuyển pháp, càng nhanh càng tốt,... Trên tuy nhờ tay, dưới càng nhờ chân; chân nhanh càng thể hiện năng lực nhanh tay,... Từ thế khởi đến thế chung, tay phải chân phải tuy là thuận triền pháp, mà pháp toàn thân đều là đảo chuyển kình, liền ba lần đuổi tiến, đều là tiến bộ. Về nội kình, từ đỉnh kình cho đến năm ngón chân, pháp đều như trước; từ đầu đến cuối lấy tay phải chân phải làm chủ, mà lấy tay trái chân trái phụ trợ. Tay phải thuận chuyển, tay trái tất là đảo chuyển — triền ti kình là cái đạo mà không thể rời trong khoảnh khắc vậy. Tay phải lấy chuyển vòng lớn làm thức; công lâu tự nhiên nhỏ mới tốt.
Thế này là đại chuyển thân pháp; trên tiếp Dã mã phân tông xuống, tay phải nhân thế nó ở dưới, không cho phép dừng một chút, liền lấy tay phải dùng triền ti kình từ dưới nắm lên, dọc đường hình chéo bay như gió về đông, ngón như dùi sắt; cũng hoàn toàn nhờ chân phải ở sau theo giữ tay phải, cũng dùng thuận triền ti kình giữ lấy thượng thế, đại phô thân pháp, tận lực về đông liền tiến ba bước lớn, mới đủ một vòng lớn khoảng tám chín thước. Nhất là phải nâng đỉnh kình cho tốt; đũng kình không được đầy đủ, thân theo tay phải như chim loan bay nhanh mà tiến, không thể ngăn cản; bước rơi dính đất liền nhấc lên.
Ngọc nữ xuyên toa đã thành thức, dường như cùng Lãm sát y đại đồng tiểu dị, nhưng thực ra rất khác nhau: kia thì thân không chuyển động, chuyên tâm vận tay phải chân phải, khí nó điềm, thần nó · 300 · …tĩnh; ở đây thì xoay thân, đưa tay chân để phòng thân chống địch, và lấy nhanh làm việc, cho nên khí mãnh liệt, thần bận rộn. Nếu bình thường không thực có công phu, lâm sự lấy khí quán xuyên toàn thân trên dưới, thì không thể được vẹn toàn. Vì sao? Bởi vì ra vào giữa đám đông, lấy ít địch nhiều, như chốn không người; chỉ kẻ trời sinh thần dũng, gan chính, khí cương, luyện tập thuần thục, mới có thể quét sạch mọi thứ dễ dàng vậy."
"Chuyển dẫn chuyển kích phá vòng vây, tựa như Chức Nữ giật khung cửi; thân này tiến thẳng, ai sánh kịp tốc độ, một mảnh thần hành xưa nay hiếm."
"Hai cất chân (nhị khởi thối) là pháp nhảy lên… Thế nào gọi là nhị khởi? Hai chân trái phải kế tiếp nhau cùng lìa đất bốn, năm thước mà nhảy lên, nên gọi là đá hai khởi. …Nhưng ắt chân trái trước dùng sức đá mạnh lên, rồi sau ngón chân phải đá cao, mu bàn chân phải phẳng. Nhị khởi thuần là pháp toàn thân thăng đề; thân pháp và tâm kình nâng lên trên, toàn thân tinh thần chấn phấn, đều nhảy lên giữa không trung, chân phải cao hơn đỉnh đầu mới hợp thức. Thân theo đỉnh kình dùng sức tung lên, càng cao càng tốt, có kẻ tung quá đỉnh đầu—không phải thân nhẹ lực lớn thì không thể. …Thân trên tung lên trên, thân dưới càng phải dùng sức theo mà tung lên; pháp tung ấy ắt hai chân dùng sức trước đạp xuống một cái, đạp càng nặng thì thân cất càng cao."
"Tâm kình vừa dẫn khởi lên, thì ngũ quan bách hài đều theo đó mà khởi."
"Hai chân liên hoàn cất lên, toàn thân nhảy giữa không trung."
"Trung khí đề lên, lực sống lưng cương mãnh; liên hoàn nhị khởi bay lên trên."
"Thế nào gọi là điệt xóa: thân từ giữa không trung rơi xuống, hai chân xoạc ra, mới là điệt xóa. Đồ này chân trái mở ra, chân phải co lại, đây là đơn điệt xóa; còn song điệt xóa, không dùng pháp tung thì không đứng lên được, không như đơn điệt xóa chỉ cần gót chân trái đưa tới trước một cái khép, đầu gối phải mở ra ngoài, gót chân phải dùng sức lật một cái, thì vừa cất vừa rơi ngay, so ra hơi dễ hơn, cho nên dùng nó cũng có thể thắng; và nay các nhà quyền đều như vậy, tạm theo đó."
"Điệt xóa và nhị khởi hồi chiếu ứng nhau: nhị khởi từ dưới lên trên, bay vào giữa không trung; còn thế này thì từ giữa không trung xuống dưới, hai chân chạm đất. Tự nhiên chiếu ứng, không làm gượng gạo—luật tạo quyền của người xưa nghiêm như thế."
"Trên kinh dưới thủ, ngươi phải nhớ; chân trái sát đất đá xuống tự lợi."
"Không phải vai khuỷu có thể phá địch; một chân đá đổ lầu Phượng Hoàng."
"Nếu thân này không thành hán sắt, thì ném xuống đất sao có tiếng kim thạch."
"Phá vây chính ở trong một cái đá; không có công phu lớn, không thể lấy một chân thắng người."
"Đá một gót (đặng nhất căn): ta dùng chân trái đá địch, địch dùng tay phải vuốt giữ chân ta, muốn vặn chân ta, khiến ta đau đớn ngã nhào, hoặc nâng chân ta lên muốn toàn thân ta lìa đất rồi lộn lên đánh. Ta bèn thuận thế xoay hai tay úp giữ đất, rồi lấy chân phải theo chân trái đi ngược lên, đạp vào tay phải đang giữ chân trái ta của địch, khó liền giải. Hoặc lại có địch giữ chân trái ta, ta liền lấy chân phải đá đỉnh khuỷu tay phải địch, hoặc đá vào khớp cổ tay chúng, đều có thể giải. Đây là đại lược của đá một gót.
Người ta đến đá ta, ta liền lấy chân trái lui về sau một bước, để phòng chúng đá vào cựu vĩ (jiuwei) và dưới thừa tương (chengjiang) đến yết hầu.
Nhưng cẩn thận vào lúc đá thì đã muộn; không bằng cẩn thận vào lúc thế trên sắp đá—thấy đá được thì đá, không đá được thì thôi, không được vọng dụng cái đá của mình.
Dẫu có khe hở để thừa, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá các huyệt quan khẩn, không quý đá vào bắp đùi rộng và thịt dày nơi không chạm đến chỗ đau ngứa. Đây là yếu quyết; kẻ đá phải biết."
"Thế Dã mã phân tông: hai tay nắm đất xoay như bay, một tuyến giữa xuyên thẳng không nghiêng. Hai tay sát đất mà lên, toàn thân trên dưới đều giữ được; trung khí từ huyệt Bách hội ở trên thấm xuống huyệt Trường cường, như một tuyến xuyên thành. Hai tay như hai vòng tròn, trên dưới lẫn nhau, thay phiên mà múa; cương của nó không gãy, nhuệ của nó vô song, chuyển của nó không ngừng—cho nên có thể chống địch."
"Thế Phô địa cẩm ứng với điệt xóa: điệt xóa từ không trung thả thẳng xuống, chân phải giậm đất như tiếng kim thạch, để giậm chân địch; chân trái đá vào xương ống chân địch, có thể phá dũng khí của chúng. Tay phải mở cánh tay sát đất mà lên, tay trái xông tới trước để đẩy ngực địch; đây thì lấy mông đùi ngồi về sau mà ngồi lên đầu gối người ta, nắm tay phải cong có ý muốn đánh tới trước, chân trái mở ra—nếu không được thắng, hai tay · 301 · …luật quyền nghiêm như thế."
"Trên kinh dưới thủ, ngươi phải nhớ; chân trái sát đất đá xuống tự lợi."
"Không phải vai khuỷu có thể phá địch; một chân đá đổ lầu Phượng Hoàng."
"Nếu thân này không thành hán sắt, thì ném xuống đất sao có tiếng kim thạch."
"Phá vây chính ở trong một cái đá; không có công phu lớn, không thể lấy một chân thắng người."
"Đá một gót (đặng nhất căn): ta dùng chân trái đá địch, địch dùng tay phải vuốt giữ chân ta, muốn vặn chân ta, khiến ta đau đớn ngã nhào, hoặc nâng chân ta lên muốn toàn thân ta lìa đất rồi lộn lên đánh. Ta bèn thuận thế xoay hai tay úp giữ đất, rồi lấy chân phải theo chân trái đi ngược lên, đạp vào tay phải đang giữ chân trái ta của địch, khó liền giải. Hoặc lại có địch giữ chân trái ta, ta liền lấy chân phải đá đỉnh khuỷu tay phải địch, hoặc đá vào khớp cổ tay chúng, đều có thể giải. Đây là đại lược của đá một gót.
Người ta đến đá ta, ta liền lấy chân trái lui về sau một bước, để phòng chúng đá vào cựu vĩ (jiuwei) và dưới thừa tương (chengjiang) đến yết hầu.
Nhưng cẩn thận vào lúc đá thì đã muộn; không bằng cẩn thận vào lúc thế trên sắp đá—thấy đá được thì đá, không đá được thì thôi, không được vọng dụng cái đá của mình.
Dẫu có khe hở để thừa, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá các huyệt quan khẩn, không quý đá vào bắp đùi rộng và thịt dày nơi không chạm đến chỗ đau ngứa. Đây là yếu quyết; kẻ đá phải biết."
"Thế Dã mã phân tông: hai tay nắm đất xoay như bay, một tuyến giữa xuyên thẳng không nghiêng. Hai tay sát đất mà lên, toàn thân trên dưới đều giữ được; trung khí từ huyệt Bách hội ở trên thấm xuống huyệt Trường cường, như một tuyến xuyên thành. Hai tay như hai vòng tròn, trên dưới lẫn nhau, thay phiên mà múa; cương của nó không gãy, nhuệ của nó vô song, chuyển của nó không ngừng—cho nên có thể chống địch."
"Thế Phô địa cẩm ứng với điệt xóa: điệt xóa từ không trung thả thẳng xuống, chân phải giậm đất như tiếng kim thạch, để giậm chân địch; chân trái đá vào xương ống chân địch, có thể phá dũng khí của chúng. Tay phải mở cánh tay sát đất mà lên, tay trái xông tới trước để đẩy ngực địch; đây thì lấy mông đùi ngồi về sau mà ngồi lên đầu gối người ta, nắm tay phải cong có ý muốn đánh tới trước, chân trái mở ra—nếu không được thắng, hai tay · 302 · …bên phải ấn xuống đất, dùng quét đường tiên (tảo đường tiên) để quét ống chân dưới của quần địch, thì khó tự giải. Đây là lấy đồng loại ứng hô nhau như thế. Lại ứng với Kim kê độc lập: Kim kê độc lập dựng chân trái lên, còn đây thì chân trái nằm ngang; Kim kê lấy đầu gối phải húc người, đây cũng lấy đầu gối phải co lại; Kim kê độc lập buông tay trái xuống, cánh tay phải duỗi lên trên, còn đây thì tay phải co lại, tay trái duỗi lên trên—cho nên trên dưới ứng hô nhau. Lại ứng với nhị khởi: nhị khởi thân bay giữa không trung, còn đây thì thân rơi xuống đất—cho nên cũng lấy trên dưới mà ứng hô."
