Uy Lực Nội Gia Quyền
Sức Mạnh Của Nội Gia Quyền Thuật
Sức Mạnh Của Nội Gia Quyền Thuật
Bí Mật Chiến Đấu Của Bát Quái Chưởng, Thái Cực Quyền Và Hình Ý Quyền
BRUCE KUMAR FRANTZIS
North Atlantic Books
Berkeley, California
Một cuốn sách của Clarity Press
Trang Bản Quyền
The Power of Internal Martial Arts:
Combat Secrets of Ba Gua, Tai Chi, and Hsing-I
Bản quyền © 1998 thuộc về Bruce Kumar Frantzis. Mọi quyền được bảo lưu. Không một phần nào của cuốn sách này, ngoại trừ những trích dẫn ngắn trong bài điểm sách, được phép sao chép, lưu trữ trong một hệ thống truy xuất, hay truyền tải dưới bất kỳ hình thức hay phương tiện nào — điện tử, cơ học, photocopy, ghi âm, hay bất cứ cách nào khác — nếu không có sự cho phép bằng văn bản của nhà xuất bản.
Để biết thêm thông tin, xin liên hệ:
B. K. Frantzis Energy Arts®
P.O. Box 99
Fairfax, CA 94978-0099, Hoa Kỳ.
In lần đầu tại Clarity Press, 1998
Phát hành bởi
North Atlantic Books
P. O. Box 12327
Berkeley, California 94712
The Power of Internal Martial Arts được bảo trợ bởi Hội Nghiên Cứu Nghệ Thuật Và Khoa Học Bản Địa (Society for the Study of Native Arts and Sciences), một tổ chức giáo dục phi lợi nhuận với các mục tiêu: phát triển một cái nhìn giáo dục và giao lưu văn hóa kết nối những lĩnh vực khoa học, xã hội và nghệ thuật khác nhau; nuôi dưỡng một cái nhìn toàn diện về nghệ thuật, khoa học, nhân văn và trị liệu; cùng xuất bản và phổ biến các tài liệu về mối quan hệ giữa tâm, thân và thiên nhiên.
Dữ Liệu Biên Mục Của Thư Viện Quốc Hội (Library of Congress Cataloging-in-Publication Data)
Frantzis, Bruce Kumar
The power of internal martial arts : combat secrets of ba gua, tai chi, and hsing-i / Bruce Kumar Frantzis.
p. cm.
ISBN 1-55643-253-4
1. Võ thuật — Khía cạnh tâm lý. I. Nhan đề.
GV1102.7.P75F73 1998
796.8—dc21 97-21285
CIP
2 3 4 5 6 7 8 9 10
In tại Hoa Kỳ
Lời Đề Tặng
Tôi xin đề tặng cuốn sách này cho những người tập luyện võ thuật thuộc mọi môn phái, những người mà bằng nỗ lực chân thành của mình đang góp phần gìn giữ và nuôi dưỡng những truyền thống sống động của võ thuật cho các thế hệ mai sau.
Ghi Chú Gửi Độc Giả
Tất cả các thuật ngữ in đậm xuất hiện trong phần văn bản chính và trong các ô đặc biệt của cuốn sách này đều được định nghĩa trong bảng thuật ngữ chính được sắp theo vần ABC ở cuối sách. Để tiện cho người đọc, cũng có thêm — chỉ trong phần văn bản chính — một bảng thuật ngữ ở lề, định nghĩa các thuật ngữ in đậm ngay trên trang mà chúng lần đầu xuất hiện. Bảng thuật ngữ ở lề này đưa ra những định nghĩa ngắn gọn, vốn thường được mở rộng trong bảng thuật ngữ chính.
Việc tập luyện các động tác võ thuật và các môn thiền định có thể mang theo những rủi ro. Những cá nhân có vấn đề về y khoa, tinh thần hay cảm xúc nên tham khảo ý kiến nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của mình trước khi thực hành các phương pháp này.
Về Tác Giả
Bruce Kumar Frantzis đã nghiên cứu các phương pháp trị liệu Phương Đông, võ thuật và thiền định từ năm 1961. Là một đệ tử truyền thừa trong các môn nghệ thuật của Đạo gia, ông Frantzis giảng dạy nội gia quyền thuật, chủ yếu ở Bắc Mỹ và châu Âu. Ông cũng hướng dẫn những kỹ thuật Đạo gia có khả năng chữa lành, tăng cường sinh lực và thúc đẩy sự phát triển tâm linh. Ông là một trong hai đệ tử của vị chân nhân Đạo gia quá cố Lưu Hùng Tiệp (Liu Hung Chieh). Lưu đã chính thức truyền lại pháp mạch của mình cho ông Frantzis, trao cho ông quyền lực để truyền dạy kho tàng tri thức cổ xưa này cho thế giới phương Tây. Ngoài Lưu Hùng Tiệp, B. K. Frantzis còn học với một số bậc cao nhân nội gia quyền thuật lừng danh khác của phương Đông, và ông đã kết hợp cũng như giải mã những tri thức ấy cho tất cả những ai quan tâm đến lĩnh vực đầy lôi cuốn này của võ thuật. Ông Frantzis là tác giả của Opening the Energy Gates of Your Body (North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993), và bộ sách Pháp Thiền Định Thủy của Đạo gia (Water Method of Taoist Meditation), Tập 1: Relaxing into Your Being (1998), và Tập 2: The Great Stillness (1999), cả hai đều có sẵn tại B. K. Frantzis Energy Arts (xem trang 344).
MỤC LỤC
Lời Tựa xvii
Nhận Diện Các Nhân Vật Được Nhắc Đến Trong Sách xix
Các Môn Phái Nội Gia Quyền Thuật Được Nhắc Đến Trong Sách xxiii
Dẫn Nhập 1
THÚ, NGƯỜI VÀ TÂM LINH
Ba Cách Tiếp Cận Võ Thuật 5
Cách Tiếp Cận Của Loài Thú 6
Cách Tiếp Cận Của Con Người 9
Thế Nào Là “Nghệ Thuật” Của Nội Gia Quyền Thuật? 11
Cách Tiếp Cận Tâm Linh 11
Hãy Tập Luyện Một Cách Sáng Suốt 15
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) — Khí Lực Đáng Kinh Ngạc 16
MỘT TRỤC LIÊN TỤC
Ngoại Gia Và Nội Gia Quyền Thuật Của Trung Hoa 21
Có Rất Nhiều Loại Võ Thuật 21
Cúi Chào, Đai Và Đồng Phục 23
Có Môn Võ Nào “Tốt Hơn” Môn Không? 25
Thế Nào Là Ứng Dụng Chiến Đấu? 26
Sự Khéo Léo Của Các Động Tác Trong Bài Quyền Có Chứa Ứng Dụng Chiến Đấu 28
Những Bài Quyền Võ Thuật Tốt Được Sáng Tạo Bởi Những Người Chuyên Nghiệp 29
Bài Quyền Sống Và Bài Quyền Chết 30
Bài Quyền Chết Và Việc Đối Diện Với Thực Tại 32
Trọng Tâm Của Ngoại Gia Quyền Thuật 34
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Những Ưu Tiên Ban Đầu: Karate Và Aikido 38
Sức Mạnh Và Thể Lực 35
Tốc Độ 36
Sức Bền 36
Phản Xạ 37
Ngoại Gia Quyền Thuật Ở Trong Và Ngoài Trung Hoa 38
Ngoại Gia Quyền Thuật Pha Trộn Một Ít Công Phu Nội Gia 42
Trọng Tâm Khi Kết Hợp Ngoại Gia Và Nội Gia Quyền Thuật 43
Trọng Tâm Của Nội Gia Quyền Thuật 46
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Bạch Hạc Quyền 47
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Khám Phá Bên Trong Cơ Thể Và Khí Của Tôi — Học Cách Đứng 50
Khí Và Thực Tại Của Tự Vệ 53
Lý Do Tập Trung Vào Bát Quái Trong Cuốn Sách Này 54
Khí Công Thiết Y 54
Tập Luyện Binh Khí 55
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) — Chậm Mà Nhanh 58
NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT
Nội Gia Quyền Thuật Của Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền Và Bát Quái Chưởng 61
Năm Đặc Tính Của Nội Gia Quyền Thuật 61
Phát Triển Sức Mạnh Võ Thuật Bằng Khí 62
Hệ Thống Nội Công 16 Phần 62
Cách Sức Mạnh Khí Nội Gia Trong Võ Thuật Được Tạo Ra Bởi Hệ Thống Nội Công 16 Phần Của Đạo Gia 64
Mối Quan Hệ Giữa Khí Công Và Việc Tập Bài Quyền Võ Thuật 65
Ba Đề Nghị Cơ Bản Để Thẩm Định Sức Mạnh Nội Gia Một Cách Thực Tế 66
Quá Trình Học Nội Công 67
Trình Tự Của Quá Trình Học Tập 68
Quá Trình Nội Công Giống Như Rèn Một Thanh Kiếm Samurai 69
Điểm Nhấn Vào Một Yếu Tố Của Nội Công: Quá Trình Hòa Tan 69
Quá Trình Hòa Tan Bên Ngoài 69
Quá Trình Hòa Tan Bên Trong 70
Hòa Tan Vào Không Gian Trong Và Ngoài Đồng Thời 71
Những Cấp Độ Cảm Nhận: “Ta,” “Khí,” Và “Tâm” 71
Bản Chất Của Cái “Ta” Hay Ý 72
Cấp 1: Cảm Nhận Cơ Thể Và Khí Của Bạn 72
Cấp 2: Các Động Tác Chuyển Tiếp — Phát Triển Cái “Ta” Hơn Nữa 72
Cấp 3: Công Phu Kinh Mạch Cụ Thể 73
Cấp 4: “Tâm” (Hsin) Hay Tâm/Ý 74
Sự Vận Hành Trực Tiếp Và Gián Tiếp Của Khí 75
Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền Và Bát Quái Chưởng — Cái Gì Giống Nhau, Cái Gì Khác Biệt? 76
Những Góc Nhìn Triết Học: Cứng, Mềm Và Biến Đổi 77
Cách Ba Môn Di Chuyển 79
Sự Nhấn Mạnh Vào Bộ Pháp, Yêu Và Tay 79
Những Điểm Chung 80
Điểm Yếu 80
Sự Cần Thiết Phải Tìm Kiếm Và Thử Thách Thực Tại 81
Vượt Qua Sự Hăm Dọa Và Nỗi Sợ 81
Hiệu Quả Và Tỷ Lệ Rủi Ro—Phần Thưởng 83
Học Bát Quái, Thái Cực Quyền Hay Hình Ý Quyền Để Chiến Đấu 83
Sức Khỏe Và Năng Lực Võ Thuật 84
Tập Luyện Sức Mạnh Cơ Bản 84
Tầm Quan Trọng Của Việc Tập Đứng Trụ Đối Với Sự Phát Triển Lâu Dài Của Nội Lực 86
Tám Giai Đoạn Tập Luyện Của Bát Quái Để Phát Triển Kỹ Năng Chiến Đấu 87
Vượt Lên Từ Có Bài Quyền Đến Vô Bài Quyền: Mục Tiêu Của Nội Gia Quyền Thuật Cấp Cao 87
Giai Đoạn I Và II 88
Giai Đoạn III, IV Và V 89
Giai Đoạn VI, VII Và VIII 90
Các Kỹ Thuật Chiến Đấu Nội Gia 91
Những Đòn Đánh Bằng Tay Và Bằng Chưởng Của Nội Gia Quyền Thuật 91
Các Loại Đòn Đánh Và Động Tác Tay 92
Đòn Xuyên Thấu 93
Đòn Đánh Cong Hướng Lên 93
Các Động Tác Chém 93
Đòn Đánh Bằng Ngón Tay 94
Đòn Đánh Bằng Khớp Ngón Tay 94
Nắm Bắt 94
Đòn Tát 94
Những Sự Đảo Chiều Trái-Phải, Tới-Lùi, Lên-Xuống 95
Đòn Đánh Rung 96
Đòn Đánh Ngưng Tụ 97
Đòn Đánh “Bàn Tay Bông” 97
Đòn Đánh Năng Lượng Dạng Sóng 97
Phóng Năng Lượng Đồng Thời Theo Các Hướng Ngược Nhau 98
Chin Na (Cầm Nã) 98
Các Đòn Quăng 98
Các Kỹ Thuật Đá 99
Một Cú Đá Là Một Bước Chân Và Một Bước Chân Là Một Cú Đá 100
Những Cú Đá Và Đòn Ốp Đầu Gối Có Nguồn Gốc Từ Bài Quyền 101
Đá Xuống Hay Giậm Chân 101
Sự Thiếu Vắng Kỹ Thuật Vật Lộn Trên Chiếu 101
Các Góc Chiến Đấu 103
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Vịnh Xuân Quyền 104
Ý Nghĩa Của Các Bài Thú Trong Nội Gia Quyền Thuật 107
Các Bài Tập Đối Kháng 108
Tập Với Bạn Bè, Đánh Với Kẻ Thù 109
Fa Jin (Phát Kình) 110
Những Phẩm Chất Võ Thuật Của Các Phương Pháp Tiểu, Trung Và Đại Động Tác Của Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền Và Bát Quái Chưởng 111
Chuyển Động Thân Thể 112
Công Phu Năng Lượng 113
Ứng Dụng Võ Thuật 114
Tầm Quan Trọng Của Mối Quan Hệ Thầy—Trò Và Pháp Mạch 115
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Ueshiba Morihei (Morihei Ueshiba) — Ông Lấy Sức Mạnh Đó Từ Đâu? 118
THÁI CỰC QUYỀN
Những Cân Nhắc Và Ứng Dụng Chiến Đấu 121
Thái Cực Quyền Với Tư Cách Một Môn Võ Thuật 121
Tám Nguyên Lý Võ Thuật Cơ Bản Của Thái Cực Quyền 123
Một: Bàng (Peng) 127
Hai: Lý (Lu) 128
Lý Và Dính (Sticking) 132
Ba: Tế (Ji) 134
Bốn: Án (An) 135
Bàng, Lý, Tế Và Án Vừa Hiện Lộ Vừa Ẩn Tàng 136
Cấp Độ Hiện Lộ 136
Cấp Độ Ẩn Tàng 137
Những Năng Lượng Ẩn Tàng: Bàng, Lý, Tế Và Án Được Cài Cắm 137
Năm: Thải (Tsai) 138
Sáu: Liệt (Lieh) 138
Bảy/Tám: Trửu (Jou)/Kháo (Kao) 139
Đòn Trửu Và Đòn Kháo Liên Hệ Trực Tiếp Với Hạc Và Xà 139
Bốn Giai Đoạn Tiến Triển Để Học Thái Cực Quyền Như Một Môn Võ Thuật 142
Bài Quyền Trường Và Bài Quyền Đoản 142
Trái Và Phải Trong Tập Bài Quyền 143
Giai Đoạn 1: Tập Bài Quyền (Trường Quyền Hoặc Đoản Quyền) 143
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Đứng Trụ Và Tập Luyện Sức Mạnh Cơ Bản — Học Cách Tự Tập Một Mình 150
Giai Đoạn 2: Thôi Thủ 147
Những Phương Tiện Để Đạt Được Các Mục Tiêu Của Thôi Thủ 148
Các Loại Thôi Thủ 155
Phương Pháp Cố Định Và Tự Do 155
Bốn Phong Cách Thôi Thủ 156
Giai Đoạn 3: Lộ Rõ Nanh Võ Của Bạn: Các Phương Pháp Chuyển Tiếp Giữa Thôi Thủ Và Đối Kháng 158
Giai Đoạn 4: Đối Kháng Và Chiến Đấu Thực Sự 159
Nhiều Loại Đối Kháng Khác Nhau 162
Những Loại Thầy Dạy Thái Cực Quyền Mà Bạn Có Thể Gặp 163
Một Nhân Cách Dạy Thái Cực Quyền Tuyệt Vời: T. T. Liang 166
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Dương Thiệu Quân (Yang Shao Jung) — Đôi Tay Từ Tính 167
HÌNH Ý QUYỀN
Những Cân Nhắc Và Ứng Dụng Chiến Đấu 171
Hình Ý Quyền Với Tư Cách Một Môn Võ Thuật 171
Hình Ý Là Một Chiếc Cầu Nối Tuyệt Vời Từ Ngoại Gia Sang Nội Gia 172
Nguồn Gốc Lịch Sử Của Hình Ý Quyền 173
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Bắc Đường Lang 174
Ba Môn Phái Chính Của Hình Ý Quyền 178
Môn Phái Sơn Tây 178
Môn Phái Hà Bắc 179
Môn Phái I Chuan (Ý Quyền) 180
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Hình Ý Của Kenichi Sawai, Gọi Là Taiki-Ken 182
Các Kỹ Thuật Và Phương Pháp Tập Luyện Của Hình Ý Quyền 185
Ngũ Hành 186
Quyền Chặt/Xẻ (Pi Chuan) 187
Quyền Khoan (Tsuan Chuan) 187
Quyền Băng (Beng Chuan) 188
Quyền Pháo (Pao Chuan) 188
Quyền Hoành (Heng Chuan) 189
Tam Thể (San Ti) 190
San Ti Dạy Những Gì 190
Hơi Thở 191
Chân Và Yêu (Eo) 192
Tay 192
Thống Nhất Những Kết Nối Vật Lý Bên Ngoài Của Bạn 193
Dùng Ánh Mắt Để Thống Nhất Những Kết Nối Bên Trong Của Bạn 194
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Nhìn (Gazing) 195
Các Bài Thú 196
Thêm Về Ngũ Hành Và Các Bài Thú 197
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Hầu Quyền 199
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Hồng Nghĩa Hương (Hung I Hsiang) — Chuyển Động Vi Tế Của Thân Thể Đáng Kinh Ngạc 203
BÁT QUÁI CHƯỞNG
Những Cân Nhắc Và Ứng Dụng Chiến Đấu 207
Bát Quái Chưởng Với Tư Cách Một Môn Võ Thuật 207
Nguồn Gốc Mờ Mịt Của Bát Quái 207
Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan) Huyền Bí 207
Những Phẩm Chất Võ Thuật Độc Đáo Của Bát Quái 208
Chiến Đấu Với Tám Đối Thủ Cùng Lúc 209
Khí Tiền Thiên Và Khí Hậu Thiên 210
Các Triết Lý Tập Luyện Võ Thuật Của Phương Pháp Tiền Thiên Và Hậu Thiên Của Bát Quái 211
Tập Luyện Tiền Thiên 212
Tập Luyện Hậu Thiên 212
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA: Bạch Hoa (Bai Hua) — Sự Sáng Rõ Và Chính Xác 214
Tập Luyện Bát Quái 216
Các Giai Đoạn Của Đi Vòng Tròn 216
Những Đặc Tính Của Đi Vòng Tròn 217
Những Phẩm Chất Vật Lý Của Đi Vòng Tròn 218
Những Phẩm Chất Năng Lượng Của Đi Vòng Tròn 219
Những Năng Lượng Của Kinh Dịch — Khởi Đầu Của Bát Quái Cấp Cao 220
Bát Mẫu Chưởng 220
Shi Liu Và Đơn Hoán Chưởng Cô Đọng 221
Chuyển Động Tự Phát 223
Bien Hua (Biến Hóa) Và Nghệ Thuật Biến Đổi Của Kinh Dịch 223
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Rồng Ra Khỏi Hang 225
Những Năng Lượng Biến Đổi Và Ứng Dụng Chiến Đấu 227
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Bát Tiên Tửu (Tám Tiên Say) 228
Thay Đổi Các Góc Tấn Công: Vòng Tròn, Đường Xoắn Ốc, Tam Giác Và Hình Vuông 231
Vòng Tròn Và Đường Xoắn Ốc 233
Tam Giác Và Hình Vuông 234
Các Bài Tập Đối Kháng 235
Rou Shou Hay “Tay Mềm” 235
Trình Tự Tiến Bộ Của Việc Tập Luyện 236
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Lưu Hùng Tiệp (Liu Hung Chieh) — Những Khả Năng Của Môn Nghệ Thuật Được Thể Hiện 241
TỐC ĐỘ
Bản Chất Của Tốc Độ Trong Mọi Môn Phái Võ Thuật 249
Đạt Được Bốn Loại Tốc Độ Cơ Bản 249
Loại I: Tốc Độ Từ Điểm A Đến Điểm B 249
Tốc Độ Của Tay Và Cánh Tay 249
Sự Chuyển Động Của Một Cánh Tay 250
Chuyển Cánh Tay Nhanh Chóng Theo Mọi Hướng 250
Tốc Độ Của Các Vị Trí Tay Khác Nhau 250
Tốc Độ Của Chân Và Bàn Chân 252
Cú Đá 252
Bộ Pháp 252
Xoay Yêu (Eo) Và Thân 252
Loại II: Tốc Độ Khi Tiếp Xúc 253
Tốc Độ Trong Những Khoảng Hở Giữa Tiếp Xúc Và Tách Rời 257
Một Ghi Chú Về Tốc Độ Tiếp Xúc Và Không Tiếp Xúc 257
Loại III: Tốc Độ Trong Những Điều Kiện Khác Nhau 257
Theo Dấu Và Canh Thời Gian — Đổi Hướng Giữa Chừng Trong Một Động Tác 257
Các Kỹ Thuật Tuyến Tính Và Vòng Tròn 259
Loại IV: Tốc Độ Trong Tương Quan Với Sức Mạnh 259
Tốc Độ Với Sức Mạnh Tối Thiểu, Trung Bình Và Tối Đa 259
Nghịch Lý Nhanh/Chậm Của Nội Gia Quyền Thuật 260
Những Phẩm Chất Chung 263
Các Chiến Lược Chuyên Biệt 265
CHÂN DUNG CÁC BẬC THẦY NỘI GIA
So Sánh Năm Bậc Thầy — Những Loại Tốc Độ Khác Nhau Của Họ 267
DÙNG NĂNG LƯỢNG ĐỂ CHỮA LÀNH
Những Khía Cạnh Sức Khỏe Của Võ Thuật 271
Nội Gia Quyền Thuật Như Những Hệ Thống Trị Liệu Bằng Năng Lượng 271
Sự Khác Biệt Giữa Sức Khỏe Và Thể Lực Từ Góc Nhìn Nội Gia 272
Sức Khỏe Cá Nhân: Jack Pao Và Bản Chất Của Những Giới Hạn 272
Bạn Có Phải Học Tự Vệ Để Nhận Được Những Lợi Ích Sức Khỏe Không? 273
Sức Khỏe Và Thể Lực Trong Nội Gia Quyền Thuật 276
Cách Nội Gia Quyền Thuật Và Khí Công Tạo Ra Sức Khỏe 280
Sửa Chữa Khí Bị Kích Động 281
Nội Gia Quyền Thuật Như Một Con Đường Tự Nhiên Để Trở Thành Một Người Trị Liệu Bằng Tay 282
Mối Kết Nối Giữa Nội Gia Quyền Thuật Và Công Việc Trị Liệu 283
Giá Trị Của Một Sự Tập Luyện Khí Công Và Nội Gia Quyền Thuật Cá Nhân Đối Với Những Người Trị Liệu Phương Tây 284
Nạp Năng Lượng Cho Đôi Tay 284
Ngăn Ngừa Và Phục Hồi Sau Kiệt Sức 284
Giá Trị Của Việc Học Các Môn Nội Gia Đối Với Những Người Tập Võ Lớn Tuổi 286
Ai Nên Tập Nội Gia Quyền Thuật Sau Tuổi Ba Mươi? 287
Võ Sĩ Và Tuổi Tác 288
Nội Gia Quyền Thuật Và Sức Khỏe Tinh Thần 290
Nội Gia Quyền Thuật Cho Tuổi Teen 290
Những Lợi Ích Sức Khỏe Tinh Thần Của Nội Gia Quyền Thuật 290
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Chữa Lành Người Khác — Hoàng Tây (Huang Hsi I) Và Khí Trị Liệu 293
PHỤ LỤC
A
Các Môn Phái Thái Cực Quyền Khác Nhau: Một Lược Sử 297
Nguồn Gốc Của Các Môn Phái Thái Cực Quyền Khác Nhau 297
Thái Cực Quyền Nguyên Thủy Của Làng Trần Gia 297
Thái Cực Quyền Rời Khỏi Làng Trần Và Trở Thành Dương Thị Rồi Sau Đó Là Hác Thị 298
Trần Thị Sinh Ra Dương Thị Của Thái Cực Quyền 298
Dương Thị Cộng Với Tiểu Giá Của Trần Thị Sinh Ra Hác Thị/Ngô Thị 300
Cổ Dương Thị Chuyển Thành Tân Dương Thị 300
Cổ Dương Thị 300
Tân Dương Thị 301
Dương Thị Sinh Ra Ngô Thị 301
Tư Duy Võ Thuật Truyền Thống 302
Các Môn Phái Kết Hợp 303
Các Môn Phái Thái Cực Quyền Khác: Gia Tộc, Bí Truyền Và Những Pháp Mạch Thất Truyền 304
Điều Gì Khiến Các Môn Phái Mới Được Sáng Tạo? 305
Mới Và Cải Tiến So Với Bị Pha Loãng 305
Nguyên Nhân Của Sự Biến Đổi Trong Cùng Một Môn Phái 306
Bối Cảnh Của Bát Quái: Một Lược Sử 308
Sự Thành Lập Của Môn Phái Bát Quái Trong Thời Cận Đại 308
Bốn Học Trò Chính Của Đổng Hải Xuyên 308
Doãn Phúc (Yin Fu, 1842-1911) 308
Trình Đình Hoa (Cheng Ting Hua, 1848-1900) 309
Mã Thế Thanh (Ma Shr Ching, hay Mã Quý/Ma Gui, 1853-1940) 309
Mã Duy Kỳ (Ma Wei Chi, 1851-1880) 310
Không Có Học Trò Nào Có Khinh Công (Ching Gung) Trong Thời Cận Đại 310
Sự Lan Rộng Của Bát Quái Từ Bắc Kinh Ra Bên Ngoài 311
Bát Quái Ở Hồng Kông 312
Bát Quái Ở Đài Loan 312
Bát Quái Ở Trung Quốc Đại Lục Ngày Nay: Truyền Thống Và Wushu 313
Những Pháp Mạch Khác Nhau 315
Giải Phẫu Năng Lượng Của Cơ Thể Người: Những Kinh Mạch Chính Và Ba Đan Điền 317
Pháp Mạch Và Niên Biểu Tập Luyện: Tóm Tắt Kinh Nghiệm Võ Thuật Của B. K. Frantzis 322
Thuật Ngữ Trung Hoa: Cách La Tinh Hóa Những Chữ Hán Trong Cuốn Sách Này 328
Bảng Thuật Ngữ 331
Chương Trình B. K. Frantzis Energy Arts®: Các Khóa Huấn Luyện Hiện Có 344
LỜI CÁM ƠN CỦA TÁC GIẢ
Nhiều người trong giới võ thuật đã ân cần dành thời gian và công sức cho cuốn sách này trong suốt quá trình hình thành nó. Tôi xin cảm ơn những người đọc bản thảo sau đây vì những phản hồi và lời khuyên của họ:
FRANK ALLEN
Giám Đốc Và Huấn Luyện Viên Trưởng
Hiệp Hội Thể Dục Võ Đang (Wu Tang Physical Culture Association)
New York, New York
BERNARD LANGAN
Huấn Luyện Viên Cao Cấp
Taoist Internal Arts Studio
Berkeley, California
HAL LEHRMAN
Huấn Luyện Viên Trưởng
Aikido of Park Slope
Brooklyn, New York
CLARENCE LU
Phó Giám Đốc
Hiệp Hội Thể Dục Võ Đang
Người Sáng Tạo Chương Trình Mandarin for the Martial Arts
Khu Vực Ngôn Ngữ: New York
ALAN PEATFIELD
Người Tập Luyện Ba Mươi Năm Võ Thuật Châu Á
Dublin, Ireland
ERIC PETERS
Huấn Luyện Viên Thái Cực Quyền Và Khí Công
Martha's Vineyard, Massachusetts
RACHEL ROBINSON
Tam Đẳng Huyền Đai, Kempo Karate
Haverhill, Massachusetts
BILL RYAN
Giám Đốc Cùng Với Các Nhân Viên Cao Cấp
Brookline Tai Chi
Brookline, Massachusetts
ERIC SCHNEIDER
Người Sáng Lập Và Huấn Luyện Viên Trưởng
Hiệp Hội Thái Cực Quyền Đông Bắc (Northeastern Tai Chi Chuan Association)
New York, New York
MICHAEL A. WIECK
Huấn Luyện Viên Hình Ý (I Chuan)
San Francisco/Los Angeles, California
Tôi xin dành sự tri ân đặc biệt cho Stuart Kenter vì công việc biên tập vô giá của ông và vì những nỗ lực của ông trong việc trình bày tri thức cổ xưa phức tạp của phương Đông theo một cách khiến nó trở nên rõ ràng và dễ tiếp cận đối với độc giả hiện đại.
Các Cộng Sự Viên
BIÊN TẬP VIÊN PHÁT TRIỂN/Biên Tập Viên Bản Thảo
Stuart Kenter
ĐÓNG GÓP BIÊN TẬP
Caroline Frantzis
ẢNH BÌA
Mark Thayer
THIẾT KẾ BÊN TRONG VÀ BÌA
Janet Bollow
LỜI TỰA
Mang những định kiến có sẵn vào một cuộc chiến sinh tử là một thực tại hạn hẹp, rất có thể sẽ khiến bạn mất mạng.
Từ bỏ, vào bất kỳ khoảnh khắc nào, những điều ta cho là chân lý là nhiệm vụ khó khăn nhất đối với người chiến binh, nhưng đầu hàng lại không phải là một lựa chọn khi ở trong một tình huống sinh tử. Đời sống dân sự hằng ngày không phải là một chuỗi những sự kiện sinh tử, nhưng nó vẫn là một thách thức đối với sự nhượng bộ và đối với việc khảo sát cái đang ở trước mặt chúng ta.
Việc vận dụng quyền lực là một phần xác định trong sự đảm nhận của người chiến binh, và quyền lực là khả năng hành động vì lợi ích của việc tạo ra sự thay đổi. Những định kiến có sẵn hạn chế khả năng thay đổi của chúng ta, và sự bất lực trong việc thích nghi thông qua thay đổi cản trở sự phát triển của chúng ta. Phát triển là một quá trình buông bỏ — chứ không phải bỏ cuộc — cái mà chúng ta đã xây dựng bản thân mình trên đó. Nó có nghĩa là bước ra khỏi những vũ khí cá nhân của ta và đi thám sát những vùng rìa đang áp sát của những ý tưởng mới có thể có.
May mắn thay, phần lớn việc tập luyện võ thuật không đòi hỏi cái thực tại của việc giết chóc. Vì thế, có không gian và thời gian để hạ thấp sự cảnh giác của mình và buông bỏ những nhận thức của mình, để cho một niềm tin khác đi vào thế giới kinh nghiệm cá nhân của chúng ta. Nếu chúng ta nghe nói rằng vùng đất bên ngoài lãnh địa của mình thì khác biệt và không quan trọng, chúng ta có chấp nhận niềm tin đó như là thực tại của mình, hay chúng ta sẽ đến tận nơi và tự mình nhìn xem?
Huấn luyện chiến đấu của người lính nhấn mạnh vào bản năng thú tính hung hăng vượt qua cả cơn thịnh nộ thông thường. Người lính được dạy phải “không để một chút nghi ngờ nào lọt vào tâm trí.” Sự thật của vấn đề là, không nghi ngờ gì nữa, cuộc đời sẽ làm chúng ta bất ngờ bất chấp việc ta bám víu vào những niềm tin về thế giới và về bản thân mình mạnh mẽ đến đâu. Chúng ta càng siết chặt cuộc đời để áp đặt sự cứng rắn không khoan nhượng của tư duy mình, thì những sự kiện của cuộc đời càng cố gắng lắc chúng ta rời khỏi những nhận thức hạn hẹp. Bảo đảm là như vậy, chúng ta sẽ bị rung lắc đến tận gốc rễ của những nền tảng mà ta hình dung và nhận thức là “bản sắc” của mình trong cõi trần tục này. Mỗi ngày, nếu thực sự đang trên một con đường phát triển võ học, chúng ta sẽ bị thách thức công khai bởi chính mức độ cởi mở của mình đối với cái chưa biết, cái chưa được bản thân thử nghiệm. Sự bất lực trong việc có một tâm trí hay tìm tòi sẽ không cho phép chúng ta quan sát được bản chất thật sự của chiến trường. Trận chiến tối hậu nằm ở bình diện tồn tại nội tại của chúng ta. Chúng ta có mù quáng chấp nhận không? Chúng ta có mù quáng chối bỏ không? Chúng ta có mù quáng biết hết mọi thứ có thể biết không? Mắt chúng ta phải mở thật rộng thì mới bắt đầu lĩnh hội được sự mênh mông bên trong chính mình và cấu trúc của thế giới.
Với tư cách những chiến binh, chúng ta có bổn phận phải đầu hàng trước sự thật rằng chúng ta có thể bị hạn chế trong tất cả những gì mình biết và đã tự lập trình để trở thành. Chúng ta phải nhận ra những giới hạn của mình trong đời sống dân sự hằng ngày, bất luận đó là những vị thế của quyền lực cứng rắn không khoan nhượng do sợ hãi, những vị thế của thẩm quyền tuyệt đối dựa trên tri thức phiến diện, hay những vị thế của sự tương tác xã hội hằng ngày dựa trên cái mà ta tìm cách trình ra cho thế giới. Tất cả những đời sống ấy là tổng thể thực tại của những vận hành nội tại của chúng ta. Nếu chúng ta không thể bước ra khỏi cái mà ta tin rằng cuộc đời là gì, thì chúng ta chỉ là những người lính bình thường đang tuân theo những mệnh lệnh hành quân của cái ngã.
Cuộc chiến tốt đẹp là phải nhận ra cơ chế của nhu cầu nội tâm muốn mình đúng và những cuộc nổi loạn đầy ngã tính mà ta phóng chiếu lên cái chưa biết và cái đáng sợ. Nhận ra sự vận hành cá nhân nội tại này như một giới hạn đối với những ý niệm về sự sống và cái chết cho phép chúng ta có được những kinh nghiệm về sự khiêm nhường và sự thấu hiểu của người chiến binh về bổn phận đối với sự phát triển vô hạn. Chúng ta phải dành chỗ trong các chiến lược niềm tin của mình để sống sót qua những cuộc chiến mà chính ta tạo ra.
Trong kinh nghiệm cá nhân của tôi về mọi điều mà chiến tranh có thể là, tôi đã mang từ những chiến trường vào đời sống dân sự cái điển hình của sự cứng rắn không khoan nhượng và cơn thịnh nộ chiến đấu. Tôi đã mang khía cạnh ấy của đời sống vào võ đường và vào việc tập luyện của mình. Tôi căng cứng về thể xác và chai sạn về tinh thần đến mức — những điều kiện vốn đã phục vụ tôi rất tốt trong chiến đấu sinh tử — tôi đã trở nên bệnh hoạn. Tập luyện với Bruce Kumar Frantzis đã chứng minh cho tôi rằng sự cứng rắn và định hướng tâm trí trong võ thuật là có hạn. Trong ba mươi năm nghiên cứu võ thuật của mình, tôi chưa từng gặp một người đàn ông nào khác có sự toàn vẹn về tri thức như Bruce Frantzis thể hiện. Tri thức của ông ấy là xác thực. Ông ấy không chỉ có thể biểu diễn với kỹ năng lớn lao nội lực có thể đạt được trong chiến đấu, mà còn là một bậc thầy vĩ đại về những năng lực chữa lành của khí. Khả năng truyền thụ các pháp thiền định của Đạo gia của ông đã mang lại sự thay đổi lớn lao và thoải mái cho cuộc đời tôi, mà tôi không phải từ bỏ khả năng hoàn thành nhiệm vụ khi chiến đấu trở thành sinh tử.
Tri thức trong cuốn sách này là một thứ thuốc tiên chứa đựng mọi điều có thể có bên trong nội gia quyền thuật. Tôi hết sức khuyến nghị sự huấn luyện của Bruce cho bất cứ ai đang tìm kiếm một hệ thống chiến đấu, trị liệu và thiền định hoàn chỉnh trong nội gia quyền thuật.
Lee Burkins
Cựu Chiến Binh Lực Lượng Đặc Biệt Lục Quân Hoa Kỳ
Montrose, Colorado
NHẬN DIỆN CÁC NHÂN VẬT ĐƯỢC NHẮC ĐẾN TRONG CUỐN SÁCH NÀY
Nhiều tên Trung Hoa và Nhật Bản của những võ sư lừng lẫy lặp đi lặp lại xuyên suốt cuốn sách này. Xét vì độc giả phương Tây không quen thuộc với tên phương Đông, một danh sách nhân vật được cung cấp ở đây để tiện tham khảo. Tên Trung Hoa thường được viết với họ (tên gia đình) đứng trước còn tên Nhật Bản với họ đứng sau. Ở đây, tất cả các tên đều được liệt kê với họ đứng trước. Đôi khi các cách chuyển tự thay thế được theo sau trong dấu ngoặc đơn. Nhiều người trong danh sách này là học trò truyền thừa trực tiếp của những người khác trong danh sách, cũng như là hậu duệ của những người khác nắm giữ dòng võ gia tộc.
Xin lưu ý rằng, mặc dù nhiều vị thầy được nhắc đến trong cuốn sách này có thể được coi là những bậc thầy hay thậm chí là những bậc tôn sư của môn võ tương ứng của mình, những tước hiệu như vậy không được dùng trước tên của họ trong tác phẩm này.
Bai Hua (Peh Hua) Một học trò của Lưu Hùng Tiệp về hình ý và bát quái, và là học trò của Lâm Đỗ Anh (Lin Du Ying) về Cổ Dương Thị của thái cực quyền. Bạch Hoa là một Đạo gia chuyên về nội đan. Một trong những vị thầy nội gia quyền thuật chính của tác giả.
Chang Chao-Tung (còn được biết đến là Chang Chang Kuei, Zhang Zhan Kui) Vị thầy chính của Vương Thụ Kim. Một nhân vật lớn trong pháp mạch hình ý và là học trò bát quái của Đổng Hải Xuyên và Trình Đình Hoa.
Chang Chun-Feng Người đã mang phương pháp 64 thức của hệ thống bát quái hậu thiên của Cao Nghĩa Thịnh (Gao Yisheng) từ Trung Quốc đại lục sang Đài Loan. Thầy của Hồng Nghĩa Hương và anh trai của ông, Hồng Nghĩa Dân (Hung I Min).
Chang I Chung Vị thầy thái cực quyền đầu tiên của tác giả ở Tokyo. Một trong những học trò cao cấp của Vương Thụ Kim, người đã làm trợ giáo khi Vương ở Nhật Bản.
Chang San Fen Theo một truyền thuyết, vị tiên Đạo gia đã sáng tạo ra thái cực quyền sau khi xem một cuộc chiến giữa một con rắn và một con hạc.
Chen Fa Ke (Ch'en Fa K'e) Vị thầy thái cực quyền Trần Thị quan trọng đầu tiên của thế kỷ hai mươi rời bỏ làng tổ tiên của mình để đến Bắc Kinh dạy học.
Chen I Ren Một vị thầy hình ý quan trọng ở Hồng Kông, và là một trong hai người đã mang môn nội gia quyền thuật lục hợp bát pháp đến Hồng Kông.
Chen Man-ching (Zheng Manqing) Vị thầy đầu tiên giới thiệu cho tác giả về thái cực quyền. Một trong những bậc thầy thái cực quyền cấp cao đầu tiên từ Trung Hoa đến dạy trong những ngày đầu tiên của sự du nhập thái cực quyền vào nước Mỹ, tại Thành phố New York.
Chen Pan Ling (Ch'en P'an Ling) Một nhân vật quan trọng của nội gia quyền thuật ở Trung Quốc đại lục trước Thế Chiến II và sau đó còn ở cả Đài Loan. Thầy dạy thái cực quyền của cả Vương Thụ Kim và Hồng Nghĩa Hương.
Chen Wang Ting (Ch'en Wang Ting) Người sáng tạo ra thái cực quyền, theo một thuyết về nguồn gốc của môn nghệ thuật này.
Cheng Ting Hua (Ch'eng Ting Hua) Một trong những học trò chính của Đổng Hải Xuyên, người sáng lập môn võ bát quái chưởng. Dòng của ông là một môn phái bát quái phổ biến rộng rãi.
Cheng You Long (Ch'eng You Lung) Con trai của Trình Đình Hoa. Vị thầy bát quái đầu tiên của Lưu Hùng Tiệp, người đã chính thức khai tâm truyền thừa bát quái cho Lưu.
Chi Chi Guang Một vị tướng cổ đại nổi tiếng của Trung Hoa mà cuốn binh thư huấn luyện kỹ thuật quân sự của ông đã hình thành nền tảng cho 29 trong số 32 động tác vật lý của Trần Thị thái cực quyền nguyên thủy.
Chuan You (Ch'uan You, Quan You) Học trò ngoại tộc giỏi nhất của Dương Lộ Thiền. Đồng sáng lập Ngô Thị thái cực quyền cùng với con trai của ông, Ngô Giám Tuyền (Wu Jien Chuan). Dòng của ông là một trong ba nhánh chính của Ngô Thị.
Confucius (thường được gọi là Khổng Tử / k'ong tzu, nhưng cũng là kongfuzi/k'ong futzi) Vị triết gia cổ đại mà tư tưởng của ông là nền tảng của văn hóa thế tục truyền thống Trung Hoa. Những khái niệm của ông ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tương tác xã hội, lễ nghi, phong tục và tính chất thứ bậc của hầu hết các môn võ thuật của Trung Hoa và Nhật Bản.
Dai Long Bang (Tai Lung Pang) Thầy của Lý Lạc Năng (Li Luo Neng), cha đẻ của hình ý quyền cận đại, người mà các học trò của ông và học trò của các học trò ấy đã phổ biến hình ý khắp Trung Hoa trong thế kỷ mười chín và hai mươi.
Feng Zhi Qiang (Feng Zhiqiang) Thầy dạy thái cực quyền Trần Thị của tác giả ở Bắc Kinh. Học trò nghiêm túc cuối cùng của Trần Phát Khoa (Chen Fa Ke) về thôi thủ. Phùng nổi tiếng khắp Trung Hoa về năng lực thôi thủ của mình, và đã sáng tạo ra một bài đoản quyền Trần Thị được kính trọng rộng rãi.
Fu Chen Sung (Fu Zhen Sung) Một trong năm con hổ võ thuật của miền Nam Trung Hoa, vốn là một chuyên gia về bát quái và thái cực quyền. Ông đã sáng tạo ra bài quyền thái cực kết hợp Phó Thị (Fu style).
Gao Yisheng (Gao I Sheng) Thầy của phương pháp hậu thiên 64 kỹ thuật của bát quái, được truyền từ học trò của ông là Trương Xuân Phong (Chang Chun-Feng) sang cho Hồng Nghĩa Hương và Hồng Nghĩa Dân.
Goto Học trò cao cấp của Kenichi Sawai của Taiki-Ken, môn phái I Chuan của hình ý quyền.
Gu I Jai (Ku Yu Cheung) Một trong năm con hổ võ thuật của miền Nam Trung Hoa, vốn là một chuyên gia hình ý. Ông được biết đến ở phương Tây qua bức ảnh ông đập vỡ một chồng gạch cao ngang thắt lưng bằng một đòn thiết chưởng (bàn tay sắt) duy nhất.
Guo Yun Shen (Kuo Yun Shen) Học trò của Lý Lạc Năng, Quách là một trong những nhân vật quan trọng nhất của hình ý. Hai học trò của ông đã hình thành những nhánh chính của hình ý — Tôn Lộc Đường (Sun Lu Tang, phương pháp tổng hợp) và Vương Hương Trai (Wang Hsiang Zai, I Chuan).
Han Hsing Yuan Thầy dạy I Chuan của tác giả ở Hồng Kông. Một trong bốn đệ tử chính của Vương Hương Trai.
Hao Wei Zhen (Hau Wei-Chen) Người mà tên của môn phái thái cực quyền tiểu giá bắt nguồn từ đó. Thầy dạy thái cực quyền của Tôn Lộc Đường, người đã sáng tạo ra môn phái thái cực quyền kết hợp Tôn Thị (Sun style).
Huang Hsi I Một trong những vị thầy chính của tác giả về nội gia quyền thuật, cũng như về khí công thôi nã (chi gung tui na). Một trong những học trò hình ý hàng đầu của Hồng Nghĩa Hương, người về sau đã trở thành một trong những bậc thầy trị liệu bằng khí xuất sắc nhất của thế hệ mình ở Đài Loan.
Hung I Hsiang Một trong những vị thầy chính của tác giả về nội gia quyền thuật. Một vị thầy chính về bát quái và hình ý ở Đài Loan từ thập niên 1950 đến thập niên 1980. Học trò của Trương Xuân Phong và Trần Phán Lĩnh (Chen Pan Ling).
Hung I Min Học trò cao cấp của Trương Xuân Phong cùng với anh trai mình, Hồng Nghĩa Hương.
Jiang Fa Một kẻ chạy trốn bí ẩn mà theo một thuyết, ban đầu đã mang thái cực quyền đến làng Trần Gia.
Ju Wen Bao Thầy dạy bát quái của Lưu Hùng Tiệp. Người đầu tiên dạy cho Lưu các phương pháp thiền định Đạo gia của Đổng Hải Xuyên.
Kanazawa, H. Một bậc thầy quan trọng của karate Shotokan Nhật Bản, nổi tiếng về kỹ thuật xuất chúng, tinh thần chiến đấu của mình, và về việc đoạt chức vô địch Karate Toàn Nhật Bản với một cánh tay bị gãy vào thập niên 1950.
Kawashima Học trò cao cấp của Trương Ý Trung (Chang I Chung) ở Tokyo.
Kung Pao Tien (Gong Bao Tian) Học trò bát quái của Doãn Phúc (Yin Fu).
Kuo Lien Ying (Guo Lien Ying) Một trong những bậc thầy thái cực quyền cấp cao đầu tiên đến dạy trong những ngày đầu tiên của sự du nhập thái cực quyền vào nước Mỹ, tại San Francisco. Người sáng tạo ra môn phái thái cực quyền kết hợp Quan Bình (Kuan Ping).
Lee, Bruce Một ngôi sao điện ảnh võ thuật nổi tiếng vào thập niên 1960 và 1970. Người sáng tạo ra môn phái võ thuật Jeet Kune Do. Học trò của Diệp Vấn (Yip Man).
Li Luo Neng (cũng được biết đến là Li Neng Jan hay Li Nengran) Một nhân vật mang tính khai sinh của hình ý quyền cận đại, mà dòng học trò của ông đã phổ biến hình ý khắp Trung Hoa trong thế kỷ mười chín và hai mươi.
Li Tsung I (Li Tsung I, Li Cunyi) Nhân vật quan trọng trong pháp mạch hình ý. Sự hợp tác của ông với Trình Đình Hoa của bát quái đã dẫn đến sự hòa trộn của hai hệ thống nội gia quyền thuật quan trọng này.
Liang Jr Pang (Liang Chih P'ang) Một vị thầy hình ý quan trọng ở Hồng Kông, và là một trong hai vị thầy ban đầu đã mang môn nội gia quyền thuật lục hợp bát pháp đến Hồng Kông.
Liang Tung Ts'ai (cũng được biết đến là T. T. Liang) Thầy dạy Tân Dương Thị thái cực quyền của tác giả. Học trò của Trịnh Mạn Thanh và là một vị thầy mang tính khai sinh của thái cực quyền ở nước Mỹ.
Lin Du Ying Thầy dạy Cổ Dương Thị thái cực quyền của Bạch Hoa, cũng như là thầy của tác giả ở Hạ Môn (Amoy) thuộc tỉnh Phúc Kiến (Fukien) của Trung Quốc. Một học trò của những đệ tử quan trọng nhất của Dương Bản Hầu (Yang Pan Hou): Điền Triệu Lĩnh (Tien Chau Ling) và Ngô Hội Xuyên (Wu Hui Chuan).
Ling Shan Học trò giỏi nhất của Dương Lộ Thiền trong giai đoạn nhu năng của thái cực quyền.
Liu Hung Chieh Học trò thái cực quyền của Ngô Giám Tuyền và là thành viên của môn phái bát quái Bắc Kinh nguyên thủy. Cũng là một bậc thầy thiền định Đạo gia. Vị thầy cuối cùng và chính yếu của tác giả về nội gia quyền thuật và thiền định Đạo gia.
Lo Te Hsiu Học trò giỏi nhất của Hồng Nghĩa Hương về phương pháp 64 thủ tuyến tính của bát quái hậu thiên của Cao Nghĩa Thịnh. Một trong những bậc cao nhân bát quái xuất sắc nhất của thế hệ mình ở Đài Loan.
Ma Gui (cũng được biết đến là Ma Shr Ching hay Ma Shi Ching) Một trong “Tứ Đại” học trò của người sáng lập bát quái là Đổng Hải Xuyên. Một vị thầy quan trọng của Lưu Hùng Tiệp.
Pao, Jack Một huấn luyện viên bát quái và là bạn tập của tác giả ở Hồng Kông.
Sawai, Kenichi Thầy dạy hình ý của tác giả ở Tokyo. Một học trò của người sáng lập I Chuan là Vương Hương Trai, ở Trung Hoa trong 10 năm. Sawai gọi hệ thống hình ý của mình là “Taiki-Ken.”
Shr Liu (Shi Liu) Một trong những học trò bát quái chính của Đổng Hải Xuyên. Chuyên về Đơn Hoán Chưởng (Single Palm Change).
Sun Hsi Kun (Sun Xikun) Học trò của Trình Hữu Long (Cheng You Lung). Tôn đã viết một cuốn sách quan trọng về bát quái bằng tiếng Hoa và dạy ở Hồng Kông và Đài Loan sau cuộc nội chiến Trung Hoa.
Sun Lu Tang Một nhân vật có tầm quan trọng trong lịch sử của cả ba môn nội gia quyền thuật. Tôn Lộc Đường đã viết cuốn sách đầu tiên về các môn nội gia bằng tiếng Hoa. Học trò chính của Quách Vân Thâm (Guo Yun Shen) của hình ý và là một học trò quan trọng của Trình Đình Hoa. Người sáng lập Tôn Thị thái cực quyền.
Sung Shr Rong (Sung Shirong) Một cao nhân tinh thông trong cả pháp mạch hình ý lẫn bát quái.
Tan Hsiu Fa Shr Một vị tổ của tông phái Thiên Thai (Tian Tai) của Phật giáo Đại thừa Trung Hoa. Vị thầy thiền định Phật giáo chính của Lưu Hùng Tiệp.
Tien Chau Ling (Tian Zhaoling) Học trò chính của Dương Bản Hầu và Cổ Dương Thị. Một trong những tay đấu thái cực quyền hàng đầu của thế hệ mình. Thầy của Lâm Đỗ Anh.
Tu Hsin Wu (Du Xinwu) Nổi tiếng về năng lực đá của mình, Đỗ là một nhân vật quan trọng trong võ thuật của miền Bắc Trung Hoa vào đầu thế kỷ hai mươi. Là một người tập luyện Tự Nhiên Môn quyền (Natural Gate Boxing), ông là vị thầy chính của Vạn Lại Thanh (Wan Lai Sheng). Đỗ cũng đã dạy Lưu Hùng Tiệp trong một thời gian ngắn.
Tung Hai Chuan (Dong Haichuan) Người sáng lập cận đại của môn võ bát quái chưởng, người đã dạy vào nửa sau của thế kỷ mười chín.
Tung Hu Ling Con trai của Đổng Anh Kiệt (Tung Ying Chieh) là Hồ Lĩnh (Hu Ling), một trong những bậc thầy thái cực quyền cấp cao đầu tiên từ Trung Hoa đến dạy ở Hawaii trong những ngày đầu tiên của sự du nhập thái cực quyền vào nước Mỹ.
Tung Ying Chieh (Dong Yingjie) Học trò chính của Dương Trừng Phủ (Yang Chen Fu) của thái cực quyền. Tung và các hậu duệ trong gia đình của ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến Tân Dương Thị thái cực quyền khắp Đông Nam Á và Hoa Kỳ.
Ueshiba, Morihei Thầy dạy aikido của tác giả. Được biết đến trong tiếng Nhật là O-Sensei, hay Đại Sư, Ueshiba là người sáng lập môn võ thuật aikido hiện đại của Nhật Bản dựa trên năng lượng nội tại.
Wan Lai Sheng Một trong năm con hổ võ thuật của miền Nam Trung Hoa, người đã tập luyện Tự Nhiên Môn quyền. Học trò chính của Đỗ Tâm Vũ (Tu Hsin Wu), và là đồng môn với Lưu Hùng Tiệp.
Wang Chun Học trò giỏi nhất của Dương Lộ Thiền về cương năng của thái cực quyền.
Wang Shu Jin (Wang Shu Chin) Một trong những vị thầy nội gia quyền thuật chính của tác giả và là một trong những người thực hành quan trọng nhất đã mang hình ý và bát quái từ Trung Quốc đại lục sang Đài Loan. Học trò của Trương Triệu Đông (Chang Chao Tung) về hình ý và bát quái, của Vương Hương Trai (Wang Xiang Zhai) về I Chuan, và của Trần Phán Lĩnh về thái cực quyền.
Wang Tsung Yueh (Wang Zongyue) Theo một thuyết, vị Đạo gia ban đầu đã mang thái cực quyền đến làng Trần Gia, sáng tạo ra thái cực quyền cận đại. Được cho là tác giả chính của các tác phẩm Thái Cực Kinh (Tai Chi Classics).
Wang Xiang Zhai (Wang Hsiang Chai) Học trò cuối cùng của Quách Vân Thâm của hình ý và là người sáng lập môn phái I Chuan của hình ý. Thầy của ba vị huấn luyện viên I Chuan của tác giả: Vương Thụ Kim, Kenichi Sawai, và Hàn Tinh Viễn (Han Hsing Yuan).
Wei Shao Tang Đã dạy tác giả và T. T. Liang phương pháp Bán Bộ Đường Lang ở Đài Loan.
Weng Hsien Ming Một trong những học trò cao cấp của Hồng Nghĩa Hương, người đã thắng các cuộc thi toàn Đài Loan toàn tiếp xúc ba lần liên tiếp.
Wu Hui Chuan Học trò chính của Dương Bản Hầu và Cổ Dương Thị. Một trong những tay đấu thái cực quyền hàng đầu của thế hệ mình. Thầy của Lâm Đỗ Anh.
Wu Gong I và Wu Gong Zao Con trai của Ngô Giám Tuyền. Hai anh em này đã tạo ra một nhánh khác của Ngô Thị thái cực quyền.
Wu Jien Chuan (Wu Chien Ch'uan, Wu Jianquan) Con trai của Toàn Hữu (Chuan You), cũng thường được biết đến là người đồng sáng lập Ngô Thị thái cực quyền, cùng với cha mình. Dòng dạy của ông chiếm đa số những người tập Ngô Thị. Vị thầy thái cực quyền chính của Lưu Hùng Tiệp.
Wu Yu Hsiang (Wu Yuxiang) Học trò của Dương Lộ Thiền, người đã trở về làng Trần Gia và sáng tạo ra một môn phái tiểu giá quan trọng của thái cực quyền. Một nhân vật có tầm quan trọng trong truyền thống văn hiến của thái cực quyền.
GIA TỘC DƯƠNG
Yang Lu Chan (Yang Lu Ch'an) “Dương Vô Địch” là người sáng lập Dương Thị thái cực quyền. Nổi tiếng nhất về kỹ năng chiến đấu thái cực quyền đáng gờm của mình. Đây là vị Dương đã đưa thái cực quyền ra khỏi sự bí mật của làng Trần Gia vào nhận thức của Trung Hoa và từ đó ra phần còn lại của thế giới.
Yang Pan Hou (Yang Ban Hou) Con trai của Dương Lộ Thiền, thế hệ thứ hai của truyền thống dạy thái cực quyền của gia tộc Dương. Nhân vật dạy thái cực quyền quan trọng nhất của thế hệ mình và, cùng với cha của Ngô, là vị thầy chính của Ngô Giám Tuyền.
Yang Shao Hou Một vị Dương thế hệ thứ ba, nổi tiếng về kỹ năng chiến đấu tuyệt vời và tính khí tồi tệ. Ông mất khi còn trẻ.
Yang Cheng Fu (Yang Ch'eng Fu) Một vị Dương thế hệ thứ ba, nguồn của Tân Dương Thị. Bài quyền mà ông sáng tạo, với vô số biến thể của nó, là bài thái cực quyền cơ bản được thực hiện bởi phần lớn những người tập Dương Thị thái cực quyền trên thế giới.
Yang Shou Jung (cũng được biết đến là Yang Shou-chung hay Yang Shouzhong) Một vị Dương thế hệ thứ tư, và là con trai cả của Dương Trừng Phủ. Ông đóng bản doanh ở Hồng Kông và đã dạy tác giả ở đó.
Yin Fu Một trong những học trò chính của Đổng Hải Xuyên, người sáng lập môn võ bát quái chưởng. Dòng của ông đại diện cho một môn phái bát quái được tập luyện rộng rãi.
Yip Man Vị thầy chính của chi nhánh Hồng Kông của môn võ Vịnh Xuân, còn chi nhánh kia thì tập trung ở Phật Sơn (Fatshan), tỉnh Quảng Đông (Canton). Thầy của Lý Tiểu Long (Bruce Lee).
Yue Fei (Yueh Fei) Vị tướng cổ đại nổi tiếng của Trung Hoa mà truyền thuyết ghi công là người sáng lập hình ý quyền.
CÁC MÔN PHÁI NỘI GIA QUYỀN THUẬT ĐƯỢC NHẮC ĐẾN TRONG CUỐN SÁCH NÀY
Thái Cực Quyền
Trần Thị nguyên thủy
Dương Thị
Cổ Dương Thị
Tân Dương Thị
Hác Thị
Ngô Thị
Các môn phái kết hợp
Tôn Lộc Đường
Trần Phán Lĩnh
Quan Bình
Phó Thị
Các Dòng Gia Tộc, Bí Truyền Và Thất Truyền
Hình Ý Quyền
Sơn Tây Thị
Hà Bắc Thị
I Chuan (cũng được biết đến là Đại Thành Quyền, Da Cheng Quan, hay Ta Cheng Ch'uan)
Hà Nam Thị, còn được biết đến là môn phái Hồi giáo
Bát Quái Chưởng
Trình Đình Hoa — Long Thị (môn phái Rồng)
Doãn Phúc — Liễu Diệp Chưởng Thị
Shr Liu
Tống Thế Vinh (Sung Shr Rong)
Cao Nghĩa Thịnh — phương pháp hậu thiên 64 kỹ thuật
DẪN NHẬP
Khi còn là một cậu bé, tôi khá vụng về về mặt thể chất, cho đến năm 1961, khi tôi bắt đầu tập judo ở tuổi mười hai và karate không lâu sau đó. Rốt cuộc, thông qua việc tập luyện đều đặn trong nhiều môn võ thuật khác nhau, sự phối hợp đã đến với tôi, nhiều hơn nhờ sự nỗ lực hướng tới hiệu quả võ thuật hơn là từ một khao khát rõ rệt muốn di chuyển một cách duyên dáng. Tôi giữ một cảm thức chiến trường samurai cổ điển về kỹ thuật: Một ứng dụng võ thuật có hiệu quả trong chiến đấu thực sự hay không? Tốt đến mức nào? Trong cách nào và trong những điều kiện nguy hiểm nào nó sẽ cứu tôi khỏi bị thương tích?
Trong khi duy trì một sự quan tâm ngoại vi đối với các khía cạnh sức khỏe và thiền định của võ thuật suốt thời thanh niên, tôi đã lánh xa tính thẩm mỹ của nó. Ai quan tâm xem các động tác đẹp hay xấu? Những động tác đẹp có thể có chức năng võ thuật, cũng có thể không. Những kỹ thuật khả dụng về mặt võ thuật có thể trông đẹp, cũng có thể không. Hệ quả là, khi còn là một chàng trai trẻ, những thôi thúc tranh đấu của tôi được dành riêng cho việc thắng các trận đối kháng. Các cuộc thi biểu diễn bài quyền chẳng có ý nghĩa gì. Chính khao khát sâu xa đối với năng lực chiến đấu đã thúc đẩy tôi tập luyện nhiều giờ mỗi ngày trong nhiều môn võ thuật, suốt nhiều thập kỷ. Ban đầu, niềm đam mê này mang lại cho tôi các đai đen trong judo, karate, jujitsu và aikido trước khi tôi mười chín tuổi. Sau đó, trong một cuộc hành trình cá nhân để khám phá tận gốc rễ của võ thuật, tôi đã sang Nhật Bản để tập luyện gay gắt karate, judo và aikido trong vài năm ở cấp độ đai đen, và học toàn thời gian ở Trung Hoa thêm mười năm nữa để đào sâu quá trình đó. Chính sự tiếp xúc với nội gia quyền thuật của Trung Hoa đã thay đổi tôi một cách không thể đảo ngược.
Năm 1968, sau khi hoàn tất một năm huấn luyện karate vất vả cùng đội đã đoạt Giải Vô Địch Đại Học Toàn Nhật Bản, tôi đi nghỉ ở Đài Loan. Tại đó, tôi bắt đầu học môn nội gia quyền thuật bát quái với Vương Thụ Kim. Không lâu sau đó, tôi học hình ý ở Tokyo với Kenichi Sawai và thái cực quyền với học trò của Vương là Trương Ý Trung.
JUDO Một môn ngoại gia quyền thuật của Nhật Bản dựa trên vật, khóa khớp, các thế khống chế buộc đối phương đầu hàng, và các đòn siết cổ.
KARATE Môn ngoại gia quyền thuật của Nhật Bản dựa chủ yếu vào các cú đá, đấm, đòn tay, quét chân và một ít đòn quăng.
JUJITSU Môn ngoại gia quyền thuật chiến đấu tay không của các samurai; dựa chủ yếu vào các đòn quăng, khóa khớp, các thế khống chế và các đòn siết cổ.
AIKIDO Một môn võ thuật nội tại của Nhật Bản dựa trên năng lượng.
BA GUA Một trong ba môn nội gia quyền thuật chính của Trung Hoa.
HSING-I Một môn nội gia quyền thuật của Trung Hoa dùng tâm để tạo ra các động tác chiến đấu của nó.
SHORIN RYU Một môn phái karate cứng lớn của Okinawa.
WHITE CRANE Một môn võ thuật bắt chước các hành động của loài chim gọi là bạch hạc.
WING CHUN Một môn võ thuật miền Nam Trung Hoa dựa trên các đòn đánh bằng tay.
MONKEY BOXING Một hệ thống võ thuật bắt chước các động tác của một con khỉ.
CHINESE WRESTLING Môn võ thuật truyền thống của Trung Hoa về các đòn quăng.
NORTHERN PRAYING MANTIS Một phương pháp Thiếu Lâm dạng bài thú bắt chước các hành động của côn trùng bọ ngựa.
EIGHT DRUNKEN IMMORTALS Một môn võ thuật mà những người tập luyện bắt chước các động tác loạng choạng của một kẻ say.
NORTHERN SHAOLIN Một môn phái chiến đấu nhấn mạnh vào các động tác thân thể duỗi rộng.
TAI CHI Một trong ba môn nội gia quyền thuật của Trung Hoa; nổi tiếng với sự nhấn mạnh vào sự mềm mỏng, chuyển động chậm rãi và phương pháp luận khí công tinh vi.
GUNG FU (KUNG FU) Một thuật ngữ chung thường được dùng cho tất cả các môn võ thuật ngoại gia hay ngoại/nội gia của Trung Hoa.
Việc tập karate của tôi đã đi trọn một vòng. Sau đợt huấn luyện karate đai đen đặc biệt Shorin Ryu ở Okinawa vào mùa xuân năm 1970, sự cam kết của tôi muốn xuất sắc trong các môn võ đấm, đá và đánh đã rõ ràng chuyển hướng sang các môn phái Trung Hoa. Vào thời điểm này, môn võ Trung Hoa thực sự nghiêm túc chiến đấu duy nhất mà tôi đã được giới thiệu và tập luyện nghiêm túc kể từ kỳ nghỉ ở Đài Loan đều là những hệ thống nội gia. Cuộc hành trình qua nội gia quyền thuật trong thập kỷ tiếp theo đã đưa tôi vào một số ngã rẽ của các môn võ thuật ngoại/nội gia Trung Hoa. Dọc theo những nẻo đường ấy, tôi đã học Bạch Hạc, Vịnh Xuân, Hầu Quyền, Trung Hoa Suất Giác (Chinese Wrestling), Bắc Đường Lang, Bát Tiên Tửu và Bắc Thiếu Lâm. Hai lý do đã thúc đẩy tôi bỏ thêm công sức vất vả để ném những phương pháp ngoại/nội gia này vào sự pha trộn, khi mục tiêu chính của tôi là tinh thông bát quái, thái cực quyền và hình ý. Thứ nhất, thật là khôn ngoan khi biết bất kỳ đối thủ tiềm tàng nào có thể thử điều gì ở bạn, và cách hóa giải nó như thế nào. Cái mà bạn vẫn còn ngu dốt về mặt võ thuật có thể đánh bại bạn. Thứ hai, từ góc nhìn của tấn công, sự nghiên cứu chéo sang các môn phái khác có thể cung cấp tri thức về những kỹ thuật thô, giúp phát triển những cấp độ tiếp theo (và tinh vi hơn) của nội gia quyền thuật. Tôi hành động theo nguyên tắc “đừng giả định điều gì cả.” Thông tin thu được từ việc tập luyện chéo đã cho tôi những cái nhìn sâu sắc về cách nhận diện những khoảng hở có thể bị khai thác trong cả ngoại gia quyền thuật lẫn các hệ thống nội gia.
Những vị thầy xuất sắc trong nhiều môn võ Trung Hoa khác nhau hầu như luôn có mặt ở một số trung tâm đô thị nhất định ở phương Đông, một tình huống mà thời đó chưa tồn tại ở phương Tây. Tận dụng cơ hội độc đáo này, tôi bắt đầu hiểu cách mà những ứng dụng chiến đấu của các hệ thống nội gia và ngoại gia vừa giống nhau vừa khác nhau. Tôi cũng muốn nắm bắt toàn bộ tiềm năng của mối tình đầu của mình, karate, để xác định nó có khả năng đi xa đến đâu. Các môn gung fu đã thỏa mãn nhu cầu tham gia đối kháng của tôi, đặc biệt là khi không có những người tập nội gia quyền thuật nào sẵn sàng để cùng chơi, cùng trao đổi những cú đánh và đòn quăng với tôi.
Thật là một sự thỏa mãn cá nhân khi học và sử dụng những kỹ thuật cùng góc nhìn võ thuật mới, trong khi đồng thời phân tích những điểm mạnh và điểm yếu về vật lý, cảm xúc và chiến lược của chúng trong những tình huống chiến thuật khác nhau. Bài tập so sánh này giải thoát tôi khỏi nhu cầu cảm xúc muốn có niềm tin phe phái cố định quá phổ biến rằng “môn phái của tôi là tốt nhất,” mà không biết đến những thực tại lạnh lùng của những gì khác đang tồn tại ngoài kia. Mối quan tâm của tôi là phát triển và có hiệu quả, chứ không phải bảo vệ một sự đầu tư cảm xúc vào tính ưu việt của bất kỳ hệ thống võ thuật nào. Rốt cuộc, xét đến cùng, chính con người ta chiến đấu, chứ không phải hệ thống võ thuật.
Học những phương pháp ngoại/nội gia khác nhau đã cung cấp bối cảnh để nêu lên những câu hỏi hữu ích về các ứng dụng chiến đấu so sánh. Những tìm tòi như vậy đã dẫn đến một sự đào sâu nghiêm túc trong việc huấn luyện thường xuyên và sự tập trung chủ yếu của tôi vào nội gia quyền thuật. Nếu được hỏi một cách lịch sự, các bậc thầy chiến đấu nội gia thường sẽ trả lời những câu hỏi liên quan đến các kỹ thuật so sánh.
Tuy nhiên, nếu không được hỏi, họ cũng thường giữ im lặng về điểm này và về cách họ sẽ tháo gỡ phương pháp luận của một hệ thống không phải của mình. Nếu bạn cho họ thấy một cách tiếp cận khác bao hàm những gì, rất có thể họ sẽ nói đại loại như, “Ừ, chúng tôi không làm như vậy,” rồi sẽ giải thích tại sao, hoặc, “Chúng tôi có làm điều đó, nhưng theo cách khác,” rồi tiếp tục trình diễn những lý do, nguyên do và những điều cần thận trọng trong kỹ thuật ấy.
Tôi bị cuốn hút bởi câu hỏi triết học: tận cùng cốt lõi, “võ thuật” là gì khi xét như một toàn thể. Cuộc tìm tòi này rốt cuộc kết thúc trong một sự nhận ra rằng võ thuật không chỉ là một bộ sưu tập đơn thuần của những động tác và kỹ thuật nhiều mặt để đánh bại một đối thủ. Sự nhận thức này xảy ra trong vòng cuối cùng của việc học võ của tôi ở Bắc Kinh với vị cao nhân Đạo gia phi thường Lưu Hùng Tiệp, người mà tôi gặp vào năm 1981, và trong vài năm tiếp theo đã chỉ cho tôi cách mà trị liệu, tâm linh và võ thuật hội tụ thành một toàn thể thống nhất. Vào thời điểm đó, khi tôi ở tuổi đầu ba mươi, sự chú ý của tôi tập trung hoàn toàn vào các môn nội gia.
Cuốn sách này đáp ứng một bổn phận mà tôi đã cảm thấy từ lâu đối với cộng đồng võ thuật, và tôi hy vọng sẽ hướng độc giả, đặc biệt là những độc giả trẻ tuổi hơn, về phía tâm linh hơn của nội gia quyền thuật. Ở đây, tôi muốn ghi nhận và vô cùng cảm tạ tất cả các vị thầy của tôi, những người đã ân cần chia sẻ bản thân mình và những thông tin quý giá của họ với tôi. Nếu không có sự sẵn lòng khải lộ tri thức của họ, cuốn sách này sẽ không bao giờ tồn tại.
TAO/TAOISM (ĐẠO/ĐẠO GIÁ) Con Đường. Tôn giáo thần bí thực hành của Trung Hoa, với các khái niệm bao gồm sự chơi đùa âm-dương của các mặt đối lập, tính tự nhiên tâm linh, tính tự phát, y học Trung Hoa, và nghệ thuật chiến lược và chiến tranh.
Chú Thích Hình Ảnh
Tác giả thực hiện một động tác của khí công Long Hổ, vốn là một phương pháp của chùa Thiếu Lâm chịu ảnh hưởng của Đạo gia. Động tác này được thực hiện vì sức khỏe để mang lại lợi ích cho tim, và vì chiến đấu để tạo ra một sức mạnh đánh đấm to lớn.
ĐỘNG VẬT, CON NGƯỜI VÀ TÂM LINH
Ba Lối Tiếp Cận Võ Thuật
Phạm vi của các môn võ thuật được tập luyện trên khắp thế giới quả là khá rộng lớn. Tuy nhiên, khi bạn nhìn xuyên qua những sự khác biệt ấy, vào tận cội rễ của chính sự tu tập, thì ba lối tiếp cận riêng biệt sẽ hiện ra: chiến đấu như một con vật, chiến đấu như một con người, và chiến đấu như một Con Đường để trở thành một sinh thể tâm linh đã tiến hóa. Việc tập luyện võ thuật đều đặn, thuộc bất kỳ loại nào, có thể hoặc củng cố một số khía cạnh thú vật trong bản tính con người, hoặc giúp con người nhận ra tiềm năng tâm linh của mình. Thái độ của những người tập, cùng với những chi tiết cụ thể trong cách họ luyện tập, tự nhiên sẽ nghiêng họ về hướng này hay hướng kia.
Là con người, chúng ta có thể đã thừa hưởng từ những tổ tiên linh trưởng xa xôi của mình một nhu cầu ăn sâu vào tâm khảm là tham dự vào những hành vi thống trị và khuất phục. Những màn phô diễn như vậy xảy ra thường xuyên trong xã hội, ở cấp độ cá nhân trên cả bình diện thể xác lẫn tâm lý — như trong các nhóm cạnh tranh từ thể thao đến kinh doanh — và trên chính trường, nơi những sự tranh chấp và chiến tranh đã luôn là một hằng số trong lịch sử loài người. Do chính bản chất của nó, lĩnh vực võ thuật trực tiếp đụng chạm đến khu vực này của sự tồn tại con người, không phải bằng cách thăng hoa những khuynh hướng bạo lực tự nhiên của chúng ta, mà bằng cách đi sâu vào chúng. Theo lý tưởng, việc tập võ thuật trước hết mang lại cho mỗi cá nhân một sự thấu hiểu sâu sắc từ trong ruột gan về những nguyên nhân cốt lõi của khuynh hướng nghiêng về bạo lực của chúng ta, và rốt cuộc, cho phép họ vượt qua được lực lượng ấy.
Trong võ thuật, cánh cửa luôn rộng mở, mời gọi những người tu tập đi sâu hơn nữa vào những xung động thú tính của chính mình và/hoặc đi lên dọc theo một trục liên tục tới những khả năng tâm linh cao hơn của mình. Những phương pháp tập luyện mang tính nhân bản hơn trong võ thuật có thể và thực sự đã huấn luyện con người biết nương dựa vào lý trí, để vượt qua sự bùng phát bản năng của những cảm xúc sinh ra bạo lực. Khả năng này đặc biệt quý giá ngay lúc này, khi chúng ta cần tất cả mọi sự trợ giúp có thể có được để xử lý sự căng thẳng ngày càng tăng dữ dội bắt nguồn từ nhịp độ cực kỳ mau lẹ của thế giới siêu công nghệ của chúng ta.
SAMURAI — Những hiệp sĩ chiến binh của Nhật Bản cổ đại, đặc trưng bởi kiểu tóc búi trên đỉnh đầu và việc đeo hai thanh kiếm, thứ mà họ là những chuyên gia điêu luyện trong việc sử dụng.
BUJITSU — Võ thuật Nhật Bản có mục tiêu duy nhất là phát triển những kỹ thuật chiến đấu và giết chóc có hiệu quả.
BUDO — Võ thuật Nhật Bản có mục tiêu là đồng thời tu dưỡng kỹ thuật võ thuật, phẩm cách và tâm linh.
Nhìn từ một góc độ, người ta có thể lập luận rằng mọi môn võ thuật, ở cấp độ chiến đấu thực dụng, đều đã bị làm cho suy giảm một cách có hệ thống bởi sự xuất hiện và phát triển của súng ống, từ khẩu súng hỏa mai bắn từng phát một đến những vũ khí tự động hoàn toàn. Dẫu sao đi nữa, võ thuật vẫn có thể và thực sự cung cấp những công cụ mạnh mẽ để mài giũa cả phẩm cách lẫn tâm linh của con người, đúng như chúng đã từng làm sau cuộc Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản vào nửa sau của thế kỷ mười chín. Khi ấy, các samurai bị pháp luật cấm đeo kiếm và bị cấm tham dự vào những cuộc chiến đến chết. Những môn võ thuật Nhật Bản chỉ tập trung thuần túy vào khoa học thực dụng không khoan nhượng của việc tiêu diệt kẻ thù một cách hiệu quả được gọi là bujitsu, hay "kỹ thuật võ thuật". Chữ Hán nguyên thủy tao (của truyền thống tâm linh Đạo gia của Lão Tử và Kinh Dịch) được phát âm là do trong tiếng Nhật. Vì vậy, những môn phái võ thuật Nhật Bản vừa chú trọng dạy kỹ thuật hiệu quả, vừa chú trọng phát triển phẩm cách tâm linh của những người tham dự, được gọi là budo, hay "con đường võ thuật".
Mọi môn võ thuật được áp dụng trong chiến trận cũng chỉ tốt bằng người sử dụng chúng. Võ thuật không chỉ là chuyện chiến đấu với một đối thủ; chúng có thể trở thành một con đường để đánh bại những kẻ thù của sự sống — sức khỏe kém, lòng tự trọng thấp, sự căng thẳng, và sự thiếu vắng một trung tâm tâm linh. Trong những phương diện ấy, những môn võ thuật đã phát huy tác dụng tốt trong thời kỳ nông nghiệp và thời kỳ công nghiệp hóa sơ khai, khi người ta kiếm miếng ăn bằng sức lao động của mình, có thể không còn hữu dụng trong thế giới công nghệ cao hiện nay, nơi chính hệ thần kinh và các tế bào não của chúng ta đang bị căng thẳng hành hạ, chứ không phải là bắp thịt của chúng ta. Ngày nay, điều khôn ngoan là hãy nhìn vào các khía cạnh động vật, con người và tâm linh của võ thuật, để xem chúng có thể làm được gì cho chúng ta trên chiến trường của đời sống đương đại.
LỐI TIẾP CẬN ĐỘNG VẬT
Hiển nhiên, đề tài hành vi của loài vật là một đề tài mênh mông. Cho đến nay, một lượng tri thức khoa học đáng kể, cả thực nghiệm lẫn quan sát (cũng như giai thoại), đã được thu thập, và công cuộc nghiên cứu vẫn đang tiếp tục. Với tất cả nỗ lực ấy, chúng ta có lẽ mới chỉ khám phá ra một phần nhỏ của những gì có thể biết được. Các học thuyết thì nhiều vô kể, trong đó có một số cố gắng liên kết hành vi chiến đấu của loài vật một cách đặc thù với bạo lực nảy sinh từ con người. Xin hãy hiểu cho thật rõ rằng cuộc thảo luận ở đây không chủ trương và cũng không gợi ý rằng bạo lực là một hành động thuần túy mang tính thú vật. Đúng hơn, lối tiếp cận được mô tả ở đây chỉ giới hạn vào tình huống đặc thù trong đó một con vật bị một con vật khác hay một bầy thú thách thức, vì bất cứ lý do gì, và biểu hiện một hay một khác trong những phản ứng hành vi kinh điển: chiến đấu, bỏ chạy, hay đông cứng lại. Có những cuộc tranh luận sâu rộng về xã hội sinh học và triết học xoay quanh câu hỏi bạo lực của loài vật liên hệ như thế nào với bạo lực của con người, đặc biệt trong những lĩnh vực như tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh tình dục, được và mất, và có lẽ cả những hành vi mang tính nghi lễ. Chương này không liên quan gì đến cuộc tranh luận đó. Mối bận tâm ở đây chỉ là điều gì xảy ra cho loài vật và cho con người ngay vào khoảnh khắc chúng đang giao chiến thực sự trên phương diện thể xác.
Nhìn chung, hình ảnh về các môn võ thuật chiến đấu được trình bày cho công chúng qua các loại truyền thông truyền tải ý niệm về bạo lực được kiểm soát — nghiến răng, căng bắp thịt, phóng ra sự phẫn nộ. Trong những cuốn phim và những bức ảnh tĩnh của các anh hùng võ thuật Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hồng Kông (và quá thường xuyên cả trong đời thực), chúng ta được thưởng thức cảnh tượng một võ sĩ phát ra những âm thanh giống loài vật, với những nét mặt vặn vẹo và các bắp thịt trên cơ thể cuộn lại. Tất cả những hiệu ứng ấy rõ ràng cố gắng gợi lên sự cuồng loạn của một con thú nguy hiểm đang bị dồn vào đường cùng. Sau tất cả màn kịch ấy, võ sĩ thường lại biểu hiện một dáng vẻ hiền hòa. Màn phô diễn nền tảng thuộc giới động vật, dựa trên hệ tuyến nội tiết này có tác dụng thúc đẩy rất nhiều võ sĩ. Nó đại diện cho một lực năng lượng mạnh mẽ. Thật vậy, xuyên suốt lịch sử loài người, việc khơi dậy phản ứng thú vật này đã là một trong những cách dễ dàng nhất để khuấy động con người tiến tới bạo lực thể xác.
Vào thời nguyên thủy, khi một con hổ răng kiếm xuất hiện bên đống lửa trại, hệ tuyến nội tiết của con người lập tức được kích hoạt để chiến đấu hoặc bỏ chạy. Phản ứng này là một cơ chế sinh tồn thuần túy, có lẽ đã xuất hiện trước cả trí tuệ của con người. Ngày nay chúng ta gọi nó là phản xạ "chiến đấu hoặc bỏ chạy (chạy trốn)". Những cuộc chạm trán như vậy đã để lại một dấu ấn sâu thẳm bên trong tâm thức con người. Sự hiện diện của dấu ấn ấy ở đó để giúp chúng ta sống sót, thế mà nhiều người văn minh lại có một sự kháng cự về tâm lý đối với ý niệm rằng được phép làm tổn thương thể xác người khác để bảo toàn sự an toàn cá nhân của chính mình. (Trải nghiệm chiến đấu đối mặt với một con người khác khác xa với sự an toàn của việc bấm một cái nút để giết ai đó trong một trò chơi điện tử.)
Nhiều môn võ thuật tận dụng phản ứng "thú vật" của tuyến thượng thận để kích hoạt và phát triển chuyển động cùng sức mạnh thể xác của người tập. Khi một cá nhân đối mặt trực tiếp với nỗi sợ mà bạo lực thường gây ra, trở ngại lớn nhất đối với việc sử dụng bất kỳ kỹ thuật tự vệ nào đã học được chính là sự ức chế và sự tê liệt. Bằng cách tập luyện trường kỳ để đưa các tuyến thượng thận "vào đường dây", một võ sĩ chuẩn bị cho việc hành động dưới áp lực, chủ yếu bằng cách biến thành con thú mạnh nhất và hung ác nhất xung quanh. Trên bất kỳ đấu trường nào mà những thuộc tính thể chất như sức mạnh, tốc độ và sức bền là tối thượng, lối tiếp cận này là hợp lý. Tuy nhiên, trong thời đại điện tử hiện đại của chúng ta, khi đối thủ là sự căng thẳng chưa từng có và những căn bệnh đi kèm với nó, lối tiếp cận thú vật có thể phản tác dụng.
Nếu bạn liên tục tập thói châm lửa cho các tuyến nội tiết của mình để tự thúc đẩy trong những tình huống chiến-đấu-hoặc-bỏ-chạy, bạn có nguy cơ mang theo mẫu hình này vào những lĩnh vực khác của đời sống mình. Đôi khi sự chuyển dịch đó lại hữu ích, chẳng hạn khi bạn làm lao động chân tay. Trong tình huống ấy, toàn bộ cơ thể bạn đều tham dự, và khi hành động thể xác chấm dứt, thì nó chấm dứt hẳn. Đó là một sự khép lại tự nhiên. Những nguyên lý vận hành của võ thuật ngoại gia nói chung dựa trên lối tiếp cận này.
MỘT CUỘC TRƯỜNG CHINH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Sự Nhấn Mạnh Ban Đầu Vào Karate và Aikido
Tôi, vào tuổi mười hai, đã không bắt đầu việc học judo và karate vì thể thao, vì sự tự tin, hay vì những lý do tâm linh, mà thuần túy để đạt được năng lực tự bảo vệ mình khỏi khả năng thực sự bị tổn hại từ thành phần bạo lực của thành phố New York. Những mối quan tâm của tôi chẳng mấy chốc đã mở rộng sang bao gồm cả jujitsu, nơi lần đầu tiên tôi được giới thiệu về trị liệu và thiền định thông qua việc thực hành xoa bóp shiatsu và Thiền. (Khóa tu thiền tọa hai tuần đầu tiên của tôi đã diễn ra vào những năm đầu của tuổi thiếu niên.) Khoảng thời gian này, một người hàng xóm là người có đai đen judo đã nhắc đến một môn võ thuật "mới" gọi là aikido, môn mà tôi lập tức bắt đầu học và tiếp tục nghiên cứu, rốt cuộc đi đến chỗ được tập luyện với chính người sáng lập ra nó. Việc để năng lượng nội tại chi hay ki thúc đẩy và vận hành chuyển động của cơ thể là một ý tưởng hoàn toàn mới mẻ và đầy mê hoặc đối với tôi. Tôi vẫn còn nhớ như in những trải nghiệm đầu tiên của mình khi dẫn khí từ bụng đi qua thân mình và ra khỏi các đầu ngón tay, lên trên thảm tập trong lúc tập aikido. Tôi đã chơi đùa với lực năng lượng tỏa ra từ các đầu ngón tay của mình trong những bối cảnh phi võ thuật, dùng nó, chẳng hạn, để kéo toàn bộ cơ thể mình về phía trước nhằm đi nhanh hơn trên các đường phố của Manhattan khi tôi làm một cậu bé giao hàng bán thời gian.
Trong những năm trung học, tôi tập cả hai dòng aikido Tomeki và Hombu, nhưng sự gắn bó của tôi với môn võ thuật karate vẫn còn mạnh mẽ. Sau khi người thầy karate Shorin Ryu Okinawa của tôi rời thành phố New York, tôi tiếp tục tập luyện suốt thời trung học cả trong hai dòng Goju và Shotokan của Nhật Bản. Niềm đam mê karate đã đưa tôi đến chỗ tăng cường việc nghiên cứu nó ở một cấp độ cao cấp. Thật vậy, chính khao khát mãnh liệt muốn có tri thức sâu sắc hơn về karate, judo và aikido là lý do vì sao, sau khi tốt nghiệp, tôi chọn ghi danh vào Đại học Sophia ở Tokyo thay vì tiếp tục việc học hành của mình ở phương Tây.
SHIATSU — Một phương pháp xoa bóp của Nhật Bản trong đó các ngón tay ấn vào những huyệt châm cứu nhằm tạo ra hiệu quả trị liệu.
ZEN (THIỀN) — Một kỷ luật tâm linh Phật giáo được tạo ra từ sự dung hợp những phương pháp của Đạo gia và Phật giáo.
CHI/KI (KHÍ) — Năng lượng sinh lực mà châm cứu dựa trên đó.
TOMEKI — Một dòng aikido là sự pha trộn giữa judo và aikido.
HOMBU — Dòng aikido nguyên thủy; dịch ra là "tổng bộ".
GOJU — Một dòng karate có những gốc rễ mạnh mẽ từ Thiếu Lâm Nam phái của tỉnh Phúc Kiến. Nó có cả nhánh Okinawa lẫn nhánh Nhật Bản.
SHOTOKAN — Một dòng karate Nhật Bản cứng, nhấn mạnh những tư thế thấp và những chuyển động dài, duỗi rộng.
Tuy nhiên, phần lớn thời gian, phương pháp châm lửa cho tuyến nội tiết lại không hữu ích đến thế, đặc biệt trong những nghề nghiệp áo trắng và những nghề công nhân kỹ thuật lành nghề áo xanh. Trong trường hợp này, tình huống thực sự khác hẳn. Các sự kiện xảy ra rất nhanh. Con hổ có thể quay trở lại bàn làm việc của bạn nhiều lần trong một giờ, khi bạn cảm nhận một cuộc khủng hoảng đang nổi lên: thương vụ đang đổ vỡ, dự án phải hoàn thành trước thời hạn, bạn phải bảo vệ phía sau lưng mình, một lỗi lớn phải được sửa chữa, có người ở một vị trí then chốt sắp phán xét bạn, máy tính bị sập, và cứ thế. Căng thẳng diễn ra không ngừng nghỉ suốt những ngày của chúng ta. Nếu, thông qua việc tập võ thuật theo kiểu thú vật, các tuyến nội tiết của bạn phát triển một thói quen công khai hay tiềm thức là bùng lên mỗi khi bạn muốn bật công tắc lên mức hiệu suất tối đa, bạn sẽ dễ trở nên căng thẳng quá mức.
Khi phản ứng thú vật của tuyến nội tiết chiến-đấu-hoặc-bỏ-chạy bị khơi dậy, máu dồn ra các bắp thịt bên ngoài của cơ thể (đó chính là điều bạn cần để chiến đấu với con hổ), và do đó bị rút đi khỏi các cơ quan nội tạng cùng bộ não. Theo thời gian, hoạt động liên tục như vậy có thể làm tổn hại hệ tiêu hóa, hệ thần kinh trung ương, và các chức năng của tim và não, vì lượng máu thiết yếu không đi tới nơi nó cần đến. Có thể yên tâm mà giả định rằng hổ đã không viếng thăm hang động của người Neanderthal nhiều lần đến chừng nào so với việc chúng lảng vảng một cách ẩn dụ tại những nơi làm việc hiện đại. Tránh bị một con thú hung dữ xé xác có thể đáng giá việc tiêu hóa của bạn bị gián đoạn mỗi tháng một hay hai lần, nhưng có bao nhiêu trong số những căn bệnh liên quan đến căng thẳng khá nghiêm trọng và đôi khi gây chết người lại đáng giá như thế? Sự xem xét này đặc biệt quan trọng đối với những người nghiện công việc và đối với những thiếu niên với nội tiết tố đang cuộn sôi.
Hãy ghi nhớ rằng các võ sĩ của mọi môn phái, dù họ là nội gia hay ngoại gia, trên phương diện chức năng đều có thể rốt cuộc sử dụng lối tiếp cận thú vật. Mặc dù phản ứng "tuyến nội tiết" giảm đi theo tuổi tác, những võ sĩ lớn tuổi của bất kỳ môn phái nào vẫn có thể duy trì thói quen bùng nổ thú vật. Trong khi việc "châm lửa cho tuyến nội tiết" thường được gắn liền với võ thuật ngoại gia nhất, thì phản ứng ấy thậm chí không phải lúc nào cũng giống nhau ở đó. Theo lý tưởng, các võ sĩ nội gia không được phép châm lửa cho tuyến nội tiết của mình, nhưng điều xảy ra là nhiều người vẫn làm thế khi họ bị áp lực trong chiến đấu, hay thậm chí trong tập đối kháng hoặc trong những bài tập chiến đấu hai người đã được định sẵn.
Cấp độ kế tiếp của võ thuật dạy những người chiến đấu đã được huấn luyện trở nên hiệu quả mà không cần dính líu tới những hành vi giống loài vật. Nó làm điều đó bằng cách khai thác vào tiềm năng con người của chúng ta thay vì thế.
LỐI TIẾP CẬN CON NGƯỜI
Đây là lối võ thuật của loài vật: Một tình huống có khả năng bạo lực khơi dậy bản năng thú vật, dẫn đến sự sợ hãi, kích hoạt các tuyến nội tiết, làm nhịp tim tăng lên, huy động cơ thể, và nó chiến đấu. Đây là lối võ thuật của con người: Một tình huống có khả năng bạo lực lập tức khơi dậy năng lực của con người để nhận diện cách xử lý tình huống ấy tốt nhất, không có sự phẫn nộ đầy căng thẳng, rồi tâm/thân trở nên tĩnh lặng và cực kỳ cảnh giác, điều này cho phép tâm ý được tập trung lập tức và có ý thức khởi động khí, khiến cơ thể nhập cuộc với tốc độ và uy lực, nhưng không có các tuyến nội tiết bị kích hoạt, không có nhịp tim tăng lên, và không có sự phẫn nộ được sinh ra. Ở giai đoạn võ thuật của con người, chính trí tuệ làm chủ những hành động của cơ thể, một cách điềm tĩnh và vô tư; nghĩa là, quyết định về việc hành động như thế nào được đưa ra bởi tâm trí của bạn, chứ không phải bởi hệ tuyến nội tiết của bạn. (Dĩ nhiên, lối tiếp cận con người giả định rằng cá nhân đang được nói tới muốn vượt lên trên những bản năng thú vật của mình.)
NEI GUNG (NỘI CÔNG) — Nội lực. Hệ thống tu dưỡng khí (khí công) nguyên thủy tại Trung Hoa, do những người Đạo gia phát minh ra.
Mặc dù việc căng cứng thân/tâm đến mức tối đa có thể có thể hữu ích cho một con vật trước khi nó chiến đấu để giành mạng sống của mình, việc duy trì hành vi ấy mọi lúc sẽ rút cạn niềm vui khỏi đời sống con người hiện đại. Một con mèo có thể thư giãn sau khi giết được mồi; hầu hết con người thì không thể. Dần dần, sự căng cứng thú vật được duy trì này làm cho cơ thể trở nên cứng đờ, và như đã nói, sự căng thẳng phát sinh từ sự cứng đờ ấy có thể trở thành bối cảnh chi phối trong đó một người sống.
Võ thuật nội gia của Trung Hoa cố ý làm một điều khác. Chúng nỗ lực tạo ra, thông qua một sự dung hợp được tập trung cao độ giữa trí tuệ và năng lượng vi tế của cơ thể, một hình thức chiến đấu hiệu quả mang tính người, được thực hiện mà không dính dáng đến bản năng tuyến nội tiết. Con đường này khó đi theo hơn, bởi vì lối thú vật đã được nối sẵn vào gen. Trong võ thuật nội gia, cần phải có thời gian, rất nhiều sự bực dọc, những thất bại, và một nỗ lực đáng kể để hợp nhất tâm thức vào thân thể, điều mà yếu tố con người đòi hỏi để vượt qua bản năng thú vật và làm hòa với nó. Việc tinh thông võ thuật nội gia đòi hỏi phải chuyển hóa hệ thần kinh trung ương bình thường của con người thành một hệ có thể xử lý một cách hiệu quả một cuộc đối đầu bạo lực về thể xác (và/hoặc tiến vào bất kỳ chế độ hiệu suất cao nào) một cách tức thời, với năng lực trung hòa những tác động của sự căng thẳng lặp đi lặp lại. Trong thời đại thông tin hiện nay của chúng ta, năng lực giữ được sự thư giãn dưới áp lực có thể dễ dàng trở thành sự phòng vệ tốt nhất chống lại những hậu quả đe dọa tính mạng của căng thẳng.
Một phương pháp để chuyển hóa hệ thần kinh trung ương thành một hệ có thể đối phó với những áp lực cực độ trong khi đồng thời tránh được sự can thiệp gây rối loạn của tuyến nội tiết, chính là quy trình phát triển khí 16 phần (xem tr. 62) của Đạo gia. Những thực hành nội công này có thể chuyển hóa hệ thần kinh trung ương vốn thường căng thẳng của con người thành một hệ rất linh hoạt, trong đó hầu như không có độ trễ thời gian giữa ý chí có ý thức và việc cơ thể chuyển động nhanh chóng hay phát ra uy lực. Rốt cuộc, một phần lớn năng lực chiến đấu của võ thuật nội gia bắt nguồn từ sự vắng bóng của thời gian trễ trong hệ thần kinh trung ương. Với thời gian phản ứng hầu như không còn, người tập võ nội gia có khả năng thay đổi những kỹ thuật chiến đấu nhanh hơn đối thủ của mình, và cũng có khả năng kết hợp những vùng sức mạnh của cơ thể vốn thường bị tách biệt thành một toàn thể duy nhất, được tích hợp, thống nhất và đầy uy lực.
…sự nhẹ nhàng, không gắng sức, và sự hoàn hảo của thân thể con người chuyển động trong không gian với uy thế, sự duyên dáng và sự chính xác. Thứ hai, là sự phát triển và biểu đạt của khí và nội lực (cả vi tế lẫn thô trọng) trong những bài quyền nội gia, những yếu tố mà người ta thông thường không thể tiếp cận được. Thứ ba, là việc tạo ra những trạng thái tâm thức được nâng cao, những trạng thái đạt được trong lúc thực hiện các chuyển động của bài quyền và trong sự tương tác đối kháng. Những trạng thái này rốt cuộc cho phép linh hồn biểu đạt những năng lượng của nó thông qua cơ thể.
Võ sĩ gắn bó với lối tiếp cận con người xem sự hoàn mỹ nghệ thuật và tính liên kết hỗ tương của kỹ thuật chiến đấu như một mục tiêu tự thân, do đó biểu đạt những xung động nghệ thuật cao hơn thông qua hình thức chiến đấu, theo cùng cách mà một họa sĩ biểu đạt qua những nét bút hay một tiểu thuyết gia biểu đạt qua ngôn từ. Thật vậy, võ sĩ theo khuynh hướng nhân bản trải nghiệm những sắc thái của uy lực cũng như tính hữu dụng và hiệu quả của kỹ thuật chiến đấu phần lớn theo cùng cách mà một họa sĩ nhìn thấy những sắc thái của màu sắc. Những loại kỹ thuật chiến đấu khác nhau, cả vi tế lẫn thô trọng (đấm, đá, quăng, khóa khớp, v.v.), có thể giống như những phong cách hội họa khác nhau trên những chất liệu khác nhau.
Loại sáng tạo này thường không phải là trải nghiệm ban đầu của những người mới bắt đầu khi đi học một "lớp tự vệ". Họ có những mục tiêu giới hạn hơn rất nhiều. Một khi những người mới bắt đầu cảm thấy mình đã học được cách "tự chăm sóc bản thân", họ thường sẽ ngừng học võ thuật và chuyển sang một việc khác. Tuy nhiên, không phải như vậy đối với những võ sĩ mà, hàng thập kỷ sau, vẫn thấy niềm đam mê nghệ thuật của mình đối với một môn võ thuật cụ thể hay đối với võ thuật nói chung tiếp tục lớn lên rất lâu sau khi họ đã ở mức hợp lý là "học được cách đánh" để tự vệ có hiệu quả. Những người thợ thủ công của võ thuật sẽ dừng lại khi họ cảm thấy sản phẩm của mình đã hoàn tất. Những nghệ sĩ của võ thuật sẽ tiếp tục không ngừng học hỏi và lớn lên, bởi vì sự biểu đạt sáng tạo mang tính nghệ thuật của môn võ thuật của họ chính là mục tiêu của họ. Họ làm điều đó vì họ yêu nó.
Về mặt cổ điển, những người phương Đông cổ xưa đã giữ quan điểm rằng hành vi sáng tạo tự biểu hiện trong võ thuật theo cùng cách mà nó biểu hiện trong hội họa, âm nhạc, và những nỗ lực nghệ thuật khác có thể truy nguyên từ tinh thần con người.
LỐI TIẾP CẬN TÂM LINH
Lối tiếp cận tâm linh đối với võ thuật gồm hai cấp độ. Cấp thứ nhất là một giai đoạn chuẩn bị, đòi hỏi một sự tra vấn nội tâm và một cuộc chiến đấu lớn lao để giải phóng bản thân khỏi nhiều sự tắc nghẽn về cảm xúc và tâm linh. Cấp thứ hai liên quan đến những thực hành thiền định cụ thể có thể trực tiếp đưa một cá nhân đến trải nghiệm những trạng thái ý thức cao hơn và được tinh lọc hơn.
Nhiệm vụ tâm linh lúc ban đầu gian nan nhất là giải thoát bản thân khỏi sự định hình về cảm xúc và tâm lý của quá khứ mình, để trở thành một con người trưởng thành, nghĩa là một người có thể gánh lấy trách nhiệm cả bên trong lẫn bên ngoài về những suy nghĩ và hành động của mình. Một thách thức tâm linh khác liên quan đến việc định vị sự quân bình giữa trách nhiệm và quyền lực cá nhân. Để tìm ra sự quân bình này, mỗi cá nhân phải phát triển năng lực cảm nhận sự hối hận chân thực về những tổn hại không cần thiết mà mình đã gây ra, cả trên sàn tập lẫn ngoài sàn tập, và phải sẵn lòng sửa chữa những khuyết điểm về đạo đức của mình.
Để tự ổn định về mặt tâm linh, những người thực hành võ thuật sẽ cần phải quân bình cả những đam mê thú vật lẫn những đam mê con người của mình. Những cá nhân ở giai đoạn con người của võ thuật có thể tập luyện mà không cần châm lửa cho tuyến nội tiết của mình theo kiểu thú vật, thế mà đồng thời vẫn có thể độc ác, tham lam, để oán, đầy sự ghê tởm và hận thù, kiêu ngạo, hay tự lừa dối bản thân — nói ngắn gọn, hoàn toàn xa rời tâm linh. Để có thể vượt qua những tắc nghẽn tâm linh, người tập hoặc phải là những vị thánh bẩm sinh, hoặc phải trải qua một quá trình thanh tẩy đạo đức, trong đó họ phát triển và nội tâm hóa một cảm thức chân thực, xuất tự tâm can, về đạo đức. Trong suốt cuộc thanh tẩy này, đạo đức của một người, trên mọi phương diện của nó, liên tục được phát triển và thử thách, cả trong thiền tọa lẫn trong đối kháng thể xác. Nếu không có đạo đức, tiến trình chân thực của võ thuật tâm linh không thể bắt đầu.
Mặc dù đạo đức của những môn võ thuật nội gia là bát quái chưởng và thái cực quyền hiển nhiên xuất phát từ Đạo gia, việc học võ thuật không đòi hỏi học trò phải thay đổi những tín ngưỡng tôn giáo của mình. Một hệ thống đạo đức cá nhân có thể được rút ra từ bất kỳ tôn giáo lớn nào còn tồn tại bền vững trên thế giới, phương Đông hay phương Tây, hoặc đơn giản có thể đến từ một quá trình nội tâm hóa, chẳng hạn như sự nội quán nghiêm túc hay sự tra vấn nội tâm.
Dù bắt nguồn từ một nguồn tôn giáo hay thông qua sự chiêm nghiệm nội tâm mang tính thế tục, đạo đức trong võ thuật tâm linh được khám phá, phát triển và thử thách cho đến tận gốc rễ sâu nhất của nó, cho đến khi nó trở nên vĩnh viễn được dệt vào sợi tơ đạo đức trong bản thể của một cá nhân. Đối kháng hoạt động như một tấm gương, thường phóng đại sự nhận thức về những điểm mạnh tâm linh của một người (chẳng hạn lòng dũng cảm, lòng tốt, sự hào phóng, sự tha thứ, lòng từ bi, sự thấu hiểu, sự quân bình và tuệ giác) cũng như những điểm yếu tâm linh bị tắc nghẽn vốn cố hữu trong thân phận con người.
Con người, thông qua việc tập luyện võ thuật nội gia, cũng có năng lực vươn lên tới sự nhận thức về một tâm thức phổ quát. Việc một võ sĩ bị kẹt lại trong những bản tính thấp kém của mình hay vươn lên tới những tiềm năng tâm linh của mình, phần lớn được quyết định bởi sự sẵn lòng của họ trong việc cố ý đi sâu vào bên trong chính mình và giao chiến với những "đối thủ tâm linh" của mình (những sự rối loạn chức năng của con người ở trong mỗi người: sự hận thù bản thân và người khác, tính tiêu cực, sự lừa dối, lòng ghen tị, sự phẫn nộ, cái ngã bị thổi phồng, nhu cầu khuất phục người khác, v.v.).
Cuộc chiến tâm linh này được tiến hành cho đến khi tìm thấy thắng lợi trong không gian trong sáng, nơi năng lượng tích cực và một trung tâm tâm linh chân thực cư ngụ.
Trong những bài tập chiến đấu hai người, sự nhận biết của bạn về điều đang xảy ra với những trạng thái tinh thần, cảm xúc hay tâm lý bên trong ít nhất cũng quan trọng bằng việc một kỹ thuật có tác dụng về mặt võ thuật hay không. Bạn tập để trở nên nhận biết về cách mọi khía cạnh của bản thể bên trong mình đang phản ứng với những kích thích từ bên ngoài. Khi người bạn tập "chiến đấu" với bạn, bạn học về sự trong sáng của tâm trí mình — cách nó đang bị phá vỡ bởi sự phẫn nộ, sợ hãi, lo âu, tê liệt có thể có, hay sự không vươn lên đáp ứng được thử thách. Khi bạn đối kháng, những chỗ bên trong bạn đang thiếu vắng sự tu dưỡng tâm linh sẽ lộ ra. Nhiệm vụ khi ấy là chinh phục những điểm yếu tâm linh của bạn và tu dưỡng sức mạnh tâm linh bên trong, trong khi bạn đồng thời phát triển kỹ thuật võ thuật của mình. Theo thời gian, bạn học được rằng đối kháng không nhất thiết phải bao hàm sự xung đột. Sự nhận ra này, chậm mà chắc, thiết lập nền tảng tâm linh trên đó bạn bắt đầu cấp độ thứ hai của sự thực hành tâm linh.
Cấp độ thứ hai của lối tiếp cận tâm linh tập trung vào những phương pháp thiền định cụ thể, được nhắm tới việc đưa một võ sĩ vào cõi ý thức cao hơn, nơi cảm thức về cái ta được thay thế bởi một nhận thức lớn lao hơn về Tâm Thức Phổ Quát hay năng lượng thấm nhuần mọi sự. Mục tiêu hàng đầu của người tu tập đạt tới điểm này là trở thành một cây cầu sống động giữa thế giới con người bình thường và vũ trụ tâm linh. Để thực hiện được công việc tâm linh này thông qua võ thuật, cần phải đối trị những tắc nghẽn năng lượng bên trong và những "kẻ thù" tinh thần cá nhân. Những vũ khí mà võ sĩ sử dụng trong cuộc chiến này là sự nhận biết, những bài quyền đơn luyện, những bài tập chiến đấu hai người, và thiền tọa. Con đường uốn lượn qua bụi rậm của cuộc chiến đấu của bạn với những mâu thuẫn nội tại trong chính bản tính thú vật và con người của mình, và dẫn tới chỗ mà bạn có thể chấp nhận mọi giới hạn con người của mình. Cuối cùng, con đường dẫn tới một sự chuyển hóa của linh hồn, mà đến lượt nó, mở ra cánh cổng đi đến sự tỉnh thức tâm linh chân thực.
Việc thuần hóa những thứ được gọi là những cảm xúc thấp kém (hận thù, tham lam, cuồng nộ, vô minh, v.v.) đòi hỏi một cá nhân phải phát triển lòng tôn kính và sự tôn trọng đối với mọi sự sống và tạo hóa. Công việc thiền định tìm cách nuôi dưỡng sự quân bình, sự hài hòa và lòng từ bi, đồng thời phát triển trí tuệ để biết khi nào nên hành động và khi nào nên tĩnh lặng. Đó là mục đích của võ thuật tâm linh. Trong tất cả những lối tiếp cận võ thuật, những thực hành Đạo gia của bát quái chưởng và thái cực quyền là độc đáo, không chỉ ở việc kết hợp tâm linh như một giá trị cốt lõi, mà còn ở việc tích hợp trọn vẹn toàn bộ truyền thống tâm linh Đạo gia cùng những phương pháp luận được dùng để thực thi chúng.
Những kỹ thuật để bắt đầu quá trình tâm linh hóa được thực hiện trong những tư thế của bài quyền đơn luyện. Có cả những cách tập cụ thể lẫn tổng quát, để những kinh mạch năng lượng của cơ thể trước tiên được mở ra, rồi được tẩy sạch tính tiêu cực, rồi được thiết lập ở những mức độ hài hòa cao hơn, nơi tình thương, lòng từ bi, sự quân bình, năng lực phân biện và trí tuệ được nuôi dưỡng. Từ đây, người tập học cách thống nhất toàn bộ thân/tâm và thiết lập sự tĩnh lặng. Điểm mà tại đó cơ thể đang chuyển động còn tâm thì tĩnh lặng, chính là điểm có thể nói rằng quá trình thiền hành đã bắt đầu. Ở đây, sự nhấn mạnh đối với người tập chuyển sang việc học cách cố ý biểu hiện những mức độ khác nhau của cái mà những người Đạo gia gọi là "tính không", hay những giai đoạn tĩnh lặng thiền định cao cấp tồn tại dọc theo con đường đi đến sự thấu hiểu Tâm Thức Phổ Quát.
UNIVERSAL CONSCIOUSNESS (TÂM THỨC PHỔ QUÁT) — Cái cơ sở không thể định nghĩa được, mà từ đó toàn bộ vũ trụ được cấu thành. Được gọi là Đạo trong Trung Hoa cổ đại.
EMPTINESS (TÍNH KHÔNG) — Một trạng thái sâu sắc của sự quân bình về tâm linh, tinh thần và tâm lý, là một mục tiêu lớn của mọi thực hành thiền định châu Á.
MEDITATIVE STILLNESS (SỰ TĨNH LẶNG THIỀN ĐỊNH) — Một mức độ thành tựu trong thiền định, nơi tâm của người tập trở nên đặc biệt tĩnh lặng và nghỉ ngơi trong sự thư giãn, tập trung ngay trong chính nó.
WU STYLE TAI CHI (THÁI CỰC QUYỀN DÒNG NGÔ) — Một dòng thái cực quyền đặc biệt nổi tiếng về những thành phần trị liệu và thiền định của nó. Một dòng chiến đấu khung nhỏ được phát triển từ dòng Dương.
Những thực hành chuyển hóa đơn tọa và chuyển động của Đạo gia được dùng để hòa tan hay chuyển hóa bất cứ tắc nghẽn tâm linh nào đã trở nên hiển nhiên trong những buổi tập đối kháng thể xác. Như đã nói, đối kháng hai người cho bạn một cách để đối diện với những gì ở bên trong chính mình, điều này tương đương với một cuộc kiểm tra thực tại tâm linh mạnh mẽ, đánh tan sự tự mãn và sự tự lừa dối.
Những thực hành thiền tọa được dùng trong bát quái chưởng và thái cực quyền dòng Ngô mà tác giả được Lưu Hùng Giới (Liu Hung Chieh) truyền dạy (xem tr. 241), bắt nguồn từ truyền thống luyện kim của thiền Đạo gia, vốn không đòi hỏi hoạt động võ thuật. Tuy nhiên, về mặt lịch sử, trong một số hệ phái, truyền thống thiền tọa Đạo gia đã được tích hợp và được đặc biệt điều chỉnh để giúp giải quyết bất kỳ tắc nghẽn tâm linh nào tự nhiên nảy sinh từ những thực hành võ thuật đơn luyện và chiến đấu hai người. Ngược lại, bất cứ điều gì nảy sinh trong lúc thiền định của bạn đều có thể được điều chỉnh và thử nghiệm trong các bài tập đối kháng và các bài quyền đơn luyện của bạn. Như vậy, thiền định, bài quyền đơn luyện và đối kháng hai người bổ sung cho nhau và tự nhiên củng cố lẫn nhau.
Chẳng hạn, trong đối kháng, bạn có thể thấy rằng trong một số tình huống nảy sinh bên trong bạn một cảm thức rõ rệt về sự tê liệt, cuồng nộ, bất an, sợ hãi, v.v., mà chẳng hợp lý chút nào về mặt chiến thuật, cảm xúc hay lý trí. Khi buổi tập đối kháng chấm dứt, bạn có thể ngồi xuống thiền và bắt đầu tập trung vào năng lượng của sự tê liệt, phẫn nộ, bất an hay sợ hãi ấy. Khi bạn lột bỏ từng lớp vô thức, bạn có thể khám phá ra những mẫu hình trước đây của sự tê liệt, phẫn nộ, bất an hay sợ hãi chưa từng được nhận biết, vốn đã ám ảnh bạn suốt cả đời. Những tắc nghẽn tâm linh bên trong như vậy có thể được giải quyết trong lúc thiền tọa; chúng cũng có thể, bằng những phương pháp thiền cụ thể, được thanh tẩy khỏi cơ thể bạn khi bạn thực hành những bài quyền võ thuật đơn luyện. Những thay đổi rất nhỏ trong chuyển động của bạn có thể gia tăng sự nhận biết của bạn về những cơ chế nội tại đứng sau sự tê liệt mà bạn có thể trải nghiệm khi đang tham dự vào hoạt động. Những phản ứng của bạn đối với những áp lực của đối kháng hai người sẽ phơi bày việc bạn thực sự đã đi qua khỏi những tắc nghẽn ấy rồi hay còn cần phải làm việc với chúng nhiều hơn nữa. Một nhóm tắc nghẽn được giải quyết sẽ dọn sân khấu cho lỗ hổng tâm linh kế tiếp lộ diện, và mỗi lần điều đó xảy ra, công việc thiền định lại phải bắt đầu lại từ đầu.