"Trước sau trái phải, trên dưới bốn bên, chuyển tiếp linh mẫn, chậm gấp cùng đi; nâng cao lấy thấp, như nguyện được thỏa. …Lên đánh xuống đánh, quyết không thể lệch; thanh đông kích tây, trái phải đều thích hợp. …Ngang dọc nghiêng đổ, ngồi đứng nghiêng thẳng, trước cúi sau ngửa, kỳ chính sinh ra nhau, hồi toàn tựa nghiêng, tích dược đều trúng (đều có trung khí phóng thu, dẫn trong đó)."
"Chân theo tay vận, tròn chuyển như thần, bỗng lên (tay chân hướng lên) bỗng xuống (tay chân hướng xuống), hoặc thuận (dùng pháp thuận triền, kình của nó thuận), hoặc nghịch (dùng pháp đảo chuyển, kình của nó nghịch)."
"Đảo quyển hồng là lui hành để tránh trái phải; Bạch nga lượng sí là hữu dẫn tả kích, kiêm thượng dẫn hạ kích pháp; Lâu tất ảo bộ là lục phong (trên dưới, trước sau, trái phải đều phong kín cửa), tứ tị (tứ tị là đông tây nam bắc bốn phương khiến người không có kẽ hở để công); Thiểm thông bối là tiền thiểm (từ sau thiểm tới trước), hậu hoạt (là phía sau không ấn được, mạnh ấn thì trượt mà ngã) tiến kích pháp; Lãm sát y cùng Đan tiên đều là nhất dẫn nhất tiến (chữ "tiến" này là tiến mà kích) pháp; Vận thủ là tả hữu nhất dẫn nhất tiến kích pháp; Cao thám mã là tả quăng bối chiết khuỷu pháp; Tả hữu sáp cước là hạ thể tiền công đặng pháp; Trung đan tiên là tả hữu thượng hạ thủ túc tịnh kích pháp; Kích địa chùy là công hạ pháp, sau thân kiêm hoạt điệt pháp. Khiếu khiếu lấy mệnh môn giữa hai thận trong hai lưng làm quản kiện khu nữu của thượng hạ thể; quản kiện trên dưới đều là đảo chuyển kình; thân mang trắc thiên trú, hữu hậu hiếp hướng lên, tả hậu hiếp hướng xuống, kình đảo hạ tốt, chân đặng vững, người gặp phải sau lưng, thân liền xoay chuyển, càng nhanh càng tốt, nếu theo được túc pháp, thì người tự trượt mà ngã. Đá nhị khởi cùng đá một chân, đặng nhất căn là đảo chuyển đại chuyển thân pháp, kiêm lấy hai chân · 303 · …công pháp (tay đương chân dụng, chân đương tay dụng vậy); Diễn thủ chùy, Tiểu cầm đả là tiền công thượng hạ pháp; Bão đầu thôi sơn là nghịch chuyển (nói về thân) tiến thôi pháp; Đan tiên là thuận chuyển (thuận chuyển cũng là nói về thân pháp) tả hữu dẫn kích pháp.
Trên đây vài chục thế là lấy một người địch vài chục người trong đại chiến; còn phương pháp tránh địch, không vượt quá trên dưới hai bên—bên nào căng thì trước giải vây bên ấy; khi chúng đến cùng một lượt, trung khí vừa động, liền khiến tất cả cùng lượt tản ra. Không có công phu thì không thể làm được."
(Phụ chú: Các thức quyền nêu trên đều là thức của Trần thức lão giá; ghi lại để tham khảo.)
12. Cương nhu câu mẫn, nhất phiến thần hành "Công phu của vận động, thì biến cương thành nhu, luyện nhu thành cương; cương nhu đắc trung, mới thấy âm dương. Cho nên quyền này không thể lấy cương mà gọi, cũng không thể lấy nhu mà gọi, chỉ lấy cái danh vô danh của Thái cực mà gọi."
"Khi nó tĩnh, âm dương sở tồn, không dấu vết có thể thấy; khi nó động, trông như chí nhu, kỳ thực chí cương; trông như chí cương, kỳ thực chí nhu. Cương nhu hỗ vận, không đầu mối có thể tìm."
"Thái cực lý tuần hoàn, tương truyền bất kế niên; trong đó có tinh nghĩa, động tĩnh đều vô thiên… Khai hợp nguyên vô định (hoạt bát bát địa), khuất thân thế tương liên (khước hữu nhất định). Thái cực phân âm dương, thần long biến vô phương; thiên địa vi phụ mẫu, ma đãng nhu dữ cương; sinh sinh nguyên bất dĩ, kỳ chính bất tầm thường. Càn khôn như nang dược, thái cực nhất đại nang; doanh hư tiêu tức cố, giai tại thử trung tàng. Chí chung phục tự thủy, nhất khí vận trì trương; hữu hình quy vô tích, vật ngã lưỡng tương vong."
"Hạp tịch cương nhu thuận tự nhiên, nhất dương nhất ức lý tuần hoàn."
"Chung nhi phục thủy, thủy nhi phục chung; duy thủy dữ chung, tuần hoàn bất cùng."
"Thái cực bất quá âm dương chi hỗn luân nhĩ. …Mẫn nhiên thanh xú chi câu vô, tiêm xảo tất bị giả, hóa công dã. Hồn hồ điêu khắc chi bất tác."
· 304 · "Một đến một đi vận một vòng, khí cơ trên dưới không dừng lại."
"Thiên cơ hoạt bát, hạo khí lưu hành; động tĩnh hoãn cấp, vận chuyển tùy tâm. …Chí tật chí tấn, triền nhiễu hồi toàn; ly hình đắc tự, hà phi nguyệt viên. Tinh luyện dĩ cực, cực tiểu diệc quyển."
"Thuần hồ thiên tắc đả quyền giai tùy thiên cơ động đãng, mạc phi tự nhiên nhi nhiên, hoạt bát bát địa; Thái cực nguyên tượng, giai tòng ngô thân lưu lộ."
"Nhân thân xứ xứ giai Thái cực, nhất động nhất tĩnh câu hồn nhiên."
"Chí hư chí linh, nhất cử nhất động, câu thị Thái cực viên tượng."
"Viên chuyển tự như, hồn hạo lưu hành, tuyệt vô trệ cơ; mỗi thế hoàn nhưng quy đáo hồn nhiên nhất Thái cực khí tượng, tuyệt vô tích tượng khả tầm, đoan tự khả chỉ."
"Đả quyền thục nhi hựu thục, vô hình tích khả nghĩ, như thần long biến hóa, tróc mạc bất trụ; tùy ý cử động, tự thành pháp độ, mạc khả trắc độ. Kỹ chí thử, chân thần phẩm hĩ. Thái cực chi lý, phát ư vô đoan, thành ư vô tích, vô thủy vô chung, hoạt bàn thác xuất—y! Quan chỉ hĩ! Quyền tuy tiểu đạo, sở vị tức tiểu dĩ kiến đại giả, cái dĩ thử quyền khởi dị ngôn tai!"
"Cố ngô thân chi vận hành hoặc cao hoặc đê, hoặc phản hoặc chính, thả hốt trì hốt tốc, hốt ẩn hốt hiện, hoặc đại khai nhi đại hợp, hốt thời hành nhi thời chỉ, mạc phi nhất phiến linh khí, trình ư sắc tượng, chân như diên phi ngư dược, hóa cơ hoạt bát. Thiện quan quyền giả tất bất ư nhĩ mục thủ túc chi cổ vũ ư tích tượng gian giả thâm gia thưởng dã. Cố học giả tất tiên nghiên kỳ lý; lý minh tắc khí tự sinh động linh hoạt, phi khí chi tự năng sinh động linh hoạt, thực lý sử chi sinh động linh hoạt dã. Tri thử nhi hậu khả dữ ngôn nội kình. Như đệ dĩ do nội phát ngoại giả vi nội kình, thử kỳ luận do thiển yên giả dã."
"Thành ư trung, hình ư ngoại, thiên biến vạn hóa tự vô cùng; hỏa hậu đáo thuần thanh, pháp mật lý tinh, hồn thân khinh linh; tả hữu nã xuất ứng ứng ứng."
"Thần mục mục, mạo hoàng hoàng, khí tượng hồn luân; hư linh cụ nhất tâm, vạn tượng tàng ngũ · 305 · …uẩn. Tịch nhiên bất động nhược ngu nhân, thùy tri đạo, âm dương kết hợp tại thử thân. Nhiệm bằng tha tứ diện bát phương nhân nan cận, túng hữu na dũng mãnh quá nhân, đột nhiên lai xâm, khuynh giả khuynh, điệt giả điệt, mạc trắc kỳ thần; thả cánh hữu khứ nan khứ, tiến nan tiến, như trạm tại viên thạch đầu thượng lập bất ổn, thực tại hiểm tuấn, hậu hối nan miễn đồi. Khởi hữu biệt pháp môn, chỉ yếu công phu thuần; toàn bằng giả, nhất khai nhất hợp, nhất bút hoành tảo thiên nhân quân."
"Thái cực âm dương tạo hóa, diên phi ngư dược tòng quân khán."
"Cước thích quyền đả hạ thừa quyền, diệu thủ vô xứ bất hồn nhiên; nhiệm tha tứ vi đô thị địch, thử thân nhất động tất điên liên. Ngã thân vô xứ phi Thái cực, vô tâm thành hóa thành châu viên; tao trước hà xứ hà xứ kích, ngã diệc bất tri huyền hựu huyền."
"Nhất khí toàn chuyển tự vô đình, càn khôn chính khí vận hồng mông; học đáo hữu hình quy vô tích, phương tri huyền diệu tại thiên công."
13. Bồi dưỡng bản nguyên, cần học khổ luyện "Tâm là chủ của một thân, thận là nguyên của tính mệnh; ắt phải thanh tâm quả dục, bồi đắp mảnh đất căn bản ấy, không để nó tổn thương. Căn bản vững rồi thì cành lá vinh, muôn việc có thể làm—đấy là điều tối yếu."
"Dẫu nói ngàn lời vạn chữ, đều không bằng thanh tâm quả dục, bồi dưỡng bản nguyên, để dưỡng nguyên khí; thân vốn cường tráng, đánh quyền tự nhiên hơn người một bậc."
"Dụng công, mỗi người tùy theo sức mình mà vận động; số lần một lần cũng được, mười lần cũng được, không câu nệ số lần. Có sức thì cứ vận động, không có sức thì thôi; không cần gượng mà vận động đến nỗi vượt ra ngoài quy củ, chỉ thuận theo tự nhiên thì được."
"Mỗi một thế quyền, thường ngàn lời không thể hết được cái diệu của nó; một khi đã thân hiện thuyết pháp, thì cảm thấy rất dễ. Cái khó là công phu, cái càng khó là công phu lâu dài. Tục ngữ có câu: 'Quyền đả vạn biến, thần lý tự hiện'—đúng thật."
"Không sái quyền thế, nguyên vô định cách. …Bình cư sái quyền, không thể không giữ thành quy, cũng không thể câu nệ thành quy; điều ấy ở chỗ học giả khéo dùng nội kình của mình. Còn về hình tích, hoặc bị địa thế hạn chế, cứ tùy theo địa thế mà châm chước vận dụng cũng được."
· 306 · "Từ thế đầu đến thế cuối, những gì được vẽ ra đều là quyền có hình; chỉ khi từ hữu hình tạo đến vô hình, mà tâm cơ nhập diệu, cuối cùng quy về vô tâm, rồi sau mới có thể nói đến quyền. Có thể thấy quyền ở nơi tâm ta; trong tâm ta thiên cơ lưu động, hoạt bát bát địa, chạm đâu cũng là quyền—không thể so với kẻ ở đời lấy quyền làm quyền. Đây là nghệ thuật cả đời không hết, không phải biết thì khó, mà hành mới khó. Những thế được vẽ ra đều là cơ tự nhiên trong Thái cực. …Ngàn biến vạn hóa, đan xen vô cùng, cho nên cả đời hành mà không thể hết. Học giả gắng lên."
"Khi quyền đã thuần công lực, thì đoan chính cung túc, kính trọng việc mình làm, không dám tự mãn. …Không khoe không căng, độ lượng ung dung; tuy nói là tập võ, mà văn ở trong đó vậy."
"Mạnh Tử nói: 'Đại tượng hối nhân, tất dĩ quy củ.' Quy củ là cái tột của vuông tròn. Lấy đó mà dạy người là điều đại tượng có thể làm; còn đến chỗ khéo, đại tượng không thể khiến được, chỉ ở nơi học giả. Nếu đến được chỗ khéo, thì là theo quy củ mà không nệ quy củ, thoát quy củ mà tự trúng quy củ. Nhưng chí không được đầy. Tục ngữ có câu: 'Ngoài trời còn có trời, một khi đầy liền chuốc tổn.'"
"Hoặc có người nói: 'Quyền này không đánh được người.' Không đánh được người chỉ là công phu chưa đến; nếu công phu thuần thục, từ vòng 'lớn không có gì ở ngoài' tạo đến cảnh 'nhỏ không có gì ở trong', không gặp địch thì thôi, nếu gặp kình địch, thì nội kình đột phát, như sấm nhanh gió mạnh bẻ cành khô đập gỗ mục, ai có thể đương nổi."
"Học giả ngày nay chưa dụng công mà trước đã mong hiệu quả, vừa dùng sức mà đã mong thành; sao bằng Khổng Tử nói 'tiên nan hậu hoạch'? Hỏi: Dụng công thế nào? Ắt phải như Mạnh Tử nói 'tất hữu sự yên nhi vật chính, tâm vật vong, vật trợ trưởng' rồi sau mới được. Lý không minh thì mời minh sư; đường không rõ thì tìm lương hữu. Lý đã minh, đường đã rõ mà vẫn chưa được, thì thêm công phu càn càn ngày ngày, tiến mà không dừng, lâu ngày tự đến. Hỏi: Mất bao lâu? Tiểu thành thì ba năm, đại thành thì chín năm; đến lúc chín năm, có thể xem xét vậy. Hơn nữa đến sau chín năm, tự nhiên muốn nghỉ cũng không được, mỗi ngày hưng thịnh, cả đời không có chỗ dừng chân. Thần thủ dù có dậy lại, cũng không đổi lời ta. Kẻ nóng nảy hãy gắng lên."
· 307 · "Người nói nghệ này có quyết riêng, thường không chịu tỏ cho người khác. Ta nói nghệ này không có gì lạ, chỉ từ nhỏ khó đánh đến già. Đánh đến già tự nhiên ngộ, hoát nhiên nhất quán thần lý diệu. Quay đầu thử nghĩ lúc lười biếng—không phải tiên tri chưa nói đến, mà nói đến chưa vào tâm ta, tâm ta trái lại thấy nhiều phiền não. Ngày ngày nói ra ngày ngày quên, có tâm không dụng thì bao giờ hiểu? Có thể một ngày dùng sức tìm, âm dương tiêu trưởng tự có chân. Mỗi ngày chơi kỹ Thái cực đồ, một khai một hợp ở nơi thân ta; tuần tự tiệm tiến, công phu dài lâu, lâu ngày tự có thể ngửi thấy chân hương. Chỉ cần công lâu không gián đoạn, Thái cực tùy xứ thấy viên quang. Đây là chân quyết trong quyền; xin ngài bình tâm suy nghĩ kỹ."
"Người người đều có một Thái cực, chỉ xem dụng công hay không dụng công; chỉ cần lâu ngày không lơi lỏng, diệu lý tuần hoàn tự nhiên thông."
Phần 48
Bốn. Ngữ lục của Trần Hâm về thập tam mục của quan hài ①
"Đầu là thủ của lục dương, là chủ của toàn thân; ngũ quan bách hài không gì không lấy đó làm hướng và ngửa."
"Đỉnh kình dẫn quá thì treo lên trên; dẫn không lên thì đổ sập."
"Còn về đầu: tai có thể nghe tiếng địch đến, mắt có thể thấy sắc địch phát, đầu có thể chạm trước sau trái phải, và tay trái tay phải lại có thể đi lên trợ giúp."
"Tinh thần của nó ở đâu? Nói rằng: ở nơi đồng tử. Tâm vừa động thì đồng tử truyền đi, không lần nào sai."
"Vận hành gốc ở một tâm, mà tinh thần nhìn nơi mắt; mắt là cơ quan truyền tâm, cho nên mắt không nhìn ngang, đủ chứng tâm không dụng hai."
"Nhãn thần đặc biệt quan trọng, phải theo tay chính mà vận hành, không được nhìn ngang; nhìn ngang thì thần tán, chí cũng không chuyên."
- ① Trong đó sáu mục đỉnh, kiên, trửu, hung, khóa, tất đã thấy ở trước dẫn, không ghi riêng.
· 308 · "Thủ nhãn vi hoạt, bất khả vọng động."
"Nhãn thần chú ư (chủ yếu) thủ trung chỉ, bất tà thị."
"Mắt nhìn tới ngón giữa của tay trước, tức ngón giữa vậy, cho nên ắt phải nhìn đây, không được nhìn ngang khiến tan tán không chỗ bám. Một thân con người, vận dụng toàn ở một tâm, mà truyền thần toàn ở nơi mắt, cho nên ắt phải ngưng thần chú thị. Thế Lãm sát y tay phải làm chủ, tay trái là khách; tay phải phát đoan, mắt ắt nhìn nó; mắt theo tay phải mà đi, đến khi tay phải dừng, mắt ắt chú vào móng ngón giữa tay phải. Năm đầu ngón tay phải dùng sức—đây là chỗ phía trước phía sau tay vận xong quy túc, cho nên ắt phải dùng sức. Lúc này tay vận động tựa như dừng mà linh khí vận động của nó thực không dừng; vừa dừng thì hơi thở của nó tắt, liền cách ngăn với thế sau. Đây tức là trời đất âm dương vận chuyển không nghỉ; há hai khí ở nơi thân ta lại có thể nghỉ sao! Chỉ vì không nghỉ nên khí càng vận càng thực; đến khi vận đến mười phần thỏa mãn, thì thế sau liền phát khởi. Đây tức là ý "dương cực âm sinh, âm cực dương sinh"."
"Mục năng nhãn quang tứ xạ."
"Mục bất thị tiền, quang tượng tứ xạ."
"Nhãn tình cố thị tả hữu, yếu khoái."
"Thu thị phản thính, hàm quang mặc mặc."
"Nhĩ thính thân hậu kiêm tả hữu."
"Nhĩ thính thân hậu, phòng địch ám toán."
"Địch nhân chi lai, tất tiên hữu phong; cấp giả kỳ phong đại, hoãn giả kỳ phong vi; tức vô phong diệc tất hữu tiên triệu. Địch tại tiền mục năng thị chi; kỳ hoặc tại hữu, tại tả, tại thân hậu, thị tức tiên triệu, …duy bằng nhĩ thính tâm phòng."
"Nhĩ thính tả hữu bối hậu, khủng hữu bất ngu xâm lăng; nhân hữu dĩ hậu lai giả, tất tiên hữu thanh âm, khả văn kỳ thanh âm. Hữu thanh tự dữ vô thanh bất đồng, cố tâm bình khí tĩnh, nhĩ tự thông linh."
· 309 · "Hô hấp thuận theo tự nhiên."
"Điều tức miên miên."
"Tâm tức tương y."
"Đả quyền dĩ tị vi trung giới."
"Khẩu thần khinh bế, thiệt tiêm khinh để thượng ngạc."
"Hạng thụ trực bất khả ngạnh."
"Cổ phải đoan chính dựng thẳng, như trụ đá giữa dòng, không trước không sau, không trái không phải, không đến nỗi đổ sập mới được."
"Cổ phải linh hoạt; linh hoạt thì xoay trái phải tự nhiên dễ."
"Dĩ tâm vận thủ, thuận thế chuyển quyển."
"Khi tay lĩnh lên trên, lưng và đang cùng nhau đều xuống; thượng thể xoay chuyển tự thấy linh hoạt, hạ thể cũng không chết cứng."
"Tay lĩnh chuyển vòng, vòng vẽ của ngón tay và triền kình của cánh tay là một cỗ kình, không được coi là hai đoạn."
"Thủ hư hư lung trú." "Kình vận đáo chỉ đỗ đầu."
"Nhãn khán trung chỉ giáp, trung chỉ dữ tị chuẩn tương chiếu."
"Ngón giữa lấy đầu mũi làm chuẩn đích; dùng triền ty kình từ vai triền đến tay, trung khí hành đến đầu ngón giữa mới là vận đủ. Kình ngón giữa đến thì kình các ngón khác cũng đến. Nhu trú kình, không được để sót chút khí cứng."
"Dĩ thủ vận hành chỉ vật, tất đắc cương khí hành hồ kỳ trung."
"Thủ như hồng lô xuất thiết, nhân bất cảm mạc."
"Khứ thời tán thủ, trước nhân thành quyền."
· 310 · "Quyền lực như gió lại như sấm."
"Một đòn như tiếng sấm nổ một tiếng, không kịp bưng tai."
"Chùy từ sau đánh tới trước như sấm trên núi, nhanh không kịp phòng, tiến tới còn nhanh hơn chim bay."
"Gần người thì co khuỷu dùng sức chứa, đi xa sao có thể không duỗi cánh tay?"