Sự khác biệt giữa võ thuật động vật, con người và tâm linh không liên quan gì đến những kỹ thuật tấn công và phòng thủ về thể xác được sử dụng. Đúng hơn, nó liên quan hoàn toàn đến kiểu người xuất hiện, và đến bản chất của chính những sự tu tập. Loại tự nhận thức mà môn võ thuật tập trung vào, đạo đức của nó, và tinh túy của thiền định cùng sự huấn luyện tâm trí của nó là những điều then chốt đối với quá trình tâm linh hóa. Nói vắn tắt, lời của các bậc thầy Trung Hoa ở đây thật đúng: "Bạn thực hành cái gì, bạn trở thành cái đó."
Aikido và môn võ thuật hình ý quyền dính líu đến lối tiếp cận tâm linh theo một cách khác. Cả hai đều ôm ấp một nền tảng tâm linh, dù cả hai không kết hợp, trong những chuyển động của bài quyền đơn luyện hay trong những bài tập đối kháng hai người, những kỹ thuật thiền chuyển hóa cụ thể của Đạo gia hay của truyền thống khác (xem tr. 76). Trong khi cả hai môn này đều có những thực hành tọa thiền, thì những thực hành ấy chủ yếu được dùng để phát triển khí của hệ thần kinh trung ương nhằm tạo ra uy lực thể xác và tâm lý, chứ không phải để chuyển hóa ý thức và nhận thức bên trong. Chẳng hạn, aikido đặt một sự nhấn mạnh lớn về mặt triết học vào việc giải quyết xung đột thông qua sự thư giãn, tình thương và sự hài hòa.
Những người sử dụng lối tiếp cận con người đối với võ thuật có thể và thực sự tích lũy được một chừng mực nào đó những uy lực tâm-linh-tâm-lý (chẳng hạn năng lực phóng chiếu năng lượng), thế nhưng nếu không có một nền tảng tâm linh xác thực nào đó, những năng lực được tăng cường này có thể là một mối nguy hiểm. Chúng có thể dẫn bất kỳ cá nhân nào tới một cảm thức sai lầm về quyền lực và tới sự bất hạnh, bởi vì động lực vị ngã muốn có quyền lực có thể cướp đoạt mất niềm vui và những sự quân bình của chính cuộc sống. Trong lối tiếp cận tâm linh đối với võ thuật, thiền định tách biệt hay những kỹ thuật giống như thiền định là tuyệt đối cần thiết. Chúng cũng có thể được thu nhận một cách độc lập với những phương pháp chiến đấu — như với Thiền ở Nhật Bản chẳng hạn, hay Mật tông ở Tây Tạng — nhưng, theo lý tưởng, được tích hợp một cách liền mạch vào trong chúng.
Tập Luyện Một Cách Sáng Suốt
Dù năng lực hay tham vọng võ thuật của bạn là gì, việc tập luyện cho chiến đấu phải được thực hiện theo những cách không bao giờ đem lại tổn hại cho cơ thể bạn. Nguyên tắc hướng dẫn này rất khác với quyền Anh phương Tây chẳng hạn, nơi những buổi tập thường có thể dẫn đến những chấn thương đáng kể. Thật khó mà lập luận cho trường hợp rằng việc liên tục nhận những cú đấm vào đầu (như được giáng trong quyền Anh phương Tây) là tốt cho sức khỏe của bạn. Thật vậy, việc bị đập vào đầu là điều có khả năng cực kỳ nguy hiểm, và những võ sĩ quyền Anh thường phải chịu đựng những chấn thương tích lũy từ tập luyện hay từ thi đấu khi về già. Dẫu vậy, nhiều vận động viên chuyên nghiệp, chẳng hạn những cầu thủ bóng bầu dục chuyên nghiệp, sẽ tiếp tục thi đấu để giành chiến thắng, dù họ biết rằng mình có thể bị tàn tật vĩnh viễn khi sự nghiệp của họ chấm dứt. Hầu hết các võ sĩ đều chấp nhận rằng, nếu bạn muốn trở thành một tay đánh thực sự giỏi, bạn phải đề phòng việc hủy hoại cơ thể mình trong quá trình đó.
Quan điểm của Đạo gia là sức khỏe và sự xuất sắc của hiệu suất phải được quân bình. Làm tàn phế cơ thể mình bằng những chấn thương vĩnh viễn trong khi học cách tự vệ là một sự mâu thuẫn. Trong trường hợp ấy, điều duy nhất đang được bảo vệ sẽ là cái ngã của bạn và nhu cầu chiến thắng của nó.
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) — Khí Lực Khó Tin
Vào mùa hè năm 1968, tôi đi từ Nhật Bản sang Đài Loan để tìm kiếm nội gia — bậc thầy bát quái chưởng Vương Thụ Kim, người được xem một cách rộng rãi là một trong những tay đánh tay không giỏi nhất châu Á. Tôi lần theo dấu vết lớp học của Vương, lớp họp tại vỏ sò của giảng đường ngoài trời trong công viên ở Đài Trung lúc năm giờ rưỡi sáng. Đã có rất nhiều người trong công viên vào giờ đó, làm đủ mọi thứ việc, bao gồm cả công phu Thiếu Lâm, karate, thái cực quyền và cầu lông. Có những người treo mình trên cành cây để kéo giãn cơ thể mình, có người chỉ đi dạo, những người khác thì đang thổi kèn saxophone. Tôi đang chìm đắm trong cảnh tượng siêu thực ấy, suy ngẫm về cuộc gặp gỡ giữa Trung Hoa cổ xưa với thế kỷ hai mươi, thì một người đàn ông đồ sộ mặc bộ pyjama trắng đi lạch bạch xuống phố, tay xách hai lồng chim. Đó là Vương Thụ Kim, một công dân cao niên tròn trịa đang mang trên mình từ 250 đến 300 pound trên một khung người cao 5 feet 8 inch.
Khi ấy tôi mười chín tuổi, một nhà vô địch karate trẻ tuổi đã được công nhận, và tôi mang theo một món quà truyền thống để tỏ lòng kính trọng đối với Vương: một lượng đáng kể nhân sâm cao cấp. Trong buổi gặp gỡ ban đầu, Vương đã không ngần ngại bày tỏ sự xem thường của ông đối với karate, nói với tôi một cách chẳng úp mở chút nào rằng: "karate chỉ thích hợp để đánh đàn bà già và trẻ con." Vì karate đã là một phần lớn của đời tôi và là niềm đam mê của tôi vào lúc đó, lời nhận xét buông lơi này đã làm tổn thương tôi đến tận cốt lõi. Tuy nhiên, tôi buộc phải nuốt sự phẫn nộ của mình vào trong. Trong những trận đối kháng tiếp sau đó, Vương đánh bại tôi hoàn toàn vào mọi dịp, gõ nhẹ vào tôi theo ý muốn khắp nơi trên cơ thể tôi, để chứng minh sự vòng tránh dễ dàng của ông đối với những thế phòng thủ của tôi. Bất chấp những nỗ lực tốt nhất của tôi và bất chấp vòng bụng khổng lồ của Vương, bát quái chưởng của ông đã cho phép ông tránh né mọi cú đánh của tôi một cách không chút gắng sức và rốt cuộc đứng ở phía sau lưng tôi theo ý muốn.
Để cho tôi thấy một cách sống động rằng còn có rất nhiều điều để học, sau vài ngày học với ông, ông đã cho phép tôi đánh vào bất cứ chỗ nào trên cơ thể ông với toàn bộ uy lực. Tôi dồn tất cả lực lượng trong khả năng của mình vào những cú đánh ấy, nhưng chúng cũng chẳng khác gì những cú đấm của một đứa trẻ lên ba. Tôi đá vào đầu gối và hạ bộ của ông mà không có tác dụng, đánh vào cổ ông và dùng cùi chỏ thúc vào xương sườn của ông. Như nhiều bậc thầy bát quái, ông có năng lực hấp thu những cú đánh mà không bị thương tích. Khi tôi đá vào ống quyển của ông, bàn chân tôi đau nhức rất lâu về sau.
Khi tôi đấm nắm đấm của mình vào bụng ông, tôi cảm thấy dường như cú đánh đã làm gãy cổ tay mình. Vương thường gõ vào đầu tôi trong lúc đối kháng, chỉ để chứng minh việc đánh gục tôi đối với ông dễ dàng đến mức nào. Thật vậy, có một lần, ông gõ nhẹ vào đầu tôi, khiến tôi ngã xuống đất ngay lập tức. Tôi ngồi đó trong sự kinh ngạc tột độ, cảm thấy như thể vừa bị một dòng điện cao thế giật mạnh.
Một lúc sau, tôi có thể nói rằng ông đang trở nên chán ngán với trình độ thấp kém của tôi và sự bất lực của tôi trong việc làm ông đau. Đôi khi, ông sẽ nắm lấy tôi bằng hai cánh tay của mình và nảy tôi qua lại ba bốn lần trên bụng ông như một con yo-yo, hai bàn chân tôi bay lên trong không trung. Rồi Vương sẽ giật tôi trở lại. Về sau tôi nghe nói rằng, khi còn là một thanh niên trong những trận tỷ thí ở Đại Lục, Vương thực sự đã làm gãy cột sống của các đối thủ theo cách này. Nhiều năm sau, tôi được một vị thầy khác cho biết rằng sự phòng vệ duy nhất chống lại kỹ thuật này là xoay người sang bên hông, để xương hông của bạn chứ không phải bụng của bạn tiếp xúc với cái bụng đáng sợ của ông. Nếu không thì bạn xong đời.
Sau khi được tiếp xúc lần đầu với những năng lực của Vương, vừa khai sáng lại vừa làm bối rối, tôi không còn mong muốn gì hơn là được học bát quái của ông, môn mà chính ông đã học từ Trương Chiếu Đông (Chang Chao-Tung), người được biết đến là một học trò của Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan), người được ghi nhận là đã đưa bát quái chưởng ra công chúng vào cuối thế kỷ mười chín. Vương quyết định thử lòng thành của tôi trước khi ông nhận tôi làm học trò. Ông ra lệnh một cách cộc cằn cho tôi đứng vào tư thế bát quái chưởng gọi là Nhạn Hoang Rời Đàn (Wild Goose Leaves the Flock) và giữ nguyên nó cho đến khi có lệnh mới. Tư thế tĩnh này đòi hỏi một chân được nâng lên ngang eo trong khi thân mình được cuộn sang một bên, và cả hai cánh tay đều duỗi ra. Theo lời chỉ dạy, tôi đứng vào tư thế. Giữ nó phút này qua phút khác, tôi đã gục ngã nhiều lần, và mỗi lần như thế, người trợ lý của Vương lập tức dội lên người tôi một xô nước lạnh và ra lệnh cho tôi trở lại tư thế. Sau hai giờ thử thách như vậy, một Vương mỉm cười đã đồng ý nhận tôi làm học trò của ông. Vương đang thử điều gì? Phải chăng đó là sự cam kết của tôi, năng lực chịu đựng gian khổ, lòng thành, hay sự điên rồ (nghĩa là niềm đam mê đối với võ thuật)? Có lẽ đó là tất cả những điều ấy.
Những kỹ năng chiến đấu của Vương thật kinh ngạc. Bất chấp tuổi tác và cân nặng của mình, Vương nhanh nhẹn không thể tin nổi, nhanh như chớp, có sức khỏe tuyệt vời, và có một uy lực thể chất đáng kinh ngạc. Ở phương Tây, chúng ta giả định rằng, nếu người ta béo, họ không thể cường tráng, hẳn phải vụng về và chậm chạp, và hẳn phải không thoải mái với hình ảnh của mình. Vương chắc chắn đã cho thấy khuôn mẫu này là không chính xác. Ông hoàn toàn tự tại với chính mình. Vương thường nhận những lời thách đấu toàn thân tiếp xúc, không cấm bất cứ đòn nào, từ những tay đánh giỏi nhất ở Nhật Bản và Đông Nam Á, và luôn luôn chiến thắng. Khi đã bước vào tuổi tám mươi, ông vẫn có thể đánh bại những thanh niên cứng cỏi nhất. Vào những ngày tập lạnh, các học trò của ông sẽ đứng quanh ông để sưởi ấm đôi bàn tay của họ, như thể ông là một cái lò sưởi — một minh chứng cho mức độ phát triển khí đáng kinh ngạc của ông. Chính từ Vương mà lần đầu tiên tôi học được cách dùng khí để tạo ra một mức độ sức khỏe và sinh lực cao. Ông cũng chỉ cho tôi cách dùng khí để phát sinh uy lực cho việc chiến đấu.
Vương là một người tin sâu sắc vào khí. Trong buổi gặp đầu tiên của chúng tôi, ông nói với tôi: "Ta có thể ăn nhiều hơn cháu, ta có thể có nhiều chuyện chăn gối hơn cháu, và ta có thể đánh giỏi hơn cháu, thế mà cháu tự xưng là khỏe mạnh. Này chàng trai trẻ, khỏe mạnh còn có nhiều điều hơn là chỉ trẻ tuổi, và tất cả đều quy về việc cháu có bao nhiêu khí." Những lời của ông đã tác động lên tâm trí mười chín tuổi của tôi đủ mạnh để gây ra một sự chuyển dịch đáng kể trong lối tư duy phương Tây của tôi về thực tại của cơ thể và cách nó vận hành. Hóa ra Vương cũng có kinh nghiệm về thiền Đạo gia, và là một bậc thầy tích cực và uyên bác về những thực hành năng lượng tình dục của Đạo gia. Ông chỉ dạy những đề tài này cho một số ít người được tuyển chọn.
Những học trò của ông tự họ cũng là những tay đánh đáng sợ. Trình độ kỹ năng của các học trò ông có lẽ phơi bày về hiệu quả của nội gia nhiều hơn cả những năng lực của chính Vương. Họ minh họa rằng Vương không phải là siêu nhân, mà có một sự kết hợp ưu việt giữa tài năng, sự tận tụy, và năng lực cung cấp sự chỉ dạy có chất lượng. Khi tôi bắt đầu học với Vương, một số học trò của ông, từ mười lăm đến bảy mươi tuổi, đã đánh cho tôi tơi tả. Tôi không thể tin nổi! Cả nam lẫn nữ đều có thể đánh trúng tôi mà không cần tôi thu đòn lại. Đối với một nhà vô địch karate mười chín tuổi đầy kiêu hãnh mà lại bị một bà già dành cho một trận đánh cam go, thì đó là một viên thuốc đắng phải nuốt. Một số người lớn tuổi hơn đã theo Vương chỉ mới vài năm. Họ đánh bại tôi nhiều đến thế trong ngày đầu tiên ấy, khiến tôi cảm thấy muốn bỏ cuộc. Tôi còn nhớ một cách rõ rệt mình đã nghĩ: họ định làm gì tiếp đây, đem một đứa trẻ nhỏ ra để đánh tôi sao?
Nhiều học trò của Vương bắt đầu muộn trong đời. Thật vậy, một trong những sở trường của Vương là nhận những người ở độ tuổi năm mươi và sáu mươi, những người có đủ loại vấn đề về thể chất, và làm cho họ trở nên khỏe mạnh và cường tráng. Vào thời điểm ấy ở Đài Loan, những người cao tuổi ít phải lo sợ bạo lực ngẫu nhiên, vì cảnh sát đặc biệt thô bạo với bất kỳ ai xâm hại họ. Theo đó, những học trò cao tuổi của Vương ban đầu không đến với ông để học tự vệ. Dẫu vậy, mặc dù những học trò lớn tuổi này bắt đầu học với Vương thuần túy vì những lý do sức khỏe, họ vẫn trở thành những tay đánh giỏi, bởi vì sự huấn luyện ấy là một phần trong những chương trình của Vương.
Tại Đài Loan, tôi đã trò chuyện với một số học trò của Vương đang ở độ tuổi năm mươi và chỉ mới gần đây bắt đầu học bát quái mà không có chút kinh nghiệm võ thuật nào trước đó. Họ đến với Vương vì họ đã bắt đầu bị liệt dương hoặc đang mắc phải những chứng bệnh mãn tính. Sau khi tập bát quái, chứng liệt dương của họ đã được đảo ngược, và sức khỏe, những phản xạ cùng sự trong sáng của tâm trí họ được cải thiện một cách rõ rệt. Những chứng bệnh mãn tính của họ hoặc biến mất hoàn toàn hoặc thuyên giảm đi.
Học trò của Vương liên tục cố gắng tìm ra khí của chính mình, qua đó mở ra những kinh mạch năng lượng của cơ thể họ. Họ sẽ cố gắng tái tạo lại cảm giác về khí của một cú đánh mà Vương đã giáng vào họ theo một cách được pha loãng nhưng vẫn gây sốc. Vương là bậc thầy trong việc phóng chiếu khí. Ông có thể phát ra một uy lực khổng lồ mà bạn có thể cảm nhận được và bị làm cho đau, ngay cả khi bàn tay của ông bắt đầu chuyển động từ một khoảng cách chỉ hơi xa khỏi cơ thể bạn. Ông cũng có thể đặt những ngón tay của mình nhẹ nhàng lên ngực bạn, và nếu ông quyết định phóng ra một chút khí, ông có thể hất bạn văng vào bức tường một cách không chút gắng sức, hoặc đặt bạn vào một cơn đau đến mức bạn tưởng mình sắp chết, dù bàn tay của ông không hề di chuyển quá một phần nhỏ của một inch. Năng lực đưa toàn bộ uy lực của một người vào một điểm duy nhất một cách tức thời này là một trong những kỹ thuật mà môn nghệ thuật bát quái phát triển. Khi phương pháp luận này được giải thích, nó nghe có vẻ rất lâm sàng, nhưng khi lý thuyết được áp dụng vào cơ thể bạn, mọi sự có thể trở nên vô cùng phấn khích hoặc đáng sợ. Việc hấp thu một uy lực khí như vậy có thể giống như một cơn gió mát dễ chịu hoặc một tia sét.
Khi lần đầu tiên tôi bắt đầu tập Nhu Thủ (Rou Shou — hình thức hai người của bát quái, tương đương với Thôi Thủ trong thái cực quyền) với Vương vào năm 1968, ông chỉ cần chạm vào tôi và tôi bay văng đi. Mười năm sau, lần cuối cùng tôi gặp Vương ở Đài Trung, tôi lại một lần nữa được đặc ân tập Nhu Thủ với ông. Từ những phương pháp luận mà chính tôi đã học được từ Vương và từ những gì tôi đã học được trong những năm xen giữa từ các bậc thầy khác, giờ đây tôi chỉ vừa vặn có khả năng tránh được uy lực của Vương. Vương không thể "bắt được" tôi như ông đã từng làm dễ dàng trước kia. Sự thật ấy làm tôi vô cùng sung sướng. Nó giống như được tốt nghiệp lên một cấp độ cao hơn của bộ môn nghệ thuật ấy. Rốt cuộc tôi đã có thể làm được những điều được mơ ước suốt mười năm dài đằng đẵng, và chính điều đó đã làm nhiên liệu cho Sai Lầm Lớn. Ở một thời điểm, tôi muốn xem mình giờ đây có thể sánh được với uy lực của Vương hay không, với ý thức rằng ông đã ở cái tuổi tám mươi mấy cao niên. Ngôn ngữ cơ thể của tôi đã thách thức ông. Đáp lại, ông phóng một luồng năng lượng vào thân mình tôi, luồng năng lượng ấy kẹt lại trong những bắp thịt nằm giữa hai xương bả vai của tôi. Phải mất ba tháng trị liệu thân thể chuyên sâu và châm cứu mới giải tỏa được nó và làm cho cơn đau biến mất. Đó không phải là một bắp thịt bị kéo giãn, mà là một quả cầu năng lượng mà Vương đã chôn sâu bên trong cơ thể tôi. Hiển nhiên, vẫn còn những cấp độ cao hơn nữa để tôi học hỏi. Một mặt, đó là một viễn cảnh đầy hứng khởi, và mặt khác, đó là một lời nhắc nhở tốt đừng bao giờ để cái đầu của mình phồng lên quá mức.
Vương phần lớn dạy bằng cách biểu diễn một chuyển động để học trò xem và bắt chước theo khả năng tốt nhất của mình. Ông nhấn mạnh hơi thở sâu và thư giãn cùng một cái bụng đầy uy lực. Ông cũng trực tiếp sắp đặt lại cơ thể của học trò để sửa chữa những lỗi trong tư thế cơ thể và những sự căn chỉnh nội tại. Khí và nội lực của ông hiển nhiên và mạnh mẽ đến mức người ta có thể có được một cảm nhận vật lý rõ ràng về loại khí mà ông đang truyền đi. Như đã nói, ông sẽ thị phạm xem khí của kỹ thuật giống như thế nào bằng cách đánh vào học trò, dùng vừa đủ lực để học trò không chút nghi ngờ về điều đã xảy ra. Hoặc là, ông sẽ dùng phát kình (fa jin) (xem tr. 110) để phóng loại uy lực mà ông muốn bạn cảm nhận vào cơ thể bạn, để bạn có thể biết khí của ông giống như thế nào. Hành động phóng khí vào một học trò này là điển hình của tất cả những bậc thầy võ thuật nội gia chiến đấu chân thực mà cá nhân tôi đã gặp tại Trung Hoa. Họ tin rằng chỉ dạy kỹ thuật bằng mắt là không đủ. Lập trường của họ là, nếu họ thực sự định dạy ai đó, họ phải để học trò cảm nhận được những thực tại vi tế lẫn thô trọng của việc những loại nội lực khác nhau giống như thế nào. Họ tin điều này là cần thiết để học trò có khả năng tái tạo lại những kỹ thuật nhằm tự vệ. Học trò của Vương sẽ cố gắng tái tạo khí của ông với nhiều sáng tạo nhất mà họ có thể.
Cách dạy của Vương phần lớn là nêu gương và tương đối không cụ thể. Mối bận tâm chính của ông là việc bạn có thể biểu hiện được uy lực, hay khí, hay không. Phương pháp giảng dạy này đưa ra rất ít chi tiết chính xác về việc chính xác làm thế nào để thực hiện được sự tái tạo ấy. Lời khuyên căn bản của Vương là hãy tập. Ông sẽ khuyên nên lập đi lập lại việc tập một số động tác nhất định, chẳng hạn như Đơn Hoán Chưởng (Single Palm Change) (xem tr. 217) hay động tác đầu tiên của hình ý quyền gọi là "Phách" (Splitting) (xem tr. 187), trong nhiều giờ liền, hết giờ này đến giờ khác. "Cứ tập đi," ông sẽ nói, "và kỹ năng sẽ tự nhiên mà đến." Tôi đã tin lời ông.
Người chụp ảnh không rõ. Một bức ảnh lưu trữ của B. K. Frantzis ở tuổi mười lăm đang thực hiện một cú đá ngang bay của karate. Việc học karate và judo là khởi đầu cho hành trình của ông từ võ thuật ngoại gia sang võ thuật nội gia.
MỘT TRỤC LIÊN TỤC
Võ Thuật Ngoại Gia và Nội Gia của Trung Hoa
CÓ RẤT NHIỀU LOẠI VÕ THUẬT
Tại Trung Hoa, cũng như ở phần còn lại của thế giới, con người đã đánh nhau bằng thể xác với nhau vì đủ mọi loại lý do, cả khôn ngoan lẫn ngu xuẩn, chính đáng lẫn bất chính. Chiến tranh, tội phạm, những chính phủ tham nhũng, sự cạnh tranh tài nguyên, và khuynh hướng nghiêng về bạo lực của con người luôn luôn ở cùng chúng ta. Tại châu Á (và đặc biệt là Trung Hoa), thế hệ này tiếp nối thế hệ khác đã sáng tạo ra những hình thức võ thuật được tổ chức có hệ thống để chiến đấu một cách hiệu quả với "kẻ thù". Con người đã chiến đấu bằng thân thể của mình và, trong những thời kỳ trước thuốc súng, bằng những thứ vũ khí như dao, kiếm, côn, thương, roi và dây xích. Cùng một mẫu hình ấy đã xảy ra ở thế giới phương Tây, nơi những kỹ thuật chiến đấu thực dụng, chẳng hạn như quyền Anh, đô vật và đấu kiếm, đã phát triển thành những hình thức nghệ thuật.
Chữ martial (võ) xuất phát từ Mars, vị thần chiến tranh và cạnh tranh thể chất của La Mã cổ đại. Do đó, điều đương nhiên là phần lớn sự huấn luyện có liên quan trong võ thuật cũng có thể nâng cao cả những môn thể thao cạnh tranh hiệu suất cao lẫn việc tập luyện giải trí thông thường. Trong võ thuật, cũng như trong mọi môn thể thao nghiệp dư và chuyên nghiệp ở tuyến đầu, những giới hạn của năng lực tâm/thân con người liên tục được thử thách, phân tích và vượt qua. Võ thuật của Trung Hoa nằm trong số những môn tinh vi nhất trên thế giới. Tuy nhiên, độ khó của ngôn ngữ Trung Hoa và khuynh hướng của Trung Hoa (cho đến gần đây) là hạn chế hay tránh né sự giao tiếp với các nước ngoài, đã giữ cho phương Tây về cơ bản không được thông tin về nhiều khía cạnh của nền văn hóa tâm/thân cổ xưa của Trung Hoa, kể cả võ thuật.
Có rất nhiều và đủ loại huyền thoại đầy màu sắc tại Trung Hoa liên quan đến nguồn gốc của võ thuật của họ. Điều duy nhất có thể nói một cách đáng tin cậy là võ thuật dưới nhiều hình thức khác nhau đã tồn tại ở Trung Hoa trong ba nghìn năm.
CHƯƠNG 2: MỘT SỰ LIÊN TỤC — VÕ THUẬT NGOẠI GIA VÀ NỘI GIA CỦA TRUNG HOA
Có khoảng năm mươi đến sáu mươi phân nhánh lớn của võ thuật tại Trung Hoa, bao gồm hơn bốn trăm môn phái riêng biệt với những tên gọi cụ thể và những triết lý mạch lạc. Đa số các kỹ thuật thân pháp mà các môn phái truyền dạy đều na ná nhau ở bề mặt. Tuy nhiên, mỗi môn phái lại có cách riêng của mình để thực thi cùng một kỹ thuật, cũng như vô số biến thể về chuyển động thân thể và về loại lực được sử dụng. Mỗi môn phái cũng có những kỹ thuật riêng mà mình chuyên sâu. Hơn nữa, mỗi môn phái đều có triết lý hay lý thuyết riêng của mình, và những điều đó sau đó được áp dụng một cách thực tế trong chiến đấu. Một số môn phái mang âm hưởng rõ rệt của quân sự, tôn giáo, bang hội bí mật, giang hồ, hay gia đình.
Tên của nhiều môn phái được bắt nguồn từ các loài thú (gấu, ngựa, hổ, khỉ, báo), chim (bạch hạc, én, chim ưng), côn trùng và loài nhện (bọ ngựa, bọ cạp), cùng những linh thú trong thần thoại (rồng, phượng hoàng, kỳ lân). Một số lấy tên từ những nam nữ võ sư lừng danh (Vĩnh Xuân và Ngũ Mai) hay từ những gia tộc võ thuật (thái cực quyền Trần gia, Dương gia hay Ngô gia, hoặc Nam Thiếu Lâm Hồng gia, Thái gia hay Lý gia) — những người ban đầu đã sáng tạo ra các bài quyền hoặc đem chúng công khai cho đời. Một số môn phái có những tên gọi đầy thi vị, số khác được đặt theo những ý tưởng triết học cao xa của Trung Hoa (hình ý quyền, hay “quyền Ý/Hình”) hoặc theo những nguyên lý và hình tượng tôn giáo bắt nguồn từ Nho gia (quyền Ngay Thẳng), Phật gia (quyền La Hán hay Kim Cang Hộ Pháp) hay Đạo gia (thái cực quyền, bát quái chưởng, âm dương, và quyền Bát Tiên Say).
Đối với người chưa nhập môn, tất cả những tên gọi ấy có thể gây rối rắm. Tuy nhiên cần phải ghi nhớ rằng dân số Trung Hoa đã vượt qua dân số châu Âu trong phần lớn lịch sử của mình. Ba nghìn năm truyền thống liên tục của Trung Hoa đã sản sinh ra vô số thiên tài sáng tạo. Nhiều người trong số họ đã chuyên tâm dùng võ thuật để giải phóng những năng lực tiềm ẩn của thân/tâm.
*Truyền thuyết phổ biến nhất, dù không chính xác về mặt lịch sử, là việc vị đại sư thiền định Phật giáo từ Ấn Độ, Bồ-đề-đạt-ma hay Đạt Ma, đã khởi xướng võ thuật tại tu viện Thiếu Lâm vào năm 526 sau Công nguyên. Người ta cho rằng ngài đảm nhận công việc này nhằm tăng cường thân thể của các tăng sĩ để họ có thể chịu đựng được những buổi thiền định kéo dài hằng ngày mà không bị suy nhược về mặt thể chất. Điều này thường được trích dẫn như là nguồn gốc của môn phái võ thuật Thiếu Lâm. Việc Bồ-đề-đạt-ma mang đến Trung Hoa thứ mà sau này trở thành Thiền (Zen/Chan) thì là một điều chắc chắn. Tuy nhiên, võ thuật đã tồn tại ở Trung Hoa từ rất lâu trước khi ngài đến. Ngài có thể đã mang theo một số môn võ thuật, nhưng chúng ta không có cách nào để kiểm chứng điều này.
**Trong tất cả các môn võ thuật của Trung Hoa, không có cách nào tính toán được số lượng chính xác của những kỹ thuật tay, chân, quăng té và khóa. Làm sao mà tính toán được như vậy? Cùng một đòn đánh được thực hiện ở cự ly gần, trung bình hay xa, hoặc ở độ cao cao, trung bình hay thấp — là sáu đòn đánh khác nhau, hay chỉ đơn giản là những biến thể của một kỹ thuật duy nhất? Cùng một kỹ thuật được thực hiện bằng bên trái hay bên phải của thân thể nên được tính là một hay hai? Cùng một chuyển động được làm khi đứng thẳng, khom xuống trong một thế đứng thấp, nằm trên sàn, nhảy lên trong không trung, hay lăn trên mặt đất — là một kỹ thuật hay năm kỹ thuật? Có cân nhắc tất cả những điều này, thì có thể nói võ thuật Trung Hoa có một kho vũ khí căn bản gồm 300 đến 500 kỹ thuật đánh bằng ngón tay, khớp ngón tay, lòng bàn tay, cạnh bàn tay, mu bàn tay, cổ tay, cẳng tay, khuỷu tay, vai và đầu. Ngoài ra còn có khoảng 50 đến 100 cú đá và những cú húc bằng đầu gối, 100 đòn quăng té, và 100 kỹ thuật khóa khớp.
Cúi chào, đai lưng và đồng phục
Đối với công chúng thế giới phương Tây, cụm từ võ thuật gợi lên những hình ảnh về kỷ luật nghiêm ngặt. Những hình ảnh ấy có thể bao gồm những người đi chân trần mặc bộ đồ trắng như pyjama với đủ loại đai lưng đủ màu quanh eo (đai đen biểu thị rằng một người là “chuyên gia”) và sự cúi chào được nghi thức hóa liên tục. Mặc dù những yếu tố như vậy có thể là đặc trưng của đa số võ thuật Nhật Bản và Triều Tiên (karate, taekwondo, judo, v.v.), chúng đơn giản là không đại diện cho phần lớn các môn võ thuật khác trên thế giới.
TAEKWONDO — Karate Triều Tiên, một môn võ thuật ngoại gia.
Trang phục võ thuật thường mang tính biểu tượng văn hóa nhiều hơn là điều cốt lõi của bản thân môn võ. Áo thun hiệu có in tên của những môn phái võ thuật cụ thể hay những biểu tượng được cách điệu cao độ, cùng với những bộ đồng phục cầu kỳ mà áo và quần khác màu hay khác kiểu, tất cả đều rơi vào loại tuyên ngôn thời trang. Yêu cầu thực sự duy nhất đối với quần áo và giày dép trong võ thuật là chúng phải cho phép bạn di chuyển thoải mái và tốt trong những môi trường khác nhau. Các võ sĩ quyền Anh (Thái và phương Tây) cũng như những người tập võ thuật Indonesia, Ấn Độ và Trung Hoa đều có thể đánh giỏi, thế nhưng họ có thể tập luyện ở trần hay mặc áo thun hoặc áo nỉ đơn giản, và đi bất cứ loại giày nào.
Những người tập võ nội gia nói chung có xu hướng tập trong trang phục thường ngày hoặc đồ thể thao thông dụng. Tuy nhiên trong các buổi biểu diễn hay thi đấu, thành viên của những môn phái không phải Nhật Bản hay Triều Tiên có thể mặc trang phục dân tộc trang trọng (các võ sĩ Trung Hoa chẳng hạn có thể mặc đồng phục lụa), hoặc họ có thể chỉ mặc bộ đồ tập tầm thường thường ngày của mình. Tình huống này phần nào tương tự với sự khác biệt trong quy định ăn mặc giữa thế giới doanh nghiệp trang trọng và các công ty của những nền văn hóa công nghệ cao đang trỗi dậy. Ở bên kia, chất lượng và đường cắt của y phục một người truyền đạt địa vị và vị trí trong tổ chức; ở bên này, trang phục không trang trọng là một thứ cân bằng vĩ đại, khi những người đồng cấp trong doanh nghiệp ở đây có thể mặc áo sơ mi hở cổ, tay ngắn, giày chạy bộ, thậm chí quần cộc đến làm việc.
Những biểu tượng hữu hình của cấp bậc tồn tại trong mọi nền văn hóa để xác định ai là ai trong hệ thống thứ bậc. Trong võ thuật, vấn đề này được phản chiếu qua ba cách suy nghĩ: (1) hệ thống thứ bậc nên hiển nhiên đối với chính thành viên của nó và với người bên ngoài; (2) chất lượng của kỹ năng võ thuật phải tự nói lên chính nó mà không cần sự quảng cáo của y phục; (3) những kỹ năng võ thuật tuyệt đỉnh nên được giữ kín. Trong nhiều môn phái võ thuật, việc xác định ai là người cấp trên và ai là cấp dưới khá dễ dàng bằng cách quan sát xem ai cúi chào lâu hơn hay mạnh hơn, hoặc ai đang quát tháo ra lệnh. Ở những môn phái khác, không hề có dấu hiệu nào quan sát được về cấp bậc được phô bày. Tình huống này đặc biệt đúng với các môn phái võ nội gia. Ở đây, việc xác định ai ở cấp bậc nào thường không thể thực hiện được, trừ khi người quan sát có một con mắt cực kỳ tinh tường hoặc chỉ tình cờ bắt gặp ai đó đang hành động toàn lực.
Việc đeo đai bắt nguồn từ truyền thống samurai cổ xưa. Chẳng hạn, trong các hệ thống Nhật Bản, đai trắng biểu thị người mới nhập môn và đai nâu biểu thị rằng người đeo đang bắt đầu học các ngón nghề. Một đai đen nhất đẳng, trong tiếng Nhật gọi là shodan (sơ đoạn), thường mang cái danh xưng không chính xác là “chuyên gia võ thuật” — đối với truyền thông và công chúng nói chung. Tuy nhiên trong tiếng Nhật, shodan chỉ có nghĩa là “cấp độ bắt đầu”, giai đoạn mà ở đó các cá nhân giờ đây đã sẵn sàng để học một môn võ thuật, chứ không phải là họ đã biết nó rồi. Trong văn hóa võ thuật Nhật Bản, một người phải sở hữu đai đen tứ đẳng hay ngũ đẳng mới thật sự xứng đáng với danh xưng “chuyên gia”. Một số môn phái ở Trung Hoa và Indonesia cũng cấp những dải lụa màu hay những loại vải được quy định cho cấp bậc, nhưng các chuyên gia có thể không hề phô bày dấu hiệu cấp bậc nào cả.
Như một quy tắc ngón tay cái, các môn phái ngoại gia thường có những biểu tượng rõ ràng biểu thị một hệ thống xếp hạng, cũng như kỷ luật kiểu quân đội. Các môn phái nội gia, trái lại, thường có vẻ cực kỳ không trang trọng, thong dong, và đôi khi thậm chí lộn xộn, tất cả những điều đó có thể tạo ra một ấn tượng sai lệch. Trong thực tế, các môn phái nội gia hết sức nhấn mạnh vào việc hoàn thành công việc mà không cần rùm beng hay nghi lễ, và họ tập trung vào việc tu dưỡng một thứ kỷ luật hướng nội hơn là hướng ngoại.
Có môn võ nào “tốt hơn” môn võ khác không?
Câu hỏi thường được truyền thông võ thuật nêu ra (thường với giọng khiêu khích) là: “Môn võ này có thể đánh bại môn võ kia không?” Câu trả lời là không có một hệ thống võ thuật cụ thể nào tốt hơn hệ thống nào khác; chúng chỉ đơn giản là khác nhau theo vô số cách. Liu Hung Chieh (xem tr. 241) sẽ nói: “Ai thắng hay thua trong một cuộc giao đấu không phải là vấn đề của việc họ tập môn võ nào, mà là họ sở hữu bao nhiêu ‘công phu’ (kỹ năng chiến đấu cá nhân).” Nếu chúng ta coi tổng thể những gì cần thiết để một cá nhân chiến thắng trong một cuộc giao tranh bạo lực là công phu, hay tri thức, thì chúng ta nên suy ngẫm về câu ngạn ngữ cũ của Trung Hoa: “Có người sinh ra đã có tri thức, có người được trời phú cho tri thức, có người đạt được tri thức qua sự cần cù bền bỉ và học tập nghiêm túc. Tuy nhiên tri thức một khi đã đạt được thì đều như nhau cả.”
Trong cõi võ thuật, những kẻ “sinh ra đã có tri thức” là những thiên tài bẩm sinh. Những cá nhân này có một bản năng chiến đấu đáng kinh ngạc. Họ có xu hướng học kỹ thuật tốt với chỉ một lượng tối thiểu kinh nghiệm, và thường đánh bại những đối thủ đang làm mọi thứ đều đúng, trong khi bản thân họ đang làm mọi thứ “sai”. Những người đã nhận được “món quà tri thức” có thể tìm thấy trong gói gen của mình tốc độ, sức mạnh, phản xạ, sức bền phi thường, hoặc khả năng chịu đòn. Những người “đạt tri thức qua lao động cần cù” là đa số chúng ta. Việc tự áp mình lên đá mài để học các kỹ thuật chiến đấu và tích lũy kinh nghiệm thực chiến theo truyền thống được coi là con đường bình thường để đạt được những năng lực chiến đấu siêu phàm. Một khi một người đã đạt được công phu chiến đấu và có thể chiến đấu và thắng một cách nhất quán, thì việc công phu ấy được đạt bằng cách nào không còn quan trọng nữa. Một khi bạn đã có nó, bạn đã có nó — “Tri thức một khi đã đạt được thì đều như nhau cả.”
Đã nói như vậy, võ thuật dĩ nhiên có rất nhiều kỹ thuật, có kỹ thuật hiệu quả hơn kỹ thuật khác. Tình huống này có thể được xem xét qua phép so sánh với xe hơi. Mọi chiếc xe đều đưa bạn từ điểm A đến điểm B. Mỗi chiếc có những điểm mạnh và điểm yếu của nó dọc theo trục liên tục của tính năng cao. Tốc độ trên những địa hình khác nhau, bán kính quay vòng, hệ thống treo, sự dễ dàng điều khiển, phanh và tăng tốc, khả năng hoạt động trong những điều kiện thời tiết khác nhau, mức tiêu hao nhiên liệu, chi phí sửa chữa — tất cả đều là một phần của mớ hỗn hợp ấy. Tương tự như vậy, với mọi môn võ thuật, bạn đều có thể chiến đấu (nghĩa là đi từ điểm A đến điểm B trong chiến đấu). Câu hỏi là, cũng như với các mẫu xe, cái nào hoạt động tốt nhất trong những điều kiện nào? Bạn phải lái thử để tìm ra. Những phẩm chất tính năng cao của một môn võ thuật có thể nằm ở các kỹ năng liên quan đến đá, đấm, những đòn đánh bằng tay, khóa tay hay khóa chân, những thế ghì giữ, siết cổ, đánh thần kinh, quăng té, hoặc kỹ thuật nhu hay cương — tất cả đều là một phần của mớ hỗn hợp. Như xe hơi, mỗi thứ đều có ưu điểm. Một số tốt nhất khi bạn đang đánh trong tư thế đứng thẳng, số khác khi bạn đang vật nhau nằm ngửa, đang khom người, đang nhảy lên trong không trung, đang đánh trên mặt đất rắn hay trơn trượt, có hoặc không có vũ khí, chống lại những đối thủ lớn hơn hay nhỏ hơn, chống lại một hay nhiều đối thủ.
KATA HAY HYUNG — Một bài quyền. Một tập hợp những chuyển động võ thuật được biên đạo, thực hiện hoặc một mình hoặc với một bạn tập hay nhiều bạn tập.
ỨNG DỤNG CHIẾN ĐẤU — Cách sử dụng thực tế hay dải những cách sử dụng cho chiến đấu của một kỹ thuật cụ thể thuộc một môn võ thuật.
BUNKAI — Những ứng dụng chiến đấu của một động tác trong võ thuật Nhật Bản.
Do đó, việc môn võ này ưu việt hay thua kém bất kỳ môn võ nào khác là một câu hỏi đầy những cân nhắc — đen, trắng và xám. Nếu một câu trả lời cân bằng được đưa ra cho câu hỏi “Cái nào tốt hơn?”, thì nó nên trực tiếp giải quyết mối bận tâm này: Tốt hơn theo cách nào — ở đâu, như thế nào, và trong những điều kiện chính xác nào? Việc những người tập lâu năm của một môn võ nhất định cảm thấy phong cách của mình là hay nhất là điều tự nhiên. (Nếu không phải thế, tại sao họ lại bỏ ra hàng giờ vô tận lao động khó nhọc và nỗ lực để tập nó?) Rốt cuộc, mọi người tập lâu năm đều phân tích võ thuật của các phong cách khác theo những kinh nghiệm sống tích lũy và nhận thức của riêng họ trong cuộc chơi võ thuật. Tuy nhiên, cuối ngày, nên luôn ghi nhớ rằng một tay lái giỏi trong một chiếc xe trung bình có khả năng thắng cao hơn một tay lái dở trong một chiếc xe tốt. Chính là, như Liu Hung Chieh đã nhấn mạnh, cá nhân mới là điều quan trọng.
Ứng dụng chiến đấu là gì?
Các võ sĩ Nhật Bản và Triều Tiên tập những chuyển động cách điệu gọi là kata và hyung; các võ sĩ Trung Hoa tập những “bài quyền” hay “bài tổ hợp”. Tại sao các võ sĩ phương Đông lại bận tâm đưa tay và chân của mình lên không trung trong những chuyển động cố định, cách điệu? Bạn làm những động tác cố định ấy để đặt tâm trí của mình vào thân thể và vào không gian quanh thân thể (nơi một đối thủ giả định và/hoặc một vật thể vật lý có thể hiện diện). Khi bạn di chuyển thân thể mình (sử dụng tri thức chiến đấu tích lũy của một hệ thống võ thuật cụ thể) chống lại những đối thủ tưởng tượng, bạn đồng thời khơi gợi những trạng thái tâm lý cụ thể, khi bạn hình dung rõ ràng cái cảm giác ruột gan của một cuộc giao tranh chiến đấu. Mục đích của việc làm hoạt động này là để đóng cứng vào thân thể và tâm trí của bạn cái mà trong tiếng Anh gọi là ứng dụng chiến đấu, (trong karate là bunkai, và trong võ thuật Trung Hoa là dụng pháp (yung fa), hay những phương pháp “cách dùng”). Những ứng dụng chiến đấu này bao hàm trong chúng những ý tưởng tích lũy của kỹ thuật võ học của một hệ thống, đã được thử nghiệm thực địa bằng kinh nghiệm chiến đấu thực tế, chứ không chỉ được thu nhận qua lý thuyết hay phỏng đoán. Nếu không có những ứng dụng chiến đấu này hiện diện rõ ràng trong các động tác kata hay bài quyền của võ thuật, các bài quyền dễ dàng trở nên giống những màn trình diễn vũ đạo hơn là võ thuật. Đối với những người tập võ hiện đại, việc học toàn bộ dải những ứng dụng tinh tế cho mỗi kỹ thuật cụ thể làm cho các bài quyền sống dậy, và đền đáp cho những giờ dài khổ luyện.
Trong cổ điển, việc huấn luyện sức mạnh và tốc độ luôn gắn kết cộng sinh với sự thấu hiểu các ứng dụng chiến đấu. Trong mọi loại võ thuật, đôi khi lời hứa sẽ dạy chính những ứng dụng ấy là một lời hứa xa xôi, chỉ dành riêng cho những học trò cao niên hay có cấp bậc cao hơn. Lời hứa ấy đôi khi được giữ, đôi khi không. Những cá nhân có cấp bậc cao trong cả võ thuật ngoại gia lẫn nội gia thường không có một sự thấu hiểu sâu sắc về những ứng dụng chiến đấu được cấy vào các bài quyền mà họ sử dụng. Điều đáng buồn là thường thì ngay cả những người tập cao cấp cũng không thực sự nhìn thấy hay học được các ứng dụng ấy chút nào.
Trong nhiều môn phái võ, những yếu tố về lực và tốc độ của môn võ thường được giữ cho sống động, nhưng tri thức về những ứng dụng chiến đấu tinh vi hơn lại bị hạ thấp. Khi hỏi về ý nghĩa của một động tác trong bài quyền, học trò nên cảnh giác với những người hướng dẫn cứ nói nước đôi thay vì đưa ra một câu trả lời rõ ràng. Sự thật của vấn đề là, nếu một đối thủ ưu việt hơn bạn về tầm vóc, tốc độ và/hoặc sức mạnh, thì chỉ có kỹ năng trong các ứng dụng chiến đấu mới làm nghiêng cán cân. Để bất kỳ chuyển động võ thuật nào đạt được tiềm năng của nó, nó phải có tốc độ, sức mạnh và ứng dụng chiến đấu khả dụng. Trong các bài tập hai người, người ta nên luyện các ứng dụng chiến đấu không ngừng nghỉ cho đến khi chúng có thể được áp dụng một cách trơn tru và có uy lực trong bất kỳ và mọi điều kiện. Các bài quyền có thể được so sánh với phần cứng máy tính (hệ thống võ thuật) mà phần mềm (các ứng dụng chiến đấu) mới là thứ cuối cùng quyết định tính ưu việt.
Mỗi động tác trong bài quyền nên mang trong nó một ý hướng, sự hình dung và cảm giác rõ ràng về cách bạn chiến đấu trong một tình huống cụ thể hay một dải điều kiện tổng quát. Chẳng hạn, nếu trên một loại địa hình nhất định, thân mình, tay và chân của bạn đang ở một vị trí đặc thù, và đối thủ của bạn đang làm hoặc định làm A chống lại bạn, thì bạn tập một trong nhiều đáp ứng B cụ thể và hiệu quả, tùy thuộc vào các điều kiện của tình huống. Những điều kiện ấy có thể đơn giản hay phức tạp, và có thể bao gồm vô số biến số, tất cả đều dựa trên những gì mà bất kỳ hệ thống võ thuật cụ thể nào tin là sẽ hoạt động được dưới áp lực. Các ứng dụng chiến đấu nên cân nhắc đến:
1. Cách chiến đấu với một hay nhiều đối thủ thuộc đủ mọi tầm vóc và thể hình.
2. Những loại tốc độ và sức mạnh cụ thể mà bạn muốn hiện thực hóa.
3. Những góc độ tối ưu mà tay, chân và eo của bạn nên ở vào khi đỡ một đòn tấn công, khi chờ đợi và đánh giá tình hình, hay khi tấn công.
4. Bộ pháp cần thiết để thực thi những loại kỹ thuật chiến đấu mà phương pháp của bạn chủ trương nhằm đạt hiệu quả trong những cuộc đối luyện không được dàn dựng trước và không thể đoán trước.
5. Cách đặt tay lên tay chân của ai đó để ghì giữ hay quăng té người đó, hoặc vặn hay bẻ gãy tay chân.
6. Cách đá, đấm hay đánh một đối thủ, để dùng tay và chân của bạn nhắm vào những phần dễ tổn thương về mặt chiến lược trên thân thể của đối phương.
7. Phải làm gì khi đối thủ của bạn ở khoảng cách gần, trung bình hay xa với bạn, có và không có vũ khí.
8. Phải làm gì nếu bạn đang ở trên không, đang ôm sát mặt đất, đang đứng thẳng, đang khom, trên mặt đất rắn, trên những bề mặt trơn trượt hay di động, hoặc trong gió mù mịt hay những điều kiện thời tiết bất lợi khác.
9. Cách tự vệ trong một khu vực tối tăm, trong một không gian nhỏ hẹp, hoặc khi lưng bạn áp vào tường hay đang ở trên bờ một vách đá, v.v.
Sự khéo léo của các động tác bài quyền chứa đựng ứng dụng chiến đấu
Trong mọi môn võ thuật, kể cả thái cực quyền, các động tác được tập đơn lẻ và trong những bài quyền kết hợp. Trong tập đơn, những kỹ thuật đơn thường được thực hiện lặp đi lặp lại trong khi đứng tại một chỗ hoặc di chuyển về phía trước, theo những đường thẳng hoặc ở nhiều góc độ khác nhau. Các bài quyền, trái lại, bao gồm việc kết hợp những động tác đơn khác nhau lại với nhau, những kỹ thuật chuyển tiếp giữa các động tác, và việc mô phỏng di chuyển từ tình huống này sang tình huống khác. Các bài quyền cung cấp sự thực hành để phát triển sự linh hoạt tinh thần, cho phép bạn có thể chuyển đổi trơn tru từ một tình huống chiến thuật này sang một tình huống chiến thuật khác, mà không để tâm trí của mình bị đông cứng lại hay bị kẹt bởi quán tính. Công việc bài quyền được thấm đẫm các ứng dụng chiến đấu là một công cụ nền tảng và tiết kiệm thời gian để học đủ các lựa chọn nhằm đối phó với nhiều kẻ tấn công.
Thường thì, ngay cả những cá nhân đã được huấn luyện, khi được đưa vào những tình huống chiến đấu mới, cũng sẽ đông cứng lại bất chấp tri thức võ thuật của họ, bởi vì họ không có sự linh hoạt tinh thần để bắc cầu qua khoảng trống tới những điều kiện mới lạ. Các bài quyền buộc bạn phải suy nghĩ về và phát triển những đáp ứng đã được huấn luyện cho những tình huống mà bình thường bạn sẽ không cân nhắc tới, nếu chỉ thực hiện những bài tập kỹ thuật đơn theo đường thẳng hay lặp đi lặp lại. Các bài quyền cho thân/tâm một cách để thấy làm thế nào thích ứng những kỹ thuật ưa thích và đã được tập nhuần nhuyễn vào những hoàn cảnh khác nhau. Bạn có thể không sử dụng chính xác cùng một kỹ thuật tay và chân của một bài quyền trong một cuộc đối đầu thực sự, nhưng bạn rất có thể áp dụng một hay nhiều biến thể của những nguyên lý mà chúng đã truyền dạy, và tự điều đó làm tăng cơ may sống sót qua một cuộc giao đấu của bạn.
Như vậy, các bài quyền mở rộng rất nhiều vốn liếng kỹ thuật của bất kỳ môn võ thuật nào. Chẳng hạn, trong hình ý quyền, bạn tập những đường đấm nhiều chừng nào bạn tập trong karate hay Thiếu Lâm. Theo định nghĩa, những đường thẳng tập trung vào việc đánh trúng cái gì đó ở phía trước bạn. Thật khó để có được sức mạnh chết người trong một cú đấm trong khi đang bước lùi. Tuy nhiên, hình ý quyền đã tìm ra cách làm điều đó, nhưng là thông qua các bài quyền của nó, chứ không phải qua những đường tập tiến về phía trước.
Nhiều thế võ hiện hữu, bao gồm những kỹ thuật chiến đấu được cấy vào các bài quyền, đã được tạo ra để đáp lại một kích thích từ môi trường. Một kỹ thuật trong bài quyền có thể đã được phát minh để đối phó với những phương pháp hiểm ác nhất của các phong cách khác, chẳng hạn như những đòn quăng té hay siết cổ trong judo. Nếu kỹ thuật ấy được chuyển sang một môi trường địa lý khác, nơi judo chưa từng tồn tại, thì cách dùng có thể bị mất đi vì bị bỏ bê. Hoặc, nếu chẳng hạn không có ai hay đá cao, thì một kỹ thuật trong bài quyền mà vào một thời điểm đã được thiết kế để đối phó với những cú đá cao có thể được giữ lại do truyền thống. Thế nhưng không ai biết tại sao nó lại ở đó, và những câu chuyện không thể tin được về các ý nghĩa võ học của nó rất có thể sẽ được bịa ra.
Theo truyền thống, các phong cách võ thuật bị giới hạn trong những vùng địa lý nhỏ bé. Trong thời đại ngày nay, sự di chuyển quốc tế không ngừng của con người và sự bùng nổ khổng lồ của công nghệ truyền thông đã gửi mọi kỹ thuật võ thuật đã biết đi khắp thế giới. Hệ quả là, nếu bạn là một võ sĩ tận tụy, có lẽ bạn nên học xem những gì được làm trong các phong cách khác, vì bạn rất có thể sẽ phải đối phó với những kỹ thuật của họ sớm hay muộn. Sự tiếp xúc như vậy đã không thể có được trong lịch sử, vì những kỹ thuật và chiến lược của đa số các phong cách võ thuật là những bí mật được canh giữ cẩn mật, và khốn cho kẻ xa lạ nào cố moi chúng ra. Nếu bạn ghé thăm một môn phái võ thuật đối thủ và không được giới thiệu và chấp nhận như một người bạn, bạn có thể đối mặt với những thách thức công khai mà có lẽ sẽ đòi hỏi một đáp ứng bằng máu.
Với sự cởi mở hơn của những người hướng dẫn võ thuật đương đại, giờ đây có thể thực hiện nghiên cứu chéo trong nhiều lãnh địa khác nhau của võ thuật mà không bị đối xử như thể bạn là một điệp viên của kẻ thù. Bầu không khí tự do hơn này giúp nhiều học trò tài năng vượt qua những nỗi bực dọc của mình và thấy được những khía cạnh tích cực trong những gì mà chính thầy của họ thực sự có để trao.
Học trò giờ đây có thể có phương tiện để đánh giá những chỗ thiếu hụt và điểm mạnh của mình thông qua sự tiếp xúc so sánh, điều có thể giúp họ đạt tới tiềm năng đầy đủ của mình. Tất cả những gì bạn phải làm là gạt bỏ tâm thức “chúng ta đối đầu với bọn họ”, và vượt qua những ý niệm giới hạn về “địa vị” bên trong chính tổ chức của mình. Thay vào đó, hãy tập trung vào đam mê và niềm vui của việc học hỏi.
Những bài quyền võ thuật hay được tạo ra bởi những người chuyên nghiệp
Những người sáng lập ra các môn võ trở nên nổi tiếng như những bậc thạo nghề chiến đấu không phải vì họ mặc những bộ đồng phục ấn tượng, có quan hệ công chúng tuyệt vời, la hét to, có những phòng tập lộng lẫy, hay có thể kể những câu chuyện về sự uy dũng chiến đấu của các bậc tiền bối trong môn võ của họ. Họ đạt được danh tiếng nhờ chiến đấu và chiến thắng trước những người giỏi nhất trong số những tay chuyên nghiệp được huấn luyện bài bản nhất của thế hệ họ, chứ không phải nhờ đánh bại những kẻ nghiệp dư nhiệt tình nhưng kém kỹ năng, hay chính học trò của mình. Những người này sẽ chỉ tập những gì họ nghĩ là thực sự có tác dụng. Trong những thời đại đã qua, người ta coi võ thuật rất nghiêm túc. Những người tập dở có thể chết trẻ. Ở một thời điểm trong lịch sử Trung Hoa, nếu bạn có một môn phái, hay một dịch vụ vệ sĩ hay bảo vệ, và có ai đó xuất hiện và đánh bại bạn trong một cuộc giao đấu, thì người đó có quyền tuyệt đối và được văn hóa chấp thuận để chiếm lấy toàn bộ công việc kinh doanh của bạn. Cũng như trong quyền Anh chuyên nghiệp, danh tiếng và tài sản được giành lấy bởi những thắng lợi đạt được qua kỹ năng võ thuật xác thực, chứ không chỉ bằng lời nói.
Tuy nhiên, việc là một tay đánh cực kỳ tài năng không nhất thiết có nghĩa là người đó có thể huấn luyện người khác đạt tới cùng tiêu chuẩn ấy. Để làm được điều đó, phải có một phương pháp luận huấn luyện được định nghĩa rõ ràng ở đúng chỗ. Yêu cầu này bảo đảm rằng bất kỳ người tập trẻ nào có động lực ngang bằng và sẵn sàng khổ luyện đều có thể hiểu một cách không mơ hồ làm thế nào để đi qua cùng một quá trình, và tái tạo lại những năng lực giống như người hướng dẫn, ít nhiều. Làm thế nào để kỹ thuật của tri thức võ học được chuyển giao? Làm thế nào để truyền lại những bí mật nghề nghiệp liên quan đến điều quan trọng nhất khi bạn lao vào đánh, đá, quăng té, khóa khớp, xé rách, siết cổ, té ngã, v.v.? Làm thế nào để truyền lại những chiến thuật nên dùng, những chiến lược nên cân nhắc, làm thế nào chuyển từ chiến thuật hay kỹ thuật này sang chiến thuật hay kỹ thuật khác, và nên áp dụng những thái độ võ học nào cho thích hợp trong những tình huống khác nhau? Những bí mật nghề nghiệp này được truyền đạt thông qua các bài quyền, vốn hoàn toàn liên kết và tích hợp với đủ loại bài tập hai người.
Bài quyền sống và bài quyền chết
Mục đích của các bài quyền là để tập hợp các ứng dụng võ học vào một chỗ. Các bài quyền càng thực và càng sống động bao nhiêu, thì những ứng dụng chiến đấu mà chúng chứa đựng càng hiện thực bấy nhiêu, và càng có nhiều kỹ thuật được sử dụng trong các bài tập hai người và trong những cuộc đối luyện không dàn dựng bấy nhiêu. Những bậc thầy của các hệ thống võ thuật sống động và có chức năng đã nhiều lần duy trì và chứng minh sức sống chức năng cao của những hệ thống này qua nhiều thế hệ. Các bậc thầy coi những bài quyền chuyển động với các ứng dụng chiến đấu còn nguyên vẹn là thiết yếu để gìn giữ những di sản võ học. Nếu không có những bài quyền như thế, họ tin rằng các hệ thống võ học có thể dễ dàng thoái hóa thành những truyền thống chỉ có chức năng ở mức tối thiểu, hoặc đã chết.
Trong những bài quyền thực sự sống động, một động tác đơn, dọc theo chiều kích cung cấp thông tin, có thể được ví như một chương trong một cuốn sách (chẳng hạn một kỹ thuật nhỏ chứa đựng vô số nguyên lý võ học, mỗi nguyên lý lại có những biến thể trên cùng một chủ đề); trong những bài quyền nửa sống, ví như những đoạn văn hay câu văn; và trong những bài quyền chết, chỉ ví như những cụm từ đơn giản hay những chữ đơn lẻ. Những bài quyền võ thuật cao cấp với những truyền thống sống động giống như cả những thư viện đầy những thông tin cực kỳ hữu dụng. Sử dụng chính xác cùng những chuyển động bài quyền thân thể, những bậc thầy võ thuật cao cấp có thể, nếu họ sẵn lòng, dạy bạn cách đọc, từng chương một, từng cuốn một, những thông tin ứng dụng chiến đấu thô và tinh được mã hóa bên trong mỗi mảnh vụn nhỏ xíu của mỗi động tác. Nếu tất cả thông tin được trao ra hoàn toàn, thì nghĩa vụ của học trò là phải hành động theo nó. Trong những truyền thống chết của mọi phong cách võ, những chuyển động thân thể thì có mặt, nhưng thiếu hầu hết các ứng dụng chiến đấu. Những bài quyền chết đã pha loãng những ứng dụng chiến đấu vốn có của chúng thành những mệnh lệnh thỏa mãn, chẳng hạn như những mệnh lệnh được đưa ra trong karate là phải nhanh hơn, mạnh hơn, dữ dội hơn, hay trong thái cực quyền là phải mềm hơn, thư giãn hơn, thấp hơn, tĩnh hơn, v.v. Mặc dù những mệnh lệnh này tự chúng có thể là tốt, nhưng nếu chúng chỉ được dùng một mình, thiếu đi tri thức về kỹ thuật chiến đấu ứng dụng hoàn chỉnh được cấy vào trong chuyển động đang được truyền dạy, thì học trò chắc chắn sẽ bỏ lỡ hầu hết ý nghĩa của động tác đó.
Nếu một người hướng dẫn không chia sẻ nhiều “cuốn sách” với một học trò, thì rất có khả năng học trò đó đang tập một bài quyền chết. Nếu người đó sau này đi dạy, một truyền thống chết sẽ được duy trì tiếp. Thật không may, tình huống đáng buồn này quá phổ biến. Đó là tai họa của cộng đồng võ thuật cổ điển, khi mà nhiều bài quyền võ thuật từng cao quý và cực kỳ hiệu quả đã bị hạ cấp xuống thành những thế đứng và dáng điệu với “những âm thanh cuồng nộ, chẳng biểu thị gì cả.”
Bất kỳ ai muốn học võ thuật mà “có tác dụng” đều phải hoặc tìm một truyền thống sống động để dấn thân vào, hoặc trộn và ghép bất cứ tri thức nào có sẵn và tự tạo ra một truyền thống của riêng mình,* điều có thể tạo ra những kết quả khác nhau, từ xuất sắc đến cực kỳ tồi tệ. Tuy nhiên, bất kỳ truyền thống sống động nào cũng có thể ít nhiều hoàn chỉnh, tùy thuộc vào việc bao nhiêu tập ứng dụng chiến đấu đã bị mất đi, hoặc có được bao nhiêu sự tiếp cận với những tập còn lại. Điệp khúc thường được nghe thấy từ những người học từ các truyền thống chết, khi họ bắt gặp một truyền thống sống, là: “Tại sao tôi đã không học được điều đó từ thầy của mình?”
Những người tập các truyền thống chết thường không biết cách sử dụng hiệu quả những kỹ thuật trong các bài quyền hay kata của hệ thống họ trong chiến đấu thực sự. Những môn võ này có hàng trăm động tác bài quyền, nhưng khi đi đến chỗ đánh nhau thật, những người tập thường chỉ dùng một vài động tác, với phần còn lại chỉ phục vụ để phát triển sự phối hợp thân thể. Nếu đó là trường hợp, điều đó chỉ ra rằng thông tin ứng dụng chiến đấu trong các bài quyền của họ đã bị mất. Loại tổn thất này có thể xảy ra trong toàn bộ một hệ thống võ thuật, hoặc trong bất kỳ chi nhánh được chỉ định nào của nó, hay thậm chí ngay trong một môn phái duy nhất.
Trong những truyền thống võ thuật nội gia sống động, mọi kỹ thuật bát quái chưởng Đi Vòng Tròn chân chính (cả tiền thiên lẫn hậu thiên — xem tr. 210 — được truyền lại từ Tung Hai Chuan, người sáng lập hiện đại của bát quái chưởng), mọi chuyển động thái cực quyền chậm rãi trông có vẻ vô hại, và mọi thế đứng hay động tác đấm đang di chuyển của hình ý quyền đều có những ứng dụng thực tế rõ ràng và đa dạng cho việc chiến đấu. Với những truyền thống võ thuật nội gia sống động, cách mà người tập di chuyển trong một bài quyền ít nhiều chính là cách các động tác được áp dụng trong chiến đấu. Nếu những động tác bài quyền của bạn thiếu đi tính hiện thực này, bạn đang không học một truyền thống hoàn toàn sống động. Trong các môn võ nội gia được tập ngày nay, những truyền thống võ học chết hay không hoàn chỉnh là phổ biến nhất trong thái cực quyền và ít phổ biến nhất trong hình ý quyền, với bát quái chưởng nằm đâu đó ở giữa.
ĐI VÒNG TRÒN — Phương pháp huấn luyện chính yếu của môn võ nội gia bát quái chưởng.
TIỀN THIÊN — Điều xảy ra với một con người giữa lúc thụ thai và thời điểm sinh ra.
HẬU THIÊN — Điều xảy ra với một người sau khi rời khỏi bào thai. Những tài năng, kỹ năng hay thành tựu không phải là bẩm sinh, mà được thu nhận sau khi sinh.
*Điều này xảy ra thường xuyên. Môn võ lai Triệt Quyền Đạo (Jeet Kune Do) do ngôi sao phim võ thuật lừng danh Bruce Lee tạo ra là một ví dụ nổi tiếng.
Trong các môn phái nội gia truyền thống, các ứng dụng chiến đấu bên trong các động tác bài quyền trước tiên được dạy để giúp các cá nhân thu nhận một kho các kỹ thuật cụ thể nhằm đáp ứng với những thế phòng thủ hay đòn tấn công cụ thể. Sau đó, huấn luyện sức mạnh cơ bản được dạy cả bên trong các bài quyền lẫn với những phương pháp khí công riêng biệt. Kế tiếp, các ứng dụng và sự huấn luyện sức mạnh được kết hợp lại với nhau bên trong các bài quyền. Cuối cùng, các bài quyền chủ yếu được thực hiện để làm cho thân/tâm của từng người tập trở nên nhanh nhẹn và thích nghi hơn với sự biến đổi trong chiến đấu, và để tạo ra cái tâm “tĩnh lặng” cùng những phương pháp khí ở mức cao, sẽ siêu nạp cho các ứng dụng chiến đấu.
Bài quyền chết và đối mặt với thực tại
Thêm vào các bài quyền và sự huấn luyện khí (nguồn của nội lực), thì những giờ dài huấn luyện hiện thực với bạn tập hay với nhiều người là cần thiết để làm chủ các kỹ thuật chiến đấu thân thể của bát quái chưởng, thái cực quyền và hình ý quyền. Nhiều người muốn tin rằng chỉ việc tập những bài quyền chuyển động của võ thuật ngoại gia hay nội gia thôi sẽ biến họ thành những tay đánh siêu phàm ưu việt. Mượn một câu từ bài hát của George Gershwin, “Không nhất thiết là thế đâu.” Các bài quyền nên huấn luyện ý hướng và sức mạnh của bạn, và nếu hai yếu tố này vắng mặt trong các bài quyền của bạn (và trong sự huấn luyện đối luyện hai người của bạn, nhân tiện nói luôn), thì rất có khả năng bạn sẽ không ổn trong một cuộc đối đầu chân thực.*
Chiến đấu là một hành vi của sự thể hiện và năng lực. Sự sống còn hay an ninh thân thể của bạn có thể tùy thuộc vào nó. Chiến đấu đòi hỏi năng lượng, trực giác và sự biết cách. Nếu bất kỳ bậc thầy, thầy dạy hay bạn bè nào của võ thuật ngoại gia hay nội gia không thể hiện thực chứng minh cách một kỹ thuật được dùng trong chiến đấu, thì đó là người sai để học kỹ thuật này. Hãy chỉ học từ người nào có thể chứng minh được việc áp dụng kỹ thuật chiến đấu đang được dạy.
Một số người tập võ nội gia chủ yếu vì sức khỏe, trường thọ và thiền định cũng muốn tập để chiến đấu. Nếu một trong những mục tiêu của bạn là cảm thấy an toàn trước sự hung hăng thân thể bằng cách học tự vệ, hoặc nếu bạn muốn trở thành một tay đánh nội gia có năng lực, thì hãy học bát quái chưởng, thái cực quyền và hình ý quyền chỉ từ những người có thể dùng các môn này trong một cuộc giao đấu và có thể dạy chúng rõ ràng cho người khác. (Một số thầy chỉ biết đánh tay không, một số chỉ biết đánh với vũ khí, và một số biết cả hai, ở những mức độ khác nhau...)
*Lập trường này đã được Bruce Lee trình bày rõ ràng vào thập niên 1970, khi ông tuyên bố rằng võ thuật cổ điển đã chết. Cảm thức này rất phổ biến ở Trung Hoa trong cả những bậc thầy chiến đấu trẻ lẫn già của những môn phái sinh động hơn. Tôi đã nghe tình cảm này được bày tỏ ở Trung Hoa bởi nhiều bậc thầy chiến đấu xuất sắc, những người nói những điều đại loại như: “đó là một động tác bài quyền rất thú vị, nhưng anh có biết dùng nó không?” Sự thúc đẩy hướng tới tính chức năng trong công việc bài quyền này được tinh túy hóa bởi câu mà những người tập hình ý quyền và những người khác thích dùng để mô tả các động tác bài quyền của họ: Bu hao kan, hen hao yung, có thể dịch là “những động tác không đẹp mắt, nhưng chúng hoạt động xuất sắc phi thường.”
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA CÕI VÕ THUẬT
Giá trị của nghiên cứu chéo trong võ thuật
Có rất nhiều lãnh địa giao thoa trong võ thuật ngoại gia, ngoại gia/nội gia, và nội gia. Kinh nghiệm của riêng tôi là, trong khi các môn võ ngoại gia mang lại rất nhiều về mặt ứng dụng chiến đấu và một phần nào đó về mặt sự phát triển của khí, thì chính các môn võ nội gia mới làm thỏa mãn trọn vẹn dải kỳ vọng của tôi. Những kỹ thuật lớn của các môn võ ngoại gia/nội gia thường vận hành từ những chuyển động thô, mỗi chuyển động bao hàm một ý tưởng võ học duy nhất. Chính những ý tưởng và kỹ thuật chiến đấu này thường hiện diện trong các hệ thống nội gia với nhiều biến thiên và tinh tế hơn, và với những chuyển động nhỏ hơn. Trong khi ở các môn võ thiên về ngoại gia hơn, một ý tưởng võ học thường được biểu đạt như một chuyển động lớn, thì trong một môn võ nội gia, cùng ý tưởng ấy thường được biểu đạt trong một chuyển động nhỏ hơn và tinh tế hơn nhiều, có lẽ, chẳng hạn, chỉ như những vòng tròn thân thể bé nhỏ, hoặc thậm chí ở cấp độ vô hình của thuần túy ý hướng về cách năng lượng đang hiển lộ. Các môn võ nội gia có thể đạt được những mục tiêu như vậy bởi vì chúng có thể mang tới sức mạnh linh hoạt, sự nhạy cảm, tốc độ và nhận thức lớn hơn vào chính điểm giao thời khắc ấy trong chiến đấu, nơi khả năng hiển lộ nội lực trong một phần triệu giây có thể quyết định thắng hay bại.
Các môn võ nội gia đã có thể hấp thu và tích hợp vào các bài quyền và ứng dụng chiến đấu của mình tất cả những yếu tố chiến đấu của các môn võ ngoại gia/nội gia mà tôi đã học. Tôi cũng nhận thấy rằng các hệ thống nội gia có thể đi tới những chỗ tinh tế mà Thiếu Lâm không thể, chủ yếu là bởi vì các môn nội gia có những phương pháp để xử lý những khoảng hổng nội lực giữa điểm kết thúc của kỹ thuật này và điểm bắt đầu của kỹ thuật khác — những khoảng hổng vốn được xây dựng sẵn vào đa số các hệ thống võ thuật ngoại gia.
Như nhiều vị thầy nội gia của tôi đã chỉ ra, võ thuật ngoại gia có thể dạy những chuỗi một, hai, ba của chuyển động ngoại tại trong chiến đấu, nhưng chính võ thuật nội gia mới dạy nội lực cho phép những hạt giống của võ thuật ngoại gia mọc thành những cây to khỏe. Sau hơn một thập kỷ nghiên cứu chéo, sự tập trung của tôi trở lại hoàn toàn với các môn võ nội gia. Tôi muốn sự hiệu quả trong chiến đấu mà không có sự hung hăng, và tôi nhận thấy rằng võ thuật nội gia có thể cho cả hai, đồng thời làm cho tôi khỏe mạnh, cũng như phục vụ như một phương tiện chân thực cho việc thực hành thiền định.
...một người khác.) Nếu bạn muốn tiến bộ, hãy tập với những người vừa có nhiệt tình vừa có sẵn lòng chiến đấu. Đừng lẫn lộn huấn luyện cảm giác hay trò chơi võ thuật với huấn luyện chiến đấu chân thực. Nó đòi hỏi một loại can đảm, sự gan góc (thường được gọi là “tim”), và sự sẵn lòng không sợ hãi, dù là bị đánh hay bị quăng, hay đánh hay quăng một đồng loại. Nó cũng đòi hỏi sự trưởng thành về cảm xúc, lòng từ bi và nhận thức tâm linh để không để cái ngã của mình nổ tung khi bạn trải nghiệm một cảm giác “sức mạnh” mới tìm thấy, điều có thể là thật cũng có thể không.
Chỉ sau khi bạn có thể giữ được một cái tâm tĩnh lặng, ổn định khi đang sợ hãi, bị đánh hay bị thất vọng, thì bạn mới có thể sử dụng những kỹ thuật ứng dụng chiến đấu ưu việt của các môn võ nội gia theo một cách thiết thực, sát với mặt đất.
SỰ TẬP TRUNG CỦA VÕ THUẬT NGOẠI GIA
Một mối bận tâm nền tảng trong mọi môn võ thuật tập trung vào cách sự kết nối thân/tâm được nhận thức. Người tập có quan niệm thân thể như một vật thể bên ngoài tách biệt, để được huấn luyện nhằm sản sinh ra những năng lực chiến đấu mong muốn nhất định? Hay người tập để tâm đi vào thân thể (nghĩa là cảm thấy tâm ở trong thân), qua đó tạo ra một sự hợp nhất tâm/thân để sản sinh các kỹ năng chiến đấu? Khi các võ sĩ tung ra những đòn đánh, họ có tưởng tượng thân thể mình di chuyển như những nhân vật chiến đấu trong một trò chơi Nintendo (cách tiếp cận ngoại tại), hay họ thực sự cảm nhận mọi thứ đang xảy ra bên trong thân thể mình và rốt cùng là trong tâm trí mình (cách tiếp cận nội tại)?
Những người theo võ thuật ngoại gia tập trung vào cùng một cảm thức về tính thân thể như những người tham gia thể thao hiện đại. Ở đây sự nhấn mạnh đặt vào việc phát triển xương, cơ bắp, gân, dây chằng và việc sử dụng oxy một cách hiệu quả. Những võ sĩ định hướng ngoại tại, theo lối của các vận động viên thi đấu hay vũ công hiện đại, thường rơi vào cái bẫy của sự quá cơ giới trong huấn luyện. Họ có thể chỉ bận tâm với những mục tiêu muốn thân thể đi nhanh hơn, mạnh hơn, bền lâu hơn. Áp dụng cách tiếp cận này, nhiều người không ý thức được việc họ có thể làm tổn thương cả thân thể lẫn sự an lạc về tình cảm của mình như thế nào. Hơn nữa, cả vận động viên lẫn những tay đánh đi theo con đường ngoại tại đều có thể nghiện cái “cảm giác phê” do sự tiết ra adrenalin được kích thích bởi sự cạnh tranh gay gắt hay bởi việc đấm vào ai đó.
Càng nhiều chừng nào những người tập ngoại gia tham gia vào các bài tập hướng về tiếp xúc, họ càng có xu hướng trở nên ý thức hơn về những cảm giác bên trong chính thân thể của mình. Những bài tập hai người, nơi cả hai người tham gia đang chạm vào nhau (chẳng hạn trong vật, “dính thủ”, Thôi Thủ (đẩy tay), hay tập khóa khớp), đều được nhắm tới để phát triển năng lực nơi một người nhằm cảm nhận thân thể của người kia. Khi đó, việc các cá nhân khám phá những cảm giác bên trong chính bản thân thân thể của mình trở nên tự nhiên.
Thường thì, những người theo lối võ thuật thuần túy ngoại gia đấm-đá không sở hữu một sự kết nối với sự nhạy cảm nội tại. Thật ra, sự thiếu vắng nhận thức thân/tâm nội tại này thường rút ngắn những năm thi đấu của họ, cũng như nó làm với những vận động viên hàng đầu. Đẩy thân thể vượt quá giới hạn của nó mà không có sự nhạy cảm nội tại cũng có thể dẫn tới những hệ quả sức khỏe tai hại, cả ngắn hạn lẫn dài hạn. Học cách “cảm nhận” tay chân của mình và thực hành sự tiết chế hợp lý có thể mang lại những lợi ích tích cực suốt đời, và kéo dài những sự nghiệp thể thao thi đấu vốn thường bị cắt ngắn do chấn thương từ việc tập một môn thể thao (như thể dục dụng cụ, bóng chày, bóng rổ, bóng bầu dục) hay do huấn luyện quá mức trong môn thể thao ấy.
Sức mạnh và sức lực
Sức mạnh và sức lực cần thiết cho một đòn đánh, một cú đá hay một đòn quăng té, vào thời xưa sẽ được thu nhận bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đa số những phương tiện này vẫn đang được thực hiện ngày nay. Chúng bao gồm:
1. Nâng tạ với những dụng cụ thô sơ như đá, những khối nặng và những thùng nước. Những người theo võ thuật ngoại gia nổi tiếng khắp lịch sử Trung Hoa về khả năng nâng và di chuyển những vật nặng hàng trăm pound. Huấn luyện hiện đại chỉ đơn giản thay thế bằng những kỹ thuật nâng tạ đương đại.
2. Di chuyển những tạ tự do nặng, chẳng hạn những khối đá, trong không trung trong khi đang thực hiện các bài quyền tay không; cũng như tập những bài quyền sử dụng những vũ khí cực nặng. Ví dụ điển hình nhất của hoạt động sau này có thể thấy ở các môn phái ngoại gia của miền nam Trung Hoa, nơi học trò tập cả đứng yên lẫn di chuyển ngang mặt sàn, vung một thứ vũ khí kim loại nặng ba mươi đến bốn mươi pound với một lưỡi cong, gọi là quan đao. Thứ vũ khí này thực ra chỉ được dùng bởi những chiến binh trên lưng ngựa. Nó hoàn toàn không thực dụng như một vũ khí đánh bộ, nhưng lại tuyệt vời khi được dùng trong việc tập trên mặt đất để phát triển sức mạnh thân thể.
3. Ném những vật nặng lên không trung rồi bắt lấy chúng (những túi đậu hay gạo, những khối bê tông, những cục kim loại); lột vỏ cây bằng tay không; vặn những sợi dây thừng và những mảnh gỗ suốt nhiều giờ liền. Tất cả những sự huấn luyện như vậy đều nhằm mục đích phát triển sức mạnh của cái nắm tay, để việc tóm bắt được hiệu quả.
4. Dùng ròng rọc để nâng những quả tạ nặng hay những bao cát, hàng trăm thậm chí hàng nghìn lần mỗi buổi tập, để mô phỏng các kỹ thuật quăng té.
5. Đánh vào các vật thể để phát triển những đòn đánh hay cú đá có lực. Những bao nặng, kim loại, đá, đất nén, những bó nông sản, những khúc gỗ, những hình nhân gỗ, cây cối và nước — tất cả đều bị đánh, đấm và đá.
6. Thọc các ngón tay vào cát, đậu, bi ve, mạt sắt và đất hàng trăm thậm chí hàng nghìn lần mỗi ngày để phát triển sức mạnh của những đòn đánh bằng ngón tay. (Ngay cả khi những thứ thuốc Trung Hoa bảo vệ được bôi bên ngoài trong khi thực hành bài tập này, thì cũng không phải là hiếm khi người tập cuối cùng lại gặp những vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như viêm khớp, khi về già.)
7. Đập tay và chân liên tục bằng đủ loại vật cứng để làm cứng xương. Các bạn tập sẽ liên tục đập vào tay và chân của nhau để xem ai mạnh hơn hay ai bị dọa dẫm hơn. Những hình nhân gỗ cũng bị đập nát cho cùng mục đích ấy. Cũng như làm cho xương cứng lại, nhiều bài tập trong số này theo truyền thống đã được nối kết với những vấn đề sức khỏe về sau, bao gồm sự tổn thương do những cú sốc tích lũy lên thân thể và lên các đường kinh mạch của châm cứu.
8. Làm hít đất, gập bụng, những bài tập thể dục dụng cụ, hít thở căng cơ động và những bài tập căng cơ để có sự thể lực tổng thể của thân thể.
Tất cả những phương pháp này để xây dựng sức mạnh và sức lực đều có một mẫu số chung: Chúng nhấn mạnh việc luân phiên thư giãn rồi sau đó căng các cơ của thân thể. Tất cả đều theo đuổi những kết quả có thể thấy rõ về mặt thân thể, hơn là tập trung vào những bài tập sẽ xây dựng khí (năng lượng tinh tế của thân thể). Những bài tập khí công (công năng lượng) đôi khi được những người theo võ thuật ngoại gia thực hiện như một việc hoàn toàn tách biệt, và hầu như không bao giờ được tích hợp vào chương trình huấn luyện chính. (Điều này đặc biệt đúng với những bài tập khí công được thực hiện để chịu đựng các đòn đánh.)
KHÍ CÔNG — Công việc/năng lượng nội tại. Nghệ thuật và khoa học cổ xưa của Trung Hoa về việc phát triển và tu dưỡng khí bằng chính nỗ lực của mình.
Tốc độ
Năng lực tốc độ đã và vẫn thường được phát triển bằng:
1. Sự lặp lại các động tác được làm liên tục nhanh hơn và nhanh hơn, hoặc một mình, hoặc nhịp với mệnh lệnh của thầy, hoặc bằng cách đánh bại một cái đồng hồ tưởng tượng nào đó (hoặc, ngày nay, dùng những đồng hồ điện tử); những động tác này có thể được thực hiện lặp đi lặp lại như những động tác đơn, những tổ hợp được thiết lập sẵn, hoặc được kết hợp vào các bài quyền.
2. Tập với tạ ở tay, chân và eo để làm chậm thân thể xuống, để khi những quả tạ cản trở được lấy đi, thân thể sẽ di chuyển nhanh hơn.
3. Các bài tập đối luyện, đòi hỏi thời gian phản ứng và tấn công phải liên tục được tăng lên để sống sót.
Sức bền
Năng lực chịu đựng đã đạt được, và trong nhiều trường hợp vẫn đang đạt được, thông qua:
1. Vô số lần lặp lại các bài tập và các bài quyền của một môn võ thuật nhất định. Vì các bài tập ngoại gia nói chung khá là hiếu khí (aerobic), nên những chuyển động lặp đi lặp lại thường là tất cả những gì được thực hiện. Các bài quyền hay những động tác tập đơn thường được thực hiện tới một điểm vượt quá sức chịu đựng của con người. Triết lý không đau thì không có lợi, làm một trăm năm mươi phần trăm, đang toàn lực hoành hành.
2. Giữ đông cứng trong thời gian dài ở những thế đứng thấp khó khăn, hoặc với một chân duỗi ra trong không trung tới độ cao của cổ họng hay của đầu.
3. Nhảy lên nhảy xuống trong thời gian dài trong khi thực hiện nhiều động tác võ thuật khác nhau.
4. Chạy lên đồi hoặc leo một số lượng lớn những bậc thang, đôi khi là hàng nghìn bậc, để tới được một nơi tập luyện. (Điều cuối cùng này là một kịch bản huấn luyện sức bền phổ biến trong nhiều tu viện ở những vùng núi non.)
5. Vật nhau hay đối luyện liên tục không nghỉ ngơi suốt nhiều giờ liền, cho đến khi người tập không còn có khả năng tiếp tục về mặt thân thể. Nếu phương pháp này được dùng thường xuyên, thì các vị thuốc thảo dược thường được uống vào để bảo vệ các nội tạng khỏi sự tổn thương dài hạn. Trong huấn luyện vòng tròn (circuit training) đương đại, một cá nhân đi từ hình thức tập luyện này sang hình thức tập luyện khác theo những mô thức đều đặn, để phát triển tối đa sức mạnh, tốc độ và sức bền. Võ thuật ngoại gia ở Trung Hoa có những phiên bản riêng của kỹ thuật huấn luyện này. Họ có thể, chẳng hạn, đi từ việc tập một bài quyền ở tốc độ chậm, sang làm những động tác ngồi xổm (squat) nhanh, sang có lẽ những cú nhảy hay những cú đá, sang huấn luyện tạ nặng, sang giữ một thế đứng trong thời gian dài (chẳng hạn một chân đưa lên không), sang thực hiện một loạt các bài quyền cực kỳ nhanh.
Phản xạ
Phản xạ ở một mức độ lớn được quyết định bởi tài năng bẩm sinh của người tập cá nhân. Theo định nghĩa, cấu trúc gen thường là một yếu tố giới hạn tối hậu khi nói đến phản xạ. Ngay cả khi các cá nhân tập luyện ngày đêm suốt nhiều năm ròng, nếu họ thiếu tốc độ hệ thần kinh trung ương bẩm sinh, họ có thể dễ dàng bị đánh bại bởi một người mới bắt đầu với sự huấn luyện tối thiểu nhưng vốn tự nhiên nhanh nhẹn. Thông thường, các phản xạ chậm lại sau tuổi trung niên, và đa số những người theo võ thuật ngoại gia lớn tuổi đều chịu khuất phục quá trình tự nhiên này, trừ khi họ kết hợp vào những bài tập nội tại. Sự chậm lại của các phản xạ là một yếu tố chính ngăn cản người già học thành công võ thuật ngoại gia, cùng với năng lực suy giảm của một thân thể già nua trong việc hấp thu cú sốc mà không làm suy yếu chức năng. Tại Trung Hoa, chính trong lãnh địa của võ thuật nội gia mà tuổi tác được vượt qua như một yếu tố trong việc học các kỹ năng chiến đấu. Tuy nhiên, võ thuật ngoại gia cũng áp dụng một số kỹ thuật để giúp tạo ra những phản xạ mới. Trong số đó có:
1. Những nhịp điệu để đi kèm với những động tác cụ thể, đơn lẻ hay kết hợp, nơi nhịp và tốc độ của các động tác được thay đổi ở những khoảng đều đặn. Tốc độ và nhịp của những nhịp đập có thể, như trong đánh trống, được thay đổi để tạo ra những phản xạ nhanh ở người đó, nơi các động tác được đồng bộ hóa với nhịp. Bài tập này có khuynh hướng gạt bỏ sự do dự ra khỏi các động tác của một người, điều vốn là một thành phần then chốt của những phản xạ nhanh.
SAVATE — Một môn võ thuật của Pháp kết hợp các cú đá với quyền Anh phương Tây.
QUYỀN THÁI (THAI BOXING) — Môn võ thuật ngoại gia truyền thống của Thái Lan.
BANDO — Một phong cách võ thuật của Miến Điện.
PENCHAT/SILAT — Những môn võ thuật Indonesia có rất nhiều phong cách cụ thể khác nhau, mà đa số là ngoại gia hoặc ngoại/nội gia.
KUNTAO — Một môn võ thuật Indonesia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của võ thuật Trung Hoa.
2. Những chuỗi nhịp điệu nhanh/chậm cụ thể được gắn sẵn ngay trong chính các bài quyền của võ thuật ngoại gia. Những chuỗi này trở nên tinh tế hơn trong những bài quyền đòi hỏi sự phối hợp nhiều hơn, khi người học trò tiến bộ lên.
3. Những bài tập đối kháng được thiết kế riêng. Chúng được thực hiện lặp đi lặp lại, rốt cuộc theo một cách hoàn toàn tự động và vô thức, để phát triển chính xác phản xạ mong muốn.
4. Sử dụng những lực lượng môi trường tự phát để mài sắc các phản xạ. Chúng được dùng trong đủ loại tình huống. Vài ví dụ: cố bắt một con gà đang chạy thất thường (việc này phát triển phản xạ ở bàn chân cũng như sự phối hợp tay–mắt); cố đánh trúng một chiếc lá ba lần trong khi nó đang bị thổi bay lung tung trong không trung, đặc biệt là trong những cơn gió ngược chiều; tóm lấy một con cá đang vùng vẫy lanh lẹ bằng tay không; cố bắt một con côn trùng hay một con chim cụ thể từ giữa một bầy đang tản ra thật nhanh; dùng một đôi đũa gắp một con muỗi đang bay.
Điểm quan trọng cần nhớ về việc phát triển các phản xạ trong võ thuật ngoại gia là tiêu điểm của sự chú ý luôn luôn ở bên ngoài người tập. Thông thường, những kỹ thuật hiệu quả dựa trên sự căng cơ bắp. Thân thể được chuẩn bị sẵn sàng để phản ứng như một người máy theo lệnh. Bấm nút, và thân thể sẽ đỡ đòn, đá, đánh, quăng, hay áp dụng các đòn khóa khớp. Nếu thân thể đi nhanh hơn, điều đó được coi là tốt; nếu không, cần phải tập luyện thêm. Thường thường, người tập có rất ít nhận thức về điều đang xảy ra bên trong hệ thần kinh trung ương, cảm xúc hay tâm trí của mình khi một kỹ thuật đang được thực thi. Điều này có thể để lại rất ít chỗ trống cho các phương pháp võ thuật ngoại gia tiến vào lãnh địa của sự an lành về mặt cảm xúc hay tâm linh, lãnh địa vốn được xây dựng trên những nhận thức nội tại này.
Võ thuật ngoại gia bên trong và bên ngoài Trung Hoa
Những môn võ thuật ngoại gia không phải của Trung Hoa quen thuộc nhất bao gồm quyền Anh, vật, savate, đấu kiếm, judo, jujitsu, karate (hầu như mọi phong cách), taekwondo (hầu như mọi phong cách), quyền Thái, bando, penchat, silat và kuntao. Bên trong Trung Hoa, những môn võ thuật ngoại gia được biết đến rộng rãi hơn (ở phương Tây được gọi chung bằng cái tên “kung fu”) ít nhiều có thể được chia thành những môn xuất phát từ phương bắc hay phương nam của đất nước rộng lớn ấy. Ngay cả võ thuật của miền tây hay miền trung Trung Hoa cũng mang hương vị của những phiên bản phương bắc hay phương nam. Sự phân chia bắc/nam này quy chiếu về những môn võ thuật bắt nguồn từ chùa Thiếu Lâm, một trong những nơi khai sinh mang tính huyền thoại của võ thuật Trung Hoa. Cùng làm việc với nhau tại chùa Thiếu Lâm, cả các tăng sĩ lẫn những người tị nạn chính trị đang trú ngụ tại đó đều được che chở bởi quyền tị nạn tôn giáo cổ xưa. Họ đã tập luyện và giao thoa những kỹ thuật võ thuật với nhau. Từ Thiếu Lâm, tại Trung Hoa, đồng nghĩa với võ thuật ngoại gia.
Cây cầu từ ngoại gia sang nội gia
Với tư cách một người mang đai đen tam đẳng môn karate, đã tập luyện hằng ngày suốt gần chín năm, tôi đã sang Okinawa để học tập — nơi khai sinh của môn karate và taekwondo hiện đại. Vừa bởi vì tôi đáp ứng được những đòi hỏi cấp bậc tối thiểu, vừa bởi vì một mối liên hệ cá nhân may mắn, tôi đã được nhận vào một chương trình nghiên cứu sinh đặc biệt được tuyển chọn về karate thông qua hệ thống karate Shorin Ryu, mà trong tiếng Nhật gọi là kenkyusei. Tại đây, những bí mật sâu kín nhất của karate được truyền dạy cho những giáo viên tương lai. Huấn luyện vũ khí, chiến đấu ban đêm, và những kỹ thuật hô hấp cùng võ thuật đặc biệt không được dạy cho đa số đai đen là những phần thiết yếu của khóa học.
Sau vài tháng, điều trở nên hiển nhiên là nhiều kỹ thuật “bí mật” nhất lại là những điều tôi đã học trong hai năm đầu của khóa huấn luyện căn bản về nội gia quyền thuật: thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng. Nhiều người tập karate phải đợi từ năm đến hai mươi năm trước khi được dạy cùng một tài liệu ấy trong karate Shorin Ryu. Tình huống kenkyusei này khá giống với điều đang xảy ra vào thời điểm đó với những phong cách karate khác ở Okinawa và Nhật Bản. Thầy của tôi ở Okinawa là đai đen cao cấp nhất, chỉ sau vị lão sư chưởng môn của phong cách ấy. Tôi đã hỏi ông làm thế nào mà tôi có thể học được những điều này từ các bậc thầy Trung Hoa ở Nhật Bản và Đài Loan, trong khi chính ông lại chưa từng học?
Ngoài việc là một tay karate xuất chúng, vị thầy này còn là một nhạc công jazz. Ông cởi mở hơn nhiều so với một bậc thầy karate Nhật Bản hay Okinawa trung bình. Ông trả lời thẳng thắn hơn mức mà một người ở vị trí của ông thường phải trả lời một người ngoại quốc. Ông nói tôi đúng. Ông đã từng giao đấu với những chuyên gia võ thuật từ Đài Loan, và ông vừa bị bối rối vừa bị họ đánh bại. Ông cũng thừa nhận rằng võ thuật Trung Hoa biết cách kết hợp một cách hiệu quả những nguyên lý y học phương Đông truyền thống với việc huấn luyện võ thuật, theo những cách mà karate hầu như không có. Ông thú nhận rằng võ thuật Trung Hoa cũng có một tri thức y học về thân thể tốt hơn điều hiện diện trong karate. Ông nói thêm rằng tài liệu võ thuật ở Đài Loan ở một cấp độ cao hơn, mặc dù người Okinawa cũng có những kỹ thuật đầy uy lực và hữu dụng, vốn hoạt động cực kỳ tốt — và điều đó là sự thật.
Tôi bèn hỏi ông tại sao ông không sang Đài Loan, vốn ở ngay bên cạnh Okinawa, để học thêm. Hiển nhiên là ông yêu karate và võ thuật nói chung, và nền tảng nhạc jazz của ông đã ban cho ông sự ưa thích những cuộc thử nghiệm có thể mở rộng năng lực của mình. Câu trả lời của ông là điển hình cho
Cây cầu từ ngoại gia sang nội gia, tiếp theo
cuộc chiến đang tiếp diễn ở châu Á giữa chủ nghĩa bảo thủ chính thống và những biên giới mới của tri thức. Ông nói ông biết rằng võ thuật ở Đài Loan tốt hơn những gì ông đang làm. (Đó là một lời tuyên bố khá lạ thường, nếu xét rằng người này giỏi đến mức mà những người theo karate có thể giỏi được.) Sau đó ông nhấn mạnh rằng ông là người Okinawa và, vì vậy, sẽ không bao giờ nghĩ đến chuyện học từ người Trung Hoa, bởi vì điều đó sẽ làm cho phong cách karate Okinawa của ông bị mất mặt. Đó là vấn đề của niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên quan trọng nhất, đó là vấn đề của “thể diện.” Nhiều năm sau, thầy của tôi ở Bắc Kinh, Lưu Hùng Tiệp (Liu Hung Chieh), đã nhiều lần bình luận về cuộc sống trong một xã hội Nho giáo: “Trong đời, anh có thể theo đuổi một trong hai điều: để được hạnh phúc, hoặc để giữ thể diện. Đó là sự lựa chọn của anh.”
Cảm thức thể diện mang tính cạnh tranh này đã làm khổ võ thuật của châu Á hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn năm.* Thái độ này khiến người ta đầu tư một vị thế và một niềm kiêu hãnh đáng kinh ngạc vào môn võ thuật cụ thể mà mình theo đuổi, thay vì tìm hiểu xem làm cách nào để mở rộng cái kho tri thức đã có của mình bằng cách đi tìm những khả năng mới. Hệ quả là, tri thức hiện có về võ thuật bị đình trệ và có khuynh hướng bị thất truyền, vì sự bí mật và niềm kiêu hãnh bị đặt sai chỗ. Tình trạng này, may mắn thay, đang thay đổi ở phương Tây. Tại đó, những người tập karate và các môn võ thuật khác tận dụng một xã hội cởi mở, nơi họ có thể tự do tiếp nhận bất cứ điều gì hữu dụng từ những phong cách khác mà không phải trải nghiệm một cảm giác phản bội đối với môn phái của chính mình.
Trải nghiệm ở Okinawa này đã khiến tôi có một quan điểm cởi mở hơn rất nhiều về võ thuật so với nhiều đồng nghiệp của tôi vào thời điểm đó. (Từ thập niên 1950 đến thập niên 1970, cái ý tưởng mượn điều gì đó từ một môn võ không phải của mình là điều chưa từng nghe tới.) Nó cũng đẩy tôi một cách dứt khoát về phía nội gia của võ thuật, điều mà tôi thú nhận là mình thiên vị. Tôi đã quan sát thấy rằng, nếu một người muốn một khoản đầu tư sinh lời về lâu dài, thì khôn ngoan là nên cởi mở với những khoản đầu tư khác đã được kiểm chứng và có lợi suất cao hơn, ngay cả khi những cảm giác chiếm hữu và những thành tựu trước kia của anh ta tạm thời phải được gác sang một bên.
Tôi trở về Tokyo từ Okinawa vào mùa xuân năm 1970 và lượng giá lại xem phải tiến tới giai đoạn tiếp theo của cuộc hành trình võ thuật của mình như thế nào, lặng lẽ suy ngẫm về những lời của vị thầy Okinawa của tôi. Khi ấy tôi mới hai mươi tuổi, đầy ắp những kích thích tố đang cuồng nhiệt và say mê cái cường độ qua lại của việc
*Thuật ngữ Trung Hoa cho điều này là men hu jr jien (môn hộ chi kiến), mà nếu dịch thoát ý thì có nghĩa là bất cứ ai ở bên ngoài cánh cổng của chúng ta (tức là môn phái võ thuật của chúng ta) đều phải được coi là kẻ thù, và vì thế bị ghét bỏ, bị phớt lờ và bị hạ thấp.
Cây cầu từ ngoại gia sang nội gia, tiếp theo
“xáp lá cà” bằng tay, chân, những đòn quăng và những đòn khóa khớp. Mặc dù tôi vẫn tiếp tục giao đấu với những người mang đai cao trong karate, rõ ràng là tôi sẽ không còn nghiêm túc tập karate nữa. Điều cũng hiển nhiên nữa là hai đầu gối của tôi sẽ không thể tiếp tục chịu đựng được judo ở cấp độ cao, vì chúng đã từng suy sụp một lần. Tôi không có khao khát trở thành một kẻ tàn tật một phần. Những sự khó khăn đau đớn ở đầu gối đã hạ gục một số bạn bè của tôi, những người đã phớt lờ những dấu hiệu cảnh báo về sự tổn thương đầu gối sắp xảy ra đến nơi. Morihei Ueshiba (xem trang 118), người sáng lập môn aikido mà tôi đã theo học, đã qua đời vào năm trước, và mặc dù tôi vẫn tiếp tục tập luyện tại tổng đàn aikido, cảm giác không còn như xưa sau khi O-Sensei qua đời. Tôi tập trung vào việc tiếp tục tập thái cực quyền, nhưng vẫn đang làm việc với đẩy thủ (Push Hands) và vẫn chưa đạt tới giai đoạn tự do giao đấu. Một điểm sáng trong thời gian đầy buồn bã ấy là việc tập hình ý quyền với Kenichi Sawai.* Tôi đã làm rất nhiều khí công đứng cùng với các học trò khác của ông, đi kèm với một lượng khá lớn những cuộc giao đấu gay gắt và đa dạng.
KHÍ CÔNG ĐỨNG YÊN — Khí công được thực hiện khi đứng yên một chỗ, hoặc là với hai cánh tay của người tập tựa vào thân thể mình, hoặc là được giữ trong không trung trong một thế tĩnh tại.
*Xin xem Taiki-Ken của Kenichi Sawai (Tokyo: Japan Publications, 1976).
Những phong cách Nam Thiếu Lâm được biết đến với (a) những kỹ thuật tay ở cự ly ngắn, áp sát vào trong; (b) những thế đứng ngắn, rộng và thấp, trong đó chữ “ngắn” chỉ khoảng cách giữa hai bàn chân khi một bàn chân ở phía trước hay phía sau bàn chân kia; (c) những đòn đỡ bằng sức mạnh; (d) bộ pháp ở mức tối thiểu, thích hợp cho một người đang chiến đấu trong một không gian chật hẹp, chẳng hạn như sàn của một chiếc thuyền nhỏ; và (e) sự nhấn mạnh vào những kỹ thuật tay hơn là những cú đá. Một cách tổng quát, các phong cách Nam Thiếu Lâm được gọi là nan chuan (nam quyền), hay Quyền Phương Nam.
Bắc Thiếu Lâm được biết đến với (a) những kỹ thuật tay duỗi dài ở cự ly xa; (b) những thế đứng dài, duỗi rộng; (c) những sách lược làm chệch hướng và né tránh, thay vì những đòn đỡ bằng sức mạnh; (d) bộ pháp và những kỹ thuật nhảy được mở rộng, để chiến đấu trong những không gian rộng lớn và mở; và (e) sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào những kỹ thuật đá cũng như những đòn đánh bằng tay. Những thành ngữ võ thuật cổ điển của Trung Hoa là “tay phương Nam” và “chân phương Bắc.” Một cách tổng quát, võ thuật ngoại gia phương Bắc được gọi là chang chuan (trường quyền – Quyền Trường) hay Bắc Thiếu Lâm (Bei Shaolin). Phần lớn các phong cách ngoại gia phương Bắc đã hình thành nên nền tảng cho nội gia quyền thuật của thái cực quyền, bát quái chưởng và hình ý quyền.
CHANG CHUAN (TRƯỜNG QUYỀN) — Một hệ phái võ thuật ngoại gia của Trung Hoa.
Một số phong cách võ thuật đã có cả chi nhánh phương Bắc lẫn phương Nam, chẳng hạn như Đường Lang (Praying Mantis), Bạch Hạc (White Crane), Hầu Quyền (Monkey), Hổ Quyền (Tiger), và Hồng gia quyền (Hung boxing). Điển hình
THÁI LÝ PHẬT (CHOI LI FUT) — Một phong cách chiến đấu Nam Thiếu Lâm từ tỉnh Quảng Đông.
MẠCH GIA (MOK GAR) — Một phong cách chiến đấu Nam Thiếu Lâm từ tỉnh Quảng Đông.
NGŨ MAI (WU MEI) — Một môn võ thuật Nam Thiếu Lâm mang tính ngoại/nội gia.
NGŨ TỔ (FIVE ANCESTORS) — Một phong cách Nam Thiếu Lâm của tỉnh Phúc Kiến, vốn là một nguồn chủ yếu cho mọi hệ thống tay ngắn phương Nam.
LA HÁN (LOHAN) — Quyền Hộ Pháp Chùa Chiền (Temple Guardian Boxing). Một phong cách Bắc Thiếu Lâm.
QUYỀN MẤT DẤU (LOST TRACK BOXING) — Một hệ thống chiến đấu Bắc Thiếu Lâm thuộc ngoại gia.
KENDO — Nghệ thuật kiếm thuật của Nhật Bản, được thực hành với một thanh kiếm tre.
IAIDO — Nghệ thuật kiếm thuật của Nhật Bản, được thực hành với một thanh kiếm samurai bằng kim loại.
Những phong cách phương Nam được tập ở phương Tây bao gồm Thái Lý Phật, Mạch Gia, Vịnh Xuân (Wing Chun), Ngũ Mai và Ngũ Tổ. Đa số những phong cách thuần túy phương Bắc vẫn chưa tới được phương Tây, ngoại trừ Trung Hoa suất giác (Chinese wrestling), trường quyền, Bắc Thiếu Lâm, La Hán và Quyền Mất Dấu. Nói chung, hoạt động võ thuật là mãnh liệt nhất ở miền bắc Trung Hoa, một vùng vốn luôn sản sinh ra những chiến binh quân sự mạnh nhất và những vệ sĩ chuyên nghiệp. Về mặt lịch sử, thế giới phương Tây chủ yếu chỉ tiếp xúc với những phong cách phương Nam, bởi vì các hải cảng của Trung Hoa nằm ở vùng phương nam. Tuy nhiên gần đây, giờ đây khi việc di dân từ miền bắc Trung Hoa đã trở nên khả thi, ngày càng nhiều di dân và du học sinh đang mang võ thuật của họ sang phương Tây.
Khi những người say mê võ thuật di chuyển dọc theo một sự liên tục tiến tới những phong cách pha trộn của võ thuật ngoại/nội gia, và tiến tới những môn nội gia còn tinh tế hơn nữa, họ khám phá ra rằng nhiều phương pháp tập luyện thể lý y hệt nhau (những đòn đánh, những đòn quăng, v.v.) vẫn có thể tiếp tục được sử dụng. Những sự khác biệt lớn không xoay quanh kỹ thuật thể lý, mà tiến hóa xoay quanh những vấn đề của (a) cơ bắp đối đầu với khí; (b) tâm trí ở trên tính thể lý; (c) sự huấn luyện có hệ thống của tâm trí vô thức; (d) liệu sự căng thẳng thể lý được chủ trương hay bị ngăn cấm; (e) liệu sự phối hợp giữa những phần khác nhau của thân thể được tích hợp ở mức tối thiểu, một phần, hay toàn bộ.
Võ thuật ngoại gia được pha trộn với một số công phu nội tại
Ở Trung Hoa, những cấp độ cao hơn của đa số công phu ngoại gia sẽ tiến hóa, sau nhiều năm, để bao gồm một cấp độ nào đó của việc sử dụng khí (hay năng lực sinh lực tinh tế). Thông thường, công phu nội tại được bắt đầu bằng việc dạy những kỹ thuật hô hấp, chứ không phải bằng những phương pháp để phát triển khí. Theo thời gian, công việc với hơi thở sẽ dẫn tới một nhận thức về năng lượng tinh tế. Thường thường, một môn võ thuật ngoại gia nào đó sẽ ghép thêm vào hệ thống của nó một kỹ thuật khí công (công việc năng lượng). Những sự thích nghi như vậy thường được coi là những “đại bí mật,” chỉ được ban cho những học trò xứng đáng nhất. Nói chung, người Trung Hoa quan niệm những kỹ năng võ thuật ở cấp độ cao dưới dạng thiền định và công việc phát triển khí nội tại, chứ không phải dưới dạng những năng lực thể lý thô sơ. Mô hình này rất khác với cách mà người phương Tây thường nhận thức về những môn võ thuật của họ, như quyền Anh, vật và đấu kiếm.
Đôi khi, một hệ thống khí công sẽ được tập riêng biệt bởi một người đồng thời cũng đang tập một môn võ thuật ngoại gia dựa trên sự căng cơ bắp. Trong những trường hợp như thế, khí công sẽ không thay đổi cách thức mà các phương pháp ngoại gia được thực hiện. Đúng hơn, nó có tác dụng của một loại nhiên liệu có chỉ số octan cao hơn: nó bổ sung thêm sức mạnh và hiệu suất mà không ảnh hưởng đến thiết kế của động cơ chiếc xe. Một võ sư ngoại gia cũng có thể tập thiền Phật giáo Zen, điều này có thể tạo ra một tâm trí an tịnh hơn, nhưng không thay đổi một cách đáng kể cái cấu trúc căng cơ bắp mang tính kỹ thuật của môn võ. Thiền Phật giáo Zen thường được kết hợp vào những môn võ thuật ngoại gia của Nhật Bản, chẳng hạn như karate, và những môn kiếm thuật, chẳng hạn như kendo và iaido.
TIÊU ĐIỂM CỦA VÕ THUẬT NGOẠI GIA VÀ NỘI GIA KẾT HỢP
Trong võ thuật ngoại/nội gia, sự phát triển của khí ít nhất là ngang bằng, nếu không muốn nói là quan trọng hơn, so với sự phát triển của sức mạnh thể lý thô sơ. Sự căng cơ bắp vẫn được sử dụng, nhưng không gần đến mức độ như vậy, cũng không với cùng tính dữ dội như trong những môn võ thuật thuần túy ngoại gia. Trong hình thức được kết hợp này, sự thư giãn trở nên được nhấn mạnh một cách đáng kể hơn sự căng thẳng, trong mọi kỹ thuật chiến đấu và mọi thủ tục huấn luyện.
Trong sự liên tục của võ thuật ngoại/nội gia, mỗi môn võ thuật cá nhân thường có một thiên kiến rõ ràng nghiêng về hoặc những kỹ thuật ngoại gia hoặc những kỹ thuật nội gia. Những phương pháp ngoại gia là những phương pháp dựa trên (a) sự căng cơ bắp; (b) hoạt động hiếu khí (aerobic) hơn là sự tu dưỡng khí; và (c) những khuynh hướng chia việc huấn luyện thân thể ra thành từng phần đoạn; chẳng hạn, huấn luyện tay, huấn luyện chân, huấn luyện eo, v.v. Nội gia quyền thuật là những môn hoàn toàn dựa trên (a) sự thư giãn về mặt cơ bắp và tinh thần; (b) sự tích hợp toàn thân; (c) tính tròn trịa hiển nhiên hay tinh tế trong mọi chuyển động thể lý; (d) tâm trí liên kết trực tiếp với hệ thần kinh trung ương để tạo ra tốc độ và các phản xạ; và (e) sự nhận thức và sử dụng có ý thức những thành phần nội tại, phi cơ bắp, nằm dưới làn da, chẳng hạn như cột sống, các mạch máu, các nội tạng, các tuyến, các khớp, não bộ, tất cả các trung tâm năng lượng, các kinh mạch và huyệt đạo bên trong thân thể, cùng hào quang bên ngoài.
Có nhiều giai đoạn tiến triển khác nhau trong vùng đất trung gian của võ thuật, vùng đất vốn bắc cầu giữa nội gia quyền thuật và ngoại gia quyền thuật.
1. Giai đoạn đầu tiên sử dụng những phương pháp khí để thư giãn hệ thần kinh trung ương và các cơ bắp, trước khi người tập bùng nổ thành những đòn đánh bằng lực với sự căng cơ bắp. Ở giai đoạn này, phương pháp mang tính ngoại/nội gia nhiều hơn. Sự thư giãn khí của tâm trí và của hệ thần kinh trung ương này là yếu tố then chốt đối với bất kỳ phương pháp nội tại nào. Võ thuật ngoại gia cũng thư giãn thân thể và tâm trí trước khi phát lực, nhưng họ không đặc biệt tập luyện để đạt được sự kiểm soát đối với khí — điều vốn làm cho quá trình thư giãn được ổn định.
2. Giai đoạn tiếp theo liên quan đến việc học làm sao để cảm nhận được một cách sờ thấy được rằng hơi thở đi vào mọi phần của thân thể. Chẳng hạn, khi bạn đang thực thi một kỹ thuật chiến đấu, hơi thở của bạn sẽ tạo ra cảm giác cụ thể về áp lực ở phần thân thể đang được sử dụng — ở bàn tay của bạn nếu đang đánh hay nắm bắt, ở chân của bạn nếu đang đá hay quăng, hoặc ở khuỷu tay hay cẳng tay của bạn nếu đang đỡ hay đánh. Phương pháp càng mang tính ngoại gia, cảm giác về hơi thở sẽ càng bị cục bộ hóa; phương pháp càng mang tính nội gia, toàn bộ thân thể sẽ càng nhận biết được hơi thở. Cảm giác về hơi thở này sẽ bổ sung thêm sức mạnh và sự tinh tế cho những kỹ thuật của bạn ở mọi cấp độ.
3. Những phương pháp hô hấp khác nhau sẽ được phối hợp với những kỹ thuật được thực hiện cả khi đang chuyển động lẫn khi đứng yên. Trong số những phương pháp hô hấp này có (a) làm rung động hơi thở, có và không có những sự nổ bùng ở phần cuối (như trong Bạch Hạc Phúc Kiến); (b) những hơi thở ra ngắn, liên tục, giống như súng máy, vốn thường thấy ở những phong cách tay ngắn Nam Thiếu Lâm; (c) những hơi thở gầm rú/rung động giống loài thú. Những hơi thở này có chức năng làm cho các xung động thần kinh nội tại tăng tốc giống như một con vật bị kích động, và tạo ra sự bùng nổ cực độ, sự phẫn nộ và tốc độ. Sức mạnh này sau đó được phóng chiếu vào đối thủ; (d) những hơi thở có nhịp điệu, sử dụng cả những mẫu hình đều đặn lẫn đứt đoạn; (e) hơi thở chậm và sâu, được thực hiện cả ở bên trong lẫn để thở khí ra vào một hay nhiều phần của thân thể theo ý muốn.
4. Một châm ngôn căn bản của những phương pháp khí công là khí làm chuyển động máu. Theo thời gian, mục tiêu là để bạn có thể ý thức cảm nhận được khí của mình đang làm chuyển động máu của mình như thế nào. Cảm giác này giúp bạn có được một nhận thức rõ ràng về việc khí của bạn có đang đi tới nơi mà nó được hướng tới hay không. Khi máu được khí làm cho di chuyển một cách nhanh chóng, nó cảm thấy ấm áp, ngay cả khi thân thể không di chuyển bên ngoài. Lúc ban đầu, đối với đa số mọi người, cảm giác của máu có vẻ nặng nề và sờ thấy được nhiều hơn khí, vì thế nó dễ được dùng như một sự kiểm tra thực tại trong những giai đoạn đầu của sự phát triển khí. Giai đoạn tiếp theo liên quan đến việc cảm nhận khí như một thực thể tách biệt với hơi thở, khi khí di chuyển bên trong thân thể của bạn trong lúc bạn đang thực hiện một kỹ thuật võ thuật nào đó. Đôi khi, những sự quán tưởng sẽ được sử dụng để khơi lên cảm giác cụ thể của việc khí đang di chuyển lên xuống và theo mọi hướng xuyên qua thân thể của bạn. Khí công, thay vì là một kỹ thuật tách biệt, giờ đây được hòa nhập một phần hay hoàn toàn vào tất cả những kỹ thuật võ thuật của bạn. Khi quá trình này gia tăng, sự tập luyện của bạn trở nên mang tính nội gia hơn.
5. Với sự tiến bộ, bạn sẽ trở nên nhận biết và cảm nhận được cách mà trước tiên là hơi thở, và sau đó là khí, đang trực tiếp di chuyển xuyên qua các dây thần kinh của thân thể mình. Cảm giác này nhẹ nhàng và phi vật thể một cách đáng kinh ngạc. Chính giai đoạn tập luyện này cho phép bạn đạt được sự kiểm soát đối với hệ thần kinh tự chủ của mình. Với sự tinh thông như vậy, việc đạt được sự kiểm soát khác thường ở mức độ cao đối với những chức năng của thân thể trở thành điều khả dĩ — một hoạt động mà các nhà yoga (yogi) Ấn Độ và Tây Tạng cùng những người tập khí công Trung Hoa nổi tiếng về điều đó.
6. Giai đoạn này sử dụng đủ loại kỹ thuật tự thôi miên và quán tưởng để gia tăng những năng lực thực hiện. Chúng bao gồm việc quán tưởng và đồng thời cảm thấy chính mình đang trải qua những sự lặp lại của những chuyển động, hay nhìn thấy chính mình đang trải qua những thế giao đấu với vô số biến thể. Những phương pháp như vậy có thể định hình hệ thần kinh, để bạn có thể đạt được những phản xạ thần kinh nhằm thực hiện một kỹ năng nhất định mà không cần phải bỏ ra nhiều thời gian tập luyện thể lý đến như vậy. Những kỹ thuật này được áp dụng cả khi đang làm bài quyền lẫn trong những buổi thiền định ngồi. Những trạng thái nhập thần cũng được sử dụng để làm cho thân thể bám rễ hơn, nhanh hơn, nhạy bén hơn, hay mạnh mẽ hơn mức có thể có được thông qua việc tập thể dục thể lý thông thường. Âm nhạc đôi khi được sử dụng để làm sâu sắc thêm những trạng thái nhập thần trong lúc tập luyện — một phương pháp đặc biệt phổ biến trong võ thuật của châu Phi, Ấn Độ và Indonesia. Những kỹ thuật thông thường tập trung vào năng lực bùng nổ một cách tức thời với sự dữ dội lớn lao, và trở nên nhạy bén và phản ứng một cách đáng kinh ngạc trước một mối nguy hiểm được cảm nhận.
Những kỹ thuật định hình tâm trí này phải được theo dõi một cách cẩn thận về bất kỳ tác dụng phụ tiêu cực tiềm tàng nào đối với hệ thần kinh trung ương hay nhân cách của bạn. Sự kích động tinh thần, chứng trầm cảm, những khuynh hướng hoang tưởng, và những cơn dao động tâm trạng mang tính bùng nổ có thể bị gia tăng hay được tạo ra nơi người tập.* Một cách tiếp cận quân bình giữa sự an lành tinh thần và những năng lực thực hiện thể lý là sự phòng vệ tốt nhất chống lại sự định hình tiêu cực của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên về mặt lịch sử, nhiều bậc thầy nội/ngoại gia chỉ tập trung vào năng lực chiến đấu trên chiến trường và chẳng quan tâm đến sức khỏe tinh thần quân bình. Sự nhạy bén nơi người thầy đối với những thực tại tinh tế của việc làm thế nào mà cú sốc hậu chấn thương tâm lý có thể được tạo ra hay được ngăn chặn từ trước là một vấn đề quan trọng, nếu bạn muốn có một cách tiếp cận nhân bản hơn hay tâm linh hơn đối với võ thuật.
*Khi tôi tập Bạch Hạc Phúc Kiến trong thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, tôi đã thấy và đã nghe nói về nhiều bậc thầy Bạch Hạc hiển nhiên đang chịu đựng một số những vấn đề này. Về sau, sau nhiều năm nghiên cứu, điều trở nên hiển nhiên là những loại khó khăn này có thể xuất hiện xuyên suốt tất cả những phương pháp quán tưởng và tự thôi miên của võ thuật ngoại/nội gia. Nhiều bậc thầy mà tôi đã phỏng vấn đã hết sức quan tâm (và đã đi vào chi tiết rất nhiều) về cách ngăn ngừa những vấn đề này, và cách đảo ngược chúng, nếu có thể, ở cả giai đoạn sớm hay giai đoạn muộn.
7. Có một giai đoạn mà ở đó cả việc sử dụng thân thể lẫn sự tích hợp của thân thể đều trở nên tinh tế hơn mức có thể có được trong võ thuật ngoại gia. Sự phối hợp của sáu cặp phối hợp của thân thể (tay/chân, đầu gối/khuỷu tay, vai/hông) trở thành một tiêu điểm chính yếu. Đa số những môn võ thuật ngoại gia giỏi đều cố sử dụng lực quay ngang mang tính ly tâm của eo để di chuyển hai tay và hai chân với lực và tốc độ. Các hệ thống nội gia đi xa hơn bằng cách cố kết nối tất cả những điểm thẳng đứng của thân thể, những điểm có thể di chuyển đồng thời với chuyển động ngang. Chẳng hạn, khuỷu tay và đầu gối phải di chuyển trong sự đồng bộ hóa được phối hợp một cách chính xác, chứ không phải chỉ là cùng nhau một cách mơ hồ. Chuyển động của khớp nội tại sẽ được kết nối và phối hợp, sao cho khi một khớp khuỷu tay gập lại hay duỗi ra x độ, thì khớp đầu gối sẽ gập lại hay duỗi ra cùng một số x độ ấy. Phương pháp càng mang tính nội gia, sự phối hợp giữa những phần của thân thể sẽ càng tinh tế, và ngược lại. Đặc biệt thường thấy trong những trường phái Nam Trung Hoa là việc giải phóng lực theo tuần tự, từng khớp một, di chuyển đi lên thân thể với một hiệu ứng giống như roi da, giải phóng một chuỗi nhanh chóng những đòn đánh. Việc sử dụng lực của chỉ một khớp đơn lẻ, bị cô lập, hay một sự kết hợp cụ thể của các khớp, cũng là điều thường thấy. Việc đánh một đối thủ bằng cách sử dụng những thành phần tách biệt của sáu cặp phối hợp thì ít phổ biến hơn trong những trường phái Bắc Trung Hoa. Tại đó, tất cả sáu cặp phối hợp sẽ được áp dụng đồng thời, mặc dù hoàn toàn không có sự chi tiết, sự tinh luyện và sự gắn kết của nội gia quyền thuật Đạo gia: thái cực quyền, bát quái chưởng hay hình ý quyền.
THÔN THỔ (TUN TU) — Thuật ngữ võ thuật Thiếu Lâm chỉ việc hút vào và nhổ ra, vốn không đồng nhất với, nhưng ở cấp độ thô thiển thì mang những nét tương đồng với, phương pháp đóng/mở của các môn nội gia.
BẠCH MI (WHITE EYEBROW) — Một phong cách chiến đấu Nam Thiếu Lâm tay ngắn, mang tính ngoại/nội gia.
MIÊN QUYỀN (COTTON BOXING) — Một môn võ thuật ngoại/nội gia của miền Bắc Trung Hoa.
BÁT CỰC QUYỀN (BA JI CHUAN) — Một môn võ thuật ngoại/nội gia của miền Bắc Trung Hoa, tập trung vào những kỹ thuật tay.
8. Việc tích trữ và sau đó giải phóng khí trở thành cách thức chính yếu mà mọi kỹ thuật được thực hiện. Nói chung, trong những hệ thống Thiếu Lâm, quá trình này được gọi là nuốt và nhổ, hay trong tiếng Trung là tun tu (thôn thổ). Tại đây, mục tiêu không chỉ là thư giãn và bùng nổ ra bên ngoài (điều cũng được thực hiện trong võ thuật ngoại gia), mà còn là tích trữ năng lượng và giải phóng nó bằng toàn bộ thân thể một cách tức thời. Sự giải phóng năng lượng này có thể được thực hiện theo hai cách căn bản. Cách thứ nhất là thông qua một đòn đánh bằng lực, đơn lẻ và liên tục. Cách thứ hai là thông qua một đợt bùng nổ năng lượng lớn, bao gồm một loạt những đòn đánh hay những cái vỗ kiểu búa đóng cọc, kiểu roi da, kiểu rung động hay kiểu sóng, được phân bố đều đặn và lặp đi lặp lại nhiều lần.
9. Một giai đoạn cao cấp liên quan đến việc thao túng khí bên ngoài thân thể, trong hào quang bên ngoài. Kỹ thuật khí công này được thực hiện với hai mục đích: thứ nhất, để củng cố và quân bình khí của người tập; thứ hai, để dạy cách thao túng, kiểm soát hay phá rối khí trong hào quang bên ngoài của những đối thủ của bạn, nhằm làm suy yếu họ, dàn xếp họ cho một cuộc tấn công, hay nói chung là làm rối loạn các giác quan của họ.
Một số môn võ thuật ngoại/nội gia được biết đến nhiều hơn ở phương Tây bao gồm những hệ thống phương Nam, chẳng hạn như Bạch Hạc, Nam Đường Lang, Bạch Mi, Xà Quyền (Snake), Ngũ Mai, và những hệ thống phương Bắc, chẳng hạn như Miên Quyền, Bát Cực Quyền, và Bát Tiên Say (Eight Drunken Immortals). Còn có nhiều phong cách hơn nữa ở Trung Hoa, mà đa số chưa bao giờ tới được phương Tây. Những hệ thống này có khuynh hướng sử dụng những sự kết hợp khác nhau của các loại khí công Đạo gia, Phật gia, Thiếu Lâm và Côn Lôn (Kunlun). Indonesia cũng có nhiều phong cách ngoại/nội gia khác nhau trên nhiều hòn đảo của mình.
TIÊU ĐIỂM CỦA NỘI GIA QUYỀN THUẬT
Trong những môn nội gia quyền thuật thuần túy, một sự chuyển dịch bắt đầu xảy ra — vấn đề sức khỏe lâu dài và sự chữa lành mang tính trị liệu của thân thể cũng trở thành một sự cân nhắc chính yếu. Trong cả võ thuật ngoại gia lẫn võ thuật ngoại/nội gia, sức khỏe thường được xem xét dưới dạng sự cường tráng. Việc chữa lành những sự trục trặc của thân thể thường không được bao gồm trong những kỹ năng của những hình thức ngoại gia hay những hình thức kết hợp, và cũng chẳng nằm trong những ưu tiên của chúng. Động lực thúc đẩy trong mỗi thứ được tìm thấy ở việc tạo ra hay tinh luyện những kỹ thuật chiến đấu hữu dụng.
Những môn nội gia quyền thuật Đạo gia chính yếu của bát quái chưởng, thái cực quyền và hình ý quyền bắt nguồn từ truyền thống nội công (xem trang 62) của thiền định Đạo gia. Hệ thống này đã hình thành nên nền tảng căn bản cho y học cổ truyền Trung Hoa. Những người thiền định Đạo gia chủ yếu quan tâm đến sức khỏe và sự an lành tinh thần, chứ không phải đến chiến tranh hay tự vệ. Họ thường sống ở những nơi xa xôi không thể tới được, nơi chẳng có ai ở xung quanh để tấn công họ. Kỹ thuật khí của họ đã được kết hợp vào võ thuật Đạo gia
Bạch Hạc
Tôi đã đến thăm lại Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) tại một công viên ở Đài Trung vào mùa hè năm 1969 để được huấn luyện thêm, và điều đó thật tuyệt vời. Sau đó, tôi dành vài ngày ở Đài Bắc với một người bạn của mình. Tại khách sạn nơi chúng tôi trú ngụ, người bạn của tôi giới thiệu tôi với một “vị sư phụ trẻ” của thái cực quyền Dương gia. Vị sư phụ này rất mềm mại, giỏi đẩy thủ và có khả năng nhận những cú đánh bằng khuỷu tay toàn thân một cách dễ dàng. Quan trọng nhất, ông có thể thực hiện rất tốt kỹ thuật bạt căn (fa jin – phát kình) của thái cực quyền. Cả Vương Thụ Kim lẫn Kenichi Sawai, người mà tôi đã học hình ý quyền cùng ở Tokyo, đều có thể làm được phát kình, nhưng vào thời điểm đó vẫn chưa đặc biệt dạy kỹ thuật này cho tôi. Tôi đã tập một thời gian với vị sư phụ trẻ này và sau đó trở về Nhật Bản.
Mùa hè năm sau, tôi làm việc với Vương thêm một ít, rồi khi trở về Đài Bắc, tôi lại đi tìm vị sư phụ trẻ. Chúng tôi bắt đầu quen biết nhau phần nào, và tôi đã đến thăm gia đình của ông tại ngôi làng Tây Lo (Hsilo) ở miền trung Đài Loan, quê hương của nhiều môn võ thuật Đài Loan, trong đó có Bạch Hạc. Vị sư phụ trẻ này đã đề nghị với tôi một thỏa thuận: Ông sẽ dạy tôi những “bí mật” của phát kình (xem trang 110), nếu tôi đưa ông tới Tokyo và bảo trợ ông tại đó.
Giống như nhiều thanh niên ngây thơ khao khát một lối tắt dẫn tới tri thức và thành công, tôi
Bạch Hạc, tiếp theo
đã chộp lấy cơ hội ấy, với ý nghĩ rằng mình có thể đi vòng qua chủ nghĩa bảo thủ của các lão sư. Ông đến sống trong căn hộ nhỏ của tôi ở Nhật Bản vào mùa đông năm 1970. Có ông trong cuộc đời tôi không phải là điều dễ dàng, nhưng sau một thời gian, ông đã chỉ cho tôi cái “bí mật” ấy. Ông dạy tôi làm rung động hơi thở và thân thể một cách khá dữ dội và ồn ào, giống như một con sư tử đang gầm gừ, kéo giãn các gân, xoay eo giống như những chuyển động của một cái máy trộn thực phẩm, đánh vào chính thân thể của mình, rồi sau đó vỗ vỗ hai bàn tay trong không trung. Rồi ông trở về Đài Loan.
Quan điểm mang tính tạm thời của tôi lúc bấy giờ là tất cả những điều này thật tuyệt vời. Tôi đã tập luyện rất cực nhọc những “bí mật” ấy. Chúng có hiệu nghiệm. Tôi bắt đầu trở nên rất mềm mại, nhanh nhẹn và nhạy bén, và bắt đầu tích lũy được một ít phát kình, mặc dù là thứ mang tính chấn động, chứ không phải là thứ mượt mà vốn có thể đến từ thái cực quyền. Thật thú vị khi khám phá ra rằng chỉ những cái vỗ bằng cổ tay, bằng lòng bàn tay mở và bằng các ngón tay cũng có thể làm trật khớp và thậm chí bẻ gãy những cái xương dày hơn của thân thể. Phương pháp này chắc chắn đã giúp ích cho việc giao đấu của tôi. Nhược điểm là nó làm cho năng lượng của tôi trở nên giật cục, xuyên thủng và dễ nổ.
Năm sau, tôi trở về New York và làm rất nhiều đẩy thủ tại trường của Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) trong lúc ông đi vắng ở Đài Loan. Phương pháp “thái cực quyền” rung động này hoạt động tốt. Tuy nhiên, các thành viên của trường họ Trịnh đánh giá nó có hiệu quả nhưng “cứng.” Trở lại phương Đông, tôi mới khám phá ra
Bạch Hạc, tiếp theo
rằng điều mà vị sư phụ trẻ thực sự đã dạy cho tôi là một môn võ thuật bản địa của Đài Loan, cụ thể là Bạch Hạc Phúc Kiến,* đặc biệt là Tsung He (Tung Hạc) hay chi nhánh hạc rung động của phương pháp ấy. Môn võ này chuyên về việc đánh chìm khí xuống hạ đan điền và làm cho cái rễ trở nên rất nặng. Nó nhấn mạnh việc huấn luyện sự nhạy bén của đẩy thủ, đặc biệt là sự gập lại của các khớp. Cách đẩy thủ này có nhiều điểm tương đồng với đẩy thủ của thái cực quyền, mặc dù không có sự mượt mà hay tính biến hóa của kỹ thuật thái cực quyền. Khi tập nó, tôi luôn có thể có được một buổi tập tốt với những cá nhân đầy động lực, trong khi vẫn cải thiện được nhiều kỹ năng sơ cấp của thái cực quyền. Tôi thường thực hiện phương pháp này vào những buổi sáng trong nhiều công viên ở Đài Loan, những nơi luôn đầy ắp những người sẵn sàng tham gia.
Trong chuyến đi thứ hai của tôi tới Đài Loan, thật thú vị khi tìm thấy một trong những nguồn gốc của môn karate Goju (vốn đến từ tỉnh Phúc Kiến), một hình thức mà tôi đã từng tập khi còn trẻ. Chẳng hạn, thế đứng chính yếu của Bạch Hạc Phúc Kiến cũng chính là thế Tam Chiến (San Chin – Three-War).** Bạch Hạc cũng sử dụng nhiều kỹ thuật chạm vào mặt trong của cánh tay của Goju, tuy với một vốn tiết mục và một mức độ tinh xảo lớn hơn nhiều so với điều mà trước đây tôi từng thấy ở cả Nhật Bản lẫn Okinawa. Một phẩm chất mang tính thương hiệu của phong cách phương Nam này là sự tập trung vào những kỹ thuật hô hấp bằng lực tinh xảo, để phát triển năng lực hấp thu và chịu đựng một cách dễ dàng những đòn đánh vào thân thể. Chẳng hạn, một nữ võ sư Bạch Hạc, người đã biểu diễn môn võ này trong những giải đấu ở Đài Loan, từng cho phép những người đàn ông lực lưỡng đánh cô hết sức mạnh, mà không hề trải nghiệm bất kỳ sự khó chịu hay nỗi sợ hãi hiển nhiên nào. Nhiều năm sau, ở Bắc Kinh, Lưu Hùng Tiệp kể với tôi rằng, trong Giải Vô Địch Chiến Đấu Toàn Quốc Trung Hoa năm 1928 tiếp xúc toàn phần, ông đã thấy những người Bạch Hạc Phúc Kiến thường xuyên nhận những đòn chí mạng từ những người Thiếu Lâm mà không hề hấn gì, nhưng những người hình ý quyền với những đòn đánh “nội tại” đầy uy lực của họ lại có khả năng làm cho các thí sinh Bạch Hạc Phúc Kiến gục ngã.
*Mọi hình thức của Bạch Hạc đều bắt nguồn từ chùa Thiếu Lâm. Ngoài Bạch Hạc Phúc Kiến, hai trường phái lớn khác là Bạch Hạc Quảng Đông và Bạch Hạc phương Bắc. Mỗi trường phái có vài chi nhánh và nhóm phụ. Bạch Hạc Quảng Đông thường được gọi là Lạt Ma Phái (Lama Pai), và được cho là đã khởi nguyên ở Tây Tạng. Nó nổi tiếng về phong cách Bắc Thiếu Lâm trường quyền của mình, với những đòn đánh dài và những bước chân ngắn, nhanh. Bạch Hạc phương Bắc nổi tiếng về sự nhấn mạnh vào những đòn đánh duỗi dài, uể oải, mượt mà và vỗ cánh của loài chim, và/hoặc của Miên Chưởng (Cotton Palm – xem trang 97), hơn là về những đòn đánh rung động.
**Thái Tử (Tai Tzu), vốn cũng sử dụng một biến thể của thế Tam Chiến, là một phong cách Nam Thiếu Lâm khác từ tỉnh Phúc Kiến, và cũng là nguồn gốc của môn karate Uechi Ryu ở Okinawa.
SAN CHIN (TAM CHIẾN) — Một thế đứng kiểu chân bồ câu (pigeon-toed), thường được sử dụng kết hợp với những kỹ thuật hô hấp bằng lực.
Bạch Hạc, tiếp theo
Việc thủ đắc được một nền tảng về những kỹ thuật gập lại và rung động của Bạch Hạc là điều quý giá, như một sự chuẩn bị để học cách sử dụng trong chiến đấu những kỹ thuật gập lại và những kỹ thuật khuỷu tay, vai trong nội gia quyền thuật. Việc học Bạch Hạc đã giúp ích cho sự hiểu biết của tôi về những kỹ thuật chim trong hình ý quyền và bát quái chưởng, cùng những kỹ thuật khuỷu tay và vai trong thái cực quyền. Trong kinh nghiệm của tôi với những môn nội gia thuần túy, tôi nhận thấy rằng, mặc dù những nguyên lý bao quát là tương tự như phương pháp Bạch Hạc, những chi tiết lại tinh tế hơn nhiều, mượt mà hơn, toàn diện hơn và làm an tịnh tinh thần hơn.
Kỹ thuật ấy được đưa vào võ thuật Đạo gia như một nguồn sức mạnh cực kỳ hiệu quả, để được sử dụng trong thế giới thế tục. Sức khỏe, sự chữa lành, chẩn đoán trị liệu, và việc phát triển những trạng thái tâm trí thiền định sáng rõ là những mối quan tâm thiết yếu của võ thuật Đạo gia. Chiến đấu phần lớn được xem như một sản phẩm phụ hữu dụng.
Chỉ thị tối thượng của nội gia quyền thuật Đạo gia nhắm vào việc phát triển khí của bạn và làm an tịnh tâm trí của bạn. Theo con đường của Đạo gia, nếu một phương pháp đang làm tổn hại thân thể hay tâm trí của bạn, bất kể nó làm cho năng lực chiến đấu của bạn hiệu quả đến đâu, nó cũng không được theo đuổi. Làm tổn hại thân thể hay tâm trí của mình trong việc học để tự vệ, đối với các nhà Đạo gia, là một chiến lược sức khỏe và an lành lâu dài ngu xuẩn. Hàng triệu người ở Trung Hoa tập nội gia quyền thuật hoàn toàn vì mục đích duy trì sức khỏe phòng ngừa, chữa lành những chấn thương và bệnh tật, và như một hình thức thiền định cùng quản lý căng thẳng. Bản chất của những phương pháp sức khỏe này là chúng có thể được thực hiện theo kiểu noi gương người dẫn đầu, giống như thể dục nhịp điệu (aerobics), một khi những nguyên lý nội tại đã được học.
Những bậc thầy nội gia quyền thuật vốn nhấn mạnh khía cạnh thực dụng của chiến đấu được coi là những người chiến đấu giỏi nhất ở Trung Hoa. Nội gia quyền thuật được coi là tinh tế nhất, phức tạp nhất và tinh xảo nhất trong thế giới võ thuật Trung Hoa. Trong nội gia, tính tròn trịa của chuyển động trở nên quan trọng hơn hành động theo đường thẳng. Để trở thành một người theo nội gia quyền thuật thực sự hiệu quả, cần phải có sự làm việc cực nhọc, trí thông minh và lòng kiên trì. Nó cũng đòi hỏi rằng các cá nhân phải tự định hướng và có khả năng tự tập luyện một mình. Những người được thúc đẩy từ bên ngoài, vốn cần có sự hiện diện thể lý của những người dẫn đầu để noi theo thì mới có thể tập được các chuyển động, thông thường không thể dễ dàng thích nghi với những cấp độ cao hơn của sự tập luyện nội tại.
Khám phá bên trong thân thể và khí của tôi — Học cách đứng
Việc trải nghiệm khí kỳ diệu của Vương Thụ Kim vào mùa hè năm 1968 là điểm ngoặt dứt khoát đã thúc đẩy tôi cam kết một cách trọn vẹn với việc học cách của người Trung Hoa để phát triển khí cho võ thuật. Mặc dù tôi muốn ở lại Đài Loan vô thời hạn để học với Vương, những bổn phận phải tiếp tục tại đại học ở Tokyo đã ngăn cản điều đó. Trở lại Nhật Bản, tôi thường xuyên dò hỏi giới nội gia quyền thuật tại đó. Như số phận đã sắp đặt, cuộc tìm kiếm này đã dẫn tôi tới một con đường chính yếu để phát triển khí, và một nhận thức về cách khí vận hành bên trong thân thể. Tôi đã tìm thấy Trương Nghị Trung (Chang I Chung) và phương pháp đứng.
Ba ngày một tuần, Trương Nghị Trung (một trong những học trò chính của Vương) dạy thái cực quyền trong một phòng kho rộng lớn có sàn xi măng, nằm phía trên quán cà phê Botan ở khu Shibuya của Tokyo. Lớp học bắt đầu bằng việc đứng, một loạt bài khởi động khí công, rồi sau đó tiến tới việc thực hiện bài quyền kết hợp Trần Phán Lĩnh (Chen Pan Ling – xem trang 304), một bài quyền gậy, đẩy thủ, và những bài tập chiến đấu hai người (tay không và với một cây gậy). Trong vài tháng đầu, tôi làm những bài khởi động,* rồi sau đó là bài quyền, bỏ ra nhiều giờ mỗi ngày để tự tập bài quyền, cũng như tham dự những lớp võ thuật Nhật Bản khác.
TRẦN PHÁN LĨNH (CHEN PAN LING) — Một bài quyền kết hợp của thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng.
*Những bài khởi động này là một phần của một loạt bài khí công Đạo gia cổ xưa, mặc dù chúng thiếu đi thành phần cuối cùng là một động tác kéo giãn cột sống. Mặc dù lần đầu tiên tôi học những khía cạnh ngoại tại của những bài tập này từ Trương, nhưng phải mất mười tám năm nghiên cứu chéo gian nan mới thực sự hiểu được tất cả công phu nội tại của phương pháp luận Đạo gia ba ngàn năm tuổi này. Tôi đã học được những thành phần nội tại quan trọng nhất từ Lưu Hùng Tiệp ở Bắc Kinh. Nếu không có sự chỉ dạy của Lưu, tôi không bao giờ có thể khám phá ra cách hoàn tất công việc đã được bắt đầu với Trương. (Chú thích của người biên tập: Để biết thêm thông tin về loạt bài khí công này, xin xem B. K. Frantzis, Opening the Energy Gates of Your Body, North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993.)
Sau vài tháng, tôi hỏi vị thầy: “Nếu tôi thực sự muốn cải thiện thái cực quyền của mình, tôi nên làm gì?” Một tuần sau, ông trả lời: “Nếu anh thực sự muốn học thái cực quyền, trước tiên hãy nghiêm túc tập trung vào việc đứng, và chỉ sau đó mới vào những bài tập căn bản. Rồi anh sẽ sẵn sàng để học bài quyền thái cực quyền.” Sau đó ông nói, “Điều này đã được nói với nhiều học trò ở đây, những người mong muốn học thái cực quyền như một môn võ thuật, nhưng hiếm khi nào họ lắng nghe. Thế còn anh?”
Ngay sau đó, tôi nhận được cùng một lời khuyên ấy từ ba võ sư khác mà tôi rất kính trọng. Người thứ nhất là một người tên Kawashima, một người tập karate nghiêm túc và là một nghiên cứu sinh sau đại học, vốn là một trong những học trò giỏi hơn của Trương. Kawashima đã nghe theo lời khuyên về việc đứng, và
Khám phá bên trong thân thể và khí của tôi, tiếp theo
giải thích rằng Trương rất hào phóng khi nói cho tôi sự thật không hề tô vẽ. Người thứ hai là Kenichi Sawai, người đứng đầu trường Ý Quyền (I Chuan – xem trang 180) ở Nhật Bản, và người thứ ba là học trò cực kỳ uy lực của ông, Goto. Mỗi người đều nói với tôi rằng việc tập đứng sẽ dẫn tới sức mạnh nội tại thực sự. (Theo nhận định của tôi, họ tất nhiên đều có nó.) Tôi đã để tâm đến tất cả những lời khuyên này, và đi đến kết luận rằng đây là chuyện nghiêm túc. Vì tôi đã đi nửa vòng trái đất để học “cái thật sự” của võ thuật, tôi đã đảm nhận một sự tập luyện đứng thật nghiêm ngặt. Ngoài việc học bài quyền thái cực quyền, trong vài năm tiếp theo tôi đã đạt tới một điểm mà ở đó tôi có khả năng giữ chỉ riêng thế đứng tĩnh,* hoặc đứng và thực hiện toàn bộ loạt bài tập phát triển sức mạnh nội tại căn bản trong sáu giờ liên tục, không nghỉ.
*Nhiều năm sau, cùng một quá trình tĩnh tại này đã được các vị thầy gợi ý cho tôi đối với Tam Thể (San Ti – xem trang 190) trong hình ý quyền, và đối với nhiều thế khác nhau trong thái cực quyền. Mặc dù tôi đã không giữ những thế thái cực quyền một cách liên tục trong nhiều giờ, việc thực hành giữ chúng cho tới một giờ mỗi lần hiển nhiên là một trong những lý do cho sự thành công rốt cuộc của tôi trong việc có thể đánh chìm khí của mình.
Bởi vì tuân theo một cách tận tụy lời khuyên nguyên thủy của Trương về việc đứng, rốt cuộc, sau hai năm, tôi đã có thể vượt qua đa số những học trò cao cấp của ông, thậm chí cả một số người đã có hơn một thập kỷ kinh nghiệm về thái cực quyền. Suốt hai mươi năm tiếp theo, ở mọi nơi tại Trung Hoa, tôi đã được nghe sự trân trọng cao độ đối với khí công đứng này được bày tỏ qua một phổ rộng các bậc thầy thái cực quyền và hình ý quyền hàng đầu, mỗi người đều có những thủ tục ít nhiều song song về việc giữ các thế của thái cực quyền và hình ý quyền. Ở Bắc Kinh, những người theo thái cực quyền Trần gia cũng khuyên rằng, sau khi đã có thể thực hiện những chuyển động ở mức khá khá, người ta nên tập đứng, hai tay đưa lên trong không trung như thể đang ôm một cái cây, trong một thời gian dài. Họ nói rằng phương pháp này là một đòi hỏi để đạt được “công phu” nội tại chân thực; nghĩa là, sức mạnh và kỹ năng. Sự đồng thuận của nhiều bậc thầy nội gia mà tôi đã gặp ở Trung Hoa là “Cần phải đứng và làm những bài tập căn bản (được gọi là ji ben gung – cơ bản công, xem trang 84), nếu anh muốn những chuyển động của mình có sức mạnh chứ không bị rỗng tuếch.”
Nội gia quyền thuật có cả khía cạnh nội tại lẫn khía cạnh ngoại tại. Mục tiêu là hòa trộn hai điều ấy vào nhau một cách liền mạch thành một toàn thể được tích hợp. Những người theo nội gia quyền thuật coi những chuyển động thể lý của các kỹ thuật chiến đấu là ngoại tại. Theo đó, họ có thể sử dụng bất kỳ kỹ thuật chiến đấu nào từ vốn tiết mục của ngoại gia hay ngoại/nội gia, mặc dù thường theo một cách toàn thân tinh xảo hơn, tròn trịa hơn và được phối hợp nội tại hơn. Về bản chất, những người nội gia cảm thấy rằng các kỹ thuật chiến đấu giải quyết với người đối diện, chứ không phải với thân thể, tâm trí và tinh thần của chính người tập nội gia. Những điều căn bản của các thành phần nội tại của nội gia quyền thuật tập trung vào ý niệm (intention), khí và tâm thức (consciousness). Hiệu quả của những kỹ thuật chiến đấu của nội gia dựa trên sự sử dụng thận trọng sức mạnh nội tại, chứ không dựa trên những chuyển động và kỹ thuật của thân thể bên ngoài — điều mà những người theo nội gia cũng làm cực kỳ giỏi. Tâm trí hiển nhiên được ban cho ưu thế ở trên kỹ thuật thể lý.
Tốc độ, các phản xạ, sức mạnh và sức bền được hoàn thành bằng cách gia tăng kho dự trữ khí của bạn, bằng cách làm cho hệ thần kinh trung ương của bạn hiệu suất hơn, bằng cách chuyển hóa những mô thể lý của thân thể bạn (đặc biệt là các dây thần kinh), và bằng cách phát triển một cấp độ cao của sự định tâm không dính mắc và sự sáng rõ tinh thần, thông qua việc thay đổi một cách tinh tế và nạp siêu năng lượng cho những cấu trúc nội tại của bạn. Bạn trở nên có khả năng biểu hiện những năng lực thực hiện bên ngoài, chẳng hạn như những kỹ năng thể thao và chiến đấu. Trong số những sự cân nhắc then chốt của nội gia quyền thuật là:
1. Sự sử dụng trọn vẹn 16 thành phần căn bản của hệ thống nội công Đạo gia (xem trang 62), bao gồm những sự sắp xếp thân thể chính xác để ngăn cho dòng chảy của khí khỏi bị tắc nghẽn hay bị tiêu tán: Việc thực hành những nguyên lý này mang lại những sự sắp xếp cơ sinh học hiệu quả một cách đặc biệt.
2. Sự chuyển hóa mọi hình thức của khí thành những kỹ thuật chiến đấu, chữa lành hay thiền định vốn mang tính chức năng và đầy uy lực.
3. Một sự sử dụng hoàn toàn được mở rộng và mang tính chức năng của nguyên lý tích hợp thân thể sáu cặp phối hợp (xem trang 61). Mục tiêu là làm cho toàn bộ thân thể thể lý, khí và tâm trí di chuyển như một tế bào được tích hợp hoàn toàn, không có những bộ phận chuyển động tách biệt. Hai câu nói cực kỳ quan trọng trong các tác phẩm cổ điển của thái cực quyền minh họa cho điểm này. Đó là: “Từ thế này sang thế khác, sức mạnh nội tại vẫn không đứt đoạn,” và “Khi một phần di chuyển, tất cả các phần đều di chuyển, và khi một phần dừng lại, tất cả các phần đều dừng lại.”
4. Những phương pháp chính xác về cách sử dụng ý niệm và những cấp độ sâu nhất của tâm trí con người (được quan niệm như “tâm/tâm ý” [heart/mind] trong tiếng Trung và tiếng Nhật) để di chuyển khí, nhằm tác động đến những cảm xúc và tâm thức của một cá nhân. Làm thế nào để hòa nhập những kỹ thuật thiền định Đạo gia về sự tĩnh lặng và những trạng thái tâm thức cao hơn vào những phương pháp khí công đứng, chuyển động, ngồi và nằm, cùng những bài quyền võ thuật.
Để hiểu một cách đầy đủ nội gia quyền thuật là gì từ góc nhìn của chiến đấu, cần phải nhận ra rằng chúng kết hợp hầu như tất cả
những kỹ thuật chiến đấu của các môn ngoại gia, trong khi đồng thời phủ lên chúng những phẩm chất nội tại riêng của mình. Chúng bổ sung thêm những phương pháp luận và những chiến lược chiến đấu độc đáo, dựa trên lý thuyết âm/dương và Kinh Dịch (I Ching). Về mặt lịch sử, những người đã muốn nâng cấp năng lực chiến đấu của mình trong võ thuật ngoại gia và ngoại/nội gia đã sử dụng khí công của những môn nội gia quyền thuật thuần túy để gia tăng những năng lực đã có của mình.
Mỗi hệ thống nội gia riêng biệt đều có những phân nhánh chuyên sâu vào những khía cạnh nhất định của chiến đấu, và tất cả đều chia sẻ một sự nhấn mạnh vào sức khỏe và sự an lành. Một số phong cách và phân nhánh thì hiếm hoi, một số thì phổ biến. Sự phổ biến của một hệ thống nhất định không biểu thị sự ưu việt hay sự kém cỏi về mặt võ thuật của nó. Những phong cách mà người ta có khả năng gặp ở phương Tây là thái cực quyền với những phong cách Dương, Ngô (Wu), Trần (Chen), Hác (Hao), Tôn (Sun) và Bài Quyền Kết Hợp (Combination Form); bát quái chưởng với những phong cách Doãn Phúc (Yin Fu) và Trình Đình Hoa (Cheng Ting Hua); hình ý quyền với những phong cách Hà Bắc (Hebei), Sơn Tây (Shansi), Hồi giáo (Muslim), Tâm Ý (Hsin I), Ý Quyền (I Chuan) hay Đại Thành Quyền (Da Cheng Chuan), cũng như Lục Hợp Bát Pháp (Liu He Ba Fa). Tất cả đều kết hợp khái niệm căn bản về khí.
Khí và thực tại của tự vệ
Trong giai đoạn đầu của việc huấn luyện nội gia quyền thuật, học trò thường không có nhiều khí. Chẳng hạn, những phương pháp bát quái sơ khởi liên quan đến việc phát triển một cơ chế thân thể và sự phối hợp tốt, trong khi học cách kéo dài và xoắn thân thể. Cơ chế thân thể của nội gia quyền thuật tinh xảo hơn một cách đáng kể so với cơ chế thân thể của võ thuật ngoại gia. Chúng dựa trên sự chuyển động và những vòng xoắn của thân thể vốn được kết nối cả bên trong lẫn bên ngoài, sử dụng sự mở và đóng, sự nén và sự giãn nở của những chất lỏng bên trong thân thể để giải phóng lực. Khi những học trò trở nên cao cấp hơn, ngay cả khi họ rất khỏe, họ bắt đầu nương tựa ít hơn vào sức mạnh và nương tựa nhiều hơn vào khí đang chảy xuyên qua hệ thống. Khí sau đó ban cho họ sức mạnh và di chuyển thân thể của họ. Điều đó giống như việc đi từ một chiếc máy vi tính của thập niên 1950, mà phần cứng của nó chiếm trọn cả một căn phòng nhưng lại có rất ít sức mạnh, sang một chiếc máy vi tính xách tay hiện đại, mà phần cứng của nó vừa vặn trong một chiếc cặp nhỏ, nhưng lại có sức mạnh gấp nhiều lần mô hình của thập niên 1950.
Những người mới bắt đầu thường có ý tưởng sai lầm rằng chỉ riêng khí của họ sẽ đủ để đánh bại một đối thủ, mà không cần phải tinh thông những kỹ năng đánh, đá, quăng và khóa khớp. Điều này giống như việc đặt cái xe trước con ngựa.
Mục tiêu tối hậu trong bát quái, chẳng hạn, là sử dụng khí thuần túy như là sức mạnh để đánh bại một đối thủ. Để làm được điều này, cần phải có sức mạnh nội tại, được gọi là nei jin (nội kình) trong tiếng Trung. Điều này được thực hiện khi khí của thân thể bạn được điều chỉnh tới một tần số cụ thể, tần số ấy thống nhất thân thể và cho phép bạn phóng chiếu một lượng sức mạnh nội tại to lớn khủng khiếp. Tuy nhiên, bạn phải ở một cấp độ rất cao mới làm được điều này. Lúc ban đầu, việc huấn luyện mang tính thể lý nhiều hơn rất nhiều, và phải mất nhiều năm trước khi nó trở thành phi thể lý. Không chỉ bạn phải gia tăng
THÁI CỰC QUYỀN DƯƠNG GIA (YANG TAI CHI) — Hình thức thái cực quyền phổ biến nhất hiện nay.
THÁI CỰC QUYỀN TRẦN GIA (CHEN TAI CHI) — Hình thức nguyên thủy của thái cực quyền.
THÁI CỰC QUYỀN HÁC GIA (HAO TAI CHI) — Một phong cách hiếm hoi dựa trên những chuyển động nội tại khung nhỏ (small-frame).
THÁI CỰC QUYỀN TÔN GIA (SUN TAI CHI) — Pha trộn phong cách Hác gia với hình ý quyền và bát quái chưởng.
THÁI CỰC QUYỀN BÀI KẾT HỢP (COMBINATION FORM TAI CHI) — Pha trộn nhiều phong cách của thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng lại với nhau.
BÁT QUÁI DOÃN PHÚC (YIN FU BA GUA) — Sử dụng Liễu Diệp Chưởng (Willow Leaf Palm – Chưởng Lá Liễu).
BÁT QUÁI TRÌNH ĐÌNH HOA (CHENG TING HUA BA GUA) — Sử dụng Long Chưởng (Dragon Palm – Chưởng Rồng).
HÌNH Ý HÀ BẮC (HEBEI HSING-I) — Pha trộn hình ý quyền với bát quái chưởng.
HÌNH Ý SƠN TÂY (SHANSI HSING-I) — Hình thức nguyên thủy của hình ý quyền.
HÌNH Ý HỒI GIÁO (MUSLIM HSING-I) — Một phong cách đặc thù của hình ý quyền.
TÂM Ý HÌNH Ý (HSIN-I HSING-I) — Quyền Tâm/Ý (heart-mind boxing).
Ý QUYỀN HÌNH Ý (I CHUAN HSING-I) — Một phong cách dựa trên tám thế đứng.
ĐẠI THÀNH QUYỀN (DA CHENG CHUAN) — Một tên gọi khác của Ý Quyền (I Chuan).
LỤC HỢP BÁT PHÁP (LIU HE BA FA) — Một môn nội gia quyền thuật kết hợp, không phải là thái cực quyền.
NỘI KÌNH (NEI JIN) — Sức mạnh nội tại thống nhất khí của toàn bộ thân thể.
KHÍ CÔNG THIẾT Y (IRON SHIRT CHI GUNG) — Kỹ thuật mang lại cho người tập khả năng hấp thu những đòn đánh thể lý nặng nề mà không đau đớn hay thương tích, tựa như thể bạn đang khoác trên mình một chiếc áo bảo vệ bằng sắt.
PHÁCH ĐẢ (PAI DA) — Một phương pháp của Thiếu Lâm để phát triển khả năng hấp thu những đòn đánh mà không hề hấn gì.
…khí của mình, bạn cũng phải học những kỹ thuật thân thể. Điều này đòi hỏi ít nhất cũng nhiều sự phối hợp thân thể như những gì được đòi hỏi trong võ thuật ngoại gia.
Lý do của sự nhấn mạnh vào bát quái trong cuốn sách này
Mặc dù cuốn sách này nói về tất cả các môn võ thuật nội gia của Trung Hoa, một sự nhấn mạnh đặc biệt vẫn được đặt vào bát quái. Tại sao lại như vậy, khi mà môn thái cực quyền lại phổ biến hơn nhiều và được tập luyện rộng rãi hơn rất nhiều? Có một số lý do chính đáng. Thứ nhất, bát quái rất có thể là môn võ thuật thuần túy Đạo gia duy nhất.* Với tư cách đó, nó chứa đựng một kho tàng lớn lao những thông tin võ thuật nguyên thủy chưa hề bị thời gian thay đổi hay pha tạp. Thứ hai, bát quái được các bậc thầy nội gia hết sức đáng kính xem là môn tinh vi nhất về mặt kỹ thuật và hữu hiệu nhất trong các môn võ thuật nội gia. Thứ ba, bát quái bao gồm tất cả những kỹ thuật xoay vòng và xoắn ốc cả bên trong lẫn bên ngoài — những thứ vốn hoàn toàn vắng mặt hay chỉ hiện diện một phần trong các môn võ thuật đường thẳng. Thứ tư, bát quái là một trong những tiền thân rõ rệt của aikido, môn võ thuật nội gia chủ yếu của Nhật Bản, đồng thời bao gồm cả những pháp môn dưỡng sinh và năng lượng hiển nhiên vốn thường bị thiếu vắng trong aikido. Thứ năm, bát quái có sự duyên dáng và vẻ đẹp của những môn nội gia khác, nhưng các động tác của nó được thực hiện ở tốc độ bình thường và/hoặc tốc độ nhanh mang tính aerobic, chứ không phải trong chuyển động chậm chạp của thái cực quyền — điều mà nhiều người theo võ thuật tránh né. Thứ sáu, bát quái bao gồm trọn vẹn truyền thống tâm linh của võ thuật, điều vốn được tìm thấy ít hơn nhiều trong thái cực quyền và hình ý quyền. Thứ bảy, bát quái thỏa mãn nhiều lý do khiến người ta tập thái cực quyền, nhưng với một nhận thức nội tại được nâng cao và trong một hình thức thư giãn năng động hơn rất nhiều.
*Mặc dù vị tổ sư của bát quái cận đại, Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan), đã từng học quyền La Hán (Lohan Boxing) trước khi học bát quái, nhưng bản thân môn bát quái của ông lại thuần túy mang tính Đạo gia trong mọi phương diện nội tại của nó.
Khí Công Thiết Y
Khi bạn và một người bạn tập cùng làm việc với những ứng dụng chiến đấu nội gia hai người của võ thuật thông qua đối luyện và các bài tập dính tay, kể cả Nhu Thủ (Rou Shou, xem tr. 235), thì những gì khởi đầu chỉ là những cú gõ nhẹ có thể tiến hóa thành những đòn đánh mạnh, hoặc do tình cờ, hoặc do sự leo thang lực lượng được hai bên thỏa thuận với nhau. Việc vượt qua một mức độ leo thang nhất định có thể trở nên nguy hiểm.
Vào lúc này, bạn có thể muốn bắt đầu học những kỹ thuật Thiết Y, vốn mang lại cho bạn khả năng hấp thu những đòn đánh mạnh mẽ mà không nguy hiểm hay khổ sở. Một số người theo bát quái, chẳng hạn Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin, xem tr. 16), nổi tiếng chỉ nhờ đứng yên tại chỗ và để cho đối thủ của mình đánh, trong khi từ đầu đến cuối vẫn biết rõ rằng những đòn đánh ấy sẽ chẳng có tác dụng gì. Những kỹ thuật Thiết Y của Thiếu Lâm, được gọi là phách đả (pai da), bao gồm việc dùng những chiếc gậy nhỏ, những thanh sắt, hay những chiếc vớ đựng đầy những vật cứng chẳng hạn như đá sỏi hay bi ve, đập lên thân thể theo những mô thức có hệ thống. Khí Công Thiết Y của bát quái không sử dụng bất kỳ vật thể bên ngoài nào để đập lên thân thể nhằm phát triển khả năng hấp thu năng lượng. Trái lại, những pháp môn năng lượng nội tại được thực hiện cả bên trong bài quyền lẫn như những bộ nội công riêng biệt đều đã đủ cho mục đích này. Trong bát quái, bạn có thể tập bằng cách dùng cánh tay của mình đập vào thân thể, hoặc bằng cách điều khiển các nội tạng để chuyển hóa những áp lực nội tại của mình, đưa khí đến những vùng cụ thể của cơ thể để bảo vệ.
Không phải là một ý hay khi những người theo võ thuật học Thiết Y vào giai đoạn sớm của quá trình huấn luyện, bởi vì điều đó có thể cản trở sự phát triển độ nhạy cảm. Như bạn có thể hình dung, nếu người tập có thể hấp thu những đòn đánh mạnh mẽ mà không hề hấn gì, họ sẽ chẳng mấy khi có khuynh hướng chú tâm đến độ nhạy cảm và chuyển động. Thái độ ấy có thể tỏ ra vô cùng bất lợi khi những vũ khí sắc bén có khả năng cắt chém xuất hiện trên sân khấu. Sự sao nhãng đối với độ nhạy cảm về lâu về dài cũng có thể làm suy giảm „sự sống động” bên trong thân thể bạn. Những người thực hành nội gia xem phẩm chất của sự sống động — tức sự đáp ứng với môi trường chung quanh mình — là một điều hệ trọng. Sẽ là một sai lầm lớn lao nếu bạn để cho cái ngã của mình từ chối độ nhạy cảm này chỉ để bạn có thể cảm thấy tự hào về việc „chịu được cú đánh tốt nhất của đối thủ.”
Huấn luyện binh khí
Những binh khí truyền thống của võ thuật nội gia cũng chính là bốn binh khí chính được sử dụng trong mọi môn võ thuật Trung Hoa: kiếm thẳng lưỡi hai cạnh, đao/dao, côn (gậy), và thương (giáo). Môn nội gia bát quái không hề phân biệt giữa các pháp môn của kiếm thẳng và của đao, điều vốn khá kỳ lạ trong thế giới võ thuật. Sự thiếu phân biệt này là một hệ quả của bộ pháp chụm mũi chân vào trong, xoay mũi chân ra ngoài, xoay người tròn, cùng những chuyển động hình cầu độc đáo của pháp môn Đi Vòng Tròn trong bát quái. Khi những chuyển động của bát quái (trong phương pháp luận hậu thiên của nó — xem tr. 212) được thực hiện với bộ pháp giống với bộ pháp của thái cực quyền hay hình ý quyền hơn, thì những phương pháp hoàn toàn khác biệt để tập luyện từng thứ binh khí mới hiển nhiên phân biệt với nhau. Tuy nhiên, trong những phương pháp tiền thiên của bát quái, do những dòng xoáy hình cung tạo nên những chuyển động hình cầu của binh khí — đâm, đập, chém, gạt và bạt — các hành động có khuynh hướng tuôn chảy vào và ra khỏi chính chúng, không cho phép người ta nhận diện được những hình dạng hay cách sử dụng riêng biệt, điều mà việc vận hành tự nhiên của mỗi thứ binh khí cụ thể dường như đòi hỏi. Thái cực quyền chuyên sâu về kiếm thẳng, thứ đòi hỏi nhiều kỹ năng và độ chính xác hơn. Thái cực quyền phân biệt rõ ràng giữa kỹ thuật kiếm thẳng và kỹ thuật đao. Đao được xem là một thứ binh khí chặt chém, nơi sức mạnh và lực lượng được tính đến, và lý tưởng để chiến đấu với nhiều người. Kiếm thẳng đòi hỏi nhiều độ nhạy cảm và những chuyển động vòng tròn hơn. Nó hiển nhiên ưu việt trong những cuộc đấu tay đôi, nhưng lại không giỏi bằng trong việc chiến đấu với nhiều đối thủ, chẳng hạn những người lính trên chiến trường hay một toán cướp. Môn hình ý quyền tránh dùng kiếm thẳng và chuyên sâu vào một loại đao giống như thanh trường kiếm samurai của Nhật Bản được gọi là katana.
KIẾM THẲNG LƯỠI HAI CẠNH — Thanh kiếm căn bản được dùng cho chiến đấu một đối một trong võ thuật Trung Hoa. Thanh kiếm này có thể chém như nhau bằng cả hai cạnh và có một mũi nhọn có thể đâm thủng da thịt.
ĐAO/KNIFE — Thứ binh khí lưỡi cong chính yếu được dùng trong võ thuật Trung Hoa để chiến đấu với nhiều đối thủ.
CÔN/POLE — Một thứ binh khí không cắt chính yếu của võ thuật Trung Hoa, thường được làm bằng gỗ, nhưng cũng có thể được làm bằng kim loại.
KATANA — Một thanh kiếm samurai lưỡi cong của Nhật Bản.
Hình ý quyền cũng chuyên sâu về thương, và ở một mức độ ít hơn, về côn. Thái cực quyền làm việc chủ yếu với thương, và thực hiện rất nhiều bài tập đẩy tay (Push Hands) với chúng. Bản chất của sự xoay trở và vặn xoắn trong Đi Vòng Tròn của bát quái làm giảm thiểu sự khác biệt giữa thương và côn, và cả hai được tập luyện về cơ bản theo cùng một cách thức.
Thương, „vua của các binh khí dài” trong võ thuật truyền thống Trung Hoa (thương dài khoảng chín bộ) và côn (dài khoảng sáu bộ) chia sẻ với nhau nhiều kỹ thuật giống nhau và một số kỹ thuật khác nhau liên hệ đến sự khác biệt trong những chuyển động vòng cung của chúng. Nói chung, thương được dùng để chém hoặc đâm, còn côn để đâm và đập. Những cây thương tốt nhất được làm từ một loại gỗ đặc biệt gọi là bạch lạp cán (bai la gan), mọc ở tỉnh Sơn Đông. Những cây thương làm bằng loại gỗ này dày và dẻo, có thể uốn vút linh hoạt trong một vòng cung lên đến ba bộ nếu bị gạt chặn, đó là một khoảng cách đủ để bẻ gãy chân hay đầu của một người (nếu có gắn mũi thương, thì tác động xẻ rạch của nó có thể gây ra những vết thương trí mạng). Nhờ độ dẻo của loại gỗ này, đầu của một cây thương có thể làm mũi nhọn của nó vút nhanh hơn bất kỳ con rắn nào có thể cắn. Gỗ bạch lạp cán, vì cực kỳ dẻo, thường có thể uốn cong trước một nhát chém toàn lực của kiếm mà không bị hư hại.
Mặc dù sự huấn luyện binh khí chủ yếu luôn xoay quanh bốn thứ binh khí chính, mỗi môn võ thuật nội gia đều có những binh khí phụ của riêng mình. Chẳng hạn, thái cực quyền Trần gia có một mớ binh khí truyền thống dài ngắn khiến người ta rối rắm. Mặc dù những thứ này được bảo tồn tại làng Trần gia, hầu như chẳng còn ai ngày nay tập luyện sử dụng chúng bên ngoài ngôi làng đó. Trái lại, trong hình ý quyền, người ta thường tập với những con dao găm (daggers), thứ hiển nhiên vẫn còn thích hợp. Bát quái có những binh khí khác, chẳng hạn như những cây kim gắn trên một chiếc vòng, roi, và lộc giác đao (deer horn knives) trông giống như hai lưỡi cong được ghép lại với nhau, hướng về hai phía đối nghịch với một khoảng trống ở giữa nơi người ta cầm binh khí. Đó là những binh khí tiện lợi có thể mang trong thắt lưng. Cách sử dụng của chúng phù hợp một cách tốt đẹp với những chuyển động xoắn ốc của bát quái. Những binh khí cổ xưa này tuyệt vời cho việc huấn luyện tâm và thân, và chúng thêm hương vị cùng sự biến hóa cho việc tập luyện võ thuật hiện đại. Mặc dù chúng đã là những thứ tối tân vào thời của mình, giá trị thực dụng của chúng suy giảm đáng kể trong thời hiện đại khi phải đối mặt với hỏa lực có được từ những khẩu súng giấu kín.
Những năng lực mà một người theo võ thuật tạo ra khi sử dụng các pháp môn tay không thì không giống với những năng lực được tạo ra khi sử dụng binh khí kim loại. Nói chung, khi bạn nghiên cứu bài quyền binh khí của võ thuật Trung Hoa ngày nay, bạn sẽ được bảo rằng mục đích của sự huấn luyện như vậy là để dạy bạn có thể đưa khí của mình xuyên qua binh khí.* Một số người thuộc môn phái bát quái sẽ xem nhận định này chỉ đúng một phần. Họ tin rằng khi một chiến binh sử dụng một binh khí kim loại, việc sử dụng ấy làm thay đổi các tần số của những gì mà các nhà Đạo gia đã nhận diện là tám mức năng lượng nguyên thủy nơi con người (xem tr. 76). Hệ quả là, cách thức những mức năng lượng này tương tác bên trong cơ thể cũng bị thay đổi. Trong bát quái, các pháp môn binh khí được thực hiện thuần túy để phát triển sát khí (sha chi), tức năng lượng của sự giết chóc, bất luận đó là sự giết chóc một con người khác, một con vật, hay một nội ma trong tâm trí.
*Nhận định này ít nhiều đúng đối với việc sử dụng những binh khí bằng gỗ, nhưng không đúng đối với những binh khí làm bằng kim loại.
Sát khí — tức việc tập luyện binh khí kim loại — làm cho một người trở nên rất mạnh về mặt thể lý, không chỉ bởi vì một thứ binh khí nặng giống như tạ tự do được sử dụng trong quá trình tập luyện thể chất, mà còn thông qua một phản ứng luyện kim giữa kim loại của binh khí và năng lượng của con người đang vận dụng nó.
Về mặt thực tế, nếu bạn có thể làm việc tốt với những kỹ thuật tay không, thì việc làm việc với binh khí chẳng khó khăn gì cho cam. Một lối suy nghĩ cho rằng, nếu bạn đang tìm kiếm những lợi ích về sức khỏe và tâm linh, thì không cần phải tập luyện binh khí. Tuy nhiên, nếu bạn muốn trở thành một người theo võ thuật trọn vẹn, thì những binh khí truyền thống này nên được nghiên cứu. Những người theo thái cực quyền theo truyền thống tập luyện với những thanh kiếm đặc biệt nặng để phát triển khí của họ, hầu có thể xử lý những binh khí đòi hỏi một sức mạnh thể lý đáng kể bằng sự mềm mỏng, thư giãn và khéo léo, cũng như tập luyện với những thanh kiếm gỗ để phát triển sự khinh linh và độ nhạy cảm phi thường. Những người theo hình ý quyền sử dụng một thanh đại đao chặt chém cực kỳ nặng để huấn luyện sức mạnh. Những người theo bát quái thường làm việc với những binh khí quá khổ hay đặc biệt nặng, nặng từ bốn đến hai mươi cân Anh, để phát triển khí của họ đến mức tối đa. Trong chiến trận, những người thực hành của mọi môn nội gia đều dùng những thanh kiếm có trọng lượng trung bình với một trọng tâm được điều chỉnh theo cá nhân, nhằm đạt được điểm trung dung tốt nhất giữa tốc độ, sức mạnh của kim loại và độ nhạy cảm khi cầm nắm.
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) — Chậm và nhanh
Một trong những người tại trường aikido mà tôi theo học ở New York sau những giờ học trung học là một thầy dạy judo tên là Lou Klinesmith. Biết niềm đam mê của tôi đối với các môn võ chiến đấu, một ngày nọ Lou hỏi tôi có hứng thú tìm hiểu về một loại cú đấm „mềm” mới lạ nào không. Tò mò bị khơi dậy, tôi nói: „Chắc chắn rồi, tại sao không?” Anh ta bèn đặt tay cách thân thể tôi độ một phân và, trong một cách thế hoàn toàn thư giãn, cho tôi một cú gõ nhẹ. Thoạt tiên, tôi có cảm giác như thể anh ta chẳng hề đánh tôi chút nào, rồi trong khoảng nửa giây sau, ruột gan tôi như nổ tung. Cơn đau khiến tôi gập người lại. Sau khi Lou xoa bóp thân thể tôi trong vài giây, tôi hồi phục hoàn toàn. Anh ta bèn bắt đầu kể cho tôi nghe về thái cực quyền và về thầy của anh, một vị thầy sáu mươi tuổi tên là Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching). Anh gợi ý tôi nên tìm hiểu công việc của vị ấy. Vào thời điểm đó — giữa thập niên sáu mươi — Trịnh Mạn Thanh đang dạy tại Trung tâm Văn hóa Trung Hoa (Chinese Cultural Center) ở khu Thượng Đông (Upper East Side) của Manhattan. Vì địa điểm này chỉ cách nơi tôi ở chừng nửa dặm, nên việc đến xem khá dễ dàng.
Trung tâm có những ô cửa sổ lớn mà qua đó bạn có thể nhìn thấy lớp học từ bên ngoài. Chuyển động chậm chạp của thái cực quyền đối với tôi trông rất kỳ dị, và tôi đã đi ngang qua nơi đó vài lần trước khi cuối cùng bước vào.
Trịnh đã giới thiệu cho tôi bài quyền thái cực nhưng không hề thúc ép tôi hay làm bất cứ điều gì để „chào hàng” tôi về giá trị võ thuật của thái cực quyền như Lou đã làm, và tôi thì quá rụt rè để hỏi về điều đó. Trịnh hiển nhiên là một người theo võ thuật rất điêu luyện, cũng như những vị thầy khác ở New York vào thời ấy. Tuy nhiên, hình như Trịnh không dạy những kỹ thuật chiến đấu thực dụng như đấm, đá, quăng té và khóa khớp. Mục tiêu của riêng tôi thì đơn giản. Tôi là một thiếu niên năng động, khỏe mạnh, chưa từng biết đến tác động của bệnh tật trong đời mình, và chỉ muốn học đánh nhau. Đối với tôi, Trịnh không dạy bất cứ điều gì liên quan đến kỹ thuật võ thuật, nên tôi rời trường của ông sau hai tuần, quay trở lại với „những thứ cũ” của mình, tức các môn võ chiến đấu của Nhật Bản (karate, judo, aikido, và iaido, hay kiếm samurai). Là một thiếu niên thiển cận, tôi không có khả năng nắm bắt được tiềm năng quý giá của thái cực quyền đối với sức khỏe, tự vệ, hay sự an lành nói chung cho đến khi tôi lớn tuổi hơn nhiều và đang học đại học.
Tuy nhiên, việc được tiếp xúc với Trịnh trong hai tuần ấy lại có giá trị một cách phi thường. Khi tôi nghiên cứu Trịnh Mạn Thanh thực hiện các động tác của mình, sự chú ý của tôi luôn bị thu hút vào cú đá sen hồng (lotus kick) trong chuyển động chậm ở phần cuối của bài thái cực quyền Dương gia ngắn của ông. Một lần trong lớp, Trịnh thị phạm cú đá sen bằng cách thực hiện nó cực kỳ nhanh. Tôi bỗng tỉnh táo hẳn lên. Rồi tôi tập trung mãnh liệt vào cách ông thực thi cú đá sen, thử nghiệm nó cùng những cú đá chậm khác ở nhà. Bốn điều trở nên hiển nhiên ngay lập tức đối với tôi về việc thực hiện những cú đá trong chuyển động chậm. Thứ nhất, chúng phát triển sự thăng bằng. Thứ hai, chúng kéo giãn những bắp thịt nhỏ của tôi nhiều hơn là những cú đá nhanh. Thứ ba, chúng phối hợp thân thể và gia tăng nhận thức của tôi về mỗi lỗi lầm và khuyết điểm tí hon trong cú đá của mình — một sự hiểu biết mà bạn thực sự cần đến nếu bạn muốn cải thiện. Thứ tư, nếu bạn bắt đầu thực hiện những cú đá cao trong chuyển động chậm, chúng khó thực thi hơn nhiều so với những cú đá nhanh.
Tôi bắt đầu áp dụng phương pháp chuyển động chậm vào những cú đá ngang cao (high side kicks) của karate. (Chẳng ai thực hiện những cú đá karate này trong chuyển động chậm vào giữa thập niên 1960 ở New York.) Sau khi rời Trịnh, tôi đã đạt đến một điểm trong hai năm tiếp theo, nơi tôi có thể thực hiện mười cú đá ngang cao trong chuyển động chậm có kiểm soát liên tiếp nhau, mà không cần đặt chân xuống. Phương pháp chuyển động chậm này là một thành phần then chốt trong việc phát triển kỹ thuật chiến đấu karate thi đấu xuất sắc nhất của tôi — một cú đá ngang cao — thứ đã giúp tôi thắng nhiều cuộc thi đấu. Tôi hoàn toàn ghi công sự giảng dạy và cảm hứng của Trịnh Mạn Thanh cho cách tiếp cận này. Không đời nào tôi có thể tự mình tìm ra được điều đó.
Tất cả các môn võ thuật nội gia đều có những kỹ thuật đấm. Hình ý quyền dùng chúng nhiều nhất, bát quái ít nhất, với thái cực quyền ở đâu đó khoảng giữa. Độc đáo cho bát quái là phương pháp quyền đấm và chém xoắn ốc đa hướng. Ở đây, Liu Hung Chieh đang tinh chỉnh kỹ thuật của tác giả.
CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT — VÕ THUẬT NỘI GIA CỦA THÁI CỰC QUYỀN, HÌNH Ý QUYỀN VÀ BÁT QUÁI CHƯỞNG
NĂM ĐẶC ĐIỂM CỦA VÕ THUẬT NỘI GIA
Có năm yếu tố quan trọng trong việc thực hành bát quái, thái cực quyền, và những môn nghệ thuật nội công (nei gung, xem tr. 62) khác khiến chúng trở nên độc đáo trong thế giới võ thuật.
1. Mọi chuyển động đều có một năng lực xoắn ốc hay vặn xoắn liên quan đến tất cả các bộ phận của cơ thể, kể cả khoang bụng, các nội tạng, tủy xương, gân, dây chằng, bắp thịt, và những lớp màng cơ (fascia) sâu nhất. Đôi khi những hành động vặn xoắn này hiển nhiên hơn ở bên ngoài và đôi khi rất tinh tế, và một số xảy ra sâu bên trong cơ thể với những dấu hiệu thị giác tối thiểu.
2. Tất cả các môn võ thuật nội gia đều nhấn mạnh đến lục hợp (liu he), tức sáu sự kết hợp của cơ thể. Về mặt thể lý, điều này chỉ về ba sự kết hợp bên ngoài: khuỷu tay với đầu gối, tay với bàn chân, và vai với hông. Nó hàm ý rằng các chi ở bên ngoài phải phối hợp với nhau thông qua trung tâm của cơ thể. Trong ba sự kết hợp bên trong, hay nội tam hợp (nei san he), thì ý niệm, năng lượng, và tâm thức phải phối hợp với nhau cũng như với thân thể bên ngoài.
3. Các chuyển động nhấn mạnh và sử dụng tất cả các hệ thống của cơ thể được nối kết với cột sống. Tiến trình này tối đa hóa sức mạnh và sự dẻo dai của cột sống, có thể giúp chữa lành những chấn thương cột sống, và phát triển độ nhạy cảm, sức mạnh, và sức bền của hệ thần kinh trung ương. Các môn nội gia chuyển dịch các đốt sống của cột sống một cách liên tục, bơm mạnh mẽ dịch tủy não (cerebrospinal fluid) đi khắp hệ thống.
4. Tất cả đều quan tâm đến những chi tiết cụ thể của việc mở và đóng các khớp xương và các khoang cơ thể, điều bao gồm sự giãn nở và nén ép của dịch hoạt dịch (synovial fluid) bên trong các khớp. Những môn võ thuật ngoại gia, chẳng hạn judo, karate, quyền Anh (boxing), và gung fu, phần lớn không quan tâm đến những phương pháp này, ngoại trừ có lẽ theo những cách thức tổng quát nhất. Trái lại, các môn nội gia tinh tế hơn nhiều và do đó mạnh mẽ hơn nhiều, đặc biệt là đối với việc giải tỏa căng thẳng, trị liệu cơ thể, và làm chậm lại tiến trình lão hóa. Bát quái khác với hình ý quyền và thái cực quyền ở chỗ các pháp môn của hai môn nghệ thuật sau này cấm bạn vượt qua đường trung tuyến của cơ thể. Nói cách khác, chúng không cho phép tay trái đi sang phía bên phải của cột sống hay tay phải đi sang phía bên trái. Trong bát quái, sự vượt qua này xảy ra thường xuyên, mà không có bất kỳ đường năng lượng nội tại nào bên trong cơ thể bị đoản mạch hay bị vô hiệu hóa. Hệ quả là, bát quái làm việc với nhiều phương diện của khí trong cơ thể hơn là thái cực quyền hay hình ý quyền.
LỤC HỢP (LIU HE) — Sáu sự kết hợp của các bộ phận cơ thể (vai–hông, khuỷu tay–đầu gối, tay–bàn chân) phải được phối hợp một cách tinh tế để tối đa hóa lực lượng thể lý trong các môn võ thuật nội gia.
NỘI TAM HỢP (NEI SAN HE) — Ba thành phần nội tại của tâm trí trong lý thuyết Đạo gia: cái „Ý” (ý niệm), khí (năng lượng), và thần (tinh thần hay tâm thức).
MỞ/ĐÓNG (OPEN/CLOSE) — Khái niệm Trung Hoa về cặp đối lập âm/dương gồm sinh trưởng/thu nhỏ, giãn nở/co lại, và kéo dài/thu ngắn, v.v. Sự dao động phổ quát này xảy ra ở cấp độ hạ nguyên tử, tế bào, và vũ trụ.
DỊCH HOẠT DỊCH (SYNOVIAL FLUID) — Một loại dịch cơ thể hiện diện bên trong khoảng không gian giữa các khớp của cơ thể.
5. Việc mở ra những đường năng lượng chính của cơ thể là một mục tiêu quan trọng của bát quái và thái cực quyền. Việc mở ra thân thể vật lý (các khớp, các khoang) giúp giải phóng những dòng năng lượng bên trong cơ thể. Có rất nhiều đường năng lượng trong cơ thể. Ba đường quan trọng nhất là kinh mạch trung ương (central channel), kinh mạch bên trái (left channel), và kinh mạch bên phải (right channel). (Xem Phụ lục C, tr. 317.) Những đường khác là các kinh mạch âm và dương của cơ thể. Các kinh âm chạy dọc theo mặt trong của cánh tay và cẳng chân, và chạy xuống phía trước của cơ thể. Các kinh dương chạy dọc theo mặt ngoài của cẳng chân, đi lên lưng, và ở mặt ngoài của cánh tay. Ngoài ra còn có những kinh mạch bao quanh thân thể bạn theo kiểu của những chiếc đai nối kết (những kinh này được gọi là kinh lạc, jing luo), cùng những kinh mạch được gọi là tám kinh mạch đặc biệt hay bát mạch kỳ kinh (eight extraordinary meridians).
KINH MẠCH TRUNG ƯƠNG (CENTRAL CHANNEL) — Đường năng lượng chính yếu nằm ở chính giữa cơ thể con người, giữa hội âm và đỉnh đầu.
KINH MẠCH BÊN TRÁI (LEFT CHANNEL) — Một trong ba đường năng lượng nguyên thủy của cơ thể; nằm ở phía bên trái.
KINH MẠCH BÊN PHẢI (RIGHT CHANNEL) — Một trong ba đường năng lượng nguyên thủy của cơ thể; nằm ở phía bên phải.
KINH MẠCH ÂM VÀ DƯƠNG (YIN AND YANG MERIDIANS) — Mười hai đường năng lượng tinh tế theo chiều dọc chính yếu của cơ thể được sử dụng trong châm cứu.
KINH LẠC (JING LUO COLLATERAL MERIDIANS) — Những kinh mạch châm cứu bao quanh cơ thể theo chiều ngang và nối kết các đường châm cứu theo chiều dọc của nó.
TÁM KINH MẠCH ĐẶC BIỆT HAY BÁT MẠCH KỲ KINH (EIGHT EXTRAORDINARY OR SPECIAL MERIDIANS) — Tám kinh mạch châm cứu có những công dụng đặc biệt trong châm cứu, vượt trên những công dụng của các kinh mạch bình thường theo chiều dọc và chiều ngang.
Tất cả những đường này được mở ra và nối kết với nhau thông qua pháp môn sơ khởi của bát quái là Đi Vòng Tròn (Walking the Circle), và về sau, thông qua những pháp môn đứng và ngồi. Việc Đi Vòng Tròn với cơ thể được chỉnh hợp đúng cách giúp phát triển năng lực xoắn ốc vốn là đặc trưng của bát quái. Hơn nữa, ở những cấp độ cao hơn của bát quái, những pháp môn nội công trong tư thế ngồi cực kỳ quan trọng đối với tiến trình mở ra tất cả các đường năng lượng của cơ thể, trong đó có tới vài nghìn đường hữu dụng về mặt chức năng.
PHÁT TRIỂN LỰC CHIẾN ĐẤU BẰNG KHÍ
Hệ thống nội lực nội công 16 phần
Những môn võ thuật nội gia Đạo gia nguyên thủy là bát quái chưởng, thái cực quyền, và hình ý quyền đều được bắt nguồn từ truyền thống nội công của phép thiền định Đạo gia.*
*Chú thích của người biên tập: Trước đây tác giả đã từng cố gắng dạy đồng thời những thành phần nội công nội tại này cùng với những chuyển động bên ngoài của thái cực quyền, hình ý quyền, và bát quái, nhưng qua nhiều năm đã nhận ra rằng sự phức tạp của những chuyển động thể lý cản trở sự chú tâm vào những năng lượng nội tại. Người học ở giai đoạn khởi đầu thường chỉ có thể tập trung vào một trong hai, chứ không thể cả hai. Theo đó, giờ đây ông dạy những pháp môn năng lượng này trong một chương trình khí công sáu phần riêng biệt. Những pháp môn khí công đặc thù này đã được truyền lại không hề thay đổi qua hàng nghìn năm. Chúng đã vượt qua được thử thách của thời gian, và tiếp tục hoạt động cực kỳ hiệu quả. (Xem tr. 344 để biết thông tin về chương trình B. K. Frantzis Energy Arts®.)
Hệ thống nội công Đạo gia dường như là cái rễ mà từ đó mọi hệ thống khí công khác tại Trung Hoa đã lấy được một phần hay phần lớn những thông tin và năng lực của mình.* Nó cũng là cái rễ của công phu khí yếu thiết và của nội lực trong các môn võ thuật nội gia bát quái, thái cực quyền, và hình ý quyền, của khí liệu pháp và của những công việc trị liệu thân thể, cũng như của phép thiền định Đạo gia. Trình tự học tập 16 thành phần không hề được đúc khuôn cứng ngắc. Nơi bạn bắt đầu được quyết định bởi mục tiêu của bạn là gì — chẳng hạn gia tăng năng lực cho thành tích cao, sức khỏe cá nhân, học võ thuật, học để chữa lành người khác, hay tiến bộ trong thiền định. Mười sáu thành phần căn bản của nội công Đạo gia bao gồm:
1. Các phương pháp hô hấp, từ đơn giản đến phức tạp hơn.
2. Cảm nhận, di chuyển, chuyển hóa và biến đổi (transmuting) những năng lượng nội tại dọc theo cả những đường năng lượng giáng, thăng, và nối kết của cơ thể.
3. Những sự chỉnh hợp cơ thể chính xác để ngăn không cho dòng chảy của khí bị tắc nghẽn hay tiêu tán — việc thực hành những nguyên lý này mang lại những sự chỉnh hợp cơ sinh học (biomechanical) hiệu quả một cách phi thường.
4. Hòa tan những sự tắc nghẽn của các phương diện thể lý, cảm xúc, và tâm linh nơi bản thân chúng ta.
5. Di chuyển năng lượng xuyên qua những đường kinh mạch chính và phụ của cơ thể, kể cả các cửa năng lượng (energy gates).
6. Uốn cong và kéo giãn cơ thể từ trong ra ngoài và từ ngoài vào trong theo hướng của những đường kinh mạch châm cứu âm và dương.
7. Mở và đóng tất cả các phần trong các mô (tissue) của cơ thể (các khớp, bắp thịt, các mô mềm, nội tạng, các tuyến, mạch máu, hệ dịch tủy não, và não bộ), cũng như toàn bộ giải phẫu năng lượng tinh tế của cơ thể.
8. Điều khiển năng lượng của hào quang (aura) bên ngoài cơ thể.
9. Tạo ra những vòng tròn và những vòng xoắn ốc của năng lượng bên trong cơ thể, kiểm soát những dòng năng lượng xoắn ốc của cơ thể, và di chuyển khí đến bất kỳ phần nào của cơ thể theo ý muốn, đặc biệt là đến các tuyến, não bộ, và nội tạng.
10. Hấp thu năng lượng vào, và phóng chiếu năng lượng ra khỏi, bất kỳ phần nào của cơ thể.
11. Kiểm soát tất cả các năng lượng của cột sống.
12. Đạt được sự kiểm soát đối với kinh mạch năng lượng bên trái và bên phải của cơ thể.
13. Đạt được sự kiểm soát đối với kinh mạch năng lượng trung ương của cơ thể.
14. Học cách phát triển những năng lực và tất cả các công dụng của hạ đan điền (tantien) nơi cơ thể (hara, hay điền/cánh đồng linh đan).
*Những hệ thống khí công chính yếu khác tại Trung Hoa là Phật gia, Võ thuật, Y học, và Nho gia. Nói chung, có sự chia sẻ chung những kỹ thuật giữa chúng. Tuy nhiên, cũng có những sự chuyên sâu, những mục tiêu, và những tín điều triết học khác biệt từ hệ thống này sang hệ thống khác.
ĐAN ĐIỀN (TANTIEN) — Ba trung tâm nguyên thủy trong cơ thể con người, nơi khí tập hợp lại, phân tán ra, và tái tuần hoàn. Các đan điền cai quản giải phẫu năng lượng của một con người.
15. Học cách phát triển những năng lực và tất cả các công dụng của thượng đan điền và trung đan điền nơi cơ thể.
16. Nối kết mọi phần của cơ thể vật lý thành một năng lượng thống nhất duy nhất.
NỘI GIA (NEIJIA) — Một thuật ngữ dùng để mô tả tất cả các môn võ thuật nội gia hay các pháp môn khí của Đạo gia như là một gia đình duy nhất.
NGOẠI GIA QUYỀN (WAI JIA CHUAN) — Những môn võ thuật ngoại gia chẳng hạn như gung fu, karate, và judo.
Người Trung Hoa có một thành ngữ, bát quái thân pháp (ba gua shen fa), mà đại khái có thể dịch là „những gì bát quái làm cho thân thể của bạn.” Những tác động nội tại của bát quái là một phần của cái mà người Trung Hoa gọi là nội gia (nei jia), tức sự phát triển nội tại, vốn bao trùm mọi công phu về khí hay về thiền định. Nội gia quyền (nei jia chuan), hay võ thuật nội gia, khác biệt một cách đáng kể với ngoại gia quyền (wai jia chuan), hay võ thuật ngoại gia, thứ — như đã chỉ ra — được xây dựng trên sự cường tráng của bắp thịt, sức bền, và các phản xạ. Theo nhiều cách, những môn võ thuật nội gia với những lợi ích y học, sự giảm thiểu căng thẳng, và sự nhấn mạnh vào thiền định của chúng có thể dễ dàng trở thành những môn võ thuật được lựa chọn của thế kỷ hai mươi mốt.
Trong các môn võ thuật nội gia, mọi chuyển động đều bắt đầu từ sâu bên trong cơ thể và làm việc hướng ra ngoài về phía làn da. Mục tiêu là dung hợp hoàn toàn bên trong và bên ngoài. Võ thuật ngoại gia làm việc ở phần bên ngoài của cơ thể (tức là các bắp thịt và các phản xạ), nhưng rốt cuộc chúng cũng có thể đi đường vòng tiến vào bên trong nếu họ kết hợp khí công vào. Như một quy tắc ngón tay cái, các môn nội gia của Trung Hoa làm việc với nhận thức nội tại tổng quát của một người để đạt được những cảm giác cụ thể về những hệ thống con sâu thẳm nhất trong cơ thể. Võ thuật ngoại gia về bản chất chỉ quan tâm đến việc di chuyển các bắp thịt và cái khung bên ngoài của cơ thể.
Ngay cả khi một môn ngoại gia có một chuyển động hoàn toàn giống hệt với một chuyển động được tìm thấy trong một môn nội gia, thì môn ngoại gia thông thường vẫn không bao giờ thâm nhập xuống bên dưới những lớp bên ngoài của cơ thể. Đối với một con mắt đã được huấn luyện, một vị thầy thái cực quyền và một nữ vũ công ba lê thực hiện cùng một chuyển động y hệt nhau sẽ chẳng trông giống nhau dù chỉ là ở mức độ xa xôi. Tuy nhiên, một người bình thường ngoại đạo thường sẽ không nhận ra được mấy sự khác biệt. Cách thức các chuyển động được thực hiện bên trong mới là vấn đề then chốt. Hệ thống nội công chính là chìa khóa.
Cách thức nội lực khí công trong võ thuật được tạo ra bởi hệ thống nội công Đạo gia 16 phần
Hệ thống nội công tinh vi được các nhà Đạo gia khám phá và phát triển từ hàng nghìn năm trước rốt cuộc đã trở thành nguồn của khí lực trong các môn võ thuật nội gia bát quái, thái cực quyền, và hình ý quyền. Các nhà Đạo gia đã khám phá ra hệ thống năng lượng này từ rất lâu trước khi võ thuật ngoại gia được cho là đã khởi đầu tại chùa Thiếu Lâm. Thật vậy, nhiều môn võ thuật Thiếu Lâm, trong những kỹ thuật nội lực bí truyền của mình, đã vay mượn nặng nề từ hệ thống này, bằng cách thích nghi những kỹ thuật năng lượng nội công „mềm” vào một cách tiếp cận triết học „cứng.”
Thoạt tiên, các nhà Đạo gia khám phá ra những kỹ thuật năng lượng nội công mạnh mẽ này khi họ đào sâu vào bên trong chính tâm trí và thân thể của mình thông qua thiền định. Họ thiền định chủ yếu để khám phá, để tự mình trải nghiệm, và để đắm mình vào những thực tại tâm linh nền tảng của vũ trụ. Họ không xem thiền định như là một phân ngành của việc học cách chiến đấu cho giỏi hơn. Các nhà Đạo gia cũng sử dụng hệ thống nội công để duy trì một sức khỏe ưu việt, chữa lành bệnh tật, và liên tục nâng cấp những năng lượng nội tại của chính mình với mục đích thể nghiệm mà nhận ra những bí mật của sự tĩnh lặng và tâm linh tính sâu thẳm bên trong.
Việc huấn luyện để phát triển thành tích cao trong võ thuật hay thể thao thi đấu thì, trong phương pháp nội lực nội công, được hoàn thành qua hai giai đoạn rõ rệt. Giai đoạn thứ nhất dễ dàng hơn, nhắm vào những mục tiêu cụ thể là gia tăng sức khỏe và chữa lành những chấn thương hiển nhiên hay tiềm ẩn. (Xem Chương 8.) Việc huấn luyện nội công cho sức khỏe là một giai đoạn chuẩn bị tất yếu để đạt được thành tích cao trong điền kinh hay võ thuật. Trong bất kỳ phương pháp huấn luyện nào sẽ tạo ra lực lượng và tốc độ thể lý thực sự, một thân thể yếu ớt hay bệnh hoạn sẽ không đáp ứng được. Giai đoạn sức khỏe của việc huấn luyện nội công dọn dẹp sạch sẽ mọi chấn thương hay vấn đề khác có thể khiến việc huấn luyện gian khổ trở thành bất khả, và làm suy giảm nghiêm trọng cơ hội rốt cuộc của người học trong việc đạt được thành tích ưu việt. Khi cơ thể trở nên khỏe mạnh hơn và tràn đầy sinh khí hơn, nó tự nhiên có thể di chuyển tốt hơn, nhanh hơn, với nhiều sức mạnh hơn, và duy trì sức bền một cách dễ dàng hơn.
Giai đoạn thứ hai của việc huấn luyện được nhắm đến việc cung cấp thành tích cao. Giai đoạn này sử dụng tất cả những kỹ thuật nội tại giống nhau; tuy nhiên, chúng được sử dụng với một mức độ cam kết nghiêm túc hơn đáng kể. Sự khác biệt không nằm ở chỗ bạn huấn luyện cái gì (tức là thành phần nào trong hệ thống nội công 16 phần mà bạn đang làm việc với), mà nằm ở cách bạn huấn luyện. Sử dụng chính xác cùng những kỹ thuật mà bạn đã dùng để phát triển sức khỏe, bạn phải làm việc vất vả hơn, dành nhiều thời gian huấn luyện hơn, sử dụng những phương pháp luận huấn luyện khác nhau, và nâng cao đáng kể những tiêu chuẩn thành tựu tối thiểu có thể chấp nhận được của mình. Điều này đòi hỏi sự sẵn lòng của bạn trong việc bỏ ra nỗ lực gia tăng cần thiết cho cấp độ tiếp theo, nơi bạn không chỉ đạt được sức khỏe tuyệt vời, mà còn đạt được một sức mạnh phi thường.
Mối quan hệ giữa khí công và việc huấn luyện bài quyền trong võ thuật
Bên trong các môn võ thuật nội gia, nội lực được dạy thông qua hai phương pháp chính yếu. Trong phương pháp thứ nhất, bạn học nội lực bằng cách trước tiên nghiên cứu nội công/khí công như là một môn nghệ thuật riêng biệt. Sự nghiên cứu này hoàn thành một số mục đích: Sức khỏe của thân thể bạn được nâng cấp, bạn đạt được một nhận thức rõ ràng về khí,
…khó khăn hơn và tốn thời gian hơn. Việc giải quyết từng kỹ năng một lúc là tốt nhất cho những ai có ít thời gian rảnh rỗi để học tập.
Kế tiếp, bạn học các chuyển động và những ứng dụng chiến đấu của môn võ thuật nội gia cụ thể của mình, kết hợp những thành phần nội công mới được thu nhận vào tất cả các chuyển động thể lý của mình. Sau khi cơ thể bạn ít nhiều đã hấp thu một năng lực căn bản để dung hợp công phu năng lượng nội tại vào bên trong những chuyển động thể lý của mình, bạn có thể tập trung vào việc khuếch đại nội lực của mình đến mức tối đa. Sự tăng cường này có thể được thực hiện với những giai đoạn huấn luyện tiến bộ dần dần cao cấp hơn, cả bên trong công phu bài quyền đơn luyện mang tính phát triển của bạn lẫn trong việc huấn luyện chiến đấu với các đối thủ.
Trong phương pháp truyền thụ nội lực thứ hai, bạn sẽ học cách đưa công phu nội công vào những chuyển động bài quyền võ thuật thể lý của mình ngay trong khi bạn đang đồng thời học các bài quyền. Khi bạn đạt đến một giai đoạn trung cấp hay cao cấp của việc tập bài quyền, kế tiếp bạn thực hành một cách mãnh liệt những bộ khí công riêng biệt (mà bạn đã học ở phần đầu của phương pháp thứ nhất). Mục đích của giai đoạn này là chuyển dịch một cách kịch tính sự nhấn mạnh của bạn, để đưa bạn đến chỗ nương dựa vào khí để có lực lượng, thay vì nương vào thói quen trông cậy vào tính thể lý để có lực lượng. Sau khi giai đoạn này đã ổn định, người thực hành rốt cuộc mới bắt đầu học công phu khí cao cấp nhất của các môn võ thuật nội gia ngay bên trong chính những chuyển động võ thuật, chứ không phải bên trong những bộ khí công riêng biệt.
Cuộc thảo luận cho đến nay đã tập trung vào những người đang học các môn võ thuật nội gia. Nếu bạn tập aikido hay các môn võ thuật ngoại gia, chẳng hạn karate hay taekwondo, hoặc những môn võ thuật nửa ngoại nửa nội như silat hay nhiều loại gung fu, thì việc học khí công có thể nâng cấp nền tảng nội lực của bạn lên rất nhiều. Nếu một vị thầy võ thuật nội gia sẵn lòng và đủ sự mềm dẻo về mặt tinh thần, bạn có thể được dạy cách thích nghi những tài liệu khí công vào môn võ thuật cụ thể của mình. Rốt cuộc thì, thái cực quyền thoạt tiên được tạo ra bằng cách dung hợp những môn võ thuật ngoại gia thông thường với nội công. Cũng theo cách ấy, nội công có thể được thêm vào karate hay bất kỳ môn võ thuật nào chưa hoàn toàn là nội gia. Những người thực hành aikido, vốn đã nghiêm túc quan tâm đến công phu về ki (ki là chữ Nhật của chữ khí bên Trung Hoa), sẽ đặc biệt hưởng lợi từ những sự nâng cấp của hệ thống huấn luyện năng lượng khí nội tại hết sức có hệ thống của nội công/khí công, đặc biệt là trong lãnh vực sức khỏe. Nội công có thể kéo dài sự tinh thông thể lý của những người theo võ thuật ngoại gia, có thể là hàng thập kỷ, khơi dậy tính sáng tạo của họ, và bù đắp cho bất kỳ sự nhàm chán nào mà họ có thể đang trải nghiệm với môn phái của mình.
Ba đề nghị căn bản để đạt được nội lực một cách thực tế
Biết về sự hiện hữu của bất kỳ vật quý giá nào là một điều hoàn toàn khác xa với việc thực sự đạt được nó. Nội công đã mang lại lợi ích cho con người qua hàng thiên niên kỷ. Trong việc trình bày mạch lạc thông tin này, hy vọng là nó sẽ giúp nâng cao mức độ nhận thức về các môn nội gia trên toàn bộ bình diện. Có nhiều người đầy nhiệt huyết, sáng tạo, và thông minh, một khi họ thấu triệt được những hệ hàm của thông tin này liên quan đến nội công, sẽ được trao cho những công cụ quý giá để giúp đỡ những thế hệ tương lai. Để thật sự thấu triệt, thay vì chỉ có thông tin từng phần về, nội công, hãy tuân theo ba đề nghị sau đây:
1. Hiểu những gì được bao hàm trong chính tài liệu ấy. Biết về sự hiện hữu của nó, hãy bắt đầu tìm kiếm 16 thành phần bên trong chính mình và bên trong thầy của mình. Nếu bạn có thể thấy rằng thầy của mình đã thể hiện bất kỳ yếu tố nội công nào trong số 16 yếu tố, hãy lịch sự yêu cầu rằng mỗi yếu tố mà vị ấy sử dụng được dạy cho bạn. Điều này có thể đòi hỏi một sự kiên trì nào đó nơi phần của bạn, bởi vì nhiều vị thầy sẽ không dễ dàng trao ra thông tin; tuy nhiên, một số vị sẽ rộng rãi dạy cho bạn nếu bạn chỉ đơn giản hỏi một cách cung kính.
2. Kế tiếp, bạn phải cố gắng xác định xem thầy của mình đã học trọn vẹn hệ thống, những phần lớn của hệ thống, hay chỉ một vài phần của nó. Không dễ gì xác định được liệu một vị thầy đã bao trùm nội công toàn phần hay từng phần. Bất kỳ ai cũng có thể nói những lời đúng đắn, nhưng việc có được sự hiểu biết thực sự lại là một chuyện khác. Người học chưa được huấn luyện có thể dễ dàng được trao cho những khái niệm và những thủ tục huấn luyện của Thiếu Lâm, thứ có thể bề ngoài trông giống như những khái niệm và thủ tục của nội công Đạo gia. Chẳng hạn, kỹ thuật thôn thổ (tun tu) của Thiếu Lâm, tức „hút vào và nhổ ra,” có thể bị lầm lẫn với tiến trình khai hợp (kai-he) của nội công, vốn là một phương pháp kiểm soát năng lượng tinh tế hơn so với sự bóp chặt và thả lỏng các bắp thịt bắt nguồn từ Thiếu Lâm.
3. Đòi hỏi then chốt nhất để học nội công là phải chủ động đi tìm một vị thầy biết về nó. Chỉ có một vị thầy biết một cách dứt khoát về hệ thống nội công mới có thể nhận ra thời điểm tối ưu khi việc học một phần cụ thể nào đó của hệ thống là hữu dụng hay không hữu dụng đối với bạn với tư cách là một người học. Vị thầy phải có khả năng nhận ra khi nào và cách thức mà người học đang xử lý nội công được truyền dạy, và phải có khả năng ước lượng khi nào người học đã sẵn sàng cho những điều cao hơn. Tóm lại, với nội công, vị thầy phải cẩn thận hướng dẫn sự tăng trưởng của người học. Về phương diện này, vị thầy giống như người làm vườn trong câu tục ngữ, người chăm sóc sự tăng trưởng của người học, nhổ bỏ những gì không cần thiết, tỉa cành và trồng lại khi cần đến, và bồi dưỡng bằng những thông tin mới.
KHAI HỢP (KAI-HE) — Mở và đóng.
Tiến trình học nội công
Sau khi bạn đã học những pháp môn nội công về sức khỏe dễ dàng hơn, bạn sẽ tái huấn luyện trong từng yếu tố của 16 yếu tố để làm bộc phát nội lực tối đa. Sự thực hành lâu dài của bạn sẽ trải qua những giai đoạn, trong đó bạn biểu hiện bên trong chính mình ba phẩm chất năng lượng hoàn toàn khác biệt luân phiên nhau, mà tỷ lệ của chúng tùy thuộc vào việc bạn đang nghiên cứu môn võ thuật nội gia nào trong ba môn. (Hãy nhớ rằng điều đang được thảo luận ở đây là năng lượng vô hình bên trong cơ thể của bạn, chứ không phải những phẩm chất vật lý của các bắp thịt hay của những mô khác, vốn không căng cứng và lý tưởng nên duy trì một sự săn chắc và thư giãn ưu việt.) Một phẩm chất làm cho năng lượng nội tại và các đường năng lượng của bạn cực kỳ âm — mềm mỏng, vô định hình, và thư giãn — điều mà qua thời gian sẽ cho phép bạn biểu hiện tốc độ và sự chuyển động nhuần nhuyễn, phối hợp, không cần nỗ lực. Phẩm chất thứ hai sẽ làm cho năng lượng bên trong cơ thể bạn cực kỳ dương — bị nén lại, xác định rõ ràng, và cứng — điều mà qua thời gian sẽ gia tăng cả năng lực hiển nhiên lẫn tinh tế của bạn trong việc phóng chiếu lực lượng. Cái cứng và cái mềm là hai mặt đối nghịch của cùng một lực lượng. Phẩm chất thứ ba là năng lực thay đổi tức thời hay duy trì sự biến thiên giữa cái cứng và cái mềm.
Những thuộc tính cứng và mềm có thể được biểu hiện như là một phẩm chất bao trùm của toàn bộ một môn võ thuật hay một phương pháp khí công, hoặc như là một yếu tố bên trong bất kỳ kỹ thuật nội công hay kỹ thuật võ thuật đơn lẻ cụ thể nào. Lời nhận xét của nhà Đạo gia điêu luyện Liu Hung Chieh (xem tr. 241) về việc tập thái cực quyền, vốn tương đối mềm, và cũng về bát quái chưởng, vốn tương đối cứng, là một chỉ dấu cho toàn bộ tình huống này. Liu nói: „Trong hơn bốn mươi năm, khi tôi cảm thấy khí của mình đang trở nên quá cứng và quá mạnh và tôi không còn hoàn toàn thoải mái khi tập bát quái chưởng nữa, tôi sẽ nhấn mạnh vào việc tập thái cực quyền nhiều hơn. Và qua thời gian, với việc nhấn mạnh vào thái cực quyền, khi tôi không còn cảm thấy hoàn toàn thoải mái với việc quá thư giãn và quá trống không, và muốn khí của mình cảm thấy đặc chắc và mạnh mẽ hơn, tôi lại sẽ nhấn mạnh vào việc tập bát quái nhiều hơn.”
Trình tự của tiến trình học tập
Dưới đây là một trình tự được đề nghị để học nội công:
1. Học một chuyển động thể lý, hoặc bên trong một chương trình khí công, một thế đứng võ thuật tĩnh, hay một bài quyền võ thuật.
2. Học nó một cách nhẹ nhàng để có sức khỏe và để chuẩn bị thân thể cùng hệ thần kinh trung ương của bạn cho sự huấn luyện cao cấp hơn.
3. Kế tiếp, đặt một thành phần nội công vào từng phần và mọi phần của chuyển động, tập trung vào phương diện cứng của nó. Sự thực hành này nên làm cho năng lượng nội tại trong cơ thể bạn trở nên như thép và, qua thời gian, biểu hiện chính nó thành một ngoại lực được xác định rõ ràng.
4. Bây giờ hãy làm việc với thành phần nội công theo một cách mềm mỏng, cho đến khi cái cứng được tích hợp vào hệ thần kinh trung ương của bạn theo một cách không nỗ lực, thoải mái, và thư giãn.
5. Sau cùng, thực hành một cách rộng rãi cho đến khi bạn có thể cố ý chuyển đổi năng lượng của mình từ cứng sang mềm, cả dần dần lẫn tức thời, với ít nỗ lực rồi sau đó không nỗ lực chút nào.
Tiến trình tập trung vào cứng, rồi mềm, rồi sự tích hợp cả hai này lặp đi lặp lại vô tận. Bạn đạt được bao nhiêu sự cứng cỏi về năng lượng trong vòng hiện tại, thì năng lực của bạn đạt được sự mềm mỏng về năng lượng trong vòng kế tiếp càng lớn, điều mang lại cho bạn khả năng trở nên cứng hơn trong vòng kế sau nữa, hơn là bạn có thể đã trở thành nếu trước đó bạn không tích hợp với sự mềm mỏng. Chu kỳ cứ tiếp tục tự lặp lại mãi.
Tiến trình nội công giống như việc rèn một thanh kiếm samurai
Toàn bộ tiến trình phát triển nội lực của nội công này có thể được so sánh với việc chế tạo lưỡi của một thanh kiếm samurai. Thanh kiếm samurai cổ điển, vốn kết hợp sức mạnh, sự dẻo dai, và độ sắc bén của lưỡi, có thể nói là được rèn từ thứ thép tuyệt hảo nhất trên thế giới.
Một lưỡi kiếm samurai được tạo ra bằng cách gấp nhiều lớp thép lại với nhau một cách không tỳ vết. Mỗi lớp thép, được một bậc thầy rèn kiếm cùng những người phụ tá của ông rèn riêng biệt, được kết hợp với những lớp trước đó để đạt được sức mạnh và độ bền.
Mỗi một trong 16 thành phần nội công riêng biệt đều giống như những lớp của một thanh kiếm samurai. Cũng như việc rèn những lớp thép tạo nên lõi kim loại của thanh kiếm, việc học từng thành phần nội công đòi hỏi sự huấn luyện trong từng lớp riêng biệt trong số rất nhiều lớp của nó, ngày này qua ngày khác, trong một dòng chảy liên tục của sự thực hành. Những người thực hành nội công đưa những phẩm chất của cái cứng, cái mềm, và sự tích hợp cả hai vào từng bước của việc học từng thành phần nội công riêng biệt, cũng như khi kết hợp nhiều thành phần nội công với nhau. Rốt cuộc, thủ tục này cho phép người theo võ thuật nội gia dung hợp cái cứng và cái mềm lại với nhau một cách không tỳ vết. Rồi sau đó, tựa như đang vặn cái công tắc điều chỉnh độ sáng của một ngọn đèn điện, những người thực hành điêu luyện có thể kiểm soát một cách tức thời việc họ đang biểu hiện bao nhiêu và loại lực lượng nào. Năng lực này hữu dụng cho các vận động viên thi đấu cũng như cho những người theo võ thuật.
ĐIỂM NHẤN VỀ MỘT YẾU TỐ NỘI CÔNG: TIẾN TRÌNH HÒA TAN
Tiến trình hòa tan bên ngoài
Thông qua việc sử dụng tập trung nhưng thư giãn của cả ý niệm của tâm trí lẫn của cái tâm (heart/mind, xem tr. 74), một người có thể học cách phá vỡ và giải phóng những sự tắc nghẽn năng lượng bằng một kỹ thuật thiền định được gọi là tiến trình hòa tan bên ngoài (outer-dissolving process).* Những sự tắc nghẽn này, vốn có thể có nguồn gốc thể lý, tinh thần, cảm xúc, hay cõi tâm linh, có thể hiện hữu ở bất kỳ đâu bên trong cơ thể hay bên ngoài cơ thể trong hào quang bao quanh nó, tức trường điện sinh học (bioelectrical field) của nó. Những sự tắc nghẽn năng lượng như vậy có thể được tiêu tán hay hòa tan bằng nỗ lực tinh thần, và năng lượng của chúng bị phóng xuất ra bên ngoài. Đối với những người theo võ thuật, việc thanh tẩy trường năng lượng bao quanh cơ thể là quan trọng bởi vì nó cho phép họ cực kỳ nhạy cảm đối với khoảng hở năng lượng giữa họ và các đối thủ của mình trước khi thân thể của hai bên chạm nhau. Việc hòa tan hào quang bên ngoài của bạn làm cho bạn, với tư cách là một người theo võ thuật, ít bị khuất phục bởi tâm trí của đối thủ hơn. (Nếu hào quang của bạn được hòa tan hoàn toàn, nó không thể bị ảnh hưởng.) Hòa tan bên ngoài đặc biệt then chốt đối với mọi pháp môn đứng, đối với Tam Thể (San Ti, xem tr. 190), và đối với việc giữ các thế đứng trong thái cực quyền.
*Chú thích của người biên tập: Những chỉ dẫn minh bạch liên quan đến cách thực hiện tiến trình hòa tan bên ngoài có thể được tìm thấy trong tác phẩm Opening the Energy Gates of the Body (Mở Ra Những Cửa Năng Lượng Của Thân Thể) của B. K. Frantzis (North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993). Kỹ thuật hòa tan trong và ngoài đồng thời sẽ được thảo luận trong những tác phẩm sắp tới của ông Frantzis.
TIẾN TRÌNH HÒA TAN BÊN NGOÀI (OUTER-DISSOLVING PROCESS) — Một pháp môn khí (nội công) căn bản của Đạo gia để giải phóng năng lượng nội tại bị tắc nghẽn và phóng chiếu nó ra bên ngoài thân thể vật lý. Được sử dụng chủ yếu để chữa lành và củng cố những năng lượng liên hệ đến cơ thể vật lý.
HÀO QUANG (AURA) — Trường năng lượng hay trường điện sinh học bao quanh cơ thể sống của con người.
Pháp môn hòa tan bên ngoài cho phép bạn giải phóng (và phóng xuất ra bên ngoài) sự căng thẳng từ sâu bên trong cơ thể, điều làm gia tốc độ của những phản xạ thần kinh và thời gian phản ứng của bạn. Sự gia tăng này, đến lượt nó, cho phép bạn di chuyển nhanh hơn trong khi thực thi một kỹ thuật đơn lẻ hay trong khi chuyển từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác. Những pháp môn hòa tan (cả phiên bản bên trong lẫn bên ngoài) đều gia tăng nhịp thời điểm (timing) của bạn.
Tiến trình hòa tan bên ngoài có thể được sử dụng một cách rộng rãi để giải phóng những sự tắc nghẽn năng lượng vốn ngăn cản sự phối hợp giữa những bộ phận cơ thể đáng lẽ nên được liên kết với nhau một cách hữu dụng. Nó cũng sẽ thanh tẩy những sự tắc nghẽn trong các đường năng lượng, cho phép lực lượng bùng nổ ra khỏi cơ thể và cho phép các dây thần kinh vận hành ở mức công suất tối đa, mang lại tốc độ, phản xạ, độ nhạy cảm, và sức bền ưu việt. Việc chữa lành những chấn thương nhẹ hay nặng bằng tiến trình hòa tan bên ngoài là quan trọng đối với sự tiến bộ liên tục và thành công rốt ráo của cả các vận động viên lẫn những người theo võ thuật.
Trong khi thực hành hòa tan bên ngoài, tâm trí của bạn quét qua cơ thể để tìm những nơi bị tắc nghẽn hay không thoải mái. Những sự tắc nghẽn như vậy có thể được gặp tại một điểm cụ thể, một bộ phận (vai, đùi, v.v.), một toàn bộ phân đoạn (cẳng chân, bụng, lưng, thân mình, v.v.) hay một bộ phận nội tại của cơ thể (gan, khớp xương, mạch máu, dây chằng, v.v.). Tại vị trí của nó, một sự tắc nghẽn năng lượng có thể khiến cơ thể không có khả năng được thoải mái hay thư giãn. Tiến trình hòa tan bên ngoài là một công cụ thiền định để làm cho sự thoải mái và thư giãn trở nên khả dĩ; nó được áp dụng cho đến khi rốt cuộc toàn bộ cơ thể có thể thư giãn. Riêng sự thư giãn thường xuyên sẽ không nhất thiết giải phóng được những sự tắc nghẽn năng lượng vốn cản trở sự tuần hoàn thông suốt của khí trong cơ thể, cũng như sẽ không nhất thiết chữa khỏi bệnh tật. Tiến trình hòa tan bên ngoài, vốn thanh tẩy hào quang của cơ thể, đã được sử dụng tại Trung Hoa qua hàng thiên niên kỷ và có thể chữa lành. Về mặt những nhu cầu của thái cực quyền/bát quái thuần túy cho sức khỏe/thành tích cao, tiến trình hòa tan bên ngoài là đủ.
TAM THỂ (SAN TI) — Kỹ thuật phát triển nội lực chính yếu của hình ý quyền.
TIẾN TRÌNH HÒA TAN BÊN TRONG (INNER-DISSOLVING PROCESS) — Một pháp môn khí (nội công) căn bản của Đạo gia để giải phóng năng lượng bị tắc nghẽn ở bất kỳ đâu bên trong một con người.
Tiến trình hòa tan bên trong
Tiến trình hòa tan bên trong cũng sử dụng tâm trí để hòa tan năng lượng bị tắc nghẽn, nhưng trong tiến trình này, năng lượng tiêu cực đã được tiêu tán được di chuyển hướng vào bên trong, sâu vào không gian nội tại, thay vì hướng ra bên ngoài, xa khỏi cơ thể. Không gian bên trong này có thể được trải nghiệm là rộng lớn như chính vũ trụ bên ngoài. Rốt cuộc, nội dung năng lượng cảm xúc, tinh thần, hay cõi tâm linh của sự tắc nghẽn được giải phóng vào những chỗ sâu kín của tâm thức, vào một nơi chốn tâm linh mà các nhà Đạo gia gọi là „tính không.” Hòa tan bên trong dễ học nhất khi ngồi trong thiền định.
Hòa tan bên trong là điểm tiếp cận thiền định chính yếu để giải quyết những khó khăn về cảm xúc, chẳng hạn những thái độ không thể làm việc được, sự rối loạn chức năng, những mô thức tiêu cực tạm thời hay suốt đời, hoặc sự thiếu kiên trì khi đối mặt với những tình huống khó xử lý về mặt cảm xúc.* Những vấn đề như thế thường ngăn cản ngay cả những cá nhân tài năng nhất trong việc hiện thực hóa trọn vẹn tiềm năng của mình. Một nền tảng cảm xúc cân bằng tốt, được điều chỉnh, hay ít ra là thực tế, là điều cần thiết để thi triển tốt bất cứ việc gì qua thời gian. Tiến trình hòa tan bên trong là then chốt đối với sự ổn định cảm xúc được đòi hỏi cho thành tích cao, và chắc chắn là hữu dụng trong việc đối trọng lại chứng cuồng ngã (egomania) vốn thường đi kèm với những người biểu diễn „ngôi sao.” Hơn nữa, tiến trình này là một chìa khóa để tháo gỡ những sự tắc nghẽn năng lượng trên con đường của thành tựu trí thức. Được thực hành đúng cách, kỹ thuật hòa tan này có thể dẫn đến sự phát triển tâm linh mãnh liệt. Được kết hợp vào những cấu trúc của các môn võ thuật nội gia, nội công hòa tan bên trong sẽ cho phép toàn bộ dãy những năng lực thể lý và cõi tâm linh của những môn nghệ thuật này được bộc phát ra.
*Tiến trình hòa tan không nhằm thay thế, và cũng không thể thay thế, công việc tâm lý học hay tâm lý liệu pháp chuyên nghiệp. Bất kỳ ai có những vấn đề nghiêm trọng về cảm xúc hay tinh thần nên tham khảo ý kiến một chuyên gia đã được đào tạo trước khi thực hành bất kỳ tiến trình hòa tan nào.
Hòa tan vào không gian bên trong và bên ngoài cùng một lúc
Công phu hòa tan cao cấp cho phép phân tán năng lượng bị trói buộc trong cơ thể theo cả hai hướng cùng một lúc — tức là ra bên ngoài cơ thể và sâu vào bên trong của tâm thức. Phải mất một sự hiến dâng lâu dài cho việc thực hành thiền định Đạo gia mới đạt được kỹ năng này. Nói một cách tổng quát, có thể nói rằng những kỹ thuật hòa tan tạo thành cái cầu nối giữa khí công, võ thuật, và thiền định.
NHỮNG CẤP ĐỘ CẢM NHẬN: „Ý”, „KHÍ” VÀ „TÂM”
Bốn cấp độ phát triển khí hiện diện trong bát quái chưởng thì tương tự như, nhưng không hoàn toàn giống hệt với, những môn nghệ thuật thái cực quyền, khí công, và aikido.
Trong mọi môn nghệ thuật phát triển khí, câu thành ngữ tiêu chuẩn là „tâm dẫn đầu, khí đi theo tâm, huyết đi theo khí, và sức mạnh đi theo huyết.” Tâm tạo ra khí, khí di chuyển huyết, và huyết tạo ra sức mạnh. Như có thể thấy từ chân lý hiển nhiên này, nguồn của sự thành tựu trong mọi môn nghệ thuật về khí đều bắt nguồn từ tâm. Tuy nhiên, cái tâm có hai chiều kích hoàn toàn khác biệt (hai chiều kích này có thể được nói là sự phân định thực sự giữa công phu nội tại sơ cấp và cao cấp). Hai chiều kích của cái tâm này chính là cái mà người Trung Hoa gọi là „Ý” (đọc là „yee”) — tức cái tâm chiếu diệu, suy nghĩ và phân tích — và cái „tâm” (hsin), tức cái tâm/trái tim, nơi mà tư tưởng phát xuất và nơi mà bản chất tinh túy của một con người cư ngụ.
„Ý” („I”) — Ý chí, ý niệm, ý hướng, tâm, và tâm chiếu diệu (projecting mind).
TÂM (HSIN) — Tâm/trái tim. Nguồn rốt ráo của sự hiện hữu của một con người, vừa tinh tế vừa phi vật chất, và nằm gần trái tim vật lý.
…trước cả những khởi động của lý trí. Triết học Trung Hoa tin rằng cái hsin (tâm) nằm ở lõi trung tâm của con người bạn, tại trung tâm của trái tim (đan điền trung).