"Dùng toàn thân toàn lực đánh bằng kình 'nắm giữ', không lộ vẻ thô lỗ, mới hợp pháp độ. …Kình từ gót chân sau vượt qua bắp chân, theo sống lưng đi lên truyền đến vai cánh tay, chuyển qua từ mặt sau cánh tay vận đến mu bàn tay, cho nên giữ kình mà đánh mới có lực. Tuy rằng kình khởi từ gót chân, nhưng công dụng vốn ở tâm; tâm vừa động, trung khí liền từ đan điền phát ra đến tay, toàn thân toàn lực đều tụ ở đây. Đến khi đánh người thì xem người ấy xa hay gần: xa thì mở rộng cánh tay có thể tới người; gần thì cánh tay không mở rộng được, cho nên dùng co khuỷu hợp chùy mà đánh, rất có hàm súc, bên ngoài hoàn toàn không lộ dấu vết, kẻ bị đánh liền ngã, mới là bậc thượng thừa. Vì đánh xa thì dễ, đánh gần thì khó, cho nên phải hạ công phu nhiều mới có thể được như vậy."
"Nội kình từ đan điền xuống qua háng, lại từ trường cường (changqiang) nghịch hành lên bách hội, hạ xuống đến vai, tiến tới vận đến chùy, tinh thần toàn thân đều tụ ở chùy, mới có lực. Chân trái chân phải đạp đất vững như núi ở trên đất, không thể lay chuyển, mới là có lực."
"Ở trong quyền thuần là hạo khí lưu chuyển khắp toàn thân, thế không thể ngăn."
8. Bụng "Eo kình đánh xuống, xương đuôi hơi nhô lên, bụng dưới tự nhiên hợp kình."
"Ngực bụng rộng lớn bao la, hướng ra trước hợp lại, trung khí xuyên suốt, trên dưới toàn thần, thực có khí tượng mặt che lưng. Dùng công ấy lâu, đến cảnh giới ấy, tự nhiên biết thần tình của nó; dẫu đến cảnh giới ấy, cũng chỉ có thể ý hội, không thể ngôn truyền."
"Điều tức miên miên, thao cố nội thủ, chú ý huyền quan, công lâu thì trong khoảnh khắc trong nước phát lửa, trong tuyết nở hoa, hai thận nóng như nước sôi, bàng quang như bị lửa đốt, chân khí tự nhiên đầy đủ."
9. Eo · 311 · "Eo là nơi chuyển quan trục nối của thân trên và thân dưới, không được mềm, cũng không được cứng, gấp lấy chỗ giữa của nó mới được."
"Eo là mấu chốt của thân trên và thân dưới: khí trên eo đi lên trên, khí dưới eo đi xuống dưới, tựa như thế hai bên tranh nhau trên dưới, thực ra là một khí xuyên suốt, song hành không trái nhau."
"Eo kình quý ở chỗ đi xuống, quý ở chỗ kiên thực."
"Eo kình đánh xuống không được mềm."
"Eo kình đi xuống—eo là nơi giao quan trên dưới; không xuống thì khí thân trên phù nổi, chân không vững."
"Eo kình phải đi xuống, đi xuống phải có kình, hai gối chống mở, háng hợp lại, muốn tròn muốn hư, tự nhiên thân dưới vừa hư vừa linh hoạt vừa vững vàng, lay chuyển không động."
"Eo vừa xoay chuyển, thì thân trên tự nhiên xoay chuyển, soi chiếu cùng thân dưới—ấy là eo làm trục nối của thân trên và thân dưới."
"Trong eo phải hư; vừa hư thì trên dưới đều linh hoạt."
"Eo kình không đi xuống, không thể khí quy về đan điền; khí không quy đến đan điền, thì trung cực (zhongji), hội âm mất ở chỗ khinh phù, do đó hoành khí trong ngực lấp đầy sung mãn, tức là phía sau đào đạo (taodao), thân trụ (shenzhu), hai bên linh đài (lingtai), hoành khí cũng đều lấp đầy sung túc, mà trước sau đều trệ sáp vậy. Vì không hướng ra trước hợp lại thì lỗi ở chỗ ngửa ra sau; hướng ra trước hợp lại thì háng kình khinh phù, đáy chân không vững, thân trên cũng không không linh."
"Quyết khiếu lấy chỗ giữa hai bên eo, mệnh môn giữa hai thận, làm ống khóa trục nối của thân trên và thân dưới."
10. Sống lưng, Lưng "Xương sống là mấu chốt của thân trái phải."
"Chuyển trong ngoài từ từ (chuyển đều là hướng vào trong hoặc ra ngoài), trung khí xuyên suốt giữa sống lưng."
"Nếu hỏi chân tiêu tức trong ấy, ắt phải tìm trong các đốt xương sống lưng."
"Lưng dùng trung khí xuyên giữ."
· 312 · "Lưng gấp mở ra, đỉnh kình và đang kình đầy đủ."
11. Đang và Mông "Hai bên bìu thận gọi là đang, quý ở chỗ tròn, quý ở chỗ hư, không được kẹp lại."
"Đang phải tròn, tròn thì vững."
"Hai gốc đùi phải mở đang; mở không ở chỗ lớn nhỏ, dù chỉ một sợi nhỏ cũng tính là mở, vì tâm ý vừa mở thì đang liền mở. Kẻ không biết mở đang, đùi dẫu xoạc ba thước rộng, không mở vẫn là không mở. Ấy là ở người học phải tế tâm tham cứu."
"Đang cố nhiên không thể không mở, nhưng hội âm phải hư, bụng dưới phải thực."
"Đang chống tròn, hư hư hợp lại. …(khi dừng thế, chân trái phải) pháp triền ti kình, từ ngón chân từ trong ra ngoài đi lên xéo quấn đến gốc đùi, cùng với hội âm, …Nếu hợp không đến hội âm, thì không có đang kình, và không thể chống tròn; ấy là triền ti kình không thể lìa vậy."
"Hạ eo kình, xương đuôi hơi lật lên, đang kình tự nhiên hợp lại."
"Đang càng phải hư, hư thì xoay chuyển đều linh."
"Trọc khí hạ giáng, hợp đang kình lại."
"Hạ bàn vững vàng, thượng bàn cũng linh động."
"Xương mông lật lên, đang trước hợp lại, mông sau tự nhiên lật lên."
"Xương đuôi, hoàn khiêu nhổng lên, gốc đùi bên trong chống mở, đang tự mở; hai gối hợp lại, đang tự nhiên tròn."
"Chính giữa đang mở tròn, phải hư, không được xoạc như hình chữ nhân."
"Xương bẹn không nhô lên, thì đang trước hợp không giữ được kình."
"Hai thịt mông nở lên trên; không nở lên thì đang trước hợp không lại, dưới sườn mềm là eo, eo kình nắm không xuống, thì gối và chân không có lực. Xương đuôi, hoàn khiêu, xương bên trong hợp vào trong; không hợp thì hai đùi mất sự tụ lại mà tán."
"Đỉnh kình dẫn quá thì phần trên treo lơ lửng; dẫn không lên thì đổ ngã—ấy là không biết hạ eo kình, đang kình, đến nỗi thân không tự chủ."
· 313 · "Đang kình, eo kình đã đều hạ tốt, mà mông không nở lên, không những đang trước hợp không lại, mà cả thân trên cũng đều khấu hợp không lại; trên dưới khấu hợp không giữ được kình, thì đáy chân không có lực, mà ngoại vật đều có thể đẩy ngã ta."
12. Chân "Ngàn biến vạn hóa do ta vận, hai chân thân dưới định căn cơ."
"Diễn thủ chùy thế: chân trái phải đạp đất vững như núi ở trên đất, không thể lay chuyển, mới là có lực."
"Chân vững thì thân không thể lay."
"Trước sau trái phải dùng kình đều đặn, tự nhiên đứng được vững."
"Hư thực của chân nhân nơi tay: tay hư chân cũng hư, tay thực chân cũng thực."
"Chân thực thì trước sau đáy chân đều phải dùng lực đạp phẳng vững xuống đất, huyệt dũng tuyền phải hư."
"Trên tuy nhờ tay, dưới lại càng nhờ chân; chân nhanh càng tỏ rõ cái năng của tay nhanh."
"Thận tàng chí, lấy chân theo chí, cũng thuận theo vòng xoay."
"Chân theo tay vận, xoay tròn như thần."
"Sau khi khí của tay đã đi đủ đến chân, ngón chân cái mới cùng tay hợp làm một; lúc ấy mới có thể đạp thực."
"Lấy thuật dẫn tiến bác kích, hành vào trong tay chân."
"Đến như động tác của tay chân, không ngoài một vòng tròn, tuyệt không thẳng tới thẳng lui."
"Hoành khí của cách ngực tạ xuống đáy chân."
"Kình tuy khởi từ gót chân, công dụng vốn ở tâm."
"Một điểm linh khí khởi từ tâm, trên nhập thanh thiên dưới nhập địa; khí ấy hành trong tay chân, không cứng không mềm tự ung dung."
"Vân thủ: hai chân thay phiên xoay, cơ không dừng lại; chân trái ngang mở một bước, chân phải theo sau tuy cũng ngang mở một bước, nhưng chân phải khi sắp đến cạnh chân trái, lại từ trên xoay trở về năm sáu tấc mới chạm đất, như thế mới thấy vận hành không có bước thẳng. Mỗi khi chân trái mở bước, chân phải theo sau đều · 314 · là như vậy. ……Như tay phải thuận triền một vòng, trong nửa vòng trước trung khí từ bên trong nách hướng ra ngoài quấn xéo đến ngón tay; nửa vòng sau từ ngoài trở về, kình từ ngoài quấn xéo đến dưới nách; tay trái cũng vậy. Đến như chân: như chân phải nửa vòng trước từ trong gốc đùi hướng ra ngoài quấn đến ngón chân; trở về từ ngoài hướng vào trong quấn đến gốc đùi; chân trái cũng vậy."
"Chân bước ra, như trước có vực sâu, bảo thu về liền thu về, cực hư cực linh."
"Chân vận hành cực kỳ triền miên không thẳng, lại có thể theo tay vận hành, không mất ốc ti kình."
"Chân đạp càng nặng, thì thân cất lên càng cao."
"Không đạp thì thôi, đạp ắt khiến địch ngã."
"Đến như chân: bên trái tới thì đưa trái, bên phải tới thì đưa phải; dùng cước để chống trước, dùng đạp để chống sau, nhấc chân như sấm nhanh không kịp bưng tai. Phàm địch xâm phạm hạ bàn của ta, chân lập công nhiều nhất; công dụng của chân lớn thay!"
"Khi sắp đá, xem nó có thể đá thì đá, không thể đá thì không đá, không được vọng dụng cái đá của mình. Dẫu có khe hở để thừa cơ, đá quý ở thần tốc, không quý ở chậm trễ; quý ở đá trúng huyệt du quan yếu, không quý ở đá chỗ mông rộng thịt dày không đau không ngứa. Ấy là yếu quyết; kẻ đá phải biết."
"Chân đá quyền đập là hạ thừa quyền; diệu thủ chỗ nào mà chẳng hỗn nhiên."
"Tứ chi bách hài chủ ở động, mà thực vận hành là ở bước; bước ấy là căn cơ của một thân, là trục nối của vận động. ……Chùy để luận thế, mà nắm yếu lĩnh là bước; sống hay không sống ở nơi bước, linh hay không linh cũng ở nơi bước—công dụng của bước lớn thay."
13. Khớp xương "Khớp xương mở ra."
"Cơ phu khớp xương, mọi chỗ mở rộng."
"Toàn thân cùng hợp giữ kình, và khớp xương toàn thân mỗi chỗ cùng mỗi chỗ tự tương hô ứng mà hợp, như tay với chân vậy."
"Nói hợp thì toàn thân cùng khấu hợp lại mới tốt; đến như khớp xương toàn thân, như khuỷu trái phải, vai trái phải, trên dưới các chỗ danh mục tương hợp, mỗi cái đều nhất nhất soi chiếu hợp lại."
· 315 · "Tay với chân, khuỷu với gối, vai với háng, trên dưới, trái phải, trước sau, khi vận chuyển và khi dừng thế cũng đều phải hô ứng thẳng hàng; mở thì đều mở, hợp thì đều hợp."
"Khớp xương phải đối nhau, không đối thì không có lực."
"Khớp xương cùng kêu."
Năm, Nhu thủ quyền luận (Luận về đẩy tay) 1. Nhu thủ luận tập lục "Triêm liên niêm tùy, hội thần tụ tinh, vận cái hư linh của ta, càng thêm chỉnh trọng. ……Tế nị uất thiếp, trung quyền hậu kình."
"Bất tức bất ly, bất triêm bất thoát, tiếp cốt đấu chuẩn (khớp mộng), tế tâm suy ma."
"Càn cương khôn nhu, âm dương tịnh dụng; bất thiên bất ỷ, vô quá bất cập."
"Bất tiên bất hậu, nghênh tống tương đương, tiền hậu tả hữu, thượng hạ tứ bàng, chuyển tiếp linh mẫn, hoãn cấp tương tương."
"Thần dĩ tri lai, trí dĩ tàng vãng."
"Hai tay xoay lại tựa vân ốc, một lên một xuống rất quân bình, toàn bằng Thái Cực chân tiêu tức, bốn lạng bạt động tám ngàn cân."
"Trung khí quán túc, thiết kỵ tiên tiến, thiển thường đái dẫn, tĩnh dĩ đãi động."
"Hạp tịch động tĩnh, nhu chi dữ cương; khuất thân vãng lai, tiến thoái tồn vong. Nhất khai nhất hạp, hữu biến hữu thường; hư thực kiêm đáo, hốt kiến hốt tàng. Kiện thuận tham bán, dẫn tiến tinh tường; hoặc thu hoặc phóng, hốt thỉ hốt trương."
"Nội dĩ thành tâm thương các (bàn bạc), ngoại dĩ nhu thuận chi khí dẫn nhân chi tiến, thị dĩ cương khí phục ư nhu trung dã."
"Ngã chi giao địch, thuần dĩ đoàn hòa khí dẫn chi sử tiến."
"Bất khả sử ngạnh khí, diệc bất khả thái nhuyễn, chiết kỳ trung nhi dĩ."
"Hựu bán dẫn bán tiến, đái dẫn đái tiến, tức dẫn tức tiến, dĩ dẫn vi tiến, âm dương · 316 · nhất tề tịnh dụng, ấy gọi là: đạo song hành mà không trái nhau. Không phải âm dương hợp đức, thì không thể tâm cơ vừa động tay liền tới, nhanh không gì hơn thế.""Pháp bán dẫn bán tiến ấy: từ khuỷu trở lên dẫn để khiến tiến, dưới tay thì kình tiến về phía trước; mặt sau cánh tay là dương, mặt trong là âm, ấy là pháp dương dẫn âm tiến, không phải hỗ tương vi căn thì không thể."
"Tay dùng dẫn kình dẫn mở tay địch, phải dùng triền ti kình dẫn nó, khiến nó đứng chân không vững."
"Trong duỗi ngụ co ai hiểu, trong co ngụ duỗi kẻ biết thì hiếm."
"Từ từ dẫn tiến người chẳng hiểu, dần dần dừng lại ý tự sâu, phải thực trái hư tàng kích bất ngờ, trên nhấc dưới đánh ngụ tung cầm."
"Trước dẫn sau tiến ai hay biết, Thái Cực tuần hoàn một vòng tròn."
"Dẫn tiến lạc không là trước nhất."
"Địch lấy tay tới, ta lấy tay dẫn, tức dẫn tức đánh, không phải sau khi đã dẫn rồi mới đánh—ở đây đủ chứng thực âm dương hỗ tương vi căn."
"Kình dẫn tiến nói không hết, một âm một dương xem trong tay, muốn đè trước tiên nâng lên là lẽ thật, đánh người không ở chỗ chiếm roi trước."
"Hai người giao tay, ta giữ cương thổ của ta, không hèn không ngạo, chín gấp ruột dê; không được hơi nhượng, như nhượng người khác, người đứng ta ngã; gấp tranh phong, lên được chớ xuống, chiếm thêm một phần, ta cứ địa thế hiểm thắng."
"Tới nên nghe thật, đi quý thần tốc."
"Cực nhanh cực mau, triền nhiễu hồi xoay."
"Lực quý ở phát mau, cơ quý ở thần tốc; một chậm là thất bại, một mau là đắc thế."
"Tiến như gió mạnh thổi người, ánh chớp lóe mạnh, càng mau càng tốt."
"Phát tay phải mau, không mau thì trễ lỡ; đánh tay phải tàn nhẫn, không tàn nhẫn thì không thành."
"Thế như tay đẩy núi Thái Sơn, muốn khiến nó đổ nghiêng. ……Đỉnh kình dẫn tốt, eo kình hạ tốt, đang kình chống tròn, đáy chân dùng lực đạp đất, lực cánh tay dùng đến trên chưởng, sức lực toàn thân đều · 317 · chú vào trên bàn tay trái phải, khi đẩy lực quý ở thần tốc, dẫu không thể đẩy ngã, cũng có thể khiến nó lùi lại mấy bước."
"Người tới cảm ta, không chịu nhẹ buông tha ta; ta cảm người, lẽ nào chịu nhẹ buông tha người? Thế tất phải dùng toàn thân lực, muốn đẩy với thế đẩy ngã núi Thái Sơn."
"Thân này có lực phải hợp làm một, lại càng phải lưu tâm nơi khoảng sống lưng."
"Luyện thành Kim Cương Thái Cực tôn, toàn thân hợp hạ lực ngàn cân."
"Nhưng không phải chỉ lấy khí lớn mà làm, mà thực lấy trung chính nguyên khí vận chuyển thôi bức, khiến nó không thể không lùi lại, và lấy thuật dẫn tiến kích bác, hành trong tay chân, lại khiến nó không thể tiến gần thân ta."
"Tâm thủ nhãn túc nhất khí, địch bị ta cầm định trước."
"Nhu trung ngụ cương, người khó phòng."
"Hư lung trá dụ, chỉ vì một chuyển."
"Đột nhiên một chuyển người chẳng hay."
"Chuyển dẫn chuyển kích, ……một mảnh thần hành."
"Muốn cương trước nhu, muốn dương trước ức, thái hòa nguyên khí, hồn nhiên trung phục."
"Trung khí vận ư tâm, nhất phát mạc bỉ độc; hà huống tiến như phong, tật tấn thùy năng địch? Hình hài dữ nhân đồng, dụng pháp chỉ ngã độc. Bất thị biệt hữu phương, chỉ vị trung khí túc."
"Nhưng bằng đắc chu thân không linh, nhất lũ trung khí tùy thế dương."
"Quyền giả, quyền dã. Sở dĩ quyền vật nhi tri kỳ khinh trọng giả dã. Nhiên kỳ lý thực căn hồ Thái Cực, nhi kỳ dụng bất di hồ lưỡng quyền, thả nhân chi nhất thân, hồn thân thượng hạ đô thị Thái Cực, tức hồn thân thượng hạ đô thị quyền, bất đắc dĩ nhất quyền mục quyền dã."
"Nhãn lực thủ pháp kiêm thân pháp, niêm trước hà xử hà xử động."
"Tinh thần đoàn tụ chu thân kiện, toàn càn chuyển khôn thủ nội tồn."
"Công cửu tắc linh, kỳ linh vô bỉ, y trước tức tri, tự nhiên hữu ứng, bất tức bất ly, triêm liên niêm tùy; như dăng lạc giao, hữu sí nan phi, thử trung chi diệu, vi hồ kỳ · 318 · vi."
"Nếu công phu thuần thục, từ cái vòng lớn không gì ở ngoài của nó, tạo đến cảnh giới nhỏ không gì ở trong, không gặp địch thì thôi, như gặp kình địch, thì nội kình đột phát, như sấm nhanh gió mạnh bẻ gãy cây khô cỏ mục, ai có thể đương nổi!"
"Tức cầm tức túng triền ti kình, phải ở trong ấy hội thiên cơ."
"Hỏi: Luyện quyền dùng triền ti kình để làm gì? Đáp: Kẻ cứng trực tiếp với người thì người dễ né tránh, dễ lìa đi; chỉ lấy nhu tiếp nó, thì người dễ thấy mềm mại mà lòng không sợ; lòng không sợ nên không né tránh. Chỉ lấy pháp triền ti mềm mại ấy tiếp nó, chưa dính thân người thì thôi, như dính thân người thì người không thể né tránh; né thì lấy tay theo nó, như sơn keo dính vật cứng, vật tự không thể né tránh; lìa thì lấy pháp triền quấn cánh tay nó, như nhện lấy tơ quấn ruồi, lại như đinh ốc đã lắp vào, muốn cạy mạnh ra cũng không được. Cho nên chưa dính cánh tay người thì thôi, như đã dính, thì ta lấy pháp triền ti véo giữ thịt nó, khi quấn mà vây nó, triêm nó, liên nó, niêm nó, tùy nó, khiến nó tiến không được tiến—tiến thì trước rơi vào hố hầm; thoái không được thoái—thoái thì sợ ta kích bác, cho nên không dám cứng rắn lìa đi. Triền ti kình này ở trong quyền là diệu quyết trọng yếu nhất."
"Đến khi thành, địch đến thế nào đáp thế ấy, không đợi suy nghĩ, tự nhiên có pháp. ……Nhưng dính vào chỗ nào, liền dùng chỗ ấy (đây là phong quang bản địa, khó nhất khó nhất) dẫn mà đánh nó, thời đều xử trí thích nghi, không hiểu vì sao diệu, thật không nghĩ mà được, không gắng mà trúng. Nhưng kẻ chưa thành không thể được vậy."
"Hỏi: Đến bao giờ mới kể là thành? Đáp: Trong ấy tầng lớp vô cùng, cả đời không hết. Nhưng lấy cái thô sơ trước mắt mà nói: đại thành thì chín năm, tiểu thành thì bảy năm; đến như tinh diệu, cũng là cái học cả đời không hết."