Bản chất của cái “I” hay Ý niệm
Con người có sẵn năng lực bẩm sinh để suy nghĩ, tưởng tượng và cảm nhận. Phần tâm trí của bạn phóng chiếu các ý nghĩ được người Trung Hoa gọi là cái “I” (phát âm là “yee”), tức là tâm của ý niệm. Thông qua tưởng tượng, cái tâm suy nghĩ có thể kích hoạt cơ thể vượt xa những gì được coi là bình thường. Có rất nhiều lý thuyết về cách thức sự kết nối tâm/thân được thực hiện. Tuy nhiên, thực tế là: nếu đôi mắt của bạn đang nhắm, một cách để mở chúng ra là thay đổi cảm giác trong cơ thể bạn vốn được nối kết với khí của đôi mí mắt và nhãn cầu. Tâm của bạn, vốn được nối kết với khí, rồi đó cảm nhận được cách khí đang kết nối với cơ thể. Thông qua cảm giác ấy, cái tâm nghĩ đến việc mở mắt ra.
Nếu sự nhận thức của bạn về chính cơ thể mình không hề tồn tại, bạn sẽ không cảm thấy đôi mắt của mình; chúng chỉ đơn thuần mở ra và nhắm lại về mặt vật lý. Nếu tâm của bạn có một chút nhận thức thân thể, bạn sẽ cảm thấy những bắp thịt và mô của mắt dao động và chuyển động khi đôi mắt mở và nhắm. Nếu tâm của bạn đạt được nhận thức thân thể mãnh liệt, bạn có thể cảm thấy khí kích hoạt cái mô vật lý khiến cho đôi mắt bạn mở ra. Các phương pháp “I”, khí và hsin được bàn đến trong những phần sau đây đều dựa trên đường lối của bát quái chưởng. Thái cực quyền và hình ý quyền cũng có những đường lối của riêng mình — có cái tương đồng, có cái khác biệt — để đạt thành cùng những mục tiêu ấy.
Cấp 1: Cảm nhận cơ thể và khí của bạn
Ở một mức độ nào đó, hoặc là những dây thần kinh vật lý hoặc là những dây thần kinh tâm linh (tức là những kinh mạch năng lượng tinh tế) của bạn phải mở ra và trở nên nhạy bén trước khi bạn có thể cảm nhận được bất cứ điều gì. Tuy nhiên, cũng giống như người có đôi mắt đang mở nhưng cái tâm lại không thể cảm nhận được điều đó, khí của bạn có thể đang chuyển động, nhưng bạn không thể cảm thấy nó. Ở cấp độ thực hành ban đầu này, hết sức khó có khả năng bạn sẽ cảm thấy khí lưu chuyển trong cơ thể mình. Để học cách cảm nhận khí một cách trực tiếp, trước hết bạn phải tập trung đạt được năng lực cảm nhận từng phần riêng biệt của cơ thể (xương bả vai, cột sống, các khớp xương, bên trong bụng, v.v.). Sau đó bạn phải nỗ lực cảm nhận những chuyển động vật lý toàn thân của bát quái chưởng, hoặc của bất cứ môn nghệ thuật khí nào mà bạn thực hành.
Cấp 2: Những chuyển động chuyển tiếp — Phát triển thêm cái “I”
Sau khi những mục tiêu của Cấp 1 được hoàn thành, cái “I” (ý niệm tinh thần, ý chí, hay sự phóng chiếu) của bạn đã bắt đầu làm cho khí chuyển động qua hai cánh tay và đôi chân. Tuy nhiên, sự chuyển động từ đan điền dưới của bạn xuyên qua thân mình tới cổ và đầu cũng quan trọng không kém. Ở đây, cần phải có một sự tập trung mạnh mẽ vào những chuyển động chuyển tiếp, thứ nối kết một tư thế tay tĩnh của bát quái với một tư thế tay tĩnh khác của bát quái. (Xem Chương 6, tr. 216) Chính cái “I” sẽ làm cho khí chuyển động.
Tồn tại bên ngoài cơ thể con người (thường bắt đầu từ ranh giới bên ngoài của làn da bạn và kéo dài tới khoảng cách từ một nắm đấm cho đến năm hoặc sáu feet) là lớp năng lượng bên ngoài thứ nhất của cơ thể. Chính lớp khí này truyền dẫn năng lượng đến từ vũ trụ vào trong cơ thể con người. Thường được gọi là thân dĩ thái (khí thể) hay hào quang, lớp năng lượng bên ngoài này trực tiếp kích thích và điều hòa năng lượng bên trong cơ thể con người. Đồng thời, năng lượng bên trong cơ thể con người lại tạo ra thân dĩ thái. Đó là một tình huống kiểu “con gà và quả trứng”, trong đó sự tương liên chặt chẽ đến mức tác động vào cái này tức là tác động vào cái kia. Phần lớn chính vì lý do này mà đôi bàn tay trong tất cả các tư thế nội công, kể cả thái cực quyền, bát quái chưởng và hình ý quyền, không bao giờ tiến lại gần cơ thể hơn khoảng cách rộng một nắm đấm. Nếu chúng tiến lại quá gần, chúng có thể làm đoản mạch hoặc làm suy giảm năng lượng đang tuần hoàn giữa cơ thể vật lý và trường năng lượng dĩ thái.
Ở đâu đó trong khoảng giữa cái khoảng cách một nắm đấm này và vài feet tính từ cơ thể sẽ là cái phạm vi mà tại đó sự kích thích của đôi bàn tay bạn đối với thân dĩ thái sẽ ở mức yếu nhất hay mạnh nhất. Ở chỗ nào mạnh nhất, cảm giác này sẽ hữu hình nhất đối với bạn, và ở chỗ nào yếu nhất, nó sẽ kém hữu hình nhất.
Tiếp tục theo một tiến trình tự nhiên của những bài thực hành Cấp 1, để tạo thuận lợi cho việc làm cho khí chuyển động qua những kinh mạch cụ thể trong thân mình, vị thầy của bạn sẽ hướng dẫn những chuyển động của đôi bàn tay theo những cách cụ thể nhằm giúp bạn có thể phóng chiếu khí từ lòng bàn tay hay từ những đầu ngón tay. Những cách cụ thể ấy thường sẽ được dạy trong rất nhiều chuyển động chuyển tiếp khác nhau đi từ một tư thế tĩnh này sang một tư thế tĩnh khác. Lúc ban đầu, bạn sẽ thực hiện động tác chuyển tiếp ấy một số lần để ổn định cảm giác của mình về kinh mạch. Rồi theo thời gian, thông qua việc giữ cái tư thế tĩnh cụ thể ấy, sự mở ra của đường năng lượng đó sẽ trở nên ổn định. Vào lúc đó, bạn sẽ cảm thấy khí trong mạch ấy khi nó lắng đọng tại vị trí bàn tay của bạn.
Những sự phóng chiếu khí này thường sẽ mở ra dòng năng lượng của bạn và sẽ diễn ra theo ba giai đoạn tiến triển: (1) xuyên qua cái lò giữa (middle burner) nằm giữa đan điền dưới và đan điền trung, tức là nằm giữa vùng hạ bộ và đám rối thái dương (solar plexus); (2) sau đó xuyên qua đan điền dưới tới hai cánh tay và cái đầu; (3) và cuối cùng, từ đầu xuống chân và từ chân lên đầu, trước tiên chuyển động trên bề mặt của cơ thể (kể cả cột sống và lưng) rồi sau đó đi sâu hơn vào các nội tạng và xương cốt. Rốt cuộc, ở giai đoạn thứ ba, khí của bạn chuyển động qua trung mạch (central channel) và tủy xương. Phương pháp phóng chiếu và quán tưởng bằng tâm trí làm cho khí chuyển động được gọi là I chu dzuo, hay “ý làm cho khí chuyển động”. Đây là cách dễ nhất để tiếp cận khí trong cơ thể, nhưng không phải là cấp độ khí mạnh mẽ nhất trong cơ thể. Tuy nhiên, nó cũng đã đủ cho những mục đích về sức khỏe, trị liệu và tự vệ.
Cấp 3: Công việc trên những kinh mạch cụ thể
Ở mức độ thành tựu này, bạn bắt đầu làm cho khí của mình chuyển động trong cơ thể một cách không gắng sức chỉ bằng tư duy có ý thức mà thôi. Đối với bát quái của mình, giờ đây bạn cần phải biết sự tương ứng giữa một chuyển động cơ thể cụ thể và mối quan hệ của nó với dòng khí trong những kinh mạch của bạn. Tài liệu này thường được dạy theo một trong ba cách, tùy thuộc vào loại hình và mức độ hiểu biết của vị thầy bạn. Trong ba cách ấy, phương thức tự vệ dường như là cách dễ học nhất đối với đa số người. Hãy khắc ghi trong tâm rằng, ngay cả khi bạn yêu cầu những thông tin minh bạch, một vị thầy không đủ tư cách có thể không thể đáp ứng được điều đó, và một bậc tông sư có thể không sẵn lòng, vì bất cứ lý do gì, chấp thuận lời yêu cầu của bạn. Ba đường lối đó là:
1. Dạy cách làm cho khí chuyển động từ điểm này sang điểm khác nhằm phát triển sức mạnh. Đường lối này thường được gắn kết với những ứng dụng tự vệ và có lẽ là đơn giản nhất đối với người học, bởi vì những ứng dụng chiến đấu khá là trực quan và tương đối dễ nhớ. Ngay cả khi bạn kinh hoàng trước bạo lực (hoặc ghê tởm nó), thì một chút hiểu biết sơ đẳng nhất về một kỹ thuật tự vệ của bát quái chưởng (hay thái cực quyền) dành cho một chuyển động cụ thể (thứ thường sẽ đòi hỏi sự huấn luyện sâu sắc hơn rất nhiều để trở thành tự vệ thực dụng) cũng sẽ cung cấp cho bạn một phương pháp thực tế và đáng tin cậy để kích hoạt bằng tâm trí những đường kinh mạch của mình. Bài thực hành khí cơ bản này cũng là một lý do hết sức thực tế để học những ứng dụng tự vệ sơ cấp của thái cực quyền, bát quái chưởng và những môn nội gia khác, ngay cả khi bạn chẳng có chút hứng thú nào đối với việc chiến đấu thực sự.
2. Dạy về sự vận hành của những dòng khí, hoặc là dưới góc độ những tác dụng và lợi ích y học thực tiễn đối với cá nhân bạn, hoặc là cách mà năng lượng từ một chuyển động được áp dụng trong trị liệu khí công hay trong các liệu pháp thân thể. Trong lối tư duy thông thường của phương Tây, những mặt đối lập thường được nhìn nhận như là đối nghịch lẫn nhau. Từ quan điểm của Kinh Dịch (I Ching) và của Đạo giáo, những mặt đối lập lại bổ túc cho nhau, với những phẩm tính hòa quyện. Theo đó, cùng một bài thực hành năng lượng cơ bản ấy có thể được dùng để chữa lành hoặc để gây hại (cho chính bạn hay cho người khác), tùy thuộc vào ý hướng và cách áp dụng của bạn.
3. Chuyển động và cách khí chuyển động được dạy bằng cách gắn kết điều này với một câu chuyện hay một ngụ ngôn, thứ được sử dụng cho những mục đích thiền định. Ở đây, năng lượng chuyển động qua những đường khí nhất định sẽ khơi dậy một trạng thái tâm trí và/hoặc cảm xúc cụ thể. Trong khi câu chuyện đang được kể, vị thầy theo dõi và điều chỉnh câu chuyện ấy sao cho kích thích mạnh mẽ nhất những dòng khí nơi người nghe.
Một kết quả của việc thực hành ba cách làm cho khí chuyển động quanh quẩn trong cơ thể này sẽ là việc bạn bắt đầu phát triển năng lực tích trữ và ổn định năng lượng trong đan điền dưới của mình, tựa hồ như nó là một cục pin hay một bể chứa. Cũng như một cục pin có thể tích trữ năng lượng, nó cũng có thể giải phóng năng lượng. Sau khi bạn đã có một ít khí được tích trữ trong đan điền dưới, giờ đây bạn làm việc với bước tiến tiếp theo: chủ động hấp thu hoặc phóng xuất khí từ bất cứ điểm nào trong cơ thể ngay tức khắc.
THÂN DĨ THÁI/KHÍ THỂ (ETHERIC/CHI BODY) — Trường điện sinh học mở rộng từ vài inch cho tới vài trăm feet tính từ cơ thể của một người. Ở phương Tây thường được gọi là hào quang (aura).
ĐAN ĐIỀN DƯỚI (LOWER TANTIEN) — Nằm bên dưới rốn ở trung tâm của cơ thể, trung tâm năng lượng này chủ yếu chịu trách nhiệm về sức khỏe của cơ thể vật lý.
LÒ GIỮA (MIDDLE BURNER) — Nằm trong thân mình, giữa đám rối thái dương và đan điền dưới,
ĐAN ĐIỀN TRUNG (MIDDLE TANTIEN) — Một trong ba trung tâm năng lượng chính yếu trong cơ thể. Có hai vị trí riêng biệt được coi là đan điền trung: điểm nằm ở đám rối thái dương ngay bên dưới xương ức và điểm nằm gần trái tim trên trung mạch.
I CHU DZUO — Một phương pháp vun bồi khí cơ bản, trong đó người ta dùng cái ý (“I”) để tạo ra một bức tranh tâm trí (quán tưởng), thứ sau đó gián tiếp làm cho khí chuyển động qua cơ thể con người.
Cấp 4: Hsin hay Tâm/Tâm thức
Phương pháp I chu dzuo chỉ có thể đưa bạn đi xa đến thế: Lượng năng lượng tinh thần được huy động cho đến thời điểm này là đáng kể. Tuy nhiên, khí vẫn chỉ đang đi theo một cách hời hợt những tư duy có ý thức của bạn. Những Cấp 1, 2 và 3 được nêu ra ở đây chuẩn bị cho bạn bước vào giai đoạn nội công của công phu năng lượng thái cực quyền và bát quái chưởng, thứ không dựa nhiều vào cái “I” mà dựa vào hsin và vào nguyên lý chi chu dzuo.
Sự chuyển động trực tiếp và gián tiếp của khí
Bộ não/tâm lý trí, hay phân tích, hay tính toán của con người thường là không đủ để cho phép người ta hoàn toàn an nhiên với chính mình. Tư duy và tưởng tượng chắc chắn có thể sinh ra đủ khí để làm cho cơ thể bạn khỏe mạnh ở mức tạm được, nhưng lại không cho phép bạn được bình an với chính mình hay có được những mối quan hệ hài hòa với người khác. Bạn phải đào sâu hơn vào cội rễ của cái tâm thức có ý thức của mình để thay đổi bản tính nền tảng và thực tại bên trong của nó. Ý niệm “I” có thể giúp bạn hoàn thành công việc, nhưng nó sẽ không thay đổi được kết cấu bên trong của con người bạn. Cái tâm/tâm thức, hay hsin, thì có thể.
Ở phương Tây, chúng tôi gọi hsin là tâm thức tiềm thức hay là tâm thức trực giác. Đối với người Trung Hoa, đó là nguồn cội từ đó mọi ý nghĩ nảy sinh. Hãy để cái “I” (ý niệm) của bạn chảy tới một đối tượng bên ngoài. Kế tiếp, trong chừng mực mà bạn có thể, hãy vượt lên trên hình tướng của đối tượng ấy, tức là hình dáng, màu sắc, kích thước của nó — bất cứ thuộc tính vật lý nào mà nó tình cờ có được. Hãy vượt qua việc đồng nhất bằng từ ngữ, tên gọi, hay bất cứ ý niệm nào được gắn kết với đối tượng. Giờ đây, từ chiều sâu của con người mình, hãy xem thử bạn có thể thực sự lĩnh hội được đối tượng này là cái gì trong toàn thể tính của nó hay không, không để cho cái tâm nhận thức của mình can thiệp vào mối quan hệ trực tiếp giữa đối tượng và bản chất của con người bạn. Mặc dù bạn vẫn nhận biết được tư duy có ý thức (tâm), giờ đây bạn đang vận hành từ cái lõi hsin/tâm của con người mình.
Người Trung Hoa tin rằng cái tâm chân thực của một con người nằm trong năng lượng tinh tế của trái tim — trung tâm của con người một người. Đây là nơi bạn có được năng lực tâm thức cao hơn để thực hiện những hành động của bát quái chưởng.
Khi bạn đã thực hành những kỹ thuật “I” một cách đầy đủ cho đến và bao gồm cả cấp độ thứ ba, một bể chứa khí, như đã nói, sẽ tụ tập trong đan điền dưới của bạn. Sự tích lũy này hoàn toàn không phải là một ý niệm hay là một sự trừu tượng về khí, mà chính là bản thân khí, thứ có thể cảm nhận được. Vào lúc này, bạn có thể bắt đầu từ từ nuôi dưỡng hsin cho đến khi nó có thể tiếp xúc và hòa nhập với khí thống nhất trung tâm của cơ thể bạn — jeng chi (chân khí) — thứ đang cư ngụ trong đan điền dưới của bạn. Giờ đây bạn nên đã có được một sự tiếp xúc trực tiếp và sâu sắc với khí của cơ thể mình ở những tầng sâu nhất, và do đó có thể bắt đầu sử dụng tất cả những pháp thực hành nội công của Đạo gia vốn hữu ích cho bát quái chưởng và thái cực quyền. Hơn nữa, giờ đây bạn cũng nên đã có thể tập trung khí của mình không chỉ vào những tiến trình thiết yếu của cơ thể (các cơ quan nội tạng, các tuyến, não bộ, các khớp xương, hệ tủy não, các mô mềm, và xương cốt) mà còn vào những khía cạnh khác nhau của tất cả những gì mà các Đạo sĩ gọi là tám thân thể năng lượng của bạn (vật lý, khí/dĩ thái, cảm xúc, tâm trí, tâm linh, nhân quả, tính cá biệt, và Đạo).
CHI CHU DZUO — Phương pháp chuyển động một cảm giác cơ thể được cảm nhận về khí như là một lực sống động từ đan điền dưới vào bất cứ kinh mạch nào mà người thực hành chủ ý hướng nó tới.
JENG CHI — Khí thống nhất. Khí duy nhất thống nhất tất cả khí của cơ thể, thứ mà sự thực hành của tất cả các nội gia Đạo gia đều tìm cách vun bồi.
TÁM THÂN THỂ NĂNG LƯỢNG (EIGHT ENERGETIC BODIES) — Tám tần số rung động rõ rệt của năng lượng cấu thành nên một cơ thể con người.
NỘI ĐAN (NEI DAN) — Theo nghĩa đen, viên/trứng vũ trụ nội tại. Một thuật ngữ chỉ những phương pháp luyện kim nội tại của Đạo giáo.
LUYỆN KIM (ALCHEMY) — Quá trình biến đổi một chất này thành một chất khác, bên ngoài trong môi trường hay bên trong trong cơ thể.
Thông qua sự nở hoa này, con người tiềm năng của bạn được thực chứng từng giai đoạn một khi nhận thức có ý thức về hsin của bạn lớn lên. Bạn có khả năng, từng chút một, nhận biết không chỉ khí cá nhân của chính mình mà còn cả Khí Vũ Trụ, nơi từ đó mọi hình tướng đã được hiển lộ và mọi bản chất chưa được hiển lộ đều phát sinh. Sự tập trung vào hsin như là yếu tố thiết yếu nhất trong tất cả các pháp thực hành của Phật giáo và Đạo giáo Trung Hoa rốt cuộc dẫn tới “sự chuyển động trực tiếp của khí” hay chi chu dzuo. Để thực hành chi chu dzuo, hsin phải được phát triển. Có thể nói rằng phương pháp “I” là một pháp khí công mang tính bên ngoài hơn, điều khiển khí bên ngoài đi vào trong cơ thể, trong khi hsin chi chu dzuo là một phương pháp nội công mang tính bên trong hơn, nơi mà từ chiều sâu của tâm thức và từ trung tâm của khí nội tại nơi một người, năng lượng được làm cho tuần hoàn. Chỉ riêng phương pháp nội công hsin mới chịu trách nhiệm đối với những pháp thực hành khí cao cấp của nội đan (nei dan) — viên/trứng vũ trụ nội tại — của thuật luyện kim nội tại Đạo gia, thứ hình thành nên nền tảng của những pháp thiền định cao cấp của Đạo gia. Với I chu dzuo, luôn luôn có một khoảng hở cực nhỏ giữa việc cái tâm của bạn suy nghĩ và việc khí của bạn chuyển động. Trong phương pháp chi chu dzuo, tâm và khí của bạn trở thành một.
Trong những pháp thực hành nội công của Đạo gia, kể cả bát quái chưởng và thái cực quyền, sớm muộn gì người thực hành cũng không chỉ phát triển hsin (nền tảng tối hậu của thiền định), mà đồng thời còn trực tiếp điều khiển được khí của cơ thể, điều cần thiết cho sự chuyển hóa hữu cơ ở cấp độ tế bào. Phương pháp chi chu dzuo phần lớn chịu trách nhiệm cho sức mạnh to lớn và sự tráng kiện của rất nhiều người thực hành bát quái chưởng và thái cực quyền ở độ tuổi tám mươi đến chín mươi tại Trung Hoa.
I chu dzuo giống như việc biết cái bóng của sự kết nối khí/tâm nơi bạn, trong khi chi chu dzuo mang lại cho bạn sự thể nghiệm trực tiếp về nó. Phương pháp chi chu dzuo dựa trên hsin có lẽ là cấp độ cao nhất của công phu khí Đạo gia, trong khi phương pháp I chu dzuo lại dễ được người bình thường sử dụng hơn. Phương pháp chi chu dzuo, dựa trên nội công Đạo gia, được học tốt nhất bằng cách học tập trực tiếp với một bậc chân tu. Hầu hết mọi người rốt cuộc đều có thể đạt tới năng lực hsin/chi chu dzuo, miễn là họ biết thư giãn và kiên trì, và đó chính là cách mà các cá nhân đạt được công phu nội tại chân thực, hay kỹ năng, bất kể họ học môn gì.
THÁI CỰC QUYỀN, HÌNH Ý QUYỀN VÀ BÁT QUÁI CHƯỞNG — CÁI GÌ GIỐNG NHAU, CÁI GÌ KHÁC NHAU?
Mỗi môn trong ba môn võ nội gia này đều có những kỹ thuật vun bồi khí và kỹ thuật chiến đấu tương tự nhau. Họ chỉ thực hành chúng rất khác nhau mà thôi. Những loại hình thực hành cụ thể của họ cũng sản sinh ra một loại cơ thể rất khác biệt, khuyến khích những loại chiến lược tư duy khác nhau, và có những đường lối triết học khác nhau để đạt thành mục tiêu. Mỗi môn đều có những điểm mạnh và điểm yếu của riêng nó.
Trong ba môn, hình ý quyền có cấu trúc nội tại đơn giản nhất, thái cực quyền ở khoảng giữa, và bát quái chưởng là phức tạp nhất. Về mặt thể chất lẫn tinh thần, những chuyển động chậm rãi và có nhịp điệu của thái cực quyền là dễ học nhất đối với công chúng nói chung, đặc biệt là đối với người đau yếu hay bị thương, trong khi những động tác của bát quái chưởng lại là phức tạp nhất để học. Hình ý quyền có xu hướng hấp dẫn lớn nhất đối với những người trẻ tuổi, thái cực quyền đối với người già, còn bát quái chưởng dường như hấp dẫn đồng đều với người ở mọi lứa tuổi. Ở bất cứ tuổi tác nào, một sự hiệp lực mạnh mẽ dường như được tạo ra trong cơ thể bằng cách kết hợp sự mềm mại cực độ của năng lượng âm nơi thái cực quyền với sức mạnh mà năng lượng dương của bát quái chưởng phát triển.
Lúc ban đầu, hình ý quyền là cách dễ nhất và thực dụng nhất để học đánh, thái cực quyền là cách làm người ta bối rối nhất, và bát quái chưởng rốt cuộc là cách trọn vẹn và hữu hiệu nhất. Một số môn phái bát quái chưởng và hệ phái Ngô (Wu) của thái cực quyền có khuynh hướng thiền định nhiều hơn so với hình ý quyền hay so với những hệ phái thái cực quyền khác.
Những quan điểm triết học: Cứng, Mềm, và Biến đổi
Mỗi môn đều khác biệt về mặt tâm lý và triết học. Hình ý quyền tập trung vào đường lối trực tiếp, vào sự hung hăng tấn công. Những đặc điểm của tâm tính hình ý quyền bao gồm việc đương đầu với vấn đề một cách chính diện, vượt qua bất cứ trở ngại nào xuất hiện, có một sự tự tin mãnh liệt phi thường không chịu chấp nhận thất bại, và một thái độ “cứ làm đi” trong việc đạt thành mục tiêu. Về mặt tinh thần, những người tập hình ý quyền không bao giờ lùi bước. Họ đơn giản coi việc bước lùi lại như là một tình thế chiến thuật tạm thời nhằm cho phép họ tiếp tục với công việc chính yếu của mình là tấn công và chinh phục. Hai câu nói đặc trưng cho hình ý quyền là: “Ý ta phải được thực hiện” và “Không bao giờ lùi bước.” Đó là những tiếng hô hiệu kỳ khi một tay chiến đấu hình ý quyền tiến lên và hung hăng đánh bại một đối thủ. Cái tâm tính cứng rắn, mang tính quân sự này khá hữu ích trong việc phát triển một tinh thần cạnh tranh hướng tới thành công và tính tự kỷ luật, cũng như trong việc khôi phục một hình ảnh bản thân tích cực cho một người đang phô bày một cái ngã yếu ớt hoặc bị tổn thương.
Thái cực quyền nhấn mạnh sự mềm mại, việc đạt thành mục tiêu theo một cách gián tiếp và không lộ liễu, sự tinh tế, và việc chảy vòng quanh những trở ngại thay vì đối đầu với chúng. Sự lừa gạt, việc không cho người khác một chỗ chắc chắn để tấn công, sự tinh tế và thận trọng, cùng đủ loại chiến lược phản công tạo thành cốt lõi của hồ sơ tâm lý thái cực quyền. Một khuynh hướng thái cực quyền sẽ đem lại sự kháng cự tối thiểu hoặc không có kháng cự chút nào đối với một trở ngại, một con người, hay một tình huống. Những người tập thái cực quyền nhường nhịn trước một lực đang ập tới, và trong lúc bề ngoài có vẻ yếu ớt, họ kéo lực đó vào trong mình, lách vòng quanh nó như nước chảy vòng quanh một tảng đá, rồi sau đó phản công vào khoảnh khắc bất ngờ nhất.
Những câu nói mang tính chi phối trong thái cực quyền là: “Quên mình và theo người” và “Ý người sẽ được thực hiện,” để cho những đối thủ có được bất cứ điều gì họ muốn, nhưng không phải theo cái cách mà họ đã mong đợi. Trong tiến trình trao cho đối thủ điều họ muốn thông qua sự nhường nhịn, những tay chiến đấu thái cực quyền di chuyển từ một vị thế yếu ớt tới một vị thế có lợi thế.
Nguyên lý chính yếu của thái cực quyền là hấp thu bất cứ lực hay sức kháng cự nào đang ập tới và dùng năng lượng của chính lực ấy để đánh bại nó. Thái cực quyền, không giống như hình ý quyền, không thích tấn công, nhưng nếu một tay chiến đấu thái cực quyền bị tấn công, thì năng lượng của cuộc tấn công ấy sẽ được dùng để đánh bại kẻ tấn công. Mặc dù cả thái cực quyền lẫn hình ý quyền đều chỉ sử dụng những nguyên lý nội gia, nhưng những chiến lược của họ về cách đối phó với vấn đề hay với những tình huống khó khăn lại hoàn toàn đối nghịch nhau. Thái cực quyền mang tính phòng ngự trong khi hình ý quyền mang tính tấn công. Tuy nhiên, bên trong chiếc găng nhung mềm mại của thái cực quyền lại ẩn chứa một nắm đấm bằng thép.
64 QUẺ (64 HEXAGRAMS) — Sáu mươi bốn sự biến đổi năng lượng cơ bản của Kinh Dịch (I Ching).
Triết lý thái cực quyền đặc biệt hữu ích cho những nhân cách đang căng thẳng, những người gặp rất nhiều khó khăn trong việc thư giãn dưới cái áp lực mà họ cảm nhận. Những cá nhân như vậy có thể hưởng lợi từ việc học cách buông bỏ, thư giãn, và nhường nhịn trước cái không thể tránh khỏi, trong số rất nhiều tình huống mà ở đó chẳng có cách nào để nắm lấy quyền kiểm soát. Thái cực quyền là chương trình giảm căng thẳng được ưa chuộng nhất, được giới doanh nhân và chuyên gia thành đạt sử dụng trong những nền kinh tế đang bùng nổ của vùng Đông Bắc Á. Trong khi đường lối của hình ý quyền rất cứng rắn, tuyến tính và mang tính nam, thì thái cực quyền lại mềm mại, tròn trịa và mang tính nữ trong cách tiếp cận. Cả hai đều mạnh mẽ và công năng ngang nhau. Thái cực quyền sẽ có giá trị về mặt tâm lý cho bất cứ cá nhân nào muốn có thể kết hợp thành công những yếu tố âm của sự tiếp nhận và sự nhạy bén với những yếu tố dương của sức mạnh và của năng lực hoàn thành mục tiêu.
Về mặt tâm lý, bát quái chưởng dựa trên ý tưởng có khả năng chuyển đổi một cách êm thấm và thích đáng từ tình huống này sang tình huống khác. Sự nhận thức và khả năng thích ứng với dòng biến dịch tự nhiên của những tình huống là nguyên tắc hướng dẫn cơ bản của nó. Không giống như thái cực quyền và hình ý quyền, môn nghệ thuật bát quái chưởng không có một triết lý cứng hay mềm, mặc dù nó sử dụng những chiến lược của cả hai khi điều đó hữu dụng. Sự biến đổi và việc tìm kiếm tính tự nhiên trong tất cả những hành động của nó là mệnh lệnh tối thượng. Bát quái chưởng sử dụng tất cả sáu mươi bốn mô thức tâm lý và tâm linh của 64 quẻ trong Kinh Dịch mà không hề cố chấp vào bất cứ quẻ nào trong số đó. Vì vậy, bát quái chưởng thách thức hơn cả thái cực quyền lẫn hình ý quyền.
Trong bát quái chưởng, hầu như không có sự bận tâm nào về bản thân hay về đối thủ. Thay vào đó, mối bận tâm là “sự kiện đang diễn ra” vào chính khoảnh khắc này trong thời gian. Sự chú ý được dành không chỉ cho năng lượng của chính bạn và của đối thủ, mà còn cho năng lượng của môi trường xung quanh, kể cả năng lượng của mặt đất, của những vì sao, của bầu trời, của cây cối, và tất cả những lực năng lượng tự nhiên đang bao quanh bạn. Để cho chuyển động và sự phóng chiếu lực của bạn được hòa điệu với ma trận năng lượng của tất cả những năng lượng môi trường này đang tụ họp lại với nhau, bạn phải bỏ lại đằng sau cảm thức về bản ngã của mình và bất cứ chương trình nghị sự nào. Những ứng dụng tự vệ mãnh liệt của bát quái chưởng nên được xem như là sản phẩm phụ của sự tương tác này, chứ không phải là cứu cánh tự thân của chúng. Trên thực tế, rất nhiều người ở Trung Hoa tập bát quái chưởng mà không hề có bất cứ sự cân nhắc nào về võ thuật, thay vào đó họ tập trung vào những lợi ích về sức khỏe và/hoặc về thiền định của nó, cũng như vào niềm vui thuần túy của sự hòa quyện với những lực của thiên nhiên.
Bát quái chưởng cũng có sự tương đồng với những nguyên lý cơ bản về sự mềm mại và nhường nhịn của thái cực quyền. Thật vậy, bát quái chưởng tuân theo rất nhiều nguyên lý trong những tác phẩm kinh điển của thái cực quyền, kể cả: (1) không làm đứt đoạn dòng năng lượng nội tại đi từ tư thế này sang tư thế khác; (2) nhận ra rằng cơ thể có năm cái cung; (3) tìm cái thẳng từ cái cong; (4) lắng nghe năng lượng; (5) diễn giải năng lượng một cách chính xác; (6) phản công bằng cách bắt đầu sau khi đối thủ đã bắt đầu nhưng lại tới đích trước khi cuộc tấn công của y kết thúc.
Cách thức di chuyển của ba môn
Một số phép loại suất thường được sử dụng để mô tả những loại chuyển động và cảm giác đặc thù của ba môn nội gia. Thái cực quyền thì lỏng như nước, nhưng lại bén rễ như đất. Hình ý quyền giống như một ngọn núi, một lực rắn chắc không thể lay chuyển, với bộ pháp nhẹ nhàng và nhanh nhẹn. Bát quái chưởng giống như một cơn lốc, hay như một bụi cỏ lăn chuyển động tự do theo chiều gió. Cũng theo cách ấy, có những hình ảnh so sánh cho loại cơ thể được phát triển thông qua sự thực hành của chúng: Thái cực quyền giống như một quả bóng cao su; hình ý quyền giống như một cây cột sắt; bát quái chưởng giống như thép dẻo. Cái cơ thể được tôi luyện bởi sự tập luyện bát quái chưởng thì đặc biệt đàn hồi và mạnh mẽ. Nó cũng khá thư giãn, nhưng không phải với loại thư giãn cực độ thường được gắn kết với thái cực quyền. Trong khi cơ thể bát quái chưởng không thư giãn bằng cơ thể thái cực quyền, nó nói chung được coi là mạnh mẽ hơn trong hai cơ thể ấy.
Cả ba môn nội gia đều có năng lực hấp thu và phóng chiếu một sức mạnh to lớn. Là một môn võ thuật, bát quái chưởng khác biệt so với những môn kia ở chỗ, ngoài những phẩm chất riêng biệt của chính nó, nó còn bao hàm luôn cả những phẩm chất của cả thái cực quyền lẫn hình ý quyền. Hình ý quyền có một năng lực xuyên thấu mạnh mẽ và hung hăng, có thể đi xuyên qua những thế phòng thủ bằng cánh tay/bàn tay của đối thủ như một con dao nóng cắt qua miếng bơ. Một số người thực hành bát quái chưởng phát triển nhiều sức mạnh đến mức họ thậm chí không cần phải đi vòng tròn nữa. Đôi bàn chân của họ dường như không hề di chuyển. Chỉ bằng cách xoay cái eo, họ có thể đánh xuyên thẳng qua bạn. Phương pháp luận này tương tự như của hình ý quyền. Mặt khác, bát quái chưởng cũng thể hiện năng lực nhường nhịn và tránh né của thái cực quyền, đặc biệt là khi dai được sử dụng, tức là những kỹ thuật dẫn dắt (mà môn hiệp khí đạo aikido được xây dựng trên đó). Trong khi hình ý quyền được coi là cứng và thái cực quyền là mềm, thì bát quái chưởng không là cái nào trong hai cái đó cả. Nó có năng lực để trở nên cứng và năng lực để trở nên mềm, nhưng bản chất chân thực của nó là sự biến đổi. Do đó nó chiếm lĩnh vùng trung dung giữa cứng và mềm. Một người tinh thông bát quái chưởng có thể thay đổi vị thế hay chuyển động để thích ứng ngay tức khắc với những nhu cầu và hoàn cảnh của khoảnh khắc.
Sự nhấn mạnh vào bộ pháp, cái eo, và đôi bàn tay
Bất kể trình độ bát quái của bạn ở mức nào, bạn không bao giờ được đứng yên một chỗ quá một phần nhỏ của giây đồng hồ. Những người thái cực quyền sẽ đảm nhận một vị thế và giữ lấy nó, chuyển động ở cái eo, rồi phản công. Những người hình ý quyền sẽ tiến thẳng vào đối thủ hoặc đứng vững tại chỗ của mình và đánh nhau tới bến. Trái lại, mục tiêu trước tiên và quan trọng nhất của một tay chơi bát quái là phải di chuyển. Mọi chuyển động, bất kể là tấn công hay phòng ngự, đều bắt nguồn từ đôi bàn chân. Trong bát quái chưởng, một bàn tay không bao giờ tự nó chuyển động. Để một bàn tay chuyển động, một bàn chân phải chuyển động, hoặc là trong không gian hoặc ít ra là bằng cách thay đổi áp lực đối với mặt đất.
DAI — Kỹ thuật năng lượng của bát quái để dẫn dắt một đối thủ, nơi năng lượng của mình và năng lượng của đối thủ hòa vào làm một dòng duy nhất không thể tách rời.
Đường lối này khác biệt với cả hình ý quyền, nơi đôi bàn tay dẫn dắt mọi chuyển động và cái eo cùng bàn chân đi theo, lẫn thái cực quyền, nơi cái eo khởi xướng mọi thứ và bàn tay cùng bàn chân đi theo. Trong bát quái chưởng, bàn chân chuyển động, và toàn bộ cơ thể chuyển động cùng với nó. Sự khác biệt này đúng với tất cả các môn phái bát quái. Nếu cái eo hay bàn tay dẫn dắt hành động, điều đó thường có nghĩa là những kỹ thuật bát quái đã bị pha trộn với phương pháp luận của hình ý quyền hay của thái cực quyền. Sự pha trộn như vậy là chuyện phổ biến ở phương Tây, nơi sự thực hành của bất cứ môn nào trong ba môn thường phô bày những đặc tính pha tạp của hai môn kia.
Trong bát quái chưởng, dù đang đứng yên hay đang di chuyển, cái rễ của một người phải được duy trì mọi lúc, bất kể tốc độ hay hướng của chuyển động. Không hề có sự nhảy lên xuống theo chiều thẳng đứng từ bước này sang bước khác. Chuyển động bao gồm một sự liên tục êm thấm đi từ vị thế này sang vị thế kế tiếp. Mặc dù trong chiến đấu một bước chân có thể chỉ kéo dài một phần mười của giây, nhưng trong khoảnh khắc ấy cái rễ phải thật vững chắc. Khoảnh khắc ấy phải là đủ thời gian để lo liệu đối thủ. Nếu không, người thực hành nên tiếp tục di chuyển cho đến khi giành được một vị thế có lợi thế.
Những mẫu số chung
Trong mỗi môn của ba môn võ nội gia, tất cả những chuyển động đều có năng lực sản sinh nội lực, thứ có thể được hướng ra bên ngoài thông qua những kỹ thuật vật lý để kiểm soát hoặc làm hại một đối thủ. Những tay chiến đấu của mỗi môn đều tập trung toàn bộ sự sáng tạo và trí thông minh của mình vào việc thực hành làm sao đem sức mạnh này ra khỏi cơ thể của mình. Tất cả công phu khí sẽ được dành cho việc sản sinh sức mạnh tối đa, tốc độ, sự dẻo dai có thể sử dụng được, và năng lực thay đổi kỹ thuật một cách nhanh chóng. Sự huấn luyện này sẽ đòi hỏi một nỗ lực thể chất tập trung vất vả hơn rất nhiều so với những gì được đòi hỏi cho sức khỏe và trường thọ, thứ mà người chiến đấu cũng có được dù sao đi nữa như là một sản phẩm phụ của sự huấn luyện nội lực Đạo gia. Do sự nhiệt tình quá độ, hầu hết những người mới bắt đầu trong các môn võ nội gia đôi khi tập luyện quá sức, điều có thể đưa tới chấn thương và kiệt sức. Để tránh điều này, học trò nên học lấy bài học khó khăn là giới hạn sự tập luyện của mình vào khoảng 70 phần trăm những gì mà cơ thể con người có thể chịu đựng được. (Giới hạn này nên ở một mức phần trăm thấp hơn nữa nếu có một khuyết tật thể chất hay một chấn thương.)
Những điểm yếu
Những người theo võ nội gia phải liên tục thử nghiệm sức mạnh của mình trước những đối thủ ưu việt hơn để đo lường tính xác thực của sự huấn luyện của họ. Kinh nghiệm này thử nghiệm sự tiến bộ về sức mạnh, sự tinh thông hệ phái, và sự quen thuộc với một loạt những kỹ thuật. Tuy nhiên, quan trọng nhất là nó phơi bày những điểm yếu, để cho những người thực hành có thể phân tích những khiếm khuyết trong năng lực chiến đấu của mình và tìm kiếm những cách thức để sửa chữa chúng một cách thực tế. Những bậc thầy võ thuật chân thực sẽ luôn luôn chỉ ra những điểm yếu cho một học trò chân thành — bằng lời nói, bằng bài học thể chất, hay bằng một tấm gương hiển nhiên. Nếu người học trò có khả năng nhận ra lời phê bình xác đáng và ghi nhớ nó vào lòng, thì lời khuyên của vị thầy sẽ được tuân theo. Con đường này trong lịch sử được coi là cách tiến bộ nhanh nhất đã được chứng minh. Lời phê bình có thể đến dưới hình thức những lời nói từ một vị thầy hoặc sự thất bại trong chiến đấu.
Sự cần thiết phải tìm kiếm và thử nghiệm thực tại
Theo truyền thống, những học trò của các môn võ nội gia chiến đấu tiếp nhận thái độ rằng họ sẽ bị khóa vào một cuộc chiến đấu thực sự mang tính sinh tử vào một lúc nào đó. Nếu họ khôn ngoan, họ sẽ nhận lấy những cú đòn ngay từ phía trước và để cho cái ngã của mình bị bầm dập trong lúc huấn luyện, hơn là để cho cái ngã và thể xác của mình bị hủy hoại trong chiến đấu thực sự.
Trong huấn luyện, mọi chuyển động trong những bài quyền đơn luyện được người thực hành thực hiện trong khi đang quán tưởng và cảm nhận một đối thủ tưởng tượng. Học trò sau đó phải liên tục thực hành để làm cho những kỹ thuật ấy có tác dụng trước những kẻ tấn công bằng xương bằng thịt, đầu tiên là với những người bên trong chính môn phái của mình và về sau là với những người không phải là bạn bè của họ và những người biết những phương pháp chiến đấu khác. Trong chiến đấu với những đối thủ sống, người thực hành bát quái chưởng tìm cách tập trung vào việc gia tăng sức mạnh, sự nhạy bén của tiếp xúc, tốc độ, việc xoay eo, và năng lực chuyển đổi từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác một cách linh hoạt. Người thực hành cũng tập trung vào việc đưa cơ thể và đôi bàn chân ra khỏi đường đi của kẻ tấn công, vào việc sử dụng sự lừa gạt, vào việc áp chế đối thủ, và vào việc biến mất rồi lại xuất hiện như một bóng ma. Những điều kiện y hệt như vậy cũng tồn tại trong thái cực quyền, ngoại trừ việc trong thái cực quyền có một sự nhấn mạnh lớn hơn được tập trung vào sự nhường nhịn, sự mềm mại cực độ, bộ pháp ít hoạt động hơn, và việc bén rễ đôi bàn chân tại một chỗ trong những khoảng thời gian dài hơn.
Vượt lên trên sự đe dọa và nỗi sợ hãi
Hầu hết những tay chiến đấu tìm cách đe dọa đối thủ cũng giống như cách một con thú lớn làm cho một con thú khác sợ hãi. Hầu hết những huấn luyện viên võ thuật ngoại gia dành rất nhiều thời gian để dạy học trò của mình cách đe dọa hay “chơi tâm lý” một đối thủ, mà không để cho chính mình bị đe dọa. Nếu bạn có thể bị làm cho sợ hãi, bạn sẽ đông cứng lại dưới áp lực và không thể sử dụng được bất cứ kỹ năng chiến đấu ưu việt nào mà mình sở hữu, qua đó cho phép một đối thủ với những kỹ năng kém cỏi hơn đánh bại bạn. Tiếng hét trong môn karate, tay quyền Anh nói rằng “Cứ tung cú đấm tốt nhất của anh đi rồi xem nó được tích sự gì,” kẻ có đôi mắt của một tên điên sát nhân, cá nhân mà chỉ riêng tâm trí đã có thể gây ra nỗi kinh hoàng tâm linh, sự đe dọa của con dao, của cái chai vỡ, hay của khẩu súng — tất cả những thứ đó là những vũ khí tinh thần mà tay chiến đấu hữu hiệu sử dụng để làm tê liệt trái tim của đối thủ bằng nỗi sợ hãi. Tác động này giống như ánh đèn pha trong đêm tối làm đông cứng con thỏ đang ở trên đường từ cách năm mươi thước Anh. Con thỏ có rất nhiều thời gian để chạy trốn, nhưng rồi nó vẫn bị giết chết bởi vì sự đe dọa đã gây ra sự tê liệt.
Nỗi sợ này (mà rốt cuộc là nỗi sợ cái chết và cái chưa biết, thứ đối với rất nhiều người không thể được kiểm soát hoàn toàn) cũng gây ra sự thống trị và sự khuất phục của cái ngã một cách ồ ạt, điều vốn rất phổ biến trong những bầy thú và trong những hành động quân sự. Khi một con người có thể vượt qua được nỗi sợ này — điều mà mỗi và mọi người theo võ nội gia bát quái chưởng, thái cực quyền và hình ý quyền đều phải làm — thì bạo lực khốc liệt của rất nhiều cuộc đối đầu chiến đấu của con người có thể được thuần hóa.
Một chặng đường cá nhân qua các môn võ thuật: Chiến đấu với những cảm xúc quân bình
Weng Hsien Ming, một học trò kỳ cựu tại trường của Hùng Nghị Tường (Hung I Hsiang) (xem tr. 203), đã từng ba lần đoạt chức vô địch toàn - đối - kháng (full-contact) của Đài Loan. Một hôm, Weng và tôi đã có một buổi đối luyện gay go kéo dài một thời gian. Nó diễn ra trên sân bóng rổ bằng xi măng nơi Hùng Nghị Tường dạy những lớp học buổi tối của mình. Cả hai chúng tôi thỉnh thoảng đánh trúng và ghi điểm trên người nhau một cách nhẹ nhàng, và tuy vui, đó cũng là một trận chiến nảy lửa. Vào một lúc nào đó, tình cờ tôi đánh trúng vào mắt anh ta, làm văng chiếc kính sát tròng của anh. Bình thường, một cú đánh vào mắt sẽ gây ra sự phẫn nộ và những phản ứng cực kỳ nguyên thủy. Chẳng có điều nào trong số đó xảy ra. Chúng tôi ngừng đối luyện trong khi một nhóm học trò của Hùng cùng tôi giúp Weng tìm kiếm chiếc kính sát tròng trên nền xi măng. Chúng tôi tìm thấy nó, và Weng đeo nó trở lại vào chỗ sau khi lau rửa theo lẽ phải.
Nếu sự cố này xảy ra tại bất cứ trường phái võ thuật ngoại gia nào ở Viễn Đông (hay ở phương Tây, về chuyện đó), thì rất có thể một cuộc đối đầu cực kỳ bạo lực đã có thể diễn ra, hoặc là từ một phản ứng sợ hãi hoặc là từ nhu cầu của cái ngã phải giữ thể diện. Weng biết rằng đó chỉ là một tai nạn (chúng tôi đã đánh trúng nhau rất nhiều lần và cả hai chúng tôi đều không bận tâm về điều đó), và chúng tôi tiếp tục đối luyện hết công suất mà không có sợ hãi, không có báo thù, hay kiêu hãnh xen vào đó. Đó không phải là sự yếu đuối về phía Weng mà, trái lại, cho thấy sự ổn định lớn lao của tâm trí. Từ sự bắt đầu này, chúng tôi trở thành những người bạn tốt. Một thời gian sau, tôi ở chung phòng với anh ấy.
Weng có khả năng gây ra tổn thương thể xác to lớn trong một khoảng thời gian ngắn trong một tình huống chiến đấu thực sự, hoặc là trong thi đấu chính thức hoặc là trong một trận tỷ thí. Tuy nhiên, anh ấy không thể bị đe dọa, và anh cũng không hề cố gắng đe dọa những đối thủ của mình. Thay vào đó, anh tập trung vào việc giữ cho tâm trí của mình thanh tịnh và những kỹ thuật của mình mạnh mẽ, thực dụng, hiệu quả, và không có bất cứ chuyển động thừa thãi nào. Tấm gương của anh là một tấm gương tốt để noi theo, nếu bạn muốn trở thành một tay chiến đấu tuyệt hảo với những cảm xúc được quân bình tốt.
Hiệu quả và tỷ lệ rủi ro – phần thưởng
Những tay chiến đấu phải tập trung vào cách sử dụng nội lực của mình sao cho đạt được hiệu quả thực tiễn lớn nhất. Trong mọi hoàn cảnh cụ thể có thể xảy ra, họ phải chuẩn bị cho chính mình để thấu hiểu bản chất của lực nơi đối thủ và khám phá ra cách hữu hiệu nhất để đối phó với nó. Di chuyển quá nhiều hay quá ít trong chiến đấu có nghĩa là gì? Sử dụng quá nhiều hay quá ít sức mạnh trong một phần triệu của giây? Khi nào thì nên di chuyển hay nên đứng yên? Khi nào thì nên dùng sức mạnh, dùng loại sức mạnh nào, và trong bao lâu? Những câu hỏi này phải được thử nghiệm hết lần này đến lần khác. Những cơ may thành công của một cú đánh, một cú quật ngã, một đòn khóa khớp, hay một cú đá là những gì? Cơ may rằng nếu bạn sử dụng kỹ thuật này bạn sẽ bị phản đòn là bao nhiêu, và bằng loại phản đòn nào? Hết lần này đến lần khác, bạn phải tập luyện cho đến khi bạn biết được tỷ lệ rủi ro – phần thưởng, cho đến khi nó trở thành bản tính thứ hai của bạn. Trong chiến đấu thực sự, những quyết định quan trọng nhất đòi hỏi hành động hay chờ đợi diễn ra một cách bản năng, trước khi tâm trí của bạn có thời gian để hình thành một ý nghĩ. Hàng trăm, hàng nghìn, hay hàng chục nghìn giờ tập luyện đơn và tập luyện hai người chính là điều mang lại cho bạn năng lực hành động một cách điềm tĩnh và tự phát trong một cái chớp mắt khi ở dưới áp lực sinh tử.
Học bát quái chưởng, thái cực quyền, hay hình ý quyền để chiến đấu
Bạn nhận được những gì mà bạn trả tiền, vậy hãy tiêu đồng tiền của mình (tức là khí và nỗ lực của mình) một cách khôn ngoan.
Để sử dụng những môn võ nội gia để chiến đấu (hay thực ra là để sử dụng bất cứ môn võ thuật nào), có thể sẽ hữu ích khi ghi nhớ những điểm này:
1. Làm mọi việc một cách kém cỏi thì rất dễ. Để thành công, bắt buộc phải tập luyện một cách nghiêm túc và trung thành.
2. Để trích lời Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin), “Thà có thể làm tốt một hay hai kỹ thuật còn hơn là làm kém cỏi 10.000 kỹ thuật.”
Làm tốt một vài việc không phải là chuyện dễ dàng đến thế.
Làm tốt nhiều việc thì cực kỳ khó khăn.
Làm tốt tất cả những kỹ thuật của bát quái chưởng hay thái cực quyền thì hầu như là không thể. Ngay cả Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan), Ngô Giám Tuyền (Wu Jien Chuan), Dương Trừng Phủ (Yang Cheng Fu), và những thành viên của gia tộc Trần (Chen) cũng làm một số động tác tốt hơn nhiều so với những động tác khác.
Khi những huấn luyện viên võ nội gia giảng dạy, trách nhiệm của họ là trình bày những kỹ thuật chiến đấu của hệ truyền thừa một cách rõ ràng và chính xác nhất có thể. Trách nhiệm của học trò là thực hành đơn luyện và thực hành với bạn tập, và tìm ra cái mà mình muốn tinh thông, rồi sau đó làm lấy công việc. Người Trung Hoa có một câu nói cổ điển: shr fu jing men (vị thầy đưa bạn vào cửa), lien dzai ge shin (sự tu luyện là của chính bạn và sự thành tựu của nó phát triển từ nỗ lực của chính cái tâm/tâm thức cá nhân của bạn).
Khi vị thầy của bạn trình diễn một điều gì đó cho bạn, bạn có bổn phận phải thực hành nó, bằng không bạn có thể tự ý chuốc lấy những hậu quả sau đây: (1) Thầy của bạn có thể không sửa cho bạn bởi vì những hành động của bạn đã cho thấy rằng bạn thực sự không muốn học kỹ năng đó; (2) bạn sẽ không đạt được kỹ năng đó; (3) nếu bạn học giai đoạn kế tiếp của kỹ năng, nó sẽ yếu ớt bởi vì nó không có nền tảng; (4) kỹ năng của bạn sẽ không vươn lên tới một trình độ cao cho đến khi thái độ của bạn thay đổi.
JI BEN GUNG (CƠ BẢN CÔNG) — Sự huấn luyện sức mạnh cơ bản, thông qua đó tất cả các môn võ thuật Trung Hoa phát triển những loại sức mạnh cụ thể mà chúng chuyên môn hóa.
Trong tiến trình tập luyện và thi đấu, những người theo võ thuật và những vận động viên không thể tránh khỏi việc trải qua những chấn thương thể chất, từ cả bản thân chuyển động lẫn từ sự tiếp xúc thể chất của những nỗ lực của họ. Có thể tiếp tục tập luyện với một chấn thương, nhưng bạn nên tránh việc tự làm mình bị thương lại thông qua sự gắng sức quá độ. Chẳng hạn, nếu bạn làm bị thương cánh tay, chỉ hãy tập khí công của mình hoặc tập đi bộ bát quái cho đến khi cánh tay lành lại. Nếu bạn làm đau chân, hãy tập những kỹ thuật của thân trên. Hãy tiếp tục việc huấn luyện của mình, nhưng không theo một cách nào đó gây ra bất cứ áp lực nào lên chấn thương của bạn. Việc tự làm mình bị thương lại chỉ đơn thuần trì hoãn thời điểm mà bạn có thể bắt đầu tập luyện đầy đủ trở lại. Hãy tỉnh táo. Đừng để cho những chấn thương nhỏ hay trung bình trở thành những chấn thương mãn tính dài hạn, thứ rốt cuộc có thể cắt xén năng lực hữu hiệu của bạn.
Sức khỏe và năng lực võ thuật
Nếu những người thực hành học bát quái vì sức khỏe của mình, họ được dạy những chi tiết cụ thể về cách làm cho cơ thể mình trở nên cực kỳ khỏe mạnh và cường tráng. Nếu họ học bát quái để chiến đấu hay để thiền định, sự giảng dạy dành cho họ được tập trung vào những lĩnh vực riêng biệt đó. Đức tin của Đạo gia là những thủ tục huấn luyện của một môn võ thuật trước tiên và trên hết phải nuôi dưỡng cơ thể của bạn và vun bồi sự an lạc về tinh thần và cảm xúc của bạn. Chỉ khi nào cơ thể và phẩm cách của bạn đã trở nên mạnh mẽ thì khi đó bạn mới có thể thực sự học cách sử dụng môn nghệ thuật ấy để chiến đấu. Năng lực chiến đấu luôn luôn vẫn là một sự cân nhắc thứ yếu, tuy rằng rất quan trọng. Những người bát quái tin rằng những người theo võ thuật phải là những anh hùng chứ không phải là kẻ hèn nhát, và rằng lòng anh hùng này phải xuất phát từ sự định trung nội tại chân thực, từ sự tự tin, và từ kỹ năng, chứ không phải từ sự khoe khoang, từ tài năng thể chất thô sơ, từ một tâm trí bạo lực, hay từ một sự phỏng đoán thuần túy mang tính trí thức về môn nghệ thuật.
Huấn luyện sức mạnh cơ bản
Sự thực hành nội tại truyền thống của việc huấn luyện sức mạnh cơ bản được gọi là ji ben gung nói chung làm việc từ bên trong cơ thể ra bên ngoài. Ji ben gung phát triển năng lượng nội tại hay “chất nhựa” cần thiết cho những môn võ nội gia. Với sự thực hành này, chẳng hạn, những người bát quái cảm thấy, cùng với hầu hết những trường phái nội gia truyền thống ở Trung Hoa và Nhật Bản, rằng tốt hơn là chỉ nên làm một kỹ thuật đơn giản. Kỹ thuật này trong bát quái có thể là bài Đổi Đơn Chưởng Khi Đi Vòng (Circle-Walking Single Palm Change) tiên thiên, hoặc trong hình ý quyền và thái cực quyền là sự thực hành đứng (trạm trang), là Tam Thể (San Ti), hay là một phương pháp khí công chỉ với một vài chuyển động. Tốt nhất là làm một bài thực hành đơn giản với khí của bạn được tràn đầy và cơ thể được kết nối với năng lượng, tâm trí, và bản tính thiết yếu của mình, còn hơn là làm một cách yếu ớt rất nhiều kỹ thuật, trong đó không kỹ thuật nào phát triển đầy đủ cơ thể hay tâm trí của bạn cho việc chiến đấu hữu hiệu.
Phương pháp thay thế là học hou tien, hay bát quái hậu thiên. Phương pháp này làm việc từ bên ngoài cơ thể vào bên trong, và bao hàm việc học một số lượng khổng lồ những hình thức chuyển động bên ngoài hay những bài quyền (hsing), mỗi bài có một vài ứng dụng chiến đấu cụ thể. Sau nhiều năm thực hành phương pháp này, khi học trò đã thành thạo những hình thức bên ngoài, họ sẽ học sự huấn luyện nội lực.
Ba tư thế trong Thập Thiên Can, một phương pháp huấn luyện sức mạnh cơ bản của hệ phái bát quái hậu thiên di động, được thực hiện bởi bậc tinh thông bát quái La Đức Tu (Lo Te Hsiu) ở Đài Bắc, Đài Loan. Ảnh do Catherine Helms cung cấp.
Trong sự phân tích cuối cùng, bất cứ điều gì cho phép bạn giành được chiến thắng với ít chấn thương nhất, hoặc ít nhất là để cho bạn còn nguyên vẹn để có thể bỏ chạy, là mục tiêu chính yếu của khía cạnh chiến đấu nơi bát quái chưởng, thái cực quyền, hình ý quyền, và tất cả những môn võ nội gia khác.
Tầm quan trọng của sự thực hành đứng đối với sự phát triển lâu dài của nội lực
Trong sự thực hành đứng, những vấn đề then chốt là học cách để:
1. Trở nên nhận thức được cảnh quan bên trong của cơ thể mình.
2. Giải phóng sự căng thẳng của cơ thể từ bên trong, không có gắng sức.
3. Buông bỏ cái cảm thức về sức mạnh thể chất, điều làm cho cơ thể mềm ra trong khi vẫn duy trì được sắc cơ tuyệt hảo.
4. Làm cho khí của mình chìm xuống và phát triển cái rễ.
5. Trở nên có khả năng cảm nhận sáu sự phối hợp (lục hợp) của cơ thể và nối kết những đường kinh tương ứng của chúng bên trong cơ thể mình.
6. Trong những chuyển động võ thuật, duy trì năng lực cảm nhận một cách rõ ràng bên trong cơ thể mình, nhờ đó đạt được sự tự nhận thức về cả bên trong lẫn bên ngoài cơ thể mình một cách đồng thời. Điều này rốt cuộc cho phép bạn không bị phân tâm bởi khí của mình trong lúc chuyển động. Năng lực này là then chốt trong chuyển động tốc độ cao, đặc biệt là trong bát quái chưởng với những cú xoay và trở mình nhanh, nơi người ta có xu hướng ngắt kết nối khỏi bên trong của mình để duy trì nhận thức về chuyển động vật lý bên ngoài của mình trong không gian.
7. Trở nên nhạy bén với khí trong không gian xung quanh cơ thể mình.
Sự đứng xây dựng nền tảng cho việc học một cách thành công tất cả những phương pháp khí công cao cấp khác. Xa hơn nữa trên con đường huấn luyện (trong những pháp thực hành Đạo gia khi di chuyển, khi ngồi, khi nằm xuống, và về tính dục), sự đứng tạo ra bối cảnh để làm cho khí chuyển động theo ý muốn. Tương tự như vậy, tất cả những pháp thực hành khí cao cấp được thực hiện vì sức khỏe và/hoặc vì nội lực cũng có thể được thực hiện khi đang đứng. Nói chung, những phương pháp đứng nội tại của thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng phần lớn vắng bóng trong tiến trình huấn luyện thông thường ở phương Tây. Chẳng hạn, khi tác giả dạy sự thực hành đứng vào đầu thập niên 1970* tại Thành phố New York, dường như đã không có ai khác làm việc đó. Vào thập niên 1980, nhiều người hơn bắt đầu dạy sự thực hành đứng, với xu hướng gia tăng mạnh mẽ trên toàn thế giới vào thập niên 1990.
*Ngoại lệ hiếm hoi đối với điều này ở nước Mỹ là Quách Liên Anh (Kuo Lien-Ying), người vào thời điểm ấy thường xuyên dạy tư thế đứng Universal Post cho những học trò của mình tại San Francisco.
Ảnh do tác giả
TÁM GIAI ĐOẠN THỰC HÀNH CỦA BÁT QUÁI CHƯỞNG ĐỂ PHÁT TRIỂN NHỮNG KỸ NĂNG CHIẾN ĐẤU
Siêu việt từ hữu hình tới vô hình: Mục tiêu của những môn võ nội gia trình độ cao
Trong bất cứ lĩnh vực tri thức nào, người mới bắt đầu cũng cần một cấu trúc, một hình thức, để ban đầu học lấy những điều cơ bản. Điều này đặc biệt đúng đối với những môn võ nội gia. Tuy nhiên, sau khi những điều cơ bản và những đòi hỏi kỹ thuật đã được tinh thông, sự xuất sắc chân thực nằm ở chỗ vượt lên trên hình thức và đi tới bản chất của điều mà ban đầu bạn đã cố gắng học. Vào lúc đó, bạn có thể bước vào cái không gian sáng tạo ấy, nơi “điều không thể dạy được” tuôn chảy một cách tự nhiên và tự phát từ chính linh hồn của bạn. Ở đây bạn mới siêu việt hình thức, rời bỏ cái cấp độ “làm như thế nào và làm cái gì,” và vận hành trên bình diện của cái vô hình.
Trong những môn nội gia, bạn học hình thức để tinh thông một kỹ thuật, rồi sau đó bạn quên hình thức đi, và rốt cuộc đi tới một trạng thái mà người Trung Hoa gọi là vô vi (wu wei) hay “làm mà không làm”. Sự vô hình này là mục tiêu tối hậu của tất cả những môn võ nội gia.
Phương pháp đứng của huấn luyện sức mạnh cơ bản, được thực hiện bởi cố Vương Thụ Kim.
VÔ VI (WU WEI) — Làm mà không làm. Khái niệm nền tảng của Đạo giáo về việc có được hành động nảy sinh từ một tâm trí trống rỗng, không có định kiến trước hay chương trình nghị sự. Hành động vận hành bằng cách đơn giản đi theo tiến trình tự nhiên của năng lượng vũ trụ khi nó hiển lộ, không có gắng sức hay sự tham dự của cái ngã.
Việc tinh thông những môn võ nội gia có thể được ví như việc trở thành một nghệ sĩ dương cầm nhạc jazz hạng nhất. Khi những nhạc sĩ này lần đầu học kỹ thuật hay “hình thức” của việc chơi dương cầm, họ có thể dành hàng giờ mỗi ngày để tập những âm giai (kỹ thuật thể chất — những cú đấm, những cú đá, những cú quật ngã, những đòn khóa khớp, sự thăng bằng, tốc độ, bộ pháp, v.v.). Sau đó họ có thể tập những hợp âm (những loại nội lực khác nhau, sự linh hoạt, công phu năng lượng nội tại, sự tinh thông những chuyển động tinh tế, việc làm cho tâm trí tĩnh lặng, v.v.). Những nghệ sĩ dương cầm bắt đầu bằng những bản nhạc tiêu chuẩn đơn giản (chiến đấu với một đối thủ tại một thời điểm) và tiến tới những đoạn nhạc riff ngày càng phức tạp (chiến đấu với nhiều đối thủ).
Những nghệ sĩ dương cầm ấy có thể biết mặt kỹ thuật của nghề mình và trình diễn tốt, thậm chí hoàn hảo không tì vết, nhưng vẫn thiếu một điều gì đó. Trong nhạc jazz, điều đó thường được gọi là mặt kỳ diệu của sự ứng tác, nơi những nhạc sĩ chơi từ một chỗ vượt lên trên những giới hạn nội tại, vượt lên trên hình thức hay kỹ thuật. Ở đây, họ không chỉ chơi bản nhạc một cách đúng đắn, họ tấu lên một cách lộng lẫy, với thứ âm thanh níu chặt lấy linh hồn. Họ đã nhảy vọt qua khỏi sự điêu luyện về kỹ thuật, và đang được tiếp sức bởi nguồn cảm hứng, bởi sự sáng tạo thuần túy, và bởi hành động buông bỏ.
Theo thời gian, những người theo võ nội gia cần mẫn cũng tinh thông mọi vấn đề kỹ thuật của nghề mình và, thật vậy, trở nên không biết sợ là gì. Nhưng để bước vào cái không gian cao cả và kỳ diệu ấy, nơi người nhạc sĩ jazz ứng tác tự do bùng cháy, thì đòi hỏi phải từ bỏ sự nương tựa vào sự thành thạo kỹ thuật, đòi hỏi phải bay cao vượt xa nó — tới chỗ những sự mong đợi về thời gian và không gian vốn thường được nhận thức bị đình chỉ lại. Năng lực để thực hiện cuộc hành trình này trong những môn nội gia đòi hỏi một sự làm cho tâm trí tĩnh lặng một cách sâu sắc và một sự mở rộng của ý thức, giống với thiền định nhiều hơn là với những gì thường được nghĩ đến như là võ thuật. Đây là bản chất của con đường phải đi qua để di chuyển từ giai đoạn thứ năm tới giai đoạn thứ tám của việc chiến đấu trong bát quái chưởng. Ở giai đoạn thứ nhất, tuy nhiên, mọi việc tương đối đơn giản.
Giai đoạn I
Đơn luyện: Ở đây, bạn đang học sự phối hợp thể chất cơ bản. Bạn sẽ cần phải có khả năng quán tưởng và thể nghiệm về mặt thể chất một loại ứng dụng chiến đấu nào đó cho mỗi phần của mọi kỹ thuật.
Những bài tập hai người: Bao gồm những ứng dụng nhằm làm cho sự quán tưởng về mỗi chuyển động đơn luyện trở nên thực đối với bạn, để cho bạn có thể thực hiện những chuyển động đơn luyện với ý hướng.
Giai đoạn II
Đơn luyện: Việc mở và khép những khớp xương cùng việc kích hoạt cái bơm cột sống (spinal pump) được nhấn mạnh để phát triển sức mạnh. Bạn học cách phân biệt một cách rõ ràng việc hấp thu và phóng xuất sức mạnh.
TÁM GIAI ĐOẠN TẬP LUYỆN CỦA BÁT QUÁI ĐỂ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG CHIẾN ĐẤU
Bài tập hai người: Nhấn mạnh các bơm cột sống và bơm khớp để chúng có thể khép mở mà không gặp phải những sự vấp váp hay đông cứng, điều vốn xảy ra với hầu hết người mới tập; đồng thời cũng nhấn mạnh các kỹ thuật đánh và đá.
GIAI ĐOẠN III
Tập đơn: Bắt đầu tập trung vào việc khép và mở cho thật trơn tru và nhanh chóng, đi bộ mau, và những sự chuyển chưởng nhanh trong các động tác đơn.
Bài tập hai người: Sau khi bạn đã học được cách ngã an toàn, trọng tâm được đặt vào các kỹ thuật quăng ném và các ứng dụng thẳng đứng lên và xuống. Những kỹ thuật này nhấn mạnh những đòn đánh kép và đánh ba nhờ vào sự khép mở nhanh chóng.
GIAI ĐOẠN IV
Tập đơn: Nhấn mạnh sự xoắn vặn của mô cơ thể (cánh tay, cặp chân và eo), lực xoay theo phương ngang và những sự biến đổi cực kỳ mau lẹ. Vượt ra khỏi những động tác bài bản cố định; ý niệm bây giờ là bắt đầu tập luyện để tạo ra chuyển động vật lý từ chính tư tưởng. Khi bạn nghĩ, thân thể bạn phải đúc khuôn theo tư tưởng của bạn. Trạng thái này là sự khởi đầu của việc tạo ra một sự hợp nhất tâm/thân. Bộ pháp vô cùng phức tạp bắt đầu xuất hiện.
Bài tập hai người: Nhấn mạnh những ứng dụng dựa trên việc tích trữ năng lượng của đối thủ khi bạn xoắn theo một chiều, và giải phóng năng lượng đã tích trữ ấy trả lại cho đối thủ một cách tức thời bằng cách đảo ngược chiều xoắn. Ở đây, với những nguyên lý đảo nghịch được đưa vào hoạt động, các đòn khóa khớp và quăng ném mới thực sự phát huy hết bản lĩnh của mình. Ở giai đoạn này, tốc độ được nhấn mạnh hơn sức mạnh.
Cho đến giai đoạn này, những phương pháp tập luyện tiền thiên và hậu thiên (xem tr. 212) vẫn có những mục tiêu và kết quả tương tự nhau. Tuy nhiên, bốn giai đoạn cuối cùng chỉ bắt nguồn từ riêng phương pháp tập đi vòng tròn tiền thiên.
GIAI ĐOẠN V
Tập đơn: Sự tập trung được đặt vào việc nương theo những năng lượng hiện hữu chung quanh bạn: đất, trời, các vì sao, cây cối, nước, con người. Bạn bắt đầu sử dụng những năng lượng tự nhiên của môi trường để làm xúc tác và làm cho khí bên trong cơ thể mình vừa nhanh hơn lại vừa mạnh hơn. Những phẩm tính của từng năng lượng trong tám quẻ* trở thành điểm tập trung chính yếu, chứ không còn chỉ là chuyển động vật lý đơn thuần.
Bài tập hai người: Sau khi đã làm chủ một kho vũ khí đồ sộ (cú đá, đòn đánh, khóa khớp, quăng ném và các kỹ thuật né tránh), giờ đây bạn học cách sử dụng và phân biệt một cách rõ ràng từng năng lượng của tám quẻ trong bát quái. Bạn tập trung vào việc làm thế nào để pha trộn một cách hiệu quả và mang lại lợi thế tối đa những năng lượng đang cuộn xoáy của chính mình, của đối thủ, và của môi trường tại chính điểm thời gian và không gian mà bạn đang tương tác. Năng lượng đang xoắn ốc lên và xuống giữa trời và đất được đặc biệt nhấn mạnh ở giai đoạn này.
* Trong tư tưởng Đạo gia, mỗi một trong tám quẻ của Kinh Dịch đều chứa đựng một trong những năng lượng cơ bản mà từ đó vũ trụ được tạo thành và mọi sự hiển hiện xảy ra.
GIAI ĐOẠN VI
Tập đơn: Bạn làm cho thân và tâm của mình tĩnh lặng và trống không đến mức tối đa có thể. Những kỹ thuật âm hay những kỹ thuật năng lượng rất vô định hình được nhấn mạnh, cũng như thiền định.
Bài tập hai người: Những kỹ thuật của bạn phải trở nên hoàn toàn không cần chút nỗ lực nào đối với bạn. Bạn chỉ xuất lực ngang bằng lực bạn dùng để gãi đầu mình, thế mà kỹ thuật của bạn lại tạo ra một hiệu ứng tàn phá lên đối thủ. Nếu bạn có một trái tim tử tế và rộng mở, thì sự tàn phá ấy sẽ có một tác động sâu sắc về tâm linh và rốt cuộc là thiện lành đối với đối thủ của bạn. Nếu trái tim của bạn ích kỷ và tàn nhẫn, nó sẽ gieo vào đối thủ nỗi sợ hãi, sự kinh sợ, sự khuất phục và sự co rút về mặt tâm linh.
GIAI ĐOẠN VII
Tập đơn: Trái tim của bạn sẽ trở nên hoàn toàn tĩnh lặng và hoàn toàn an nhiên tự tại. Bạn sẽ đánh mất mọi cảm giác là mình đang làm bất cứ điều gì. Chuyển động và năng lượng của bạn sẽ đơn giản tự vận hành như đất và trời vận hành. Ở đó, chuyển động đã đi qua khỏi bình diện vật lý.
Bài tập hai người: Bạn sẽ bắt đầu biểu hiện một sức mạnh vật lý vượt ra ngoài đòn bẩy, logic, các định luật vật lý, hay bất cứ điều gì khác mà bạn có thể tưởng tượng ra. Chẳng hạn, Liu Hung Chieh (xem tr. 241), khi đã tám mươi tuổi, có thể dùng một ngón tay chặn đứng sức mạnh của một người đàn ông to gấp đôi mình. Ông có thể nâng bổng một người như thế lên theo phương thẳng đứng một cách chậm rãi trong lúc tập Thôi Thủ (đẩy tay) thái cực quyền, y hệt như cách bạn nhấc một bịch khoai tây chiên. Lưu sư cũng có thể làm nứt một tấm bê tông dưới chân mình chỉ bằng cách bước đi lên trên đó. Ông nặng chưa tới 110 pound (khoảng 50 kg) và, theo logic, lẽ ra không thể nào thực hiện được một kỳ công như vậy về mặt thể chất. Ở trình độ này của bát quái, các bậc sư phụ thường không di chuyển nhiều như họ đã từng làm ở những giai đoạn đầu của quá trình tu luyện. Họ không cần phải làm thế — năng lượng của họ di chuyển thay cho họ.
GIAI ĐOẠN VIII
Giai đoạn này siêu việt khỏi quan niệm thông thường của chúng ta về thực tại. Nó vượt ra ngoài sức của ngôn từ để có thể truyền đạt được. Rất ít người ở bất kỳ thời đại nào, huống hồ là thời đại hiện đại, đạt tới trình độ này. Một vị Sư phụ ở trình độ này của cuộc chơi sẽ chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc chứng minh tính xác thực của mình, nếu ông ta muốn làm như vậy.
CÁC KỸ THUẬT CHIẾN ĐẤU NỘI GIA
CÁC ĐÒN ĐÁNH BẰNG TAY VÀ BẰNG CHƯỞNG CỦA NỘI GIA QUYỀN
Nội gia quyền sở hữu cùng một phổ đòn đánh bằng tay rộng rãi mà người ta thường thấy trong hầu hết các môn võ ngoại gia, chẳng hạn như karate hay công phu (gung fu): nghĩa là, những cú đấm cũng như những đòn đánh bằng tay mở lẫn tay nắm kín. Các đòn đánh tay sử dụng cổ tay, phần sống của bàn tay (tức là khoảng không gian giữa ngón cái và ngón trỏ), cạnh và lòng của bàn tay mở, và mặt trước, mặt sau, mặt trong và mặt ngoài của bàn tay nắm kín. Ngoài ra, cả ba môn phái nội gia (bát quái, thái cực quyền và hình ý quyền) đều sử dụng những đòn đánh nội gia chuyên biệt, và đó chính là đề tài của phần này. Tuy nhiên, mỗi môn phái nội gia, dù cùng sử dụng những kỹ thuật chiến đấu ấy, lại khác nhau ít nhiều về các động tác hình thức bên ngoài và về cách diễn giải những ứng dụng chiến đấu hai người. Lời giải thích cho những sự khác biệt này nằm ở chỗ mỗi môn phái đã tiếp nhận và thể hiện bản chất của một kỹ thuật nhất định bên trong những lối tiếp cận triết học và vận hành độc đáo của nó như thế nào. Những kỹ thuật chiến đấu nội gia cổ xưa còn tồn tại đến tận ngày nay là một trong những lý do khiến nội gia quyền trở nên nổi tiếng một cách hoàn toàn chính đáng ở Trung Quốc hiện đại.
Bát quái chưởng, như tên gọi "Chưởng của Tám Quẻ" của nó đã hàm ý, sử dụng chưởng nhiều hơn nắm đấm. Như một quy tắc chung, bát quái dùng những bàn tay mở, cẳng tay và các ngón tay với hiệu quả to lớn. Trong số Bát Mẫu Chưởng được truyền dạy trong môn võ này, chỉ có một thế là nắm đấm. Tuy nhiên, cần nhớ rằng kỹ thuật nổi tiếng nhất của Ma Wei Chi (xem Phụ lục B, tr. 310) lại là một cú đấm hình cầu. Thái cực quyền có khuynh hướng sử dụng sự pha trộn đồng đều giữa các kỹ thuật tay mở và các kỹ thuật nắm đấm kín. Hình ý quyền có khuynh hướng nghiêng phần lớn về việc sử dụng các kỹ thuật nắm đấm kín trong năm bài thực hành Ngũ Hành chủ yếu của nó, và các bàn tay mở trong các thế Động Vật của nó.
Có một số cách để ra đòn trong nội gia quyền. Cách thứ nhất là cách mà người mới tập, thiếu sự kiểm soát, thường sử dụng: đánh đối thủ mạnh hết mức có thể. Ở những trình độ cao hơn, bạn phải tự quyết định xem có hay không muốn gây tổn thương nghiêm trọng cho đối thủ của mình. Nếu bạn quyết định không gây thương tích, bạn có thể dùng kỹ thuật fa jin (xem tr. 110), trong đó sức mạnh của bạn đi xuyên qua người mà bạn đánh trúng. Fa jin của bạn chắc chắn sẽ làm người đó di chuyển trong không gian vật lý, nhưng sẽ không gây ra tổn hại nghiêm trọng nào.
Tuy nhiên, nếu cần thiết phải dùng đến vũ lực và lựa chọn khả dĩ duy nhất của bạn là làm ai đó bị thương, thì fa jin có thể được hội tụ vào bên trong cái người đang tấn công bạn, sao cho sức mạnh của bạn không thoát ra khỏi cơ thể hắn. Điều này gây ra sự hủy hoại bên trong cơ thể thông qua sự xuất huyết hoặc những xáo trộn khác. Những vị sư tổ thời kỳ đầu của nội gia quyền có thể đánh vào bên ngoài một người mà không để lại một dấu vết nào trên da, thế nhưng người đó sau này có thể chết đi vì những tổn thương ở các cơ quan nội tạng. Khả năng hội tụ lực vào những vùng nội tại cực nhỏ này thật đáng kinh ngạc. Về mặt ứng dụng, kỹ thuật này tương tự như những loại đạn pháo xe tăng có thể giết kíp chiến đấu của xe tăng địch nhưng lại để cho vỏ xe tăng của địch hoàn toàn nguyên vẹn. Sự xoắn vặn của các mô mềm, được kết hợp với sự mở ra đột ngột của các khớp và các khoang cơ thể để phóng xuất khí từ một điểm trong cơ thể, chính là những phương pháp kỹ thuật mà nhờ đó sự giải phóng fa jin đột ngột được thực hiện.
Ở Trung Quốc, nhiều người cho rằng nội gia quyền mạnh mẽ hơn ngoại gia quyền rất nhiều, và quả thực, nhiều người nghĩ rằng có điều gì đó siêu nhiên trong lực đánh của các môn phái nội gia. Hiệu quả về mặt võ học của các môn nội gia hoàn toàn không phải là siêu nhiên, mà thay vào đó dựa trên những cơ chế cơ thể và cơ chế khí vô cùng tinh vi.
Trong khi cốt lõi của ngoại gia quyền là kỹ thuật chiến đấu, thì cốt lõi của các môn nội gia là sự phát triển nội lực, tức là khí. Vào giai đoạn đầu của quá trình tập luyện nội gia quyền, những chuyển động bên ngoài của người tập dường như không hề tinh tế. Tuy nhiên, khi một người tập nội gia quyền trở nên ngày càng được tích hợp hơn trong sự thực hành, thì người quan sát bên ngoài càng ngày càng không thể nhìn thấy điều đang được thực hiện. Cảm giác cho rằng sức mạnh được biểu hiện là siêu nhiên hoàn toàn không chính xác; người ta chỉ đơn giản là không thể nhìn thấy những cơ chế nội tại đang được sử dụng. Tuy nhiên, ở những trình độ phát triển khí cao nhất, nội gia quyền quả thực có thể dường như hơi có phần siêu phàm. Hiện tượng này chỉ xảy ra khi người ta không còn sử dụng sức mạnh vật lý nữa, mà thay vào đó là chỉ hoàn toàn dụng khí. Trong thời hiện đại, rất ít người đã đạt tới trình độ này.
Được trình bày ở đây là những mô thức vận động hay năng lượng mang tính bao quát, chứ không phải bất kỳ một trong hàng trăm động tác hay kỹ thuật cụ thể nào. Mỗi kỹ thuật có thể bao hàm một số lượng đáng kinh ngạc những biến thể và động tác cơ bản. Những kỹ thuật này là những kỹ thuật được dùng cho chiến đấu tay đôi thực dụng và có thể được, hoặc không được, sử dụng trong bất kỳ phương pháp thực hành chạm tay nào — Nhu Thủ (Rou Shou) hay Thôi Thủ (Push Hands). Nếu bất kỳ kỹ thuật nào trong số này có vẻ dữ dội, thì hãy ghi nhớ lấy thực tế rằng, ngày nay, súng đạn hay các thiết bị gây nổ dễ dàng kiếm được một cách hợp pháp lẫn bất hợp pháp ở hầu khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra, việc phát triển những kỹ thuật nội gia tinh vi này cần có thời gian. Trong suốt thời gian đó, cần phải được dạy dỗ một cách đáng kể về tự kiểm soát và giáo dục đạo đức liên quan đến bản chất của lòng trắc ẩn chân thực và bạo lực. Điều này thường ngăn chặn được những sự lạm dụng vốn hay do những người phẫn nộ hay rối loạn chức năng gây ra, dù là bằng nắm đấm của họ hay bằng một con dao hay khẩu súng.
CÁC LOẠI ĐÒN ĐÁNH VÀ CÁCH DÙNG TAY
Mặc dù thái cực quyền có số lượng người theo học đông đảo nhất ở cả Trung Quốc lẫn phương Tây, nhưng toàn bộ phổ kỹ thuật chiến đấu của nó thường không được truyền dạy. Đúng hơn, trọng tâm chính yếu được đặt vào các bài quyền và Thôi Thủ. Trong khi các môn phái bát quái và hình ý quyền có ít người theo học hơn, thì nhiều thầy dạy của họ hơn, cả ở phương Tây lẫn ở Trung Quốc, lại có khuynh hướng tập trung vào và trực tiếp dạy chính bản thân các kỹ thuật chiến đấu thực sự, cũng như các bài quyền và việc tập luyện Nhu Thủ/Thôi Thủ. Vì bát quái có kho kỹ thuật chiến đấu đồ sộ nhất trong các môn nội gia quyền, nên những phần nói về các chi tiết cụ thể dưới đây sẽ đề cập trước tiên đến bát quái, rồi đến thái cực quyền, và sau đó mới đến hình ý quyền. Trừ khi có chỉ dẫn khác, tên gọi cho các động tác bài quyền của thái cực quyền sẽ được lấy từ hệ thống danh pháp của phái Dương, không phải vì bất kỳ sự phán xét giá trị nào liên quan đến tiêu chuẩn ưu việt hay thấp kém, mà vì nó là hệ thống phổ biến rộng rãi nhất và đã tạo ra nhiều tài liệu sẵn có nhất.
Hãy ghi nhớ rằng tất cả các kỹ thuật tay của nội gia quyền được mô tả ở đây, và cả rất nhiều kỹ thuật không được nhắc đến ở đây nữa, đều có thể được thực hiện cả khi mở ra và phát năng lượng ra xa khỏi cơ thể bạn, lẫn khi khép lại và đưa năng lượng hướng về phía cơ thể bạn (xem nội công, tr. 62).
ĐÒN XUYÊN THẤU (THE PIERCING STRIKE)
Đòn xuyên thấu thường sử dụng các ngón tay, lòng bàn tay, hoặc cạnh bàn tay. Một đòn đánh theo đường thẳng (mà thực ra là kết quả của một lực thúc đẩy xoắn ốc từ bên trong) được dùng để (a) xuyên thấu cơ thể của đối thủ; (b) nhấc bổng đối thủ của bạn lên khỏi mặt đất trong khi bạn xuyên thấu cơ thể, tay chân, hoặc đầu của hắn; (c) làm trật khớp các khớp của cánh tay hay cẳng chân của đối thủ; hoặc (d) hất phăng cánh tay đang che chở hay đang tấn công của đối thủ ra xa trong khi bạn đồng thời đâm, đánh bằng lòng bàn tay, hoặc chém ngang hắn bằng một trong hai cạnh bàn tay của mình. (Động tác cuối cùng này là một trong những kỹ thuật đánh chủ yếu của bát quái.) Nó cũng có thể được thấy trong động tác thái cực quyền Bạch Xà Thổ Tín (White Snake Puts Out Its Tongue), và trong kỹ thuật thủy hành Toản Quyền (Drilling Fist) của hình ý quyền.
ĐÒN CONG HƯỚNG LÊN (UPWARD-CURVING STRIKE)
Đòn này có thể được thi triển bằng lòng bàn tay, các ngón tay, cổ tay, hoặc cùi chỏ. Đòn cong hướng lên được sử dụng trong sự thực hành an toàn để phóng năng lượng vào ai đó (tức là dùng fa jin). Kỹ thuật này có thể nhấc một người lên phía trên hoặc đẩy về phía sau mà không làm họ bị thương. Nếu nó được dùng để làm bị thương ai đó, nó có thể bẻ gãy xương, làm rách và làm xuất huyết các cơ quan nội tạng (đặc biệt khi dùng lòng bàn tay và cùi chỏ), và làm rách các bắp thịt của cánh tay và cẳng chân khỏi những điểm bám của chúng. Nó cũng có thể được thấy trong Khởi Thức (Commencement, cổ tay), Ngọc Nữ Xuyên Thoa (Fair Lady Weaves the Shuttles, lòng bàn tay), Đề Thủ (Lifting Hands, các ngón tay), Bạch Hạc Lượng Xí (White Crane Spreads Its Wings, cùi chỏ) của thái cực quyền, và trong Pháo Quyền (Pounding Fist) thuộc hỏa hành của hình ý quyền cùng các thế động vật Gà, Hổ và Khỉ.
CÁC ĐỘNG TÁC CHÉM (CUTTING ACTIONS)
Các động tác chém được dùng cả để làm vỡ nát xương, như khi chém vào một cánh tay hay vào cổ, lẫn, một cách hữu dụng hơn nhiều, để cắt như một lưỡi dao. Ở đây, chức năng của đòn đánh là xuyên thật sâu vào mô cho tới những lớp cơ nằm sâu hơn, gây ra tổn thương nghiêm trọng. Các nhát chém có thể được thi triển sang bên hông, hướng lên, hướng xuống, hoặc theo đường chéo, dùng cạnh bàn tay hay phần sống trước của bàn tay, các khớp ngón tay, mu cổ tay, đầu cùi chỏ, vai, đầu, đầu gối, hoặc bàn chân. Nó cũng có thể được thấy trong nhiều thành phần Roll Back (Lữ) của các động tác thái cực quyền, trong đoạn chuyển tiếp giữa phần kết thúc của Bạch Hạc Lượng Xí và phần bắt đầu của Lâu Tất Ao Bộ (Brush Knee and Twist Step), và trong thành phần chém xuống của Phách Quyền (Splitting Fist) Ngũ Hành của hình ý quyền, thành phần hướng xuống của Pháo Quyền (Pounding Fist), cùng các thế động vật Rắn, Đại Bàng và những loài chim khác.
DIM MAK — Thuật ngữ tiếng Quảng Đông chỉ nghệ thuật đánh vào các huyệt đạo để gây tổn hại hoặc tử vong.
DIAN XUE — Tiếng Quan Thoại của dim mak.
CÁC ĐÒN ĐÁNH BẰNG NGÓN TAY (FINGER STRIKES)
Các đòn đánh bằng ngón tay được dùng để xuyên thấu qua da thịt. Chúng có thể sử dụng một sự rung động hay rung lắc mạnh mẽ tại điểm tiếp xúc, một động tác cào hay quào, một động tác đánh và rút lui nhịp nhàng như sóng, hoặc một động tác xoắn, khoan, y như mũi khoan. Công phu ngón tay của một người phải thật xuất sắc mới có thể đánh vào đầu và xuyên thấu qua đó mà không gây tổn hại cho chính những ngón tay đang đâm tới của mình. Việc rèn luyện ngón tay này được hoàn thành bằng cách đưa khí tới các ngón tay thông qua các tư thế nội công và các tư thế đi vòng tròn của bát quái, chứ không phải bằng cách chống đẩy bằng ngón tay hay đấm vào cát hoặc những vật thể khác, như người ta vẫn làm ở Thiếu Lâm. Các đòn ngón tay cũng được dùng để tấn công những huyệt đạo (acupuncture points) cụ thể theo những cách thức cụ thể và/hoặc vào những thời điểm nhất định trong ngày, nhằm làm xáo trộn khí của đối thủ. Đây có thể là một hình thức châm cứu ngược mang tính sát thương. (Những kỹ thuật này được gọi là dim mak trong tiếng Quảng Đông và dian xue trong tiếng Quan Thoại.) Mu bàn tay của thế Đơn Tiên (Single Whip) trong thái cực quyền và bàn tay phía trước của Lâu Tất Ao Bộ đặc biệt làm việc với các kỹ thuật ngón tay, cũng như các thế Động Vật Khỉ, Rắn, Hổ và Long của hình ý quyền.
CÁC ĐÒN ĐÁNH BẰNG KHỚP NGÓN TAY (KNUCKLE STRIKES)
Về mặt cốt lõi, các đòn đánh bằng khớp ngón tay cũng giống hệt như các đòn đánh bằng ngón tay, ngoại trừ khi nói đến việc xoắn vặn mô mềm và đánh vào xương. Các ngón tay thực hiện công việc tinh vi hơn trong việc tóm lấy và xoắn vặn các bắp thịt, gân, tĩnh mạch và các khớp của đối thủ, và rốt cuộc thì hiệu quả hơn trong việc đánh vào những bề mặt mềm và mô mềm. Tuy nhiên, các khớp ngón tay, vốn sử dụng cùng những chuyển động vật lý và cùng một thứ kình (lực), thường an toàn hơn cho người tấn công khi được dùng để chống lại xương. Trong cả thái cực quyền lẫn hình ý quyền, các đòn đánh bằng khớp ngón tay vốn đã tiềm ẩn sẵn trong bất kỳ cú đấm nào.
NẮM GIỮ (GRABBING)
Các kỹ thuật nắm giữ được sử dụng không chỉ để ghì chặt đối thủ như cách một đô vật làm và quăng họ đi, mà còn để lột da khỏi cơ thể, hoặc vặn cánh tay hay cẳng chân vào một khóa khớp hay khóa cơ, gây ra đau đớn tột độ hoặc sự gãy vỡ. Những kỹ thuật này hiện diện khắp nơi trong thái cực quyền phái Trần, trong Pull Down (kéo xuống), và trong 131 kỹ thuật Split (tách) nằm bên trong Bạch Hạc Lượng Xí, chẳng hạn. Trong hình ý quyền, những kỹ thuật này được lồng ghép vào mỗi lần một bàn tay mở khép lại thành nắm đấm, đặc biệt là trong Phách Quyền (Splitting Fist).
CÁC CÚ TÁT (SLAPS)
Các cú tát có thể được thực hiện bằng bàn tay cứng hoặc bàn tay lỏng, sử dụng mặt trước hoặc mặt sau của bàn tay. Cả bàn tay cứng lẫn bàn tay lỏng đều có thể được dùng rất giống như một cây dùi cui (blackjack) để nghiền nát bất cứ thứ gì nó đánh trúng, hoặc để gửi đi một sự rung động nhằm làm tổn thương các mô bên trong ở một khoảng cách nào đó tính từ điểm đánh (thí dụ, một cú tát vào vai có thể làm tổn thương gan, một cú tát vào đỉnh đầu có thể làm gãy cổ, một cú tát vào bụng có thể làm tổn thương cột sống). Các cú tát mềm có thể được dùng để bẻ gãy xương (chẳng hạn hộp sọ, xương sườn, xương ức, hoặc đầu gối). Các cú tát mềm, khi được kết hợp với những kỹ thuật sử dụng sự đảo ngược xoắn ốc của chuyển động, là lý tưởng để làm tổn thương các cơ quan nội tạng của đối thủ. Trong Nhu Thủ (Rou Shou) của bát quái, vì mục đích an toàn, những cú tát thấu lực được tránh dùng; trong khi đó trên chiến trường, sự thấu lực lại được dùng để làm vỡ nát các cơ quan nội tạng.
Các cú tát vào đầu cũng được sử dụng, không phải để bẻ gãy xương, mà để làm cho bộ não bị lắc lư rung động bên phía trong hộp sọ, gây ra sự mất ý thức, xuất huyết nội, hoặc tử vong. Những cú tát này xuất hiện trong Lâu Tất Ao Bộ của thái cực quyền, trong động tác hướng xuống ở Khởi Thức, trong Roll Back (Lữ), trong đoạn chuyển tiếp giữa Kháo (Shoulder Strike) và Bạch Hạc Lượng Xí, và trong Phách Quyền của hình ý quyền, cũng như trong nhiều đoạn chuyển tiếp nhỏ của các thế Động Vật trong hình ý quyền.
CÁC ĐÒN ĐẢO CHIỀU TRÁI-PHẢI, TIẾN-LÙI, LÊN-XUỐNG (LEFT-RIGHT, FORWARD-BACK, UP-DOWN REVERSALS)
Những kỹ thuật đảo chiều này dựa trên chuyển động hình chữ S được tìm thấy trong biểu tượng thái cực âm dương, biểu tượng vốn bao hàm những chuyển động xoắn ốc và đi vòng tròn của bát quái. Chúng được tìm thấy một cách rõ rệt nhất trong bát quái, phổ biến tiếp theo là trong thái cực quyền phái Trần (đặc biệt là các đòn quăng ném), phổ biến tiếp nữa là trong thái cực quyền phái Dương và phái Ngô khung nhỏ, và ít phổ biến nhất là trong các phương pháp khung lớn của thái cực quyền phái Dương.
CÁC ĐÒN ĐÁNH ĐẢO CHIỀU (REVERSAL STRIKES)
Đòn đánh thứ nhất sử dụng nửa đầu của chuyển động hình chữ S. Điều này làm cho đối thủ của bạn di chuyển với một lượng lực rất lớn theo một hướng, sao cho động lượng của hắn rõ ràng đang đi theo một hướng: lên hoặc xuống, sang phải hoặc sang trái, tiến tới hoặc lùi lại, hoặc dọc theo một hướng nào đó của một đường chéo. Trong khi đối thủ của bạn đang đi theo một hướng, thì cơ thể bạn uốn lượn trở lại và đánh hắn từ hướng ngược lại. Sự đảo chiều này nhân lên gấp bội lực đang đánh hoặc đang quăng đối thủ, bởi vì nó tạo ra hiệu ứng của một vụ đụng xe trực diện: động lượng của đối thủ từ đòn đánh thứ nhất đập vào nửa sau của đường cong chữ S của lực bạn, mà lúc này đang đi theo hướng ngược lại. Hiệu ứng đụng xe trực diện này được khuếch đại thêm bởi lực động học của chính trọng lượng và năng lượng của bạn khi chúng đổi hướng. Những đòn đảo chiều trái-phải này thường được dùng để đánh vào đầu, cổ và các xương sườn. Những đòn đảo chiều lên-xuống thường được dùng để giật roi cổ và cột sống của đối thủ, rồi sau đó đánh vào thân thể trên đường đi lên. Cơ thể của đối thủ bạn thường bị mất phương hướng đến mức từ cú giật roi ấy, đến nỗi một đòn đánh đang lao tới không thể nào được chống đỡ và hấp thụ, với hậu quả vô cùng tàn khốc. Nếu cổ và cột sống bị giật roi, thì đối thủ của bạn không thể nhượng bộ trước đòn đánh, và điều này có cùng một hiệu ứng như thể thân thể bị áp sát vào một bức tường không di chuyển trong lúc đang bị đánh. Kỹ thuật đảo chiều tiến-lùi được dùng để bẻ gãy cổ hoặc lưng của đối thủ, hoặc để quăng một kẻ tấn công úp mặt xuống đất.
CÁC ĐÒN QUĂNG ĐẢO CHIỀU (REVERSAL THROWS)
Các động tác quăng ném đi theo nhiều hay ít cũng cùng một mô thức đảo chiều như những đòn đánh tay theo đường cong chữ S. Kỹ thuật rơi thẳng đứng xuống đất, được rút ra từ tư thế Xà Thân Hạ Thế (Snake Creeps Down) của thái cực quyền/bát quái, là một khía cạnh độc đáo của bát quái. Nó đặc biệt phổ biến trong hệ thống bát quái của Trình Đình Hoa (Cheng Ting Hua), hệ thống vốn có những kỹ thuật quăng ném được phát triển nhất. Trong số những kỹ thuật ấy có những kỹ thuật sau đây:
1. Sự rơi thẳng đứng xuống dưới được tiếp nối bằng một đòn đảo chiều trái-phải hoặc tiến-lùi, tất cả được thực hiện trong một chuyển động duy nhất nhanh, mượt mà và phối hợp nhịp nhàng.
2. Sự rơi xuống của thân thể (về mặt vật lý, về mặt năng lượng, hoặc cả hai) được phối hợp với một chuyển động hướng lên đồng thời của hai cánh tay.
3. Khi thân thể của đối thủ chạm tới phần dưới của thân mình bạn, bạn hạ xuống rồi sau đó đảo ngược hướng đi lên trên, làm cho hai bàn chân của hắn bay vút lên trên và đầu hay thân thể của hắn bị đẩy mạnh về phía mặt đất. Động tác này lại càng phức tạp hơn nữa bởi vì, ngoài chuyển động lên và xuống của thân thể/khí, thì cơ thể và/hoặc hai bàn chân của bạn có thể đang di chuyển theo bất kỳ hướng nào. Những đòn quăng trong bát quái đặc biệt phụ thuộc vào sự khép và mở nhanh chóng của các khớp và các khoang cơ thể, cùng với động tác khép mở, uốn cong và cong vồng như cánh cung của cột sống.
Những võ sĩ có một kho đòn quăng dồi dào sẽ có khả năng chuyển đổi các kỹ thuật của mình một cách tương đối dễ dàng sang bát quái kiểu Trình Đình Hoa, và sẽ nhận ra rằng các kỹ thuật quăng, đánh và đá của bát quái là những sự bổ túc tuyệt vời cho nhau. Những người vốn là chuyên gia về đánh và đá sẽ nhận ra rằng các kỹ thuật quăng của bát quái có thể được tích hợp một cách tương đối dễ dàng vào một môn phái vốn tập trung vào việc đánh. Các đòn quăng rất quan trọng đối với việc đạt được những kỹ năng chiến đấu được đa dạng hóa một cách chu toàn. Khi phải chiến đấu với nhiều đối thủ cùng một lúc, thì việc quăng một đối thủ vào một người khác để thân thể hắn chặn những kẻ khác không tiến lại gần bạn là điều rất hữu ích. Điều này thực chất là "nhất tiễn hạ song điêu", nhất là nếu hai bàn chân của một đối thủ đánh trúng vào đầu hoặc đầu gối của người kia.
Cùng với những mô thức xoay trở và bộ pháp của bát quái, những đòn đảo chiều theo đường cong chữ S phần lớn chịu trách nhiệm về hiện tượng "khi thì bạn thấy nó, khi thì bạn chẳng thấy nó" của các ứng dụng chiến đấu bát quái. Một người tập bát quái dường như xuất hiện và biến mất vào những thời điểm khó đoán trước nhất, do bộ pháp phức tạp, những cú xoay eo mau lẹ, và sự chùng xuống ngắn ngủi trong nhận thức của đối thủ ngay ở khoảng giữa của một sự đảo chiều hướng.
Trong thái cực quyền, những kỹ thuật theo đường cong chữ S này phổ biến nhất trong tất cả các nhánh của phái Trần. Chúng không phổ biến bằng trong thái cực quyền khung lớn hay khung trung bình như chúng có trong các môn thái cực quyền khung nhỏ. Những kỹ thuật này là ít phổ biến nhất trong hình ý quyền, nơi chúng phần lớn bị giới hạn vào các môn phái động vật, chẳng hạn như Gấu và Rắn.
DOU JIN — Kỹ thuật của nội gia quyền về việc làm cho cơ thể rung động hay rung lắc một cách đột ngột và với một lực rất lớn.
CÁC ĐÒN ĐÁNH RUNG ĐỘNG (VIBRATING STRIKES)
Những kỹ thuật rung động được gọi là dou jin trong tiếng Trung. Trong bát quái, với những kỹ thuật này, toàn bộ khí của cơ thể được làm cho rung động, điều này khiến cho các động tác khép và mở của cơ thể dao động ở tốc độ cao. Điều đó tạo ra một hiệu ứng như súng liên thanh, trong đó đối thủ bị đánh năm hoặc sáu đòn rung động toàn lực chỉ trong một cái chớp mắt. Những kỹ thuật rung lắc này đặc biệt hữu dụng:
1. Từ một khoảng cách chỉ độ nửa inch để làm vỡ nát xương.
2. Khi chiến đấu ở những khoảng cách cực kỳ gần, như khi bị một tay đô vật nắm giữ, nơi hoàn toàn không có khoảng cách nào để tạo ra một đòn đánh.
3. Để tự giải thoát mình khỏi các khóa khớp.
4. Để chống lại những võ sĩ đã phát triển các kỹ thuật thiết y, thứ nhờ đó họ có thể tạo ra một lớp không khí giống như lốp xe hơi bao quanh cơ thể mình, lớp không khí bảo vệ các cơ quan nội tạng của họ.
5. Đánh ngang chống lại những tay quyền Anh có thể trượt né một cú đấm vào đầu.
Trong trường hợp của võ sĩ đã làm chủ được kỹ thuật bảo vệ Khí Công Thiết Y và tay quyền Anh có thể né tránh, thì những phần dễ bị tổn thương của cơ thể thực chất đã được che chắn. Khi sử dụng một kỹ thuật rung động chống lại một người như vậy, thì rung động thứ nhất hoặc thứ hai sẽ lấy đi vùng đệm của đối thủ, và những đòn rung động kế tiếp sẽ gây ra tổn thương. Lực rung động bắt nguồn từ đan điền và có thể chảy đi khắp toàn bộ cơ thể cùng một lúc (được ví như một con chó rũ nước khỏi bộ lông của nó), hoặc được hội tụ vào bất kỳ điểm hay các điểm cơ thể cụ thể nào, thậm chí là đầu và hông. Thường được thấy nhất trong các môn phái Long của bát quái, đây là một kỹ thuật cao cấp, nhưng là một kỹ thuật rất quan trọng. Dou jin cũng thường được dùng trong hình ý quyền (đặc biệt là nhánh Ý Quyền [I Chuan]) cũng như trong thái cực quyền phái Trần và "kiểu cũ" của phái Dương, mặc dù nói chung là không có trong những môn phái "mới" bắt nguồn từ Dương Trừng Phủ (Yang Chen Fu).
CÁC ĐÒN ĐÁNH NGƯNG TỤ (CONDENSATION STRIKES)
Trong các đòn đánh ngưng tụ, sức mạnh của đòn đánh ngưng tụ lại tại một điểm nằm sâu trong mục tiêu, với cảm giác của một tiếng "bịch" thật nặng. Với một đòn đánh như vậy, người ta có thể bẻ gãy, chẳng hạn, viên gạch thứ năm trong một chồng mười lăm viên gạch. Nếu thực hành kỹ thuật này trên một bao cát (tuy nhiên, điều này thường không được khuyến nghị trong bát quái nếu người ta muốn phát triển nội khí của mình tới mức tối đa có thể được), thì toàn bộ sức mạnh của cú đánh của bạn sẽ tập trung vào trung tâm của bao cát, nhưng chính cái bao lại hoàn toàn không di chuyển chút nào. Những đòn đánh này có thể được dùng để tấn công các cơ quan nội tạng và bộ não. Đây là một trình độ sớm hơn của Miên Chưởng (Cotton Palm), và thường được gọi là vật tương đương trong nội gia của "Thiết Chưởng" (Iron Palm) của Thiếu Lâm. Phương pháp này hiện hữu trong cả ba môn phái, được thực hiện như nhau bằng bàn tay mở, nắm đấm, hay cẳng tay.
CÁC ĐÒN ĐÁNH "MIÊN CHƯỞNG" ("COTTON PALM" STRIKES)
Những đòn đánh mềm mại này dựa vào sức mạnh và khả năng xuyên thấu của nội khí của bạn. Những đòn đánh này cần sử dụng một lượng lực vật lý bằng đúng lượng lực mà người ta dùng để vuốt mái tóc của một em bé sơ sinh. Tuy nhiên, sự xuyên thấu của khí có thể gây ra cho đối thủ sự khó chịu nhẹ nhàng, cơn đau dữ dội tạm thời mà không để lại di chứng gì, sự xuất huyết nội, hoặc cái chết. Đòn đánh này đòi hỏi một trình độ chuyên môn cực kỳ cao và sự kiểm soát tuyệt hảo đối với khí của chính mình. Kỹ thuật này phổ biến như nhau ở tất cả những trình độ cao cấp của mọi môn nội gia quyền.
CÁC ĐÒN ĐÁNH SÓNG NĂNG LƯỢNG (WAVE-ENERGY STRIKES)
Các đòn đánh sóng năng lượng bề ngoài có vẻ mềm mỏng hoặc chẳng có chút lực nào, thế nhưng lại có thể mạnh mẽ một cách khủng khiếp. Chúng dựa vào việc phóng một sóng xung kích đi xuyên qua đối thủ. Lực của những đòn đánh này tương tự như lực được tìm thấy bên dưới bề mặt của những con sóng đại dương lớn, thứ vốn là điều không thể nhìn thấy từ trên mặt nước. Những đòn đánh này mang lại cảm giác cực kỳ nhẹ nhàng và dường như không có trọng lượng. Chúng được bao gồm trong những trình độ cao cấp của cả ba môn nội gia quyền.
PHÓNG NĂNG LƯỢNG ĐỒNG THỜI THEO NHỮNG HƯỚNG NGƯỢC NHAU (SIMULTANEOUS PROJECTION OF ENERGY IN OPPOSITE DIRECTIONS)
Năng lượng có thể được phóng ra từ hai bàn tay của bạn theo những hướng ngược nhau một cách đồng thời, nhằm phá hủy các khớp, bẻ gãy lưng, nghiền nát các cơ quan nội tạng, hoặc xuyên thấu vào đầu. Kỹ thuật nội gia này được lồng ghép vào nhiều động tác trong cả ba môn phái.
CẦM NÃ (CHIN NA)
CHIN NA — Nhánh của võ thuật Trung Quốc liên quan đến việc nắm giữ ai đó, và làm trật khớp hoặc bẻ gãy các khớp tay, khớp chân và các khớp khác.
Cầm nã bao hàm việc nắm lấy tay, cánh tay, vai, hông và các khớp của chân, hoặc cột sống của đối thủ, rồi vặn theo một cách thức gây ra đau đớn tột cùng ở khớp hoặc làm gãy vỡ. Hoạt động này có thể bao gồm việc vặn một ngón tay của một người để làm toạc ra một bên vai, hoặc vặn mắt cá chân của một người để làm toạc đầu gối, hông hay lưng. Trong bát quái và hầu hết các môn võ thuật Trung Quốc khác, cầm nã không bao giờ chiếm quá 5 hay 10 phần trăm của các ứng dụng chiến đấu. Khi các đối thủ đang di chuyển rất nhanh và đang gập thân thể lại để thay đổi các góc độ của họ, thì việc nắm giữ được bất kỳ một khớp nào của họ có thể là điều cực kỳ khó khăn. Có được một cơ hội để thi triển một đòn khóa cầm nã chỉ có thể được gọi là một món quà. Trong các môn võ Nhật Bản và Triều Tiên, nơi các đòn đánh thường mang tính tuyến tính, cầm nã có thể được dùng thường xuyên hơn, bởi vì khớp của kẻ tấn công phần lớn được duỗi thẳng. Tuy nhiên, trong các môn nội gia quyền Trung Quốc (và những môn khác) nơi các khớp gập lại và uốn cong và không bao giờ duỗi thẳng hoàn toàn, thì những đòn khóa cầm nã rất khó mà thực hiện được. Trong thái cực quyền, phái Trần có phổ kỹ thuật cầm nã rộng nhất và phái Dương là ít nhất. Nói một cách tổng quát, hình ý quyền có một phổ kỹ thuật cầm nã nhỏ hơn cả bát quái lẫn thái cực quyền.
CÁC ĐÒN QUĂNG (THROWS)
SHUAI JIAO — Vật Trung Quốc.
NINJITSU — Môn võ thuật trong lịch sử được sử dụng một cách độc quyền bởi những tay sát thủ chuyên nghiệp ở Nhật Bản.
Bát quái có một phổ kỹ thuật quăng ném rộng rãi. Điều này đặc biệt đúng đối với những môn phái bắt nguồn từ trường phái của Trình Đình Hoa (Cheng Ting Hua), người vốn là một bậc thầy về suất giao (shuai jiao, tức vật Trung Quốc). Bởi vì chỉ có chừng ấy cách để quăng một con người, nên nhiều kiểu quăng giống hệt nhau trong bát quái, về mặt lịch sử, cũng sẽ được tìm thấy trong nhu đạo (judo), nhu thuật (jujitsu), hợp khí đạo (aikido), ninjitsu, vật Trung Quốc, và Thiếu Lâm Bắc phái, với những cú quét chân và các đòn khóa chân, bẻ chân của chúng. Những đòn quăng chiến đấu thực sự trong bát quái thường được thực hiện nhằm:
1. Làm tổn hại thân thể của một người bằng cách bẻ gãy vai, cùi chỏ, mắt cá chân, đầu gối, hông hoặc cổ.
2. Làm cho những kẻ tấn công bị mất hơi để chúng không thể tiếp tục hung hăng được nữa.
3. Giết chết kẻ tấn công.
Trong sự thực hành hai người của bát quái, các đòn quăng được thực hiện sao cho không ai bị cố ý làm cho bị thương. Điểm chính yếu cần được nhấn mạnh ở đây không phải là những đòn quăng cụ thể được tìm thấy trong bát quái (để giải thích điều đó sẽ cần đến cả nhiều cuốn sách), mà là sự uyển chuyển lưu loát và tính liên kết chặt chẽ với nhau giữa các đòn quăng, cú đá, đòn khóa khớp và đòn đánh tay — điều vốn là nét độc đáo của bát quái. Những đòn quăng có khóa khớp đồng thời rất phổ biến trong bát quái, cũng như việc chuyển từ quăng một người sang đánh một người khác, hoặc ngược lại. Một khía cạnh độc nhất vô nhị khác của nghệ thuật bát quái là khả năng pha trộn một cách uyển chuyển các đòn quăng, đòn đánh, cú đá và đòn khóa khớp khi bạn di chuyển tới những góc độ hoàn toàn khác nhau và những đối thủ khác nhau.
Nói chung, phái Dương của thái cực quyền không tập trung mạnh mẽ vào các đòn quăng, mặc dù biến thể chính của nó, phái Ngô, thì có. Phái Trần có kho kỹ thuật quăng đồ sộ nhất của thái cực quyền. Những kỹ thuật quăng của hình ý quyền tập trung nhiều hơn vào các môn phái động vật của nó hơn là vào Ngũ Hành (xem tr. 186). Nhìn một cách tổng thể, trong tất cả các môn nội gia, hình ý quyền là môn đặt sự nhấn mạnh ít nhất vào các kỹ thuật quăng.
CÁC KỸ THUẬT ĐÁ (KICKING TECHNIQUES)
Bát quái có một chế độ tập đá được phát triển cực kỳ chu toàn. Những kỹ thuật đá của bát quái là một phần của cái được gọi là chi shi er tui, hay "bảy mươi hai kỹ thuật chân". Phần lớn áp đảo trong số bảy mươi hai kỹ thuật này liên quan đến việc làm thế nào sử dụng đầu gối, ống chân và bàn chân của bạn để tấn công một đối thủ trong khi đang bước đi. Chúng bao gồm các đòn khóa khớp chân, các đòn quăng và các cú giẫm đạp, cũng như các cú đá.
Trái ngược với điều mà một số cuốn sách tiếng Anh về bát quái vẫn quả quyết, bát quái quả thực có sở hữu những cú đá cao hơn eo, mặc dù những cú đá cao như vậy thường được giữ ở mức tối thiểu hết sức trần trụi. Một số trường phái ở Bắc Kinh quả thực có dạy những phương pháp đá cao của bát quái cho những học trò tiềm năng vốn đã từng học đá cao với sự huấn luyện của Thiếu Lâm Bắc phái, môn phái chứa đựng những kỹ năng đá cao tương đương với taekwondo, karate, savate, hay kickboxing. Những học trò như vậy được dạy để chuyển hóa những cú đá cao mà họ đã học trước đây thành những phương pháp đá cao dựa trên các nguyên lý nội gia và tính chất vòng tròn cùng xoắn ốc đặc thù của bát quái. Các trường phái bát quái ở Thiên Tân thường không ưa chuộng những cú đá cao hơn đám rối thái dương (solar plexus), và nhiều trường phái bát quái ở miền Nam Trung Quốc không thích đá cao hơn eo. Nếu được quyền lựa chọn, những người tập bát quái miền Nam sẽ thích không đá cao hơn háng hay thận hơn. Nguyên lý và sự ưa chuộng mang tính chung trong tất cả các trường phái bát quái là: "Cú đá càng thấp thì càng thận trọng và càng hiệu quả." Tất cả các trường phái bát quái đều sử dụng đủ loại cú đá vòng, đá hậu, đá ngang và đá xoay, phần nhiều có khả năng bắt nguồn từ Thiếu Lâm Bắc phái, nhưng được thêm vào đó phương pháp luận mang tính vòng tròn và xoắn ốc rất riêng biệt của bát quái.
Một trong những lý do khiến nhiều người tập bát quái tránh đá cao là việc đứng trên một chân để đá sẽ phơi bày bộ phận sinh dục, đầu gối, chân, xương cụt và cột sống trước sự tấn công, ngay trong lúc cái chân đang đá của bạn đang giơ lên không trung. Hầu hết các võ sĩ sẽ tập trung vào việc chặn một cú đá rồi sau đó phản công. Những người thực hành bát quái, thay vì làm như vậy, sẽ tập trung vào việc bắt giữ và kiểm soát cái chân đang đá, và thông qua sự kiểm soát đó, tấn công phần dưới của cơ thể kẻ hung hăng. Bởi vì những người chiến đấu bát quái ý thức được cách làm toạc ra từng khớp một của phần dưới cơ thể và của cột sống, nên họ có những quy trình rất riêng biệt liên quan đến các cú đá, đặc biệt là khi đối phó với nhiều kẻ thù. Như một quy tắc chung, mọi cú đá đều phải được mở đầu bằng việc phá vỡ sự thăng bằng của các đối thủ, hoặc bằng hành động của bạn hoặc bằng hành động của chính họ. Mặc dù trong bát quái có những cú đá vào đầu, nhưng cú đá càng cao thì bạn càng bị phơi bày nhiều hơn. Nếu người ta định đá cao hơn háng hay thận, thì điều đó chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh cụ thể, chẳng hạn như:
1. Hai bàn tay của bạn phải đang kiểm soát đối thủ sao cho một đòn phản công là không thể xảy ra.
2. Nếu hai bàn tay của bạn không kiểm soát được đối thủ, bạn phải đang tạo mô-men xoắn hoặc đang vặn xoắn thân thể họ sao cho vẫn không có cách nào để họ phản công.
3. Khi bạn đã quăng được một người đang ở giữa không trung và do đó không thể phản công.
LOTUS KICK — Một cú đá ngang trong thái cực quyền bắt đầu từ phía trước của cơ thể và di chuyển ra phía ngoài của cơ thể, ít nhất là xa tới vai hoặc thậm chí xa hơn nữa.
KOU BU — Bước chụm mũi chân vào trong của cách đi bộ bát quái.
BAI BU — Bước xoay mũi chân ra ngoài của cách đi bộ bát quái.
Vấn đề trung tâm đứng đằng sau câu hỏi nên đá hay không nên đá là ở chỗ, nếu một người có thể phản công lại cú đá của bạn, thì bạn phải có khả năng nhận ra được đòn phản công đó và chặn đứng nó lại, bằng không thì hãy hủy bỏ cú đá và chuyển sang một kỹ thuật khác. Những kỹ thuật phòng ngự của cả ba môn nội gia quyền đều tập trung vào việc tận dụng bất kỳ cơ hội nào để tấn công cái chân đang làm trụ và cột sống, nếu đối thủ đem đến cho mình những cơ hội ấy trong suốt một đợt tấn công bằng đòn đá cao.
Thái cực quyền có một kho kỹ thuật đá nhỏ hơn bát quái. Nó chủ yếu tập trung vào các cú đá trước, đá ngang, và đá sen (lotus, tức đá lưỡi liềm vòng ra ngoài), cả cao lẫn thấp, cùng những cú đá vòng vào phần dưới của cơ thể. Phái Trần thực hành những cú đá nhảy, nhưng các phái Dương và Ngô chỉ thực hiện điều đó bên trong những kỹ thuật binh khí của mình, đặc biệt là đoản đao (broadsword). Hình ý quyền không sử dụng những cú đá vào đầu, và chỉ có một cú đá phía trước cùng một cú đá giẫm hướng xuống nhắm vào phần trên của thân. Tuy nhiên, nó có đầy đủ toàn bộ các cú đá nhắm vào phần dưới của cơ thể, đặc biệt là đầu gối.
Những cú đá trong bát quái bắt nguồn từ ba nguồn sau đây.
MỘT CÚ ĐÁ LÀ MỘT BƯỚC ĐI VÀ MỘT BƯỚC ĐI LÀ MỘT CÚ ĐÁ (A KICK IS A STEP AND A STEP IS A KICK)
Nguyên lý cơ bản của việc đá trong bát quái là mỗi và mọi cú đá đều là một bước đi, và mỗi và mọi bước đi đều là một cú đá. Tất cả những bước đi vòng tròn trong bát quái đều có thể được chuyển dịch thành những động tác đá. Những bước tiến của bát quái tạo ra các cú đá trước, những bước lùi tạo ra các cú đá hậu, những bước ngang tạo ra các cú đá ngang, những bước khấu bộ (kou bu, chụm mũi chân vào trong) tạo ra các cú đá vòng, và những bước bãi bộ (bai bu, xoay mũi chân ra ngoài) tạo ra các cú đá lưỡi liềm và đá móc. Chẳng hạn, những bước tiến có thể trở thành những cú đá nhắm vào bất cứ đâu, từ mắt cá chân cho đến tận đầu. Những cú đá này được thực hiện ngay từ dưới mặt đất chứ không nâng đầu gối lên trước rồi mới đá. Những cú đá này là một phần của chuỗi đi bộ thông thường và thường đi lên ở bên dưới đường tầm nhìn của đối thủ. Vì vậy, chúng tương đối vô hình đối với đối thủ.
Trong bát quái, phần lớn các cú đá không được tập theo cách như trong karate, Thiếu Lâm Bắc phái, hay savate, nơi bạn đứng yên, nâng đầu gối lên trước rồi sau đó mới đá. Phần lớn những cú đá trong bát quái được thực hiện ngay trong lúc bạn bước, nơi mà, thay vì một bước đi, cái chân duỗi ra dưới hình thức của một cú đá theo một quỹ đạo thẳng từ mặt sàn lên. Những chi tiết về đá này, được ẩn giấu ngay trong cách đi bộ của bát quái, không được nhiều người biết đến.
Cùng một tình huống như vậy cũng hiện hữu đối với thái cực quyền, nơi cách bàn chân tựa trên mặt đất, được nhấc lên, di chuyển trong không khí, và được đặt xuống chứa đựng toàn bộ những kho kỹ thuật đá, chặn đỡ và quăng ném được giấu kín. Để tu luyện những kỹ thuật này, tốc độ của bài quyền thái cực phải được làm chậm lại một cách ngoạn mục. Sự chậm chạp là điều bắt buộc để phát triển sự thăng bằng đặc biệt, sự cắm rễ sâu, và khả năng dính chặt vào chân của đối thủ mà nhờ đó, ở Trung Quốc, thái cực quyền nổi tiếng một cách hoàn toàn chính đáng. Việc học hỏi những kỹ thuật được giấu kín này của thái cực quyền và bát quái đòi hỏi phải có một vị sư phụ nội gia để giải thích những sự tinh tế về cách bạn dùng ý niệm tinh thần của mình để kích hoạt cơ thể. Thiếu đi sự chỉ dạy như vậy, thì ngay cả một chuyên gia võ thuật cũng có thể không nhận ra chúng. Những kỹ thuật bước của hình ý quyền được nhắm một cách đặc thù vào việc giẫm đạp hoặc đá phần dưới của cơ thể kẻ tấn công.
CÁC CÚ ĐÁ BẮT NGUỒN TỪ BÀI QUYỀN VÀ CÁC CÚ ĐÁNH BẰNG ĐẦU GỐI (FORM-DERIVED KICKS AND KNEE BUTTS)
Công việc bài quyền của bát quái bao gồm những động tác cụ thể dẫn tới các cú đá trước, đá ngang hay đá vòng, thường liên quan đến những cú đá cao nhắm vào cổ và đầu, hoặc những cú đánh bằng đầu gối nhắm vào ngực, các xương sườn và bắp đùi. Trong những động tác này, đầu gối thường được nâng lên trước khi cú đá được tung ra. Điều tương tự cũng đúng đối với những cú đá đặc thù trong thái cực quyền và hình ý quyền.
ĐÁ HƯỚNG XUỐNG HAY GIẪM ĐẠP (DOWNWARD-KICKING OR STOMPING)
Những cú đá hướng xuống này bắt nguồn từ sự rơi xuống đột ngột của thân thể vật lý và sự chìm xuống đột ngột của khí, đi xuyên qua cái chân để vào bàn chân. Chẳng hạn, Xà Thân Hạ Thế (Snake Creeps Down) chứa đựng một cú đá ngang thấp; một bước xoay mũi chân ra ngoài của bát quái chứa đựng một cú giẫm 45 độ nhắm vào đầu gối - ống chân, mắt cá chân, và/hoặc bàn chân của đối thủ bạn; và một cú giẫm hậu hướng xuống và hướng sang bên phát triển từ những động tác bước xuống rõ ràng. Những cú giẫm vào phần dưới của chân hay vào bàn chân được dùng để quăng hoặc bẻ gãy/làm trật khớp các khớp chân hay cột sống của kẻ tấn công. Những kỹ thuật này đặc biệt phổ biến trong hình ý quyền.
Trong khi những người thực hành bát quái là những chuyên gia trong việc bẫy lấy cái chân đang đá của đối phương và sau đó bẻ gãy chân và/hoặc cột sống của kẻ tấn công, thì chính họ lại không tung ra bất kỳ cú đá nào trừ khi họ chắc chắn rằng cú đá ấy không dễ bị phản công. Những phương pháp này bao gồm việc bắt chéo hai cánh tay của đối thủ; kiểm soát sự thăng bằng của người khác, thường bằng cách nắm lấy tay của họ và kéo họ mất thăng bằng; làm cho động lượng của đối thủ di chuyển theo một cách sao cho đối thủ không thể đổi hướng và nắm bắt được; hoặc đá đối thủ khi một hoặc cả hai bàn chân của họ đang rời khỏi mặt đất.
SỰ THIẾU VẮNG KỸ THUẬT CHIẾN ĐẤU TRÊN MẶT ĐẤT (LACK OF MATWORK)
SWARI WAZA — Kỹ thuật chiến đấu trên mặt đất của hợp khí đạo, trong đó người thực hành, dù đứng yên hay di chuyển ngang qua tấm thảm, vẫn giữ thân mình thẳng đứng với một hoặc cả hai đầu gối chạm đất.
Bát quái có một sự thiếu sót chói lỏi trong kho vũ khí võ học của nó — những kỹ thuật để vật lộn trên mặt đất. Bát quái quan niệm rằng việc chiến đấu trên thảm là thích hợp cho chiến đấu một chọi một, nhưng về mặt chiến lược thì lại không khôn ngoan khi đối đầu với nhiều đối thủ. Bát quái ôm giữ quan điểm rằng, trong khi bạn đang vật lộn với một đối thủ trên mặt đất, thì những kẻ đồng bọn của hắn có thể xúm lại tấn công bạn, đá hay giẫm lên bạn, hoặc làm những chuyện quỷ quái chết người khác. Tuy nhiên, bát quái quả thực có thi triển những đòn siết cổ và những kỹ thuật khống chế bất động của lối đánh dưới đất, nhưng lại thực hiện chúng ở tư thế đứng thẳng hoặc ngồi xổm thật sâu. Thông qua những tư thế thấp của nó, việc đi vòng tròn, và những tư thế đặc thù trong bài quyền bát quái, môn võ này có những kỹ thuật để chiến đấu dưới đất nơi hai mông của bạn chỉ cách mặt đất vài inch. Những tư thế này cho phép bạn đi thấp xuống bên dưới những đối thủ cao lớn và đối phó với những tay chuyên chiến đấu dưới đất cũng như những tay đô vật, cũng như để tiếp tục chiến đấu với tám đối thủ cùng một lúc.
Giống như bát quái, môn thái cực quyền có những tư thế hạ thấp cực kỳ thấp (chẳng hạn như Đơn Tiên Ngồi Xổm [Squatting Single Whip], Đấm Xuống [Punch Downward], và những cách thực hành Thôi Thủ cực kỳ thấp). Hình ý quyền có các tư thế Khỉ, Long và Đại Bàng để chiến đấu dưới đất.
Nói chung trong các môn nội gia, một số kỹ thuật có thể được sử dụng khi đang vật lộn trên mặt đất, chẳng hạn như các đòn đánh vào thần kinh, việc nắm véo da để gây đau đớn dữ dội, và việc tung ra những đòn đánh gây tổn hại mà hoàn toàn không cần lấy đà. Trong chiến đấu một chọi một, việc làm thế nào để chiến đấu trên lưng hay trên bụng của mình với một tay cao cường về chiến đấu dưới đất — người có thể bẻ gãy các khớp của bạn hoặc siết cổ bạn — là một mối bận tâm hoàn toàn chính đáng. Những khía cạnh huấn luyện sau đây phải được xem xét đến:
1. Vật lộn trên một tấm thảm hay trên mặt bê tông đòi hỏi một cơ thể tương đối khỏe mạnh, bởi vì các khớp và cột sống đặc biệt dễ bị thương tích trong suốt quá trình chiến đấu dưới đất. (Chẳng hạn, những người vốn bị đau lưng mãn tính nên đặc biệt tránh việc bị quăng đi hoặc bị vặn xoắn thân thể một cách thô bạo từ việc vật lộn trên mặt đất.)
2. Vật lộn thì dễ học hơn khi bạn còn trẻ, mặc dù một khi những kỹ năng chiến đấu dưới đất đã ngấm vào máu của bạn, chúng có thể được duy trì một cách hiệu quả cho tới tận tuổi già, như một số nhân vật hàng đầu về nhu đạo và nhu thuật đã chứng minh.
3. Khôn ngoan là nên tập luyện chéo và học lấy giá trị của những phương pháp vật lộn của nhu đạo, nhu thuật, và hợp khí đạo (được gọi là swari waza), ngay cả khi bạn chỉ muốn học cách tự vệ chống lại chúng. Dĩ nhiên, có rất nhiều điều bạn có thể làm trên mặt đất trong một cuộc chiến thực sự mà thường bị các quy tắc của những môn vật lộn ngăn cấm, chẳng hạn như cắn, cào cấu, nắm lấy háng, và đập đầu của ai đó xuống đất.
4. Một khi bạn đã đạt được sự tinh thông trong vật lộn, thì đừng trở nên quá tự tin và nằm lì trên mặt đất quá lâu. Rất có thể sẽ có, như bát quái đã từng cảnh báo, một sự dễ bị tổn thương thực sự nếu bạn phải đồng thời đối phó với nhiều kẻ tấn công.
Việc đạt được một sự cân bằng về khoảng thời gian mà bạn nên dành cho việc thực hành nội gia quyền thông thường và việc huấn luyện vật lộn là, cũng giống như mọi thứ khác, một vấn đề của việc cân nhắc thời gian hiện có so với những ưu tiên của bạn.
CÁC GÓC ĐỘ CHIẾN ĐẤU (FIGHTING ANGLES)
Trong một cuộc đối đầu, bạn muốn tránh khỏi việc bị áp đảo, nhưng đồng thời lại muốn có thể áp đảo được đối thủ của mình. Tình huống này có thể được ví như một con muỗi muốn có một bữa ăn nhưng cần phải tìm ra một lỗ hổng trên tấm màn chống muỗi để có được nó, trong khi bạn lại cần tấm màn chống muỗi của mình không có lỗ hổng nào. Bất kỳ cuộc tấn công nào cũng sẽ thành công nhất nếu nó có một đường đi tiếp cận rõ ràng, không bị cản trở, tới mục tiêu của nó; nghĩa là, có một lỗ hổng rõ ràng trên tấm màn chống muỗi để con muỗi dễ dàng bay lọt qua. Một võ sĩ chỉ có một vài lựa chọn khả dĩ để mở ra một lỗ hổng rõ ràng trên tấm màn ấy:
1. Đối thủ của bạn bị choáng váng hoặc bằng cách nào đó hoàn toàn không có khả năng di chuyển.
2. Bạn có thể di chuyển nhanh đến mức đối thủ của bạn không bao giờ nhìn thấy cuộc tấn công của bạn đang lao tới, hoặc không có đủ thời gian để thực hiện bất kỳ sự phòng ngự hữu dụng nào.
3. Bằng cách điều chỉnh góc độ của hai cánh tay, hai cẳng chân và/hoặc thân mình của bạn, bạn có thể vượt qua được sức mạnh của đối thủ, và lướt qua không bị thách thức qua bất kỳ lỗ hổng tinh vi nào xuất hiện trong sự phòng ngự.
Nếu hai cánh tay hay hai cẳng chân của đối thủ có thể chạm vào tay chân của bạn, hoặc bằng cách nào đó cản trở một phần góc tấn công rõ ràng của bạn, thì có thể có đủ lực bị rút mất khỏi cuộc tấn công của bạn để làm cho nó hoàn toàn trở nên vô dụng, hoặc làm giảm tác động của nó xuống thấp hơn những đòi hỏi của khoảnh khắc ấy. Đấm vào hai cánh tay của ai đó thì hoàn toàn khác xa với việc có một trường bắn (field of fire) rõ ràng nhắm vào thân thể hay cái đầu. Về mặt phòng ngự, thì đó cũng là cùng một tình huống. Những góc độ chiến đấu phòng ngự có hiệu quả cho phép người phòng ngự làm chệch hướng lực của đối thủ với sự nỗ lực tối thiểu, làm cho việc tung ra một đòn phản công trở nên khả thi và dễ dàng hơn. Góc độ phòng ngự càng tốt, thì lực của đối thủ càng ít bị cơ thể của người phòng ngự hấp thụ — một sự cân nhắc chủ yếu nếu kẻ tấn công mạnh hơn một cách đáng kể. Người phòng ngự càng hấp thụ lực của kẻ tấn công một cách trực diện, thì cơ hội người phòng ngự bị kẹt cứng lại tạm thời vì cú sốc của đòn đánh, trở nên dễ bị tổn thương trước đòn tấn công kế tiếp, và không thể phản công một cách hiệu quả càng lớn.
Do đó, nếu những kỹ thuật chiến đấu của bạn muốn được thực thi một cách hiện thực trong chiến đấu, dù là trong phòng ngự hay trong tấn công, thì việc học hỏi các góc độ chiến đấu là một kỹ năng cơ bản mang tính sống còn đối với cả ba môn nội gia quyền. Những phương pháp góc độ chiến đấu của bát quái có thể nói là tinh vi nhất trong số ba môn nội gia quyền (xem tr. 231).
Thường thì, trong cả ba môn nội gia quyền, một giai đoạn thứ nhất của việc giảng dạy các kỹ thuật chiến đấu cùng những góc độ chiến đấu cơ bản của chúng được thực hiện thông qua những bài tập tấn công và phòng ngự đã được biên đạo sẵn giữa hai người, thường được gọi là các bài song luyện (two-person sets). Những bài song luyện rất hữu dụng cho việc phát triển một từ vựng chiến đấu nền tảng trong ba môn nội gia quyền. Tuy nhiên, những bài tập này chỉ là một điểm khởi hành ban đầu để thấu hiểu và có khả năng hiện thực hóa được tiềm năng của các kỹ thuật.
MỘT CUỘC TRƯỜNG CHINH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
VỊNH XUÂN (WING CHUN)
Tại trường thái cực quyền của Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) ở thành phố New York vào đầu thập niên bảy mươi, dường như không một ai đang tập đối kháng tự do cả. Trong thời gian này, tôi trở nên thân thiết với cố Clifton Cooke, người vốn là một trong những người giỏi Thôi Thủ nhất trong trường của BAA. Chúng tôi trở thành những bạn tập không ngừng nghỉ của bài quyền, Thôi Thủ, kiếm thuật, và bài tập chiến đấu hai người, cả ở trong lẫn ở ngoài trường. Một ngày nọ, Cliff nói với tôi rằng anh ấy đang học một môn võ Thiếu Lâm của người Quảng Đông gọi là Vịnh Xuân (Wing Chun). Anh ấy mô tả nó như một phương pháp võ học dựa trên đường thẳng, không có nhiều bài quyền hay khí công, mà thay vào đó tập trung vào một loại đối kháng chạm tay gọi là chi sau (dính tay). Trong chi sau, bạn vừa có thể phát triển vừa có thể sử dụng sự nhạy bén của Thôi Thủ thái cực quyền, trong khi bạn cố gắng đấm, đánh, và thậm chí đá vào ống chân và đầu gối của nhau. Lời mô tả của anh ấy nghe thật tuyệt vời, và tôi bắt đầu học Vịnh Xuân bên cạnh anh ấy từ đó về sau, và khi tôi trở về từ chuyến lưu lại tiếp theo của mình ở phương Đông. Vịnh Xuân hấp dẫn tôi bởi vì những cú đấm và đòn đánh của nó đã thỏa mãn một nhu cầu rất bản năng mà tôi có, về một cảm giác đối kháng hiện thực bằng kỹ thuật mềm, điều mà Thôi Thủ không mang lại.
Ở Mỹ và ở châu Âu trong suốt thập niên 1970, Vịnh Xuân hầu như là môn võ thuật duy nhất có sẵn nơi bạn có thể học hoặc thực hành sự nhạy bén đối kháng chạm tay suốt nhiều giờ liền với những người đầy nhiệt tình.* Việc thực hành này thật tốt bởi vì nó cho phép tôi tích lũy kinh nghiệm về sự nhạy bén cần thiết cho việc đánh, kiểm soát và bắt giữ, điều được đòi hỏi trước khi những khả năng "dính" trong bất kỳ môn võ thuật nào có thể thực sự được làm chủ.
Ở Đài Loan, không bao giờ thiếu những bạn tập và thầy dạy sẵn lòng trong các phương pháp chạm tay, dù là trong các môn nội gia, ngoại gia, hay các môn võ thuật pha trộn. Những người thực hành nội gia ở phương Tây vào lúc ấy vẫn chưa thực hành những phương pháp đối kháng này, mà chỉ có Thôi Thủ thôi. Cả ở phương Tây lẫn ở Hồng Kông, tôi học Vịnh Xuân phần lớn với các thành viên của trường phái Diệp Vấn (Yip Man),** và đã thực hiện một vài nghiên cứu chéo ở Hồng Kông với một thành viên của trường phái Fatshan.
Vịnh Xuân dựa trên các kỹ thuật bàn tay và cánh tay. Nó cũng sử dụng các kỹ thuật đá, phần lớn là trong lúc chiến đấu áp sát, nơi mà, giống như các môn nội gia quyền...
* Vào thập niên 1970, hầu hết các trường phái Thiếu Lâm của võ thuật Trung Quốc đều không hiện diện ở phương Tây. Những trường phái có tồn tại thì phần lớn chỉ là của dòng Quảng Đông, không phải vì truyền thống này là phổ biến nhất ở Trung Quốc, mà đúng hơn là vì rất ít người thực hành từ những tỉnh khác của Trung Quốc đã đến phương Tây, dù với tư cách người nhập cư hay du học sinh. Tình hình này bắt đầu thay đổi phần nào vào cuối thập niên 1980 với việc Trung Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài và những điều kiện chính trị đang chuyển dịch ở Đài Loan.
** Diệp Vấn là thầy của Lý Tiểu Long.
Vịnh Xuân, tiếp theo
[Trong Vịnh Xuân quyền], trước tiên môn phái này khống chế cánh tay của đối thủ, và thông qua sự khống chế ấy làm cho họ bất động hoặc phá vỡ thế cân bằng của họ, trước khi cú đá tấn công — chủ yếu nhắm vào phần thân dưới — được tung ra. Những kỹ thuật chủ yếu của nó rất tuyệt vời trong việc phát triển sự chính xác của các góc chiến đấu theo đường thẳng, xét trên phương diện đặt khuỷu tay và bàn tay của bạn vào mối tương quan với sức mạnh trong những cú đá và cú đấm của đối thủ. Vịnh Xuân phát triển những phản xạ cực kỳ nhanh. Nó rèn luyện những góc chiến đấu theo đường thẳng liên quan đến cánh tay một cách khá tốt, nhưng lại không rèn luyện tất cả những góc cần thiết ở eo và ở chân. Cũng như hình ý quyền, triết lý võ học của Vịnh Xuân là một triết lý không rườm rà, đề cao tính hiệu quả trên hết thảy. Tại thành phố New York, tôi thấy Vịnh Xuân là một công cụ giảng dạy hữu ích trong rất nhiều khóa học tự vệ cho phụ nữ mà tôi đã dạy. Sau đó, tôi tiếp tục tập Vịnh Xuân trong hai chuyến đi dài ngày tiếp theo của mình tới Hồng Kông.
Cách mô tả Vịnh Xuân tiêu chuẩn của hầu hết những người tập võ là: "Nó rất tuyệt nếu bạn phải chiến đấu trong một buồng điện thoại, bên trong một thang máy, hoặc trong một không gian chật hẹp tương tự, nhưng lại gặp rắc rối trên những địa hình khác." Đặc biệt, tôi xin nói thêm, là nếu có đủ chỗ để bạn bị quăng ném. Điều này lần đầu tiên được tôi thấm thía nhờ vào cố Bill Paul.
Bill là người đầu tiên đưa tôi vào khía cạnh thực dụng của võ thuật Trung Hoa. Trong giới judo, biệt danh của Bill là "người lực sĩ California." Anh ghé thăm lớp judo của tôi trong một chuyến đi tới New York để tranh một suất trong vòng tuyển chọn judo Olympic 1964. Là người gốc San Francisco, anh bắt đầu tập võ thuật Trung Hoa ở đó vào cuối những năm 1950, khi thành phố ấy dường như là nơi duy nhất trong thế giới phương Tây mà ở đó có sẵn một chủng loại võ thuật Trung Hoa phong phú để những người không phải người Hoa có thể học. Bill đôi khi làm nghề bảo vệ ở quán bar, nên anh rất biết trân trọng những môn võ có tính thực dụng. Khi buổi học kết thúc, anh ở lại nói chuyện một lúc. Câu chuyện trôi dạt sang mối quan hệ giữa judo và karate, và Bill bắt đầu nói về công phu (gung fu), đặc biệt là Thái Lý Phật (choi li fut), Phật Gia (fut gar), và Hồng Gia (hung gar). Là người duy nhất tập karate trong lớp judo này, tôi trở thành đối thủ của anh. Đó là một trải nghiệm khai sáng, khi anh cứ việc trói chặt tôi, gài bẫy đôi tay tôi, và đánh tôi từ phía trước, bên hông và phía sau bằng những cách mà tôi chưa từng biết là có tồn tại. Những đòn tấn công của anh đã đánh thức trong tôi một sự tò mò suốt đời về công phu.
Về sau, trong những ngày đại học của tôi ở Nhật Bản, Bill và tôi gặp lại nhau khi anh đến tập luyện tại Tổng bộ Judo Thế giới Kodokan. Vào thời điểm này, tôi đã dày dạn kinh nghiệm hơn rất nhiều, và chúng tôi có thể thực sự trao đổi những kỹ thuật công phu với nhau — điều mà đôi khi chúng tôi đã làm — chỉ có điều bây giờ Bill cũng đã tham gia vào Bạch Hạc quyền Quảng Đông, Hầu Quyền (Monkey Boxing), và Vịnh Xuân, còn tôi bây giờ đã có một nền tảng về nội gia quyền và những kỹ thuật hầu của hình ý quyền. Chúng tôi gặp lại nhau một
PHẬT GIA (FUT GAR)
Một môn phái ngoại gia của Thiếu Lâm Nam phái, xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông.
HỒNG GIA (HUNG GAR)
Một môn phái ngoại gia của Thiếu Lâm Nam phái, xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông.
vài năm sau tại Berkeley, California, thông qua một người bạn chung mới. Tôi có mặt ở Bờ Tây để xem liệu việc tập luyện võ thuật Trung Hoa ở vùng Vịnh (Bay Area) có mang lại những cơ hội như những gì có thể tìm thấy ở Hồng Kông và Đài Loan hay không,
Buổi chiều hôm ấy ở Berkeley thật là vui. Bill và tôi bắt đầu bằng những đợt tập đối kháng nhẹ nhàng. Dần dần, như hai nhạc công jazz đang ứng tấu cùng nhau, sức nóng trong mỗi người chúng tôi cứ dâng lên mãi, khi chúng tôi dùng những môn võ Trung Hoa khác biệt của mình để tấn công và đỡ đòn lẫn nhau. Chúng tôi ở trong một căn phòng khá rộng, nên có đủ không gian để di chuyển quanh. Bill có những kỹ thuật khuỷu tay rất tuyệt, thứ buộc bạn phải xoay eo để tránh chúng, nếu không thì lãnh đủ. Nhận ra rằng kỹ năng vật lộn của Bill giỏi hơn tôi rất nhiều, tôi không hề thử quăng anh ta, vì biết rằng mình sẽ bị đòn đỡ ngay lập tức. Cả hai chúng tôi đều được huấn luyện quá kỹ càng đến mức không để cho một đòn khóa khớp nào thành công xảy ra. Chúng tôi đá thấp, bởi vì đá cao chẳng khác nào tự yêu cầu bị quăng ngã xuống. Sự nhanh nhẹn trong việc hạ thấp trọng tâm và chuyển dịch trọng lượng có được từ nội gia quyền đã phục vụ tôi rất tốt. Khi Bill lao vào để quăng tôi, tay tôi đã có mặt ở hạ bộ của anh, nên sau một thời gian anh ngưng làm thế. Vào những thời điểm khác nhau, cả hai chúng tôi đều đã đẩy nhau bay vút qua khung cửa ra vào.
Sau một hồi, chúng tôi quyết định tập một ít xàu thủ (chi sau) của Vịnh Xuân, thứ thường trôi chảy chuyển thành những cuộc trao đổi tự do không theo kịch bản. Vào một thời điểm, nghĩ rằng mình đang có lợi thế về các góc chiến đấu, tôi lao vào để kết liễu, hoàn toàn chỉ sử dụng kỹ thuật Vịnh Xuân. Điều này tỏ ra là một nước đi rất tệ. Vì đã không chú ý đến tất cả các góc của eo và bàn chân mình cũng như cách phân bổ trọng lượng của mình, tôi thấy mình bay bổng lên không trung trong một cú quăng được canh thời điểm vô cùng tuyệt đẹp. Trải nghiệm này thực sự đã làm cho tôi thấm thía một điều: trong võ thuật, điều mà bạn không chú ý đến có thể chôn vùi bạn. Trong phần còn lại của buổi tập đối kháng, tôi từ bỏ chiến lược Vịnh Xuân chỉ-dùng-tay này, và Bill không thể quăng tôi thêm lần nào nữa. Sau đó, Bill cho tôi biết tất cả những võ đường Trung Hoa tốt ở San Francisco nằm ở đâu, hầu hết trong số đó tôi đã đến xem xét trước khi quyết định quay trở lại phương Đông để học tập.
Trong suốt những năm tháng ấy, tôi đã nhìn thấy cùng một nhược điểm này của Vịnh Xuân đối với các đòn quăng ném hết lần này đến lần khác, đặc biệt là trong những giải đấu tiếp xúc toàn phần (full-contact) ở Viễn Đông, nơi những tay vật lộn trước tiên sẽ tiếp xúc với cánh tay của người tập Vịnh Xuân và chịu lấy một đòn đánh hoặc túm lấy chúng, rồi sau đó tiếp tục quăng họ xuống một cách rất mạnh. Tôi đã hết sức nghiêm túc tiếp nhận sự thấu thị này trong hình ý quyền, bởi vì môn này cũng chủ yếu là một môn dùng tay. Việc nghiên cứu những góc chiến đấu bằng tay của Vịnh Xuân là cực kỳ hữu ích. Nó giúp dọn đường cho việc biết trân trọng một phổ các góc chiến đấu trọn vẹn hơn trong nội gia quyền (xem tr. 103), đặc biệt là trong lĩnh vực bộ pháp và sự thay đổi góc của eo trong lúc di chuyển và xoay trở.
chính chúng và những góc chiến đấu mà chúng chứa đựng. Tiềm năng này thường được thực hiện bằng cách phát triển tâm/ý (heart/mind), và điều này được phát triển thông qua những thực hành nối tay (joint-hand practices) và những cuộc tập đối kháng không theo kịch bản (unrehearsed sparring).
Ý Nghĩa của Các Thế Động Vật trong Nội Gia Quyền
Việc thực hành võ học các thế Động Vật là điều phổ biến trong các môn võ ngoại gia. Thuật ngữ động vật được dùng ở đây ám chỉ toàn bộ giới động vật, tức là thú có vú, cá, chim, bò sát, có thật hay thần thoại. Những bậc cao thủ võ thuật Trung Hoa đã quan sát một cách sắc sảo các loài vật chiến đấu, và phân tích xem chúng đã làm những gì mà mang lại hiệu quả. Họ quan sát thấy những con vật này di chuyển theo những cách đặc thù khi chúng chiến đấu: loài khỉ nhảy, lăn lộn trên mặt đất, và trèo lên mình các con vật khác và lên cây; loài gấu đè bẹp con mồi trước khi giết chết nó; loài chim lao vào lao ra và sà xuống; loài hổ phóng vọt lên từ một tư thế nằm rình rập, còn những con vật thần thoại thì được gán cho đủ mọi loại chuyển động võ học. Mỗi loài vật đều có vũ khí thiên nhiên riêng của nó: gấu nghiền nát bằng vai của chúng; hổ cào bằng móng vuốt; hạc rung búng những chóp cánh của nó với tốc độ nhanh như súng máy; rắn tạo ra những vết rạch chính xác hoặc bóp nghẹt sinh mạng của con mồi; khỉ véo, tát, xé bằng răng, và đánh bằng cổ tay; còn ngựa thì đập nát bằng móng guốc của nó.
Vượt lên trên những chuyển động vật lý và những vũ khí thiên nhiên mà nó được ban cho, mỗi loài vật còn bộc lộ một chiến lược cụ thể về cách chiến đấu. Nó sẽ sử dụng những chiến thuật để thực thi chiến lược ấy: né tránh rồi đòn đánh, thực hiện một đòn tấn công chớp nhoáng, làm cho rối loạn rồi mới đánh, ào vào với một lực lượng áp đảo, sử dụng một tốc độ không thể tin nổi, và vân vân. Các thế Động Vật võ học cố gắng chuyển hóa những phẩm tính chiến đấu đa dạng của loài vật vào sự chiến đấu của con người.
Tuy nhiên, con người không phải là loài vật. Chúng ta không có bốn chân, đuôi, cánh, răng nanh hay móng vuốt. Chúng ta không to lớn hay nhỏ bé như một số loài vật, và chúng ta cũng không thể bay. Nhưng chúng ta có một cái tâm, và chúng ta có thể đúc khuôn thân thể mình để làm những gì cái tâm của mình bảo. Trong nội gia quyền, giai đoạn ban đầu của việc dạy các thế Động Vật có khuynh hướng làm cho người tập sẵn sàng học một số kỹ thuật vật lý cụ thể nhất định. Những kỹ thuật ấy có thể bao gồm việc nằm rình rập, nhảy, phóng vọt, nhảy lướt, xoay trở, hoặc di chuyển bàn tay và cánh tay, thân mình hay bàn chân của bạn, để bắt chước những chuyển động của loài vật. Bạn có thể tạo thành bàn tay mình ở những tư thế nhất định để phản chiếu những vũ khí thiên nhiên của loài vật: các đốt ngón tay có thể trở thành móng guốc của ngựa, các ngón tay trở thành móng vuốt, khuỷu tay trở thành cặp sừng, lòng bàn tay trở thành bàn chân có móng, mu bàn tay trở thành đôi cánh, và vân vân. Dù tất cả những điều đó là như vậy, những kỹ thuật vật lý vẫn không phải là khía cạnh quan trọng nhất của các thế Động Vật trong nội gia quyền. Điều quan trọng hơn là người tập trở thành chính cái tâm của con vật tạo ra và điều chỉnh những chiến lược chiến đấu của nó.
Mỗi loài vật đều có một phẩm tính của tâm: chẳng hạn, loài gấu lạch bạch đi cho tới khi chúng di chuyển một cách rất đột ngột, bộc phát và mau lẹ; loài mèo, đặc biệt là hổ, thì hung tợn; ngựa thì phẫn nộ; khỉ thì dễ bị kích động và độc ác; rắn thì uốn lượn
và quỷ quyệt; loài chim thì cuồng nhiệt, và vân vân. Một số loài vật giết chết con mồi bằng một đòn gọn sạch; những loài khác phải trông cậy vào nhiều đòn tấn công mới kết liễu được.
Cuộc thảo luận sau đây liên quan đến các thế Động Vật chỉ áp dụng cho nội gia quyền; nó có thể áp dụng hoặc không áp dụng cho các thế Động Vật của Thiếu Lâm.
Cũng giống như chính con vật thật mà nó bắt chước, mỗi thế Động Vật của nội gia quyền đều có tâm thế riêng của nó trong việc cảm nhận và đáp ứng với bạo lực hoặc với mối đe dọa của bạo lực. Mỗi thế Động Vật riêng biệt đều đi sâu vào cái ý nằm phía sau tâm của con vật. Trong lúc tập luyện, bạn học cách suy nghĩ như con vật được đề cập, cảm nhận những tình huống như nó cảm nhận, và khơi dậy năng lượng của mình như nó khơi dậy. Điều này không chỉ được thực hiện như một kỹ thuật cụ thể, mà như một toàn bộ phương cách hiện hữu và tương tác với một tình huống. Phương pháp này cho phép bạn không chỉ đơn thuần bắt chước một chuyển động vật lý cụ thể của một con vật, mà đúng hơn là có khả năng thích ứng về mặt tinh thần, để bạn có thể chuyển từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác y như cách con vật phản ứng và thay đổi trong một cuộc đối đầu bạo lực thực sự. Người ta phải học cách đi vào tâm của con vật, sống với cơn giận dữ của nó, sự tàn ác của nó, sự tự tin tuyệt đối của nó, sự hung mãnh của nó, sự quỷ quyệt của nó, sự xa cách lạnh lùng của nó, khả năng rình rập của nó, và vân vân.
Tất cả điều này có thể nghe có vẻ hấp dẫn, nhưng từ một góc nhìn khác, khi trở thành một con vật, bạn chỉ mới thành công trong việc bước xuống một bậc trên thang tiến hóa tâm linh. Bước tiến hóa đi lên tiếp theo là giữ lại tất cả những chiến lược võ học có tính thực dụng của con vật nhưng vẫn giữ được một cái tâm tĩnh lặng và an nhiên, nhờ đó vẫn là một con người chứ không trở thành một con vật. Tâm của bạn phải học cách di chuyển thân thể mình thuần túy bằng cách sử dụng nội lực và sự minh triết của ý niệm, chứ không phải bằng cơn giận dữ hay những cảm xúc thú tính khác, vốn là những thứ quá dễ bị khơi dậy trong lúc chiến đấu.
Như đã được chỉ ra trong Chương 1, sự minh triết của ý niệm thay thế cho sự tiết ra những kích thích tố sinh ra bạo lực, để trở thành nguồn sức mạnh và động lực tự vệ của bạn, đồng thời loại bỏ phản ứng chiến đấu, bỏ chạy, hay đông cứng (fight, flight, or freeze). Khi giai đoạn này tiến triển đủ xa, khao khát đánh bại người đang tấn công được thay thế trước tiên bằng một ước muốn không làm hại hắn nếu có thể, sau đó là vô hiệu hóa cái ý bạo lực ở trong hắn. Sự vô hiệu hóa này cần phải xảy ra ngay trong lúc đối đầu, và nó cũng cần được áp dụng vào việc tác động lên ma trận năng lượng của kẻ tấn công ở mức độ tiềm thức, sao cho khuynh hướng bạo lực của hắn giảm đi sau khi cuộc chiến kết thúc. Tại điểm này, các thế Động Vật của nội gia quyền bắt đầu bước vào lãnh địa tâm linh, trong cả những bài quyền tập đơn lẫn những ứng dụng chiến đấu. Nói ngắn gọn, những kỹ thuật cụ thể được truyền dạy nhằm thực thi mục tiêu cố gắng nâng cao tâm thức của chính bạn và tâm thức của đối thủ bạn.
Các Bài Tập Đối Kháng
Cũng như thái cực quyền và hình ý quyền, bát quái chưởng phát triển những kỹ năng chiến đấu thông qua một trình tự có phương pháp gồm các bài tập đơn và các bài tập với bạn tập. Như đã thảo luận trước đây, việc Đi Vòng Tròn một mình trong khi thực hiện 16 bài thực hành năng lượng nội công cơ bản là bài tập bát quái quan trọng nhất để phát triển sức mạnh võ học. Khi được kết hợp với việc giữ các thế đứng (postures), các bài tập đơn, và các thế biến chưởng, bát quái chưởng có thể được thể hiện trọn vẹn như một môn nghệ thuật vật lý, năng lượng và tâm linh.
Mặc dù việc chỉ thực hành những bài tập đơn này có thể đưa bạn tới một mức độ năng lực nào đó như một tay chiến đấu, chúng vẫn phải được bổ sung bằng những bài tập huấn luyện hai người chuyên biệt để phát triển bát quái một cách trọn vẹn như một môn võ chiến đấu. Đơn giản là không có gì có thể thay thế được việc tập luyện với một con người bằng xương bằng thịt. Những kỹ thuật để thực hành các ứng dụng hai người bao gồm: (1) Nhu Thủ (Rou Shou); (2) Đi Vòng Tròn với hai bàn chưởng dính vào nhau và tham gia vào cả những đòn tấn công và phòng thủ đã được sắp đặt trước lẫn những đòn tự phát; (3) những đòn tấn công và phòng thủ được thực thi từ cự ly gần, trung bình và xa (cả đã sắp đặt trước lẫn tự phát); và (4) tập đối kháng tự do.
Đối với người học ở trình độ trung cấp của bát quái hay thái cực quyền, chìa khóa là giữ cho các kỹ thuật của bạn luôn tròn trịa, sao cho khi bạn bị đánh trúng, bạn vẫn có thể tiếp tục đi từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác mà không có những sự ngưng nghỉ do quán tính, sự tê liệt về mặt cảm xúc, hay sự căng cứng về mặt thể chất gây ra. Bài tập này phát triển khả năng giữ được cái đầu lạnh và không bị đông cứng lại khi áp lực đang đè nặng. Bởi vì rốt cuộc bạn phải chạm vào đối thủ thì một kỹ thuật võ học mới có thể hoạt động, nên việc tập Nhu Thủ đưa bạn vào quá trình của những sự biến đổi ngay tại điểm mà thân thể bạn chạm vào đối thủ, thường là ở cánh tay. Việc tập Nhu Thủ sau đó hình thành một nhịp cầu bên trong thân/tâm của người tập, nối giữa sự do dự và khả năng tiếp tục đi đến điều kế tiếp, điều ấy có thể là cú sốc của hai cánh tay chạm nhau và đánh nhau, của việc quăng ném và khóa khớp. Những mục tiêu chủ yếu của bài tập Nhu Thủ là:
1. Phát triển sự nhạy cảm và sự sống động của sự tiếp xúc
2. Vượt qua khuynh hướng tê liệt hay hoảng loạn trong chiến đấu
3. Phát triển (như trong Thôi Thủ của thái cực quyền) những khả năng: (a) cắm rễ (root); (b) xoắn vặn eo và các chi; (c) gập lại các khớp của cánh tay; và (d) kích hoạt tính đàn hồi lò xo trong đôi chân cho cả chuyển động theo phương thẳng đứng lẫn theo phương ngang
4. Cung cấp một phương cách an toàn và thực tế để phát triển những kỹ thuật chiến đấu mang tính hiện thực mà không cần phải đi tới chỗ chiến đấu thực sự
Nhu Thủ có thể tỏ ra là điều vô giá đối với những người tập thái cực quyền, bởi vì nó hình thành một nhịp cầu tự nhiên giữa Thôi Thủ (xem tr. 147), thứ vốn không đủ cho việc tự vệ thực dụng, và việc tập đối kháng. Sự chuyển tiếp này đáng tiếc là lại thiếu vắng trong hầu hết các võ đường thái cực quyền hiện đại.
Tập Luyện Với Bạn Bè, Chiến Đấu Với Kẻ Thù
Việc tập luyện cho một tình huống tự vệ tiềm năng hay cho một cuộc thi đấu không giống như việc đang ở trong một cuộc đối đầu bạo lực thực sự ngoài đời thực hay một cuộc thi đấu võ thuật khốc liệt. Khi tác giả bắt đầu tập judo ở tuổi mười hai, ông luôn cảm thấy bối rối vì trong những buổi randori, tức là tập tự do bình thường, vị huấn luyện viên luôn nói rằng các học viên phải "chơi" judo, nhưng nếu có một cuộc thi đấu chính thức giữa hai học viên, thì họ lại phải "chiến đấu." Một khoảnh khắc nào đó ai đó là bạn và là người cùng chơi với bạn, rồi khoảnh khắc kế tiếp lại là "kẻ thù" của bạn? Điều này thật là khó hiểu. Một ngày nọ khi được hỏi, vị huấn luyện viên — một cựu vô địch judo toàn Nhật Bản — đã giải thích tình huống này.
RANDORI
Thuật ngữ Nhật Bản chỉ hình thức tập đối kháng tự do được sử dụng trong judo, jujitsu và aikido.
Trên chiếu tập, những người mà bạn tập cùng là bạn bè và đồng môn của bạn. Mục đích của việc tập luyện của bạn là làm cho nhau mạnh mẽ hơn thông qua sự phát triển kỹ thuật. Bạn không muốn làm đau nhau, nếu không thì bạn sẽ không thể tiếp tục tập luyện được nữa. Nếu bạn đánh mất sự kiểm soát cảm xúc của mình và làm những chuyện xấu xa với những người bạn tập, họ hoặc là sẽ chắc chắn trả đũa bạn vào lúc khác, hoặc là sẽ không muốn tập với bạn nữa. Làm đau một người bạn tập hay trút những cảm xúc của mình lên thân thể người khác sẽ làm ô nhiễm bầu không khí, và được coi là một thái độ rất tồi tệ về mặt lễ nghĩa. Nghi lễ là điều vô cùng quan trọng trong võ thuật, cũng như lòng tử tế và sự tôn trọng lẫn nhau. Trong lúc tập luyện, việc thắng cuộc không quan trọng bằng việc phát triển kỹ thuật của bạn. Cho nên bạn "chơi" judo, chứ không chiến đấu trong võ đường (dojo).
Khi bạn tham gia vào một cuộc thi đấu thì tình huống lại khác. Mục tiêu không phải là chơi mà là thắng. Nếu thắng cuộc không phải là mục tiêu của bạn, thì đừng bận tâm đến việc thi đấu, chỉ cần tập luyện thôi. Đây là một môn võ, nên trong một cuộc thi đấu, thái độ của bạn phải là muốn chiến đấu và muốn thắng, chiếu theo các quy tắc. Trong một cuộc thi đấu, bạn không có bạn bè trong suốt trận đấu, mà chỉ có một kẻ thù cần phải khuất phục. Nếu không có thắng và thua, thì cuộc thi đấu chẳng có ý nghĩa gì. Sau khi trận đấu kết thúc, rồi bạn có thể tập luyện như những người bạn và chơi judo. Judo để chơi và judo để chiến đấu, mỗi thứ đều có thời gian và chỗ đứng riêng của nó.
Trong bất kỳ môn võ nào, điều quan trọng là phải thỏa thuận với người bạn tập của bạn về những ranh giới và về mức độ hay cường độ hay mức sử dụng lực mà bạn muốn leo thang tới. Bạn có thể đi từ nhẹ nhàng cho tới tận cùng sức lực, với những mức độ cường độ khác nhau ở khoảng giữa.
Fa Jin (Phát Kình)
Fa có nghĩa là phóng xuất, giải phóng, ném ra hay phóng chiếu, còn jin có nghĩa là lực. Tùy thuộc vào trình độ phát triển của người tập, fa jin tồn tại trên một dải liên tục, nằm giữa những thực hành vật lý và những thực hành về khí. Sự nén ép và giải phóng bên trong của thân thể — vốn là kết quả của những sự khép và mở và những sự xoắn vặn của thân thể — tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của fa jin, tức là sự phóng xuất năng lượng. Chẳng hạn, sự phóng xuất khí được sử dụng cả trong kỹ thuật võ học của lực rỗng (empty force) (xem tr. 185) lẫn trong khí công suy nã (chi gung tui na) (xem tr. 282).
Trong khi hầu hết các môn võ sử dụng sức mạnh vật lý và lực bắp cơ, thì thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng lại không làm thế. Được đạt tới trong sự thư giãn toàn bộ và với sự vắng mặt của sự căng cứng cơ bắp, những kỹ thuật fa jin giải phóng năng lượng trong những đợt phóng xuất ngắn ngủi và được hội tụ, tạo ra một sức mạnh khủng khiếp. Sức mạnh này có thể đi xuyên qua cơ thể của người đang tấn công, không gây cho hắn một tổn hại vật lý hay sự đau đớn nào, nhưng lại làm cho thân thể hắn bị hất văng đi vài bộ (feet) như thể bị một cơn gió cuốn lên. Hoặc là, lực của fa jin có thể được hội tụ bên trong cơ thể của người ấy, nơi năng lượng được giải phóng có thể gây ra tổn hại nghiêm trọng. Vấn đề then chốt trong fa jin là sự tích trữ và sự giải phóng đột ngột năng lượng vào một
điểm cụ thể trong thời gian và không gian. Khả năng giải phóng năng lượng một cách đột ngột trong một hình thức được hội tụ này không chỉ then chốt đối với mặt võ học của bát quái, mà còn đối với những kỹ năng của môn nghệ thuật này trong việc tống khứ khí ứ trệ ra khỏi cơ thể mình, trong việc trị liệu bằng thao tác trên cơ thể (healing bodywork), trong thiền định Đạo gia, và trong nội đan (internal alchemy).
Fa jin, đặc biệt là thứ trỗi lên từ bàn chân, là điều cực kỳ quan trọng trong khả năng nổi tiếng của bát quái về việc thay đổi hướng một cách mau lẹ. Những sự khép và mở cực kỳ mạnh mẽ của thân thể trong một dòng chảy liên tục cho phép quán tính bị vượt qua bằng cách làm cho mọi thứ trở nên tròn trịa. Sự giải phóng năng lượng đột ngột cũng cung cấp động lực để đảo ngược hướng của những chuyển động cơ thể. Những nguyên lý này cũng có thể được áp dụng tương tự cho một phổ rộng gồm những môn thể thao đa dạng có tiếp xúc hoặc không tiếp xúc, chẳng hạn như bóng bầu dục, bóng rổ, khiêu vũ, bóng chày, bóng đá, và golf. Quán tính không bao giờ trở thành một vấn đề, và đó chính là điều làm cho những sự thay đổi mau lẹ và tự phát trở nên khả dĩ.
NHỮNG PHẨM TÍNH VÕ HỌC CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN ĐỘNG NHỎ, TRUNG BÌNH VÀ LỚN CỦA THÁI CỰC QUYỀN, HÌNH Ý QUYỀN VÀ BÁT QUÁI CHƯỞNG
Thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng đều có thể được thực hiện với những chuyển động theo khung (frame) lớn, trung bình hay nhỏ. Trong cả bài quyền lẫn những ứng dụng chiến đấu, thuật ngữ khung ám chỉ kích thước của vùng không gian mà thân thể chuyển động bên trong, cũng giống như kích thước của một khuôn tranh.
Một số môn phái chỉ có những chuyển động lớn, những môn khác chỉ có những chuyển động cỡ trung bình, và lại có những môn khác nữa chỉ có những chuyển động theo lối nhỏ ở mỗi trình độ tập luyện. Tuy nhiên, nhiều môn phái có những chuyển động lớn ở trình độ khởi đầu, rồi sau đó tiến triển dọc theo một dải liên tục tới những chuyển động ngày càng nhỏ hơn, với những chuyển động nhỏ được dạy ở trình độ nội công cao cấp nhất. Khi thân thể đã mở ra hoàn toàn và có khả năng thực hiện những đòi hỏi về năng lượng của một khung lớn hơn, nó sau đó cô đặc lại tất cả những năng lực đã phát triển của mình và bắt đầu làm việc ở bình diện năng lượng kế tiếp, nơi khí được hội tụ và tinh tế chứ không còn thô sơ và tản mát nữa. Trong tiến trình tự nhiên của việc tập luyện, thông thường mỗi cá nhân phải mất một thập kỷ hoặc hơn thế nữa về giáo dục và thực hành để mài giũa và tích hợp tất cả các khía cạnh của công phu nội tại và tiến lên từng khung chuyển động nhỏ dần.
Thông thường, sự tiến triển đi từ lớn đến nhỏ. Trong những bức ảnh chụp thời kỳ đầu của Dương Trừng Phủ (Yang Cheng Fu), bậc cao thủ thái cực quyền Dương gia, bạn có thể thấy rằng ông rõ ràng đang thực hiện những chuyển động theo khung lớn, thế nhưng hai mươi năm sau, ông rõ ràng đã thu hẹp lại và tiến triển tới một lối tập theo khung trung bình.*
* Sự tiến triển này cũng xuất hiện ở phương Tây, nơi thái cực quyền của Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) khá phổ biến. Những bức ảnh từ những năm 1950 cho thấy ông đang thực hiện một lối tập theo khung lớn. Trong cuốn sách về sau của ông (bằng tiếng Anh), được đồng tác giả với R. W. Smith, những bức ảnh cho thấy ông đang thực hiện một lối tập theo khung trung bình. Vào độ tuổi bảy mươi, gần cuối đời mình, những cuốn băng video cho thấy rõ ràng rằng những chuyển động của Trịnh đã trở nên còn nhỏ hơn và cô đặc hơn nữa.
Chuyển Động Vật Lý
Về mặt thị giác, các lối tập theo khung lớn bộc lộ một số phẩm tính:
1. Những tư thế của tay và chân được duỗi ra rất xa, với hai bàn tay cách xa thân thể đến mức mà những đòi hỏi kỹ thuật của từng môn phái cho phép.
2. Những chuyển động của cánh tay và những hành động bước chân có khuynh hướng vẽ thành những vòng tròn lớn trong không gian, với góc giữa nách và khuỷu tay được mở rộng đến mức tối đa có thể, ngay cả trong những động tác chuyển tiếp.
3. Sự tập trung trong những chuyển động xoay eo là xoay xa nhất có thể về mỗi bên, ở mức độ thoải mái mà có thể đạt tới.
4. Các thế đứng (stances) có khuynh hướng dài và sâu, với một nỗ lực muốn hạ thấp xuống đến mức tối đa có thể.
5. Các tư thế được duỗi ra, hai khuỷu tay lệch sang bên từ 60 đến 90 độ, và không hề có mặt những chuyển động vòng tròn tí hon nào.
Về mặt thị giác, các lối tập theo khung trung bình có những phẩm tính như sau:
– Những chuyển động của cánh tay sẽ tiến lại gần, nhưng không phải là rất gần với thân thể, mà chỉ trong những khoảng thời gian ngắn trước khi lại duỗi ra hoàn toàn xa khỏi thân thể lần nữa.
– Các thế đứng có độ cao trung bình; mông sẽ không hạ xuống ngang bằng hay thấp hơn đầu gối.
– Cả những chuyển động của tay lẫn của chân đều có khuynh hướng được duỗi ra xa khỏi thân thể, nhưng không xa đến mức tối đa mà chúng có thể đạt tới.
– Những chuyển động của cánh tay và những hành động bước chân có khuynh hướng sử dụng một sự pha trộn giữa những chuyển động vòng tròn lớn và những chuyển động vòng tròn nhỏ, với phần lớn các chuyển động nằm ở khoảng giữa.
– Những chuyển động của eo sẽ xoay 90 độ sang bên, nhưng không hơn. (Thông thường eo chỉ xoay 45 độ, siết chặt cung xoay lại bằng những chuyển động nhỏ nằm sâu bên trong bụng hay ở đan điền dưới (lower tantien). Những chuyển động này không hiển lộ ra bên ngoài một cách rõ ràng.)
– Những vòng tròn nhỏ, uốn lượn như sóng, sẽ bắt đầu xuất hiện trong những sự chuyển tiếp giữa các tư thế hiển nhiên.
– Những sự biến đổi bên trong các chuyển tiếp từ tư thế này sang tư thế khác được nhấn mạnh hơn nhiều so với trong những bài quyền theo khung lớn.
– Hai khuỷu tay có khuynh hướng hướng sang bên một góc 45 độ.
– Những vòng tròn của bài quyền nhỏ hơn so với trong lối tập lớn.
– Một số chuyển động vòng tròn khá hiển nhiên; những chuyển động nhỏ hơn khác chỉ có thể nhận biết được nếu bạn có một con mắt đã được huấn luyện để nhận diện những chuyển động cực kỳ tí hon.
Về mặt thị giác, những phẩm tính của các lối tập theo khung nhỏ là:
1. Những chuyển động của cánh tay sẽ tiến lại rất gần thân thể một cách lặp đi lặp lại, trước khi lại duỗi ra hoàn toàn xa khỏi thân thể lần nữa.
2. Các thế đứng thường sẽ cao, thường được thực hiện với hai đầu gối chỉ hơi khuỵu xuống một chút.
3. Cả những chuyển động của tay lẫn của chân đều có khuynh hướng được duỗi ra khỏi thân thể ít hơn mức mà chúng có thể làm được, thường chỉ với vài phân (inch) khoảng cách giữa sự duỗi ra và sự thu lại của chúng.
4. Những chuyển động của eo thường có khuynh hướng chỉ xoay 45 độ sang bên.
5. Những vòng tròn có khuynh hướng trở nên cực kỳ nhỏ, với những động tác chuyển tiếp thường chứa đựng không phải là một mà là nhiều vòng tròn, thường là trên nhiều mặt phẳng và nhiều góc độ chuyển động khác nhau. Ngay cả đối với đôi mắt đã được huấn luyện của những người tập võ ngoại gia và những chuyên gia về chuyển động, nhiều chuyển động vòng tròn đang xảy ra về mặt vật lý vẫn có khuynh hướng không hiển lộ ra bên ngoài, nhưng nếu bạn có thể nhìn xuống bên dưới làn da, vào bên trong cơ thể, thì những chuyển động vòng tròn này sẽ cực kỳ lớn và hiển nhiên. Để thực hiện được những chuyển động nội tại đầy uy lực này đòi hỏi một ý niệm cực kỳ mạnh mẽ và sự kiểm soát khí cực kỳ vững vàng. Nói chung, các lối tập nhỏ được những người theo nội gia coi là những lối tiến bộ nhất.
Công Phu Năng Lượng
Trong nội gia quyền và trong tất cả công việc về khí của Đạo gia, có một câu nói căn bản: "Càng nhiều ở bên ngoài thì càng ít ở bên trong, và càng nhiều ở bên trong thì càng ít ở bên ngoài." Xét trên phương diện nội gia quyền, câu nói này có nghĩa là một người càng chuyển động nhiều ở bên ngoài (khung lớn), thì thân thể và khí càng chuyển động ít ở bên trong, tức là bên dưới làn da, bên trong cơ thể. Ngược lại, thân thể càng chuyển động ít ở bên ngoài (khung nhỏ), thì thân thể và khí càng chuyển động nhiều ở bên trong, tức là bên dưới làn da, bên trong cơ thể. Khung càng nhỏ, nó càng trông cậy vào và phát triển những động lực học nội tại. Khung càng lớn, nó càng ít làm việc với động lực học năng lượng, nhưng lại càng làm việc và phát triển nhiều hơn về mặt thể chất.
Những chuyển động theo khung lớn tập trung nhiều hơn vào việc phát triển năng lượng và sức mạnh thô sơ, theo một hướng đại thể hoặc trên một đường thẳng. Những chuyển động của khí thì đơn giản và dài hết mức có thể từ điểm A đến điểm B. Năng lượng di chuyển trong một động tác rõ ràng duy nhất, từ điểm bắt đầu của một chuyển động tới điểm kết thúc, không có những điều khác xảy ra để tạo ra những chuyển động năng lượng thứ cấp. Chẳng hạn, một chuyển động năng lượng theo phương thẳng đứng hướng về phía trước chỉ là một chuyển động năng lượng theo phương thẳng đứng, không có một thành phần năng lượng thứ cấp nào theo phương ngang, theo đường chéo, hay hướng về phía sau.
Những chuyển động theo khung trung bình thường có hai hoặc ba chuyển động năng lượng dạng vòng tròn đang diễn ra đồng thời, một hiện tượng vốn thiếu vắng trong những chuyển động theo khung lớn. Những động tác chuyển tiếp có số lượng nhiều nhất những chuyển động năng lượng
BẰNG (PENG)
Năng lượng chặn đỡ (Ward Off) hay trồi lên của thái cực quyền.
LÝ (LU)
Năng lượng hấp thu của thái cực quyền.
TẾ (JI)
Năng lượng phóng chiếu về phía trước của thái cực quyền.
ÁN (AN)
Năng lượng đẩy xuống dưới của thái cực quyền.
nhỏ. Chúng tạo ra phương tiện để những chuyển động vật lý có được vô số khả năng vốn không hiển nhiên ở bình diện vật lý thô sơ, thế nhưng chúng lại được hiển lộ rõ ràng về mặt năng lượng, và tác động lên đối thủ.
Trong ba loại khung, những chuyển động theo khung nhỏ có mức độ kiểm soát năng lượng lớn nhất và một phổ những kỹ thuật năng lượng rộng rãi nhất. Chúng phát triển khả năng hấp thu hay phóng chiếu lực được định vị tại một điểm. Những chuyển động năng lượng có thể cực kỳ nhỏ mọn, thậm chí đến mức chúng có thể được đặt tâm vào bên trong một cơ quan nội tạng hay một khớp xương. Những chuyển động theo lối nhỏ thường là hữu ích nhất để chữa trị những vấn đề cụ thể của cơ thể. Những chuyển động năng lượng trở nên ngày càng nhỏ hơn cho đến khi chúng có thể được thực hiện tại một điểm hoặc đảo ngược hướng tại một điểm. Ở trình độ cao, những chuyển động năng lượng nhỏ tiến triển từ dạng vòng tròn sang dạng hình cầu. Những chuyển động theo khung nhỏ được biết đến về mặt năng lượng qua những vòng tròn nằm trong vòng tròn và những hình cầu nằm trong hình cầu.
Các Ứng Dụng Võ Học
Các lối tập theo khung lớn tập trung vào những chuyển động sức mạnh lớn, nơi mỗi một trong bốn loại năng lượng — bằng, lý, tế và án (xem tr. 124) — được áp dụng với sức mạnh của toàn bộ cơ thể. Một hành động lớn tạo ra một kết quả lớn: những đòn chém lớn, những cú đấm lớn, những cú đá một hướng và những đòn quăng ném hay khóa khớp lớn. Các lối tập theo khung lớn chuyên về chiến đấu ở cự ly xa. Đây là những thứ dễ học nhất, nhưng lại có phổ những ứng dụng tinh vi của thái cực quyền ít nhất. Sức mạnh thô sơ được nhấn mạnh, với những chuyển động dài và duỗi căng ra, chứ không phải là khả năng thay đổi tức thời một cách nhanh chóng, trôi chảy và trong một khoảng cách nhỏ.
Những chuyển động theo khung trung bình và khung nhỏ có thể đặc biệt hiệu quả khi bạn càng ở gần đối thủ của mình. Trong khi những chuyển động theo khung lớn có thể bị bóp nghẹt ở nơi có một khoảng cách tối thiểu giữa bạn và một đối thủ, thì những chuyển động theo khung nhỏ lại được thiết kế để hoạt động trong vòng một phân (inch) chuyển động, cả về mặt phòng thủ lẫn tấn công. Khung càng nhỏ, bạn càng có thể thay đổi từ kỹ thuật võ học này sang kỹ thuật võ học khác nhanh hơn, càng có thể thực hiện nhiều tổ hợp hơn trong một đơn vị thời gian, và khoảng cách vật lý cần thiết để phóng chiếu hay hấp thu lực càng nhỏ.
Những chuyển động theo khung nhỏ rút sức mạnh của mình ra không nhiều đến thế từ sự sắp xếp thẳng hàng của cơ thể, như là trường hợp thường thấy với những chuyển động theo khung lớn, mà bằng cách di chuyển năng lượng xung quanh bên trong cơ thể. Những kỹ thuật tự vệ theo khung nhỏ có thể thay đổi hướng của sức mạnh của chúng, hay điểm tiếp xúc trên cơ thể của sức mạnh ấy, nhiều lần trong một giây. Trong khi điểm khởi phát và quỹ đạo của lực trong một chuyển động theo lối lớn có thể được nhận ra, thì trong những chuyển động theo lối nhỏ lại không thể. Đối với người xem, không hề có một ý nghĩa logic nào về việc điều gì đang gây ra một biểu hiện cụ thể của sức mạnh, hay thậm chí là làm thế nào điều đó có thể xảy ra. Nó có thể xảy ra bởi vì ở đó có thể có một khả năng tạo ra những chuyển động tinh tế của năng lượng bên trong những phần khác nhau của cơ thể một cách đồng thời. Những chuyển động năng lượng theo khung trung bình pha trộn và kết hợp lấy từ những ứng dụng của khung lớn và của khung nhỏ. Nhắc lại lần nữa: khung càng lớn, sức mạnh thô sơ càng nhiều; khung càng nhỏ, sức mạnh tinh tế để thay đổi và phóng chiếu lực vào một điểm càng nhiều.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA MỐI QUAN HỆ SƯ PHỤ/HỌC TRÒ VÀ CỦA DÒNG TRUYỀN THỪA
Trong bát quái, thái cực quyền và tất cả các môn nội gia quyền, xưa nay luôn luôn có ba trình độ (hay ba sự phân loại) của việc học và việc tập luyện:
1. Học trò (Students). Những người này chỉ được dạy những hình thức bài quyền bên ngoài, các bài tập, và những ứng dụng căn bản nhất.
2. Đệ tử (Disciples). Hạng mục này được dành riêng chỉ cho những người cực kỳ tận tâm và có lẽ là bạn bè hay người thân. Trong võ đường bát quái nguyên thủy của Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan), bạn sẽ không được học với Đổng hay với một trong những học trò hàng đầu của ông nếu trước tiên không trở thành một đệ tử chính thức thông qua một buổi lễ long trọng. (Buổi lễ này trong tiếng Hoa được gọi là bái sư [bai shr].) Trừ khi bạn bước vào mối quan hệ chính thức ấy, bạn sẽ không được dạy bảo trong sự chi tiết toàn diện. Tuy nhiên, sau Thế chiến II và cuộc Nội chiến Trung Hoa, sự truyền dạy đã trở nên kém long trọng hơn. Nhiều huấn luyện viên bát quái dạy học trò chỉ trong một thời gian ngắn mà không đưa họ đi qua toàn bộ tiến trình huấn luyện. Cuộc sống thời chiến quá hỗn loạn để có thể huấn luyện trọn vẹn, và nhiều thứ được dạy không trọn vẹn hơn so với thời của Đổng.
3. Trình độ huấn luyện cao nhất. Trình độ này được dành cho những đệ tử đang được huấn luyện để tiếp nối dòng truyền thừa. Một đệ tử truyền thừa (lineage disciple) được dạy tất cả các khía cạnh của môn nghệ thuật và là đệ tử chuyên biệt chịu trách nhiệm làm chủ tất cả chúng và truyền lại chúng cho thế hệ kế tiếp. Để được chọn làm một đệ tử truyền thừa, người ấy phải đã chứng minh được khả năng truyền đạt một cách hiệu quả. (Trái lại, một đệ tử không thuộc dòng truyền thừa không chịu trách nhiệm truyền lại toàn bộ môn nghệ thuật cho thế hệ kế tiếp, mà chỉ truyền lại những phần chuyên biệt của môn nghệ thuật mà người ấy chuyên sâu. Người ấy chỉ cần là một người thực hành xuất chúng và là một đại diện cho những phần của môn nghệ thuật mà mình được dạy.) Tất cả những học trò nguyên thủy giỏi nhất của Đổng đều được huấn luyện như những đệ tử truyền thừa. Họ được tự do chọn lấy học trò và đệ tử của riêng mình.
Thuật ngữ bát quái môn (ba gua men) hay cửa bát quái (ba gua gate) ám chỉ những người đã đạt tới ít nhất là trình độ đệ tử và là những người đại diện cho hệ thống. Quan điểm truyền thống của Trung Hoa là những người không học với một vị huấn luyện viên ở trình độ này, hay không nhận được trình độ giáo huấn này từ một người có đủ tư cách, sẽ không được coi là những người bát quái chân chính. Nói cách khác, họ không ở "bên trong cửa," hay không được tiếp cận với sự giáo huấn có phẩm chất cao nhất. Họ cũng không bị buộc phải chịu trách nhiệm về sự thể hiện có phẩm chất cao. Ở Trung Hoa, một người đệ tử phải chịu trách nhiệm trở nên siêu phàm; nếu không, người thầy sẽ bị mất mặt. Tuy nhiên, sự thể hiện kém cỏi của một học trò lại không làm ảnh hưởng đến thể diện của vị sư phụ. Đây là truyền thống Trung Hoa cổ điển. Cùng một tình huống như thế cũng tồn tại trong thái cực quyền và hình ý quyền, nơi những thuật ngữ thái cực môn (tai chi men) và hình ý môn (hsing-i men) ám chỉ trình độ hoàn bị cao nhất của môn
ĐỆ TỬ TRUYỀN THỪA (LINEAGE DISCIPLE)
Một người đệ tử chính thức được chọn để học và mang tới cho những thế hệ tương lai toàn bộ tri thức về tất cả những gì còn nguyên vẹn của bất kỳ dòng truyền thừa nội gia quyền chuyên biệt nào.
BÁT QUÁI MÔN (BA GUA MEN)
Một môn phái bát quái chưởng có toàn bộ truyền thống võ học của bát quái chưởng còn nguyên vẹn, thường là từ một nguồn dòng truyền thừa.
THÁI CỰC MÔN (TAI CHI MEN)
Một môn phái thái cực quyền có toàn bộ truyền thống võ học của thái cực quyền còn nguyên vẹn, thường là từ một nguồn dòng truyền thừa.
HÌNH Ý MÔN (HSING-I MEN)
Một môn phái hình ý quyền có toàn bộ truyền thống võ học của hình ý quyền còn nguyên vẹn, thường là từ một nguồn dòng truyền thừa.
nghệ thuật chứ không ám chỉ những phiên bản được bình dân hóa và pha loãng vốn nhan nhản khắp nơi.*
* Chẳng hạn, những chiến công huyền thoại nguyên thủy của những người chơi thái cực quyền chỉ nói về những người thực hành thái cực môn mà thôi. Khi cái "Cửa" bị suy yếu đi, mỗi thế hệ nối tiếp đều đánh mất những năng lực mà thế hệ trước đã hiện thực hóa được. Hệ quả là, phần lớn trong số những "chuyên gia" thái cực quyền ngày nay không phải là thành viên của thái cực môn và thường không có những năng lực đã làm cho thái cực quyền trở nên nổi tiếng ở Trung Hoa. Tuy nhiên, những chuyển động chậm rãi của thái cực quyền lại hữu hiệu đến mức, ngay cả khi được thực hiện một cách tồi tệ, chúng vẫn mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho sức khỏe của những người bình thường. Có vẻ như là khi thái cực quyền bình dân, đặc biệt là những dạng giản hóa, gia tăng, thì thái cực môn lại suy giảm theo tỷ lệ tương ứng. (Xem Phụ lục A, tr. 305.) Dưới nhiều phương diện, khuynh hướng đáng tiếc này dường như cũng đang xảy ra với bát quái. (Xem Phụ lục B, tr. 313.)
Tất cả các môn võ thuật, kể cả bát quái, nếu muốn tồn tại và tiếp nối truyền thống thì phải được truyền đi một cách sáng tạo từ thế hệ này sang thế hệ khác với sự không suy giảm nào về phẩm chất. Nếu không, môn nghệ thuật sẽ suy yếu đi với mỗi thế hệ và rốt cuộc sẽ héo tàn đi.
Nhiều câu chuyện phóng đại được tìm thấy trong kho tàng truyền thuyết của bát quái nảy sinh từ sự yêu thích của người Trung Hoa đối với việc thuật lại những chiến công lừng lẫy của tổ tiên họ; tức là, của dòng truyền thừa của họ. Cần phải nhớ rằng Trung Hoa có một truyền thống thờ cúng tổ tiên, và điều này áp dụng như nhau cho gia đình của một môn phái võ thuật hay một môn phái thiền định cũng như cho một gia đình về mặt huyết thống. Bạn càng có thể làm tăng thêm danh tiếng của tổ tiên mình, thì bạn và con cháu của bạn càng có thể thu góp được nhiều "thể diện" hay địa vị hơn.
Những câu chuyện lịch sử trong hầu hết mọi cuốn sách viết về bát quái bằng tiếng Anh và tiếng Hoa đều thuật lại rằng người này đã học với người kia và người kia đã học với một người khác, và mỗi lần họ lại truyền lại những gì mình biết. Quan trọng hơn những cái gọi là chứng chỉ uy tín như vậy là việc liệu một vị thầy có thể sử dụng một cách thực dụng những phương pháp của bát quái cho việc tự vệ, trị liệu hay thiền định hay không. Trung Hoa có rất nhiều thầy dạy bát quái tự nhận là đã nhận được sự truyền dạy từ một "dòng truyền thừa trực tiếp," nhưng lại không thể sử dụng nó một cách thực tiễn hay hiệu quả. Ở Trung Hoa, người ta luôn luôn bị hỏi, "Thầy của bạn là ai? Trong bao lâu?" và "Thầy của thầy bạn là ai?" nhằm xác định xem một người có học từ một nguồn xác thực hay không.
Có rất nhiều tình huống song song với vấn đề dòng truyền thừa thật và dòng truyền thừa giả: một người tốt nghiệp trung học mà không biết đọc biết viết, một "chuyên gia" karate lại bị một thiếu niên chưa từng được huấn luyện đánh cho tơi tả, một nhà trị liệu chăm sóc sức khỏe lại không có những tác động tích cực lên bệnh nhân. Trong những trường hợp như thế, bạn hoàn toàn có thể hợp lý nghi ngờ về những năng lực của những người như vậy hay về tư cách uy tín của các môn phái của họ.
Dòng truyền thừa ở Trung Hoa mang tầm quan trọng ngang nhau về mặt học tập có phẩm chất cao và phẩm chất thấp. Một vị sư phụ xuất thân từ một dòng truyền thừa chính thống, người từng là một học trò giỏi, cũng có thể được kỳ vọng một cách hợp lý là sẽ thực hiện một sự phục vụ quý giá cho chính các học trò của mình. Những học trò tồi làm gãy đổ dòng truyền thừa. Những vị thầy giỏi và những dòng truyền thừa tốt có khuynh hướng sản sinh ra những học trò giỏi. Những người truyền dòng truyền thừa chính thống mà lại là những thầy dạy tồi sẽ làm suy yếu hoặc làm gãy đổ dòng truyền thừa bằng việc không dạy dỗ học trò cho tốt.
Ngay cả những học trò giỏi nhất của những dòng truyền thừa yếu kém thường cũng nhận thấy rằng họ không bao giờ đạt tới được cái tiềm năng lẽ ra sẽ là kết quả bình thường của tất cả những năm tháng nỗ lực và thực hành chuyên cần của mình. Đối với người học trò, một dòng truyền thừa ở Trung Hoa có nghĩa là bạn đang
được tiếp xúc với kinh nghiệm, tri thức và những tiêu chuẩn phẩm chất được tích lũy lại, vốn đã làm cho những môn phái bát quái hay thái cực quyền chính thống vượt qua được phép thử của thời gian và trở thành, với lý do chính đáng, những môn phái được kính trọng và nổi tiếng một cách xứng đáng.
Những vị sư phụ thái cực quyền và bát quái chính thống được tiếp cận với một khối lượng thông tin vô cùng to lớn mang tầm quan trọng sống còn, mà những người dạy thái cực quyền tầm thường hay ở trình độ thấp hoàn toàn không hề hay biết. Những người ở thời đại hiện đại thường không tập luyện bốn đến tám tiếng đồng hồ mỗi ngày trong suốt nhiều thập kỷ, như vốn là điều bình thường đối với những vị sư phụ đã sáng tạo ra và phát triển những phương pháp tu dưỡng khí của Đạo gia. Những vị sư phụ này đã nhận diện được điều gì là quan trọng cần phải thực hành để có được sự tiến bộ tự sinh, và phớt lờ hết thảy những thứ còn lại.
Phần vật liệu quan trọng, khi được áp dụng đúng cách, làm cho khí lớn lên bên trong bạn và khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn, minh triết hơn và điêu luyện hơn — mãi cho tới tận tuổi già. Phần trang trí bề mặt bao gồm vô số những sự hoán vị của một kỹ thuật nào đó, khiến cho bạn có được những cảm giác nội tại bất tận, nhưng lại chỉ có được sự tăng trưởng tiến bộ thực chất rất tối thiểu. Tất cả những phương pháp thực hành thái cực quyền và bát quái, nếu bạn thực hiện những chuyển động, đều sẽ sinh ra những cảm giác và những trải nghiệm nội tại đa dạng. Mỗi một thành tố, dù là căn bản hay cao cấp, khi nó đi tới bình diện thực hành hợp lý kế tiếp, tự nó mang theo một bộ những trải nghiệm "wow" hoàn toàn mới về mặt thể chất lẫn tâm lý.
Bản chất và những chi tiết cụ thể của những thành tố quý giá nhất của những môn nghệ thuật này là như thế, đến mức cơ hội để bạn tự mình khám phá ra những thành tố then chốt không được dạy của thái cực quyền, bát quái hay khí công chỉ là một phần tỷ. Tuy nhiên, người ta vẫn giả định rằng những học trò giỏi, một khi đã được dạy bình diện thông tin then chốt kế tiếp, sẽ có thể tự mình tìm ra những sự hoán vị vốn cố hữu bên trong nó. Những học trò khác, thiếu vắng những thông tin then chốt từ những vị thầy không thuộc dòng truyền thừa, đã bị đặt một cái trần lên tri thức của mình, sao cho họ cứ ở mãi hơn kém gì ở cùng một trình độ, ngay cả khi họ có tập luyện mãi mãi. Con đường duy nhất để họ gỡ bỏ những giới hạn và đạt tới bình diện năng lực hợp lý kế tiếp là học những thành tố then chốt mới từ một vị thầy uyên bác hơn, nếu họ có thể tìm được một người sẵn lòng. Ở Trung Hoa, chuyện một học trò có đang học "cái thật" hay một phiên bản bị pha loãng luôn luôn là một vấn đề lớn.
Vấn đề về phẩm chất hay tính chính thống của một môn phái nội gia quyền hay một dòng truyền thừa nhất định không thuần túy chỉ là một vấn đề hàn lâm. Khi một người bỏ ra thời gian, nỗ lực chân thành và tiền bạc để đạt được những lợi ích của một nền giáo dục, thì phẩm chất của sự giảng dạy là một nhân tố đáng kể. Tri thức của vị sư phụ/người thầy của bạn càng trọn vẹn và kỹ năng giảng dạy của ông ta càng tốt, thì bạn càng đạt được nhiều năng lực trị liệu, tự vệ và thiền định hơn.
Nếu mối quan tâm của bạn chỉ là giải trí, thì phẩm chất của sự giảng dạy có thể không thành vấn đề đối với bạn. Chừng nào bạn còn đang có một khoảng thời gian vui vẻ, thế là đủ. Tuy nhiên, nếu bạn quan tâm đến việc học hỏi một cách nghiêm túc những môn nghệ thuật năng lượng của Đạo gia, thì nó là vấn đề. Một học trò nội gia quyền tận tâm nên trở nên ý thức rất rõ về lai lịch và sự huấn luyện của một vị thầy. Sự thành tựu trong những môn nghệ thuật năng lượng của Đạo gia phụ thuộc vào cả nỗ lực cá nhân của bạn lẫn phẩm chất của sự giảng dạy mà bạn nhận được. Đó chính là những yếu tố làm cho việc học trở nên có ý nghĩa và sâu sắc.
CHÂN DUNG MỘT BẬC SƯ PHỤ NỘI GIA
Tôi đã học với Đại Sư (O-Sensei) Ueshiba Morihei, người sáng lập môn aikido, trong những ngày học đại học của tôi ở Nhật Bản. Công trình nghiên cứu của tôi đã chỉ ra rằng aikido của Đại Sư đã chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bát quái chưởng trên một phương diện chủ yếu. Trải nghiệm sâu sắc và kéo dài đầu tiên của tôi với một bậc sư phụ nội gia quyền ở trình độ đỉnh cao là với Ueshiba trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1969. Nhìn lại quá trình huấn luyện của tôi với ông, tôi thấy rõ ràng là phần lớn những gì mà aikido của Ueshiba có được về mặt kỹ thuật vật lý đều đến từ jujitsu. Tuy nhiên, cái khí mà ông biểu hiện khi ông thực hiện aikido dường như đã đến trực tiếp từ bát quái, với một phần ảnh hưởng từ hình ý quyền nữa.
Ueshiba Morihei — Ông Có Được Sức Mạnh Của Mình Từ Đâu?
Tôi đã nhìn thấy những người ở Nhật Bản vào cuối những năm 1960 rất điêu luyện về loại aikijitsu Đại Đông Lưu (Daito Ryu aikijitsu), một dạng của jujitsu, mà Ueshiba đã dựa vào đó để xây dựng aikido của mình. Nhưng không một ai trong số họ có thể thao túng khí một cách tinh tế hay mạnh mẽ như Ueshiba, hay thậm chí chỉ là diễn đạt được những lý thuyết về khí (ki) vốn là nền tảng của aikido và bát quái. Thực ra, Ueshiba đã vượt xa khỏi trình độ tinh vi của aikijitsu. Khả năng tiến vào, xoay trở, thu hút, và sau đó chơi đùa với và dẫn dắt khí và tâm của đối thủ của ông thật là phi thường. Trong lịch sử Nhật Bản, không có một môn võ nào có thể sánh được với nó, và không một ai khác ở Nhật Bản có thể làm được bất cứ điều gì giống như thế. Trong võ đường của ông, tôi thường nghe nói rằng ông đã trải qua nhiều năm ở Trung Hoa và chỉ sau đó mới quay trở về Nhật Bản với năng lực aikido dựa trên khí kỳ diệu này.
Đó là ý kiến của tôi — dựa trên những ký ức cá nhân về ông và sự phân tích kỹ thuật của tôi về những cuốn phim của ông hai mươi lăm năm sau khi ông qua đời — rằng hoàn toàn hợp lý khi giả định Ueshiba đã học bát quái trong thời gian ông ở Trung Hoa. Việc tiến vào, xoay trở và dẫn dắt đối thủ của mình, cũng như hàng trăm sự phóng chiếu năng lượng tinh tế của aikido, đều là những kỹ thuật bát quái căn bản đã tồn tại từ rất lâu trước khi Ueshiba ra đời. Bởi vì điều này, tôi tin rằng Ueshiba đã học bát quái trong thời gian ông ở Mãn Châu, Trung Hoa. Trước và ngay sau Thế chiến II, việc tổ chức của Ueshiba ghi công cho người Trung Hoa về một phần của môn võ "mới" của ông hẳn sẽ là điều cực kỳ không đúng về mặt chính trị và mang tính phản tác dụng, xét trên khuynh hướng quân phiệt sô vanh và dân tộc chủ nghĩa của Nhật Bản vào thời kỳ ấy.
Ueshiba có một nội lực vĩ đại. Nội lực hầu như không thể thấu hiểu được đối với
Ueshiba Morihei — Ông Có Được Sức Mạnh Của Mình Từ Đâu?, tiếp theo
cái tâm trí phương Tây, vốn bị định hình bởi những sự phô trương lộ liễu của ngoại lực trong phim ảnh và trên truyền hình. Ngoại lực cũng giống như việc nhìn thấy một người với cái ví nhét đầy những tờ giấy bạc 100 đô la — bạn tự động giả định đây là một người giàu có, điều ấy có thể đúng mà cũng có thể không. Tuy nhiên, một người cực kỳ giàu có lại có thể che giấu sự giàu có của mình và mang một cái ví rất mỏng, chỉ đựng duy nhất một tấm thẻ tín dụng với một hạn mức tín dụng trị giá hàng triệu đô la (và đó chính là bản chất của nội lực). Sự việc không phải lúc nào cũng giống như vẻ bề ngoài của chúng. Trong trường hợp của Ueshiba, điều này hoàn toàn đúng. Khi tôi ở bên Ueshiba, ông đã ở độ tuổi tám mươi và có một vóc dáng nhỏ bé, thế nhưng lại mạnh mẽ đến mức không thể tin nổi. Khi ông đã già và gần kề cuối đời, những học trò của ông phải khiêng ông vào võ đường trên một cái cáng. Ông trông cực kỳ yếu ớt và xanh xao. Tuy nhiên, ông sẽ đột ngột tụ tập khí của mình lại, đứng dậy, và hất văng những người đàn ông đặc biệt khỏe mạnh xung quanh như thể họ là những con búp bê bằng giẻ rách. Sau đó, ông sẽ quay trở lại cái cáng và tiếp tục làm một ông già ốm yếu.
Với Ueshiba, bạn bắt đầu chờ đợi những điều siêu thường. Tôi vẫn còn nhớ rõ mồn một rằng ông có thể ra đằng sau bạn nhanh đến mức cứ như thể ông đã biến mất vậy. Điều tương tự cũng đúng đối với những người tập bát quái hàng đầu. Bạn có thể đang thấy Ueshiba rõ ràng trong tầm mắt của mình, và đột nhiên ông biến mất. Rồi sau đó, với sự đột ngột tương đương, ông lại xuất hiện. Ueshiba sau đó sẽ giả vờ ra một đòn đánh rồi kế tiếp là khóa khớp và/hoặc quăng bạn xuống đất. Trái lại, những người tập bát quái theo thông lệ sẽ thực sự đánh bạn trước tiên rồi sau đó mới quăng bạn xuống đất. Trò "bây giờ bạn thấy tôi, bây giờ bạn không thấy tôi" này là một trong những sức mạnh võ học vĩ đại của những bậc cao thủ bát quái. Không giống như một võ sĩ quyền Anh hay một người tập karate, người mà bạn có thể nhìn thấy bàn tay đang lao tới chỗ mình, những người tập bát quái có một sức mạnh không thể tin nổi và một loại tốc độ kỳ lạ tinh tế đến mức bạn không thể cảm nhận được nguồn gốc hay đích đến của nó.
Khi xem những cuốn phim của vị sư phụ quá cố, người ta có thể thấy Ueshiba đang trình diễn rõ ràng nhiều nguyên lý về khí của bát quái. Nhưng trong khi những nguyên lý về khí này được nhắc tới bằng những ngôn từ mơ hồ nhất trong aikido (khi chúng được nói tới, điều vốn rất hiếm hoi), thì trong bát quái những nguyên lý năng lượng then chốt lại được diễn đạt với một chiều sâu lớn lao và được đặc định theo một phương cách có hệ thống. Năng lực quý giá này trong việc truyền lại nguyên vẹn những thông tin đã được tích lũy trước đây, sao cho thế hệ kế tiếp có thể tái tạo một cách chính xác những kỹ năng của thế hệ trước, là một phần của thiên tài trong những môn nội gia nghệ thuật của Đạo gia. Nội gia quyền và khí công của Đạo gia cũng diễn đạt một cách rõ ràng những phương pháp về khí liên quan đến sức khỏe, sự trị liệu và sự trường thọ, vốn thường vắng mặt trong aikido hiện đại. Tôi tin rằng những người yêu thích aikido sẽ thấy việc khám phá bát quái chưởng và khí công là vừa thú vị lại vừa mang lại lợi ích, nhằm đạt được những sự thấu thị thực tiễn về những gì mà Đại Sư Ueshiba đã làm.
Lưu Hùng Giới (Liu Hung Chieh) đang thực hiện thế Đơn Tiên (Single Whip) của thái cực quyền Ngô gia (Wu style).
THÁI CỰC QUYỀN
Những Cân Nhắc và Ứng Dụng Chiến Đấu
THÁI CỰC QUYỀN NHƯ MỘT MÔN VÕ THUẬT
Hơn 100 triệu người thực hiện những chuyển động bài quyền vật lý của thái cực quyền mỗi ngày tại Trung Hoa. Con số này cho thấy có nhiều người tập thái cực quyền hơn bất kỳ môn võ nào khác trên thế giới. Những người say mê thái cực quyền đang gia tăng hàng ngày trên khắp phương Tây, Nam Mỹ, Nhật Bản, và Đông Nam Á. Sự phát triển của thái cực quyền phần lớn là do những lợi ích đáng kể mà nó mang lại trong việc giảm căng thẳng, vượt qua các chứng bệnh, gia tăng sự thể hiện về mặt tinh thần lẫn thể chất, và là một công cụ thực tế và hiệu quả để già đi một cách an lành, giúp con người vượt qua được nhiều tình huống khó chịu hơn vốn thường được trải nghiệm sau khi bước vào tuổi trung niên.* Như người ta vẫn nói ở Trung Hoa, "Thái cực quyền có thể được thực hiện bởi bất kỳ ai, nam cũng như nữ, trẻ cũng như già, khỏe cũng như yếu, thông minh cũng như chậm chạp, khỏe mạnh hay bệnh hoạn." (Xem Phụ lục A, tr. 297 để có một lược sử về thái cực quyền.)
* Sự tập trung chủ yếu của chương này là vào những khía cạnh võ học của thái cực quyền. Nếu bạn học mặt võ học từ một vị thầy chân chính ở trình độ cao, bạn sẽ tự động đạt được những lợi ích về sức khỏe và về năng lượng. Tuy nhiên, thông thường việc đạt được tất cả những lợi ích sức khỏe của thái cực quyền từ một vị thầy giỏi lại không tự động mang theo nó một năng lực để thi triển những kỹ năng võ học của thái cực quyền.
Vào thời kỳ ban đầu, những người thực hành môn võ thái cực quyền trở nên nổi tiếng bên trong Trung Hoa không phải nhờ vào mặt sức khỏe của môn nghệ thuật, mà là nhờ vào năng lực chiến đấu đặc biệt mà nó truyền cho. Như một vị sư phụ thái cực quyền thường có câu nói ưa thích: "Ai ai cũng muốn được khỏe mạnh, chỉ một số người muốn học cách chiến đấu." Những người thực sự muốn học cách chiến đấu bằng thái cực quyền nên ý thức rằng muốn thành công thì đòi hỏi rất nhiều sự lao động vất vả. Nó cũng đòi hỏi sự sẵn lòng kiên trì vượt qua những sự bực dọc và thất vọng, cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, y như điều được đòi hỏi ở bất kỳ người thành đạt xuất chúng nào trong bất kỳ nỗ lực cạnh tranh nào về thể thao, kinh doanh, nghệ thuật hay trí thức. Có một châm ngôn nổi tiếng tóm gọn tình huống này: "Ép
…tiếp tục. Không gì trên thế gian này có thể thay thế được sự kiên trì. Tài năng sẽ không làm được điều đó — chẳng có gì phổ biến hơn những người thất bại mà lại có tài; thiên tài sẽ không làm được điều đó — thiên tài không được đền đáp hầu như đã trở thành một câu tục ngữ. Học vấn sẽ không làm được điều đó — thế gian đầy rẫy những kẻ có học mà đắm chìm. Chỉ riêng sự kiên trì và quyết tâm mới là toàn năng.”
Đối với những ai quan tâm đến võ thuật, dù trên phương diện thể chất hay trên phương diện trí tuệ, chương này có thể đem lại một số cái nhìn hữu ích về những điều cần thiết để hiện thực hóa những năng lực chiến binh thực dụng của thái cực quyền. Khả năng chiến đấu của thái cực quyền, nguyên thủy, đã được chứng minh hết lần này đến lần khác trong những trận tỉ thí với đủ mọi hình thức võ thuật, trong những cuộc giao chiến không hạn chế, cả tay không lẫn dùng binh khí truyền thống như kiếm và thương.
Môn võ nội gia thái cực quyền, thường được gọi tắt là “thái cực,” được cấu thành từ hai khái niệm tách biệt: thái cực và quyền. (Thái: lớn, nhiều; cực hay cát: tột bậc, tối thượng, tốt nhất. Cần lưu ý rằng chữ cực này không giống với chữ “khí” thường được dùng để chỉ năng lượng.) Thái cực là thuật ngữ triết học Đạo gia chỉ nơi chốn của sự bất nhị, từ đó những lực lượng âm và dương đối nghịch cụ thể của bất kỳ phương thức nào hiện hữu trong một trạng thái tiềm tàng chưa phân hóa, trước khi chúng tách ra thành một hình thức hiển hiện đối nghịch (nhị nguyên) nào đó: ngày và đêm, mặt trời và mặt trăng, ta và người, tiến công và phòng thủ, cái này và cái kia. Thái cực, như vậy, ám chỉ một ý niệm triết học về bản chất của sự hiện hữu, nhưng ngoài ra nó còn thực dụng hơn khi ám chỉ những phương diện sức khỏe và nội lực dựa trên khí của thái cực quyền. Chính phương diện thái cực chữa lành và tái tạo, chứ không phải chữ quyền. Quyền nghĩa là “nắm đấm,” và mở rộng ra, bất cứ điều gì liên quan đến kỹ thuật, triết lý, sách lược hay chiến lược của chiến đấu. Là một môn võ thuật, thái cực quyền đã nung chảy hai phần tách biệt và khác biệt này thành một chỉnh thể thống nhất, nguyên thủy thích nghi chúng vào một kho tàng kỹ thuật đồ sộ đã có sẵn gồm những kỹ thuật chiến đấu có vũ khí và không vũ khí hữu hiệu nhất của Trung Quốc thế kỷ mười bảy. Mỗi phần đóng góp một điều độc đáo vào sự pha trộn mà ngày nay người ta gọi là thái cực quyền.
Những kỹ thuật chiến đấu ấy bắt nguồn từ cuốn sổ tay huấn luyện quân sự mà một vị tướng lẫy lừng dùng để huấn luyện binh sĩ của mình nhằm giành thắng lợi trên chiến trường. Thái cực quyền, về căn bản, là một sự lai ghép có thể được diễn đạt bằng một công thức bằng lời như sau: khí công Đạo gia + các nguyên lý triết học Đạo gia + các kỹ thuật võ thuật ngoại gia công phu của chùa Thiếu Lâm = môn võ nội gia mới được tích hợp của Trung Quốc, rốt cuộc được gọi là thái cực quyền.
Khí công đã thêm vào nội lực và làm nạp siêu tải cho các kỹ thuật võ thuật. Triết học Đạo gia và các chiến lược chiến đấu đã tạo ra những loại ứng dụng chiến đấu hoàn toàn mới vốn không hề có trong các chuyển động của môn võ ngoại gia Thiếu Lâm nguyên thủy. Ở những mức độ khác nhau, toàn bộ quá trình tích hợp đã biến đổi những động tác chiến đấu nguyên thủy để chúng có thể tuân theo những quy tắc chuyển động cơ thể nội tại tinh vi của khí công. Chẳng hạn, những cú đánh của công phu được thực hiện với cánh tay hay cẳng chân duỗi thẳng đã đổi thành được thực hiện với cùi chỏ và đầu gối cong lại. Sự thay đổi thoạt trông có vẻ nhỏ nhặt này đã đem lại một số lợi thế võ học.
Xét từ góc nhìn của khí công, nó cho phép sự khép và mở của các khớp và cột sống tạo ra một nội lực khổng lồ; nó kết hợp vào đó những châm ngôn Đạo gia đầy lợi ích là “chẳng làm quá nhiều cũng chẳng làm quá ít” và “đi ra là trở về và trở về là đi ra”; và nó đem lại một sự bảo vệ võ học quan trọng, bởi vì cánh tay và cẳng chân cong thì kém dễ bị tổn thương trước những đòn khóa khớp bẻ gãy chi hơn nhiều so với cánh tay và cẳng chân duỗi thẳng.
Một thí dụ quan trọng nữa là sự nhấn mạnh cốt lõi của thái cực quyền vào tính tròn của chuyển động vật lý, cả trong việc tập bài quyền lẫn trong các ứng dụng chiến đấu. Sự nhấn mạnh này đã không hề tồn tại, hoặc chí ít cũng kém đi rất nhiều, trong các kỹ thuật công phu Thiếu Lâm vốn là cha đẻ của thái cực quyền. Khái niệm về tính tròn nằm ở cốt lõi của triết học Đạo gia và là một thành phần thiết yếu của những nguyên lý vận hành trung tâm trong mọi khí công Đạo gia.
Những nguyên lý nền tảng của thái cực quyền được viết trong một tập luận ngắn gọi là Kinh Thái Cực (Tai Chi Classics). Mọi sư phụ thái cực quyền đều dùng nó như một công cụ giảng dạy chủ yếu, lặp đi lặp lại viện dẫn những câu văn ngắn gọn đầy tính huyền bí của nó, mỗi câu đều mang nhiều tầng ý nghĩa. Không nơi nào trong kinh điển, ngoài mười ba thế pháp*, nhắc đến tên gọi của vô số kỹ thuật võ học, chuyển động, hay phương pháp Thôi Thủ của thái cực quyền. Chúng ta chỉ được trao cho những nguyên lý nội công Đạo gia mang tính khái quát, những khái niệm triết học, và những chiến lược cùng sách lược quân sự. Ngay cả mười ba thế pháp nguyên thủy được nhắc đến trong Kinh điển cũng không được trình bày như những chỉ dẫn rõ ràng về cách thực hiện; đúng hơn, chúng ám chỉ những nguyên lý năng lượng nội tại mang tính tổng quát. Phải cần một bậc cao thủ mới dịch được những cách thức cụ thể để thực hiện các chuyển động vật lý từ chất liệu trong Kinh điển.
Kinh Thái Cực (Tai Chi Classics) — những nguyên lý nền tảng của thái cực quyền, được cho là… Những trang này được tìm thấy trong một góc kho muối gần làng Trần (Chen village) ở Trung Quốc vào thế kỷ mười chín.
TÁM NGUYÊN LÝ VÕ HỌC CƠ BẢN CỦA THÁI CỰC QUYỀN
Thái cực quyền dựa trên việc sử dụng năng lượng khí thống nhất duy nhất của cơ thể, mà trong tiếng Trung gọi là chân khí (jeng chi). Tuy nhiên, tùy thuộc vào chức năng mà nó đảm nhiệm, cái khí duy nhất ấy được gọi bằng những tên gọi khác nhau — khí của cái này, hay khí của cái kia. Có tám năng lượng cơ thể chính yếu được dùng trong thái cực quyền. Tám năng lượng này là nền tảng của mọi chuyển động trong bài quyền thái cực quyền và của mọi ứng dụng chiến đấu, và hiện diện trong sự kết hợp đơn lẻ hay đa hợp của từng động tác.
Môn võ thái cực quyền dựa trên mười ba nguyên lý. Năm nguyên lý trong số đó liên quan đến phương pháp bộ pháp của thái cực quyền, vốn chịu trách nhiệm làm cho đôi bàn chân và trung tâm của cơ thể di chuyển một cách trơn tru và vững chãi. Năm nguyên lý ấy được gọi là tiến, thoái, tả cố (nghĩa là hướng ý của bạn về phía ấy và di chuyển) sang bên trái, hữu phán sang bên phải, và trung định. Tám nguyên lý còn lại ám chỉ cách năng lượng hiển hiện trong cơ thể.
* Thuật ngữ thế pháp (posture), xuất hiện xuyên suốt cuốn sách này, được dùng trong cả võ thuật ngoại gia lẫn nội gia của Trung Quốc nói chung, và đặc biệt là trong thái cực quyền, để mô tả một chuyển động hay kỹ thuật nội tại hoặc ngoại tại cụ thể trong một bài quyền. Ý niệm này cũng được dùng trong các môn võ thuật Nhật Bản. Chẳng hạn trong karate, bạn có những đòn gạt xuống và gạt lên (gedan barai và jodan uke), những cú đấm ngược và đá trước (gyaku zuki và mae geri), hoặc những đòn quăng o soto gari hay uchimata trong judo, hoặc kokyu nage trong aikido.
Tám nguyên lý liên quan đến năng lượng nội tại này nằm ở trung tâm của điều khiến thái cực quyền trở thành một môn võ chiến đấu độc đảo dựa trên một số tín điều của triết học Đạo gia (bốn bên và bốn góc). Tám nguyên lý ấy liên quan đến cách năng lượng hiển hiện trong thái cực quyền xuyên suốt mọi bộ phận của cơ thể trong tất cả các thế pháp và chuyển động của bài quyền, cũng như trong mọi ứng dụng chiến đấu thuộc bất kỳ loại nào, kể cả Thôi Thủ và tập giao đấu. Trong ứng dụng, người ta giả định rằng những lực này trước tiên được dùng ngay tại điểm chạm, và về sau được thi triển lên năng lượng của đối thủ trước khi cả hai chạm nhau, hoặc khi bạn tách rời ra sau khi đã chạm và trước khi tiếp xúc trở lại.
Tám nguyên lý này ám chỉ những năng lượng phi vật lý mà cơ thể có thể phát ra. Chúng không ám chỉ các chuyển động vật lý. Chúng được nhận diện bằng những thuật ngữ Trung Quốc tiêu chuẩn và được dịch sang tiếng Anh như sau:
1. Peng hay Ward Off (nội lực hướng lên, mang tính khuếch trương).
2. Lu hay Roll Back (lùi về phía sau hay hấp thu, nhượng lực).
3. Ji hay Press Forward (thẳng về phía trước, lực hướng tới).
4. An hay Push Downward (lực di chuyển hướng xuống).
5. Tsai hay Pull Down (kết hợp đồng thời những năng lượng âm của lu và an, di chuyển theo cùng một hướng).
6. Lieh hay Split (kết hợp những năng lượng dương của peng và ji di chuyển theo những hướng ngược nhau từ một điểm khởi thủy).
7. Jou hay Elbow Stroke (tụ năng lượng vào cùi chỏ).
8. Kao hay Shoulder Stroke (tụ năng lượng vào vai).
Bốn nguyên lý đầu ám chỉ hướng mà năng lượng đang di chuyển: lên với Ward Off, lui về sau với Roll Back, thẳng về trước với Press Forward, và xuống với Push Downward. Hai nguyên lý tiếp theo ám chỉ sự kết hợp các năng lượng: Pull Down kết hợp đồng thời hai năng lượng âm của Roll Back và Push Downward đang di chuyển theo cùng một hướng, còn Split kết hợp hai năng lượng dương của Ward Off và Press Forward đang di chuyển theo hướng ngược nhau. Mỗi nguyên lý trong bốn nguyên lý đầu tiên này đều có một thế pháp được đặt theo tên của nó trong thái cực quyền phái Dương. Tuy nhiên, ý nghĩa thực sự của chúng nằm ở loại nội lực (gọi là kình, jin) mà chúng đại diện.
JIN (kình) — nội lực bên trong cơ thể.
Mọi chuyển động trong thái cực quyền đều được cấu thành từ những sự hoán chuyển của tám khối xây dựng này, khi chúng liên tục kết hợp, chia tách, và tái kết hợp trong suốt từng thế pháp riêng lẻ và từng động tác chuyển tiếp. Trong tập luyện chiến đấu, những người đánh thái cực quyền phải có khả năng chuyển từ cái này sang cái khác trong một phần nhỏ của giây đồng hồ, nếu họ muốn chiến thắng, hay ít ra là đạt được một kết quả hòa, mà không bị thương tích gì.
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA VÕ THUẬT
Thái Cực Quyền Ở Tokyo
Vào năm 1968, trường học của Chang I Chung ở Shibuya là trường thái cực quyền được chọn lựa hàng đầu trong số những người có đai đen ở Tokyo. Tại trường Shibuya có rất nhiều người mang đai đen karate ở các cấp bậc thấp hơn, cũng như một vài người mang đai đen ngũ đẳng và lục đẳng từ các môn karate Nhật Bản và Okinawa cùng nhiều môn võ Nhật Bản khác. Trong khoảng một năm, tôi đã học pháp môn đứng trụ ở đó với họ Chang, và có cơ hội cẩn thận quan sát bài quyền. Ngoài sự phát triển khí thu được từ việc đứng trụ, việc dành hàng giờ mỗi tuần để xem lớp đã giúp tôi học cách nhận ra nhiều sắc thái tinh tế bên trong thái cực quyền — những chất liệu mà chắc chắn đã vụt qua khỏi tôi nếu tôi vội vàng lao vào học ngay các chuyển động vật lý. Những hệ lụy của các sắc thái ấy liên tục thúc đẩy tôi đừng từ bỏ quá trình đứng trụ. Tôi dần nhận ra một cách hiển nhiên rằng tôi sẽ cần và rốt cuộc sẽ sử dụng tất cả các kỹ thuật về khí thu được từ việc đứng trụ để hoàn tất những kỹ năng chiến đấu tiềm tàng vốn có trong bài quyền thái cực quyền. Tầm quan trọng của cái nhìn thấu suốt này đã được khắc sâu vào tôi hết lần này đến lần khác trong suốt mười lăm năm tiếp theo.
Thông thường, trong những lần đầu tiên người ta nhìn thấy bất kỳ chuyển động thái cực quyền nào, họ đều bỏ lỡ phần lớn những điều thực sự đang xảy ra. Thường thì, chỉ sau khi quan sát một chuyển động thái cực quyền được thực hiện hàng trăm lần, bạn mới lần đầu tiên nhìn thấy nó một cách rõ ràng. Điều này đúng cho dù bạn đang chủ động học các chuyển động thái cực quyền hay chỉ thụ động quan sát và phân tích chúng. Trong trường hợp của tôi, việc trước tiên lĩnh hội bằng cách quan sát thụ động đã làm cho quá trình về sau chủ động học toàn bộ chất liệu trong các bài quyền trở nên dễ dàng hơn và chính xác hơn nhiều; thực vậy, nó đã cứu tôi khỏi việc phí phạm rất nhiều thời gian học tập quý giá.
Lớp học bài quyền có một cấu trúc thú vị. Bài quyền dài này rất tinh vi phức tạp. Chúng tôi tập nó một cách chậm rãi, nghĩa là phải mất khoảng bốn mươi lăm phút không gián đoạn mới hoàn tất. Cả nhóm (thường tối đa là hai mươi người) sẽ cùng làm bài quyền từ đầu. Khi có ai đó không biết động tác tiếp theo, cả lớp sẽ dừng lại. Chang bèn dạy động tác ấy cho học trò đang hỏi, rồi biểu diễn ứng dụng chiến đấu căn bản của nó, và nếu một học trò cao cấp hơn hỏi sâu thêm, Chang thường sẽ giảng giải rộng hơn. Người mới học sau đó sẽ đi ra một bên tự tập một mình hoặc được một người đàn anh đến muộn giúp đỡ. Nếu không có yêu cầu mới nào được đưa ra, cả lớp sẽ tiếp tục làm bài quyền cho đến hết, bắt đầu từ chỗ họ đã dừng lại, hoặc là kết thúc và lặp lại quy trình ấy khi học trò kế tiếp cần học một động tác.
Thái Cực Quyền Ở Tokyo (tiếp theo)
Cả việc xem cả nhóm tập lẫn việc xem Chang dạy đi dạy lại cùng những động tác ấy đã làm cho một số điều trở nên hiển nhiên đối với tôi theo thời gian. Các chuyển động của các bài quyền mang tính thực dụng về mặt võ học: hình thức và chức năng thực sự gắn kết với nhau. Việc tập bài quyền phát triển một sự thăng bằng to lớn và xây dựng đôi chân rất khỏe, đặc biệt nhờ những cú đá chuyển động chậm và những động tác hạ thấp người cùng nhiều động tác ngồi xổm của bài quyền. Thái cực quyền có rất nhiều đòn đánh bằng tay đầy kích thích mà trước đây tôi chưa từng thấy trong các môn võ thuật Nhật Bản.
Ý chí võ học của một số thành viên trong lớp rất mạnh mẽ. Bạn hầu như có thể nhìn thấy họ đang đỡ gạt, né tránh, phản công, bẻ gãy xương, và áp đặt những đòn khóa khớp khống chế lên những đối thủ tưởng tượng của mình. Cách thức chuyển động chậm rãi, không ngừng nghỉ, như chất lỏng ấy được thực hiện không chỉ để tăng cường sức khỏe mà còn để phát triển sự chính xác về mặt võ học. Hiệu quả võ học của các chuyển động thật đẹp đẽ để chiêm ngưỡng. Từ từ, ánh sáng lóe lên trong tôi: quả thực có thể chiến đấu giỏi mà không cần dùng đến sự căng cứng của bắp thịt và sức mạnh cơ bắp.
Sự chậm rãi và kiểm soát của các chuyển động thái cực quyền hiển nhiên nhấn mạnh và phát triển khả năng xoay hông và xoay eo ở mức thượng thừa, y hệt như mọi môn võ thuật Nhật Bản ưu tú đều làm. Ban đầu, việc quan sát các chuyển động vừa gây thôi miên vừa gây xao lãng. Tuy nhiên, khi tôi học được cách tập trung, tôi đã có thể xác định rằng sự ấn tượng áp đảo của bài quyền nằm ở sự chính xác của nó và ở việc nó không có một chuyển động phù phiếm nào. Môn “karate chuyển động chậm” được gọi là thái cực quyền này cũng làm cho cơ thể trở nên rất linh hoạt như nước. Trong suốt năm đó, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng từng người trong lớp đánh mất sự căng cứng thói quen của họ từng chút một. Tháng qua tháng, các học trò di chuyển nhanh hơn trong những ứng dụng chiến đấu hai người.