"Kẻ hợp trước thì lấy hợp mà đánh; kẻ khai sau thì lấy khai mà đánh. Tay chân không chỗ nào không phải lúc chuyển vòng, tức không chỗ nào không phải đất đánh người. ……Ta lẽ nào có lòng đánh người! Ta tự đánh quyền ta, cũng là hành sở vô sự mà thôi. Quyền đến thế này, nghệ đã hơn nửa."
· 319 · "Các nhà quyền thuật sáng lập pháp triền ti kình, thầm hành đường xoắn ốc không ngừng của càn khôn, tuần hoàn không đầu mối, thần diệu vạn vật—ấy đến mệnh vậy thay, há chỉ là nghệ thuật sao!"
2. Nhu thủ thập lục mục (Mười sáu mục đẩy tay) (1) Giác (so)—là so đo cao thấp.
(2) Tiếp (tiếp xúc)—là hai người tay tiếp xúc nhau.
(3) Triêm (dính)—là tay với tay dính nhau, như chữ triêm trong câu "triêm y dục thấp hạnh hoa vũ" (dính áo muốn ướt mưa hoa hạnh).
(4) Niêm (dán)—như keo sơn dán, là người đã dính tay ta, không thể lìa đi.
(5) Nhân (nhân theo)—là nhân theo cái tới của người.
(6) Y (nương)—là ta nương vào thân người.
(7) Liên (liền)—là tay với tay liền tiếp nhau.
(8) Tùy (theo)—là theo cái thế của người để tiến thoái.
(9) Dẫn (dẫn)—là dụ nó tới, kéo dẫn khiến gần ta.
(10) Tiến (tiến)—là khiến người tiến tới, không để nó trốn đi.
(11) Lạc (rơi)—như chữ lạc trong "lạc thành" (hoàn thành), nước mái hiên nhỏ xuống đất; lại như lá rơi xuống đất.
(12) Không (trống không)—nên đọc thanh khứ; người tới muốn đánh thân ta, mà rơi vào đất trống không.
(13) Đắc (được)—là ta được cơ, được thế.
(14) Đả (đánh)—là cơ thế đánh được, thừa cơ mà đánh.
(15) Tật (mau)—là mau lại càng mau, hơi dính chậm trễ, liền không thể đánh; cơ quý ở thần tốc.
(16) Đoạn (quyết đoán)—là quyết đoán; vừa do dự ngờ vực, liền mất cơ hội, qua đó không thể đánh được.
3. Nhu thủ tam thập lục bệnh (Ba mươi sáu bệnh đẩy tay) · 320 · (1) Rút lui (chou — chou là khi tiến không được thế, biết mình sắp bại, muốn rút thân về)
(2) Nhổ ra (ba — ba là nhổ đi, nhổ về mà chạy trốn)
(3) Che (zhe — zhe là lấy tay che người)
(4) Gạt đỡ (jia — jia là lấy cánh tay đỡ tay người lên)
(5) Đập gõ (keda — keda như lấy vật gõ vào vật mà đánh)
(6) Hung hãn xông (mengzhuang — mengzhuang là bỗng nhiên xông tới, liều lĩnh mà đến, cậy sức mạnh xông thẳng tới; không phát ra từ tự nhiên, mà muốn liều lĩnh cầu thắng)
(7) Trốn tránh (duoshan — duoshan là lấy thân tránh khỏi tay người, muốn lấy sự lừa mà làm ngã người)
(8) Xâm lấn áp bức (qinling — qinling là muốn vào địa giới của người mà áp chế họ)
(9) Chém (che — như dùng dao chặt vật)
(10) Ôm bắt (lou — lou là lấy tay ôm thân người)
(11) Đánh xuống (dao — dao là đánh tay xuống dưới)
(12) Chà xát (cuo — cuo như hai tay chà xát lẫn nhau; lấy tay và cùi chỏ chà xát kẻ địch)
(13) Lấn áp (qiya — qi là lừa người; ya là lấy tay ta cứng mạnh đè tay người)
(14) Treo móc (gua — gua là lấy lòng bàn tay treo người, hoặc lấy bàn chân cong móc người)
(15) Lia ra (li — li là rời khỏi thân người, sợ người đánh ta)
(16) Lừa gạt (shanzhuan — shanzhuan là lừa dối người ngu mà đánh họ)
(17) Gạt ngang (bo — bo là lấy tay ta gạt mạnh người)
(18) Đẩy (tui — tui là lấy tay đẩy sang một bên)
(19) Vụng về (jianshe — jianshe là tay chưa thuần thục)
(20) Thô cứng (shengying — shengying là cậy khí mà đánh người, mang sự thô mà cầu thắng)
(21) Xô đẩy (pai — pai là xô sang một bên)
(22) Cản đỡ (dang — dang là không dẫn được, lấy tay cản cứng)
(23) Cứng ngang (ting — ting là cứng, rắn)
(24) Bá đạo (ba — ba là lấy sức mà bá đạo về sau, như kẻ bá đạo lấy sức khuất phục người)
· 321 · (25) Bốc lên (teng — teng như lấy tay phải tiếp người, lại lấy tay trái đỡ tay người, bốc mở tay phải ra để đánh kẻ địch)
(26) Nâng (qie — qie như dựa vào đốt xương của người mà nâng người)
(27) Thẳng (zhi — zhi là quá thẳng thắn, không có ý dây dưa quanh co)
(28) Thật (shi — shi là chất phác quá thật thà, nên bị người lừa)
(29) Móc (gou — gou là lấy chân móc mà lấy)
(30) Hất lên (tiao — tiao là hất từ dưới lên trên)
(31) Đỡ cứng (shuo — shuo là lấy khí cứng đỡ tay người lên, chứ không lấy trung khí tiếp tay người)
(32) Chống (di — di là cứng cỏi lấy sức lực chống lại người)
(33) Lăn (gun — gun là sợ mình bị thương, lăn sang một bên, lại như vật tròn lăn đi)
(34) Gậy đầu ngọn (gentou gunzi — gậy đầu ngọn là ta nắm đầu nhỏ, bị người lấy đầu lớn đánh ta)
(35) Đánh trộm (touda — touda là đánh người không rõ ràng, đánh trộm ở chỗ người không phòng)
(36) Tán tâm (xintan — xintan là nghệ không đánh được người, tâm như đồ ăn thám lấy, đánh người ắt thất bại)
Ba mươi sáu bệnh trên, có người phạm hết cả, có người phạm bốn, năm, có người phạm một, hai; hễ phạm vào chỗ nào đều không phải là tay đã thành. Khi tay đã thành, bất luận bệnh gì, tất cả đều không phạm, vì được thêm đại hòa nguyên khí, vốn không có sự ngang trái vậy. Thế thì tiếp tay sẽ như thế nào? Cũng nói rằng: "Người lấy tay đến, ta lấy tay dẫn cho họ tiến, khiến họ không được thế mà đánh; ấy gọi là tẩu (zou); tẩu là tên khác của dẫn. Sao đã gọi là dẫn, lại gọi là tẩu? Dẫn là dụ cho tiến; tẩu là người đến ta đi, không chống đỡ thế, ấy gọi là tẩu. Nhưng trong tẩu tự mang sức dẫn tiến (kẻ công thuần thì dẫn cho tiến, họ không dám không tiến, tiến thì ta thuận người nghịch mà bắt thả ở nơi ta), đây là diệu quyết trong quyền, không phải công lâu thì không thể.
Chú của Trang: Mười sáu mục 'nắm tay' và ba mươi sáu bệnh 'nắm tay' là nguyên cảo văn tự của Trần Hâm trong Trần thị thái cực quyền đồ thuyết. Đường Hào vào tháng 1 năm 1932 cùng Trần Tử Minh đến Trần Gia Câu điều tra lịch sử thái cực quyền, đã trích ra hai đoạn này đưa vào sách Trần thị thế truyền thái cực quyền thuật của Trần Tử Minh. Ở đây tham khảo Trần thị thái cực quyền hội tông để hiệu đính và bổ sung. (Cố Lưu Hinh)
· 322 · 4. Hai bài ca "nắm tay"
Khi nắm, bửa, chen, ấn phải nghiêm túc; dẫn vào, rơi vào không, mặc người xâm lấn. Toàn thân theo nhau, kẻ địch khó gần; bốn lạng hóa động tám ngàn cân.
Trên đánh yết hầu, dưới đánh chỗ kín; ở giữa hai bên sườn và ngay tim; phần dưới hai xương ống chân cùng hai gối; một chưởng sau ót lấy mất chân hồn.
Chú: Bài trước là ca quyết cũ truyền của họ Trần, thấy trong quyền phổ của bản Lưỡng Nghi đường họ Trần là: "Chen, bửa, nắm, ấn phải nghiêm túc, trên dưới theo nhau người khó vào, mặc người sức lớn đến đánh, kéo bốn lạng gạt ngàn cân". Bản do Trần Tử Minh chép ra từ bản khác, đề là "Ca quyết nắm tay", có sáu câu: "Nắm, bửa, chen, ấn phải nghiêm túc, toàn thân theo nhau người khó vào, mặc người sức lớn đến công kích, kéo bốn lạng gạt ngàn cân. Dẫn vào rơi không hợp tức xuất, dính liền dán theo tùy co duỗi". Ba bản của họ Trần ghi chép lại có chỗ khác với bản do Lý Dịch Du chép tay và Vương Tông Nhạc ở hiệu muối huyện Ngọ Dương tu đính. Từ Chấn trong Thái cực quyền khảo tín lục nói: "Vì ở Trần Câu, ban đầu chỉ truyền miệng mười miệng, lâu dần hơi khác, và mỗi người theo điều nghe được mà chép vào sách, nên không thể hợp hết được". Đây cũng là lời suy đoán; bốn câu có dị văn, mở rộng thành sáu câu, cũng có thể suy đoán là tì vết của người đời sau tu đính văn tự.
Bài thứ hai là cách đánh liều sống chết, chỉ thấy trong trước tác của Trần Hâm, có lẽ là Trần Hâm tập lục quyết cũ, phụ vào sau bốn câu cũ truyền.
Phần 49
Sáu. Tuyển đoạn văn ngắn về quyền luận của Trần Hâm và những người khác
Lý thái cực tuần hoàn, truyền nhau không kể năm, trong đó có tinh nghĩa, động tĩnh đều không lỗi. Thu vào gọi là dẫn, phóng ra như tên rời dây (hai câu này, câu trên nói dẫn vào rơi không, câu dưới nói thừa cơ đánh), hổ báo ngồi núi sâu, giao long bay vực thẳm (câu trên nói tĩnh, câu dưới nói động), khai hợp vốn không định (linh hoạt tràn đầy), co duỗi thế liền nhau (nhưng có nhất định). Thái cực chia âm dương, thần long biến vô phương, trời đất là cha mẹ, cọ xát nhu với cương, sinh sinh vốn không ngừng, kỳ chính không tầm thường. Càn Khôn như ống bễ, thái cực một túi lớn, cớ đầy vơi tiêu tức, đều ẩn trong đó. Đến cuối lại từ đầu, một khí vận căng chùng, có hình · 323 · Trở về không dấu vết, vật và ta đều quên nhau (hợp nhất với đạo). Trong đường thái cực quyền, công phu là trước nhất, theo thứ tự không vượt bậc, người ai cũng tự hợp với trời. Nói suông đều là mực loang, vận dụng thực mới là chân giải. Diều bay lên tận trời, cá nhảy xuống vực, trên dưới đều là chân thú, chủ tể quý ở tinh nghiên. Nếu hỏi ý trong đó, đạo lý nhiệm mầu mà huyền diệu, qua lại như ngày đêm, nhật nguyệt rạng ánh tròn. Hiểu được chân diệu quyết, ấy chính là thái cực quyền, mọi việc đều như vậy, không chỉ ở thời gian. Sau khi trở về chất phác, tức là thần tiên sống, tùy nơi đều được ta, thái phác tự thần toàn (vẫn trở về thái cực).