Sự nhấn mạnh mạnh nhất trong lớp đặt vào một trình độ căn bản của các ứng dụng chiến đấu và bài tập chiến đấu hai người đã được biên đạo sẵn, hơn là vào Thôi Thủ theo khuynh hướng phi võ học. Khi Thôi Thủ được tập luyện, sự nhấn mạnh đặt vào việc nhượng lực, dính vào, và kết nối những chuyển động của toàn thân, nhưng không dùng phát kình (fa jin, xem tr. 110). Một số học trò Nhật Bản có khuynh hướng võ học thường thích gặp nhau bên ngoài lớp học. Ở đó, chúng tôi sẽ chơi đùa và “trộn lẫn với nhau” với một cường độ thô bạo hơn đáng kể so với không khí chung của lớp học.
CÁC NGUYÊN LÝ VÕ HỌC CƠ BẢN CỦA THÁI CỰC QUYỀN
Một: Bằng (Peng — Ward Off)
Bằng ám chỉ năng lượng đang trỗi lên hay đang khuếch trương ra từ nguồn của nó. Đó là năng lượng nội tại dương hay hướng ngoại chủ yếu trong thái cực quyền, cũng như trong mọi môn võ nội gia Đạo gia khác. Nó mang tính phòng thủ lẫn tính hướng về tấn công như nhau. Nó là cội rễ của các năng lượng dương trong thái cực quyền và có thể phát xạ năng lượng từ cả các bề mặt bên trong (âm) lẫn bên ngoài (dương) của cơ thể.*
Trong pha khuếch trương của nó, bằng thường được so sánh với năng lượng khiến gỗ nổi trên mặt nước hay làm nổ phồng một vỏ xe hơi, hoặc làm đầy các mạch máu. Thuật ngữ Ward Off (gạt đỡ) thuộc về bản chất khuếch trương của bằng, điều mà, nếu được hướng vào cánh tay hay bất kỳ bộ phận nào của cơ thể, cho phép bạn tạo ra một vùng đệm ngăn không cho cú sốc đầu tiên của một đòn tấn công đang tới xuyên thủng hệ thống phòng ngự của bạn; nghĩa là, gạt nó đi bằng cánh tay, cẳng chân, hay thân thể của bạn, và thậm chí có thể làm cho cú đánh bật ra khỏi cơ thể bạn. Ward Off ban cho bạn khoảng không gian thần kinh tính bằng phần triệu của giây vô cùng quan trọng để tránh bị áp đảo, trước khi bạn bắt đầu phòng ngự và làm chệch hướng, hấp thu, hay chuyển hướng sức mạnh của kẻ tấn công. Cũng như vậy, ở tứ chi hay ở thân mình, Ward Off còn tạo ra một sự khuếch trương ngăn không cho lực của đối thủ vượt qua khỏi làn da của bạn và làm bạn bị thương. Điều này có thể xảy ra bởi vì bằng trực tiếp phát triển khí bảo vệ của cơ thể, mà trong tiếng Trung gọi là vệ khí (wei chi). Theo y lý Trung Hoa, vệ khí ngăn không cho bệnh tật xâm nhập qua các lỗ chân lông của da bạn. Năng lượng khuếch trương này cũng có thể làm cho bạn di chuyển cánh tay của một người đang tấn công theo ý muốn của mình, bằng cách khuếch trương vượt qua sức mạnh của hắn và không để cho hắn có lựa chọn nào khác ngoài việc phải di chuyển bất cứ bộ phận cơ thể hay vũ khí nào mà bạn đang chạm vào ra khỏi đường đi. Khi đối thủ đánh vào tay chân của bạn, bạn có thể đột ngột bật bằng của mình lên, và nếu Ward Off của bạn đủ mạnh, bằng của bạn có thể gây đau đớn hoặc thậm chí gây tổn hại nghiêm trọng cho cánh tay hay cẳng chân đang tấn công.
Bằng hay Ward Off giải thích tại sao cánh tay của một người tập võ nội gia có thể mềm như cánh tay của một em bé trong một khoảnh khắc, rồi trong khoảnh khắc kế tiếp lại trở nên cứng rắn vô cùng mà không hề biểu hiện bất kỳ sự căng cứng nào của bắp thịt. Sự phát triển năng lượng này là sự tương đương về mặt nội tại với việc người tập võ ngoại gia nâng tạ hay đập tay chân mình vào những vật cứng để làm cho chúng trở nên rắn chắc. Như một kỹ thuật tấn công, bằng có thể làm cho cánh tay của bạn đánh y như một ống chì, hoặc không gây đau đớn mà làm cho các đối thủ bị phăng đi trong không gian mà không bị tổn hại gì — trừ phi, dĩ nhiên, họ bị thương bởi chính lực mà họ đập vào tường hay mặt đất. Trong pha trỗi lên của mình, Ward Off chịu trách nhiệm về khả năng tấn công và bứt rễ (uproot) một đối thủ. Bứt rễ làm cho đôi bàn chân của đối thủ rời khỏi mặt đất.
Bằng hay Ward Off là một lực năng lượng dương. Cổ thư thái cực quyền phái Trần nói rằng bằng là nguồn của mọi thế pháp hay mọi năng lượng nội tại khác trong thái cực quyền. Nó không hoàn toàn là điều độc đáo của riêng thái cực quyền, bởi nó cũng được sử dụng nhiều hoặc nhiều hơn trong bát quái chưởng hay hình ý quyền, nơi nó cũng được gọi là bằng vì chính những lý do y hệt nhau. Chính bằng làm cho một người tập võ nội gia có thể đánh trúng đối thủ và khiến cho họ, như người Trung Quốc vốn thích nói, “bay đi.” Để đạt được sức mạnh của Ward Off, một người tập phải có khả năng chìm khí năng lượng xuống hạ đan điền (nghĩa là đưa năng lượng từ thượng thân xuống vào vùng bụng dưới). Kỹ năng này tuyệt đối bắt buộc phải có.
* Đối với thân thể: từ đỉnh đầu đến xương cùng, các bề mặt phía trước là âm; các bề mặt phía sau là dương. Đối với tứ chi: mặt trong của tứ chi là âm; mặt ngoài là dương. Hãy đứng với các ngón chân hướng về phía trước và hai cánh tay duỗi thẳng trước thân mình, hai ngón cái hướng lên. “Mặt trong” của tứ chi bạn đối diện với thân mình của bạn, còn “mặt ngoài” thì quay ra xa khỏi thân mình.
Vệ khí (wei chi) — lớp năng lượng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật đến từ môi trường bên ngoài, lớp nằm sát nhất với da, bao bọc lấy cơ thể để chống lại sự xâm nhập của bệnh tật từ môi trường bên ngoài.
Hai: Lữ (Lu — Roll Back)
Lữ ám chỉ khả năng hấp thu về mặt năng lượng và/hoặc nhượng lực để hóa giải một lực đang tới, thường với những chuyển động vật lý mang tính tròn nhỏ đến mức dường như không thể nhìn thấy được. Hướng năng lượng chủ yếu của nó là về phía sau; tuy nhiên, nó cũng có thể được thực hiện hướng xuống, hướng tới, và hướng lên bởi những người tập ở trình độ khá cao. Roll Back chủ yếu mang tính phòng thủ, mặc dù nó cũng có một số công dụng trong tấn công. Nó là năng lượng âm chủ yếu trong thái cực quyền, và hấp thu năng lượng cả ở mặt trong lẫn mặt ngoài của cánh tay và ở mu bàn tay.
Ưu thế tự nhiên của Roll Back là nó cho phép bạn tan chảy đi, buông bỏ sự kháng cự nội tại của chính mình đối với sức mạnh trong các kỹ thuật của đối thủ. Loại buông bỏ này làm cho các đối thủ đánh mất trọng tâm thăng bằng của họ. Nó có thể được ví với tình huống một người đàn ông lao tới, vai đi trước, để húc đổ một cánh cửa, và cánh cửa bỗng nhiên được mở ra, khiến cho hắn ngã sấp mặt xuống. Những sự mong đợi thông thường đã bị đảo ngược. Người đang giao chiến với bạn mong rằng lực của hắn sẽ được đáp trả bằng lực của bạn, và khi điều đó không xảy ra, lực của hắn phóng về phía trước, thường kéo theo cả trọng tâm của hắn; hậu quả là, hắn đánh mất sự thăng bằng. Trong khoảng một giây hoặc ít hơn tồn tại giữa lúc đối thủ của bạn đánh mất và hồi phục lại sự thăng bằng, hắn, trên thực tế, đang hiện hữu trong một trạng thái lơ lửng không có sự phòng ngự, tạo ra những điều kiện tối ưu cho một đòn phản công — và đó chính là sở trường của thái cực quyền.
Nếu Ward Off của một người chơi thái cực quyền đủ mạnh, nó có thể được dùng để phòng ngự trước một người có sức mạnh ngang bằng hoặc hơi trội hơn một chút. Tuy nhiên, Roll Back mới là kỹ thuật chủ yếu mà những người tập thái cực quyền nương tựa vào để tự vệ trước một lực rõ ràng là trội hơn, hay trong khoảnh khắc tính bằng phần nhỏ của giây khi họ có thể đang sử dụng một góc độ chiến đấu không khả dụng. Roll Back là đặc tính định nghĩa nên thái cực quyền. Là một môn võ nội gia, thái cực quyền chuyên sâu vào năng lượng này hơn mọi năng lượng khác.
Roll Back là cái nằm bên dưới phẩm tính “mềm mại” của thái cực quyền. Giá trị của việc nhượng bộ trước một sức mạnh thô bạo trội hơn là điều hiển nhiên đối với một tay đấu bò, khi anh ta nhường vị trí của mình và di chuyển thân thể cùng tấm áo choàng ra khỏi đường đi của cặp sừng con bò đang húc tới.
Xét từ góc nhìn của các môn võ nội gia, sức mạnh có thể là thông minh hoặc là ngu ngốc. Sức mạnh “thông minh” được đo lường chính xác, với sự nhạy bén, và có khả năng thay đổi trong một cái chớp mắt, tùy theo bản chất của lực mà nó đang đối phó. Sức mạnh “ngu ngốc” lao đi theo một hướng mà hầu như không có hoặc không có chút khả năng nào để thích nghi với hoàn cảnh. Sức mạnh ngu ngốc giống như một viên đạn trên một quỹ đạo đã được ấn định sẵn mà nó không thể kiểm soát. Sức mạnh thông minh có thể điều chỉnh lực và hướng của nó từng phần triệu của giây giữa lúc bắt đầu và lúc kết thúc của một kỹ thuật. Mỗi loại sức mạnh trong số này đều hiện hữu trong cả những kỹ thuật võ thuật mang tính phòng thủ lẫn những kỹ thuật mang tính tấn công. Chẳng hạn, các góc độ chiến đấu sử dụng sức mạnh thông minh.
Kỹ thuật Roll Back, trong sự thực thi về mặt năng lượng và về mặt vật lý của nó, cho phép một người tập thái cực quyền phòng ngự thành công trước lực trội hơn của một cá nhân có kỹ năng. Nếu một người trong một cuộc giao chiến sở hữu sức mạnh thô bạo hay tốc độ trội hơn và người kia thì tinh thông về các góc độ chiến đấu (như con bò và tay đấu bò), thì sự am hiểu về các góc độ chiến đấu có thể đánh bại được sức mạnh thô bạo. Tuy nhiên, nếu cả hai cá nhân đều am hiểu về các góc độ chiến đấu ngang bằng nhau, thì sự am hiểu của họ sẽ trung hòa những ưu thế ở bình diện này. Vị thế chiếm ưu thế khi đó sẽ quay trở về với người nào có nhiều sức mạnh hoặc tốc độ nhất, trừ phi Roll Back bước vào phương trình võ học ấy.
Những phẩm tính hòa trộn của sự nhượng lực và sự hấp thu của Roll Back tạo ra một loại sức mạnh mềm mại được pha trộn thành một khối. Khi sự tập luyện võ học thái cực quyền chuyên cần tiến triển, người ta sẽ trông đợi sức mạnh mềm mại này lớn lên theo cùng cách mà những người nâng tạ dần dần tăng thêm số tạ mà họ có thể nâng được. Chính sự thực tập làm tăng thêm sức mạnh, chứ không chỉ đơn thuần là sự hiểu biết về những cơ chế liên quan đến Roll Back. Nhiều người tập thái cực quyền lầm tưởng rằng, bởi vì Roll Back là một khái niệm ưu việt về mặt trí tuệ liên quan đến cách xử lý một lực hiển nhiên, nên nó sẽ tự động phát huy tác dụng về mặt vật lý trước một người có sức mạnh trội hơn. Không gì có thể xa rời sự thật hơn thế. Sự tinh thông đi kèm với sự thực hành liên tục mới chính là chìa khóa.
Xét từ quan điểm võ thuật, sức mạnh thì cứ là sức mạnh. Việc sức mạnh ấy là “mềm” hay “cứng,” “ngoại” hay “nội,” không thành vấn đề; điều duy nhất thành vấn đề là nó hiện diện hay vắng mặt. Ưu thế rực rỡ của sức mạnh mềm mại của Roll Back là nó có thể tương đối nhỏ hơn sức mạnh đang được phóng tới nó mà vẫn giành phần thắng. Tuy nhiên, sức mạnh mềm mại của Roll Back không thể kém đi một cách quá đáng, bằng không một sức mạnh “cứng” mạnh hơn sẽ đánh bại nó. Trường hợp này đặc biệt đúng khi đối thủ của bạn càng có sự bén rễ sâu, như vốn là trường hợp của rất nhiều võ sĩ hàng đầu, cả nội gia lẫn ngoại gia.
Việc phát triển bất kỳ kỹ năng đơn lẻ nào bao giờ cũng dễ dàng hơn nếu bạn tập trung vào nó đến mức loại trừ những mục tiêu khác. Dĩ nhiên, nếu bạn thực sự chuyên chú vào việc học nhiều kỹ năng theo thời gian, bạn có thể kết thúc với một thành phẩm tuyệt hảo khi rốt cuộc chúng khớp vào nhau. Sự tích hợp này chắc chắn đúng đối với võ thuật. Chẳng hạn, trong và trước thế kỳ mười tám và mười chín, những người tập võ đã luyện tập nhiều giờ đồng hồ với sự nghiêm túc mang tính sinh tử. Họ làm việc với cường độ của những vận động viên thi đấu đỉnh cao. Trong hệ thống thứ bậc của các môn võ nội gia thời bấy giờ, thái cực quyền, dựa trên thành tích chiến trường, được xếp ở một trình độ cao hơn hay ưu việt hơn hình ý quyền. Thế nhưng, cả khi ấy lẫn ngày nay, hầu hết những người tập hình ý quyền thường sẽ đánh bại hầu hết những người tập thái cực quyền trong những cuộc giao chiến thực sự. Tình trạng này có thể tự đảo ngược lại khi người tập thái cực quyền đã tích lũy được mười năm kinh nghiệm. Theo truyền thống thái cực quyền cổ điển, mười năm là thời gian huấn luyện tối thiểu mà những người chơi thái cực quyền cần có trước khi họ được chuẩn bị đầy đủ để có thể thách đấu thành công với đủ loại võ sĩ trong những điều kiện sinh tử. Điều gì giải thích cho sự mâu thuẫn bề ngoài này?
Bén rễ (ROOTING) — kỹ thuật làm chìm năng lượng của cơ thể xuống và bén rễ nó vào trong lòng đất.
Cả hình ý quyền lẫn thái cực quyền đều chia sẻ cùng một công nghệ nội tại để phát triển nội lực cứng. Hình ý quyền, bởi vì thoạt đầu nó đặt ít sự nhấn mạnh tương đối hơn vào việc nhượng lực, nên tập trung hoàn toàn vào việc phát triển năng lượng nội tại cứng, mang tính dương, và vào những góc độ chiến đấu hữu hiệu. Hình ý quyền có một mục tiêu đơn giản hơn; vì vậy, nó tạo ra nhiều người chiến thắng hơn và sớm hơn. Thái cực quyền, mặt khác, phải hoàn tất không phải một hay hai, mà là ba mục tiêu. Thứ nhất, sở trường của nó, năng lượng “mềm” của Roll Back; thứ hai, những năng lực phóng chiếu nội tại “cứng” của nó, kể cả Ward Off, Press Forward và Split; và thứ ba, mục tiêu phức hợp đa tầng là sự nung chảy hai thứ ấy vào nhau một cách không có đường nối, được gọi trong kinh điển thái cực quyền là cương nhu tương tế (gang rou hsiang ji), hay “cứng và mềm kết hợp lại với nhau.”
Mục tiêu thứ ba này trao cho người tập khả năng chuyển dịch qua lại từ cứng sang mềm một cách trơn tru và tức thời. Những sự chuyển dịch này xảy ra với một sự sang số hoàn toàn trơn tru trong tâm trí, trong kỹ thuật vật lý, và trong cảm xúc của người đánh thái cực quyền, trong suốt những sự biến đổi mà rất nhiều võ sĩ khác thường bị “kẹt cứng lại.” Những khoảnh khắc tính bằng phần triệu của giây vô cùng quan trọng này xảy ra trong chiến đấu khi một võ sĩ trở nên không thể di chuyển về mặt vật lý hoặc bị mất phương hướng về mặt tinh thần, không biết phải di chuyển ở đâu, khi nào, hay như thế nào tiếp theo. Bởi vì thái cực quyền có một mục tiêu phức tạp hơn, nên ít người học nó một cách toàn triệt, nhưng những ai làm được thì thực sự đạt thành một điều gì đó. Tuy nhiên, đối với những người tập các môn võ cứng hay ngoại gia, thì ngay cả một sự tiếp xúc nhẹ nhàng với thái cực quyền và kỹ thuật Roll Back của nó cũng có khuynh hướng làm gia tăng tốc độ vật lý và sự trơn tru của mọi sách lược né tránh.
Phải mất rất nhiều sự huấn luyện nghiêm túc mới hiện thực hóa được tiềm năng của Roll Back trong thái cực quyền. Sẽ hữu ích nếu bạn ghi nhớ hai điều về Roll Back. Kỹ thuật nội tại “âm” này đòi hỏi một sự sẵn lòng đi sâu vào những tầng bậc tinh tế hơn của tâm trí. Trình độ sức mạnh của sự nhượng lực và hấp thu của bạn phải đáng kể, nếu nó muốn đánh bại được một đối thủ có sức mạnh và tốc độ đáng kể. Nhiều người ủng hộ thái cực quyền thiếu huấn luyện, với sức mạnh Roll Back không đủ, vẫn hão huyền tưởng tượng rằng họ có thể đánh bại một võ sĩ karate, công phu, hay quyền Anh, bởi vì họ cho rằng môn võ của mình ưu việt hơn — cho đến khi, ấy là, họ bị đánh bại một cách êm ái.
Những đối thủ yếu có thể được xử lý bằng những kỹ năng Roll Back tầm thường; những đối thủ mạnh đòi hỏi một Roll Back thượng thừa, và đó là lý do tại sao, trong Thôi Thủ, Roll Back là kỹ năng khó nhất và thiết yếu nhất để phát triển.
Đúng là Roll Back chủ yếu được dùng cho những mục đích phòng thủ trong thái cực quyền, và đó là lý do tại sao thái cực quyền thường được xem là có một hương vị không mang tính tranh đấu. Tuy nhiên, Roll Back cũng được dùng cho tấn công, trong phương diện hấp thu của nó. Pha tấn công của Roll Back sử dụng mạnh mẽ những sự khép lại của cơ thể (xem tr. 63) để hút năng lượng y như một chiếc máy hút bụi. Nếu hành động khép lại được nối kết với cạnh của bàn tay, lòng bàn tay, hoặc mu bàn tay nắm lại của bạn, nó có thể cắt xuyên qua da thịt của đối thủ, na ná như việc lết cạnh của một lưỡi dao ngang qua một miếng bít tết dày để cắt nó ra. Kỹ thuật này chiếm ưu thế trong việc sử dụng các kỹ thuật nắm đấm, cạnh bàn tay và lòng bàn tay xuyên suốt phái Trần với những chuyển động tay cắt lát theo đường tròn mạnh mẽ của nó, và có thể dễ dàng được nhìn thấy trong phái Dương ở các kỹ thuật Chém Bằng Nắm Đấm (Chop with Fist), Kéo Xuống (Pull Down), và Lòng Bàn Tay Lữ Hướng Xuống (Descending Roll Back Palm).
Bởi vì Roll Back là sở trường của thái cực quyền, nên sẽ hữu ích nếu ta xem xét sự tiến triển của việc huấn luyện nó, từ góc nhìn của cả cơ chế cơ thể vật lý lẫn của những phương diện năng lượng liên quan.
Ảnh: Nhã nhặn của Caroline Frantzis. Tác giả (bên phải) biểu diễn ứng dụng chiến đấu của thế Lữ trong thái cực quyền ở pha tấn công của nó.
Về mặt cơ học, một hành động xoay hay vặn về mặt vật lý sẽ làm chệch hướng một lực đang tới, y hệt như một cánh quạt đang quay sẽ hất văng một viên sỏi nhỏ được ném vào nó. Nguyên lý này phát huy tác dụng tốt như nhau nếu được áp dụng vào thân mình, cánh tay, hay cẳng chân của con người. Sự tiến triển để học các phương diện vật lý của kỹ thuật Roll Back là:
1. Tập trung vào việc chuyển dịch đầu gối và hông một cách trơn tru. Như người ta thường nói ở phương Đông, “Cái hông cứng như sắt cần phải trở thành cái hông mềm mại và dẻo dai như đậu phụ (đậu nành nghiền đông).”
2. Cánh tay và cẳng chân của bạn cần phải vặn xoắn phối hợp với sự xoay của eo bạn.
3. Cánh tay của bạn cần phải thả lỏng và mềm ra cho đến khi chúng chỉ còn đưa lại một sự kháng cự tối thiểu đối với một lực hung hăng.
4. Sự khép và mở (cũng như một sự thả lỏng sâu) của tất cả các khớp của bạn cần phải phát triển đầy đủ để các khớp có thể di chuyển không bị trở ngại trong phạm vi chuyển động tối ưu của chúng, để đáp ứng với áp lực nhẹ nhất từ đối thủ của bạn.
5. Sự vặn xoắn của cánh tay và cẳng chân của bạn cần phải được thiết lập và được ổn định đầy đủ nhằm khuếch đại năng lượng và mang nó đến chính xác điểm nơi hai cơ thể đối nghịch chạm nhau, mà thường nhất là ở cẳng tay hay bàn tay.
6. Giờ đây việc nghiên cứu nghiêm túc về các góc độ chiến đấu bằng Roll Back mới bắt đầu. Để có hiệu quả trọn vẹn, pha này đòi hỏi sự tinh thông tất cả các kỹ năng nền tảng đã học được trong các bước từ 1 đến 5.
7. Trong những giai đoạn đầu của việc học Roll Back, những chuyển động của bạn sẽ lớn và hiển nhiên, cả ở các khớp của bạn lẫn ở eo của bạn. Tuy nhiên, theo thời gian, khi những chuyển động vật lý của bạn trở nên tinh tế hơn và tròn trịa hơn, chúng có thể trở nên cực kỳ nhỏ — nhỏ đến mức, trên thực tế, chúng hầu như không thể nhìn thấy được bằng mắt của một người chưa được huấn luyện về việc quan sát sự tinh tế của chuyển động.
Sự tiến triển để học các phương diện năng lượng của kỹ thuật Roll Back là:
1. Bạn phát triển một cảm giác về việc hấp thu năng lượng bằng toàn bộ cơ thể của mình.
2. Bạn hấp thu năng lượng trên một đường thẳng từ điểm tiếp xúc với đối thủ của bạn, vượt ra ngoài cơ thể bạn, hoặc là ra phía sau lưng bạn hoặc là từ đôi bàn chân của bạn xuống vào lòng đất, tốt nhất là đến tận cùng của hào quang của bạn, nơi nó nối kết với năng lượng của trái đất (nghĩa là cái rễ năng lượng của bạn).
3. Bạn hấp thu và chuyển hướng sức mạnh của đối thủ ngay tại đúng điểm tiếp xúc, làm cho đối thủ của bạn dường như bị lơ lửng trong không gian trong một phần triệu của giây.
4. Bạn mở rộng khả năng hấp thu năng lượng, kéo nó ra khỏi cơ thể của đối thủ, điều làm cho đối thủ của bạn chồm về hướng bị kéo. Thông thường, hành động này xảy ra mà đối thủ của bạn không cảm nhận được một mối quan hệ nhân quả nào, điều gây ra một sự không thể tin nổi đại loại như: “Chuyện này không thể đang xảy ra.” Quá trình này thường được ví với việc thu dây câu kéo một con cá vào, điều làm cho con cá đáp xuống bất cứ nơi nào mà bạn hướng nó tới.
5. Nếu bạn có thể tinh thông được tất cả những điều trên, đôi bàn tay của bạn sẽ trở nên mềm mại đến mức đối thủ của bạn thực sự không thể cảm thấy chúng hay cảm thấy việc chúng đang làm gì.
Roll Back và Dính (Sticking)
Gắn bó mật thiết với Roll Back là kỹ thuật căn bản của thái cực quyền là Dính, hay sự bám dính. Dính được thực hiện cả khi tay không lẫn khi vũ khí đối vũ khí. Tuy nhiên, sự tập trung ở đây sẽ chỉ đặt vào đôi bàn tay trần. Dính da đối da được dùng sau khi bạn đã chặn đứng tay chân hay thân thể của kẻ hung hăng bằng tay chân hay thân thể của chính mình. Nếu một người tấn công bạn và bạn giữ được sự tiếp xúc thân thể với hắn, bạn có thể ở lại cùng với và kiểm soát hắn, ngăn không cho hắn làm hại bạn, hoặc di chuyển hắn vào vị thế để bạn phản công. Mỗi giai đoạn tiến triển của sự huấn luyện đều đòi hỏi bạn phải có khả năng diễn giải lực của kẻ tấn công mình trong những mức độ phân chia ngày càng tinh tế hơn.
Có bốn giai đoạn tiến triển rõ ràng* của Dính, mỗi giai đoạn trong số đó đại diện cho một trình độ kỹ năng, khí, và khả năng chặn đứng lực của đối thủ cao hơn.
* Tên gọi tiếng Trung lẫn tiếng Anh đều được đưa ra cho những giai đoạn này. Tuy nhiên, đối với một vài giai đoạn, tôi chưa từng thấy những bản dịch tiếng Anh nào truyền đạt được một hương vị ý nghĩa xác thực. Theo đó, đối với những giai đoạn ấy, những từ tiếng Anh được dùng không phải là những bản dịch sát nghĩa từ tiếng Trung, nhưng chúng vẫn đáp ứng được một cách hợp lý về mặt mô tả chức năng thực tế.
1. Nhượng (tiếng Trung gọi là jan) Bạn nhượng bằng cách rút lui trước lực của kẻ tấn công với sự chính xác tuyệt vời, luôn ở ngay phía trước sức mạnh của kẻ tấn công, qua đó triệt tiêu khả năng của lực đang tới nhằm vươn tới hay va đập vào bạn. Điều quan trọng là bạn phải để cho lực của kẻ tấn công đi bất cứ nơi nào nó muốn, mà không hề tìm cách cản trở nó; trái lại, bạn khuyến khích nó. Kỹ thuật này làm cho kẻ tấn công cảm thấy rằng bạn chỉ vừa nằm trong tầm với, nếu như hắn chịu nỗ lực thêm một chút nữa. Ba tình huống sau đây truyền đạt “cảm giác” thiết yếu của quy trình này.
JAN / NHƯỢNG — một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
a. Hãy thử đấm vào một chiếc lông chim đang trôi nổi trong không khí. Khi da của bạn chạm vào chiếc lông, nó sẽ lùi lại chỉ vừa đủ ở ngay phía trước lực của nắm đấm bạn, tránh được bất kỳ sự va đập gây tổn hại nào.
b. Khi sừng của con bò chạm vào tấm áo choàng của tay đấu bò, tay đấu bò di chuyển tấm áo choàng chỉ vừa đủ ở ngay phía trước lực của cặp sừng. Hành động này ngăn không cho bất kỳ cú sốc nào truyền ngược trở lại tay đấu bò qua tấm áo choàng, hoặc ngăn không cho cặp sừng của con bò bị vướng vào tấm áo choàng, điều có thể làm cho tay đấu bò bị giết chết trong cú ngoắt đầu kế tiếp của con bò.
c. Hãy đẩy các đầu ngón tay của bạn xuyên qua nước. Bạn có thể cảm thấy một áp lực nào đó từ nước, nhưng bản thân nước bao giờ cũng lùi lại ngay phía trước các đầu ngón tay của bạn, bất kể bạn đi nhanh hay chậm đến đâu, và bất kể bạn dùng bao nhiêu sức mạnh.
2. Hợp (tiếng Trung gọi là lan) Kế tiếp, bạn hòa hợp với lực của người đang tấn công mình, sao cho không ở điểm nào sức mạnh và bề mặt cơ thể đang tiếp xúc của bạn lại ở phía trước hay phía sau bề mặt cơ thể đang tiếp xúc của hắn, bất kể loại sức mạnh hay tốc độ nào đang được sử dụng và với số lượng là bao nhiêu. Khi sự hòa hợp này xảy ra, kẻ tấn công sẽ không cảm thấy, một cách có ý thức hay vô thức, bất kỳ sự kháng cự hay sự khác biệt nào giữa hắn và bạn, điều thường xuyên, ở tầng sâu của tiềm thức, làm cho hắn đánh mất động lực để thực sự dốc toàn lực vào đó. Ngay vào khoảnh khắc này, bạn có thể nhẹ nhàng dẫn dắt cánh tay hay cẳng chân (hoặc vũ khí) của hắn đến bất cứ nơi nào bạn muốn chúng đi tới, y hệt như một món đồ chơi có thể dễ dàng và chính xác được dẫn đi xung quanh bởi một sợi dây không quá lỏng cũng không quá căng. Trong Kinh Thái Cực, hoạt động này được gọi là bất địa, bất đảnh (bu diu, bu ding), hay “chẳng rời bỏ đối thủ, cũng chẳng chống lại hắn.”
LAN / HỢP — một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
BU DIU, BU DING — Không đẩy lại, cũng không buông bỏ, điểm tiếp xúc giữa chính mình và đối thủ.
3. Dính hay bám (tiếng Trung gọi là nien) Giờ đây bạn làm hai việc cùng một lúc: Áp một áp lực rất tinh tế lên màng cơ (fascia) của kẻ tấn công ngay bên dưới da của hắn để dính vào các bắp thịt của hắn, và thật sự kéo năng lượng của hắn ra khỏi cơ thể của hắn vào trong chính bạn, đi xuyên qua và vượt qua khỏi cơ thể của bạn. Nếu việc này thành công, khi bạn di chuyển, bạn sẽ kéo theo cả cơ thể của hắn cùng với bạn, chỉ bằng sự tiếp xúc bề mặt của làn da mà thôi, hoàn toàn không cần dùng đến sự nắm bắt. Bạn có thể sau đó di chuyển cánh tay hay cẳng chân của hắn đến bất cứ nơi nào bạn muốn, bởi vì chúng đã bị dính chặt vào bàn tay hay cẳng chân của bạn y như keo dán. Kỹ thuật này có thể được ví với ba hiện tượng thường được trải nghiệm.
NIEN / DÍNH — một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
a. Làm ướt ngón tay của bạn. Chỉ cần áp dụng một sự tiếp xúc bề mặt nhẹ nhàng, bạn có thể di chuyển một mẩu giấy bằng ngón tay ướt của mình, chỉ nhờ vào độ dính của chất ẩm, mà không cần phải ấn mạnh xuống hay tạo ra áp lực.
b. Dán một miếng băng keo lên một tờ giấy. Hãy quan sát cách mà, khi miếng băng keo di chuyển, nó kéo theo cả tờ giấy cùng đi với nó.
c. Nếu khí của bạn thực sự mạnh, tình huống sẽ tương tự như trường hợp đôi bàn tay của bạn được nạp đầy tĩnh điện. Một sợi bụi vải sẽ di chuyển cùng theo với bàn tay bạn, mặc dù dường như nó hầu như chẳng có sự nối kết vật lý nào.
4. Nhiễm từ hay hút (tiếng Trung gọi là suei) Ba phương pháp dính đầu tiên (nhượng, hợp và bám) tiền giả định rằng đối thủ của bạn đang di chuyển và rằng bạn có một động lượng nào đó để làm việc cùng, chiếu theo các định luật vật lý. Phương pháp thứ tư — nhiễm từ — dường như vượt ra ngoài những định luật ấy, như chúng ta hiện đang hiểu chúng.
SUEI / NHIỄM TỪ — một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
Trong phương pháp bốn, bàn tay của bạn làm cho cơ thể của kẻ tấn công bị nhiễm từ, cho phép bạn nhấc bổng hắn lên khỏi mặt đất, y hệt như một chiếc nam châm công nghiệp cỡ lớn nhấc bổng một vật bằng kim loại nặng lên khỏi sàn nhà. Ở đây hoàn toàn không có động lượng nào dính líu đến. Bạn thuần túy đang kiểm soát khí của cơ thể kẻ tấn công theo một cách dường như phủ nhận các định luật của trọng lực.*
* Phương pháp này có thể sẽ bị thất truyền đối với những thế hệ mai sau. Vào ngày trước khi sư phụ Liu Hung Chieh của tôi qua đời, ông đã biểu diễn nó lên trên tôi. Lưu sư đã không giải thích nó, và cho đến lúc này tôi cũng không thể giải thích được, mặc dù tôi đang cố gắng tìm ra. Những vị sư tổ nguyên thủy của thái cực quyền phái Trần, cũng như Dương lão sư nguyên thủy, con trai của ông, và một vài học trò của họ, được cho là đã sở hữu kỹ thuật này. T. T. Liang đã kể một câu chuyện về một trong những đệ tử của Dương lão sư nguyên thủy, người chỉ bằng cách đặt hai lòng bàn tay của mình phẳng lên trên mặt tay vịn của một chiếc ghế nặng, mà không hề nắm lấy nó, đã có thể nhấc bổng chiếc ghế lên khỏi sàn nhà và di chuyển nó.
Ba: Tế (Ji — Press Forward)
Năng lượng nội tại này phóng chiếu về phía trước từ nguồn của nó, trên một đường thẳng, dọc theo bất kỳ góc độ nào mà bạn hướng nó tới: lên, xuống, sang bên hông, theo đường chéo, hoặc thẳng về phía trước. Nó là kỹ thuật tấn công chủ yếu trong thái cực quyền, và phát xạ năng lượng ở mặt ngoài của cánh tay và ở mu bàn tay.
Press Forward được thực hiện theo bốn cách khác nhau, mỗi cách mạnh hơn cách trước:
1. Một cú đấm đơn giản, thẳng thừng bằng một tay. Ở đây, bạn chỉ đơn giản đặt sức mạnh và trọng lượng của toàn bộ cơ thể mình vào phía sau cú đánh.
2. Một cú đánh đơn giản, thẳng thừng bằng một tay, trong đó bạn phóng chiếu một đường thẳng của năng lượng khí từ đôi bàn chân của bạn đi lên qua cẳng chân, hông, thân mình và cột sống đến phần nào đó của cánh tay hay của cái đầu đang đánh vào đối thủ. Nếu bạn đang đá đối thủ, thì điều tương tự cũng được áp dụng. Một lần nữa, bạn phóng chiếu một đường thẳng năng lượng từ cẳng chân trụ và cột sống của bạn đến phần nào đó của cẳng chân đang đá mà nhắm vào đối thủ. Bạn sẽ có thể tạo ra một nội lực khổng lồ trong phương pháp này và trong hai phương pháp tiếp theo mà không cần dùng đến chút trọng lượng cơ thể nào để tạo ra động lượng. (Hiển nhiên là việc thêm vào sự sử dụng trọng lượng cơ thể cho kỹ thuật này sẽ làm gia tăng sức mạnh.) Các phương pháp 2, 3 và 4 cho phép thái cực quyền, cũng như hình ý quyền và bát quái chưởng, tạo ra toàn bộ sức mạnh chỉ từ khoảng cách nửa inch tính từ đối thủ và thậm chí ở cự ly gần hơn nữa, cho đến tận điểm mà da đã chạm da.
3. Một bàn tay đánh hay chạm vào đối thủ, trong khi năng lượng của cánh tay và bàn tay đối diện bổ sung và khuếch đại sức mạnh của cú đánh, cho dù bàn tay không đánh có chạm vào đối thủ hay không. Thông thường, khi một người lần đầu tiên làm quen với kỹ thuật này, bàn tay không đánh sẽ chạm vào chính bàn tay đang đánh hay vào cẳng tay. Tuy nhiên, về sau, điều này tiến triển thành việc chỉ thuần túy phóng chiếu năng lượng bằng tâm ý từ bàn tay bổ trợ đến bề mặt đánh của bàn tay hay cánh tay đang tiếp xúc.
4. Năng lượng từ cả hai cánh tay trước tiên được hội tụ tại một điểm trong không gian nằm bên ngoài bề mặt đánh thực sự. Năng lượng sau đó được phóng chiếu về phía trước từ điểm ấy, mà thường là nằm sâu bên trong các cơ quan nội tạng hay bộ não, hoặc ở bề mặt đối diện của cơ thể. Chẳng hạn, nếu bạn chạm vào ngực của ai đó, thì điểm hội tụ sẽ là cột sống, hoặc thậm chí là một điểm trong không gian nằm bên ngoài cột sống. Những thế pháp của phái Dương như Bước Tới, Gạt Và Đấm (Step Forward, Parry and Punch), Press Forward, Shoulder Stroke, và Quạt Xuyên Qua Lưng (Fan through the Back), là những thế tiêu biểu cho kỹ thuật năng lượng này.
Bốn: Án (An — Push Downward)
Án tạo ra một chuyển động hướng xuống của năng lượng. Nó là một năng lượng nội tại âm, có thể phát xạ năng lượng từ cả các kinh mạch âm lẫn dương của cánh tay và bàn tay. Nó mang tính tấn công lẫn phòng thủ như nhau. Để có được một cảm giác về việc Push Downward là gì và nó hoạt động như thế nào, hãy thử một trong hai điều sau. Trong một chiếc ghế có tay vịn, hãy ngồi xuống với hai lòng bàn tay đặt chắc chắn lên hai tay vịn và nâng cơ thể mình lên khỏi chiếc ghế bằng cách đẩy xuống bằng hai lòng bàn tay. Hoặc, ngồi trên mặt đất, hãy nhấc mông của mình lên khỏi mặt đất bằng cách đẩy xuống mặt đất bằng hai lòng bàn tay. Trong cả hai trường hợp, bạn đã áp dụng hành động hướng xuống của Push Downward.
Push Downward có ba chức năng phòng thủ chủ yếu:
1. Nó trực tiếp hóa giải năng lượng khuếch trương hướng lên của Ward Off, ngăn không cho đối thủ của bạn kiểm soát chuyển động hướng lên của cánh tay hay thân thể bạn trái với ý muốn của bạn.
2. Nó làm cho bạn có thể ngăn không cho các đối thủ của mình nâng cánh tay hay cẳng chân của họ lên.
3. Nó có thể làm cho trọng tâm của một người đang tấn công bị ép xuống đất về mặt năng lượng, làm cho hắn cảm thấy y như thể một bao cát khổng lồ vừa được quẳng xuống lên trên người mình.
Đối với tấn công, Push Downward có hai chức năng chủ yếu:
1. Nó có khuynh hướng làm cho đôi bàn tay của bạn trở nên nặng một cách không thể tin nổi, để chúng có thể đâm xuyên qua cơ thể của đối thủ bạn, như thép xuyên qua thiếc.
2. Nó có thể phóng đi một làn sóng năng lượng mạnh mẽ đi xuống xuyên qua cơ thể của một người đang tấn công, xuống đến ranh giới của hào quang năng lượng của hắn bên dưới đôi bàn chân của hắn. Hành động này có thể cắt đứt cái rễ năng lượng của kẻ tấn công bạn. Làn sóng hướng xuống này có thể khơi mào cho một làn sóng năng lượng đi lên, mà khi nó di chuyển lên trên, sẽ làm cho hắn bị bứt rễ — đôi bàn chân của hắn rời khỏi mặt đất.
Push Downward có thể được so sánh với năng lượng hướng xuống được tác dụng lên một quả bóng rổ trong lúc dẫn bóng. Năng lượng này rốt cuộc làm cho quả bóng rổ nảy bật lên trong không gian. Nhiều vị sư phụ thái cực quyền có vóc người thấp hơn, từ Dương Lộ Thiền (Yang Lu Chan) đến Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) đến Liu Hung Chieh, đã ưa chuộng kỹ thuật Push Downward này, đặc biệt là khi họ thêm vào một chút năng lượng Ward Off đang trỗi lên một khi “quả bóng rổ” (cơ thể của đối thủ) đã đang nảy lên trên, để làm cho nó bay lên cao hơn nữa.
Bằng, Lữ, Tế và Án — Vừa Hiển Nhiên Vừa Tiềm Ẩn
Bốn nguyên lý võ học của thái cực quyền vừa được mô tả (Bằng, Lữ, Tế và Án) hợp thành cốt lõi của mọi chuyển động và mọi ứng dụng chiến đấu của thái cực quyền. Bốn kỹ thuật tiếp theo (Kéo Xuống, Chia Tách, Trửu và Kháo) đại diện cho những sự kết hợp khác nhau của bốn nguyên lý nguyên thủy.
Những chuyển động của bài quyền trong các nhánh chính của những môn phái đa dạng mà công chúng biết đến một cách tập thể dưới tên gọi thái cực quyền (tức là các phái Dương, Ngô, Trần, Hác và phái bài quyền phối hợp) có thể trông khá khác biệt với nhau. Tuy nhiên, tất cả chúng đều được cấu thành từ cùng bốn động tác căn bản ấy. Hầu hết mọi người gặp khó khăn trong việc nắm bắt điểm này, bởi vì họ tập trung vào những chuyển động vật lý bên ngoài, chứ không phải vào việc những năng lượng phi vật lý đằng sau các chuyển động ấy đang hiển hiện điều gì. Có cả những phương diện hiển lộ lẫn những phương diện che giấu liên quan đến cách mà bốn nguyên lý căn bản được thực hiện trong các bài quyền và trong các ứng dụng. Những phương diện hiển nhiên thì hầu như tự giải thích lấy nó; những yếu tố tiềm ẩn thì liên quan đến việc sử dụng ý, và thường là một phần của những “bí mật” đòi hỏi bạn phải tìm được một bậc cao thủ thái cực quyền sẵn lòng dạy chúng cho mình. Những bậc cao thủ như vậy là những người duy nhất biết thấu đáo các phương diện tiềm ẩn ấy.
Bình Diện Hiển Lộ
Khi nghiên cứu bất kỳ bài quyền thái cực quyền nào ở bình diện hiển nhiên của nó, bạn có thể thử nghiệm và thường xuyên tự tìm ra được năng lượng nào đang được sử dụng, bằng cách để ý xem đôi bàn tay của mình di chuyển như thế nào. Trong Bằng, năng lượng của bạn sẽ trỗi lên từ đôi bàn chân đi lên cơ thể bạn và khuếch trương ra xa khỏi cơ thể bạn khi đôi bàn tay của bạn di chuyển lên trên, rời xa khỏi cơ thể bạn ở bất kỳ góc độ nào, kể cả theo phương thẳng đứng. Trong Lữ, bạn sẽ đang kéo năng lượng từ không khí, từ các đầu ngón tay của bạn xuyên qua cánh tay đến cột sống của bạn, khi đôi bàn tay của bạn rút về phía cơ thể từ một vị thế duỗi ra trong không gian. Trong Tế, điều hoàn toàn đối nghịch với Lữ, đôi bàn tay của bạn di chuyển từ chỗ gần với cơ thể bạn đến chỗ duỗi thẳng về phía trước, khi năng lượng của bạn di chuyển từ cột sống của bạn, xuyên qua cánh tay đến các đầu ngón tay của bạn. Trong Án, vốn là điều đối nghịch với Bằng, bạn di chuyển năng lượng từ đỉnh đầu của mình xuống đến lòng bàn chân của mình, khi đôi bàn tay của bạn di chuyển xuống dưới ở bất kỳ góc độ nào, hoặc là hướng về phía cơ thể bạn hoặc là rời xa khỏi nó, hoặc là thẳng đứng hướng xuống, như trong động tác gọi là Chơi Đàn Lute/Guitar (Play the Lute/Guitar). Tuy nhiên, điều vừa được mô tả ở đây chỉ là phần hiển nhiên về mặt thị giác của câu chuyện mà thôi.
Bình Diện Tiềm Ẩn
Trong các môn nội gia, năng lượng khí được hiển hiện không phải chủ yếu bằng chuyển động của cơ thể, mà thông qua ý và thông qua tâm (xem tr. 75). Nếu một chuyển động muốn có hiệu quả trong chiến đấu, thì phải có một ý trực tiếp về loại sức mạnh mà bạn muốn hiển hiện trong những loại tình huống cụ thể. Giống như tư tưởng đằng sau việc thiết kế một chiếc máy bay ném bom tàng hình hiện đại, lý tưởng trong chiến đấu là không để cho đối thủ của bạn biết rằng bạn đang tới, hoặc, ở mức tối thiểu, là đánh lừa đối thủ của bạn về những kế hoạch và ý định của mình.
Những chuyển động vật lý hiển nhiên tự thân chúng chỉ mang lại sự lừa gạt ở mức tối thiểu. Hầu hết mọi võ sĩ ngoại gia đều đã có kinh nghiệm về việc đôi bàn tay di chuyển lên, xuống, tới và lui, và đều đã phát triển những sách lược để hóa giải và đánh bại những động tác như vậy. Tuy nhiên, họ thường có rất ít hoặc không có chút kinh nghiệm nào trong việc hóa giải những chuyển động năng lượng tinh tế của sức mạnh ngay tại điểm chạm. Những kỹ thuật như vậy có thể không hiện diện trong hệ thống võ thuật riêng biệt của họ.
Trong nhiều động tác thái cực quyền cụ thể, phần công phu về năng lượng rất được che giấu kín đáo. Điều này ít đúng hơn trong phái Trần nguyên thủy so với các phái Dương, Ngô, Hác và phái bài quyền phối hợp. Câu nói sáo rỗng, “mọi sự không phải lúc nào cũng như chúng dường như là thế,” được áp dụng cho một số lượng đáng kể những động tác của võ thuật nội gia.
Những Năng Lượng Tiềm Ẩn: Bằng, Lữ, Tế và Án Được Cài Cắm Bên Trong
Trong một số động tác, khi cánh tay của bạn đang di chuyển hướng xuống, hoặc là hướng về phía cơ thể bạn hoặc là rời xa khỏi nó, năng lượng Bằng có thể được phóng chiếu từ mặt ngoài của cánh tay bạn hướng xuống mặt đất, làm cho một đối thủ bị bật ra khỏi cánh tay của bạn, cũng như đồng thời bị ép xuống phía dưới. Chẳng hạn, trong phái Dương, sự phóng chiếu năng lượng này xảy ra từ bàn tay ở phía dưới trong các động tác Lữ, Lâu Tất (Brush Knee), và Ao Bộ (Twist Step).
Sử dụng năng lượng của Lữ, nhưng không dùng chuyển động vật lý của nó, bạn có thể đang hấp thu năng lượng của đối thủ trong khi đôi bàn tay của bạn đang tiến tới phía trước hoặc đang di chuyển lên trên. Kỹ thuật này đôi khi được gọi là “đánh cắp sức mạnh của đối thủ.” Chẳng hạn, kỹ thuật này được thực thi trong nửa đầu của bàn tay ở phía trên trong thế Bạch Xà Thổ Tín (White Snake Sticks Out Its Tongue), trước khi bạn đâm vào cổ họng của đối thủ trong nửa sau của động tác.
Tác động năng lượng của Tế (Press Forward — ép tới), cũng như của việc đi tới phía trước, cũng hiện diện trong nhiều động tác mà ở đó hai tay đang thu trở về phía thân thể trong một hành động vật lý giống với Lý (Roll Back). Chỉ có điều, ở đây, trong khi bạn đang hấp thu năng lượng bằng các bề mặt âm ở mặt trong của cánh tay, thì bạn lại lần lượt hay đồng thời phóng năng lượng từ khuỷu tay của mình, chạy dọc theo mặt ngoài cánh tay, để tạo thành một đòn đánh bằng khuỷu tay hướng về phía sau.
Năng lượng của Án (Push Downward — ấn xuống) thường được cấy ngầm vào và chủ động tỏa ra dọc theo mặt dưới của cánh tay, trong khi hai bàn tay của bạn đang di chuyển thẳng về phía trước hoặc hướng lên trên. Chẳng hạn, trong hệ phái Dương (Yang), năng lượng tỏa ra này xuất hiện tại hai vị trí rõ rệt (trong số rất nhiều vị trí khác): (1) ở phần cánh tay phía trên của tư thế Quét Đầu Gối Bước Xoay (Brush Knee and Twist Step), khi bàn tay của bạn chuyển về phía trước, và (2) khi hai cánh tay của bạn đang nâng lên và đi tới phía trước trong lúc thực hiện tư thế Án Xuống (Push Downward) cơ bản. Trong tư thế Án Xuống cơ bản của hệ phái Trần (Chen) nguyên thủy, ý nghĩa của nó không bị che giấu đến như vậy, bởi hai bàn tay của bạn thực sự di chuyển xuống dưới, hướng mặt về phía đất ở ngang tầm hông.
Năm: Thải — Kéo Xuống (Tsai)
Động tác này đồng thời kết hợp hai năng lượng âm nguyên thủy là Lý (Roll Back) và Án (Push Downward), theo những cách hiển nhiên, che giấu và cấy ngầm, trong rất nhiều tư thế. Chẳng hạn, Thải (Pull Down) dung hợp hai năng lượng này lại với nhau khi cả hai cùng di chuyển theo một hướng. Bạn vừa nhường nhịn và/hoặc hấp thu lực của người đang tấn công, vừa đồng thời đẩy anh ta đi xuống dưới, từ từ hoặc đột ngột. Loại đột ngột đôi khi được dùng để khiến kẻ tấn công ngã xuống đất, bị chấn thương cổ dạng roi quất (whiplash), hoặc trật khớp. Động tác này được thấy rõ rệt nhất trong tư thế Kéo Xuống (Pull Down) nằm giữa tư thế Đàn Tỳ Bà (Play the Lute) và Kháo Vai (Shoulder Stroke), ngay trước Bạch Hạc Xòe Cánh (White Crane Spreads Its Wings), và trong tư thế Kim Châm Đáy Biển (Needle to the Bottom of the Sea).
Sáu: Liệt — Phân (Lieh)
Liệt (Split) là cái đối lập với Thải (Pull Down). Nó kết hợp hai năng lượng dương nguyên thủy là Bàng (Ward Off) và Tế (Press Forward). Trong động tác này, vốn đòi hỏi phải xoay eo, hai năng lượng dương không nhập lại với nhau mà, trái lại, từ một điểm khởi thủy chung, chúng tách ra và đi theo hai hướng ngược nhau. Điều này tạo ra một sự giải phóng năng lượng khổng lồ, y hệt như một quả bom phát nổ.
Liệt có thể được thực hiện theo hai cách. Hai bàn tay và cánh tay của bạn có thể di chuyển theo những hướng ngược nhau, hoặc một bàn tay có thể đứng yên tại chỗ trong không gian trong khi bàn tay kia kéo về hướng ngược lại. Liệt có thể được thực hiện về phía trước, về phía sau, sang bên hông, hoặc lên trên và xuống dưới. Bạn có thể đang kết hợp hai cái Bàng, hai cái Tế, hoặc một sự phối hợp giữa một Tế và một Bàng. Về mặt hình thức bên ngoài, phương pháp này có thể được nhìn thấy ở động tác hai tay tách ra trong các thế Bạch Hạc Xòe Cánh, Quạt Xuyên Lưng (Fan through the Back) và Đơn Tiên (Single Whip).
TÁM NGUYÊN LÝ CHIẾN ĐẤU CƠ BẢN CỦA THÁI CỰC QUYỀN
Bảy/Tám: Trửu — Đánh Bằng Khuỷu Tay (Jou) / Kháo — Đánh Bằng Vai (Kao)
Cả Trửu (Elbow Stroke) và Kháo (Shoulder Stroke) đều liên hệ trực tiếp và đan quyện vào nhau trong phương pháp luận của con rắn và con hạc trong thái cực quyền.
Theo một trong những truyền thuyết chính, thái cực quyền đã được sáng tạo ra nhờ quan sát một cuộc giao chiến lâu dài giữa một con hạc và một con rắn. Dẫu chuyện này có xảy ra thật hay không, thì nó vẫn là một ẩn dụ mô tả hai quá trình chính yếu mà từ đó mọi ứng dụng chiến đấu của thái cực quyền được kiến tạo. Sáu năng lượng cơ bản đầu tiên (Bàng, Lý, Tế, Án, Thải và Liệt) chủ yếu tập trung vào những ứng dụng chiến đấu kết thúc ở cẳng tay và bàn tay, và được gắn liền với con hạc.
Hai năng lượng cuối cùng, Trửu và Kháo, lại liên quan đến con rắn. Những động tác này sử dụng khuỷu tay và vai theo một cách nào đó. Tuy nhiên, câu chuyện còn nhiều điều hơn là hệ quả hiển nhiên cho rằng bạn đang đánh đối thủ bằng khuỷu tay — như bạn làm trong các môn võ ngoại gia như quyền Thái (Thai boxing) — hay bằng vai, như bạn sẽ làm trong một cú chặn bằng vai trong bóng bầu dục Mỹ.
Trong các bài quyền đơn luyện của những hệ phái thái cực quyền thời sau (Dương, Ngô (Wu), Hác (Hao) và các bài quyền Phối Hợp (Combination Forms)), phần lớn các kỹ thuật dùng khuỷu tay và vai không được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thể. Trong các bài quyền đơn luyện ấy, toàn bộ phổ độ ẩn giấu của các kỹ thuật này quả thực hiện hữu một cách rõ ràng; tuy nhiên, để chúng có thể được thấu hiểu, thì chúng phải được giảng dạy kèm theo những giải thích đầy đủ ở cấp độ của tâm ý. Chỉ trong tập luyện ứng dụng chiến đấu hai người thì toàn bộ phổ độ của các phương pháp dùng khuỷu tay và vai mới có được sự biểu đạt bằng hình thể.
Tình hình trở nên sáng tỏ, tuy nhiên, nếu bạn khảo sát cách cấu trúc các động tác của hệ phái Trần nguyên thủy, nơi mà những gì bị che giấu trong hệ phái Dương lại được bộc lộ ra bên ngoài. Trong hệ phái Trần nguyên thủy, bạn sẽ thấy những động tác khuỷu tay rõ rệt với những sự phóng thích năng lượng hùng mạnh thấy được bằng mắt thường và sự rung lắc của khuỷu tay, cũng như những động tác vòng tròn lớn được xác định rõ ràng của vai, xoay theo mọi hướng. Trong suốt những động tác khuỷu tay và vai biểu hiện ra ngoài này, bạn thường sẽ thấy một bàn tay vốn đang chuyển động rõ rệt bỗng ngừng cái chuyển động lớn của nó lại và lơ lửng trong không gian, vẽ nên một vòng tròn nhỏ xíu đi theo những động tác lớn hơn, được nhấn mạnh hơn của vai hay khuỷu tay. Cũng giống như những chuyển động uốn lượn xảy ra nơi một con rắn, bạn cũng có thể thấy những chuỗi vi động tuôn chảy đầy uy lực xuyên qua một động tác vai rồi đến khuỷu tay rõ ràng hiển lộ, trước khi đạt đến đỉnh điểm trong một kỹ thuật của bàn tay. Trong những biến thể khác, vai, khuỷu tay và bàn tay sẽ cùng chuyển động trong một dòng chảy mượt mà, được nấu chảy vào nhau, hoàn toàn không có khe hở và luôn được nối kết, giống như chuyển động của một con hạc đang vỗ cánh.
Trửu và Kháo liên hệ trực tiếp với Hạc và Xà
Con hạc, vốn tượng trưng cho chuyển động thống nhất, là một hình ảnh thuộc về những kỹ thuật mà ở đó có một đường năng lượng trực tiếp khởi lên từ bàn chân và hạ đan điền, tự hoàn tất chính nó trong một chuyển động gọn sạch duy nhất, đạt đến đỉnh điểm ở bàn tay. Chuyển động này được nói là bắt chước chuyển động của một con hạc đang vỗ cánh để đánh hay chặn cái đầu của con rắn đang tấn công. Con hạc là một loài chim có vẻ duyên dáng phi thường, một nguồn cảm hứng tuyệt đẹp để ngắm nhìn khi nó khoan thai vỗ cánh trong những làn sóng nhịp nhàng, chậm rãi, êm dịu như thôi miên. Nhưng nó cũng có thể đáng sợ. Thật vậy, khi bị kích động, nó vỗ cánh với một tốc độ đến chói mắt.
Khi di chuyển trên mặt đất, một con rắn uốn lượn từng đoạn. Nó cuộn mình lại để tích trữ năng lượng trước khi cắn, và nó cắn rất nhanh, duỗi thẳng mình ra như một cái roi trong lúc làm vậy. Một số loài rắn cũng cuộn mình để phòng vệ, nhằm quấn lấy kẻ tấn công hoặc siết chết con mồi. Trong giai đoạn phòng ngự của thái cực quyền, nếu bàn tay không đủ để làm chệch hướng lực của đối thủ, thì khuỷu tay sẽ gánh lấy phần còn lại, và nếu điều đó cũng thất bại, thì vai sẽ bước vào cuộc chơi. Hoặc là bạn sử dụng những tổ hợp khác nhau của sự gấp lại nhiều lần của hai cánh tay để kéo tứ chi, thân mình, hay cái đầu của đối thủ lại gần và gần hơn nữa với thân thể của bạn.
Trong giai đoạn tấn công của thái cực quyền, sự duỗi ra giống như cái roi của con rắn được biểu đạt trong một chuỗi nối tiếp những chuyển động nhanh như súng liên thanh. Một kỹ thuật vai đang hoàn tất sẽ trở thành một kỹ thuật khuỷu tay, rồi trở thành một cú đánh bằng cẳng tay, rồi trở thành một cú đánh bằng cổ tay và/hoặc bàn tay mở hoặc khép, và sau cùng trở thành một cú thọc bằng ngón tay kết liễu đối phương. Nếu một kỹ thuật không đủ sức hoàn thành công việc, bạn chuyển sang kỹ thuật tiếp theo. Nếu một kỹ thuật bị cản trở một phần hoặc bị hóa giải hoàn toàn, bạn trôi sang kỹ thuật kế tiếp với tốc độ và tính lưu động nhanh chóng, được nối kết liên tục. Phương pháp này cho phép bạn lách quanh và đi vòng qua những đối thủ của mình, những kẻ vào bất kỳ khoảnh khắc nào cũng có thể mang đến một góc chiến đấu đang tranh chấp nhiều lực hơn bạn. Trong giai đoạn tấn công của thái cực quyền, bạn không chống lại sức mạnh ưu thế, mà trôi quanh nó như nước, sử dụng những khớp khác nhau, cho đến khi cơ hội tốt tiếp theo xuất hiện. Chuỗi roi quất uốn lượn của bạn có thể bao gồm một cú đánh, một cú quăng, hoặc một đòn khóa khớp.
Như đã nói, các kỹ thuật của rắn biểu hiện ra ngoài nhiều hơn trong hệ phái Trần nguyên thủy, và được che giấu nhiều hơn trong hệ phái Dương.
Nơi dễ nhất để chứng kiến chuyển động như súng liên thanh này trong các bài quyền của hệ phái Dương hay Ngô là ở chuỗi chuyển tiếp từ Kháo Vai bên phải sang Bạch Hạc Xòe Cánh bên phải. Trong Kháo Vai, bạn hiển nhiên có thể đang đánh ai đó bằng vai của mình, thường là để bẻ gãy xương ức hoặc các xương sườn và/hoặc làm đối thủ mất hơi bằng cách đánh vào đám rối thần kinh mặt trời (solar plexus). Kế tiếp, bạn sẽ đánh vào thân mình của đối thủ bằng khuỷu tay, thường là với một động tác cắt, rồi một cú đánh bằng mu bàn tay và lưng bàn tay (bất cứ đâu từ háng trở lên), và sau cùng là một cú đánh hoặc một cái vỗ bằng ngón tay vào cổ họng, mặt, hay mắt.
Trong một cách dùng cơ bản thứ hai, bạn chui lên dưới thân thể của người đang tấn công, nắm lấy chân phải của anh ta bằng tay trái của bạn (hoặc chân trái của anh ta theo đường chéo qua người, nếu bạn lấy được góc), và dùng vai phải của bạn ép vào thân thể anh ta, vừa tấn công vừa dính chặt. Rồi bạn trượt cánh tay của mình qua cho đến khi bạn có được một điểm bám tốt vào sườn phải của anh ta, phần mềm của eo giữa, các xương sườn, hoặc nách của anh ta. Giờ đây bạn đã ở vào vị thế có thể quăng anh ta đi. Trước khi xoay sang bên trái để hoàn tất Bạch Hạc, trước tiên bạn xoay sang bên phải, bắt đầu nâng khuỷu tay và bàn tay của mình lên. Vào lúc này, bạn kéo cái chân mà mình đang nắm giữ về phía tay trái của bạn (lý tưởng nhất là đồng thời khóa chân trái của anh ta bằng chân phải của bạn, nếu tay trái của bạn đang nắm chân phải của anh ta) và, nhờ sự xoay chuyển của eo và sự nâng lên của khuỷu tay phải, quăng anh ta văng sang bên, về phía bên phải của bạn, theo kiểu như một cú lộn vòng xe bò lên/xuống. Nếu cú quăng này được thực hiện tốt, cả hai bàn chân của anh ta đều sẽ rời khỏi mặt đất. Trên đường rơi xuống, ban đầu sườn của anh ta sẽ hướng mặt về phía đất, tuy nhiên, người ta thường vặn xoắn mình giữa không trung. Anh ta sẽ tiếp đất bằng lưng hoặc bằng mặt, tùy thuộc vào loại mô-men xoắn mà bạn đã áp dụng. Trong suốt toàn bộ quá trình này, bàn tay phải của bạn không hề chạm vào thân mình của anh ta, chỉ có khuỷu tay phải và phần cánh tay trên của bạn mà thôi.
Trong hệ phái Trần nguyên thủy, các động tác khuỷu tay được biểu lộ ra bên ngoài ở hầu như mọi góc độ của một vòng tròn đang xoay: lên, xuống, trái, phải, mọi đường chéo, với khuỷu tay vừa tiến lại gần vừa đi ra xa khỏi thân thể. Ngoài việc phục vụ như những cú đánh đập mạnh và cắt bằng các đầu khuỷu tay, những động tác khuỷu tay này còn là một phần của vô số đòn khóa khớp và khóa khuỷu tay. Những động tác đi ra xa khỏi thân thể theo hướng hướng ra ngoài và hướng xuống phía trước được dùng nhiều hơn, nhưng không phải là độc quyền, để khóa khuỷu tay, đầu gối và khóa (kwa) của đối thủ. Những động tác hướng vào trong được dùng nhiều hơn, nhưng không phải là độc quyền, để khóa cổ tay, mắt cá chân, bàn tay, bàn chân, và đặc biệt là các ngón tay.
Những động tác vai và khuỷu tay được thực hiện cùng với nhau cũng được dùng để quăng người ta ngã xuống bằng lưng, bằng mặt, và bằng sườn, khi mặt trước, mặt bên, hay mặt sau của chính thân thể bạn đang hướng về phía đối thủ. Những cú quăng này có thể xảy ra theo một vài cách. Vai có thể là điểm tiếp xúc cho cú quăng, được hoàn tất nhờ sử dụng phạt kình (fa jin, xem tr. 110) từ vai. Hoặc nếu điểm tiếp xúc dời từ vai sang phần cánh tay trên rồi đến khuỷu tay, thì xung lực cho cú quăng sẽ khởi lên ở vai, nhưng chính cú quăng sẽ được hoàn tất bằng khuỷu tay. Hoặc điểm tiếp xúc của khuỷu tay sẽ phá vỡ sự thăng bằng của người đang tấn công, đẩy anh ta lên các mũi chân. Một khi anh ta đã ở trên không, bàn tay của bạn sẽ nắm lấy anh ta hoặc dính chặt vào anh ta, và với chuyển động vòng tròn của cánh tay, anh ta sẽ được phóng lên và bật ra xa, rời khỏi thân thể của bạn, và cũng có thể là hướng xuống dưới.
Những chuyển động đánh của vai đi theo tất cả các vòng xoay hình số tám của khuỷu tay, và khởi phát từ xương bả vai. Nhất là đối với những cú đánh vào thân mình, và cụ thể là vào tim, các cú đánh bằng vai có thể tạo ra những đòn gây tổn thương nặng nề hơn cả khuỷu tay. Chúng còn đảm nhận một chức năng rất quan trọng khác, đó là phòng vệ chống lại việc bị một người túm lấy và ghì giữ, trong khi một người khác đánh bạn.
Một mục tiêu hàng đầu của những kẻ cướp giật, đô vật, hay những người chuyên khóa khớp là nén ép thân thể của bạn đủ chặt để thân thể và/hoặc tứ chi của bạn không thể cử động được. Về thực chất, chúng muốn trói bạn vào một chiếc áo cưỡng chế, để bạn không còn chút khoảng trống nào để vùng vẫy hay thoát ra. Trong kịch bản tồi tệ nhất, bạn bị một kẻ tấn công giữ chặt, nên bạn không thể tự vệ trong lúc bọn đồng bọn của hắn đánh bạn. Ở đây, những chuyển động của vai được dùng để hóa giải theo ba cách cơ bản.
KWA (KHÓA)
Vùng của cơ thể kéo dài từ các dây chằng bẹn (ingluinal ligaments — ở hai bên trái và phải) xuyên qua mặt trong của khung chậu cho tới phần trên (mào) của xương hông.
Cách thứ nhất là áp dụng sức rung lắc của thái cực quyền (đấu kình, dou jin, xem tr. 96) để phóng lực liên tục ấy ra xa khỏi thân thể của bạn. Nếu bạn bị giữ ở phần thân trên, thì việc có một năng lượng Bàng (Ward Off) mạnh mẽ và đột ngột nơi hai xương bả vai của bạn, ngay trong lúc bạn di chuyển chúng, là điều tất yếu để thành công.
Cách thứ hai là dùng ít Bàng hơn, và mở rộng hai xương bả vai của bạn ra xa khỏi cột sống, khiến cho vai, lưng và các xương sườn của bạn hoặc là uốn tròn về phía trước, hoặc là nở rộng sang hai bên, trong khi lồng ngực của bạn hõm vào. Hành động này làm gia tăng chu vi bề mặt mà đối thủ của bạn đang nắm giữ, qua đó tạo ra ảo giác rằng bạn đang bị ép chặt, trong khi thực ra thì không. Giữ cho chu vi của cánh tay được ổn định, bạn sau đó thu nhỏ thân thể mình lại và tạo ra một khe hở vật lý đầu tiên — một khoảng trống để vùng vẫy — mà nhờ đó bạn có thể xoay xở và tạo ra một góc độ có lợi. Khi bạn kế tiếp thu hẹp chu vi ấy xuống, một khe hở nhỏ thứ hai sẽ được tạo ra. Khe hở thứ hai này sau đó cho phép hai cánh tay của bạn lại cử động được trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, mà nếu bạn đủ nhanh nhẹn, thì đó là tất cả những gì bạn cần để phản công, đầu tiên bằng khuỷu tay và sau đó bằng bàn tay, thường là nhắm vào háng.
Cách thứ ba là dịch chuyển bất cứ bề mặt nào của thân thể mà người đang tấn công đang nắm giữ, bằng một cú xoay vai hay xoay hông, hoặc một chuyển động xoay vòng nhanh, để tạo ra một khe hở của không gian vật lý. Khe hở được tạo ra này ngăn không cho thân thể và/hoặc tứ chi của bạn bị bất động vì sự nén ép, để bạn có thể thoát ra trong khoảng trống hiện hữu giữa lúc hắn vừa chạm vào bạn và lúc cái cầm nắm của hắn đã ổn định và hoàn tất nhiệm vụ của nó. Những chuyển động xoay vai nhanh ở đây cho phép bạn khiến kẻ tấn công dấn thân, và đồng thời cũng cho bạn đủ thời gian để biến mất khi hắn ập tới. Trong nội gia quyền thuật nói chung, khe hở này càng hẹp thì cú phản công càng uy lực và càng hữu hiệu.
Điều đáng ghi nhận là bát quái chưởng (hơn cả hình ý quyền) cũng huấn luyện người tập trong việc sử dụng những kỹ thuật vai và khuỷu tay này. Bát quái chưởng cũng có những khía cạnh kỹ thuật vai và khuỷu tay biểu hiện ra ngoài như của thái cực quyền hệ phái Trần, nhưng với một kho tàng các đòn quăng đồ sộ hơn thái cực quyền. Những khía cạnh huấn luyện vai và khuỷu tay của hình ý quyền lại giống với phương pháp luận ẩn giấu của hệ phái Dương hơn. Về mặt tám kỹ thuật cơ bản của thái cực quyền, thì tất cả đều hiện diện trong cả ba môn võ nội gia, với Lý (Roll Back) được nhấn mạnh hơn trong thái cực quyền, còn Bàng (Ward Off) thì chắc chắn mạnh hơn trong hình ý quyền, và thường cũng mạnh hơn trong bát quái chưởng.
BỐN GIAI ĐOẠN TIẾN TRÌNH ĐỂ HỌC THÁI CỰC QUYỀN NHƯ MỘT MÔN VÕ
Bài dài và bài ngắn
Thoạt tiên, tất cả các bài quyền thái cực quyền đều là bài dài. Hệ phái Trần nguyên thủy có sáu bài quyền, về sau được cô đọng lại còn hai bài theo dòng thời gian. Hệ phái Dương khởi đầu với 128 động tác, rồi sau đó mới có các hệ phái Dương với 108, 88, 66, 37 và 24 động tác. Nói chung, những bài ngắn nhất chỉ bắt đầu xuất hiện sau Thế Chiến II. Có ba thủ tục cơ bản quyết định cách mà mọi bài quyền thoạt tiên được rút ngắn lại: (1) các động tác bị cắt bỏ hoàn toàn; (2) các động tác nguyên thủy được giữ lại trong bài nhưng số lần lặp lại — mỗi lần lặp lại vốn được tính như một động tác riêng biệt — bị giảm bớt; và (3) các động tác được giản hóa để tiết kiệm thì giờ luyện tập. Khi thì giờ rảnh rỗi để luyện tập trở nên ngày càng khan hiếm theo dòng năm tháng, thì áp lực phải giảm bớt và cô đọng đã tạo ra những bài quyền ngày càng ngắn hơn.
Ưu điểm của những bài thái cực quyền dài là chúng tạo ra những nhịp điệu dòng chảy năng lượng bên trong thân thể mà không có ở các bài ngắn. Một bài dài cũng sẽ sinh ra nhiều khí hơn rất nhiều so với cùng một lượng thì giờ luyện tập, so với một số lượng bài ngắn tương đương được tập nối tiếp nhau. Rốt cuộc, các bài dài làm cho cả những phẩm chất chiến đấu lẫn những khía cạnh mang lại sức khỏe của thì giờ luyện khí đều đạt đến tối đa tiềm năng vốn có của chúng. Nhìn từ mặt trái của đồng tiền, những bài được rút ngắn đòi hỏi ít thì giờ luyện tập hơn. Thuộc tính này hấp dẫn những người hiện đại bận rộn, những kẻ có khả năng tập một bài ngắn hơn là một bài dài. Ý kiến chiến đấu khác là, nếu người ta chỉ có thì giờ luyện tập giới hạn, thì tốt hơn là nên tập một số lượng động tác giới hạn cho thật tốt, còn hơn là tập nhiều động tác một cách tầm thường.
Bất cứ bài quyền nào mà bạn chọn để dấn thân vào, hãy cân nhắc những hướng dẫn sau đây cho việc học các khía cạnh chiến đấu của môn nghệ thuật này.
Trái và phải trong luyện tập bài quyền
Các bài thái cực quyền được thực hiện ở cả hai bên phải và bên trái của thân thể, còn hướng thì được quyết định bởi việc bạn thoạt tiên di chuyển từ thế đứng khởi thủy theo hướng nào, mà thế đứng này thường được thực hiện với mặt hướng thẳng về phía trước. Đối với cả bài dài lẫn bài ngắn, từ quan điểm chiến đấu và sức khỏe, người ta cổ điển khuyên nên tập bài quyền của bạn trong ba năm liên tục, trước tiên chỉ ở một bên (chẳng hạn bên phải), trước khi dồn nỗ lực thực sự vào việc học làm điều đó ở bên đối diện. Sau đó, hãy tập bài quyền hai lần bên trái cho mỗi lần bên phải, trong ba năm, điều này được hết sức khuyến nghị để cân bằng hoàn toàn thân thể và tăng cường khả năng sử dụng các ứng dụng chiến đấu như nhau bằng cả hai tay. Thời kỳ ba năm luyện tập này cung cấp sự lặp lại cần thiết để làm cho khí của thân thể được quy phạm hóa và ổn định hóa, cũng như cho sự kéo giãn của các mô mềm. Kế tiếp, hãy dành ba đến bốn năm để tập bài quyền như nhau ở cả hai bên, cho đến khi mọi động tác của bạn trở thành thuận cả hai tay một cách thoải mái.
Giai đoạn 1: Công phu bài quyền (bài dài hoặc bài ngắn)
Đối với những người có lòng tận tụy đủ mạnh để học thái cực quyền như một môn võ thuật, thì bài quyền theo cổ điển được dạy theo một loạt các giai đoạn tiến trình.
1. Người học học từng động tác một cách riêng biệt. Tư thế được truyền dạy sau đó được giữ trong 10 đến 20 phút hoặc hơn, cho đến khi thân thể lắng xuống và bắt đầu học cách hấp thu những thành phần nội tại cơ bản nhất của động tác — sự thư giãn vật lý, những sự sắp xếp nội giới đúng đắn, hơi thở, và sự kéo dài của các mô. Sau đó, bạn học sự chuyển tiếp sang động tác kế tiếp, giữ mỗi điểm giao hội chính của sự chuyển tiếp ấy trong ít nhất 5 phút. Rồi kế tiếp, giữ tư thế tiếp theo trong 10 đến 20 phút, rồi đến từng mảnh của sự chuyển tiếp, v.v., cho đến cuối ít nhất là một phần ba đầu tiên của bài quyền, và lý tưởng nhất là cho đến hết toàn bộ bài quyền.
Ở giai đoạn này, khả năng hình dung hóa các ứng dụng chiến đấu của bạn là mang tính tổng quát; chi tiết ở đây không được đòi hỏi cũng không được ưa chuộng, vì nó có thể làm bạn xao lãng khỏi việc tập trung vào việc nối kết thân thể của mình. Sự tập trung tâm trí của bạn nên hoàn toàn đặt vào việc thư giãn tâm trí, vào việc để cho tâm trí của mình thấm vào, và có thể cảm nhận được bên trong thân thể mình, cùng việc xác định xem những gì bạn đang cảm nhận có thực sự chuyển dịch thành tư thế bên ngoài của bạn hay không. Ở giai đoạn này, các động tác của bài quyền khởi đầu với những thế đứng cao và dần dần tiến lên tới những thế đứng ở độ cao trung bình.
Kế tiếp, bạn kết hợp những động tác riêng biệt lại với nhau thành một toàn bộ hệ thống các động tác bài quyền được nối kết và tuôn chảy. Bạn có thể quyết định bắt đầu kết hợp các động tác tại những chỗ ngắt nghỉ tự nhiên trong bài quyền, chẳng hạn, (a) ở cuối phần thứ nhất, (b) ở cuối đoạn Vân Thủ (Cloud Hands) thứ nhất trong phần thứ hai, (c) ở cuối phần thứ hai, và (d) ngay trước đoạn Vân Thủ thứ hai và thứ ba trong phần thứ ba. Trong khi nối kết các động tác riêng biệt lại với nhau, bạn cũng tập trung vào việc học các nhịp điệu nội tại của bài quyền, nơi mà bạn bên trong tăng tốc hay giảm tốc và nhấn mạnh một số khía cạnh nhất định của nội công trước khi nhấn mạnh những khía cạnh khác. Giờ đây tâm trí của bạn học cách thư giãn trong những chuyển động lưu động — một nhiệm vụ khó khăn.
Bây giờ bạn học cách nhìn thấy và cảm nhận những đối thủ tưởng tượng đang tấn công bạn từ mọi góc độ khác nhau, để có được một trải nghiệm toàn thân về việc thấy và cảm thấy chính mình phòng thủ và phản công như thế nào, chiếu theo những đòi hỏi của các ứng dụng chiến đấu của từng tư thế riêng biệt. Ở giai đoạn này, bài quyền thường được thực hiện với những thế đứng ở độ cao trung bình.
Kế tiếp, có câu hỏi về tốc độ. Bạn nên làm việc ở tốc độ nào? Nói chung, tốc độ của một bài quyền đơn luyện được quyết định bởi nguyên lý không di chuyển quá nhanh cũng không quá chậm. Mỗi cá nhân trong các buổi tập phải tự tìm ra tốc độ thoải mái của riêng mình, một tốc độ không khiến cho họ đánh mất sự nối kết, uy lực, và/hoặc sự nhạy cảm trong các động tác của mình. "Nối kết" nghĩa là tâm trí và chuyển động của bạn ở cùng với nhau, không có sự "đãng trí" và không có cảm giác đứt đoạn giữa tốc độ của tâm trí và của thân thể đang chuyển động. Nếu sự đứt đoạn này xảy ra, thì về thực chất bạn đang làm những chuyển động vô tâm. Nếu chuyển động vô tâm trở thành một thói quen, hoặc thậm chí chỉ xảy ra trong chốc lát, thì nó sẽ tạo ra những khe hở dưới ngưỡng thức tỉnh trong chiến đấu thực sự, mà những khe hở ấy sẽ cho phép một đối thủ đánh bại bạn.
Giờ đây hãy quay lại và học chi tiết hơn từng tư thế riêng biệt của bài quyền, từng mảnh một, cho rõ ràng. Tập trung vào các bề mặt kinh lạc âm và dương của thân thể, nhấn mạnh bốn năng lượng chính là Bàng (peng), Lý (lu), Tế (ji) và Án (an).
Hãy bắt đầu với các tư thế đứng và sau đó chuyển sang tất cả các sự chuyển tiếp của bài quyền.
Ở giai đoạn này, bạn nên bắt đầu học Thôi Thủ (Push Hands, xem tr. 147). Thông qua Thôi Thủ, bạn nhận ra những gì thân thể của mình cần phải cảm nhận và thực hiện, trong lúc bạn dần dần làm cho làn da của mình có khả năng lắng nghe và diễn giải năng lượng của đối thủ.
Giờ đây bạn tưởng tượng cảm giác của không khí giống như một người bạn tập, và bạn lắng nghe những cảm giác của không khí trên làn da và trong tâm trí mình, trong lúc bạn áp dụng Bàng, Lý, Tế và Án vào không khí, cứ như thể nó là một con người bằng xương bằng thịt. Tốc độ của bài quyền thường phải chậm lại một cách đột ngột trong một thời gian, để dành cho bạn thì giờ cảm nhận và ý thức một cách tỉnh táo về những sắc thái tinh tế trong các cảm giác của mình. Giai đoạn này được một số người gọi là "bơi trong không khí", bởi cái cảm giác về năng lượng đang chuyển động trở nên hiện thực đối với thân thể của bạn, y như sức cản tự nhiên của nước đối với một người bơi. Ở giai đoạn này, các thế đứng được thực hiện thấp hơn độ cao trung bình một chút.
Chú thích ảnh: Tác giả (bên phải), trong lúc phòng thủ trước một đòn tấn công, đang biểu diễn một ứng dụng chiến đấu thái cực quyền của tư thế Đơn Tiên (Single Whip). Ông bắt lấy lực của cánh tay đang tấn công và chuyển hướng nó xuyên qua thân thể của mình, để rồi nó thoát ra từ lòng bàn tay của ông, bàn tay đánh vào kẻ tấn công.
Kế tiếp, bạn học lại bài quyền, theo cổ điển được gọi là "sửa bài" trong thái cực quyền, "đi cứng" (hardwiring) từng khía cạnh uy lực của quá trình nội công 16 phần một lúc vào trong các động tác của mình một cách rõ ràng và mạnh mẽ, trước khi cố gắng học và thực thi thành phần nội công kế tiếp. Chẳng hạn, hơi thở đúng đắn (trong cả những chuyển động thô lẫn những chuyển động tinh tế của nó) trước tiên được ổn định hóa trong các động tác của bạn, cho đến khi nó trở nên được "đi cứng" đến mức mang tính tự động, đòi hỏi rất ít hoặc không đòi hỏi chút chú ý có ý thức nào của bạn để làm nó cho đúng. Quá trình này phải được hoàn tất trước khi chuyển sang thành phần nội công tiếp theo (chẳng hạn sự sắp xếp thân thể) để bạn có thể dồn toàn bộ sự chú ý của mình vào thành phần kế tiếp mà không bị choáng ngợp vì phải làm hai việc cùng một lúc. Thủ tục này rốt cuộc cho phép bạn thư giãn vào việc học và tránh được thì giờ lãng phí cùng những sự bực dọc. Tầm quan trọng của việc học tiến trình này với những cao nguyên được ổn định hóa của nó trở nên hiển nhiên khi số lượng các quá trình nội công được thực hiện đồng thời bắt đầu chồng chất lên, và cuối cùng vươn tới con số 16.
Giai đoạn này thường được thực hiện trước tiên bằng cách giữ những tư thế đứng được chọn lọc đặc biệt, từng cái một, trong một thời gian dài (theo cổ điển là tối thiểu một giờ đồng hồ, điều mà nay có thể không còn là một tiêu chuẩn thực tiễn đối với chúng ta). Vào điểm này, các thế đứng dần dần trở nên thấp hơn và thấp hơn nữa. Các tư thế khởi đầu với Bàng, Lý, Tế và Án, vì những lý do hiển nhiên. Rồi đến tư thế âm tiêu biểu nhất của bài quyền, Đàn Tỳ Bà, tư thế kết hợp hoàn toàn Thải (Pull Down), nơi bạn mang trọng lượng về phía sau (nghĩa là toàn bộ trọng lượng cơ thể của bạn đặt trên chân sau). Rồi đến tư thế dương tiêu biểu nhất của bài quyền, Đơn Tiên mang trọng lượng ở chân trước, tư thế kết hợp hoàn toàn Liệt (Split). (Mang trọng lượng ở chân trước nghĩa là 100 phần trăm trọng lượng cơ thể của bạn đang đặt trên chân phía trước.) Sau đó, người hướng dẫn sẽ, nếu cần, dạy và khuyến nghị những tư thế khác để tập ở nhà, được chọn lựa để sửa chữa những khoảng trống về năng lượng trong bài quyền của bạn.
Thành phần nội công của mỗi tư thế tĩnh luôn luôn được kiểm nghiệm bằng hình thể, về cả khả năng hấp thu (âm) lẫn phóng xuất (dương) uy lực của nó. Buổi huấn luyện ban đầu liên quan đến những thành phần nội công được ổn định hóa riêng biệt thường tiến triển theo một trình tự học tập như sau:
1. quá trình thư giãn hòa tan (dissolving relaxation)
2. hơi thở
3. những sự sắp xếp nội giới
4. sự uốn cong và kéo giãn các mô mềm
5. sự thống nhất thân thể và khí của nó
6. những sự vặn xoắn của mô mềm
7. sự mở ra và đóng lại của các khoang cơ thể và các khớp (trong hệ phái Trần; hãy đảo ngược hai yếu tố trước đó đối với hệ phái Dương, nghĩa là, sự mở ra và đóng lại trước, rồi sự vặn xoắn thứ hai)
8. công phu hạ đan điền
9. sự bơm của cột sống
10. các chuyển động của kinh mạch năng lượng
Sau những điều này, phần còn lại của 16 thành phần (xem tr. 62) sẽ được dạy.
Mỗi thành phần nội công riêng biệt trước tiên được ổn định hóa trong các tư thế đứng, và kế tiếp được luyện tập và đối chiếu chéo xuyên suốt toàn bộ bài quyền. Trong giai đoạn cuối cùng của việc ổn định hóa bất cứ yếu tố nội công nào, các thế đứng được thực hiện trong bài quyền sẽ đạt đến độ cao thấp nhất của chúng. Độ cao thấp nhất nghĩa là một tư thế ngồi xổm mà ở đó mông và đầu gối của một người ở ngang cùng một mức. Độ cao này được xem là lý tưởng đối với những người có dáng người nhỏ đến trung bình (với điều kiện là bạn không dễ mắc các vấn đề về đầu gối). Mỗi thành phần nội công riêng biệt được nhấn mạnh riêng trong các tư thế đứng tĩnh hay trong các bài quyền chuyển động cũng được đồng thời trau dồi trong sự huấn luyện Thôi Thủ. Công phu bài quyền và Thôi Thủ củng cố lẫn nhau, cho đến khi tâm trí và thân thể của một người, vốn tham dự vào cả hai, trở thành một.
Nếu bạn nhìn thấy và/hoặc cảm nhận được điều gì đó "mang tính năng lượng" trong bài quyền của mình, thì nó sẽ trực tiếp chuyển dịch vào hệ thống thần kinh của bạn, và bằng hình thể, vào thân thể và đôi bàn tay của bạn. Ở một điểm nào đó của sự luyện tập, bài quyền thường được thực hiện cực kỳ chậm để, như đã nói, "đi cứng" từng thành phần nội công vào thân thể ở dưới ngưỡng thức tỉnh. Một bài quyền dài 20 đến 25 phút được thực hiện chậm thông thường đòi hỏi tối thiểu một giờ đồng hồ, và thường là nhiều hơn rất nhiều. Điều này cũng cho phép tâm trí của người tập bắt đầu tự do và trọn vẹn hình dung hóa những sắc thái tinh tế của việc áp dụng các động tác bài quyền vào những ứng dụng chiến đấu.
7. Sau giai đoạn này, bài quyền nên đi theo một phong cách tiến hóa tự nhiên xuyên suốt những thập niên của cuộc đời người tập. Nói chung, các thế đứng được thực hiện ở độ cao lớn hơn những thế đứng thấp đã được tập khi các yếu tố nội công đang được ổn định hóa. Khi bạn bắt đầu các bài tập đối kháng hai người, bạn bước vào một sự tác động qua lại, sử dụng bài quyền để ở dưới ngưỡng thức tỉnh làm cho thân thể của bạn có thể giải phóng mọi sự kháng cự (về tâm lý và thần kinh), hướng tới tính lưu động cần thiết để tuôn chảy từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác. Nếu mối quan tâm chính của bạn là mặt chiến đấu chứ không phải mặt sức khỏe hay thiền định của thái cực quyền, thì giờ đây bạn sẽ có khuynh hướng tập bài quyền với ba điều trong tâm trí.
1. Bạn sẽ tập trung vào những tổ hợp đang tiến hóa đặc thù của công phu nội công, để tăng cường uy lực cho các ứng dụng của mình.
2. Bạn sẽ dùng bài quyền như một công cụ chính yếu để sửa chữa bất cứ thiếu sót nào đã trở nên hiển nhiên từ những bài học rút ra được trong đối kháng hay trong những cuộc tỉ thí thực sự.
3. Bạn sẽ luyện tập mà không có một ý nghĩ nào về các ứng dụng chiến đấu, giải phóng mọi căng thẳng trong tâm trí mình cho đến khi nó trở nên trống không và tĩnh lặng, đánh mất mọi cảm thức về quá khứ và tương lai và ở lại trong khoảnh khắc hiện tại. Trong trạng thái này, bạn sẽ có thể tiêu hóa và hội nhập một cách trọn vẹn các ứng dụng chiến đấu của mình, để rốt cuộc cho phép chúng trở nên không gắng sức và tự nhiên.
Giai đoạn 2: Thôi thủ (Push Hands)
Thôi Thủ, trong tiếng Hoa gọi là tui shou, là vùng trung gian giữa công phu bài quyền và chiến đấu. Thôi Thủ không phải là bản thân sự chiến đấu, mà là một bài tập hai người, phát triển hầu hết các kỹ năng và các loại uy lực mà người tập sẽ cần đến trong chiến đấu, cả với tay không lẫn với binh khí. Vì thế, sự luyện tập Thôi Thủ được thực hiện với tay không, cũng như với cây sào, ngọn thương, và thanh kiếm thẳng hai lưỡi. Thông thường, bạn học làm Thôi Thủ với tay không trước khi làm nó với binh khí.
THÔI THỦ (PUSH HANDS / TUI SHOU)
Một bài tập hai người, mà trong các hệ phái Dương, Ngô và Phối Hợp, hai người bạn tập cố gắng làm mất thăng bằng, hay "đẩy" lẫn nhau, hoặc phòng thủ chống lại những hành động ấy, trong khi hai cánh tay hay hai bàn tay của họ vẫn duy trì sự tiếp xúc liên tục, và di chuyển theo nhiều cách khác nhau. Trong hệ phái Trần và trong những sự luyện tập cao cấp hơn của các hệ phái khác, người ta có thể thêm vào hỗn hợp này những đòn khóa khớp hay quăng ngã.
Những mục tiêu của Thôi Thủ là:
1. Duy trì sự tiếp xúc liên tục với hai cánh tay của đối thủ, cho đến khi một trong hai người phóng thích một cách rõ rệt hoặc làm mất thăng bằng hoàn toàn người kia.
2. Kiểm soát sự hung hăng của chính mình và của người khác, bằng cách vượt qua sự cứng lại mang tính bản năng con vật của các bắp thịt, vốn gắn liền với nhu cầu cạnh tranh muốn chiến thắng.
3. Học cách thư giãn dưới áp lực.
4. Hóa giải uy lực và tốc độ của đối thủ, và dùng nó vào lợi thế của mình.
5. Có khả năng duy trì sự bình tĩnh, định tâm, và cảnh giác khi đối mặt với sự hung hăng cực độ về thể lý hay tinh thần, sự lừa gạt, hay bất cứ thái độ nào khác có khả năng làm mất ổn định.
6. Có khả năng chuyển đổi tức thời từ phòng thủ sang tấn công mà không bị đóng băng, trong đó một nửa của chuyển động là phòng thủ và nửa kia là tấn công, với cùng một bàn tay hoặc với hai bàn tay đối nghịch.
7. Có khả năng dịch chuyển tức thời qua lại giữa năng lượng nội tại cứng và mềm, một cách không có khe hở.
Những phương tiện để đạt được các mục tiêu của Thôi Thủ
Thôi Thủ có một vài điểm nhấn bên trong các phương pháp vật lý của nó, cho phép người tập đạt được các mục tiêu của Thôi Thủ. Đó là:
1. Những kỹ thuật cung cấp khả năng dính chặt vào cánh tay, chân, và thân thể của đối thủ (xem tr. 132).
2. Những phương pháp để phát triển khả năng làm cho tứ chi, eo và cột sống của bạn di chuyển theo một cách thức được hội nhập, phối hợp và thống nhất, thỏa mãn lời răn dạy của các Kinh Điển Thái Cực Quyền: "Một bộ phận động, mọi bộ phận đều động. Một bộ phận dừng, mọi bộ phận đều dừng."
Chú thích ảnh: Một loại thế đứng cơ bản được dùng trong cả Thôi Thủ đơn và Thôi Thủ kép. Hãy lưu ý rằng hai bàn chân trước đối nghịch của hai đối thủ hướng mặt vào nhau (nghĩa là bàn chân trước bên trái của người này hướng mặt vào bàn chân trước bên phải của người kia). Ở đây, tác giả đang tập với sư phụ của mình, Cao thủ hệ phái Trần Phùng Chí Cường (Feng Zhi Qiang). Bắc Kinh, Trung Quốc, 1985.
3. Sự huấn luyện độ nhạy bén (sensitivity), phát triển khả năng để bạn cảm nhận, ngay trên bề mặt làn da của mình, việc đối thủ của bạn đang di chuyển như thế nào. Độ nhạy bén vật lý này, một khi đã được khơi dậy trong làn da của bạn, có thể thăng tiến lên độ nhạy bén lớn hơn của việc có thể lắng nghe ý đồ tinh thần và cảm xúc, trạng thái tâm linh, uy lực vật lý, và năng lượng của đối thủ. Rồi sau đó bạn có thể dùng sự hiểu biết này để diễn giải tức thời những gì mà các đối thủ sắp sửa làm ngay từ những sự cựa quậy nhỏ nhặt nhất của họ. Rốt cuộc, bạn thậm chí có thể tiên đoán các động tác của họ trước khi chúng xảy ra. Trong tiếng Hoa, độ nhạy bén này được gọi là thính kình (ting jin), hay "uy lực lắng nghe".
4. Sự huấn luyện về các mức độ của lực. Thoạt tiên, cả hai người bạn tập đều làm Thôi Thủ một cách nhẹ nhàng, không sử dụng nội lực. Một khi sự phối hợp vật lý cơ bản đã được thiết lập, cả hai sẽ dần dần gia tăng lượng nội lực được sử dụng.
5. Sự phát triển của:
a. Cắm rễ (root), khả năng hấp thu uy lực vào thân thể của bạn, xuyên qua nó, và sau đó phóng nó xuống đất. Năng lực cắm rễ làm cho bạn có thể đứng yên tại chỗ và không bị một kẻ hung hăng làm cho di chuyển về mặt vật lý.
b. Sự tăng cường năng lượng. Làm cho các năng lượng của Bàng, Lý, Tế, và Án trở nên uy lực hơn, từng cái một.
c. Phạt kình (fa jin), hay khả năng phóng năng lượng và uy lực vật lý ra từ thân thể của bạn.
6. Sự tu dưỡng nhiều loại nội lực khác trong thái cực quyền, ngoài tám loại đã được khảo sát trong chương này. Chúng bao gồm rung lắc, rung động (xem tr. 96), khoan, tán, chấn kinh, thấu nhập, phóng xuất, chuyển hóa, ẩn và tái hiện, tĩnh mặc, v.v. Những nội lực này thường được dạy thông qua Thôi Thủ, trong đó người thầy làm chúng cho học trò, để học trò cảm nhận chúng trước tiên một cách nhẹ nhàng, rồi sau đó mới thô bạo hơn. Dần dần, học trò được dẫn dắt cho đến khi họ có thể tự mình biểu hiện những năng lượng này, trong cả công phu bài quyền lẫn Thôi Thủ.
7. Sự phát triển những giai đoạn cao cấp của uy lực thái cực quyền. Điều này được thực hiện theo ba bước tiến trình:
a. Uy lực được huấn luyện để di chuyển theo một hướng tổng quát, không có sự nhắm mục tiêu chính xác nào.
b. Uy lực được huấn luyện để di chuyển một cách đặc thù trên một đường thẳng từ đan điền hoặc từ bàn chân tới điểm tiếp xúc của làn da.
c. Uy lực được huấn luyện để biểu hiện ngay trực tiếp tại điểm tiếp xúc với các đối thủ, hoàn toàn không có sự báo trước nào. Đây là điều khó nhất để tinh thông. Tất cả những kỹ năng này sẽ là thiết yếu khi bạn chuyển sang chiến đấu thực sự. Nếu không có điểm lực (point power), thì hầu như không thể đánh bại những đối thủ lão luyện (đặc biệt là những kẻ biểu hiện ý đồ cực kỳ bạo liệt) bằng cách phóng uy lực vào họ mà không gây ra chấn thương hay đau đớn.
THÍNH KÌNH (TING JIN)
Khả năng lắng nghe và diễn giải năng lượng của người khác trong thái cực quyền.
MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA CÁC MÔN VÕ THUẬT
Tập đứng và huấn luyện sức mạnh cơ bản — Học cách tự mình luyện tập
Một điều thiết yếu để đạt được sự xuất sắc thực sự trong nội gia quyền thuật là khả năng tự mình luyện tập trong những thời kỳ dài. Chính trong những buổi luyện tập đơn độc ấy mà bạn vừa tìm thấy những nguồn cội chân thực của sức mạnh nội tại nơi mình, vừa khám phá ra và sửa chữa những điểm yếu nguy hiểm nhất của mình. Tập khí công đứng (standing chi gung) có thể là một ông thầy nghiêm khắc, có năng lực làm cho một cá nhân trực tiếp cảm nhận và làm việc với năng lượng của cơ thể. Khả năng cảm nhận và điều chỉnh bên trong thân thể trong lúc di chuyển bên ngoài ở những tốc độ cao, cả trong chiến đấu lẫn trong các bài quyền đơn luyện, là một thành phần thiết yếu cho sự thành công trong cả mặt chiến đấu lẫn mặt phát triển khí của tất cả các môn võ nội gia.
Tập đứng mang một giá trị đặc biệt cho những ai không có sự tiếp cận thường xuyên với một người thầy nội gia quyền thuật, người có thể sửa chữa những bước ngoặt sai lầm trong tiến trình phát triển khí. Hành động giản đơn của việc luyện tập và "đi vào bên trong" có thể dần dần làm cho bạn có thể tin tưởng vào những cảm giác của mình, không phải từ sự suy nghĩ ước vọng, mà từ một nền tảng vững chắc của việc biết một cách ruột gan cái địa hình nội giới của mình. Khả năng cảm nhận bên trong, vốn dễ dàng đạt được nhất thông qua sự luyện tập đứng tập trung, là con đường tốt nhất để cho phép hệ thống nội công 16 phần của Đạo gia vươn tới toàn bộ tiềm năng của nó trong võ thuật.
Sự luyện tập đứng cũng phát triển một năng lực đã được bám rễ để tự mình tạo động lực và theo đuổi đến cùng những ý đồ của mình, mà không cần đến sự hỗ trợ vật lý, tinh thần, hay cảm xúc của người khác để giữ cho bạn tiếp tục tiến bước trong những lúc gian nan. Trong vòng hai năm kể từ khi bắt đầu tập đứng, đã có những dịp tôi tập đứng không nghỉ, liên tục lên tới sáu tiếng đồng hồ. Tôi tự coi mình là may mắn đã có thì giờ rảnh rỗi để làm được như vậy. Thì giờ cho loại luyện tập này rất khó kiếm được sau những năm tháng đại học tương đối vô tư của một người.
Vào cuối thập niên 1960, không phải là việc dễ dàng gì để tìm một chỗ yên tĩnh để luyện tập ở vùng trung tâm Tokyo, nơi mà bạn sẽ không làm phiền người khác cũng như không bị người khác làm phiền. Căn hộ nhỏ xíu của tôi ở Tokyo làm cho việc luyện tập trong nhà trở nên bất tiện phần lớn thì giờ. Tôi thường bắt đầu tập sau 10 giờ tối. Khi trời khô ráo, chỗ ưa thích của tôi, nơi sự riêng tư được bảo đảm, đòi hỏi tôi phải trèo qua những cánh cổng đã khóa để vào được một mái nhà, hoặc trèo qua một bức tường để tập trên nền đất trong một nghĩa trang nhỏ có tường bao quanh. Lựa chọn mà tôi ít muốn nhất là trên mặt đường nhựa trước một tòa nhà công cộng lớn, gần trụ sở môn aikido ở bên kia đường, đối diện với nơi tôi sống.
Tập đứng và huấn luyện sức mạnh cơ bản — Học cách tự mình luyện tập, tiếp theo
Sau khi quyết định nghiêm túc tập khí công đứng, tôi đã dành khoảng hai tháng chỉ tập trung thuần túy vào việc tập đứng, trước khi làm bất cứ bài tập sức mạnh cơ bản nào khác. Trong bất cứ buổi tập nào, chỉ sau khi đã đứng trong một thời gian dài, tôi mới bắt đầu tập trung vào việc thực hiện một bộ những động tác huấn luyện sức mạnh cơ bản đặc thù (trong tiếng Hoa gọi là cơ bản công — ji ben gung, xem tr. 84). Khi được thực hiện theo cách của võ thuật, giai đoạn thứ nhất của việc tập đứng giải quyết hai điều: duy trì những sự sắp xếp đúng đắn của thân thể, và để cho toàn bộ sức mạnh và căng thẳng của bạn rơi tuột xuống khỏi thân thể. Giai đoạn kế tiếp, điều mà tôi học được nhiều năm sau, liên quan đến việc hòa tan tất cả những sự tắc nghẽn năng lượng của bạn.
Ngay cả trong tư thế đứng trung tính cơ bản nhất, nơi hai bàn tay của bạn đặt ở bên sườn,* thì sớm hay muộn mọi bộ phận của thân thể bạn cũng có thể sẽ nhức mỏi, khi bạn tự mình trải nghiệm những sự căng thẳng theo thói quen và những năng lượng bị tắc nghẽn của chính mình. Thông thường, trong lúc tập đứng, không khí có thể tạo cảm giác như một sức nặng không thể tin nổi đang đè lên hai cánh tay của bạn. Khi khí của bạn mở ra và làm sạch năng lượng bị tắc nghẽn trong các kinh mạch của bạn, thì cơn đau biến mất, và mức năng lượng, cảm thức an lạc về thể lý, cùng nội lực của bạn đều đồng loạt thăng tiến một cách ngoạn mục. Nếu bạn thực hiện một tư thế đứng với hai tay giơ lên, thì tay bạn được giơ lên cao và lâu đến đâu, những lợi ích sẽ gia tăng đến đó. Tuy nhiên, việc đứng trong những thời gian kéo dài đòi hỏi phải được theo dõi cẩn thận bởi một người thầy có đủ phẩm cách.
Đối với hầu hết mọi người, việc giải phóng năng lượng bị tắc nghẽn ở hông và chân thì khó khăn hơn rất nhiều so với việc giải phóng năng lượng bị tắc nghẽn ở thân mình và cánh tay. Bất kể vai của bạn có đau nhức đến đâu, thì hai chân của bạn vẫn sẽ đau hơn. Hai chân có thể run rẩy và rung động trong những khoảng thời gian dài ngắn khác nhau, và sẽ không chấm dứt cho đến khi những sự căng thẳng của bạn được giải phóng, các kinh mạch năng lượng của bạn mở ra, và khí của bạn rốt cuộc tuột xuống hai chân để nối kết với mặt đất. Tuy nhiên, một khi cái rễ năng lượng của bạn đã được nối kết hoàn toàn, thì mọi sự run rẩy đều chấm dứt. Nó được thay thế bằng một cảm thức hoàn toàn thoải mái ở bên trong toàn thể thân thể của bạn, nằm ở bên dưới làn da của bạn.**
Chỉ sau khi tôi bắt đầu thực hiện những phương pháp huấn luyện sức mạnh cơ bản có chuyển động, được gọi là "Vân Thủ" (Cloud Hands) và "Ba Cái Lắc" (Three Swings),† thì quá trình có thể duy trì những sự sắp xếp nội giới của mình mới thực sự bắt đầu. Trong mọi môn thể thao và võ thuật, việc duy trì những sự sắp xếp cơ sinh học tốt thì khó khăn hơn nhiều khi bạn đang ở trong trạng thái chuyển động, so với khi bạn đang đứng yên. Việc duy trì những sự sắp xếp trong lúc chuyển động đòi hỏi sự nối kết và hội nhập dần dần của hai cánh tay và hai chân với hông và cột sống. Tuy nhiên, cũng như trong tập đứng, phần khó nhất vẫn là hội nhập hai chân.
* Phương pháp Ý Quyền (I Chuan) bao gồm tám tư thế tay để giữ hai cánh tay trong không gian, trong khi phương pháp Đạo gia nguyên thủy, hoàn bị hơn, bao gồm 200 tư thế đứng.
** Chính hiện tượng này cũng thường xảy ra trong các tư thế thái cực quyền tĩnh, cũng như trong Tam Thể (San Ti) của hình ý quyền (xem tr. 190).
† Chú thích của người biên tập: Những hướng dẫn để thực hiện các động tác Vân Thủ và Ba Cái Lắc có thể được tìm thấy trong Opening the Energy Gates of Your Body của B. K. Frantzis (North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993).
Tập đứng và huấn luyện sức mạnh cơ bản — Học cách tự mình luyện tập, tiếp theo
Tôi vẫn còn nhớ quá trình của chính mình trong việc học làm Vân Thủ, trước khi thân thể tôi được hội nhập. Nhiều năm sau, tôi đã có thể di chuyển theo một cách thức phối hợp cao độ và thư giãn, xoay hông của mình hơn 90 độ sang bên một cách đáng kể, và có thể duy trì những thế đứng thấp được sắp xếp hoàn toàn, với mông ở gần ngang đầu gối. Thế nhưng khi mới bắt đầu, thì hoàn toàn là một câu chuyện khác. Tôi không thể hạ thấp hơn 7 hay 10 phân (3–4 inches) so với chiều cao đứng của mình, cũng không thể xoay hông quá 15 độ, mà không phá vỡ tất cả những sự sắp xếp của mình. Điều mà tôi biết là phải làm, và đã cố làm, là, ngay trong lúc đang chuyển động, hơn kém duy trì cả những sự sắp xếp lẫn mức độ của những cảm giác nội tại và khí mà tôi đã duy trì được trong lúc tập đứng. Tôi chỉ di chuyển một phân (inch) rồi lại nghĩ, "ồ, thế là mất sự sắp xếp rồi." Hoặc là, "Tôi có thể cảm thấy sự sắp xếp đã sẵn sàng để ra đi." Hoặc là, "Tôi có thể cảm thấy bộ phận này hay bộ phận kia ít đi, hoặc hoàn toàn không còn cảm thấy nó nữa." Vào điểm này, mỗi một chút kém nhẫn nại bên trong tôi đều gào thét lên: "Đồ nhát gan! Cứ chuyển động thêm một chút nữa đi, anh chưa phải là một ông già!" Thế nhưng, thay vào đó, tôi lại ngừng di chuyển theo hướng mình đang đi, đảo ngược hướng, và thành thật cố gắng thực hiện động tác ấy ở bên đối diện; bất luận đó là Vân Thủ hay là bất cứ cái nào trong Ba Cái Lắc. Nếu tôi cảm thấy mức độ căng thẳng nội tại của mình sắp sửa tăng lên, thì thay vì gia tăng phạm vi chuyển động và đẩy mình xuyên qua sự căng thẳng, sự cứng đờ, hay cơn đau, tôi lại giảm phạm vi chuyển động của mình xuống, cho đến khi thân thể tôi lại cảm thấy được tái sắp xếp và hội nhập.
Điều khó nhất đối với tôi, và đối với hầu hết những người tôi đã gặp, là những sự sắp xếp của chân và việc làm cho năng lượng tuột từ hông xuống qua hai chân vào hai bàn chân, để tạo thành một cái rễ. Từ toàn bộ sự huấn luyện karate và judo của mình, và từ tất cả công việc rèn luyện thể lực (hít đất, ngồi xổm sâu, các bài tập căng cơ, v.v.), các bắp thịt của tôi đều căng cứng. Để đạt tới điểm mà tôi có thể di chuyển hông và chân của mình thậm chí chỉ một phân (inch) trong phạm vi chuyển động tiềm năng của chúng mà không bị căng lên, đã đòi hỏi nhiều tuần lễ. Tôi đã mất chín tháng luyện tập nhiều giờ mỗi ngày chỉ để có thể duy trì sự ổn định của những sự sắp xếp nội giới của mình. Khi quá trình này mở rộng và hội nhập vào bài thái cực quyền của tôi, tôi bắt đầu di chuyển chậm hơn và chậm hơn một cách ngoạn mục. Tôi đã phải có thể cảm nhận những sắc thái tinh tế của việc, trong lúc giải phóng sức mạnh và sự căng thẳng của mình, những sự sắp xếp của tôi hoặc là bị phá vỡ, hoặc là được duy trì, trong từng động tác một, không sót một động tác nào.
Tập đứng và huấn luyện sức mạnh cơ bản — Học cách tự mình luyện tập, tiếp theo
Bằng cách đi theo chế độ luyện tập không khoan nhượng này tháng này qua tháng khác, các động tác của tôi dần dần trở nên ngày càng thoát khỏi căng thẳng; thực ra, tôi đã trở nên hoàn toàn lưu động. Rốt cuộc, việc hoàn tất một lượt thái cực quyền đơn thuần chiếm mất của tôi từ một đến hai tiếng đồng hồ. Kết quả là tôi đã thủ đắc được một cái rễ và những sự nối kết nội tại mạnh mẽ hơn đáng kể so với điều mà tôi đã có thể đạt được nếu chỉ làm mỗi bài quyền trong nhiều năm.
Quá trình cơ bản là giải phóng, làm mềm, và hội nhập không khe hở sáu sự kết hợp của thân thể (hông với vai, khuỷu tay với đầu gối, và bàn tay với bàn chân). Rồi sau đó, chỉ sau khi xác định rằng những bước trước đó đã được hoàn tất một cách thành thật (nghĩa là, đã được "đi cứng vào") chứ không chỉ làm nửa vời, thì mới gia tăng phạm vi chuyển động lên theo những mức tăng nhỏ nhất, thường là nhỏ hơn một milimét.
Những lợi ích của huấn luyện sức mạnh cơ bản và tập đứng
Điều mà tôi đạt được ngay tức khắc từ mỗi ngày tập đứng là một con đường cụ thể để thực sự đi vào bên trong chính mình và tìm ra cách mà thân thể và khí của tôi làm việc từ trong ra ngoài. Mặc dù sự tập trung mãnh liệt ban đầu này vào việc tập đứng về sau đã dịch chuyển và mở rộng, thì trong hơn mười lăm năm, khí công đứng vẫn là một phần cơ bản trong sự luyện tập cá nhân của tôi.* Công sức vất vả mà nó đòi hỏi đã được biện minh một cách thừa thãi bởi những phần thưởng nhiều mặt của nó.
Ngoài việc làm cho tôi khỏe mạnh và tràn đầy năng lượng, phương pháp phát triển khí này còn trực tiếp củng cố cả karate lẫn aikido của tôi. Trong aikido, độ nhạy bén của tôi liên quan đến việc làm việc với ki đã thăng tiến một cách triệt để. Sự mềm mại của tôi đang gia tăng mau lẹ hơn bao giờ hết so với sự luyện tập aikido của mình, cả ở Hoa Kỳ lẫn trong lúc tập luyện với O-Sensei Ueshiba ở Nhật Bản. Trước khi tôi tập đứng, những động tác xoay hông và tốc độ của đôi bàn tay trong karate của tôi chưa bao giờ là rất nhanh. Tôi chủ yếu là một người đá và người quăng, chứ không phải là một người đấm. Công phu khí đã tạo ra một sự khác biệt triệt để. Khi các dây thần kinh của tôi được giải phóng và thư giãn, hai bàn tay của tôi bắt đầu di chuyển nhanh chóng, lần đầu tiên trong đời tôi. Những cú đánh bằng tay của tôi cũng trở nên uy lực hơn rất nhiều, như một hệ quả của việc hai chân bắt đầu cắm rễ, hông trở nên lỏng lẻo và lưu động hơn nhiều, cùng khả năng ngày càng gia tăng của khí trong việc chìm xuống.
* Chẳng hạn, tôi cũng đã làm công phu tập đứng với Vương Thư Kim (Wang Shu Jin, một học trò của Vương Hương Trai), với Hàn Tinh Viên (Han Hsing Yuan, một đệ tử của Vương Hương Trai), và với Hoàng Hy Di (Huang Hsi I), tất cả đều là thêm vào cái vô số giờ dài đằng đẵng tự mình luyện tập.
Tập đứng và huấn luyện sức mạnh cơ bản — Học cách tự mình luyện tập, tiếp theo
Điều này đã gia tăng tốc độ và uy lực nơi hai cánh tay của tôi, và thay đổi phong cách chiến đấu của tôi từ một phong cách chủ yếu dựa vào những cú đá, thành một phong cách là sự pha trộn cân bằng giữa các cú đấm và các cú đá. Sự cắm rễ và tính lưu động mới được thủ đắc ở hông cũng cải thiện một cách ngoạn mục tốc độ, thời điểm, và uy lực của những cú đá của tôi, đặc biệt là trong những cú đá trước, đá ngang, và đá vòng cầu.
Những chấn thương gây ra bởi cả sự luyện tập judo lẫn đối kháng tích cực của tôi là một sự phiền toái thường trực (như nó vẫn là đối với hầu như mọi vận động viên thi đấu và thể thao có tiếp xúc). Tập đứng đã vô cùng hữu ích trong việc chữa lành những chấn thương này. Trước kia, nếu bị thương, tôi có thể đã phải cắn răng chịu đựng, sống trong đau đớn suốt nhiều tuần lễ, và cứ thế mà tiếp tục. Những sự luyện tập khí công đứng đã cho tôi một công cụ trước đây không có sẵn, để loại bỏ năng lượng bị tắc nghẽn bên trong những chấn thương. Điều này thường làm cho tôi có thể bình phục trong một phần tư thời gian mà thông thường nó đã phải mất, để rồi tôi lại thoát khỏi đau đớn và hoàn toàn cử động được như cũ.
Theo dòng thời gian, khi những hạt giống từ sự luyện tập lớn lên, và khi cả sự phối hợp nội giới lẫn ngoại giới của tôi được cải thiện, thì hiển nhiên là một cơ sở hạ tầng nội tại đang bám rễ. Từ tuổi dậy thì, tôi luôn luôn cảm thấy cực kỳ vụng về, bất kể người khác nghĩ tôi di chuyển tốt đến đâu. Giờ đây điều đó đã thay đổi, khi toàn bộ hệ thần kinh của tôi được chuyển hóa từng tháng một.
Tôi có thể cảm thấy hai cánh tay và hai chân của mình đang nối vào cột sống theo một cách liền mạch, không đứt đoạn. Chẳng bao lâu sau, từng chút một, tôi bắt đầu cảm nhận được những cảm giác của khí ở mọi nơi trong thân thể mình. Một thời gian sau đó, tôi bắt đầu cảm nhận một cách cụ thể chuyển động của khí tỏa ra từ hạ đan điền của mình, và cảm thấy nó thực sự đang trở thành động lực thúc đẩy đứng đằng sau chuyển động của tứ chi và hông của tôi.
Nền móng của khí công đứng, được đặt để trong hai năm đầu tiên ấy, đã hình thành cái nền tảng vững chắc cho tất cả công phu khí và chuyển động mà tôi đã phải làm trong nhiều thập niên tiếp theo trong nội gia quyền thuật. Tiềm năng này đã được hoàn tất trong mười lăm năm tiếp theo thông qua việc học những chi tiết của hệ thống nội công 16 phần, điều đã làm phong phú thêm và đưa đến sự thành tựu lời hứa hẹn của khí. Tất cả những người luyện nội gia quyền thuật có thành tựu mà tôi đã gặp đều có cái "điều gì đó đầu tiên" ấy, điều đã làm cho những sự luyện tập nội tại trở nên rất thực và tức thời đối với họ; đối với tôi, đó là khí công đứng. Sự thành công và những năng lực tiếp theo sau của tôi, cùng khả năng kiên trì đối mặt với muôn vàn trở ngại, cả trong việc học lẫn trong luyện tập, đều được xây dựng trên nền tảng vững chắc này. Khả năng "đi vào bên trong" này đã được mang xuyên suốt trong tất cả những sự huấn luyện nội gia quyền thuật khác của tôi, và là điều sống còn cho sự thấu hiểu tương lai của tôi về bát quái chưởng và thiền định Đạo gia.
8. Tập tốc độ. Loại hình tập luyện này sử dụng cả nhịp điệu đều đặn lẫn nhịp điệu đứt đoạn. Sự tinh thông về tốc độ cho phép bạn thay đổi các kỹ thuật một cách nhanh chóng và trôi chảy, không có những cạnh cứng hay khe hở nào mà một đối thủ có thể cảm nhận được và lợi dụng thành cơ hội để tấn công.
9. Trao quyền cho những phần khác nhau của cơ thể để làm trục trung tâm của các chuyển động nội lực. Những trục này thường được hình thành sâu trong bụng và đòi hỏi khả năng mở ra và khép lại từng phân vuông của khoang bụng với tốc độ và sự trôi chảy, trong khi di chuyển một quả cầu năng lượng thực sự không thể giam giữ được bên trong bụng của bạn. Khi được định thời đúng, những hành động này cho phép bạn phóng ra và hấp thụ lực từ bụng và tứ chi theo những cách không thể phát hiện được, dường như là điều không thể.
10. Nối dây bất cứ kỹ năng nội tại nào bạn học trong Thôi Thủ trực tiếp vào công việc bài quyền của mình. Quá trình này đòi hỏi bạn gia tăng khả năng lĩnh hội, cảm nhận và tưởng tượng cách mình sẽ chuyển năng lượng bên trong và bên ngoài bằng ý của mình trong khi đang tập bài. Chiều kích này liên tục thêm sức sống và sự sống động cho công việc bài quyền khi những năm tháng tập luyện trôi qua.
Các Loại Thôi Thủ
Có bốn phong cách Thôi Thủ cơ bản: một tay, hai tay, đại lã, và tự do bộ pháp. Tất cả đều thực hiện những chức năng khác nhau cho sự phát triển võ thuật, và tất cả trước tiên đều được thực hiện với những phương pháp cố định, sau khi học trò đạt được năng lực, sẽ tiến tới những phương pháp tự do. Tất cả các phương pháp Thôi Thủ ban đầu được thực hiện ở tốc độ khá chậm, với cột sống thẳng, hoặc thẳng đứng hoặc nghiêng về phía trước ở một góc 45 độ. Dần dần, sự thực hành này tiến hóa thành một thứ trong đó cơ thể dao động giữa việc cột sống được giữ thẳng và cột sống uốn cong sang bên hay ngả về phía sau hoặc phía trước. Những chuyển động có thể trở nên cực kỳ nhanh ở những cấp độ cao cấp.
Các Phương Pháp Cố Định và Tự Do
Những phương pháp cố định của Thôi Thủ quy định chính xác cách mỗi người tập sẽ di chuyển hay không di chuyển tay và/hoặc chân của mình ở mỗi phần của bài tập. Tất cả các phương pháp cố định đều bắt đầu bằng việc dạy một học trò cách di chuyển tay, chân và eo trong những mô thức cụ thể, không hề có ý định phóng đối thủ theo bất cứ hướng nào. Mục tiêu đơn giản chỉ là để học trò học các chuyển động trong trình tự đúng đắn của chúng, trước tiên với những động tác vật lý và về sau kết hợp các năng lượng nội tại. Thôi Thủ đơn hay kép làm việc với Bằng (peng), Lý (lu), Tế (ji), Án (an); đại lã làm việc với Thái (tsai), Liệt (lieh), Chẩu (zhou) và Kháo (kao).
Trong giai đoạn thứ hai của Thôi Thủ cố định, bên trong khuôn mẫu của những chuyển động tay và chân đã được quy định, mỗi người tập cố gắng nhu nhường và phóng năng lượng, do đó bứng gốc người kia lên, xuống, sang bên hay về phía sau.
Trong tự do, cả hai đối thủ đều được phép sử dụng bất cứ chuyển động tay nào họ thích, để đáp lại bất cứ kỹ thuật nào. Những bài tập Thôi Thủ tự do được thực hiện với đôi bàn chân cố định, với đôi bàn chân chỉ được phép di chuyển theo những cách thức nhất định đã được chỉ định, và với đôi bàn chân được phép di chuyển theo mọi hướng.
ĐẠI LÃ (DA LU)
Một dạng Thôi Thủ di động tập trung vào việc di chuyển tới những góc 45 và 135 độ.
Bốn Phong Cách Thôi Thủ
Mặc dù được thực hiện phần lớn trong Trần thị và các phong cách phối hợp, cũng có những bài tập Thôi Thủ đơn và kép trong đó chân trước của hai người tập đối diện nhau, và đôi chân hoặc nhường nhịn nhau, hoặc cố gắng khóa chân nhau, hoặc phát kình vào nhau. Bốn phong cách Thôi Thủ là:
1. Thôi Thủ Đơn Tay của hai người tập liên tục chạm nhau ở cổ tay, và hai lòng bàn tay liên tục xoay từ hướng vào hay hướng ra khỏi cơ thể khi eo xoay. Trọng lượng của bạn chuyển từ chân trước của bạn khi tấn công, sang dồn về phía sau khi phòng thủ. Bàn tay không chạm của bạn có thể được cố định trong không gian, ở bên sườn bạn, hoặc đặt trên hông hay sau lưng bạn để duy trì thăng bằng và bảo đảm rằng nó không lọt vào cuộc hỗn chiến.
Phương pháp này ban đầu được thực hiện với đôi bàn chân cố định và không di chuyển. Về sau, cách này có thể được mở rộng thành việc di chuyển đôi bàn chân của bạn để mô phỏng một tình huống tồi tệ nhất. Giả sử, trong lúc chiến đấu, một cánh tay bị gãy. Để ngăn chặn cú sốc đi qua cánh tay lành của bạn đến cánh tay gãy hoặc vào một thứ nhạy cảm nào đó mà bạn có thể đang cầm, bạn phải di chuyển một cách khéo léo với sự phối hợp giữa tay, eo và chân của bạn cực kỳ chính xác.
2. Thôi Thủ Kép (Ba Loại)
a. Vùng Trung Gian giữa Thôi Thủ Đơn và Thôi Thủ Kép Cổ tay của một người tập chạm vào cổ tay của người kia, trong khi những bàn tay đối diện chạm nhau và cố gắng khống chế khuỷu tay của người kia. Phương pháp này cung cấp sự thực hành về cách cân bằng cả hai cánh tay đối phó với một đối thủ. Nó cho phép chuyển động tự do làm lỏng eo ra và bắt đầu quá trình học cách hiểu và duy trì thăng bằng khi những đòn tấn công đang đến từ nhiều vectơ nằm ngang khác nhau. Phương pháp này sau đó chuẩn bị cho bạn bước vào Thôi Thủ kép đầy đủ trong một chuỗi mà ở đó Bằng, Lý, Án và Tế đang được thi triển chống lại bạn, cả theo chiều dọc lẫn chiều ngang.
Thôi Thủ kép khung lớn với hai bàn chân cùng phía (trong trường hợp này là phía bên phải) đối diện nhau. Được thực hiện bởi người tinh thông Ngô thị Lưu Hùng Giới (Liu Hung Chieh) và học trò của ông, B. K. Frantzis. Bắc Kinh, Trung Quốc, 1981.
b. Thôi Thủ Vòng Tròn Lớn Khi bạn thực hiện Thôi Thủ vòng tròn lớn, eo và cánh tay của bạn đang tạo ra những chuyển động lớn với những cú xoay rất lớn, bao phủ rất nhiều không gian. Trong khi thực hiện một chuỗi Bằng, Lý, Án và Tế, đôi bàn tay của bạn đang di chuyển theo chiều dọc ra xa khỏi cơ thể, đến hoặc cao hơn đầu bạn (Bằng), hướng vào cơ thể bạn và xuống phía dưới vùng đám rối mặt trời của bạn (Án), và theo chiều ngang từ bên này sang bên kia (Lý), trong một khoảng cách hơi rộng hơn vai bạn và hướng về phía trước tới thân thể của đối thủ (Tế). Phương pháp này rốt cuộc chuẩn bị cho người thực hành chiến đấu ở cự ly xa và trung bình, nơi những đòn đánh thường xuyên đến từ cao và thấp, và ập tới từ bên hông. Hầu hết các phong cách đều bắt đầu với phương pháp này trước khi tiến tới cấp độ kế tiếp, vốn là sự chuẩn bị cho chiến đấu áp sát.
c. Thôi Thủ Vòng Tròn Nhỏ Phương pháp này sử dụng cùng một chuỗi Bằng, Lý, Án và Tế, nhưng chủ yếu trên một mặt phẳng nằm ngang. Sự tập trung ở đây là vào những chuyển động cánh tay nhỏ hơn, những chuyển động eo nhanh chóng và chặt chẽ, và sự gập lại của các khớp tay. Điều này phát triển những kỹ năng then chốt cần thiết cho chiến đấu áp sát. (Ở phương Tây, chẳng hạn, loại Thôi Thủ này được sử dụng hầu như độc quyền bên trong phương pháp của Trịnh Mạn Thanh (Cheng Man-ching) thuộc Dương thị thái cực quyền.)
Trong cả ba phương pháp này, trọng lượng của bạn liên tục chuyển dịch giữa việc dồn về phía trước và dồn về phía sau. Trong Thôi Thủ đơn và kép, đôi bàn chân của bạn và của người tập thường đối diện nhau với chân trước của bạn kề cạnh chân sau của người tập, và ngược lại. Về mặt bộ pháp, sự tiến triển thường là:
1. Bắt đầu với đôi bàn chân cố định, không di chuyển.
2. Thực hiện những bước chân đều đặn cả về phía trước lẫn phía sau.
3. Bước tới và lùi bằng những nửa bước. Trong một nửa bước, bàn chân dẫn vẫn ở phía trước và không thay đổi vị trí, như trong một bước thông thường.
4. Xoay người 180 độ.
5. Bước theo mô thức của một hình vuông (dạy cách nép sang bên một cách trôi chảy).
3. Đại Lã hay Thôi Thủ Bốn Góc Phong cách này dạy cách di chuyển tới những đường chéo, xoay tròn, quay người ở những góc 135 độ, và tấn công cùng phòng thủ từ vị trí lệch tâm và những góc bất thường. Nói chung, đại lã phát triển bộ pháp và năng lực của cơ thể di chuyển trơn tru theo hầu hết mọi hướng, mặc dù không ở mức độ lớn như bát quái chưởng.
Thôi Thủ di động Đại Lã của Dương thị. Được thực hiện bởi B. K. Frantzis. Bắc Kinh, Trung Quốc, 1981.
4. Thôi Thủ Di Động Tự Do Phong cách này cho phép bạn tự do kết hợp tùy ý tất cả các kỹ thuật tay, eo và bước chân của Thôi Thủ kép và đại lã, trong chuyển động tự do. Thôi Thủ di động tự do dọn sân khấu để bạn bắt đầu "mài sắc những chiếc răng nanh võ thuật" của mình.
Trong tất cả các phong cách Thôi Thủ này, cũng còn vấn đề khóa khớp và quăng ném. Nói chung, Dương thị và Hác thị thái cực quyền cho phép quăng ném, nhưng không khuyến khích chúng, và tích cực ngăn cản các đòn khóa khớp, thường là cấm đoán chúng hoàn toàn. Những phong cách Trần thị và Bài Quyền Phối Hợp, ngoài việc cho phép quăng ném, còn cho phép và thường khuyến khích các đòn khóa khớp vào cả tay lẫn chân. Ngô thị khuyến khích quăng ném và giữ thái độ trung lập về vấn đề khóa khớp. Tuy nhiên, tất cả các phong cách thái cực quyền cổ điển đều tích cực huấn luyện học trò làm cho các khớp của mình cực kỳ linh hoạt và có khả năng gập lại, nhằm ngay từ đầu không cho đối thủ cơ hội áp đặt một đòn khóa khớp lên bạn.
Giai Đoạn 3: Lộ Răng Nanh Võ Thuật — Những Phương Pháp Chuyển Tiếp Giữa Thôi Thủ và Tập Đối Kháng
Thôi Thủ không phải là tập đối kháng không được diễn tập trước; và tự bản thân nó cũng không đủ cho việc tự vệ chân chính. Xét về mặt chiến đấu, có ba phương pháp thái cực quyền đưa bạn từ Thôi Thủ đến tập đối kháng. Những phương pháp này là:
1. Tập Luyện Các Ứng Dụng Chiến Đấu Đơn Lẻ Với Một Người Tập Phương pháp luận này không khác biệt một cách kịch tính so với tập đối kháng bộ pháp cố định của karate và taekwondo, nơi mục tiêu là dần dần quen với những mức độ áp lực ngày càng gay gắt, vốn đòi hỏi trình độ kỹ năng của bạn phải tăng lên. Bạn bắt đầu với đôi bàn chân cố định. Chỉ sau khi các kỹ thuật tay, những cú đá, các đòn quăng ném và khóa khớp của bạn đạt tiêu chuẩn, bạn mới di chuyển đôi bàn chân của mình phù hợp với những nguyên lý của Thôi Thủ. Mỗi người tập đổi vai cho nhau theo những khoảng thời gian đều đặn do những người tham gia hay do người hướng dẫn quyết định. Ở mỗi giai đoạn, luôn luôn phát triển trước tiên những năng lực phòng thủ mang tính âm của bạn trước khi bạn bắt đầu tập trung vào những đòn tấn công và phản công chủ động mang tính dương hơn.
Với đôi bàn chân cố định, hãy sử dụng những bước tiến triển sau đây:
a. Một người tấn công bằng một kỹ thuật đã được sắp xếp trước ở một góc chiến đấu đã được sắp xếp trước, và người kia đáp lại bằng một thế phòng thủ và phản công đã được sắp xếp trước.
b. Đòn tấn công được sắp xếp trước, nhưng bạn tự quyết định thế phòng thủ của mình.
c. Đôi bàn chân của riêng bạn vẫn cố định. Sử dụng một kỹ thuật đã được định sẵn, đối thủ của bạn có thể di chuyển đôi chân của mình và tấn công từ bất cứ góc nào, và bạn có thể sử dụng bất cứ thứ gì để đáp trả, miễn là bạn không di chuyển đôi bàn chân của mình. Trong những cuộc trao đổi nhanh này, những cú xoay eo linh hoạt, những sự chuyển dịch trọng lượng tinh tế, và những góc chiến đấu thay đổi mau lẹ phải được phát triển.
d. Với đôi bàn chân cố định ở những khoảng cách đã định trước là xa, trung bình và gần, cả hai người tập có thể tấn công và phòng thủ bằng bất cứ kỹ thuật nào tùy ý, với một số lần cố định. (Bạn thường bắt đầu với một đòn tấn công và dừng lại ở năm.)
e. Bây giờ, di chuyển đôi bàn chân của bạn, hãy sử dụng lại những bước tiến triển từ a đến e. Hãy đưa từng loại bộ pháp vào tất cả các kỹ thuật chiến đấu của thái cực quyền và những góc chiến đấu thích hợp. Luôn luôn bắt đầu bằng một phản ứng được định sẵn đối với một kích thích được định sẵn và tiến tới việc đáp lại bằng trực giác một đòn tấn công, một đòn giả, hay bất cứ loại phối hợp nào không thể đoán trước.
2. Tay Xoay Vòng Trong bài tập này, tương đương của thái cực quyền với Nhu Thủ (Rou Shou) của bát quái, tay của bạn và của người tập dính vào nhau ở cổ tay, dính chặt lấy nhau, và tạo ra những vòng tròn thẳng đứng lớn, di chuyển cùng chiều hay ngược chiều. Trong khi xoay vòng như thế, mỗi người tập cố gắng tạo ra một khe hở qua đó người kia có thể bị đánh trúng bằng một kỹ thuật tay của thái cực quyền. Việc xoay vòng được thực hiện cả với đôi bàn chân cố định lẫn di chuyển. Trong những phiên bản cao cấp hơn của nó, những cú đá, các đòn quăng ném và khóa khớp được đưa thêm vào mớ hỗn hợp. Tay Xoay Vòng, tuy nhiên, không tinh vi bằng, cũng không chuyển hóa được vào chiến đấu không diễn tập tốt bằng Nhu Thủ của bát quái (xem tr. 235), do kho kỹ thuật lớn hơn của bát quái, đặc biệt là về mặt các góc chiến đấu.
3. Các Bài Tập Hai Người Trong đó, hai người tấn công và tự vệ hết lần này đến lần khác trong một chuỗi dài đã được sắp xếp trước. Một bài tập hai người tương đương với việc cả hai bên cùng thực hiện riêng lẻ một bài quyền, chỉ khác là ở đây có sự đối kháng trực tiếp từ một con người khác. Ban đầu, các bài được thực hiện chậm, với rất ít hoặc không có lực, để cho phép học trò ghi nhớ các động tác. Một số người gọi bài tập chuyển động chậm là "điệu vũ thái cực quyền." Kế tiếp, bài vẫn được thực hiện chậm với rất ít hoặc không có lực, nhưng những chi tiết của bài được xem xét đến mức độ nhỏ nhất, không chỉ về việc động tác nào đáp lại động tác nào, mà chính xác là nội lực mà mỗi bên đang sử dụng để tấn công và phòng thủ. Dần dần, tốc độ của bài tập hai người được tăng lên, nhưng không phải lực của nó. Rốt cuộc, lực được vặn lên từng nấc một cho đến khi cả hai bên đang thực hiện bài ở mức toàn lực. (Chính phương pháp luận này cũng được sử dụng trong các bài tập hai người của bát quái và hình ý quyền.) Bài tập hai người được thực hiện có lực và không có lực là hai hoạt động hoàn toàn khác biệt nhau.
Trong cả ba phương pháp chuyển tiếp này, sự tập trung là vào việc đạt được kỹ năng nhận ra những năng lượng nào tự bản chất đánh bại những năng lượng nào khác. Người Trung Quốc nói về khái niệm này dưới dạng việc một kỹ thuật bất kỳ (a) có thể xé một lỗ thủng trên tấm vải của cái áo tấn công và phòng thủ của đối thủ bạn, (b) trung tính về hiệu quả, hay (c) sẽ khiến chính tấm vải của bạn bị xé rách.
Giai Đoạn 4: Tập Đối Kháng và Chiến Đấu Thực Sự
Tập đối kháng có nhiều gấp trăm lần những biến số phải được xử lý so với Thôi Thủ. Người ta nói rằng Dương Lộ Thiền đã dành sáu năm chỉ để học các chiến lược chiến đấu và đối kháng của thái cực quyền. Ngay cả tập đối kháng tự do cũng khá khác biệt so với chiến đấu sinh tử thực sự. Con người đáp lại rất khác biệt khi họ cảm thấy sự sống còn của mình đang bị đe dọa, đối lập với khi chỉ có sự thỏa mãn/sỉ nhục của cái tôi từ việc thắng/thua đang bị đe dọa.
Từ quan điểm thái cực quyền truyền thống, chiến đấu (được gọi là lan tsia hua) là Thôi Thủ với những điều sau đây được thêm vào:
1. Sự cảm nhận khoảng cách
2. Năng lực trôi chảy giữa các cự ly chiến đấu gần, trung bình và xa
3. Các góc chiến đấu
4. Đánh, đá, quăng ném, khóa khớp, và năng lực hấp thụ những đòn đánh
5. Năng lực chạm, rời ra, và chạm lại, một cách trôi chảy và không có sự đứt đoạn
6. Năng lực giữ được sự trung định và tĩnh lặng bất chấp hiểm nguy, cố gắng vượt qua phản ứng chiến đấu-hay-bỏ-chạy do hormone thú vật bản năng
7. Tập luyện nhắm tới việc có thể phòng thủ trước những đòn tấn công cao và thấp từ nhiều đối thủ đang tiến tới từ nhiều góc độ
8. Tay không đối đầu với tập luyện vũ khí
Việc tập luyện chiến đấu cổ điển tồn tại trên hai cấp độ. Cấp độ thấp hơn quan tâm một cách thực dụng đến việc làm thế nào để làm đối thủ của bạn bị thương hay bị giết. Cấp độ cao nhất, được đạt tới bởi Dương Lộ Thiền lừng danh, người được gọi là "Vô Địch," là nơi mà, thay vì làm đối thủ của bạn bị thương, bạn, sử dụng phát kình bất bạo động, có thể quăng họ bay qua không trung một quãng xa mà không làm họ đau chút nào cả. Một đối thủ không bị tổn hại về thể xác thường được giải tỏa khỏi một nhu cầu bên trong muốn tìm cách trả thù.
Theo cổ điển, việc tập luyện này được thực hiện với đôi bàn tay mở, điều cho phép một người thực hành sử dụng những năng lực dính dính của thái cực quyền một cách rất hiệu quả, cũng như để quăng ném, khóa khớp, và sử dụng các ngón tay cho những đòn đánh vào thần kinh. Ngày nay, cũng có một xu hướng mới nổi khác là thực hành Thôi Thủ với tay mở, rồi sau đó học các kỹ năng chiến đấu của thái cực quyền dựa vào việc tập đối kháng với găng tay quyền Anh, như được thực hiện trong kickboxing. Điều này được thực hiện về cơ bản vì cùng những lý do mà karate cũng đã thích nghi chiến lược ấy và phổ biến hóa kickboxing.
Việc sử dụng găng tay quyền Anh mang lại một cảm giác chân thực về việc đánh và bị đánh, hữu ích để vượt qua những giai đoạn đầu tiên của hội chứng chiến-đấu-hay-bỏ-chạy. Vào thời điểm hiện nay, quyền Anh với găng tay được văn hóa chấp nhận trên toàn thế giới. Đối với một người thầy thì dễ kiểm soát hơn những cuộc đụng độ có mang găng giữa các học trò so với những cuộc đụng độ tay không, nơi những ranh giới giữa tiếp xúc chấp nhận được và không chấp nhận được thường bị mờ đi, cũng như việc cung cấp những câu trả lời thẳng thắn không vòng vo cho câu hỏi dai dẳng là những đòn tấn công hay phòng thủ ấy thực tế đến mức nào. Với găng tay, nếu bạn đánh ai đó, không có đòi hỏi nào là bạn phải nói lời xin lỗi, hay phải biện minh xem mình có bị đánh trúng hay không. Đối với những người say mê võ thuật có động lực cao, thường có một phòng tập quyền Anh mà họ có thể đến để tập đối kháng chân chính với những người khác. Hoạt động này có thể thiếu vắng trong một võ đường mà hầu hết học trò ở đó vì những lý do sức khỏe và không có khuynh hướng võ thuật để thực hiện việc tập đối kháng chuyên sâu. Ở phương Tây, cũng có sẵn nhiều kỹ năng quyền Anh mang găng để học hơn là sự huấn luyện võ thuật thái cực quyền.
Trong thái cực quyền cổ điển, bạn học cách chuyển hóa Thôi Thủ thành những chiến thuật chiến đấu thực tế. Việc thực hành đối kháng bằng vũ khí cải thiện các kỹ năng tay không, đặc biệt là bộ pháp và sự nhạy bén đối với vấn đề khoảng cách vật lý giữa những người chiến đấu. Việc đấu kiếm có thể tương đối dễ dàng được chuyển hóa thành tự vệ bằng gậy và roi. Bất cứ kỹ năng đối kháng nào bạn học đều luôn được chuyển hóa ngược trở lại cả công việc bài quyền lẫn Thôi Thủ.
Trong công phu, quyền Anh, đánh nhau đường phố, hay chiến đấu quân sự, bạn có thể nổi giận. Tâm trí bạn có thể tràn ngập đủ loại tư tưởng — ác ý, thú tính, thực dụng, chiến thuật — và bạn vẫn có thể chiến đấu rất tốt. Thật ra, cách hiện hữu này trong lúc chiến đấu thường được khuyến khích trong nhiều môn võ thuật ngoại gia cứng, đặc biệt là những môn mang tính mô phỏng thú vật.
Thái cực quyền thì khác. Huấn luyện tâm trí trở nên tĩnh lặng dưới làn đạn là điều khó khăn, nhưng là một thành phần thiết yếu của việc huấn luyện chiến đấu của thái cực quyền, bởi vì cốt lõi của kỹ thuật chiến đấu thể lý của nó dựa trên năng lực này. Khi phản ứng sợ hãi/giận dữ của con thú dâng lên đủ cao, cơ thể bắt đầu bước vào một chu kỳ căng thẳng tột độ khiến nhịp tim của con người gia tăng một cách kịch liệt. Khi tốc độ nhịp đập của tim vượt quá một số nhịp nhất định mỗi phút, di sản sinh học của chúng ta khiến các bắp cơ cứng lại, tầm nhìn bị thu hẹp, và sự kiểm soát vận động tinh tế bị suy giảm. Tất cả các kỹ thuật chạm của thái cực quyền đều dựa trên sự kiểm soát cơ bắp tinh tế. Sự đánh mất nó làm giảm hiệu quả của hầu hết các kỹ thuật thái cực quyền. Phát triển một lõi tĩnh lặng, vốn giữ nhịp tim ở mức thấp và tự nhiên mở ra tầm nhìn ngoại vi, đã là một yếu tố trọng yếu trong toàn bộ phương pháp luận cổ xưa của thái cực quyền và bát quái về việc học cách chiến đấu giỏi trong những điều kiện thực tế.
Nếu không có một lõi tàn dư sâu sắc của sự thư giãn thần kinh được ổn định hóa và sự tĩnh lặng của tâm trí, nhiều kỹ thuật của thái cực quyền có thể không trụ vững dưới bạo lực thực sự, thứ mà, trừ khi được làm dịu đi, có thể kích hoạt di sản thú vật sinh học của chúng ta một cách tức thời. Thái cực quyền cao cấp thường được ví với thiền định bởi vì nó chứa đựng sự huấn luyện thực dụng phát triển năng lực làm cho tâm trí trở nên trống rỗng và bình tĩnh. Đặc tính này là một lý do khác khiến thái cực quyền được những vị thuyền trưởng của nền công nghiệp châu Á chân thành kính trọng như một phương pháp để quản lý căng thẳng và tăng cường hiệu suất tinh thần cao. Thái cực quyền là một công cụ mang lại cho họ một lợi thế cạnh tranh.
Chúng ta đã thấy rằng một yếu tố trọng yếu trong việc học các chiến lược chiến đấu liên quan đến việc chuẩn bị cho những gì có thể được dự đoán trước. Thậm chí còn quan trọng hơn, tuy nhiên, là có năng lực trở nên thoải mái với sự không thể đoán trước. Thuộc tính này đòi hỏi một người học cách chiến đấu với một tâm trí không mang theo bất cứ sự mong đợi nào về điều được cho là sẽ xảy ra kế tiếp, một tâm trí có khả năng đáp lại bất cứ điều gì nó bắt gặp mà không có sự do dự nào bất kể sao. Kinh điển Thái Cực diễn đạt điều này một cách súc tích trong câu: "Quên mình và theo người."
Trong chiến đấu, một khi những người thực hành đã được huấn luyện để di chuyển tốt, thành phần then chốt của thành công hay thất bại dưới áp lực là việc họ có thể nhận thức được cuộc tương tác chiến đấu tốt đến mức nào. Họ có thể xử lý về mặt thần kinh,
diễn giải, và hành động dựa trên thông tin từ những nhận thức của mình hay không? Hãy nhớ rằng trong thái cực quyền điều này được thực hiện bằng cách đọc chính xác năng lượng và ý của tâm trí của các đối thủ, chứ không phải những chuyển động vật lý hay những cú giật cơ bắp của họ. Cách tiếp cận này khác biệt một cách triệt để so với việc tập trung vào tính thể lý của đối thủ. Có nhiều kỹ thuật và chiến lược tập luyện mà, ở giai đoạn chiến đấu, tập trung năng lực của bạn vào việc diễn giải năng lượng dưới áp lực thực sự.
Thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái, không giống như nhiều môn võ thuật ngoại gia/nội gia khác, không sử dụng những động tác lừa gạt để dàn xếp một đối thủ cho một loại phối hợp nào đó. Những môn nghệ thuật này hoặc thực thi một kỹ thuật thật sự, hoặc chờ đợi. Loại huấn luyện này, kết hợp với một tâm trí bình tĩnh, khiến cho việc khống chế một người chơi thái cực quyền bằng những đòn giả trở nên khó khăn, một chiến thuật trọng yếu trong chiến đấu. Một phần của "năng lực lắng nghe" là có thể phân biệt được xem một chuyển động đe dọa của đối thủ có bất cứ năng lượng thực sự nào đằng sau nó hay không. Những cú đấm giả thường thì không có.
Gắn liền với toàn bộ phương pháp chiến đấu của thái cực quyền là học cách chờ đợi, từ lúc một đối thủ có ý định đánh hoặc chủ động bắt đầu đòn đánh, trước khi bạn hành động. Đôi khi, sự chờ đợi là một giây, đôi khi là một phần nhỏ của giây. Nếu không có năng lực chờ đợi này, không thể thực hiện được hai lời huấn thị chiến lược chủ yếu từ kinh điển: "Nắm lấy cơ hội rồi sau đó hành động" cho một đòn phản công thành công, và "Đối thủ bắt đầu đòn tấn công, nhưng ta đến trước khi hắn đến."
Ở giai đoạn chiến đấu không diễn tập, những người tập thái cực quyền dành rất nhiều công sức để học cách mở rộng sự nhận thức của mình nhằm thấu nhập và trở nên nhạy bén với toàn bộ trường năng lượng mà một đối thủ đang tạo ra. Việc huấn luyện có thể trở nên hơi "tâm linh" theo nghĩa là, sau khi tâm trí của bạn trở nên đủ nhạy bén, tĩnh lặng và yên ắng, bạn có thể thực sự trở thành một với năng lượng của một người đang tấn công. Bạn thực sự trượt vào không gian tâm trí của anh ta và năng lượng của anh ta sẽ cho bạn biết cách đánh bại anh ta. Chính là năng lượng cho bạn biết khi nào và làm cách nào để di chuyển, chứ không phải những ý tưởng của riêng bạn về điều bạn nên hay không nên làm. Nhiều chiến lược chiến đấu cao cấp của thái cực quyền liên quan đến sự phát triển tinh thần và tâm linh nghiêm ngặt, điều được đòi hỏi để vượt qua những giai đoạn cuối cùng của sự do dự, quán tính, và sự thiếu tính tròn trịa của kỹ thuật.
Nhiều Loại Hình Tập Đối Kháng Khác Nhau
Mặc dù thái cực quyền có một dải đầy đủ những cú đá trước, đá bên, đá vòng cầu thấp, và đá chà đạp, nó thường có khuynh hướng tập trung vào các kỹ thuật tay. Những cú đá của nó có khuynh hướng được thực hiện ở ngang hoặc dưới mức tim, chứ không phải lên cổ và đầu. Những kỹ thuật đối kháng có vũ trang và không vũ trang của nó trước tiên được thực hành một-đối-một. Về sau, khi sự tinh thông đạt được, các kỹ thuật được thực hiện để đối phó với nhiều đối thủ. Trong tập đối kháng nhiều đối thủ, có một sự nhấn mạnh rất mạnh vào các phương pháp bộ pháp Thôi Thủ tự do của thái cực quyền và vào khả năng cắm rễ ở cuối mỗi bước chân. Thái cực quyền luôn đi đến một điểm dừng rõ ràng, cắm rễ, và phóng lực trước khi đi tiếp, không giống như bát quái, thứ có thể phóng lực ngay trong lúc đang chạy, có thể nói như vậy. Năm trong mười ba thế pháp nguyên thủy của thái cực quyền — Tiến Bước, Lùi Bước,
Nhìn Trái và Phải, cùng Trung Định — liên quan đến bộ pháp trong chiến đấu.
Cả với một đối thủ lẫn nhiều đối thủ, việc tập luyện được thực hiện đứng thẳng người, trong những tư thế cực kỳ thấp, ôm sát mặt đất, ngồi, và nằm xuống. Trong những bài tập chuyên biệt, học trò mô phỏng nhiều chứng tật khác nhau để sẵn sàng thực hiện tốt dưới bất cứ điều kiện bất lợi nào.
Ví dụ:
1. Để mô phỏng việc bị thương ở phần trên cơ thể — bằng cách đưa một cánh tay ra sau lưng; ở chân — bằng cách để một chân bị tê liệt đi hoặc đặt một vật nặng lên một chân; để mô phỏng một cái chân bị gãy hay dây chằng chân bị rách — bằng cách bị buộc phải đứng hay di chuyển chỉ bằng một chân, hoặc với nhiều chứng tật linh tinh khác để bắt chước những điều kiện bất lợi khác nhau
2. Đang ngồi trên ghế hoặc trên sàn
3. Đang nằm xuống, điều sử dụng rộng rãi các kỹ thuật phát kình, và những đòn đánh vào thần kinh
4. Ở trong bóng tối — được thực hiện với băng bịt mắt, nhưng quan trọng hơn là trong những căn phòng tối đen hoàn toàn
5. Đối diện với một đối thủ khi mặt trời chiếu thẳng vào mắt bạn
6. Ở trong tình trạng lưng bạn dựa vào tường, với những lựa chọn cực kỳ hạn chế về nơi bạn có thể di chuyển
7. Ở trong tình trạng lưng bạn dựa vào một bờ vực, nơi cú ngã có thể gây tử vong — đặc biệt được thực hiện đối phó với nhiều đối thủ
8. Phải đối mặt với một lực lượng áp đảo nơi sự thoát thân duy nhất của bạn là lập tức nhảy lên một nơi cao hơn. Ở đây, khinh công (xem tr. 310) hay kỹ năng nhẹ nhàng (năng lực nhảy) được sử dụng. Kỹ năng này dường như đã biến mất khỏi việc huấn luyện thái cực quyền sau Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn. Những nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm được một người thực hành thái cực quyền nào có thể thực hiện khinh công một cách thuyết phục.
NHỮNG LOẠI SƯ PHỤ HAY THẦY THÁI CỰC QUYỀN KHÁC NHAU MÀ BẠN CÓ KHẢ NĂNG GẶP PHẢI
Đại đa số các thầy thái cực quyền ở phương Tây và ở Trung Quốc ngày nay chủ yếu dạy thái cực quyền (a) như một phương pháp để đạt được sức khỏe, (b) như một phương pháp rất hiệu quả để học cách thư giãn, và/hoặc (c) như một loại vũ đạo nhẹ nhàng không va chạm hay như một phương pháp giáo dục thể chất tinh tế. Đa số những người hướng dẫn này thường chỉ dạy bài quyền mà không có Thôi Thủ, hoặc khi họ có dạy Thôi Thủ, nó thường trống rỗng về nội dung võ thuật, được truyền đạt đơn thuần như một loại bài tập định tâm mang định hướng tâm lý học. Bằng cách trình bày nó theo cách này, những thầy như vậy chân thành mang lại lợi ích cho những người mà họ làm việc cùng, thường nhất là về mặt dạy cho họ một cách để quản lý sự căng thẳng khủng khiếp mà thời hiện đại đặt lên chúng ta. Những thầy thái cực quyền võ thuật cung cấp cùng những lợi ích ấy cộng thêm các kỹ năng tự vệ.
KHINH CÔNG (CHING GUNG)
Kỹ thuật làm cho cơ thể nhẹ đi bằng cách thay đổi khí của nó, mang lại cho một người năng lực nhảy vọt không thể tin nổi.
Cuộc thảo luận sau đây chỉ liên quan nghiêm ngặt đến những thầy thái cực quyền nhấn mạnh khía cạnh võ thuật của môn nghệ thuật, và được công nhận là tự mình sở hữu những kỹ năng võ thuật của thái cực quyền — một điều kiện tiên quyết cần thiết để có thể truyền đạt chúng cho một học trò tiềm năng. Những thầy dạy võ ở phương Tây khác biệt rất lớn về phẩm chất. Một số đang làm những gì họ nói, những người khác thì không. Một số có phẩm cách cao và biết rõ môn học của mình, những người khác thì không. Một số sẽ có những nhân cách mà bạn thấy thoải mái và dễ chịu, những người khác thì không. Thật tốt khi nhớ rằng, bất kể ý tưởng của bạn về việc một thầy hay một sư phụ thái cực quyền nên hay không nên là gì, trước hết và trên hết, tất cả họ đều là những con người, với cùng loại phẩm tính và sự yếu đuối đã cấu thành nên thân phận con người kể từ khi chúng ta đặt chân đến trái đất.
Ba vấn đề sau đây liên quan đến các mối quan hệ của những thầy thái cực quyền võ thuật với học trò của họ:
1. Giảng Dạy và Công Việc Bài Quyền Nếu bạn thực sự muốn học những kỹ năng võ thuật, và sẵn sàng bỏ công sức vào, điều đó có thể đạt được với một người thầy đúng đắn. Về mặt học công việc bài quyền, có một vài phẩm tính then chốt mà bạn nên tìm kiếm ở những người thầy: Họ phải biết về việc cắm rễ, thư giãn cơ thể, các ứng dụng chiến đấu, và cách truyền thụ những bài tập nội công về nội lực. Một số thầy có thể thực hiện tốt tất cả các phần của tài liệu này, một số thì không làm tốt phần nào cả, với đủ loại sự kết hợp ở khoảng giữa. Không khôn ngoan khi tự động giả định rằng, chỉ vì một người thầy có thể làm tốt một phần, ông hay bà ấy thậm chí còn biết những phần khác. Những người thầy có thể không cố ý giấu giếm tri thức, họ đơn giản có thể không biết những khía cạnh khác của thái cực quyền.
Những người có thể dạy các ứng dụng được giản hóa của các bài quyền thì không phải là hiếm; những người biết toàn bộ dải thì tương đối hiếm. Những người biết hầu hết các bài tập nội lực nội công thì hiếm hơn nữa, cũng như những người thậm chí chỉ biết ba hay bốn phương pháp nội công. Nhiều thầy công phu dạy thái cực quyền có thể dạy bạn những ứng dụng chiến đấu kiểu nào đó; tuy nhiên, những kỹ thuật này có thể là của môn võ thuật ngoại gia của họ chứ không phải của thái cực quyền. Một số thầy thực sự có thể làm Thôi Thủ, nhưng đã không học tới cấp độ đối kháng của thái cực quyền; những người khác, vì đủ loại lý do, chỉ thực hiện một số phương pháp Thôi Thủ. Nói chung, những người dạy Thôi Thủ bộ pháp cố định thì đông hơn những người có thể dạy và thực hiện Thôi Thủ di động.
2. Giảng Dạy và Chia Sẻ Giả sử một thầy nhất định có năng lực và có khả năng giảng dạy (vốn là một món quà không được ban cho tất cả mọi người như nhau), câu hỏi nảy sinh là, "Người thầy này sẵn sàng chia sẻ những điều mình biết đến mức nào?" Một số người hướng dẫn chơi trò "cưng của thầy" — nếu họ thích bạn và bạn dễ dạy, bạn nhận được toàn bộ sự chú ý của họ, và nếu họ không thích bạn, ngay cả khi bạn nỗ lực gấp mười lần, họ vẫn sẽ giữ lại thông tin. Một số thầy rất công bằng và luôn luôn đền đáp nỗ lực trung thực bằng
những sự giảng dạy sâu sắc hơn. Một số thầy thực sự sẽ cố giúp đỡ những người không có năng khiếu; những người khác dành nỗ lực của mình cho nhóm trung bình trở lên.
Câu hỏi kế tiếp là, "Những người thầy có sẵn sàng và có khả năng bỏ đủ năng lượng vào nhiệm vụ giảng dạy để bảo đảm rằng học trò có một cơ hội tốt để lĩnh hội tài liệu hay không?" Những người trẻ tuổi thường có thể bỏ ra năng lượng để dạy, nhưng tri thức của họ vẫn cần được tôi luyện thêm. Ở Trung Quốc, người ta nói rằng những thầy dạy võ giỏi nhất là những người trung niên, những người có đủ kinh nghiệm, đã vượt qua được sự thiếu kiên nhẫn của tuổi trẻ, nhưng vẫn còn giữ được nhiệt huyết với việc giảng dạy. Những thầy lớn tuổi thường có nhiều tri thức nhất, nhưng đôi khi họ đánh mất nhiệt tình của mình đối với việc giảng dạy và thích hồi tưởng hơn là bỏ ra công sức vất vả cần thiết. Dạy thái cực quyền lấy đi rất nhiều của những người hướng dẫn, giả sử họ làm một công việc tốt đẹp chứ không phải hời hợt.
Những thầy khác nhau có thể dạy những thứ khác nhau vì đủ loại lý do mà học trò của họ thường hay suy đoán. Một số giỏi giải thích bằng trí tuệ về những điều được cho là đang xảy ra, nhưng không thể biểu diễn những kỹ năng võ thuật thực hành. Một số giỏi biểu diễn bằng thể xác những kỹ năng thực hành, nhưng truyền đạt kém về việc họ đã làm được điều đó như thế nào, điều có thể để cho học trò kém trực giác hơn lâm vào một vị thế học tập khó khăn.
Phong Cách Giảng Dạy và Nhân Cách
Cả một nhân cách dễ chịu lẫn một nhân cách lạnh lùng đều không biểu thị phẩm chất của kỹ năng của một người thầy. Tuy nhiên, nhân cách của người thầy có tạo ra một bầu không khí xã hội, thứ có thể ảnh hưởng đến thái độ của một học trò về cuộc sống. Nếu có thể, hãy suy ngẫm sâu sắc xem bạn có coi trọng sự tương tác xã hội hơn việc đạt được những kỹ năng (công phu) mà bạn thực sự muốn hay không, và về những điều gì thực tế là có sẵn và đang được chào mời.
Từ quan điểm nhân cách và phong cách giảng dạy, những thầy nội gia quyền thuật thuộc đủ mọi loại. Họ có khuynh hướng, như một nhóm, là những người mang tính cá nhân chủ nghĩa cao, và nhiều người trong số họ có thể dễ dàng được gọi là lập dị. Họ thường giữ những ý kiến rất mạnh mẽ, điều mà họ không sợ biểu đạt. Một số có cái nhìn tích cực mạnh mẽ, những người khác thì không.
Những cuốn sách về thái cực quyền thường được lấp đầy bằng những câu chuyện đầy cảm hứng về những chiến công võ thuật của các sư phụ thời trước. Một số kỹ năng được mô tả dường như đã bị thất lạc trong thời cổ, không còn sẵn có cho những thế hệ hiện tại và tương lai. Những năng lực này có thể quay trở lại. Người ta phải chú ý không chỉ đến việc các sư phụ xưa đã bay cao đến mức nào mà còn đến nỗ lực và chiều sâu của sự thực hành của họ. Nhiều câu chuyện trong số này thực sự chỉ cho người ta những con đường mà rốt cuộc có thể mang lại những thành tựu xuất chúng. Hầu hết các câu chuyện đều là thật. Câu hỏi là: Bạn có sẵn sàng bỏ ra thời gian, nỗ lực và sự sáng tạo để giúp làm cho chúng sống lại trong bạn hay không?
Một Nhân Cách Giảng Dạy Thái Cực Quyền Tuyệt Vời: T. T. Liang
Một ví dụ về một thầy thái cực quyền tuyệt vời, người mà được ở bên cạnh thực sự là một niềm vui, là Lương Đồng Tài (Liang Tung Ts'ai, tức T. T. Liang). Lương là một ông già đầy duyên dáng, hói đầu, với một ánh mắt long lanh và một nụ cười tinh quái kiểu "Ai, tôi à?" Ông có thứ mà người Pháp gọi là joie de vivre, hay niềm vui sống. Ông là một trong những học trò cao cấp của Trịnh Mạn Thanh ở Đài Loan. Ông sang Mỹ, dạy thái cực quyền tại Thành phố New York ở Liên Hiệp Quốc, trao lại lớp học cho Trịnh Mạn Thanh, và chuyển đến Boston, nơi ông đã dạy trong nhiều năm.
Lương dạy một phiên bản của hệ thống thái cực quyền Dương thị.*
Bất kể thời tiết ở Boston trở lạnh đến mức nào, người ta vẫn nói, Lương luôn làm cho trái tim bạn cảm thấy ấm áp. Ông là một người thầy sâu sắc và một người truyền đạt tuyệt vời. Những học trò nhận thấy rằng việc học với ông, lui tới căn hộ của ông, hay đi dạo với ông luôn luôn là một niềm vui chân chính.
Lương không hề tỏ ra đạo mạo về thái cực quyền chút nào, như thường là trường hợp với một số thầy người Hoa lớn tuổi. Ông được giáo dục cả bằng tiếng Hoa lẫn tiếng Anh và đã học — và yêu thích — nhiều môn võ thuật trong thời trai trẻ của mình. Vào những năm 1930 và 1940, Lương là một viên chức hải quan ở Thượng Hải. Vào thời đó, thế giới ngầm Trung Quốc kiểm soát các bến tàu. Thượng Hải khi ấy là một trong những thành phố ồn ào náo loạn nhất từng tồn tại, với có lẽ là khu đèn đỏ đang hoạt động lớn nhất thế giới. Lương luôn thích kể cho học trò nghe những câu chuyện táo bạo về những ngày tháng đó ở "phương Đông hoang dã, hoang dã."
Lương sẽ kể cho học trò của mình rằng ông đã bắt đầu tập thái cực quyền vì ông đã làm hỏng lá gan của mình bằng việc quá độ hưởng thụ cuộc sống sung sướng. Ông học thái cực quyền để phục hồi lại sức khỏe đã mất của mình, và mặc dù ông đã học với 20 thầy thái cực quyền, ông coi Trịnh Mạn Thanh là người giỏi nhất, ngay cả khi ông và Trịnh bất đồng về một số vấn đề. Lương, luôn cởi mở và sẵn sàng trưởng thành cùng học hỏi, truyền cảm hứng cho học trò của mình. Ở phía bên kia của tuổi bảy mươi, tại Đài Loan ông bắt đầu học Bán Bộ Bạng Lang quyền từ một vị sư phụ tám mươi tuổi đến từ Sơn Đông, Wei Shao Tang, người khỏe như một con bò mộng, và người đã tập thái cực quyền để giữ cho "công phu" của mình khỏi suy thoái trong tuổi già. Không nhiều người ở tuổi của Lương đã đủ cởi mở để bắt đầu bất cứ điều gì từ con số không. Lương luôn nói rằng, nếu bạn thực sự yêu thích võ thuật hay có đam mê chân chính với bất cứ điều kỳ diệu nào khác mà cuộc sống có để cống hiến, bạn sẽ không bao giờ để những thành tựu trong quá khứ của mình ngăn cản bạn học một điều gì đó quý giá và mới mẻ. Với thái độ này, Lương trên thực tế đã tìm thấy một trong những dòng suối của Suối Nguồn Tuổi Trẻ.
Thầy thái cực quyền Dương thị T. T. Liang. Ảnh do Paul Shapiro cung cấp.
* Lương đã dạy bài trường quyền của Trịnh Mạn Thanh, bài mà Trịnh đầu tiên đã dạy ở Đài Loan trước khi ông chuyển sang dạy bài đoản quyền 37 động tác của mình. Trong khoảng tám hay chín tháng của năm 1972, Lương đã dạy tôi các bài tập đơn cho kiếm, đao, song đao, các bài tập đấu kiếm thái cực quyền hai người, Thôi Thủ, và phiên bản của ông về bài tập hai người mà ông gọi là điệu "vũ hai người."
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Dương Thiệu Quân (Yang Shao Jung) — Đôi Tay Từ Tính
Vào năm 1977, tôi được trao một lá thư giới thiệu đến sư phụ thái cực quyền Dương Thiệu Quân, người không nhận học trò nếu không có một sự tiến cử. Dương là con trai trưởng của Dương Trừng Phủ (Yang Cheng Fu), chắt của Dương Lộ Thiền nguyên thủy. Trường của ông, tọa lạc trong căn hộ không có thang máy của ông ở khu Wan Chai của Hồng Kông, được loan báo bằng một tấm biển với thư pháp Trung Hoa tuyệt đẹp phía trên ban công lầu hai. Như trong nhiều tòa nhà cũ hơn ở Hồng Kông, cầu thang đặc biệt tối tăm.
Hai vị đại sư phụ thái cực quyền, Dương Trừng Phủ và Ngô Giám Tuyền (Wu Jien Chuan), đã chạy trốn đến thuộc địa của Anh khi ấy là Hồng Kông để tìm nơi trú ẩn an toàn vào những năm 1930, một thời kỳ của những rắc rối dồn dập đối với Trung Quốc. Những người con lớn nhất của họ vẫn ở lại Hồng Kông sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Tôi gõ cửa nhà Dương và trao lá thư giới thiệu. Một khi nó được đọc xong, tôi được cho vào. Căn hộ nhỏ, cũng như hầu hết những căn hộ trong các tòa nhà cũ hơn ở Hồng Kông thời bấy giờ. Bên phải là khu sinh hoạt riêng của gia đình; bên trái, là trường học. Cách cửa vài bước là một khu vực chờ nhỏ với vài chỗ để ngồi. Từ vị trí thuận lợi này, có thể nhìn thấy vài thứ trong căn hộ. Thẳng phía trước, cách vài bộ, bạn có thể quan sát Dương đang dạy trong căn phòng kế tiếp, dường như rộng khoảng 250 feet vuông. Hướng về phòng dạy học, phía trên một khoảng hở trên bức tường, bạn có thể thấy những bức ảnh của Đổng Anh Kiệt (Tung Ying Chieh) và của Dương khi ông còn trẻ hơn. Đổng là một trong những đệ tử chính của cha ông, người cũng dạy ở Hồng Kông sau chiến tranh và truyền bá những lời dạy khắp Đông Nam Á. Về phía bên trái, kế cạnh cửa ra vào và dựa vào một bức tường đặc, thường có một hay hai nhóm đang tập Thôi Thủ.
Dương là một người Trung Hoa phương Bắc, được xây dựng chắc chắn, tương đối cao, và có tứ chi dài so với hầu hết người ở Hồng Kông, cao xấp xỉ 5 feet 10 inches. Ông là một người ấm áp, nhưng rất trang trọng, người đứng cực kỳ thẳng. Hầu hết thời gian tôi thấy ông, ông thường mặc quần đen, giày công phu đen, và một chiếc áo sơ mi rộng thùng thình. Bầu không khí của phòng dạy học phía trước mang tính công việc, trống trơn đồ đạc. Chỗ phòng dạy học kết thúc là nơi ban công bắt đầu. Vào những ngày nóng và cực kỳ ẩm ướt nhiều như vậy ở Hồng Kông, bất cứ cơn gió nào lọt qua khung cửa ban công đều là một sự giải tỏa được hoan nghênh. Dương dạy hầu hết các lớp của mình bằng tiếng Quảng Đông, nhưng rõ ràng ông tự nhiên hơn trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình là tiếng Quan Thoại, thứ ông nói với một giọng Bắc Kinh rõ rệt. Dương vui vì tôi nói tiếng Quan Thoại, và thường cho tôi thêm một chút thời gian, cả vì tôi đã bỏ công sức để học ngôn ngữ của ông lẫn vì cảm thức lịch thiệp bẩm sinh của ông đối với những vị khách từ phương xa. Dương dạy các lớp của mình như những bài học riêng, thường kéo dài mười đến mười lăm phút với một học trò trước khi học trò khác bước vào phòng.
Trong những lớp học ban đầu của mình, Dương nhấn mạnh vài điều khi ông dạy. Thứ nhất, sự rõ ràng. Không bao giờ có điều gì mơ hồ về cách ông dạy. Ông cực kỳ chính xác về việc mỗi bộ phận của cơ thể bạn nên được đặt ở vị trí nào, và ông nắn chúng thành hình trong từng động tác của bài quyền. Nếu bạn bỏ sót một chi tiết then chốt sau khi quan sát sự biểu diễn của ông về động tác ấy, ông sẽ điều chỉnh tứ chi của bạn bằng tay để bảo đảm rằng bạn hiểu
điều gì được mong đợi và điều gì cần thiết để duy trì việc kiểm soát phẩm chất. Thứ hai, ông nhấn mạnh một sự tách biệt trọng lượng rõ ràng 100/0 phần trăm trong mỗi tư thế. Khi tôi hỏi ông tại sao nhiều người khác dạy thái cực quyền với những sự cân bằng trọng lượng khác, ông chỉ nói, "Đây là cách gia đình tôi, ngược lại đến ông cố của tôi, đã luôn luôn dạy bài quyền." Thứ ba, ông nhấn mạnh việc thực hiện những tư thế dài, và đặc biệt khuyến khích những học trò trẻ tuổi hạ thấp người xuống rất nhiều. Thứ tư, ông chủ trương những chuyển động duỗi dài lớn, nơi đôi bàn tay luôn được vươn ra và tương đối xa khỏi cơ thể, với hai nách cực kỳ mở. Ông khuyến khích các học trò kéo dài cánh tay của họ ra từ cột sống, thường nhẹ nhàng kéo khuỷu tay hay bàn tay của họ về phía trước, để thiết lập cảm giác ấy trong cơ thể của họ.
Tôi thường đến sớm cho các lớp của ông và ở lại sau lớp bài quyền của mình để có thể quan sát và học thêm, điều mà ông đã lịch thiệp cho phép. Đôi khi, giữa những học trò, khi chưa đến lượt tôi kế tiếp, ông hào phóng cho phép tôi đặt một câu hỏi. Việc nhìn thấy nguồn cội mà từ đó rất nhiều phiên bản bài quyền thái cực quyền Dương thị đã phát sinh quả là rất bổ ích. Chẳng hạn, một lần tôi hỏi về việc thực hiện những cú đẩy trong bài với các ngón tay hướng thẳng về phía trước, như một số người đã làm ở Đài Loan. Ông nói đây không phải là cách của gia đình họ Dương, khẳng định rằng các đầu ngón tay nên hướng thẳng lên trên theo chiều dọc khi lòng bàn tay đẩy về phía trước, và khuyên tôi hãy xem cuốn sách của cha ông.
Vào một dịp khác, vài học trò trong trường của ông đã tiến cử rằng tôi nên đi gặp một vị Đạo gia để học về thiền định, và tôi hỏi Dương xem ông có dạy điều đó nữa hay không. Ông đáp
Dương Thiệu Quân — Đôi Tay Từ Tính, tiếp theo
rằng ông không dạy, và các thành viên trong gia đình ông đã không dạy từ ban đầu. Ông dạy những khía cạnh võ thuật và khí công của thái cực quyền, và rằng nếu mối quan tâm của tôi là thiền định, tôi sẽ cần phải tìm nơi khác.* Một lần khác, ông nói với tôi rằng ông dạy truyền thống thái cực quyền của gia đình mình vì bổn phận phải truyền lại truyền thống ấy. Ông ngưỡng mộ tình yêu và niềm vui đối với võ thuật mà ông cố của ông đã sở hữu.
Nói chung, học trò của Dương đều được giáo dục tử tế và một số nói tiếng Anh cũng như tiếng Quảng Đông. Nhiều người mà tôi đã nói chuyện cùng là những cá nhân thân thiện và sâu sắc. Những cuộc trò chuyện rất thú vị.
Thông thường khi tôi đến lớp, vài người đã đang tập Thôi Thủ bên bức tường kế cạnh cửa ra vào. Họ thực hiện một dạng Thôi Thủ tĩnh, nơi cả hai người sẽ đứng đối diện nhau trong một thế Tế (ép tới), không di chuyển cũng không nhường nhịn. Người đang đối diện với bức tường sẽ cố gắng phóng lực, bứng gốc, và ném sầm người kia vào tường, với chuyển động bên ngoài tối thiểu hoặc không có gì rõ ràng. Người có lưng dựa vào bức tường sẽ cố gắng hoặc hấp thụ lực của người kia hoặc chỉ đẩy đối thủ lui một hay hai phân (nhiều hơn, và người bị đẩy sẽ ngã vào lòng của những người đang ngồi trong phòng chờ
nhỏ hẹp). Người vợ nhỏ nhắn gầy gò của Dương rất thích tập Thôi Thủ với những học trò đang chờ, nảy họ bật vào tường. Ý tưởng thực hiện Thôi Thủ mà không xoay eo và không nhường nhịn lực của một người là điều khác thường, và khác biệt với mọi điều mà trước đây tôi đã học. Hoạt động Thôi Thủ này khiến tôi vừa trở nên hoài nghi vừa tò mò cùng một lúc. Tuân giữ lễ nghi, tôi thưa với Dương, sau khi tôi đã tập bài một thời gian, rằng tôi có một ít kinh nghiệm về Thôi Thủ và muốn hiểu xem họ đang làm gì ở bức tường. Dương đồng ý, và vào một ngày thứ Bảy tôi được mời đến dự một lớp Thôi Thủ.
Khi tôi bước vào, Dương đang tập với các học trò trong phòng dạy chính. Ông đang đặt hai bàn tay lên vai họ và nảy họ lên xuống theo chiều thẳng đứng trong không trung, luôn với một nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt. Đó là một lớp nhỏ chỉ có sáu hay tám người. Trong khu vực chờ, tôi nhờ một trong số họ tập Thôi Thủ. Anh ấy chỉ cho tôi phương pháp ép hai người và giải thích rằng nó được dùng để phát triển năng lực phóng lực. Tôi đã có thể phần nào trung hòa được anh ấy. Rồi anh ấy nói rằng tôi thực sự nên dốc toàn lực vào. Tôi làm điều mà mình quen thuộc, nhường nhịn, xoay eo, và ném anh ấy vào tường hết lần này đến lần khác.
Khi Dương xong việc nảy người theo chiều thẳng đứng trong phòng kia, tất cả chúng tôi xếp hàng dọc theo bức tường trong phòng chính và thực hành kỹ thuật ấy. Một lần nữa, tôi xoay, nhường nhịn, rồi xoay và phản công thành công với một học trò đã tập thái cực quyền lâu hơn tôi vài năm.
Rồi đến lượt tôi tập Thôi Thủ với Dương. Lực của ông đáng kể, và ông dễ dàng nảy tôi sau khi tôi nhường nhịn. Rồi, khi tôi kế tiếp cố gắng nhường nhịn, ông giữ chặt tôi, chỉ bằng hai lòng bàn tay của ông, khóa chặt tôi lại đến mức không thể nhường nhịn hay di chuyển tứ chi hay cơ thể của tôi theo bất cứ hướng nào, hoặc thi triển bất cứ loại lực nào chống lại ông, theo bất cứ cách nào. Nó giống như bị một thỏi nam châm giữ chặt. Do những hoàn cảnh vượt ngoài tầm kiểm soát của mình, tôi không may đã phải rời Hồng Kông ngay sau đó. Trải nghiệm như bị trói trong một chiếc áo bó ấy với Dương mãi mãi khắc sâu trong tâm trí tôi.
* Về sau tôi đã học thiền định của Đạo gia từ Lưu Hùng Giới, thứ thiền định có liên quan trực tiếp đến thái cực quyền. Tuy nhiên, Lưu nói rõ rằng ông đã học điều này từ những bậc thầy thiền định Đạo gia, chứ không phải từ sư phụ thái cực quyền của ông là Ngô Giám Tuyền. Mặc dù Ngô đã cầu nguyện tại một bàn thờ Đạo gia và thực hành thiền định, ông đã không dạy điều đó cho Lưu khi Lưu sống trong nhà của ông.
Lưu Hùng Giới biểu diễn ứng dụng chiến đấu Ngũ Hành của quyền Toản (Drilling Fist) của hình ý quyền, đấm vào đầu của tác giả.
HÌNH Ý QUYỀN — NHỮNG CÂN NHẮC VÀ ỨNG DỤNG CHIẾN ĐẤU
HÌNH Ý QUYỀN NHƯ MỘT MÔN VÕ THUẬT
Cũng như thái cực quyền, hình ý quyền là một môn nội gia quyền thuật lai. Nó tồn tại ở vùng đất trung gian giữa những thái độ tâm lý và khuynh hướng cảm xúc của các môn võ thuật Thiếu Lâm và những phương pháp khí về nội lực của Đạo gia. Cái tên hình ý quyền (hsing-i chuan) được cấu thành từ ba thuật ngữ:
1. Chuan (xem tr. 122), được dịch là "quyền" (nắm đấm). Từ này liên quan đến mọi thứ có liên quan đến việc đánh bại một con người trong chiến đấu thể xác.
2. Hsing, có nghĩa là "hình thức của một sự vật." Mọi thứ biểu hiện, ở cấp độ năng lượng hay vật chất, theo cách này hay cách khác đều có một hình thức, một hình dạng, một sự gắn kết, một cấu hình — hình thức của một cái tách, hình thức của một tư tưởng, hình thức của những loài động vật khác nhau. Cụ thể hơn, hsing chỉ hình thức hay hình dạng mà cơ thể sẽ mang trong một tư thế võ thuật được thủ để đánh, quăng ném, hay khống chế một đối thủ.
3. I, cụ thể trong cụm từ hsing-i, chỉ năng lực của tâm trí tạo ra một ý tưởng và phóng nó vào cơ thể, tạo ra một hình thức vật lý có chức năng, tức là, một cách di chuyển, một chiến lược chiến đấu, một tư thế chiến đấu, hay một loại lực.
Thuật ngữ hsing-i, như vậy, có thể được nhìn từ hai quan điểm. Thứ nhất, nó là bất cứ hình thức nào mà tâm trí — "I" — hướng dẫn. Nếu tâm trí tưởng tượng ra một khái niệm, cơ thể tự động đúc khuôn và tạo ra một chuyển động và hình thức của cơ thể mà thực dụng thực thi ý tưởng ấy. Thứ hai, qua một phép loại suy máy tính, hình thức (phần cứng) có thể chạy nhiều loại ý tưởng (phần mềm), và do đó có một nhu cầu phải biết và phát triển tất cả những ý tưởng mà một hình thức có khả năng mang lại.
Hình Ý Quyền Là Một Cây Cầu Tuyệt Vời Từ Các Môn Võ Thuật Ngoại Gia Sang Nội Gia
Những người thực hành hình ý quyền có cách tiếp cận mang tính quân sự — diễu hành theo những đường thẳng, với một sự nhấn mạnh mạnh mẽ ở cuối mỗi kỹ thuật vào việc đánh ngã một kẻ thù bằng tinh thần hay bằng thể xác. Theo nghĩa này, hình ý quyền tương tự như hầu hết các môn võ thuật đấm và đá. Những thuộc tính ngoại gia hiển nhiên của việc đấm đá là điều cố hữu trong cách hình ý quyền được thực hành. Đối với nhiều người theo võ thuật ngoại gia không thỏa mãn với việc tập bài quyền chuyển động chậm của thái cực quyền, hình ý quyền được thực hiện ở tốc độ bình thường thì vừa vặn.
Hơn nữa, ẩn giấu bên trong những kỹ thuật dường như tuyến tính của hình ý quyền là một lượng đáng kể những vòng tròn trọn vẹn rất nhỏ, gần như không thể thấy được, vốn thường thiếu vắng trong các môn võ thuật ngoại gia. Theo nhiều cách, hình ý quyền là một loại karate nội gia tinh vi. Thay vì sử dụng sự căng cơ bắp hay sự giận dữ để tạo lực, hình ý quyền thay vào đó tập trung vào việc sử dụng sự thư giãn, khí, và sự tĩnh lặng của tâm trí để hoàn thành mục tiêu võ thuật thực dụng là chiến thắng trong một cuộc đối đầu bạo lực. Hình ý quyền sở hữu những mục tiêu chủ yếu giống hay tương tự như những môn võ thuật ngoại gia khác, chẳng hạn như karate hay quyền Anh, nhưng bao gồm cả công việc về khí, các khía cạnh sức khỏe, và năng lực duy trì hiệu quả võ thuật cho đến tuổi già mà hầu hết các môn võ thuật ngoại gia thiếu vắng.
Những kỹ thuật nội tại của hình ý quyền có thể tinh tế và hầu như vô hình như những kỹ thuật của bát quái hay thái cực quyền. Tuy nhiên, hình ý quyền không tập trung vào những năng lượng nội tại âm (mềm), mà đúng hơn là vào những năng lượng nội tại dương (cứng) của các chiến thuật tái định vị, tìm ra một góc chiến đấu hiệu quả, và sử dụng nội lực đáng gờm. Kỹ thuật của hình ý quyền không có cảm giác mềm, nhưng có thể xuất hiện như vậy khi chạm vào do sự linh hoạt cực độ và năng lực thay đổi mau lẹ từ chiến thuật này sang chiến thuật khác của nó. Đa số toàn bộ công việc nội tại trong thái cực quyền và hình ý quyền là hoàn toàn giống nhau. Những sự khác biệt nằm chủ yếu ở chỗ thái cực quyền về cơ bản tìm cách dung hợp năng lượng cứng và mềm, trong khi hình ý quyền chỉ tìm cách tối đa hóa năng lượng cứng. Những thuật ngữ "cứng" và "mềm" hoàn toàn không nói về bắp cơ, mà nói về phẩm chất của năng lượng nội tại. Cả hai môn đều đòi hỏi bắp cơ mềm và thư giãn và không bao giờ sử dụng những sự co rút cơ bắp.
Kỹ thuật thể lý của hình ý quyền hoàn toàn dựa trên việc sử dụng hiệu quả hệ thống nội lực nội công; do đó, nó là nội gia. Bởi vì điều này, nó cũng có khả năng làm cho kẻ yếu trở nên mạnh mẽ và kẻ ốm đau trở nên khỏe mạnh. Tuy nhiên, tập hợp tâm trí chủ yếu của nó vẫn là tập hợp hung hăng của Thiếu Lâm, karate, hay quyền Anh.
Quan điểm của hình ý quyền là, như đã nói, mang tính quân phiệt: xác định nhiệm vụ, làm bất cứ điều gì cần thiết để chiến thắng, tốt nhất là với sự tổn hại tối thiểu, nhưng không có sự áy náy về việc gây ra bất cứ mức độ đau đớn hay tổn hại nào mà tình huống đòi hỏi. Cũng như nhiều nhân viên quân sự, những người thực hành hình ý quyền thường tự hào về tài nghệ chiến đấu của mình. Những câu chuyện về các sư phụ hình ý quyền thời xưa thường kể về việc họ chỉ khẽ quệt qua đối thủ của mình thế mà vẫn để lại những vết sưng và bầm tím khổng lồ trên cơ thể. Cũng như thái cực quyền và bát quái, hình ý quyền có năng lực phóng ra phát kình mà không gây đau đớn, thương tích, hay tổn hại nghiêm trọng
Hình Ý Quyền Như Một Môn Võ Thuật
Những cú sốc đối với hệ thần kinh trung ương của người nhận đòn. Tuy nhiên, không giống như thái cực quyền và bát quái chưởng, hình ý quyền có xu hướng không sử dụng mặt dịu dàng của nó.
Đại đa số các môn phái hình ý quyền đều đề cao thái độ "nam tính" được định nghĩa bởi văn hóa: Giải quyết vấn đề theo cách ngắn nhất và trực tiếp nhất để giành chiến thắng. Về mặt thể chất, thái độ này được chuyển hóa thành: vào thế, tấn công, và hạ gục đối thủ với lượng năng lượng lãng phí ít nhất có thể. Cách tiếp cận này khá khác biệt so với đại đa số các trường phái thái cực quyền, vốn khuyến khích thái độ âm là nhượng bộ và hợp tác để thắng, không làm ai bị thương nếu có thể về mặt con người.
Nguồn Gốc Lịch Sử Của Hình Ý Quyền
Tương truyền hình ý quyền nguyên thủy do Nhạc Phi sáng tạo, người mà nhiều người xem là vị tướng giỏi nhất của Trung Quốc. Ở Trung Quốc, người ta thường suy đoán rằng, nếu hoàng đế Trung Quốc không đem lòng ghen tị với tài quân sự và sự yêu mến của dân chúng dành cho Nhạc Phi, và ra lệnh cho ông tự sát, thì Nhạc Phi đã chặn đứng cuộc xâm lược của người Mông Cổ ngay tại chỗ. Câu chuyện kể rằng Nhạc Phi đã sáng tạo ra hai môn võ cho binh lính của mình dùng trong chiến đấu. Cho các binh sĩ cấp thấp, ông sáng tạo ra quyền bắt cánh đại bàng (eagle-claw boxing), và cho các sĩ quan, ông sáng tạo ra môn hình ý quyền mạnh mẽ hơn, dựa trên kỹ thuật thương (giáo), điều này giải thích cho diện mạo tuyến tính của các động tác hình ý quyền.
Có rất nhiều ghi chép về lịch sử hình ý quyền, điều quan trọng đối với những học viên tương lai của môn võ này ở chỗ chúng ghi lại vô số các dòng truyền thừa hình ý quyền. Những lời dạy hình ý quyền càng gắn bó chặt chẽ với tài liệu dòng truyền thừa nguyên thủy thì càng tốt cho học viên. Không giống như những người thực hành thái cực quyền và, ở mức độ thấp hơn, bát quái chưởng, những người hình ý quyền mạnh nhất đã không và vẫn không cố gắng dạy phương pháp của mình thuần túy vì sức khỏe. Không giống như bát quái chưởng, hình ý quyền không đẹp để xem. Với sự thiếu thẩm mỹ của hình ý quyền, quan hệ công chúng nghèo nàn của nó về những lợi ích sức khỏe, và định hướng võ thuật gắt gao không cầu kỳ, nó có xu hướng thu hút số lượng tín đồ ít hơn các môn võ thuật khác. Ở đây chỉ cung cấp một lịch sử sơ lược, một lịch sử tập trung vào giá trị của môn võ đối với những người thực hành bước vào thế kỷ hai mươi mốt — nói cách khác, giá trị của nó cho sức khỏe và chữa lành, giảm stress, tự vệ, và sự cân bằng chung trong một xã hội công nghệ nghẹt thở.
Sau Nhạc Phi, dòng truyền thừa đi qua nhiều người khác nhau. Thông thường người ta thấy những câu chuyện dài dòng về việc người kế thừa tiếp theo bị người nắm giữ dòng truyền thừa trước ép phải nuôi dưỡng sự kiên nhẫn và quyết tâm to lớn bằng cách trải qua những gian khổ khắc nghiệt và những thử thách về phẩm hạnh đạo đức. Chỉ sau khi người kế thừa tiềm năng chịu đựng được những thử thách này, người nắm giữ dòng truyền thừa hiện tại mới đồng ý trước tiên truyền cho những mảnh kiến thức nhỏ, và cuối cùng là toàn bộ lời dạy, cho phép người kế thừa tiếp thu toàn bộ hệ thống kiến thức, và nhờ đó có năng lực truyền lại nó.
(Văn bản tiếp tục ở trang 178.)
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Thiền Võ Bắc Phương (Northern Praying Mantis)
Thế thủ cơ bản của quyền Thiền Võ (Praying Mantis boxing) giống với cách mà chính con côn trùng giữ hai chân trước khi nó đứng yên. Tôi học Thiền Võ để tìm câu trả lời cho việc tại sao rất nhiều võ sư ở Trung Quốc thường nói, "Thiền Võ sợ nhất là hình ý quyền."
Rồi, tôi cũng muốn cố gắng tìm hiểu xem, nếu có, thực tế nào nằm sau câu chuyện về "cái chạm gây chết" (dim mak trong tiếng Quảng Đông; dian xue trong tiếng Trung tiêu chuẩn), thứ thường bị thổi phồng trong các tạp chí võ thuật. Thiền Võ, cả trong trường phái Bắc và Nam, được cho là chuyên môn về kỹ thuật này. Theo sau đó tôi phát hiện ra rằng phần lớn những bài viết trên tạp chí về chủ đề này là phóng đại.
Mặc dù các trường phái Thiền Võ Bắc và Nam hoàn toàn khác nhau về diện mạo lẫn kỹ thuật, nhiều người ở phương Tây vẫn nhầm lẫn giữa hai trường. Thiền Võ Nam tập trung vào chiến đấu cự ly gần; Thiền Võ Bắc tập trung vào chiến đấu cự ly trung bình và xa. Điều hai trường chia sẻ chung (bên cạnh bản chất cực kỳ hung hãn) là khả năng thực hiện những cú đánh nhanh, nhiều nhát với độ chính xác chết người vào các huyệt đạo hiểm yếu của đối thủ.
Thiền Võ Nam là một phương pháp cánh tay ngắn của tỉnh Quảng Đông, nơi hai tay giữ sát cơ thể. Nó tập trung sâu vào kỹ luyện chạm tay, đánh theo cách của Vịnh Xuân (Wing Chun) và nhấn mạnh công phu hơi thở cùng khả năng sử dụng và kiểm soát riêng biệt các chuyển động mở và đóng bên trong của từng khớp trong cơ thể. Có rất nhiều công phu khí công trong các bài quyền của Thiền Võ Nam. Hệ quả là, nó là một môn võ thuật ngoại/giới nội thực sự. Về phương diện này, nó liên quan về kỹ thuật với các lưu phái Quảng Đông của White Eyebrow và Wu Mei. Hầu hết các cú đánh của nó được tung ra ở cự ly gần từ một khoảng cách rất ngắn. Nó sử dụng rất ít đá, chủ yếu là đá trước, thường chỉ nhắm vào dưới thắt lưng.
Thiền Võ Bắc lại là một câu chuyện khác. Nó là một phong cách chiến đấu cự ly xa của tỉnh Sơn Đông, với những thế tấn duỗi dài và một kho vũ khí đa dạng các kỹ thuật tay, cẳng tay, và đá tầm xa, nói chung được thực hiện tới, nhưng không quá, cổ. Thiền Võ Bắc chủ yếu là một môn võ thuật ngoại gia, không có một phương pháp khí công phát triển tốt. Tuy nhiên, nó có những kỹ luyện xúc chạm phát triển cao.
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Thiền Võ Bắc Phương, tiếp theo
Bảy Sao (Seven Star) là nhánh kém tinh vi nhất của nó, và Lục Hợp Thiền Võ (Six Combination Praying Mantis) là nhánh tinh vi và hiệu quả nhất của nó. Tôi học ba phương pháp Thiền Võ Bắc Phương: đầu tiên là Nửa Bước (Half-Step), kế đến là Bảy Sao, và cuối cùng là Lục Hợp.
Thầy Nửa Bước của tôi đã hơn tám mươi tuổi, một người đàn ông đậm người tỏa ra một cảm giác phẩm giá to lớn. Ông ấy thích dùng những cú đánh bằng sức mạnh hơn là những cú đâm chính xác, và những cú đánh bằng cẳng tay và nắm đấm búa của ông hạ xuống như những ống chì trong các ứng dụng chiến đấu.
Đúng với phong cách Thiền Võ Bắc, ông thích dùng kỹ thuật chủ đạo là sử dụng một bàn tay bắt giống càng cua để trước tiên giật nắm đấm đang lao tới của một người đàn ông ra khỏi không trung, sau đó phá thăng bằng của kẻ tấn công bằng cẳng tay đối diện, và kết thúc công việc bằng một cú phản công bằng chính bàn tay bắt ban đầu. Một phần của việc phá thăng bằng kẻ tấn công liên quan đến việc trước tiên đập vào dây thần kinh quay ở cẳng tay hắn, điều gây ra cơn đau khủng khiếp ngăn hắn chống đỡ trước đòn tấn công tiếp theo. Vị thầy này thích dùng kỹ thuật dậm chân kết hợp với việc bắt một cánh tay, tiến nửa bước tới trước, đánh, và gây sốc cho kẻ tấn công đến mức suýt chết. Thiền Võ, nhiều hơn hầu hết các hình thức Thiếu Lâm, sử dụng các kỹ thuật dậm chân đẩy khí của người dậm xuống đất, từ đó sự bật lại năng lượng tự nhiên sinh ra sức mạnh to lớn trong cú đánh tiếp theo của chuyên gia Thiền Võ. Đồng thời với việc khí đi xuống đất, một sóng xung kích được tạo ra xuyên qua cơ thể đối thủ.
Một đặc sản khác của Thiền Võ Bắc là shao twei, một loại cắt chân, quét mắt cá, hoặc đá nhắm thẳng vào một vài điểm nhạy cảm về thần kinh trên bắp chân hoặc gân Achilles, mà nó cố gắng bẻ gãy.
Vị thầy giới thiệu tôi với Thiền Võ Bảy Sao là một người đàn ông thấp, gầy dạn dĩ ở tuổi năm mươi. Một cựu trung sĩ trong quân đội, ông nói tiếng Quan Thoại với một giọng Sơn Đông rất đậm, đến nỗi tôi không bao giờ hoàn toàn chắc chắn ông đang nói gì. Các học trò của ông nói với tôi rằng vị huấn luyện viên này rất nổi tiếng trong những khu uống rượu nặng của Đài Bắc vì đã dùng kỹ năng của mình trong một số trận đấu thách đấu diễn ra sau khi ông theo quân đội từ Đại Lục đến Đài Loan. Những câu chuyện kể rằng kỹ thuật thử và đúng của ông thành công chống lại những người đàn ông to lớn và mạnh mẽ hơn ông nhiều. Từ sáu feet xa người thách đấu, ông sẽ thực hiện một cú đá bay vào ngực hoặc đầu. Khi hai chân ông đang hạ xuống, ông sẽ tấn công bằng nhiều cú đánh tay, và khi đối thủ cố gắng tự vệ, hắn sẽ phát hiện ra rằng hai tay mình bị ghim giữa không trung.
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Thiền Võ Bắc Phương, tiếp theo
Khi tiếp đất, thầy Bảy Sao sẽ quật đối thủ xuống bằng shao twei và những cú đá ngược, để lại hắn ở thế sẵn sàng đá vào đầu, háng, hoặc đầu gối của người vừa bị quật.
Thầy Lục Hợp Thiền Võ của tôi chuyên về những cú đánh vào các điểm nhạy cảm trên cơ thể bằng các ngón tay cũng như những bàn tay và lòng bàn tay cắt. Ông là một người năm mươi tuổi cơ bắp với những cánh tay cực kỳ dài, gân và cơ nổi lên khi ông co cẳng tay. Ông bình thường từ chối dạy bất kỳ ai, và chỉ dạy tôi để đền món nợ mà ông cảm thấy mình nợ một bên thứ ba. Là một người có của, tất cả việc huấn luyện diễn ra riêng tư trong sân tường rào lớn của ông. Việc dạy của ông tập trung vào các ứng dụng chiến đấu thông qua đấu tập (sparring). Ông chơi thô bạo như một thói quen, liên tục gia tăng tốc độ, sức mạnh, và sự tàn ác trong khi đấu tập để cố ý ép học trò leo lên cấp độ năng lực võ thuật tiếp theo. Là học trò của ông, bạn tuyệt đối phải tiến bộ để tìm ra cách vật lý đối phó với ông. Nếu bạn không đưa ra một sự phòng thủ với nhiệt huyết, ông sẽ thực sự chích những điểm nhạy cảm của bạn, chẳng hạn như cổ họng hoặc những xương ngay sau tai.
Nếu bạn không thể thực hiện đạt tiêu chuẩn (điều khó làm khi những ngón tay liên tục lao vào mắt và những phần dễ tổn thương nhất của cổ họng, cổ, và đầu bạn), bạn sẽ bị quật mạnh xuống bằng shao twei, để suy ngẫm về bất cứ điểm nào vừa được đóng đinh vào đầu.
Một cụm từ dùng để mô tả Thiền Võ Bắc Phương là, "Tay thiền, chân khỉ." Về cơ bản, Thiền Võ chiến thuật tập trung vào những bước nhảy, bước lướt, và nửa bước để áp sát đối thủ từ những cự ly chiến đấu trung bình hoặc xa. Thiền Võ đặc biệt ưa chuộng những bước lướt nơi bàn chân sau dường như đang đá bàn chân trước vào chuyển động.
Thiền Võ Bắc Phương, trên thực tế, có một số đặc điểm phân biệt. Nó sử dụng mũi khuỷu tay, thứ giữ cố định trong không gian như một điểm tựa đa góc mà xung quanh đó cẳng tay xoay và các đầu ngón tay đánh vào những điểm hiểm yếu trên cơ thể. Từ một vị trí xuất phát, nơi cẳng tay bạn thẳng đứng và các ngón tay mỏ chim (beak-hand) ở ngay trước mặt bạn, các ngón tay Thiền Võ đánh hướng xuống về phía bên trong cơ thể bạn ở bất kỳ điểm nào trên một cung 180 độ hoặc hơn, và về phía bên ngoài cơ thể bạn lên đến 45 độ. Tại mỗi nơi, các ngón tay Thiền Võ có thể tung ra một cú đánh toàn lực vào một điểm hiểm yếu. Trong vòng một giây, bàn tay mỏ có thể sau đó đổi mục tiêu và đánh với nhiều cú đâm ngón tay ở những góc cực kỳ khác biệt dọc theo một trục 225 độ trở lên.
Những chuyển động cổ tay bật nhanh và đa góc tạo ra mọi loại cú đánh bằng khớp đốt cũng là một đặc sản của Thiền Võ Bắc. Bát quái chưởng thực sự có một dải kỹ thuật rộng hơn, nhưng thay vì những cú đánh mang tính tuyến tính và giật cục như Thiền Võ, chúng được thực hiện bằng những chuyển động cổ tay tròn và xoắn ốc rất mượt mà trông như một con quay hồi chuyển đang chuyển động, nơi mỗi vài độ xoay tạo ra một vũ khí tay mới. Do sự nhấn mạnh trong Thiền Võ vào việc đánh các điểm hiểm yếu, tốc độ cực nhanh và độ chính xác của các cú đánh thường được coi trọng hơn sức mạnh. Sức mạnh của Thiền Võ bắt nguồn từ cẳng tay và khả năng của nó đột ngột bắt và kéo một đối thủ với lực sốc đáng kể. Phong cách này nhấn mạnh tốc độ cực nhanh trong việc đổi từ cú đánh tay này sang cú đánh tay khác. Trong một đợt tấn công liên tục, một người Thiền Võ, dùng một kỹ thuật bật tay khác nhau mỗi lần, có thể đánh năm hoặc sáu lần, mỗi lần từ một góc hoàn toàn khác — cao, thấp, hoặc ở hai bên đối diện của cơ thể.
Khía cạnh đánh nhiều nhát của Thiền Võ đặc biệt hữu ích cho việc mài giũa các kỹ thuật phòng thủ võ thuật nội gia của tôi. Có những phương pháp bát quái chưởng tạo ra những đợt tấn công liên tục thậm chí nhanh hơn và đa dạng hơn những của Thiền Võ. Tuy nhiên, Thiền Võ củng cố nhu cầu tôi đã nhận thức được — khả năng phòng thủ thực hiện những tổ hợp đa hướng trôi chảy khi ở phía bên kia của một đợt tấn công cực kỳ hung hãn và áp đảo. Biết logic nội tại của Thiền Võ và quan điểm chiến đấu của nó khi đối phó với nhiều đợt tấn công khiến tôi trân trọng nhu cầu thêm những lớp vào năng lực phòng thủ võ thuật nội gia của mình mà nếu không tôi đã có thể bỏ qua.
Cuối cùng hóa ra rằng lý do Thiền Võ sợ nhất hình ý quyền là hai mặt. Trước hết, những khuỷu tay chìm và luôn hạ thấp của hình ý quyền có thể, tại những điểm chuyển đổi then chốt giữa các kỹ thuật, đơn giản vô hiệu hóa những khuỷu tay yếu hơn của Thiền Võ. Thứ hai, đặc biệt trong một đợt tấn công sấm sét nhiều nhát, chuyển động tiến lên không ngừng của hình ý quyền lấy mất những kẽ hở trong nhận thức và chuyển động thể chất mà một người chơi Thiền Võ kỳ vọng và cần tìm thấy ở một đối thủ để định vị một lỗ hổng qua đó tung những cú đánh thành công đầu tiên và tiếp theo.
Vào cuối ngày, xét đến các kỹ thuật chiến đấu liên quan, thật dễ thấy tại sao, giống như chính con côn trùng thiền võ dùng chân xé con mồi ra, phong cách võ thuật Thiền Võ lại huyền thoại vì sự tàn ác của nó.
LIEN HUAN — Một trong những bài quyền của hình ý quyền, dựa trên Ngũ Hành.
BA SHR — Một trong những bài quyền của hình ý quyền dựa trên Ngũ Hành.
TSA JR CHUEI — Một trong những bài quyền của hình ý quyền dựa trên Mười Hai Hình Thú.
Hình ý quyền hiện đại xuất hiện từ tây bắc Trung Quốc vào thế kỷ mười chín. Nó bắt đầu với một cá nhân tên là Lý Loăng Năng (còn gọi là Lý Năng Nhiên), người đã học thành công hình ý quyền không phải khi còn trẻ, mà ở tuổi trung niên. Cuối cùng, Lý thuyết phục thầy của mình là Đại Long Bang truyền đạt trọn vẹn kiến thức của ông bằng cách nhờ mẹ của Đại nài xin cho mình. Nhiều võ sư hình ý quyền thời kỳ đầu là những người mù chữ mà toàn bộ sự giáo dục của họ nằm ở cách thu được nội lực thường nằm ngoài tầm với của tầng lớp có học thức nhất. Những người hình ý quyền thường điều hành các cơ quan hộ tống, thứ, trong thời đại trước súng đạn, cung cấp sự bảo vệ khỏi ám sát cũng như an ninh thể chất chống lại bọn cướp tìm cách ăn cắp những lô hàng hóa có giá trị.
Lý Loăng Năng là một nhân vật nguồn gốc mang tính thần thoại với nhiều học trò. Từ nguồn này, theo thời gian, ba trường phái thực hành hình ý quyền rõ rệt đã tiến hóa. Các trường phái này được thảo luận trong những phần theo sau.
BA TRƯỜNG PHÁI CHÍNH CỦA HÌNH Ý QUYỀN
Trường Phái Sơn Tây (The Shanxi School)
Sau khi hình ý quyền đi từ huyền thoại Nhạc Phi thời trung cổ triều Tống đến Lý Loăng Năng vào thế kỷ mười chín, nó đã trải qua một vài thay đổi, khi những hậu duệ võ thuật của Lý pha trộn hình ý quyền nguyên thủy với các thực hành nội gia khác để tạo ra hai phong cách mới.
Trường phái nguyên thủy thường được gọi là trường phái Sơn Tây vì đó là nơi Lý Loăng Năng dạy các học trò của mình. Ở Bắc Kinh, mặc dù nhiều trường phái xưng mình dạy một phong cách Sơn Tây (bởi vì nó là phương pháp nguyên thủy), trên thực tế chúng gần với phong cách Hà Bắc hơn (xem phần theo sau). Danh xưng không nhất thiết chỉ ra một thực tế.
Trong phong cách Sơn Tây nguyên thủy có sự nhấn mạnh ngang nhau vào Ngũ Hành và các Hình Thú. Bên cạnh việc thực hiện các động tác đơn trong những hàng thẳng, Sơn Tây Nguyên Thủy có những bài quyền ngắn hoặc kata, chẳng hạn như lien huan (bài liên kết), ba shr (tám hình) cho Ngũ Hành, và tsa jr chuei (quyền hỗn hợp hoặc phức tạp) cho các Hình Thú, những thứ kết hợp các động tác hàng đơn lẻ. Đôi khi một Hình Thú đơn lẻ cũng có một bài quyền ngắn được thiết kế để thực hiện về mặt thể chất các nguyên tắc cơ bản và ý niệm tâm trí của Hình Thú đơn lẻ đó. Nguyên thủy, có Mười Hai Hình Thú. Ngày nay, một số hệ thống không thực hành cả mười hai, một số thực hành ít hơn mười.
Ở phương Tây, sự liên quan của việc một trường phái hình ý quyền có nguồn gốc Sơn Tây thường không giúp học viên hiểu trường phái đó thực sự làm gì. Trong trường phái nguyên thủy, hình ý quyền được học trong ba giai đoạn tiến triển rõ rệt: Tam Thể (San Ti), rồi Ngũ Hành và các bài quyền kết hợp của chúng, rồi mười hai con vật và các bài quyền của chúng. Khi các học viên hình ý quyền nguyên thủy lan ra từ tỉnh Sơn Tây, các trường phái khác được thành lập và được gọi bằng tên của những tỉnh nơi họ đã định cư. Hai tỉnh phổ biến nhất là Hà Bắc và Hà Nam. Ở tỉnh Hà Nam, một phong cách hình ý quyền của người Hồi giáo được kể là đã thịnh vượng. Thực hành giả đã đưa nó đến đó là một tín đồ của đạo Hồi. Trường phái Hà Bắc thường không giữ nguyên hình ý quyền thuần túy, mà pha trộn với bát quái chưởng.
Trường Phái Hà Bắc (The Hebei School)
Nhiều học trò xuất sắc nhất của Lý Loăng Năng đã kết thúc bằng việc đến tỉnh Hà Bắc, đặc biệt là Bắc Kinh và thành phố cảng gần đó là Thiên Tân. Trong cùng thời kỳ này, trường phái bát quái chưởng cũng đang lên, và hai trường phái huấn luyện với nhau.
Có nhiều câu chuyện chính xác về mối quan hệ giữa bát quái chưởng và hình ý quyền. Một thần thoại phổ biến đã được kể lại trong nhiều cuốn sách tiếng Anh chắc chắn là không chính xác. Nó liên quan đến một trận đấu bị cáo buộc giữa người sáng lập bát quái chưởng, Đổng Hải Xuyên, và vị sư phụ hình ý quyền nổi tiếng, Quách Vân Thâm, và việc làm sao kết quả của trận chiến sử thi này khiến người hình ý quyền và người bát quái chưởng đến với nhau để trao đổi kiến thức lẫn nhau. Câu chuyện này là một huyền thoại hay, nhưng chỉ có thế.
Trong thực tế, người bát quái chưởng và người hình ý quyền luôn thân thiện. Trên thực tế, vào đầu thế kỷ, có một ngôi nhà ở Thiên Tân nơi bảy võ sư hình ý quyền và bát quái chưởng sống cùng nhau như bạn bè, bao gồm Lý Tông Nghĩa, một tay hình ý quyền hàng đầu, Trình Đình Hoa, một trong Tứ Đại (Big Four) của Đổng (xem tr. 309), và Trương Chiêu Đồng, một tay hình ý quyền/bát quái chưởng hàng đầu khác. Tất cả họ đều cống hiến cho võ thuật và đều là thầy dạy. Thay vì đối đầu nhau, hai phe này hợp tác trong việc huấn luyện võ thuật của họ. Kết quả của sự tương tác này, người hình ý quyền luôn muốn học bát quái chưởng, vì họ liên tục bị đánh bại khi tập luyện với những người bạn bát quái chưởng của mình. Người bát quái chưởng có tư duy cởi mở và thích học hình ý quyền, nhưng sự quan tâm của họ với hình ý quyền không sánh được với sự quan tâm mà người hình ý quyền có trong việc học bát quái chưởng. Tuy nhiên, các thầy bát quái chưởng thấy rằng có thể hữu ích cho những học viên mới bắt đầu của họ trước tiên có một nền tảng vững chắc về nội lực từ một phương pháp tuyến tính hơn, nhưng rõ ràng là nội gia. Sau đó họ có thể bắt đầu học phương pháp luận Tản Bộ (Circle-Walking) phức tạp hơn, thứ đòi hỏi một quá trình tinh thần tinh vi hơn. Chính nhờ tình bạn này, đặc biệt là giữa Trình Đình Hoa của bát quái chưởng và Lý Tông Nghĩa của hình ý quyền, và không phải vì bất kỳ trận chiến sử thi huyền thoại nào, mà xu hướng pha trộn hình ý quyền và bát quái chưởng nguyên thủy bắt đầu và tiếp tục.
Ghi chú của biên tập viên: Tác giả đã nghiên cứu độ chính xác của những câu chuyện liên quan đến mối quan hệ của hình ý quyền và bát quái chưởng. Tất cả nghiên cứu của ông thực hiện ở Bắc Kinh chỉ ra rằng Quách Vân Thâm và Đổng Hải Xuyên hầu như không có liên hệ gì với nhau.
HEBEI HSING-I — Một trong những nhánh chính của hình ý quyền; một phong cách mới chịu ảnh hưởng nặng nề bởi bát quái chưởng.
BENG CHUAN / QUYỀN NGHIỀN NÁT (CRUSHING FIST) — Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
NEI JIA — Một thuật ngữ dùng để mô tả tất cả các môn võ thuật nội gia hoặc các thực hành khí của Đạo gia như là một gia đình.
Có những trường phái bát quái chưởng nơi các kỹ thuật được thực hiện giống như hình ý quyền, và có những trường phái hình ý quyền mà trong đó các kỹ thuật được thực hiện theo cách của bát quái chưởng. Một trong nhiều ví dụ sẽ là hình ý quyền được dạy trong trường phái Thiên Tân đã pha trộn những lời dạy của Lý Tông Nghĩa và Trình Đình Hoa, thứ qua Trương Tuấn Phong đến Đài Loan và đến Hùng Nghị Tương. Các bài quyền của nó có những chuyển động của hình ý quyền cổ điển, nhưng phần lớn phương pháp luận của nó thực sự chứa đựng những nguyên tắc nội gia cơ bản và kỹ thuật của bát quái chưởng, vốn khá khác biệt so với hình ý quyền cổ điển. Ngược lại, nhiều người thực hành những chuyển động tròn của bát quái chưởng với tâm trí, năng lượng, và cơ học nội tại của hình ý quyền. Một ví dụ về điều này là phương pháp Tôn Lộc Đường.
Khi các nhóm hình ý quyền và bát quái chưởng pha trộn, phương pháp hình ý quyền mới được tạo ra thường trở nên được gọi là trường phái Hà Bắc. Trong trường phái hình ý quyền chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của bát quái chưởng này, ảnh hưởng và nhấn mạnh chủ đạo là vào Ngũ Hành, với các Hình Thú ở vị trí thứ yếu. Nói chung, nếu các thầy dạy cả bát quái chưởng lẫn hình ý quyền, họ thường tập trung lời dạy hình ý quyền của mình vào Ngũ Hành. Xu hướng này xảy ra vì dạy học viên có được một nền tảng vững chắc về nội lực thông qua ngũ hành thì dễ hơn là dạy họ thông qua Tản Bộ bát quái chưởng cơ bản. Tuy nhiên, một khi học viên có chút nội lực, các kỹ thuật Tản Bộ của bát quái chưởng phát triển khả năng thích ứng chiến đấu và năng lực sử dụng những góc chiến đấu tinh vi ở học viên tốt hơn nhiều so với các Hình Thú của hình ý quyền. Hệ quả là, các thầy dồn năng lượng vào việc dạy bát quái chưởng thay vì các Hình Thú hình ý quyền. Khi trường phái Hà Bắc có dạy các Hình Thú, nội dung nội tại có xu hướng giống bát quái chưởng hơn là hình ý quyền. Họ có thể sử dụng một số chuyển động ngoại tại của hệ thống hình ý quyền, hoặc những chuyển động hoàn toàn khác dùng thuật ngữ hình ý quyền, nhưng không phải là những động tác cổ điển.
Ở Thế Giới Phương Tây, số lượng lớn nhất các trường phái hình ý quyền thuộc về phương pháp Hà Bắc, mặc dù những trường phái như vậy có thể không ý thức được nguồn gốc của tài liệu của họ.
Trường Phái Ý Quyền (The I Chuan School)
Ý Quyền (I Chuan) là một trường phái pha trộn khác. Một trong những học trò tinh túy nhất của Lý Loăng Năng, người sáng lập trường phái Sơn Tây, là một người tên là Quách Vân Thâm, người có "trận chiến huyền thoại" với người sáng lập bát quái chưởng, Đổng Hải Xuyên. Nổi tiếng với nửa bước Beng Chuan (Quyền Nghiền Nát) của mình, Quách sản sinh ra hai học trò trở nên quan trọng trong sự phát triển của hình ý quyền. Người đầu tiên là Tôn Lộc Đường, người đã tạo ra một phong cách thái cực quyền hợp nhất hình ý quyền, thái cực quyền, và bát quái chưởng lại với nhau. Ông truyền bá rộng rãi ý tưởng rằng cả ba là một gia đình nội gia, gọi là nội gia (nei jia). Khi đã trưởng thành, Tôn học toàn bộ hệ thống hình ý quyền Sơn Tây trực tiếp từ Quách. Những hậu duệ võ thuật của Tôn trình bày sự trình bày thuần túy nhất về nghệ thuật của Quách.
Ghi chú của biên tập viên: Tác giả đã học Ý Quyền trong những ngày đại học ở Tokyo với Kenichi Sawai, người gọi nó là Taiki-Ken, và sau này ở Hồng Kông với Hàn Hưng Nguyên.
Nhánh Ý Quyền của hình ý quyền được sáng lập bởi học trò của Quách là Vương Tương Tế (Wang Hsiang Zai), người là đệ tử cuối cùng của Quách khi ông đã già. Vương chỉ học với Quách khi còn là thiếu niên. Về sau, Vương pha trộn hình ý quyền của Quách với quyền Anh phương Tây, khí công Phật giáo, và các kỹ thuật di chuyển chân bát quái chưởng mà ông học sau này trong đời để tạo ra Ý Quyền, hay quyền ý niệm tâm trí (mind intention boxing). Khi về già, phong cách của ông cũng được gọi là đại thành quyền (da cheng chuan), hay Quyền Thành Tựu Lớn.
Ý Quyền nhấn mạnh mạnh mẽ vào Tam Thể (xem tr. 190). Những người thực hành thường tập bài quyền trong nhiều thập kỷ, thường dành một nửa hoặc hơn mỗi buổi tập cho Tam Thể. Điều này khá khác biệt so với các trường phái Sơn Tây và Hà Bắc, nơi, sau vài năm đầu, Tam Thể chỉ được giữ trong vài phút mỗi lần, giữa các hàng hoặc ở cuối bài quyền. Hơn nữa, trường phái Ý Quyền cũng thực hiện Tam Thể khác với các trường phái khác. Ở đây, Pi Chuan (xem tr. 187) được thay thế bằng tám thế đứng tĩnh (standing postures), ở những độ cao trải từ trên đầu đến mức đan điền dưới. Cái nổi tiếng nhất được gọi là Ôm Quả Cầu (Holding a Ball), hay Thế Đứng Vũ Trụ (Universal Post). Bộ pháp của các thế đứng tĩnh cũng khác, và thuộc hai loại. Loại thứ nhất được thực hiện trong một thế tấn ngựa đã sửa đổi với hai bàn chân song song, và loại thứ hai được thực hiện trong thế tấn mèo, hoàn toàn tì trọng lượng về sau, với phần lòng bàn chân không tì của chân không trọng lượng trên mặt đất, gót chân nâng lên.
Các thực hành Ngũ Hành của Ý Quyền nhấn mạnh một trung tuyến mở, nơi hai tay dang rộng ra nhưng ý niệm luôn ở trên trung tuyến. Trái lại, các trường phái khác nhấn mạnh trung tuyến khép kín, nơi cánh tay hoặc tay được giữ vật lý ở trước trung tuyến. Các thực hành Ngũ Hành của Ý Quyền sử dụng bước đi như chiếc đồng hồ cát với những bước đi đều đặn (như thấy trong karate và các võ thuật miền Nam Trung Quốc), thứ không được dùng trong các trường phái Sơn Tây hay Hà Bắc. Ý Quyền nói chung nhấn mạnh những bước đi đều đặn hơn là nửa bước. Trong khi các phong cách hình ý quyền khác cô đọng nhiều ý tưởng lớn vào những thành phần tí hon của các chuyển động thể chất của Ngũ Hành và các phong cách thú, trường phái Ý Quyền biến mỗi tiểu thành phần thành một chuyển động ngoại tại riêng biệt.
Trong Ý Quyền, sự nhấn mạnh vào việc giữ các thế đứng tĩnh là để phát triển phát lực (fa jin). Bài tập huấn luyện hai người chủ đạo của Ý Quyền là một hình thức huấn luyện xúc chạm, nơi cánh tay của cả hai bạn tập di chuyển theo vòng tròn, tương tự về khái niệm nhưng không có cùng kỹ thuật như Rou Shou của bát quái chưởng (xem tr. 235) hay Circling Hands của thái cực quyền (xem tr. 159). Mỗi bạn tập cố gắng: (a) áp dụng phát lực, phóng xuất lực, và bật gốc (uproot) đối phương chỉ từ tiếp xúc tay; (b) hoàn toàn ghim chặt hai tay của đối phương sao không thể có bất kỳ sự kháng cự nào khi bị đánh; (c) đánh đối phương; (d) dùng chỉ tiếp xúc tay để quật đối phương xuống đất mà không dùng các quật hông hoặc vai. Sau đó, các bạn tập thực hành đấu tập, đôi khi với găng tay quyền Anh.
(Văn bản tiếp tục ở trang 185.)
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Hình Ý Quyền Của Kenichi Sawai Gọi Là Taiki-Ken
Một thành viên của trường thái cực quyền Shibuya đã giới thiệu tôi với nhóm hình ý quyền của Kenichi Sawai, những người cuồng tín về việc phát triển khí thông qua các thực hành đứng (xem tr. 86).
Sawai đã học mười năm ở Trung Quốc với Vương Tương Tế, người sáng lập trường phái Ý Quyền của hình ý quyền. Vào thời điểm tôi được giới thiệu với lớp của Kenichi Sawai, nó chủ yếu hướng về tình yêu chiến đấu hơn là sức khỏe và thể lực. Nhiều học trò là những thanh niên khỏe mạnh của cảnh võ thuật thi đấu ở Tokyo thời bấy giờ, và họ ở đó để học cách chiến đấu nghiêm túc. Nhiều người có đai đen karate hạng ba, tư, và ngũ. Nếu một người đến nhóm của Sawai và nói ông ta muốn học các môn võ thuật chiến đấu, ông ta thường bị thử để xem liệu ông ta có chân thành và có tinh thần chiến đấu hay không, một đặc điểm được đánh giá cao trong cộng đồng võ thuật Nhật Bản.
Sau khi quan sát lớp trong một thời gian dài, tôi trải qua những thủ tục ban đầu giới thiệu tôi với trường phái, bao gồm việc bộc lộ bản chất của nền tảng võ thuật trước đây của tôi. Sau đó tôi được yêu cầu đấu tập để xác minh liệu tôi có phải là một đai đen chiến đấu thực sự hay chỉ là một kẻ tài tử. Đối thủ đầu tiên của tôi trông nghiêm trọng. Khi có người từ bên lề nhắc rằng tôi là đai đen karate, Sawai nhìn về phía bạn đấu tập của tôi, người sau đó nhắm vào tôi và bắt đầu cho tôi một thời gian khó khăn hơn nhiều. Điều tiếp theo tôi biết, ông ta đá vào tim tôi (đánh vào tim là một đặc sản của nhóm đó). Tôi gục xuống sàn, ngã xuống với cơn đau dữ dội và một cảm giác sắp xảy ra là cuộc đời này sẽ kết thúc rất sớm. Tôi chưa từng trải nghiệm bất cứ điều gì như thế này trước đây trong karate. Về sau, tôi phát hiện ra bạn đấu tập của tôi là một kẻ thế thân (ringer) — ông ta đã là đai đen karate hạng năm trong nhiều năm trước khi học với Sawai.
Trong một hoặc hai phút, ai đó giúp tôi đứng dậy. Rất khó để đứng và bắt đầu thở bình thường trở lại. Sau khi cho tôi một lúc để hồi phục, họ yêu cầu tôi đấu tập lại, lần này với một đai đen hạng ba, thứ gần bằng cấp độ của tôi thời bấy giờ. Trong vòng này, tôi làm rất tốt, có thể đánh trúng ông ta khá thường xuyên bằng những cú đá vòng tròn vào đầu. Về sau, nó được giải thích với tôi rằng Sawai chỉ muốn xem liệu tôi có thể đi xa hơn nỗi sợ ban đầu và duy trì tinh thần chiến đấu hay không. Sau sự khởi đầu thú vị này, tôi được chấp nhận vào lớp.
Ở Nhật thời bấy giờ, những đai đen chiến đấu tích cực mạnh nhất thường là hạng ba, tư, và ngũ. Những đai đen hạng ba đến ngũ trong nhóm của Sawai bao gồm một lực lượng mạnh từ trường karate Kyokushin Kai của Mas Oyama. Cố Mas Oyama nổi tiếng ở Nhật vì đã giết bò bằng tay không.
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Hình Ý Quyền Của Kenichi Sawai Gọi Là Taiki-Ken, tiếp theo
Trong vòng này, tôi làm rất ổn, có thể đánh trúng ông ta khá thường xuyên bằng những cú đá vòng tròn vào đầu. Về sau, nó được giải thích với tôi rằng Sawai chỉ muốn xem liệu tôi có thể vượt qua nỗi sợ ban đầu và duy trì tinh thần chiến đấu hay không. Sau sự khởi đầu thú vị này, tôi được chấp nhận vào lớp.
Lớp học diễn ra ở Công Viên Meiji Jingu, một đền thờ quốc gia lớn và địa điểm của sự kiện Tết Nguyên Đán truyền thống quan trọng nhất của Nhật Bản. Việc huấn luyện diễn ra trong một khoảng trống được bao quanh bởi cây cối. (Nhiều năm sau, như một phần của sự hủy hoại công nghiệp không ngừng của Nhật Bản đối với môi trường tự nhiên, khu vực tập luyện, vốn là một điểm tự nhiên hiếm hoi ở trung tâm Tokyo, đã bị đổ xi măng để làm bãi đậu xe.) Khi tôi đến lớp, các học viên đang đứng trước những cái cây. Hai tay họ giơ lên không trung trước ngực, như thể mỗi người đang ôm một quả cầu khổng lồ. Một số đứng với hai chân rộng bằng vai, trọng lượng cơ thể đặt đều trên mặt đất. Những người khác đứng trên một chân có trọng lượng, với gót chân của chân không trọng lượng hơi nâng lên. Nghi thức đứng này được thực hiện trong một hoặc hai giờ trước khi bất kỳ ai cử động, thường có Sawai tham gia hoặc đôi khi đi đến từng cá nhân và chỉnh sửa tư thế của họ.
Sau khi việc đứng kết thúc, các học viên bắt đầu thực hành các kỹ thuật tay chuyển động — hoặc cá nhân hoặc theo nhóm. Ban đầu, mỗi bước hoàn chỉnh sẽ mất khoảng ba mươi giây. Tuy nhiên, tiến triển dần dần, khi khí của bạn mạnh lên, một bước đầy đủ với kỹ thuật tay đi kèm có thể mất đến mười phút trọn vẹn. Tiếp theo, các học viên bắt đầu thực hành Đẩy Tay (Push Hands), mục đích không chỉ là phá thăng bằng bạn tập, mà sau đó hoặc đánh hoặc áp dụng một kỹ thuật phát lực, thứ, không giống như phát lực của thái cực quyền, thường gây ra một cú sốc khá mạnh cho cơ thể. Rồi đến đấu tập tự do, thứ đặc biệt thú vị về mặt học cách phòng thủ chống lại những cú đá và quật ngã, vì nhiều bạn đấu tập là những đai đen judo và karate hạng cao. Bản thân Sawai là một cựu đai đen judo hạng bảy trước khi nghiên cứu võ thuật ở Trung Quốc. Vào lúc kết thúc buổi tập, vòng tròn tự hoàn thành. Lớp kết thúc bằng việc đứng để ổn định khí, làm lặng tâm trí, và hấp thụ trọn vẹn mọi thứ đã được học trong lớp.