2. Thơ về phép triền ty của thái cực quyền Thất ngôn cổ: ba bài Động thì sinh dương, tĩnh sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau, quả nhiên biết được thú trong vòng, trở chuyển tùy ý thấy chân trời.
Âm dương không đầu lại không cuối, qua lại co duỗi chứa hóa công, thông suốt tin tức trong đó, vòng xoay tùy ý vận hồng mông.
Một trận trong, một trận mê, liên hoàn khai bế nhờ nâng xé, lý kinh tam muội mới sáng, linh cảnh một mảnh là pha lê.
Ngũ ngôn cổ Cõi lý vốn vô tận, bắt đầu từ kết kiến thành, ba năm không nhìn vườn, nhất chí và thần ngưng. Tự nên theo thầy giỏi, lại nên tìm bạn cao. Khắp nơi theo quy củ, một đường mở linh minh, một tầng sâu một tầng, từng tầng ý vô cùng; một khai liền một hợp, khai hợp nối tiếp nhau. Có khi dẫn vào thắng, công muốn nghỉ mà không được. Thường tập thêm cần mẫn, ngày lên tự bốc lên; một khi không chướng ngại, bỗng nhiên ngộ thái không.
3. Bàn về kình triền ty trong phát mông thái cực quyền — Trần Hâm Thái cực quyền là phép triền. Phép triền như hình ốc vít vận trên da thịt, lúc thường luyện tập luôn dùng kình này, nên khi giao thủ với người, tự nhiên kình này vận hành trên da thịt mà không tự biết, không lâu ở đạo ấy thì không thể được. Phép ấy có: tiến triền, thoái triền; tả triền, hữu triền; thượng triền, hạ triền; lý triền, ngoại triền; thuận triền, nghịch triền; đại triền, tiểu triền.
· 324 · —mà đều phải lấy trung khí vận hành trong đó, tức dẫn tức tiến, đều là lẽ âm dương làm gốc cho nhau. Có người cho là tay mềm; tay mềm sao có thể tiếp vật ứng việc? Nếu chỉ nhìn dấu vết, dường như không kém cứng, nên cho là tay mềm. Quy củ toàn thân nó: đỉnh kình dẫn lên, đương kình hạ xuống (phải chống tròn, phải hợp lại); hai vai buông lỏng, hai cùi chỏ chìm xuống, hai tay hợp lại, ngực hướng về trước mà hợp; mắt chớ nhìn ngang, lấy tay ở phía trước làm đích; đỉnh không được ngã, trong ngực chìm tâm tĩnh khí; hai gối hợp lại dùng kình, lực eo hạ xuống; hai chân thường dùng kình móc, phải trước sau hợp lại dùng kình. Hình bên ngoài, đẹp như trinh nữ, không được mang khí ngông cuồng, một mảnh thần nhàn nhã, đều là phong quy đại nhã. Đến như trong tay, quyền hành đều gốc ở tâm, vật đến thì ứng thuận, tự nhiên hợp với cái thích nghi của tiến thoái, hoãn cấp, khinh trọng. Đây là âm dương của thái cực đình nhau, không chút lệch nghiêng, mà làm diệu dụng của khai hợp. Đạo ấy sao có thể nông cạn vậy!
4. Giải thích nguyên ủy thái cực quyền — Trần Hâm Quyền là cân, dùng để cân vật mà biết nặng nhẹ. Nhưng lý của nó thực gốc ở thái cực, mà dụng của nó không bỏ hai quyền. Vả lại trong một thân người, toàn thân trên dưới đều là thái cực, tức toàn thân trên dưới đều là quyền, không được lấy một quyền mà coi là quyền.
Then chốt của nó ở một tâm, tâm chủ ở kính, lại chủ ở tĩnh; có thể kính mà tĩnh thì tự giữ hư linh; thiên quân có chủ, trăm đốt nghe lệnh. Động thì sinh dương, tĩnh thì sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau. Khí thanh lên trên, khí trọc xuống dưới, bách hội, trung cực, một thể then chốt.
Mới học dùng công, trước cầu phục ứng, mạch đến chuyển cửa, một khí sinh nhau, tay mắt linh hoạt, không được vọng động. Cái khí ấy, chí đại chí cương, dưỡng thẳng không hại, đầy ắp trời đất; phối nghĩa với đạo, bắt đầu từ tập nghĩa, mênh mông vận hành, tự nhiên một khí.
Nhẹ như hoa dương, cứng như vàng đá; uy hổ sánh mãnh, bay ưng sánh nhanh. Đi như nước chảy, dừng sánh núi đứng. Tiến thì người không kịp biết, thoái cũng người không gọi được là nhanh.
Lý tinh phép mật, điều lý phân tơ. Phóng ra thì đầy sáu hợp, cuốn lại thì lui ẩn trong kín. Cái lớn không ngoài, cái nhỏ không trong. Trung hòa nguyên khí, tùy ý mà đi; ý hướng về đâu, · 325 · Toàn thần quán chú. Biến hóa như rồng, người không thể dò, vận dụng ở tâm, đây là chân quyết.
Không lệch không nghiêng, không thái không cập, trong để tu thân, ngoài để chế địch. Tùy thời định nghi, chỉ vì thong dong đầy đủ. Không tức không lìa, không dính không rời, tiếp xương khớp đốt, tỉ mỉ suy ngẫm, thật tích lực lâu, lên nhà vào buồng.
5. Thể và dụng của thái cực quyền Thể của thái cực quyền Đạo của thái cực quyền, hai chữ khai hợp nói hết; một âm một dương gọi là quyền, chỗ diệu của nó toàn ở làm gốc cho nhau.
Dụng của thái cực quyền Vận động của quyền, chỉ có nhu với cương; người lấy cương đến, ta lấy nhu đi; người lấy nhu đến, toàn ở cân lượng (lấy tay ta cân tay người, như cân cân vật; lấy tâm ta đo tâm người, lượng nhanh chậm xuống lên, hoặc nửa đường đổi thế cơ). Trong cương chứa nhu, không sánh với người; trong nhu chứa cương, người khó phòng. Vận dụng ở tâm, không khoe không trương; trong có chủ, không buông cuồng; tùy cơ ứng biến, trọn không kinh hoảng.
6. Tổng luận thái cực quyền và quyền kinh Một. Tổng luận Thuần âm không dương là tay mềm, thuần dương không âm là tay cứng. Một âm chín dương là gậy đầu ngọn, hai âm tám dương là tay tán, ba âm bảy dương còn thấy cứng, bốn âm sáu dương rõ là tay giỏi, chỉ có năm âm cùng năm dương, âm dương không lệch gọi là tay diệu. Tay diệu mỗi chạm là một thái cực, không không dấu vết hóa về hư vô.
Hai. Quyền kinh Thái cực âm dương, có nhu có cương; trong cương chứa nhu, trong nhu chứa cương; cương nhu tương tế, vận hóa vô phương.
7. Trần Phục Nguyên bàn về thái cực quyền — Trần Tử Minh Tiên nghiêm húy Phục Nguyên, tự Húc Sơ, đầu học nơi Canh Vân công, thành công rồi lại theo Trọng Sân · 326 · Công tập tân giá, nên phát tay có thể nhu như tơ, cứng như thép, qua lại ngoài cửa ải mấy mươi năm, chưa gặp địch thủ. Tử Minh thuở nhỏ hầu bên cạnh, quen nghe lý quyền, nay theo điều còn nhớ mà chép một hai, thành thiên này; cố lậu như ta, chưa nói được muôn phần một.
Khai hợp với âm dương Động là dương, tĩnh là âm, một động một tĩnh tức là khai hợp; âm biến dương là khai, dương biến âm là hợp, đây nói về toàn thể thái cực quyền. Nói về vận hóa, tay trái dẫn nửa thân trái vận hóa về bên trái, khai là thái dương, hợp là thái âm. Tay phải theo đó mà khai là thiếu dương, hợp là thiếu âm; bên phải cũng vậy. Cương nhu tức bao hàm trong đó, nên thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng. Lưỡng nghi là âm dương, cũng tức khai hợp. Tứ tượng là thái dương, thái âm, thiếu dương, thiếu âm. Âm dương khai hợp, hóa sinh lẫn nhau, đạt đến cực thì hồn nguyên một khí, tuần hoàn không đầu, biến động khôn dò. Cho nên kẻ không hiểu âm dương khai hợp tức không hiểu cương nhu động tĩnh làm dụng cho nhau, lệch cương lệch nhu, không thể tương tế, thì xa gốc thái cực quyền lắm rồi. Lại thầy ta là Phẩm Tam tiên sinh nói: "Đạo luyện quyền, hai chữ khai hợp nói hết, một âm một dương gọi là quyền, chỗ diệu ở làm gốc cho nhau mà thôi". Lại làm hai bài thơ bảy chữ, bài một nói: "Động thì sinh dương tĩnh sinh âm, một động một tĩnh làm gốc cho nhau, quả biết được thú trong vòng, trở chuyển tùy ý thấy chân trời". Bài hai nói: "Âm dương không đầu cũng không cuối, qua lại co duỗi chứa hóa công, thông suốt tin tức trong đó, thái cực chỉ trong một vòng".
Vận hóa chuyển quan Vận hóa là tiên cơ của chuyển quan, quan tức là huyệt đốt toàn thân người, nên chuyển quan cũng gọi là chuyển tiết. Phàm người mới học, phần nhiều chuộng lực vụng mà không có linh kình, nên dùng vận hóa để trừ khí trệ, khiến chuyển quan đạt đến hư linh, vì hư thì có để tụ, linh thì có để ứng; hư thì tập, linh thì cảm; tập thì tĩnh, cảm thì động; nổi lên xoay chuyển, khai hợp biến hóa, không thể rời vận hóa chuyển quan. Cái gọi là vận hóa chuyển quan, tức từ nhu gân hoạt tiết mà đến tiếp xương đấu mộng (đọc là duẩn), nếu không biết điều này, thì không đủ để nói về hư linh của động tĩnh.
· 327 · Hư thực Thái cực quyền trong khoảnh khắc động tĩnh, không đâu không có hư thực, nên trong phép luyện của nó, tiến lên, thoái về, xoay trái, chuyển phải, nâng chân là hư, đặt chân là thực, quay trái thì trái thực, quay phải thì phải thực, tiến thì sau hư, thoái thì trước hư; nếu hư thực không phân, ắt phạm tệ kéo chân nhấc cẳng; tinh mà cầu thì mỗi chỗ tự có hư thực của mỗi chỗ. Luyện thì như vậy, đối địch với người cũng lại như vậy; người hư thì ta thực, người thực thì ta hư, hư thì thực đó, thực thì hư đó. Lâm địch thừa cơ, chớ câu nệ định pháp, ấy là được yếu đế.
Biến hóa Biến hóa có biến hóa của một tay, có biến hóa của một chiêu, có biến hóa của một thế; nhưng bất luận một tay, một chiêu, một thế, cái biến mà hóa được đều từ đơn giản dần đến tường mật. Lấy khai hợp làm biến hóa của một tay, lấy chuyển quan làm biến hóa của một chiêu, đây tức là nghĩa trên truyền dưới tiếp. Chỉ có thân pháp, bộ pháp, xoay chuyển chặt chẽ, biến đổi phương hướng, đều thuộc biến hóa của một thế. Từ khai triển đến chặt chẽ, chớ vượt khỏi phạm vi, loạn thứ tự; tự nhiên tích tay thành chiêu, chiêu hợp thành thế, thế liền thành bộ. Mới luyện dường như thấy có ranh giới, luyện lâu công phu thuần thục, tự nhiên hoát nhiên quán thông, vận chuyển tự như, ngàn biến muôn hóa, tùy tâm sở dục vậy.
Bộ châu Tiên triết có nói: "Vật có gốc ngọn, việc có cuối đầu, biết điều trước sau thì gần đạo vậy". Nếu không có phân biệt nông sâu, thứ tự trước sau, tức là mất gốc rễ; bất luận người dạy bản lĩnh cao cường thế nào, người học nhất định không thể nghệ siêu hơn chúng. Nên bộ châu luyện thái cực quyền thuật có ba tầng công phu: bước thứ nhất, lúc học nên chậm, chậm không nên ngu ngốc; bước thứ hai, tập rồi mà nhanh, nhanh không được loạn; bước thứ ba, nhanh rồi lại hoãn, ấy là nhu, nhu lâu cương tự ở trong đó, ấy là cương nhu tương tế. Người dạy ắt do đó mà dạy, người học cũng ắt do đó mà học, thì gần như không sai lệch.
· 328 · Người luyện thái cực quyền thuật, vốn càng chậm càng nhu càng tốt, không nên dùng lực mang khí; lại phải biết đến khi nào có thể đổi kình, và chậm đến khi nào có thể nhanh nhu, đến khi nào có thể cương. Điều này liên quan đến trách nhiệm của việc dạy học; nên giải thích từ đầu đến cuối, rồi thi hành vào phép, để dễ biết thứ tự công dụng, làm thang bậc nhập môn. Nếu có thể định trước tiến độ, tùy người mà phát, khiến người học tinh thần rạng rỡ, hứng thú vòng quanh, tự nhiên dễ được đường lối, tiến bộ nhanh chóng.
Khai hợp của eo và đương Người luyện thái cực quyền đối với yếu điểm của hai bộ phận eo và đương không thể không biết, một khai một hợp, một động một tĩnh, eo và đương mỗi cái có chuyên chú, lại quý ở dùng lẫn nhau, nên phải phân tích rõ ràng.
Yếu điểm của eo là: vặn eo, hoạt eo, sụp eo.
Yếu điểm của đương là: lỏng đương, hợp đương, khấu đương.
Khi vặn eo thì đương phải khấu, không khấu thì tán; khi hoạt eo thì đương phải lỏng, không lỏng thì trệ; khi sụp eo thì đương phải hợp, không hợp thì phù.
Phàm sụp eo hoạt đương là súc kình, hoạt eo lỏng đương là nhu kình. Chỉ khi xuất kình phải khấu đương vặn eo.
Nay lấy các thế các chiêu mà nói rõ: như trong quyền thức có Yểm thủ chùy, Phi thân chùy, Thanh long xuất thủy, Trửu để khán quyền, Thiểm thông bối, Thanh long hý thủy, Nhị khởi thức, Thích nhất cước, Đặng nhất cân, Tiểu cầm nã, Bão đầu thôi sơn, Tiền chiêu, Hậu chiêu, Dã mã phân tông, Ngọc nữ xuyên toa, Bãi cước điệt xóa, Thập tự cước, Chỉ đương chùy, Thanh long lãm thủy, Bãi cước, Đương đầu pháo v.v., đều thuộc khấu đương vặn eo. Kim cương đảo đối, Lãn trát y, Đan tiên, Bạch hạc lượng sí, Lâu tất ảo bộ và thức thu, thức hợp v.v., đều thuộc lỏng đương hoạt eo.
Phàm khi thế quyền đã thành thì đương nên hợp, eo nên sụp; nghĩa chủ ở tĩnh, tức là chiêu này đã dừng, chiêu sau chưa làm, hư linh kình dự súc trong đó, động thì ắt biến ắt phát, nên công hiệu vô lượng. Thời gian và phương hướng nó hướng tới không thể định trước, gặp trái thì trái ứng, gặp phải thì phải ứng; trên dưới, trước sau, cương nhu, hoãn cấp, khinh trọng, đều biết cả.
· 329 · Vòng tròn của thái cực quyền Nghe nơi tiên nghiêm rằng, công thái cực quyền lấy mất vòng làm lên đỉnh tột bậc, không thể một bước mà tới, phải theo thứ tự tiến dần, từ vòng lớn thu đến vòng nhỏ, vòng nhỏ thu đến mất vòng, lại lấy nội kình làm thống ngự, liên quán biến hóa, vận dụng thần diệu; kỹ đến đây, trên hình thức không còn cách nào nắm bắt được nữa.
8. Yếu điểm của thái cực quyền — Trần Tử Minh Ta căn cứ lời cha và thầy, làm thành ba thiên yếu nghĩa thái cực quyền; lại sợ người mới học không được yếu lĩnh của nó, không ngại phiền phức, kính nêu yếu điểm để làm tham khảo cho người nghiên cứu bước đầu.
1. Tính chất: Tính chất của thái cực quyền, thầy ta Phẩm Tam tuy nói "trong cương chứa nhu, trong nhu chứa cương, cương nhu tương tế, vận hóa vô phương", lời ấy nói công phu khi đã thành tay. Mới học nên lấy tự nhiên nhu hoạt làm chính; nhu nên lỏng, hoạt nên dẫn; nhu mà không lỏng, hoạt mà không dẫn, tức không tự nhiên, sao có thể đạt kiên cương về sau.
2. Phương pháp: Phương pháp của thái cực quyền, điều chủ yếu nhất là tám chữ: "hư thực khai hợp, khởi lạc toàn chuyển", mới học nên phân biệt cho rõ.
3. Trình tự: Trình tự tập thái cực quyền, phải trước chậm sau nhanh, nhanh rồi lại hoãn, trước nhu sau cương, sau đó cương nhu mới có thể tương tế.
4. Tư thế: Giá thức khi động tác dừng lại gọi là tư thế; yếu điểm tư thế thái cực quyền không ngoài tay dẫn mắt theo, thân đoan bộ vững, vai bằng thân hợp, lại phải chú ý kình của hai bộ phận đỉnh và đương, đừng để có mất, nếu không ắt khiến trên nặng dưới nhẹ, toàn thân nghiêng lệch, đứng không vững, trăm bệnh đua ra.
5. Động tác: Động tĩnh tác thế của thái cực quyền, thuần nhiệm tự nhiên, vận hóa linh hoạt, tuần hoàn không đầu; phải biết hư thực khai hợp, khởi lạc toàn chuyển của nó đều từ hình tròn mà ra. Phàm bước đầu nhập môn, lấy vòng lớn làm phép, đầu thì nhu gân hoạt tiết, tiến thì tiếp xương đấu mộng. Người học thật hiểu điều này, thân làm tâm nghĩ, sớm tối như thế, tinh mà cầu, tiến bộ tự nhanh.
6. Hô hấp: Hô hấp điều khí đủ để phát đạt phổi; nếu sau khi hô hấp buổi sáng mà luyện · 330 · …tập quyền thuật, hoặc khi luyện quyền có hô hấp thích đáng, theo động tĩnh xuất nạp của nó mà điều khí, thì cân thịt và phổi ắt đồng thời phát đạt, tự nhiên không có nỗi lo phổi yếu.
7. Tinh thần: Tinh thần của thái cực quyền lấy hư linh làm cực tột; người mới tập vốn không thể đạt cảnh giới ấy, nhưng nếu giữ được các yếu điểm đã nêu, khế mà không bỏ, lâu dần tự nhiên nước đến kênh thành.
8. Toàn thân tùy theo: Tứ chi bách hài cùng phối hợp động tác, ấy gọi là toàn thân tùy theo; nên thái cực quyền một động không gì không động, một tĩnh không gì không tĩnh.
9. Biến chiêu chuyển thế: Biến chiêu và chuyển thế của thái cực quyền vốn thuộc hai cách giải. (Một) Chiêu trước đã dừng, chiêu sau chưa làm, động tác ở giữa thành một thế gọi là biến chiêu, như thức hữu hợp khi lãm xuống của Lãn trát y, lại như thức hữu thu khi lãm xuống của Lâu tất ảo bộ, hai thức tả thu trước Dã mã phân tông và Ngọc nữ xuyên toa, đều là biến chiêu. (Hai) Một động tác ở giữa khi chiêu này dừng mà sắp làm chiêu sau gọi là chuyển thế, như chuyển trái dưới Đan tiên, lại như chuyển phải dưới Yểm thủ chùy v.v., đều thuộc chuyển thế, đều phải phân biệt cho rõ.
10. Thân làm tâm duy: Tục ngữ nói "miệng đọc tâm duy", đọc sách còn như thế, huống chi tập võ? Nên thân mà làm, tâm mà duy, là một phép thực tập dễ khiến người tiến bộ nhất. Thân làm tâm duy của thái cực quyền, điều cốt yếu là: thân nên làm cho viên hoạt, tâm nên duy cho hư linh.
11. Không tham không vọng: Tập thái cực quyền kỵ nhất là tham nhiều, lại răn vọng động; phàm vận dụng và tư thế đều phải cầu cho chính xác, ngõ hầu sau khi luyện thành không đến nỗi phạm bệnh, mà tinh tiến tự dễ. Kẻ tham kẻ vọng, thành tựu rốt cuộc hiếm; tệ này người mới học mười phần chín khó tránh, nên hết sức lưu ý.
(Hai thiên trên trích từ Trần thị thế truyền thái cực quyền thuật của Trần Tử Minh, bản Thượng Hải năm 1932.)
(Do Cố Lưu Hinh tuyển biên chỉnh lý)
· 331 ·


























































































