Tình yêu chiến đấu của Sawai thực sự lây lan. Một cựu cựu chiến binh chiến đấu, ông có thái độ samurai nghiêm túc không khoan nhượng đối với điệu múa sinh tử. Ông không phải là một kẻ bạo dâm, nhưng sẽ không dung thứ sự thiếu ý chí và cam kết võ thuật của một kẻ nghiệp dư. Ông cho rằng các học trò của mình sẽ không chấp nhận gì ít hơn sự thỏa mãn tối đa tiềm năng võ thuật của họ.
Một Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Hình Ý Quyền Của Kenichi Sawai Gọi Là Taiki-Ken, tiếp theo
Sawai có thể thô bạo nhưng chơi đùa, nhưng khi đi vào công việc, cử chỉ của ông nghiêm khắc, và rất thực tế. Nếu bạn mắc sai lầm trong đấu tập, ông sẽ bắt bạn giải trình, và, sau lần thất bại thứ ba, sửa lỗi cho bạn, thường cho phép bạn cảm nhận đau đớn những gì đối thủ của bạn sẽ làm với bạn — nếu được trao cơ hội. Cách tiếp cận này mạnh mẽ thúc đẩy tất cả chúng tôi ở đó nhanh chóng sửa những lỗi lầm của mình!
Một người thấp, đậm, Sawai đặc biệt thích Pi Chuan (xem tr. 187) và cách di chuyển Khỉ trong hình ý quyền, đặc biệt các phương pháp chặn của nó và bộ pháp nhanh chóng đưa một chiến binh ra vào tầm.
Kỹ thuật tấn công mà ông đặc biệt yêu thích là một cú đánh tim, thứ ông thực hiện cả bằng mu cổ tay theo phong cách Khỉ hoặc bằng mặt trước các khớp đốt, như trong phương pháp hình thú của Ngựa. Kỹ thuật nắm đấm cổ tay gập này bắt chước một con ngựa chiến đánh đập móng guốc xuống nạn nhân sau khi nó đã đứng trên hai chân sau. Khi khuỷu tay của Sawai hạ xuống theo phương thẳng đứng, bốn khớp đốt trước nhô ra của ông sẽ cắt xuống tim bạn.
Nếu Sawai tôn trọng cam kết chân thành của bạn với việc học võ thuật, sớm hay muộn ông áp dụng kỹ thuật này lên bạn, cho phép bạn trân trọng bản chất của một cơn đau tim gây ra bởi võ thuật. Tôi có thể cá nhân xác nhận rằng nó đã tạo ra một ấn tượng rất thực và lâu bền về tính hiệu quả của hình ý quyền, đi sâu hơn bất kỳ lời lẻ nào từng có thể.
CÁC KỸ THUẬT VÀ THỰC HÀNH HUẤN LUYỆN CỦA HÌNH Ý QUYỀN
Một chủ đề gây tranh cãi thường gắn liền với Ý Quyền là kỹ thuật huấn luyện khống chế khí (kong jin), hay "lực rỗng." Trong kỹ thuật này, các thầy di chuyển học trò của mình về mặt thể chất hoặc lùi lại, lên không trung, hoặc xuống đất bằng một làn sóng bàn tay từ một khoảng cách, tất cả mà không chạm vật lý vào họ. Thật không may, mặc dù điều này hoạt động tốt với học trò, nhiều người lầm tưởng rằng nó có thể được thực hiện với những người lạ chống lại ý muốn của họ, điều, có thể nói an toàn, hiếm khi xảy ra. Nghiên cứu sâu rộng đã được thực hiện về chủ đề này ở Bắc Kinh để tìm hiểu xem lực rỗng có hoạt động trên những chuyên gia võ thuật không hợp tác hay không — nó không có. Tuy nhiên, kỹ thuật huấn luyện khí lực rỗng có thể, trên thực tế, hữu ích cho việc di chuyển khí một cách trị liệu để khai thông các kênh năng lượng bị tắc nghẽn.
Lực rỗng là một kỹ thuật huấn luyện mà mục đích là làm nhạy cảm những người thực hành đối với sự vận động của khí trong chính họ, trong đối thủ của họ, trong khoảng không gian giữa họ và đối thủ của họ, và trong năng lượng tâm linh được sinh ra trong chiến đấu. Nó nhằm trao quyền cho người nhận có thể trở nên nhạy cảm và đáp ứng thích hợp với khí của người khác, dù trong tiếp xúc vật lý, hay không bị cản trở trong kẽ hở trước khi họ chạm vào thịt bạn hoặc đánh bạn. Nó đòi hỏi sự hợp tác ở mức tâm linh giữa học trò và thầy, và thường những trò kịch tính thấy trong cuộc gặp với lực rỗng bị phóng đại một cách không thể tin nổi. Mục đích của sự phóng đại này đơn giản là để tạo ra một sự nhạy cảm với năng lượng và có thể sử dụng sự nhạy cảm đó để đáp ứng với một kích thích vật lý trong thời gian thực, trong một cuộc đối đầu vật lý, thay vì để có được khả năng ma thuật đánh gục King Kong bằng một lực vô hình từ một làn sóng các ngón tay của bạn.
KONG JIN — Kỹ thuật năng lượng của hình ý quyền nơi những người thực hành được cho là đánh ngã người ta mà không chạm vào họ, chỉ bằng cách phóng năng lượng.
FRAME (KHUÔN) — Hình dáng thể chất và những phẩm chất năng lượng mà một thế võ thuật nội gia đảm nhận, trải từ nhỏ và cô đọng (khuôn nhỏ) đến lớn và bao trùm (khuôn lớn).
Hình ý quyền của Lý Loăng Năng có ba thành phần: Tam Thể, Ngũ Hành, và các Hình Thú khác nhau. Nó có những phong cách khuôn lớn, trung bình, và nhỏ (xem tr. 111). Những phẩm chất cơ bản của hình ý quyền như một môn võ thuật bao gồm:
1. Ý định năng lượng và chiến đấu đằng sau một chuyển động được nhấn mạnh nhiều hơn là các chuyển động thể chất của bài quyền.
2. Sức mạnh chức năng trong từng và mọi phần của mọi chuyển động, thay vì chỉ khả năng di chuyển tốt.
3. Những chuyển động được thiết kế thuần túy từ quan điểm hiệu quả chiến đấu. Trong hình ý quyền, bất kỳ chuyển động nào không chức năng hoặc bị lãng phí, dù trong các bài quyền đơn, thực hành hai người, hay trong chiến đấu, đều được coi tương đương với một tội lỗi võ thuật.
4. Bu hao kan, heri hao yung (cụm từ cổ điển trong tiếng Trung mô tả hình ý quyền), dịch tự do nghĩa là hình ý quyền không đẹp để nhìn, nó chỉ hoạt động đặc biệt tốt trong chiến đấu.
5. Một chiến lược chủ đạo dựa trên ý tưởng không bao giờ lùi bước. Hình ý quyền xâm nhập không gian của đối thủ liên tục, lấn chiếm phòng thủ của họ cho đến khi họ bị áp đảo và đánh bại bởi chuyển động tiến lên. Trong hình ý quyền, ngay cả khi bạn cần lùi lại vì những cân nhắc chiến thuật, tâm trí của bạn chỉ đang nghỉ ngơi một chút cho đến khi nó có thể tái định vị cho sứ mệnh chính của nó, là tấn công càng sớm càng tốt.
6. Một tâm thức hoàn toàn hướng đến mục tiêu và dựa trên một mức độ hung hãn cao. Bất kỳ động tác phòng thủ nào chỉ là những chiến thuật tạm thời được dùng cho đến khi người thực hành hình ý quyền có thể quay lại sứ mệnh chính là tấn công. Nếu quyết định cam kết chiến đấu được đưa ra, có rất ít hoặc không có lòng trắc ẩn cho một kẻ thù.
7. Một trọng tâm chính vào phát triển dương, không phải âm, các phương pháp nội lực; nói cách khác, cứng, không phải mềm.
8. Phát triển bên ngoài cơ thể của người thực hành để cảm thấy cực kỳ cứng với ai đó chạm vào nó. Đồng thời, trải nghiệm chủ quan của người thực hành là bên trong cơ thể cảm thấy mềm và linh hoạt. Sự cân bằng khí cứng ở bên ngoài, mềm ở bên trong này hoàn toàn ngược lại với thái cực quyền.
9. Một định hướng triết học chủ đạo hướng đến việc phát triển sức mạnh nội tại và ý niệm tập trung không lay chuyển.
Hình ảnh thường được dùng để mô tả kỹ thuật của hình ý quyền là một quả bóng sắt lăn ngay qua đối thủ. Dù dáng người bạn gầy hay nặng nề, một trong những mục tiêu nội tại chính của bạn trong hình ý quyền là chìm khí để làm cơ thể và cánh tay bạn trở nên cực kỳ nặng, như chì. Thế nhưng bạn vẫn cần giữ khả năng di chuyển với sự nhạy cảm và nhanh nhẹn như một chiếc lá trong gió mạnh.
Cánh tay trở nên nặng và đặc đến mức những người thực hành, khi tấn công, có thể đẩy cánh tay đối thủ sang một bên như thể chúng không có thực thể. Cánh tay của đối thủ bật khỏi những cánh tay nặng hơn của người giỏi hình ý quyền như thiếc bật khỏi chì. Trong một đợt tấn công, những người thực hành hình ý quyền dùng những cánh tay nặng này để hoàn toàn kiểm soát cánh tay của đối thủ và di chuyển những bàn tay của đối thủ đi chỗ khác. Những cánh tay nặng của chiến binh hình ý quyền luôn có thể mở phòng thủ của đối thủ cho một đòn tấn công sạch và quyết định.
Ngũ Hành
Ngũ Hành thực sự là năm năng lượng, theo vũ trụ quan Đạo gia, cấu thành ma trận năng lượng của vũ trụ. Trong lý thuyết y học cổ truyền Trung Quốc, năm năng lượng động này (Hỏa, Thủy, Mộc, Thổ, Kim) cân bằng các tạng phủ bên trong cơ thể con người. Mỗi Ngũ Hành hình ý quyền sau đây sử dụng một kỹ thuật tay cụ thể di chuyển sức mạnh dọc theo một vector lực vật lý cụ thể. Mỗi kỹ thuật tay Ngũ Hành cá nhân có một cách hơi khác để thực hiện: cao (đến tim đối thủ hoặc cao hơn), trung bình (giữa tim và đan điền dưới), và thấp (đến hông, háng, hoặc chân đối thủ).
PI CHUAN / QUYỀN CHÉM HOẶC QUYỀN TÁCH (CHOPPING OR SPLITTING FIST) — Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
KIM NGUYÊN TỐ (METAL ELEMENT) — Trong vũ trụ quan Trung Quốc, một trong những năng lượng hoặc nguyên tố cơ bản từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Quyền Chém/Tách (Pi Chuan) Trong kỹ thuật Ngũ Hành này, chuyển động vật lý đi từ trên xuống dưới, sử dụng năng lượng nội tại Đẩy Xuống (Push Downward) (xem tr. 135). Thế cuối cùng của toàn bộ chuyển động Pi Chuan là thế được giữ trong Tam Thể. Bản thân Pi Chuan tập trung vào sức mạnh di chuyển thẳng xuống. Những áp suất nội tại mà chuyển động này khởi phát trong cơ thể, bên cạnh công việc khí cơ bản của nó, trực tiếp và tích cực ảnh hưởng đến phổi. Nó được đại diện bởi nguyên tố kim, và tập trung vào việc làm một cột sống cực kỳ mạnh và những bàn tay cứng như thép.
Chuyển động cơ bản của Pi Chuan là một hành động cắt thường được thực hiện hướng xuống bằng lòng bàn tay hoặc, trong một số trường phái, đôi khi hướng tới trước bằng cạnh lòng bàn tay. Trong tất cả các trường phái, các ứng dụng chiến đấu của Pi Chuan cũng được thực hiện với những phần khác nhau của nắm đấm khép. Pi Chuan là thế phòng thủ trên guard chủ đạo trong hình ý quyền. Trong thế này, một tay được giữ cao, che khu vực thân trên và giữa, và một tay thấp, che khu vực giữa và dưới của cơ thể. Pi Chuan được dùng rộng rãi chống lại những đòn tấn công đường thẳng. Nhiều người thực hành hình ý quyền hàng đầu dựa toàn bộ chiến lược tấn công của họ chỉ vào việc dùng Pi Chuan và Beng Chuan (Quyền Nghiền Nát), phòng thủ bằng tay trên của Pi Chuan và tấn công bằng tay dưới dùng Beng Chuan.
TSUAN CHUAN / QUYỀN KHOAN (DRILLING FIST) — Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
THỦY NGUYÊN TỐ (WATER ELEMENT) — Trong vũ trụ quan Trung Quốc, một trong những năng lượng hoặc nguyên tố cơ bản từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Quyền Khoan (Tsuan Chuan) Ở đây, chuyển động vật lý đi từ dưới lên trên và sử dụng đỡ (Ward Off), năng lượng nội tại mở rộng (xem tr. 127). Những áp suất nội tại mà Tsuan Chuan sinh ra bên trong cơ thể trong khi thực hiện kỹ thuật, bên cạnh công việc khí cơ bản của nó, trực tiếp và tích cực ảnh hưởng đến thận và toàn bộ sinh lực của cơ thể. Nó tập trung vào sức mạnh di chuyển thẳng đứng hướng lên. Tsuan Chuan được đại diện bởi nguyên tố thủy, và tập trung vào việc làm cho các bàn tay có thể di chuyển quanh cánh tay đối thủ như nước di chuyển quanh một tảng đá. Nó được dùng ngang nhau cho tấn công và phòng thủ. Hành động cơ bản của nó đưa một tay xuống trung tuyến của bạn trong khi tay kia đồng thời di chuyển lên dọc theo trung tuyến của bạn theo kiểu một cú móc khoan (uppercut) xoắn.
Quyền Khoan xoắn mạnh cơ thể và cánh tay, và được thực hiện theo ba cách cơ bản. Trong cách thứ nhất, sau chuyển động hướng lên, hai tay đến một điểm dừng cứng ở cuối kỹ thuật. Trong cách thứ hai, bàn tay trước tiên di chuyển lên như thể để đi xuyên qua mục tiêu của nó (đầu, chẳng hạn), và sau đó trở lại một vị trí thấp hơn để chặn một đòn phản công tiềm năng. Với cả hai phương pháp này, bàn tay đánh tiến về trước trên một quỹ đạo thẳng dọc theo trung tuyến cơ thể bạn từ đan điền dưới của bạn. Trong cách thứ ba, bàn tay di chuyển theo hình zigzag, như nước, vô hình, bắt chước chuyển động không đều của nước đi quanh một tảng đá. Sự xoắn ở cuối cú đấm luôn được nhấn mạnh.
MỘC NGUYÊN TỐ (WOOD ELEMENT) — Trong vũ trụ quan Trung Quốc, một trong những năng lượng hoặc nguyên tố cơ bản từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
PAO CHUAN / QUYỀN GIÃ (POUNDING FIST) — Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Quyền Nghiền Nát (Beng Chuan) Kỹ thuật này sử dụng chuyển động vật lý đi thẳng tới trước cùng với năng lượng nội tại Ép Tới Trước (Press Forward) (xem tr. 134). Beng Chuan là kỹ thuật tấn công nổi tiếng nhất của hình ý quyền. Nó thường được coi là cú đấm thẳng mạnh nhất trong tất cả các võ thuật Trung Quốc. Những áp suất nội tại được khởi phát trong cơ thể bởi chuyển động này, bên cạnh công việc khí cơ bản của nó, trực tiếp và tích cực ảnh hưởng đến gan. Beng Chuan được đại diện bởi nguyên tố mộc, và tập trung vào việc làm những nắm đấm "mọc" ra từ cơ thể. Nó thường được so sánh với lực của một cái cây khỏe mạnh mọc và mở rộng xuyên qua bê tông với một lực lượng vững chắc, không thể ngăn cản.
Beng Chuan không giống như một cú đấm thẳng bình thường, thứ dựa vào đà của nó cho phần lớn hiệu quả. Đúng hơn, sức mạnh của Beng Chuan có nhiều khả năng được áp dụng từ một khoảng cách rất gần, sau, chẳng hạn, cánh tay bạn đã phá thăng bằng đối thủ trong hành động tiến lên để tấn công. Beng Chuan thường được dùng để chặn đứng đòn tấn công đang lao tới của đối thủ và đánh cắp sức mạnh của họ, sau đó hoặc tay có thể tấn công. Beng Chuan thường được thực hiện với một phần tư vòng xoay của nắm đấm. Nó được áp dụng cả ấn xuống từ trên hoặc đẩy lên từ dưới cánh tay đối thủ. Cánh tay thu hồi của Beng Chuan được dùng để đẩy nội lực xuống dưới để làm cánh tay và cơ thể đối thủ đứng yên (nghĩa là, không chạy trốn) trong khi tay kia của bạn đánh. Beng Chuan cũng sử dụng một hành động lăn hình elip để trèo lên cánh tay đối thủ, và những chuyển động tay tròn phòng thủ nhỏ để dọn đối thủ sẵn sàng cho một đòn phản công. Trong những thế tì trọng lượng về sau, Beng Chuan được biết đến với những cú đấm mạnh bằng cánh tay của chân trước. Khi cánh tay tiến lên, Beng Chuan thường hóa giải đòn tấn công của đối thủ bằng nửa trước của cú đấm đang duỗi và đánh bằng nửa sau kết thúc của sự duỗi cánh tay.
Ba kỹ thuật đầu tiên của Ngũ Hành — Pi Chuan, Tsuan Chuan, và Beng Chuan — thường trước tiên được thực hành đi bộ trong những hàng thẳng chỉ. Chúng được coi là đủ cho hầu hết để hiểu chất liệu nội tại cơ bản của hình ý quyền. Sau khi ba cái này được làm chủ, nó sau đó trở nên có lợi về mặt thời gian tập luyện để làm việc với hai kỹ thuật tiếp theo, hoàn thành sự cân bằng đầy đủ. Hai phương pháp tiếp theo của Pao và Heng Chuan bình thường bắt đầu với việc dùng khuôn mẫu bước Bảy Sao của hình ý quyền. Trong những bước này, cơ thể di chuyển theo hình zigzag của những góc 45 độ nối tiếp nhau. (Cách bước góc 45 độ cũng được dùng rộng rãi trong aikido và ninjitsu.) Bước chéo này được dùng để di chuyển quanh sức mạnh ưu việt cảm nhận được của một đòn tấn công tuyến tính, cũng như để đưa cơ thể của một kẻ tấn công giữa chính bạn và những kẻ tấn công khác khi bạn bị nhiều người tấn công cùng lúc.
Quyền Giã (Pao Chuan) Pao Chuan tập trung vào chuyển động vật lý chéo, và sử dụng các năng lượng nội tại của Đỡ (Ward Off), Thu Về (Roll Back), Ép Tới Trước (Press Forward), Đẩy Xuống (Push Downward), và Kéo Xuống (Pull Down) (xem tr. 138). Pao Chuan tập trung vào di chuyển sức mạnh chéo theo mọi hướng và vào sức mạnh tiến lên bùng nổ. Bên cạnh công việc khí cơ bản của nó, những áp suất nội tại khởi phát trong cơ thể bởi chuyển động này ảnh hưởng trực tiếp và tích cực đến tim và màng ngoài tim. Nó được đại diện bởi nguyên tố hỏa, và tập trung vào những giải phóng sức mạnh bùng nổ và dao động nhanh chóng. Trong Pao Chuan, một tay ban đầu phòng thủ và dịch chuyển trọng tâm của đối thủ. Một khi bàn tay đánh của đối thủ đã bị hóa giải bởi Pao Chuan hay Quyền Giã của tay trên bạn, tay kia của bạn tấn công trong một chuyển tiếp rất mượt mà.
HỎA NGUYÊN TỐ (FIRE ELEMENT) — Trong vũ trụ quan Trung Quốc, một trong những năng lượng hoặc nguyên tố cơ bản từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Trong Pao Chuan, bàn tay phòng thủ trên cao là khó làm chủ hơn và là phần quan trọng nhất của kỹ thuật. Thường xuyên cánh tay, cẳng tay, và khuỷu tay trên của bạn được dùng để xoắn cánh tay hoặc chân đối thủ ra khỏi đường đi. Sau đó, trong kẽ hở mới được tạo ra này, bạn đánh đối thủ bằng nắm đấm búa của cánh tay trên để kết thúc chuyển động. Khi cánh tay trên của bạn hạ xuống, một cái búa hoặc nắm đấm mu cũng được dùng để hoặc phòng thủ hoặc đập cơ thể đối thủ trong một chuyển động hướng vào trong, giống Pi Chuan. Bàn tay dẫn trong Pao Chuan đặc biệt được dùng trong phòng thủ chống lại những cú đá cao.
Những ngọn lửa lóe lên và di chuyển nhanh chóng. Những cánh tay trong Pao Chuan có thể hoặc nhẹ và dường như không trọng lượng, đại diện cho cạnh của ngọn lửa, hoặc nặng và đặc đại diện cho lõi của lửa. Một phần của ý niệm của Pao Chuan là có thể bùng nổ ngay lập tức với bàn tay đánh, trong những cú đánh nhanh, mà, như lửa, tìm kiếm những lỗ nhỏ trong phòng thủ của đối thủ. Được thực hiện không có căng thẳng vật lý, những cú đấm này thường sử dụng kỹ thuật nội tại của "tay tơ lụa," nơi cánh tay bạn có thể đổi hướng và di chuyển trơn tru như một lá cờ lụa trong gió thay đổi. Bàn tay dưới của Pao Chuan có thể hoặc đánh tới trước hoặc hướng lên. Tuy nhiên, cú đánh không giống Beng Chuan. Đúng hơn, nó thường được thực hiện với một cảm giác nhẹ hơn, dùng sức mạnh rung động thay vì mở rộng để xuyên thấu đối thủ và hạ họ xuống.
HENG CHUAN / QUYỀN CHÉO (CROSSING FIST) — Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Quyền Chéo (Heng Chuan) Ở đây, chuyển động vật lý tập trung vào bên trong của nắm đấm di chuyển theo chiều ngang. Heng Chuan là khó nhất trong Ngũ Hành để làm tốt. Nó tập trung vào sức mạnh di chuyển theo chiều ngang, và kết hợp các năng lượng và ứng dụng của bốn nguyên tố đầu tiên (pi, tsuan, beng, và pao) vào một kỹ thuật liền mạch. Những áp suất nội tại khởi phát trong cơ thể bởi Heng Chuan, bên cạnh công việc khí cơ bản của nó, ảnh hưởng trực tiếp đến lách. Nó được đại diện bởi nguyên tố thổ, và tập trung vào việc thắt chặt những mối liên kết chéo giữa bên trái và bên phải của bên trong khoang bụng.
Người ta nói phải mất nhiều người hình ý quyền mười năm để hoàn toàn hiểu Heng Chuan, vì không nắm vững hoàn toàn các cơ chế nội tại của bốn cái đầu tiên, cú đấm thứ năm và cuối cùng luôn thiếu những thuộc tính quan trọng trong việc thực hiện. Sự trao đổi giữa hai tay của nó rất tròn khi chúng di chuyển theo hướng ngược nhau theo chiều ngang xuyên qua cơ thể, nhưng điều này khó nhận thấy khi quan sát một người thực hành có kinh nghiệm. Cú đấm cơ bản kết hợp hành động mở rộng của một cú đấm thẳng giống Beng Chuan với những chuyển động xoắn và ngang của Tsuan Chuan, cũng như với những khối chéo bên trong và bên ngoài. Mỗi một trong hai tay đang tạo thành những vòng tròn.
Khi Heng Chuan chưa hoàn chỉnh, động tác của thế quyền thường giống như một đòn chặn (block) trong karate dùng cạnh cẳng tay phía bên ngón cái.
Trong ứng dụng chiến đấu, Heng Chuan được dùng để đi vòng qua thân thể của đối phương và đánh họ từ phía đối diện. Ví dụ, mà không cần di chuyển chân, bàn tay của bạn bắt đầu ở phía trước hông phải của người tấn công, nhưng nó lại đánh trúng thận trái của anh ta khi eo bạn xoay. Từ góc nhìn của một người tập hình ý quyền (hsing-i) bậc cao, bàn tay chặn và kéo của Heng Chuan còn thử thách hơn cả bàn tay tấn công, và về lâu về dài nó khai mở nhiều kết nối nội tại; những kết nối này giúp các Thú Hình (Animal Forms) đạt được sự thích ứng trọn vẹn. Thường thì các cao thủ hình ý quyền có thể nhìn ra một người đã thâm nhập vào hệ thống hình ý quyền được bao xa chỉ bằng cách bảo họ thực hiện Heng Chuan. Mặc dù Heng Chuan là thế khó nhất trong Ngũ Hành để sinh ra toàn bộ lực, nhưng một khi đã làm chủ được nó, người tập sẽ có khả năng nâng cao năng lực của tất cả các kỹ thuật hình ý quyền khác.
San Ti
Ở tận cõi lòng của việc thực hành võ thuật hình ý quyền và Ngũ Hành của nó là San Ti, hay thế "tam nhất" (trinity posture). San Ti được thực hiện bằng cách giữ một tư thế đứng tĩnh, với hai cánh tay đưa lên không trung. Trong các môn phái kinh điển của hình ý quyền, tư thế này được giữ trong Pi Chuan, thế đầu tiên của Ngũ Hành. Trong tất cả các môn phái hình ý quyền, phái I Chuan đặt trọng tâm lớn nhất vào San Ti.
Có một câu chuyện phổ biến về những người giỏi nhất trong hình ý quyền, rằng họ bị bắt phải tập San Ti từ một đến ba năm trước khi được phép học bất cứ thứ gì khác. Nhiều người giải thích kiểu đòi hỏi này như một thủ tục hành hạ vô dụng. Thế nhưng, quá trình đứng này chính là bài tập luyện lực nền tảng nhất trong hình ý quyền, và nếu thiếu nó, thì việc huấn luyện Ngũ Hành và Thú Hình dễ dàng trở thành chẳng hơn gì những động tác kiểu Thiếu Lâm với nội lực tối thiểu.
Thiếu đi nội lực, hình ý quyền đánh mất lời tuyên bố hoàn toàn chính đáng của nó về danh tiếng võ thuật, bởi các ứng dụng chiến đấu của nó phụ thuộc vào lực ấy. Hình ý quyền kinh điển tốt thường sử dụng phương pháp trước tiên phát triển một mức độ nội lực hợp lý, sau đó khéo léo học các ứng dụng chiến đấu để biết cách dùng lực đó, đồng thời tiếp tục nâng cấp nó. Hầu hết các môn võ ngoại gia chú trọng trước tiên vào khả năng di chuyển tốt rồi mới phát triển lực. Ngược lại, hình ý quyền chú trọng phát triển lực trước, và sau đó mới học cách di chuyển tốt, bao gồm cả việc tinh luyện và thực thi các góc chiến đấu. Hình ý quyền có số lượng động tác ít hơn thái cực quyền (tai chi) hay bát quái chưởng (ba gua) (hay, nói cho cùng, hầu hết các hệ phái Thiếu Lâm), nhưng lại tập trung làm cho mỗi kỹ thuật tương đối hạn chế của nó đều phát huy tác dụng.
Những gì San Ti dạy
Bên cạnh các khía cạnh võ thuật, San Ti dạy cách làm cho tâm trí tĩnh lặng và cách giải phóng nó khỏi những căng thẳng tích tụ. Quá trình mà San Ti khởi động cho sự cân bằng, sức khỏe và chữa lành được mở rộng và hoàn thiện trong các thực hành Ngũ Hành.
Chức năng năng lượng chủ yếu của hành kim Pi Chuan, chẳng hạn, là vận chuyển năng lượng trong phổi. Trong Pi Chuan, việc xòe bàn tay mở và duỗi các ngón tay có tác dụng khai mở phổi, từ đó đưa một lượng ô-xy dồi dào đến phần còn lại của cơ thể.
Năng lượng của tất cả các tạng phủ nội tạng của bạn đều kết thúc tại các đường kinh lạc châm cứu ở đầu ngón tay và ngón chân. Do đó, việc vận chuyển khí (chi) mạnh mẽ đến đầu các ngón tay và ngón chân tương ứng kích thích tất cả các cơ quan nội tạng của bạn một cách năng lượng, nhờ đó tăng cường sức mạnh của bạn. Bởi hoạt động này, Pi Chuan được gọi là "Mẹ của Ngũ Hành," và là cái giếng mà những người tập hình ý quyền luôn quay về để tăng cường nội lực của họ (cũng như những người chơi bát quái chưởng làm với thế Đổi Thủ Đơn Chưởng — Single Palm Change).
Thế đầu tiên của Ngũ Hành, Pi Chuan hay Quyền Chặt (Chopping Fist), có thể được nhìn nhận từ những góc độ khác nhau. Ở khía cạnh chuyển động của nó, chẳng hạn, nó có thể được xem như một kỹ thuật chiến đấu hoàn chỉnh. Thế nhưng, ở vị trí cuối cùng, thường được giữ bất động trong những khoảng thời gian dài, nó được gọi là San Ti hay "giữ Pi Chuan." Tuy nhiên, trong các môn phái I Chuan, San Ti không phải là một tư thế được giữ nguyên, mà là tám tư thế đứng khác nhau tạo nên cốt lõi của hệ thống I Chuan. San Ti tập trung tu dưỡng năm quá trình quan trọng: (1) hơi thở; (2) chân và eo; (3) cánh tay; và thống nhất các kết nối bên trong chính mình, cả (4) bên ngoài và (5) bên trong.
Hơi thở
Giống như hình ý quyền nói chung, San Ti sử dụng nhiều kỹ thuật thở đa dạng. Việc thở bắt đầu bằng huấn luyện hơi thở Đạo gia (Taoist) thông thường, vốn nhấn mạnh việc thở từ bụng dưới, hai bên hông sườn, thận, lưng trên và cột sống. Trong hơi thở Đạo gia thông thường, bụng được phình ra khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra. Về sau, công việc thở thông thường được mở rộng bằng cách áp dụng ý niệm (mind intent) vào năng lượng hơi thở, thứ được dẫn vào và ra khỏi những phần cụ thể của cơ thể theo những chuỗi tuần tự mạnh mẽ hơn. Mỗi cấp độ của việc thực hành hơi thở phải được ổn định trước khi chuyển sang cấp độ tiếp theo. Nếu không, vài bước về sau bạn sẽ thấy khả năng tiến lên cấp độ nội lực kế tiếp của mình bị cản trở nghiêm trọng bởi những giới hạn mà các thực hành chưa hoàn tất trước đó đã áp đặt vào các kênh năng lượng của bạn. Việc chuyển sang mỗi loại hơi thở mới đòi hỏi sự hướng dẫn của một người thầy nhiều kinh nghiệm, người đã đi qua quá trình ấy, trải nghiệm kết quả của nó, và có thể nhận ra những sắc thái tinh tế về cách năng lượng nội tại đang phát triển trong cơ thể bạn.
Giai đoạn tiếp theo liên quan đến việc học các cấp độ khác nhau của thở nghịch (reverse breathing) và thở cột sống (spinal breathing), bao gồm cả việc phối hợp hơi thở với những chuyển động bên trong các khớp và cột sống, và sự di chuyển của các tạng phủ nội tạng theo nhiều hướng khác nhau. Giai đoạn cuối của việc thực hành hơi thở bao gồm cảm giác mất hết ý niệm về hơi thở thể chất, dù các quá trình hô hấp của bạn rất mạnh mẽ. Bạn chuyển sự nhận biết của mình từ việc di chuyển không khí ra vào hệ thống sang hoàn toàn dựa vào việc vận chuyển năng lượng khí trước tiên ở bên trong rồi sau đó ra bên ngoài cơ thể, khi ý niệm về hơi thở thể chất dần biến mất.
Chân và eo
San Ti phát triển khả năng căn rễ năng lượng và tạo ra hoặc tăng cường sự cân bằng ở đôi chân của bạn. Khi các phương pháp hạ khí xuống đan điền hạ (lower tantien) được học, cơ thể bạn (bất kể hình dáng hay cân nặng) sẽ dường như cảm thấy nặng hơn và nặng hơn dưới sự chạm vào của người khác. Khi sự chìm xuống của khí và tất cả các kỹ thuật bám rễ khác được hoàn tất, cơ thể bạn dần trở nên cực kỳ vững chãi dù bị đánh từ phía trước, bên hông hay phía sau. Sự mạnh mẽ và vững vàng trước một đòn tấn công trực diện thường đến trước tiên, rồi sức mạnh mới đến với hai bên hông của cơ thể, và cuối cùng — khó đạt được nhất — là phía sau lưng. Một phần những gì bạn học bao gồm một khả năng riêng biệt là chuyển hóa lực của một cú đánh hoặc sự chạm vào xuống mặt đất. Khi tiếp xúc, thay vì cú đánh làm bạn đau, một phần, rất nhiều, hoặc toàn bộ lực của nó bị chuyển hướng xuống cơ thể bạn để tiêu tán vào lòng đất.
Khi sự dẻo dai của chân và hông bạn tăng lên, bạn trở nên có thể nâng lên và hạ xuống thế đứng một cách nhẹ nhàng không tốn sức. Tiếp theo là các phương pháp nội tại để phát triển lực ở chân. Sau đó, người ta học các kỹ thuật để kết nối chân, eo và cột sống thành một khối thống nhất không thể tách rời, không có kẽ hở năng lượng hay điểm yếu thể chất nào trong lực thống nhất của chúng.
Cuối cùng, chân và eo của bạn được huấn luyện để xoay ngang và quay tròn như một bánh xe được bôi trơn nhịp nhàng, nơi lực của cái này khuếch đại cái kia. Khi sự "bôi trơn" hoàn tất, eo bạn có thể xoay cực nhanh, sang cả trái lẫn phải, bất kể bạn đang chịu trọng lượng ở phía trước hay phía sau.
Cánh tay
Một khi chân và eo bạn đã vững vàng và bạn có một nền tảng để đứng, giai đoạn tiếp theo là truyền cả lực hướng công và lực phòng thủ vào cánh tay, từ vai đến đầu ngón tay, với trọng tâm ban đầu đặt vào khuỷu tay, cẳng tay và bàn tay. Để huấn luyện lực này, trước tiên bạn học cách thư giãn cánh tay và kéo dài tất cả các mô mềm trong cơ thể từ cột sống đến cánh tay. Trong quá trình này, việc uốn cong khuỷu tay với sức mạnh thư giãn là then chốt cho sự thành công tối hậu. Tiếp theo, dòng khí từ cột sống đến đầu ngón tay phải trở nên liên tục và không có kẽ hở. Dòng chảy này phải trở nên mạnh mẽ cho đến khi khí trong lòng bàn tay và đầu ngón tay trở nên đầy đặn và cực kỳ hữu hình, mang theo một dòng máu mạnh mẽ. Dòng máu chảy đến ngón tay càng mạnh, bàn tay bạn càng phải cảm thấy mềm mại và đầy đặn hơn.
Giai đoạn kế tiếp tập trung vào việc đưa lực thẳng đứng hướng xuống vào khuỷu tay. Khi sự huấn luyện này tiến triển, cánh tay bạn bắt đầu trở nên nặng nề, cực kỳ tràn đầy sức sống, và nhạy bén trước những kích thích bên ngoài. Sau khi sức mạnh khuỷu tay tăng lên và cánh tay bạn trở nên nặng, trọng tâm chuyển sang phát triển khả năng của bàn tay trong việc hấp thụ năng lượng ngược trở về cột sống. Khi quá trình này diễn ra, bạn tập trung hoàn thiện cái nắm giống móng vuốt của hình ý quyền.
Sự nhạy cảm (sensitivity) đóng vai trò như một tiền đề để có thể cảm nhận cánh tay và cơ thể của đối phương trong các ứng dụng chiến đấu. Cuối cùng, qua các hình thức ý niệm khác nhau, bạn học cách hấp thu và phóng xuất lực từ đôi tay bằng cách dùng nhiều kỹ thuật nội tại, chẳng hạn như các sự mở ra, khép lại và xoắn vặn.
Thống nhất các kết nối thể chất bên ngoài của bạn
Một mục tiêu chủ chốt khác của San Ti là kết nối cơ thể vật lý của bạn thành một khối toàn vẹn. Sự thống nhất như vậy cho phép chuyển động của bất kỳ phần nhỏ nào ở cánh tay hay chân được toàn thân hậu thuẫn đầy đủ, nhờ đó khuếch đại đáng kể lực của những bộ phận nhỏ trên cơ thể. Một số phương pháp được dùng để đạt được mục tiêu này. Phương pháp đầu tiên liên quan đến việc kết nối tất cả các sự căn chỉnh (alignments) xuyên suốt bên trong cơ thể bạn. Chúng bao gồm cách điều chỉnh các mô mềm, khớp và xương của cơ thể sao cho chúng interkết nối và củng cố lẫn nhau, từ đó tối đa hóa khả năng của cơ thể trong việc vừa hấp thụ vừa phóng xuất lực. Những sự căn chỉnh này cũng được dùng ngang nhau trong các môn nội gia của thái cực quyền và bát quái chưởng.
Hình ý quyền đặc biệt tập trung vào sáu sự phối hợp hay kết hợp bên ngoài của cơ thể, gọi là lưu hợp (liu he) trong tiếng Trung. Sáu sự này là vai và hông, khuỷu tay và đầu gối, và bàn tay và bàn chân. Hầu hết những ai đọc hoặc tập hình ý quyền đều nghĩ rằng sáu sự kết hợp này là những kết nối giải phẫu thô. Thực ra, mỗi tiểu bộ phận nhỏ của cánh tay và chân kết nối với từng tiểu bộ phận nhỏ tương ứng của chân hoặc tay hoặc phần thân mình, cũng như cẳng tay/ống quyển, cánh tay đùi/đùi tương ứng của người tập. Các bộ phận cơ thể này phải kết nối với nhau thật tinh tế, sao cho khi một cái di chuyển một micro-inch, bộ phận tương ứng của nó di chuyển cùng một tỷ lệ micro-inch. Bất kỳ áp lực nào tác động lên một chỗ trong cơ thể đều lập tức bị đối trọng và khuếch đại bởi bộ phận tương ứng.
Cùng với các sự căn chỉnh nội tại và sáu sự kết hợp, hình ý quyền chia sẻ với thái cực quyền và bát quái chưởng một số sự nâng lên, chìm xuống và tròn trịa của cơ thể. Tuy nhiên, xét đến khuynh hướng vận động tương đối tuyến tính của hình ý quyền, tính tuyến tính được bộc lộ nhiều hơn trong môn võ thuật này so với thái cực quyền và bát quái chưởng, vốn bản chất nhấn mạnh vào chuyển động tròn hoặc xoắn ốc.
Những sự nâng lên của cơ thể ám chỉ các vị trí sau: đỉnh đùi, mặt sau đầu gối, vùng thắt lưng, cột sống, mu cẳng tay, và cổ cùng đỉnh đầu. Hình ý quyền nâng cổ lên với cách thức rõ rệt hơn và sức mạnh hữu hình hơn so với thái cực quyền hay bát quái chưởng. Những sự nâng lên này là bộ phận không thể thiếu để phát triển lực Ngăn Đỡ (Ward Off) (xem tr. 127) của hình ý quyền. Những sự chìm xuống của cơ thể bao gồm: vai xuống hông, khuỷu tay xuống đầu gối, cổ tay xuống mắt cá chân, bàn tay xuống bàn chân, ngực xuống đan điền hạ, xương sườn xuống hông, xương cụt xuống huyệt Dũng Tuyền (Bubbling Well) ở bọng bàn chân vào trong lòng đất, và từ bàn chân đến tận cùng của thể xích đạo (etheric body) bên dưới bàn chân.
LƯU HỢP (LIU HE)
Sáu sự kết hợp của các phần cơ thể phải được phối hợp tinh tế để tối đa hóa lực thể chất trong các môn võ thuật nội gia.
Những sự chìm xuống này là bộ phận không thể thiếu để phát triển lực Đẩy Xuống (Push Downward) (xem tr. 135) của hình ý quyền. Những sự tròn trịa của cơ thể bao gồm: vai hướng về phía trước và phía sau, mô mềm từ cột sống đến đường trung tuyến phía trước cơ thể theo cả hai hướng, khuỷu tay hướng về đường trung tuyến của cơ thể, xương sườn hướng về xương ức, đùi và ống quyển hơi hướng vào trong, lòng bàn tay hơi hướng về phía trước, đồng thời bên trong của ngón cái và ngón út hướng về phía nhau, và các móng ngoài xa nhau ra.
Dùng ánh mắt để thống nhất các kết nối nội tại của bạn
Giai đoạn tiếp theo của San Ti liên quan đến việc thống nhất tâm trí với ánh nhìn của đôi mắt và sự nhận biết của bạn. Mục đích ở đây là hợp nhất lực thể chất, khí, tâm trí và nhận thức của bạn thành một thực thể duy nhất. Việc huấn luyện này được thực hiện bằng cách cố định ánh mắt vào ngón trỏ hoặc ngón giữa của bàn tay dẫn đầu. Bạn có thể nhìn vào xa xăm hoặc ở bất kỳ khoảng cách trung gian nào lên đến ba mươi hoặc bốn mươi feet. Khi bạn nhìn, hãy hít vào. Khi hít vào, với ý niệm của bạn, hãy hít năng lượng từ phía sau ngón trỏ vào và qua ngón trỏ — đến mũi, cổ họng, và xuống trung mạch (central channel) (xem tr. 317) đến đan điền hạ. Khi thở ra, bạn đảo ngược đường đi của hơi thở. Thực hành này mang lại một số hiệu quả.
Bằng cách phát triển ánh mắt của bạn phối hợp với hơi thở, bạn học cách xóa bỏ những kẽ hở trong sự nhận biết thường xảy ra khi bạn nhìn vào đối phương hoặc chiến trường mà bạn chiến đấu. Những kẽ hở này tạo ra các trạng thái tâm lý cho phép bạn trở nên sao nhãng, do dự, hoặc bị lừa bởi những đòn giả (feints) hay những chuyển động bất ngờ. Thông qua quá trình này, ánh mắt của bạn được liên kết với hơi thở. Dần dần, điều này giúp bạn đồng thời cảm nhận được khí của cơ thể và năng lượng cư ngụ trong đan điền hạ. Với bốn phẩm chất hơi-thở-khí-cảm-nhận-thị-giác acting như một khối thống nhất, bất cứ nơi nào bạn nhìn, nhận thức và lực của bạn sẽ tự động theo sau.
Việc thực hành nhìn này cũng khai mở và tăng cường tầm nhìn ngoại vi của bạn. Về lâu về dài, với thực hành này, bạn sẽ có thể nhìn thẳng về phía trước vào một đối phương, với gương mặt hoàn toàn thư giãn và không biểu lộ cảm xúc, trong khi trường thị giác của bạn trải dài từ mặt đất lên cao quá đầu bạn, và xa sang hai bên chừng nào còn có thể về mặt thể chất. Sự mở rộng tầm nhìn ngoại vi này rất quan trọng khi chiến đấu với nhiều đối thủ, nơi sự căng thẳng thị giác cản trở khả năng điều chỉnh tức thời của bạn trước những điều kiện chiến thuật mới nảy sinh từ môi trường hoặc từ hành động của đối phương.
Kỹ thuật nhìn này làm cho tâm trí nhạy bén, khiến nó tràn đầy sức sống và tĩnh lặng với một sự tập trung thư giãn, cũng là trạng thái có được từ việc thực hành các bài tập nhìn chằm chằm vào ngọn nến "tradak" trong yoga. Khi được thực hành đầy đủ, kỹ thuật này dẫn đến sự mở rộng của tâm trí để nó có thể kết nối trực tiếp với hệ thần kinh trung ương, cho phép bạn cảm nhận khí của cơ thể với sự rõ ràng lớn lao.
Sau khi San Ti đã hoàn thành giai đoạn đầu của công việc nó, người học nghiêm túc đã sẵn sàng bắt đầu học các kỹ thuật chiến đấu của hình ý quyền (hsing-i chuan). Bất kể bất cứ ai học hình ý quyền trong bao lâu, họ không bao giờ nên rời bỏ San Ti.
Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Nhìn (Gazing)
Tôi trải nghiệm kết quả của phương pháp nhìn này lần đầu tiên vào năm 1974, khi đang tập luyện tại trường của Hung I Hsiang ở Đài Bắc, Đài Loan. Những ngày ấy, việc huấn luyện thường diễn ra trên nền bê-tông của một nhà thi đấu trường tiểu học. Tôi thường có mặt để tập San Ti chân trần trong một giờ trước khi lớp bắt đầu, trước khi bất cứ ai đến, dưới ánh của một bóng đèn đơn độc.
Một ngày nọ trong khi thở qua ngón trỏ hơn nửa giờ, toàn bộ sự chú ý của tôi dường như bị lôi cuốn một cách vô thức vào khoảng không phía trước mà tôi đang nhìn chằm chằm. Khoảng không ấy bắt đầu thay đổi. Chẳng bao lâu, ý niệm của tôi về căn phòng bắt đầu biến mất về mặt thị giác. Ngay sau đó, ngón trỏ, bàn tay, và rồi ngay cả cơ thể tôi dường như tan biến, khi tâm trí tôi bắt đầu mở rộng một cách kịch liệt, cảm thấy như thể nó không có ranh giới, chỉ có một sự nhận biết trong trẻo như pha lê ngày càng tăng. Chẳng bao lâu, bên trong cơ thể tôi bắt đầu cảm thấy như thể nó không có chút chất liệu nào. Rồi, điều này thay đổi. Trong khi cảm thấy hoàn toàn trống rỗng mọi ý niệm về thể xác, đồng thời tôi trải nghiệm bên trong cơ thể mình chỉ là một năng lượng sống động được kết nối trực tiếp với bàn tay và khoảng không bên trong tôi. Tiếp theo, mọi thứ trở nên trống rỗng mọi loại cảm giác, với tâm trí hoàn toàn thoải mái và thỏa mãn khi ở nơi nó đang ở, không cần thiết hay khao khát làm bất cứ điều gì hay đi bất cứ đâu.
KUNDALINI
Một thực hành năng lượng từ Ấn Độ, dùng công năng năng lượng để tháo gỡ những bí ẩn của ý thức con người và "giác ngộ."
Đột nhiên, tâm trí tôi trở lại với sự nhận biết bình thường. Sau trải nghiệm này, cơ thể tôi bắt đầu nhận biết được khí đang di chuyển qua cơ thể mình một cách nhẹ nhàng không tốn sức như thế nào mỗi khi tôi thực hiện San Ti, hay bất cứ động tác hình ý quyền nào khác. Vài năm sau, tôi kể lại sự việc này với vị thầy thiền định kundalini của mình ở Ấn Độ và hỏi ông xem chuyện gì đã xảy ra. Liệu trải nghiệm đó có mối liên hệ nào với thiền định không? Ông nhìn tôi một lúc, rồi giải thích rằng đây là một trải nghiệm về giai đoạn đầu của samadhi hay sự hấp thụ siêu việt vào cõi tuyệt đối, như được mô tả trong mật tông (tantra) và yoga.
Các Thú Hình (The Animal Forms)
Có mười hai Thú Hình căn bản, dù một số môn phái hình ý quyền có thể dùng nhiều hơn hoặc ít hơn vài thế. Thường thì, cùng một thú hình có thể có những tên gọi khác nhau ở các môn phái khác nhau. Tất cả các Thú Hình đều được sinh ra từ Ngũ Hành và mang lại sự biến thiên trọn vẹn cho mọi khả năng thể chất vốn có trong Ngũ Hành. Ví dụ:
1. Đấm hoặc chặt bằng một tay có thể trở thành cú đấm kép hoặc đòn đánh lòng bàn tay kép trong các thú hình Hổ (Tiger) và Chim Thái (Tai Bird) huyền thoại.
2. Những cú đấm hoặc đòn đánh lòng bàn tay mà cả hai tay thường ở trước cơ thể có thể được thực hiện với một tay về phía hông hoặc phía sau cơ thể, như trong chim Én (Swallow) hoặc Rồng (Dragon).
3. Cú đấm Pao Chuan, vốn thường được thực hiện từ chân sau, lại được làm trên chân trước, như trong một số thú hình Ngựa (Horse) và Chim Sẻ (Sparrow).
4. Hành động chặt cơ bản của Pi Chuan được thực hiện bằng cách nhảy trong Rồng (Dragon).
Thú hình Rồng của hình ý quyền được miêu tả ở đây sử dụng kỹ thuật Ngũ Hành cơ bản là Quyền Chặt (Chopping Fist), được thực hiện cả khi nhảy trên không và khi ngồi xổm dưới đất. Rồng được dùng rộng rãi trong các kỹ thuật chiến đấu dưới đất của hình ý quyền. Các nguyên lý của Ngũ Hành được thực hiện với những thế đứng và bộ pháp khác nhau.
Ví dụ:
Tư thế ngồi xổm trong Rắn (Snake).
Nhảy trên không và xoay người trong Khỉ (Monkey).
Gót chân sau nhấc khỏi sàn trong Chim Ưng (Eagle).
Hạ xuống đất trong Én (Swallow) và Rồng (Dragon).
Đứng trên một chân với chân kia giơ cao lên không trung, như trong một số thú hình của Én (Swallow) hoặc Sếu (Crane).
Trong việc thực hành hình ý quyền ban đầu, mọi người đều học tất cả các Thú Hình để tăng và cân bằng kiến thức về Ngũ Hành, mở rộng kho tàng các kỹ thuật chiến đấu của họ, và có khả năng tạo ra chuyển động thể chất chỉ từ ý định trong tâm trí. Việc huấn luyện tâm trí đặc biệt quan trọng trong các Thú Hình, cả về mặt phát triển ý niệm, các chiến lược chiến đấu tổng thể, và một phong cách chuyển động toàn thân.
Các Thú Hình trong hình ý quyền bao gồm, nhưng không giới hạn ở, Hổ (Tiger), Ngựa (Horse), Gấu (Bear), Khỉ (Monkey), Rắn (Snake), Côn Trùng Nước (Water Strider), Gà (Chicken), Đà Điểu (Ostrich), Chim Ưng (Hawk), Chim Sẻ (Sparrow), Sếu (Crane), Chim Ưng (Eagle), Rồng (Dragon), Chim Thái (Tai Bird), và Kỳ Lân (Unicorn).
Mặc dù mọi người trước tiên học tất cả các Thú Hình, nhưng đa số thấy giai đoạn thực hành kế tiếp có lợi nhất là tập trung vào một vài thế phù hợp với người tập, những thú hình này được xác định bởi dáng người hoặc tính khí tinh thần hay cảm xúc tự nhiên của người học. Những thú hình này sau đó được thực hành cho đến khi chúng thấm sâu vào hệ thần kinh của người tập.
Thêm về Ngũ Hành và các Thú Hình
Trong thực hành hình ý quyền cơ bản, tất cả các kỹ thuật tay của Ngũ Hành ban đầu được thực hiện ở một độ cao, thường ở mức đầu hoặc giữa thân. Về sau tuy nhiên, cả trong động tác bài quyền lẫn ứng dụng, tất cả các kỹ thuật tay này đều được thực hiện ngang nhau quanh phần trên, giữa và dưới của cơ thể bạn hoặc cơ thể đối phương. Tất cả các chuyển động của hình ý quyền, cả kỹ thuật Ngũ Hành lẫn thú hình, đều có những phẩm chất chung nhất định.
Tất cả các kỹ thuật đều hướng về đường trung tuyến của cơ thể, cả trong tấn công lẫn phòng thủ, và tất cả đều sử dụng cả nhịp điệu đều đặn và nhịp điệu đứt đoạn (broken rhythm). Trong các phương pháp nhịp điệu đều đặn, các chuyển động thân và tay tiếp tục với những nhịp điệu như tiếng trống ngày càng nhanh, áp đảo đối phương, kẻ không thể theo kịp nhịp độ và bị đánh bại. Nhịp điệu đều đặn chủ yếu được dùng khi đối phương đang rút lui.
Ngược lại, các phương pháp nhịp điệu đứt đoạn được áp dụng phổ biến hơn nhiều trong hình ý quyền. Nhịp điệu đứt đoạn không lặp lại cùng một mẫu hai lần. Do đó, đối phương bị tước đi khả năng đoán trước các nước đi và do đó không thể tính toán một phòng thủ hợp lý dựa trên kỳ vọng về những gì sẽ xảy ra trong nhịp điệu có khả năng tiếp theo. Nếu đối phương của bạn không biết điều gì sẽ đến kế tiếp, dù trong tấn công hay phòng thủ, bạn giành được lợi thế chiến lược. Trong hình ý quyền và, nói cho cùng, tất cả các môn võ thuật nội gia, cơ chế thời gian cơ bản liên quan đến việc người tập tập trung vào khoảng không "tĩnh lặng" giữa các nhịp đập của chuyển động và ý niệm của đối phương. Nó không liên quan đến việc tập trung vào chính những nhịp điệu phòng thủ và tấn công của đối phương.
Sự xem xét thời gian quan trọng này là một lý do khác khiến sự tĩnh lặng của tâm trí được các võ sĩ nội gia quý trọng đến thế — tĩnh lặng là điều kiện tiên quyết underlying cần thiết để lẻn vào một cách lén lút và hiệu quả ở giữa các nhịp đập. Phương pháp nhịp điệu đứt đoạn trong hình ý quyền đòi hỏi tâm trí và hệ thần kinh trung ương phải chờ một phần triệu giây trước khi chuyển động để phá vỡ nhịp điệu của sự tương tác chiến đấu. Thường thì, võ sĩ nội gia sẽ để đối phương tấn công trước, nhằm xác định góc chiến đấu thích hợp cho phản công. Điều này đòi hỏi một sự điềm tĩnh lớn lao giữa lúc giao chiến, một phẩm chất được phát triển trong thực hành San Ti.
Trong bài quyền và các ứng dụng chiến đấu của hình ý quyền, đôi tay bạn được giữ hoàn toàn tràn đầy sức sống với ý niệm và sự nhận biết được giữ ngang nhau ở mỗi tay. Một bàn tay không bao giờ chuyển động một cách máy móc, không bao giờ chỉ để hoàn tất cơ học sinh học của bàn tay kia hay trong một hành động co lại tự động. Các kỹ thuật tay hiếm khi dùng những hành động quất mạnh (snapping), nơi đôi tay quất ra hoặc bật ngược về vị trí ban đầu. Đúng hơn, mỗi kỹ thuật tay không thể ngăn cản cứ tiếp tục tiến về phía trước từng tí một, xâm lấn không gian của đối phương.
Trong hình ý quyền, các kỹ thuật Kéo Lùi (Pull Back) được dùng cụ thể để hóa giải một đòn tấn công đang tới, để kéo đối phương hoặc xé da. Mỗi tư thế cánh tay được thiết kế để vững chãi tại mỗi điểm dọc theo quỹ đạo của nó, sao cho khó hoặc không thể cho đối phương di chuyển cánh tay của bạn nếu bạn không muốn chúng bị di chuyển. Phẩm chất này được biết đến và sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật ngũ hành của hình ý quyền là Beng Chuan, hay Quyền Nghiền (Crushing Fist). Điểm vững chãi này cũng cho phép bạn giữ vững địa vị của mình. Ở yên tại một chỗ trong không gian, bạn có khả năng vật lý di chuyển cánh tay của đối phương đến một vị trí mong muốn, chuyển hướng lực công kích đang tới, và chặn đứng đối phương tại chỗ trước khi họ tiến vào tấn công.
Trong tất cả các kỹ thuật tay của bài quyền hình ý quyền, bàn tay về mặt thể chất bắt đầu từ vùng lân cận đan điền hạ, sử dụng những sự xoắn vặn mạnh mẽ của cánh tay trong mỗi micro-inch chuyển động, và đặc biệt tăng tốc sự xoắn vặn của toàn thân tại điểm va chạm. Bàn tay sau đó trở về nơi nó bắt đầu, sau khi đã di chuyển chân từ nửa bước đến vài bước. Tất cả các kỹ thuật tay đều được thiết kế để phóng xuất toàn lực, dù từ một điểm dừng cứng hay từ nửa inch hoặc ít hơn tính từ cơ thể đối phương. Trong tất cả các kỹ thuật tay chuyên biệt, khuỷu tay luôn quan trọng vì lực của chúng được dùng để khoét sâu và làm suy giảm năng lực sinh lực của đối phương (được gọi là "cắt lực của đối phương" trong thuật ngữ hình ý quyền). Lực của toàn thân bạn được tập trung vào đôi tay, nguyên lý này là nguồn gốc của câu nói phổ biến trong hình ý quyền: "Anh đá đối phương bằng bàn tay của anh." Khi một người tập trở nên cao cấp hơn, khả năng này mở rộng đến việc có thể tập trung lực thống nhất của toàn thân vào một bộ phận cơ thể cụ thể theo sự lựa chọn của bạn.
Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Quyền Khỉ (Monkey Boxing)
Lần đầu tiên tôi được giới thiệu với Khỉ là ở trường trung học bởi một cậu bé lớn hơn đến từ Hồng Kông. Tôi đã giúp cậu ấy vượt qua các kỳ thi, và, đề nghị dạy tôi môn võ này, cậu ấy đã đánh bẹp tôi ra bã bằng Khỉ và Bạch Hạc Quảng Đông (Cantonese White Crane) trên bãi cỏ ở Công Viên Trung Tâm (Central Park). Những trải nghiệm ban đầu của tôi với Khỉ cho phép tôi đưa lên một tầm cao mới tất cả các kỹ thuật lăn, ngã, và chiến đấu dưới đất của judo, jujitsu, và aikido, cũng như các kỹ thuật chiến đấu dưới đất của karate. Về sau, tôi tiếp tục nghiên cứu Khỉ ở những thời điểm khác nhau tại Đài Loan.
Tôi nhớ rõ như in những võ sĩ Khỉ đang tập luyện trên bãi cỏ một buổi chiều xám xịt trong một công viên ở Đài Loan. Vị thầy tương lai của tôi, một người đàn ông nhỏ nhắn trung niên, trong tư thế ngồi xổm đầy đủ đang nhảy lăng xăng trên mặt đất, phát ra những tiếng động giống như một con tinh tinh, hai bàn tay xòe mở trước mặt và làm đủ mọi kiểu nhăn nhó cùng những cử động mắt e ấp gian giảo. Đối thủ của ông ta đứng đó, chăm chú nhìn chằm chằm vào ông, chuẩn bị đá vào đầu ông. Ngay khi anh ta bắt đầu cú đá, người đàn ông nhỏ bé dưới đất bắt ánh mắt với anh ta, dùng một biểu cảm mặt kỳ quái để làm anh ta xao nhãng, và trong khoảnh khắc chỉ bằng một phần nghìn giây trống rỗng trong sự chú ý của người đá, đã nhảy tới phía anh ta, bay lên không trung, và làm một cú lộn nhào. Đầu chúi xuống, người đàn ông nhỏ bé túm lấy đùi đối phương và đồng thời đá vào đầu anh ta, làm anh ta choáng váng. Ngay lập tức sau đó, võ sĩ Khỉ dùng chính đôi chân đá của mình siết cổ đối phương. Siết mạnh cổ đối phương, võ sĩ Khỉ, với vẻ mặt mỉa mai trên mặt, co đầu gối của chính mình, ép chặt bụng mình, và quẳng đối phương xuống bằng cách xoắn cái đầu của anh ta. Cả hai người ngã xuống kịch liệt, người Khỉ ở trên, với bàn tay chực sẵn để hoặc xéo hạ bộ của con mồi hoặc xé rách gân gót của đôi chân hắn.
Giống như tất cả các môn võ thuật Thiếu Lâm, Khỉ có cả hai nhánh Nam và Bắc. Tôi dính dáng nhiều nhất đến lối Bắc, vốn bao hàm một số phương pháp khí công (chi gung). Vượt lên trên sự cực kỳ công năng của Khỉ, nó, từ góc nhìn của niềm vui chuyển động, là một môn rất thú vị để học và tập luyện. Khỉ là một môn võ thuật nghịch lý, vừa cực kỳ tinh nghịch và mặt khác lại nâng sự tàn độc lên thành một hình thức nghệ thuật ác ý.
Các kỹ thuật tàn ác chủ yếu của nó bao gồm đánh vào mắt, cổ họng, và hạ bộ, xé các động mạch hoặc dây thần kinh của đối phương bằng răng hoặc móng tay, những cú đánh chính xác bằng khớp đốt và mũi khuỷu tay cùng những nhát cào, đánh bằng cổ tay, và đánh vào các khớp, đặc biệt trong lúc chiến đấu dưới đất. Ở khía cạnh chơi đùa hơn của nó...
Quyền Khỉ (tiếp theo)
...bên chơi đùa, những người tập Khỉ, trong một dòng chảy không ngừng, lăn lộn một cách lừa gạt và trơn tru trên mặt đất, nhảy và thay đổi độ cao một cách nhanh chóng từ tư thế ngồi xổm sâu dưới đất đến đứng thẳng hoàn toàn đến bay trên không. Các phương pháp Khỉ liên quan đến việc liên tục di chuyển tới và lui khỏi đối phương theo kiểu ú tim (peek-a-boo), khiến khó mà nhắm trúng một võ sĩ Khỉ, kẻ suốt thời gian dùng trò gian trá cảm xúc và những biểu cảm khuôn mặt gây xao nhãng.
Các kỹ thuật tay của Khỉ vừa là loại tầm xa của con đười ươi lầm lũi với những bàn tay treo thõng dưới đầu gối, vừa là loại chiến đấu cận chiến của những con khỉ nhỏ hơn. Môn võ thuật này sử dụng những cú nhảy và lăn trên đất ngang nhau, mang tính công để đi từ ngoài tầm với vào vị trí tấn công và mang tính thủ để lẩn tránh. Đánh và đá được dùng di chuyển hoặc hướng tới hoặc rời khỏi đối phương. Những võ sĩ Khỉ cũng thích leo hẳn lên cơ thể của đối phương. Sau khi bám chặt vào cơ thể bạn hoặc đứng trên vai hay lưng trên của bạn, những người tập Khỉ sẽ khống chế đầu bạn, kéo bạn ngã xuống đất, và rất nhanh chóng kết liễu công việc.
Trải nghiệm học Khỉ của tôi quý giá nhất ở lời nhắc nhở không ngừng rằng không bao giờ được giả định bất cứ điều gì, thứ là thành phần thiết yếu mà một người tập Khỉ dựa vào để đánh lừa đối phương. Việc học Khỉ khiến tôi nhận thức được khoa học về cách áp dụng hiệu quả những cú cắn và những cái véo, cào bằng móng tay cắt vào những điểm cơ thể đặc biệt dễ tổn thương. Khi thực hành các môn võ thuật nội gia, về sau tôi chú ý đến việc làm sao tôi có thể phòng thủ bằng cách tính đến những nguy hiểm mà hầu hết mọi người sẽ phớt lờ, và không hạ thấp cảnh giác. Khỉ buộc tôi phát triển các biện pháp đối phó cho những đòn tấn công từ cắn và những hành động xé da bằng móng, giữ tôi có động lực duy trì việc luyện tập Thủ Đẩy (Push Hands) của thái cực quyền, và khiến tôi suy nghĩ về cách điều chỉnh các chuyển động của mình nhằm giảm thiểu sự dễ bị tổn thương trong những điều kiện chiến đấu cận chiến có thể khó chịu.
Nhận ra một đối thủ khỉ có thể hạ thấp dễ dàng như thế nào, hoặc di chuyển lên xuống nhanh chóng ra sao, đã cung cấp một nền tảng tốt để phát triển các hành động thẳng đứng của bát quái chưởng. Nó cũng làm tôi trân trọng một kỹ thuật thái cực quyền như bước và đấm xuống dưới. Đòn thái cực quyền cụ thể này có thể ép một võ sĩ Khỉ xuống đất và giúp phòng thủ chống lại những đấu sĩ dưới đất và đô vật giỏi khác, những kẻ muốn kéo bạn xuống đất và kết liễu bạn tại đó.
Quyền Khỉ (tiếp theo)
Bát quái chưởng cũng có những nước đi để phản lại trò quấy phá của Khỉ. Bộ pháp và khả năng thay đổi hướng của bát quái chưởng, chẳng hạn, có thể vô hiệu hóa những năng lực chuyển động và lừa gạt cực đoan của những võ sĩ Khỉ. Bát quái chưởng đơn giản có thể đổi hướng nhanh hơn và theo nhiều hướng hơn. Việc biết rằng tôi thực sự sẽ cần những khả năng này sau khi tập Khỉ đã thúc đẩy tôi đạt được chúng trong bát quái chưởng. Việc thực hành Khỉ khiến tôi nhận ra không nên coi thường các kỹ thuật chuyển động thẳng đứng và khả năng thay đổi được tăng cường của bát quái chưởng. Tôi tin rằng mạch suy nghĩ này đã thúc đẩy tôi tăng cường năng lực của mình trong bát quái chưởng.
Quyền Khỉ cũng có trong nó những kỹ thuật chiến đấu dưới đất tuyệt vời, vốn là những vũ khí phòng thủ để phản lại kỹ thuật dưới đất của judo và đấu vật. Khỉ cũng cung cấp một nền tảng xuất sắc cho việc nghiên cứu sau này của tôi về Bát Tiên Say Rượu (Eight Drunken Immortals) (xem tr. 228).
Tất cả các kỹ thuật tay của hình ý quyền đều được thực hiện với các loại bộ pháp khác nhau, từ rất nhanh đến rất chậm, bao gồm:
1. Đi bộ giun (Worm-walking). Ở đây, cùng một bàn chân luôn được giữ ở vị trí phía trước. Khi bạn di chuyển bàn chân trước, bàn chân kia di chuyển để lấp đầy chính xác chỗ mà bàn chân trước đã chiếm. Đi bộ giun được dùng phối hợp với các bước tiến tới, lùi lại, sang ngang, và chéo.
2. Các bước thông thường (Regular steps). Ở đây, bàn chân trái và bàn chân phải đổi vị trí trước-sau của chúng với mỗi bước. Những bước này có thể được thực hiện với hai chân hoặc chịu trọng lượng ở phía trước hoặc phía sau.
3. Nửa bước (Half-steps). Đây là một loại đi bộ giun, thường được dùng để nhanh chóng tiến vào vị trí của đối phương. Có nhiều loại nửa bước. Trong những nửa bước ngắn, khoảng cách di chuyển chỉ vài inch đến không quá hai feet. Trong những nửa bước dài hơn, lên đến năm hoặc sáu feet hoặc hơn có thể được phủ bằng một bước duy nhất. Trong cả hai loại này, một bàn chân luôn tiếp xúc với sàn.
4. Nửa bước nhảy lò cò (Skipping half-steps). Ở đây, cơ thể phủ được lên đến mười feet với một nửa bước duy nhất, khi các bàn chân, trong lúc nhảy, dường như đá nhẹ vào nhau, đẩy cơ thể rất xa vào không gian.
5. Nửa bước bay (Flying half-steps). Trong động tác này, người tập nhảy vọt lên không trung và hạ xuống lại ở một khoảng cách rất xa để đuổi theo một đối phương đang nhảy trên không hoặc cố gắng bỏ chạy. Kỹ thuật này...
...được dùng rộng rãi với Beng Chuan, một trong Ngũ Hành. (Hình ý quyền nói chung dùng các kỹ thuật nửa bước nhiều hơn hẳn so với bước thông thường, cũng như trộn lẫn cả hai loại bước trong một kỹ thuật đơn.)
6. Bảy bước sao (Seven-star steps). Ở đây, các bàn chân bước chéo 45 độ so với đối phương, tiến tới hoặc lùi lại.
7. Bước lùi (Backward steps). Các bước lùi được thực hiện theo cách khởi đầu một đòn tấn công toàn lực hướng về phía trước ngay khi bàn chân rút lui của bạn chạm đất.
8. Bước sang ngang 90 độ về phía bên (Side-steps 90 degrees to your side). Di chuyển thẳng sang hai bên có thể được thực hiện vào bên trong hoặc bên ngoài cơ thể của đối phương đang tấn công. Bạn có thể đi thẳng sang ngang hoặc từ chỗ bạn đang đứng, hoặc sau khi đầu tiên đi hơi tới trước hoặc lùi lại.
Chân Dung Một Cao Thủ Nội Gia
Hung I Hsiang — Những Chuyển Động Vi Tế Tuyệt Diệu Của Cơ Thể
Khi tôi theo học với cố Hung I Hsiang, ông đã ở tuổi năm mươi. Ông nói bằng một giọng khàn khàn đôi khi toát lên vẻ thô lỗ, nhưng thực ra, Hung là một người thông minh, sắc sảo, có học thức và ăn nói lưu loát. Khi bạn xem ông thực hiện bát quái chưởng, sự chính xác trong những chuyển động nhỏ bé của ông thật không thể tin nổi.
Khả năng đọc sai Hung dựa trên cách diễn giải giọng nói nêu lên một điểm quan trọng về những người tập bát quái chưởng. Tôi đã gặp nhiều người qua các năm tập bát quái chưởng vì đủ mọi lý do về động vật, con người, và tâm linh. Một số là thánh nhân, một số là tội đồ. Điều duy nhất họ có chung là họ đều có xu hướng là những người có trí thông minh bẩm sinh đặc biệt, bất kể họ có học thức chính quy hay không.
Hung đã tham gia rất nhiều trận đấu. Ở Đài Loan, rất dễ tìm một trận đấu nếu bạn có khuynh hướng đó. Vào đầu và giữa thế kỷ này, khắp thế giới đàn ông thường chiến đấu chỉ vì niềm vui thuần túy. Những trận đấu như vậy thường diễn ra ở những nơi xã hội được chỉ định, chẳng hạn như quán rượu. Ở Đài Bắc, các trận đấu thường xảy ra gần những khu vực mại dâm. Rất phổ biến, người ta uống rượu trong một bầu không khí thế giới ngầm và có lẽ thường xuyên hơn là không có hằn thù gì sau một trận đấu. Danh tiếng được xây dựng, và những tin đồn được lan truyền: "Ông này thế này thế kia có kỹ thuật đó." Cũng phổ biến cho tội phạm, những người lính, và công dân tuân thủ pháp luật xông vào đánh lộn cho vui, và cho những người xem đặt cược bên lề vào một trận đấu, điều cũng phổ biến ngày nay trong các quán rượu khắp thế giới phương Tây. Hung rất nổi tiếng, và danh tiếng của ông dẫn đến nhiều thách đấu. Những ai thách đấu Hung đều gánh chịu hậu quả. Ông là một võ sĩ hung dữ, người có kỹ năng và tính cách cứng rắn khiến nhiều kẻ thách đấu phải hối hận vì sự dại dột của mình.
Hung x physically lỏng lẻo và dẻo dai, và rất giỏi trong việc dạy những chuyển động võ thuật nhỏ nhặt và các kỹ năng kỹ thuật của chiến đấu. Rou Shou (Thủ Mềm) của Hung (xem tr. 235) thật xuất sắc.
Ông có một khả năng chuyển động kinh ngạc. Tôi chưa từng trước đó thấy một người có kích thước như ông có thể uốn lượn cơ thể và di chuyển như thể ông không có xương. Hung đã phát triển Thân Rồng (Dragon Body) đến mức độ lớn nhất có thể. Ông có thể làm cho cơ thể xoắn, xoay, và gập lại theo những cách phải nhìn tận mắt mới tin được. Thêm vào đó, đôi tay ông cực kỳ nhạy cảm. Ông có thể cảm nhận những dịch chuyển năng lượng li ti của một người và phản công tức thời. Dường như đôi tay ông có mắt.
Thế mạnh của Hung nằm ở việc sử dụng những góc chiến đấu cực nhỏ dựa trên hình tam giác, hình vuông, và bát giác. Trong khi hầu hết các võ sĩ tinh tế sử dụng những góc này, họ thường cần những inch hoặc feet để áp dụng chúng. Hung, tuy nhiên, có thể áp dụng những góc này trong một phần nhỏ của một inch không gian. Ông yêu thích việc phân tích việc sử dụng những vòng tròn nhỏ và góc tấn công. Ông là một nghệ sĩ võ thuật thực sự sáng tạo, người đã khám phá và suy diễn tri thức ông đã đạt được. Sau ba hoặc bốn giờ lớp học, Hung và những học trò tâm huyết hơn của ông sẽ uống trà, ăn hạt dưa, và nói chuyện về bát quái chưởng và các góc chiến đấu tại những chiếc bàn ngoài trời dựng bên lề vỉa hè gần phòng tập của chúng tôi. Sự hiểu biết và sử dụng những vòng tròn nhỏ và góc tấn công của Hung khiến việc tập đối luyện với ông trở nên say mê, bối rối, kinh hoàng, và một niềm vui thuần khiết.
Trong Thân Rồng (Dragon Body), phần trên, giữa, và dưới của thân mình có thể di chuyển theo những hướng khác nhau trong khi đồng thời vẫn hoàn toàn kết nối nội tại.
Hung I Hsiang — Những Chuyển Động Vi Tế Tuyệt Diệu Của Cơ Thể (tiếp theo)
Hung là một người thầy xuất sắc về các ứng dụng chiến đấu kỹ thuật. Ông luôn nói với tôi "Tôi không thể dạy anh cách phát triển khí, nhưng tôi có thể dạy anh cách sử dụng nó." Hung luôn nhấn mạnh việc tách biệt những phẩm chất khác nhau của các môn võ thuật. Quá thường xuyên, những người học các môn võ thuật khác nhau lại thực hiện tất cả chúng với cùng một phẩm chất chuyển động nội tại và khí.
Hung liên tục củng cố ý nghĩ rằng hình ý quyền, bát quái chưởng, và thái cực quyền rất khác nhau. Khi tôi mới ở với Hung trong những năm 1974 và 1975, ý nghĩ về sự khác biệt trong các môn nội gia này rất khó để tôi nắm bắt, vì tất cả "thứ" nội tại này đơn giản là "khác" so với karate và Thiếu Lâm. Nội tại đối với tôi ở giai đoạn trung cấp của việc học hình ý quyền và bát quái chưởng có nghĩa là mềm, thế mà lực của Hung lại cứng và mạnh hơn bất kỳ karate hay Thiếu Lâm nào tôi từng trải nghiệm. Ông mềm, và thế nhưng không mềm bằng các cao thủ thái cực quyền mà tôi từng gặp và học cùng. Thế nhưng Hung cũng nhạy cảm và có thể phản ứng hiệu quả trong tích tắc, bằng một cách thức bí ẩn y như những người thái cực quyền giỏi nhất tôi từng học, bao gồm Dương Thụ Vinh (Yang Shou Jung) (con trai trưởng của Dương Thành Phủ — Yang Cheng Fu). Hình ý quyền và bát quái chưởng của Hung rõ ràng tốt hơn thái cực quyền của ông. Phong cách thái cực quyền được cả Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) và Hung I Hsiang thực hành là một phong cách kết hợp thái cực quyền/hình ý quyền/bát quái chưởng do Trần Bàn Linh (Chen Pan Ling) phát triển, vốn cũng kết hợp các yếu tố thiết yếu của các phong cách Dương, Ngô, và Trần của thái cực quyền.
Hung I Hsiang — Những Chuyển Động Vi Tế Tuyệt Diệu Của Cơ Thể (tiếp theo)
Điều này giờ đây càng trở nên phức tạp hơn bởi thực tế rằng hình ý quyền do Hung dạy là một phong cách kết hợp Hà Bắc (Hebei), với những động tác hình ý quyền nhưng những chuyển động thân rồng bát quái chưởng và công tác tay xoắn ốc. Phẩm chất nội tại của bát quái chưởng của Hung chỉ khác biệt li ti so với hình ý quyền của ông, dù nó uốn lượn nhiều hơn hẳn. Tất cả điều này bắt nguồn từ việc hình ý quyền và bát quái chưởng của ông đã hòa quyện vào nhau. Việc tách biệt bản chất của những chuyển động nội tại khỏi nhau là khó khăn nhất. Khó hơn nữa là việc tách biệt rõ ràng các loại khí khác nhau liên quan. Điều này rất gây rối, vì Hung không ngừng nhấn mạnh với tôi và tất cả học trò người Hoa của ông rằng chúng tôi phải tách biệt rõ ràng Thiếu Lâm và mỗi trong ba môn võ thuật nội gia khác nhau. Chúng phải được thực hiện rõ ràng và riêng biệt, để những phẩm chất độc đáo của mỗi môn có thể được phân biệt rành mạch. Chỉ về sau, trước tiên qua Bạch Hoa (Bai Hua) và sau đó là Lưu Hồng Kiệt (Liu Hung Chieh), tôi mới có thể đạt được rõ ràng khả năng tách biệt các loại khí khác nhau, thứ mà Hung đã bỏ nhiều công sức để nhấn mạnh, nhưng nằm ngoài tầm với của tôi trong những ngày đầu ấy.
Ghi chú của biên tập viên: Tác giả cũng đã thực hành và nghiên cứu bài quyền thái cực quyền Trần Bàn Linh (Chen Pan Ling), vốn gồm chín cấp độ thành tựu riêng biệt. Cuộc nghiên cứu này bắt đầu tại Tokyo vào năm 1968 với học trò của Vương Thụ Kim là Trương Nhất Trùng (Chang I Chung) và tiếp tục qua năm 1987 với Vương, Hung I Hsiang, và Hoàng Hy Nghĩa (Huang Hsi I), và với các học trò khác của Trần Bàn Linh ở Đài Trung, Đài Loan, cũng như với các thầy ở Trung Quốc Đại Lục. Để hoàn tất cuộc nghiên cứu này và thấu hiểu cội rễ của phong cách này đòi hỏi một cuộc nghiên cứu sâu về bài quyền Trần Gia Câu (Chen Village) của thái cực quyền, mà tác giả đã thực hiện với Phùng Chí Cường (Feng Zhi Qiang) ở Bắc Kinh, phong cách Ngô của thái cực quyền với Lưu Hồng Kiệt, và phong cách Dương với T. T. Liang, Dương Thụ Vinh, Bạch Hoa, và Lâm Độc Anh (Lin Du Ying).
Hung I Hsiang — Những Chuyển Động Vi Tế Tuyệt Diệu Của Cơ Thể (tiếp theo)
Vào những năm 1970, Hung I Hsiang có khoảng một tá học trò có tài năng đặc biệt. Nhiều học trò của ông thống trị các giải đấu tiếp xúc toàn diện (full contact) ở Đài Loan. Một người tên là Uông Hiền Minh (Weng Hsien Ming), đã giành chức vô địch toàn diện Đài Loan ba lần liên tiếp khi anh còn độ tuổi teen. Anh sau đó nhập ngũ và không tập luyện chút nào trong hơn ba năm. Sau khi trở lại đời sống dân sự, anh chỉ có thể tập luyện vài tuần mà vẫn giành được hạng nhì. Một học trò khác của Hung, Hoàng Hy Nghĩa (Huang Hsi I), cũng thường thắng các giải đấu toàn diện toàn Đài Loan của mình bằng những cú knock-out. Hoàng về sau trở thành một trong những bác sĩ xoa bóp bấm huyệt khí công (chi gung tui na) giỏi nhất ở Đài Loan. Học trò nhỏ tuổi nhất là La Đức Tú (Lo Te Hsiu), được biết đến với cú đá gót vào solar plexus (mạn sườn). Về lâu dài, La đã nghiên cứu và trở nên cực kỳ tinh thông hệ thống bát quái chưởng hậu thiên (post-birth) hoàn chỉnh của Hung.
Trọng tâm của Hung I Hsiang không phải quá mức vào việc tối đa hóa nội lực và phát triển khí. Đúng hơn, ông tập trung vào những sự tinh tế của việc làm sao phóng xuất hiệu quả lực mà một người đã có và làm sao thay đổi nhanh chóng và trơn tru từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác. Ông làm điều này bằng cách chỉ ra cách tạo ra những vòng tròn tí hon sâu bên trong mọi kẽ hở của cơ thể và cách thay đổi các sự căn chỉnh nội tạng cơ thể với tốc độ lớn. Ông dành nhiều thời gian chỉ ra cách những dịch chuyển trọng lượng li ti có thể tạo ra những vector lực bất thường. Ông cũng làm cho học trò cảm nhận lực này không chỉ về mặt đòn đánh, mà còn bằng cách chỉ ra cách những thay đổi trong chuyển động vi tế của cơ thể có thể đạt được những kết quả ứng dụng phòng thủ/tấn công như ý. Ông dạy học trò cách tức thời giải phóng mình khỏi những sự căn chỉnh nội tạng xấu có thể bình thường sẽ làm tê liệt cơ thể, và tiếp tục cuộc tấn công của họ, giống hệt như bạn trơn tru đổi số trong một chiếc xe số sàn. Trọng tâm của Hung nằm ở chỗ những thay đổi nhỏ của chuyển động cơ thể hoặc dòng khí có thể sản sinh ra những kỹ thuật chiến đấu thực dụng ưu việt và năng lực vận động tổng thể.
Một ứng dụng chiến đấu bát quái chưởng. Lưu Hồng Kiệt (bên phải) phòng thủ chống lại cả hai đòn tấn công cao từ đệ tử của mình, B. K. Frantzis. Sau khi khống chế cả hai bàn tay của đối phương, Lưu đang ở vị trí để tung ra một đòn đánh lòng bàn tay.
Bát Quái Chưởng
Chương 6: Những Xem Xét và Ứng Dụng Chiến Đấu
Bát Quái Chưởng như một môn võ thuật
Nhiều võ sĩ có học thức ở phương Tây có chút quen thuộc với ba môn võ thuật nội gia lớn của Trung Quốc — thái cực quyền (tai chi chuan), hình ý quyền (hsing-i), và bát quái chưởng (ba gua chang). Trong ba môn này, thái cực quyền được biết đến rộng rãi nhất ở thế giới phương Tây, và bát quái chưởng có lẽ là ít được biết đến nhất. Tuy nhiên, ở châu Âu và đặc biệt là tại Hoa Kỳ, đang có một sự nhận thức ngày càng tăng về bát quái chưởng như một sự thay thế mạnh mẽ cho thái cực quyền.
Bát quái chưởng, thường được viết tắt là bát quái, hay "bát quái chưởng" (eight trigram palm), là một môn nghệ thuật Đạo gia (Taoist) độc đáo dựa trên văn bản cổ điển của Trung Quốc, Kinh Dịch (I Ching), hay Sách Những Sự Thay Đổi (Book of Changes). Môn nghệ thuật trôi chảy, tròn trịa của bát quái chưởng đặt cùng một mức độ nhấn mạnh vào trường thọ, phát triển năng lượng nội tại, chữa lành, và thiền định như thái cực quyền. Do đó, kiến thức về bát quái chưởng cực kỳ quý giá đối với tất cả học trò của thái cực quyền và những ai quan tâm đến những cách thức thực dụng để tu dưỡng và sử dụng khí cá nhân. Thế nhưng, bát quái chưởng được xem là hiệu quả hơn trong tự vệ, cụ thể là chống lại nhiều đối thủ.
Bất kỳ lời giải thích nào toàn diện về môn nghệ thuật mê hoặc và phức tạp của bát quái chưởng sẽ đòi hỏi nhiều tập sách dày. Chương này chỉ nhằm đưa ra một lời giới thiệu ngắn gọn về thực hành khí Đạo gia đáng kinh ngạc này, truyền đạt một hương vị về sự phát triển và những thành phần liên kết của nó. (Để biết lịch sử ngắn về bát quái chưởng, xem Phụ lục B, tr. 308.)
Nguồn Gốc Mờ Mịt Của Bát Quái Chưởng
Tung Hai Chuan Bí Ẩn
Nguồn gốc thực sự của bát quái chưởng thật mờ mịt, và Trung Quốc Đại Lục tràn ngập đủ mọi loại lịch sử phổ biến về môn võ thuật phức tạp này. Có những tuyên bố rằng bát quái chưởng khởi nguồn từ nơi này hay nơi kia, nhưng không một trong những ghi chép nào được xác thực đầy đủ để được xem là sự thật. Vị thầy bát quái chưởng của tác giả, Lưu Hồng Kiệt (1905-1986), đã học với một người tên là Mã Thụ Thanh (Ma Shr Ching) (cũng được biết đến với tên Mã Quý — Ma Gui), người đã sống và học với Tung Hai Chuan (1798-1879), người đàn ông đã đưa bát quái chưởng ra khỏi sự u tối hoàn toàn. Tung sẽ không bao giờ nói nghệ thuật của ông đến từ đâu. Vào gần cuối đời, ông sống trong nhà của Mã, và trong tất cả những cuộc trò chuyện mà hai người đàn ông có, Mã cố gắng nhưng không bao giờ thuyết phục được Tung tiết lộ nguồn gốc của bát quái chưởng. Những bậc trưởng lão bát quái chưởng khác, những người đã biết các thành viên nguyên thủy của trường phái bát quái chưởng, đã xác nhận những báo cáo về sự im lặng kiên định của Tung về vấn đề này.
Xét đến bản chất tròn trịa của bát quái chưởng, thật rất hợp lý khi Tung đưa ra những câu trả lời quanh co trước những câu hỏi trực diện về nguồn gốc của nó, chẳng hạn như:
Hỏi: Ông học nó ở đâu?
Đáp: Tôi học nó trên núi.
H: Ông học từ ai?
Đ: Tôi học nó từ một vị Đạo sĩ.
H: Tên ông ấy là gì?
Đ: Ông ấy là một người rất già.
H: Ông ấy đến từ đâu?
Đ: Ông ấy sống trên núi.
Bối cảnh của chính Tung Hai Chuan gần như mờ mịt y như bát quái chưởng vậy. Người ta biết rằng ông đã học nhiều môn võ thuật khi còn trẻ. Thế nhưng, có nhiều câu chuyện mâu thuẫn về những hoạt động của ông trong khoảng thời gian giữa tuổi trẻ và sự xuất hiện của ông ở Bắc Kinh. Một số câu chuyện mô tả ông đã từng là một tên cướp, kẻ sát nhân, tên trộm, hoạn quan, hoặc kẻ chứa gái, trong khi những câu chuyện khác lại miêu tả ông là một cá nhân nhân từ hơn nhiều. Bất kể tính cách của ông ra sao, trước khi đến Bắc Kinh, ông dường như đã bị thương nặng. Người ta kể rằng Tung đã gặp một vị Đạo sĩ đã giúp ông hồi phục và tiếp tục dạy ông bát quái chưởng. Thế nhưng, tất cả những gì dường như bất cứ ai biết chắc chắn là ông xuất hiện tại hiện trường ở Bắc Kinh, giành được danh tiếng nhờ khả năng chiến đấu, và truyền lại bát quái chưởng của mình cho một số lượng tương đối nhỏ học trò, bảy mươi hai người trong số đó được chính thức liệt kê trên bia mộ của ông.
Những Đặc Tính Võ Thuật Độc Đáo Của Bát Quái Chưởng
Nhiều truyền thuyết kể về sự hiệu quả của bát quái chưởng như một môn nghệ thuật chiến đấu. Những truyền thuyết này bao gồm vô số những chiến công võ thuật của Tung Hai Chuan và các học trò của ông. Bất chấp sự mơ hồ của Tung về nguồn gốc bát quái chưởng của mình, môn nghệ thuật nhanh chóng giành được danh tiếng khắp Trung Quốc về sự hiệu quả võ thuật lớn lao. Một chỉ dấu của sự hiệu quả này được tìm thấy trong thực tế rằng khi Từ Hy Thái hậu (Dowager Empress Tzu Hsi) chạy trốn khỏi Bắc Kinh sau khi cuộc...
Các Đặc Tính Võ Thuật Độc Đáo Của Bát Quái Chưởng
Vào thời kỳ sau cuộc Khởi Nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn ở Trung Quốc năm 1908, bà ấy đã được bảo vệ bởi một vệ sĩ duy nhất—đại đồ đệ của Tung, Ân Phúc (Yin Fu).
Thực tế không có một hệ thống hay phong cách võ thuật nào khác, dù là nội gia hay ngoại gia, đã kết hợp và tích hợp một cách liền mạch toàn bộ kho tàng các kỹ thuật chiến đấu võ thuật vào trong một gói duy nhất một cách hiệu quả như bát quái chưởng. Trong bát quái chưởng, bạn có thể đánh một người bằng bàn tay mở, bằng nắm đấm, hoặc bằng một cú đẩy. Bạn có thể đánh bằng tay, bằng đầu, bằng vai, hoặc bằng bất kỳ bộ phận nào khác trên cơ thể mình. Bạn có thể đấm thẳng về phía trước, theo kiểu cong tròn, hoặc từ mọi góc độ có thể tưởng tượng được. Bạn cũng có thể quật ngã đối phương mà không cần nắm lấy thân họ, bằng cách làm họ vấp ngã qua việc đặt chân một cách cẩn thận, hoặc bằng cách phá vỡ thế cân bằng của họ trong lúc khống chế cánh tay hay bàn tay của họ. Bạn có thể dùng những cú quét chân và chặt chân. Thêm vào đó, bạn có thể nâng một người đang tấn công qua khỏi đầu mình rồi quăng họ ngửa ra sau, hoặc sấp mặt, hoặc dập đầu xuống đất. Cũng có những kỹ thuật siết cổ, khóa khớp, hay chin na, cũng như những kỹ thuật nắm bắt mà trong đó bạn túm lấy da của kẻ tấn công và cố gắng xé nó rời khỏi thân thể họ. Bát quái chưởng còn có một dải các cú đá cao và thấp, những cú húc gối, những kỹ thuật giẫm đạp, và một kho vũ khí truyền thống đầy đủ.
Đấu Với Tám Đối Thủ Cùng Lúc
Bát quái chưởng được thiết kế để chiến đấu với tới tám đối thủ cùng một lúc. Thiết kế này dựa trên việc hơn tám người không thể tấn công một người đồng thời mà không cản trở lẫn nhau (trừ khi được trang bị thương dài). Khi đối mặt với nhiều đối thủ, người tập bát quái chưởng luân lưu xuyên qua nhóm những kẻ tấn công, không ngừng xoắn vặn, quay chuyển, và thay đổi hướng đi. Từ góc nhìn phòng thủ, điều này tối thiểu hóa nhu cầu đỡ đòn, bởi vì bạn là một mục tiêu không ngừng di chuyển, và khi cú đánh tới nơi thì bạn đã không còn ở vị trí ban đầu nữa. Không bao giờ dừng lại tại một chỗ quá một phần nhỏ của giây, người tập bát quái chưởng hướng tới việc vô hiệu hóa, hoặc ít nhất là vượt qua, một đối thủ rồi tiếp tục tiến tới người kế tiếp trước khi kẻ tấn công đầu tiên được thay thế. Sự hiệu quả này chỉ có thể đạt được qua sự đánh lừa và khai thác các góc độ tấn công mà phần lớn những môn võ khác không sử dụng.
Với tư cách là một người tập bát quái chưởng đang đối phó với nhiều kẻ tấn công, sự tập trung của bạn vào một cá nhân chỉ nên là thoáng chốc, khi mà sự chú ý của bạn lập tức chuyển sang người tiếp theo. Điều này giúp tránh bị đánh từ phía sau, chuyện dễ dàng xảy ra nếu bạn dành nhiều hơn một khoảnh khắc để đối phó với một thành viên của nhóm. Do đó, ngay cả khi chỉ đối mặt với một đối thủ duy nhất, góc nhìn của bạn vẫn phải luôn hướng tới nhiều đối thủ.
Việc huấn luyện để chiến đấu với nhiều đối thủ cùng lúc bắt đầu với việc người tập đối mặt với một người duy nhất. Sau đó, khi quá trình luyện tập tiến triển, người ta thêm đối thủ vào từng người một. Để phát triển tài nghệ chiến đấu, những người tập bát quái chưởng xem việc thực hành các ứng dụng chiến đấu với những con người thật là điều cần thiết, bởi họ về cơ bản là không thể đoán trước được trong lúc giao chiến.
Công việc bài quyền đơn lẻ và việc Đi Vòng Tròn là nền tảng của sự huấn luyện cũng như là nguồn của năng lượng, sự phối hợp cơ thể, và sự giải phóng tâm thức của bạn để vận động một cách tự phát và đáp ứng lại các cuộc tấn công.
Những động tác được thực hành trong các bài quyền bát quái chưởng chính là những động tác được áp dụng y hệt trong chiến đấu. Nhiều môn võ có hàng trăm chiêu thức, nhưng khi bước xuống tới mức chiến đấu tay không, chúng thường chỉ dùng có vài chiêu, còn lại chỉ phục vụ cho việc phát triển sự phối hợp thân thể. Mọi cử động trong bát quái chưởng đều có những ứng dụng chiến đấu thiết thực và có thể sử dụng được. Trong các trường phái truyền thống của bát quái chưởng, người ta dạy một dải rộng các ứng dụng cho mọi người nhằm làm cho thân/tâm họ trở nên nhanh nhẹn và dễ thích nghi hơn với những thay đổi võ thuật bất ngờ, hơn là chỉ tích lũy một kho các kỹ thuật cụ thể để đáp ứng những phòng thủ hay tấn công cụ thể.
Khí Tiền Thiên Và Khí Hậu Thiên
Trong bát quái chưởng, việc tu dưỡng năng lượng và các ứng dụng chiến đấu được xây dựng dựa trên hai phương pháp thực hành hoàn toàn khác biệt nhau. Phương pháp thứ nhất do Tung Hải Xuyên (Tung Hai Chuan) truyền dạy chỉ gồm có những kỹ thuật Đi Vòng Tròn, và được gọi là phương pháp tiền thiên (hay tiên thiên trong tiếng Hoa). Những phương pháp vòng tròn tiền thiên, tùy thuộc vào từng thầy, có thể được dạy thuần túy như một môn nghệ thuật vận động năng lượng nhằm bảo dưỡng và thiền định, hoặc được kết hợp cùng với các ứng dụng chiến đấu của bát quái chưởng. Phương pháp thứ hai, gọi là phương pháp hậu thiên (hay hậu thiên trong tiếng Hoa), nhấn mạnh vào các ứng dụng chiến đấu của bát quái chưởng, chứ không phải vào các khía cạnh bảo dưỡng và thiền định của nó. Phương pháp hậu thiên được thực hiện theo những đường thẳng thay vì bằng cách Đi Vòng Tròn. Trong những phương pháp này, do các học trò của Tung sáng tạo ra, mỗi quẻ trong Kinh Dịch được đại diện bởi tám phần động tác võ thuật bề ngoài (kèm theo ứng dụng) được phân loại theo các kỹ thuật chiến đấu, chẳng hạn như chưởng, quyền, đá, quăng quật, khóa khớp, vân vân. Mỗi động tác bao hàm bên trong nó cả những kỹ thuật chiến đấu cụ thể lẫn những nguyên tắc chiến thuật tổng quát phải được áp dụng một cách sáng tạo, thường dùng những "vũ khí" thân thể khác nhau (chưởng, đá, và những thứ tương tự) so với động tác trong bài quyền.
HẬU THIÊN / HẬU THIÊN (HOU TIEN)
Những gì xảy ra với một con người sau khi họ rời khỏi bụng mẹ. Những tài năng và kỹ năng tiếp thu được sau khi sinh ra.
Bát quái chưởng thật độc đáo ở chỗ những thực hành tu dưỡng năng lượng căn bản nhất của nó, bắt nguồn từ nội công, đều được hợp nhất trọn vẹn vào việc Đi Vòng Tròn tiền thiên của nó, và cách sử dụng ấy không tìm thấy ở bất kỳ môn võ nào khác. Các Đạo gia tin rằng cách một con người được nạp năng lượng khi còn trong bụng mẹ (giai đoạn tiền thiên) khác với cách năng lượng được tiếp nhận sau khi người ấy bước vào thế giới (giai đoạn hậu thiên). Sau khi sinh ra, con người nạp năng lượng qua việc luyện tập, hô hấp, ăn uống, và nghỉ ngơi. Thế nhưng, trong bụng mẹ, theo các Đạo gia, chính những lực lượng vũ trụ là thứ sạc năng lượng cho bào thai đang phát triển, giống hệt như một cục pin tích điện. Một phần lớn của nguồn điện được nhận trước khi sinh sẽ bị tiêu hao trong cuộc đời về sau, và lượng năng lượng được tích trữ trong "cục pin" ấy sẽ quyết định thể chất và tuổi thọ nói chung của một con người.
Những thực hành khí tiền thiên (bao gồm cả bát quái chưởng) nỗ lực kết nối lại với những lực lượng vũ trụ nguyên thủy, sạc lại "cục pin" y hệt như khi nó được sạc trong bụng mẹ, điều có thể nâng cấp căn bản thể chất của một người. Những thực hành khí hậu thiên về cơ bản bị giới hạn trong việc tối ưu hóa những gì còn lại của khí tiền thiên nguyên thủy của một người.
Hành động đơn giản là Đi Vòng Tròn tạo ra một xoáy nước cho phép người tập khuếch đại, trộn lẫn, và khống chế những năng lượng tự nhiên không ngừng vươn lên từ mặt đất và giáng xuống từ phía trên. Những hành động xoắn vặn của bát quái chưởng tạo ra những xoắn ốc của các năng lượng ấy theo ý muốn của người tập. Ngoài ra, những năng lượng xoắn ốc này có thể vô tình làm chuyển động khí và thân thể của người tập. Ở những giai đoạn sau của sự thực hành, bạn có khả năng tạo ra những xoáy năng lượng vươn xoắn ốc lên phía bầu trời và giáng xuống phía mặt đất cùng một lúc. Những dòng năng lượng này cũng được dùng để tạo ra những ứng dụng chiến đấu cực kỳ mạnh mẽ.
Các Triết Lý Huấn Luyện Võ Thuật Của Phương Pháp Tiền Thiên Và Hậu Thiên Trong Bát Quái Chưởng
Trong các trường phái truyền thống của thái cực quyền và hình ý quyền, các học viên mới đầu tiên được dạy—không có bất kỳ sự biến đổi nào—những bài khởi động khí công và/hoặc những động tác của "bài quyền." Truyền thống do Tung Hải Xuyên thiết lập không dựa trên bất kỳ một bài quyền cụ thể nào. Các học viên bát quái chưởng được dạy khía cạnh của môn nghệ thuật phù hợp với nhu cầu và sở thích cá nhân của họ. Nếu họ học bát quái chưởng vì sức khỏe, họ được dạy những chi tiết cụ thể về cách làm cho thân thể mình cực kỳ khỏe mạnh và cường tráng. Nếu họ học bát quái chưởng vì chiến đấu hay thiền định, thì trọng tâm của sự giảng dạy nằm ở những lĩnh vực ấy. Lập trường của trường phái bát quái chưởng, và của các môn võ Đạo gia nói chung, là một môn võ thuật phải, trước hết và trên hết, tốt cho thân thể bạn và cho sự an lạc về tinh thần cũng như cảm xúc của bạn. Chỉ khi thân thể và tính cách của bạn đã trở nên vững mạnh, bạn mới có thể thực sự học được cách dùng môn nghệ thuật ấy để chiến đấu, và năng lực chiến đấu luôn luôn chỉ là thứ yếu, dù vẫn là một sự cân nhắc vô cùng quan trọng. Những người tập bát quái chưởng tin rằng các võ sư phải là anh hùng, không phải kẻ hèn nhát, và rằng sự anh hùng ấy phải bắt nguồn từ sự định tâm nội tại chân thực, sự tự tin, và kỹ năng, chứ không phải từ sự khoác lác, tài năng thể chất thô, một cái tâm bạo lực, hay chỉ là một ý niệm về môn nghệ thuật.
Mục tiêu ban đầu của bát quái chưởng là khai mở thân thể, qua đó tạo ra sức khỏe và sức mạnh. Tiếp nối điều đó, những cấp độ trung cấp và cao cấp của bát quái chưởng tiến triển sang việc tập trung vào khía cạnh võ thuật, trị liệu, hay tâm linh của nó. Tung đã dạy những học trò khác nhau những khía cạnh khác nhau của môn nghệ thuật theo những cách khác nhau. Bởi Tung hầu như chỉ dạy trong những buổi riêng tư một thầy một trò hoặc trong những nhóm nhỏ gồm ba bốn người, ông có thể điều chỉnh lời dạy của mình cho phù hợp với từng cá nhân. Ông dạy phần lớn các học trò của mình chỉ những ứng dụng chiến đấu của bát quái chưởng, để ngỏ khả năng sẽ dạy họ những khía cạnh tâm linh sau này. Những người khác, ông dạy các khía cạnh tâm linh như một cách để tiếp cận sức mạnh cần thiết cho mục đích võ thuật. Tung đã nhận những võ sư nhiều kinh nghiệm đến từ nhiều nền tảng khác nhau làm học trò. Lời dạy của ông đi theo con đường ít kháng cự nhất đối với học trò cụ thể ấy, dựa trên những chi tiết của bối cảnh và kinh nghiệm trước đó của người học.
Huấn Luyện Tiền Thiên
Việc Đi Vòng Tròn truyền thống của bát quái chưởng nói chung hoạt động bằng cách thay đổi bên trong thân thể để tạo ra những hiệu ứng ở bên ngoài (nghĩa là, những cử động và ứng dụng bề ngoài của bạn). Phương pháp võ thuật tiền thiên, với số lượng cử động bên ngoài ít ỏi và một lượng nội dung bên trong lớn, có thể tỏ ra khó khăn đối với nhiều người phương Tây muốn học bát quái chưởng. Nền văn hóa máy tính hóa của chúng ta tạo ra một sự thôi thúc không ngừng nghỉ đòi hỏi nhiều thông tin hơn trong ít thời gian hơn. Tri thức hay trí tuệ chân thực lại không được săn đón nhiều như thế. Thế nhưng, xét về mặt thu được những lợi ích, thông tin thiếu vắng trí tuệ thì vô dụng. Với nhịp độ hối hả của chúng ta, vốn thường để lại cho mọi người ít hơn thời gian tối ưu để luyện tập, có lẽ sẽ khôn ngoan và thỏa mãn hơn nếu thực hành ít động tác hơn nhưng đi sâu hơn để đạt được những kết quả cá nhân tối đa.
Xuyên suốt lịch sử, phần lớn những võ sĩ bát quái chưởng giỏi nhất chỉ dùng một số ít kỹ thuật chiến đấu, thực hiện với sức mạnh và kỹ năng đến mức không cần thêm gì nữa. Trong bát quái chưởng tiền thiên, các học viên trước tiên được dạy những thành tố nội tại qua Đơn Chưởng Biến (Single Palm Change). Về sau, họ được dạy cách mở rộng những thành tố ấy để dẫn hướng và tiếp sức cho những cử động thân thể khác. Ở cấp độ huấn luyện ban đầu, cái gọi là hsing, nghĩa là những bài quyền hay cử động, bắt nguồn từ việc Đi Vòng Tròn. Các học viên thường sẽ Đi Vòng Tròn trong một khoảng thời gian từ một đến vài năm. Họ sẽ dần dần thêm vào ngày càng nhiều những yếu tố nội công bên trong trong lúc họ khai mở những kinh mạch năng lượng của thân thể bằng những tư thế tay tĩnh cụ thể và Đơn Chưởng Biến. Khi mỗi thành tố nội tại trở nên ổn định, họ liền thấy rằng bất kỳ ứng dụng nào họ biết đều được thấm nhuần sức mạnh.
Thông qua quá trình này, thân thể trở nên rất cường tráng. Học viên có thể bắt đầu nhận ra làm thế nào năng lượng ở bên trong kết nối với năng lượng ở bên ngoài: làm thế nào năng lượng âm và dương bên trong thân thể tương ứng với mặt trời và mặt trăng trên thiên đình, làm thế nào cái vi quan và cái vĩ quan liên kết với nhau. Một khi nền tảng này đã được đặt một cách cẩn thận, học viên kế tiếp có thể bắt đầu học những cử động của Tám Chưởng Mẫu (bát mẫu chưởng, ba mu chang), mà khi được thực hiện bằng cách dùng tám năng lượng của Kinh Dịch, được gọi là Tám Chưởng Nội (nội bát chưởng, nei ba chang).
TÁM CHƯỞNG MẪU / BÁT MẪU CHƯỞNG (BA MU CHANG)
Tám sự biến đổi chưởng cơ bản hay những mô thức cử động của bát quái chưởng.
TÁM CHƯỞNG NỘI / NỘI BÁT CHƯỞNG (NEI BA CHANG)
Những mô thức cử động bát quái chưởng cơ bản giúp một người trải nghiệm và rốt cuộc thấm nhuần những năng lượng của tám quẻ trong Kinh Dịch. (Xem trang 221 về Tám Chưởng Ngoại.)
Huấn Luyện Hậu Thiên
Phương pháp thay thế là học bát quái chưởng hậu thiên. Phương pháp này vận hành từ bên ngoài vào bên trong và bao gồm việc học một số lượng khổng lồ những bài quyền cử động bề ngoài, mỗi bài kèm theo một vài ứng dụng chiến đấu cụ thể. Sau nhiều năm như vậy, khi các học viên đã thành thạo ở những bài quyền bề ngoài, họ mới học sự huấn luyện sức mạnh nội tại. Những phương pháp bát quái chưởng đường thẳng hậu thiên này không dùng việc đi vòng tròn tiền thiên làm bài tập đơn lẻ chủ đạo. Thay vào đó, những người thực hành thi triển các kỹ thuật và bước đi theo những đường thẳng hoặc đường zigzag, theo một cách thức tương tự như mô thức đi bộ Thất Tinh của hình ý quyền (xem trang 202). Sau khi những phương pháp hậu thiên này được học xong, những phương pháp Đi Vòng Tròn tiền thiên mới được hợp nhất vào hệ thống.
Nói chung, phương pháp hậu thiên không liên quan đến những thực hành thiền định của bát quái chưởng. Một phương pháp hậu thiên dạy số lượng lớn động tác lần đầu tiên được dùng để huấn luyện quân đội bởi Ân Phúc và các học trò của ông (xem trang 308). Những kỹ thuật đường thẳng đơn giản và cực kỳ hiệu quả này dễ dạy lính hơn là những phương pháp Đi Vòng Tròn phức tạp hơn. Một phương pháp hậu thiên về sau truyền từ các học trò của Cao Nghĩa Thành (Gao I Sheng) ở Thiên Tân sang các học trò ở Hồng Kông và Đài Loan, bao gồm cả Hùng Nghĩa Tường (Hung I Hsiang). Trình Đỉnh Hoa (Cheng Ting Hua) cũng có một phương pháp 64 biến được thực hiện trong lúc đi vòng tròn, nổi bật nhờ những ứng dụng chiến đấu và kỹ thuật quăng quật cụ thể.
Thiếu đi sự huấn luyện sức mạnh tiền thiên chủ đạo, luôn luôn có khả năng bát quái chưởng sa sút xuống một mức độ mà những người thực hành thi triển những cử động bát quái chưởng bên ngoài (hsing hay bài quyền) đủ tốt, nhưng lại thiếu đi sức mạnh thực sự, linh hoạt, và trôi chảy. Phương pháp tiền thiên được dùng để huấn luyện các đệ tử trong những khía cạnh nội tại nhất của bát quái chưởng; thế nhưng, người sáng lập bát quái chưởng, Tung Hải Xuyên, đã dùng cả hai phương pháp. Nếu các học viên có bối cảnh võ thuật ngoại gia với một số lượng khổng lồ những cử động, bài quyền hay hsing, ông sẽ dạy họ những bài quyền bề ngoài trước tiên. Rồi, qua thời gian, Tung sẽ bổ sung sự huấn luyện sức mạnh nội tại vào những kỹ năng đã có để làm cho những cử động của học trò mình sống lại. Nếu một học viên khác đã có sẵn một nền tảng tốt về sức mạnh nội tại, Tung thường sẽ dạy sự huấn luyện sức mạnh trước và các kỹ thuật chiến đấu sau.* Thế nhưng, dù bát quái chưởng được dạy theo cách nào, thì sự huấn luyện sức mạnh nội tại vẫn giữ vai trò chủ đạo còn các ứng dụng chỉ là thứ yếu.
Phương pháp Đi Vòng Tròn tiền thiên cốt lõi phát triển một năng lực sinh khí và thiền định tối ưu. Đối với quần chúng nói chung, đây chính là nơi giá trị bảo dưỡng và chữa lành có lợi nhất của bát quái chưởng được tìm thấy. Đối với những võ sư, khí được sinh ra bởi phương pháp tiền thiên cung cấp một năng lượng nội tại đáng kể, tiếp sức cho những kỹ thuật mà trước đây có thể đã trống rỗng và vô dụng. Việc biết những ứng dụng võ thuật hay chữa lành của bất kỳ cử động bát quái chưởng nào là hơi vô dụng, trừ phi bạn có sức mạnh để làm cho một ứng dụng hoạt động theo yêu cầu. Chỉ riêng kỹ thuật thì không thể...
Ghi chú của biên tập viên: Phương pháp huấn luyện này ban đầu được tác giả học từ Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) và được hoàn thiện bởi Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh). Những gì các thầy trước đây của tác giả (Hùng Nghĩa Tường, Hoàng Hy Nghị, và Bạch Hoa) đã dạy ông tạo ra một nền tảng đủ về sức mạnh nội tại, cũng như những kỹ thuật chiến đấu và chữa lành hậu thiên. Do đó, mục tiêu chủ đạo của Lưu là dạy tác giả những thực hành tiền thiên về năng lượng, mà sức mạnh của chúng đã tạo ra các ứng dụng và cử động ngay từ đầu.
(Văn bản tiếp tục ở trang 216.)
Chân Dung Một Vị Sư Nội Gia
Bạch Hoa — Sự Rõ Ràng Và Chính Xác
Bạch Hoa (Bai Hua), một học trò của Lưu Hồng Khiết, được giáo dục tại Bắc Kinh. Tôi gặp Bạch Hoa ở Hồng Kông và thật may mắn vì ông ấy nói tiếng Quan Thoại, ngôn ngữ quốc gia của Trung Quốc, chứ không phải tiếng Quảng Đông, ngôn ngữ chính ở Hồng Kông. Tôi đã chung một căn hộ với Bạch Hoa một thời gian, và ông ấy có ảnh hưởng mạnh mẽ lên tôi ngang bằng với Hoàng Hy Nghị (xem trang 293), đặc biệt về mặt kéo dài mô thức thân thể và khai đóng các khớp cùng những khoang cơ thể. Phương pháp giảng dạy của Bạch Hoa là tập trung vào những thông tin quan trọng nhất. Sự nhấn mạnh của ông ấy nhắm vào việc tạo ra khí và sức mạnh nội tại dương. Từng là một tướng lĩnh Hồng Vệ Binh khi mới tuổi thiếu niên, cách tiếp cận võ thuật của ông dựa trên việc sáng tạo những kỹ thuật chỉ cần một hoặc nhiều lắm là hai cú đánh để hoàn toàn tê liệt một người. Bạch Hoa cũng từng học với những thầy khác ngoài Lưu Hồng Khiết.
Bạch Hoa bắt đầu học khí công khi mới sáu tuổi để chữa trị cho mình một ca viêm gan nặng. Ông được gửi đến một ngôi làng ở nông thôn nghèo đến mức không có thảo dược hay kim châm, nên vị bác sĩ Hoa người địa phương đã dạy ông khí công để sinh tồn. Từ thời điểm đó, cho đến lúc mười ba tuổi và gặp Lưu, ông đã học khí công, Bắc Thiếu Lâm, và quyền Thập Bát Thúy Hán (Eight Drunken Immortals boxing, một hình thức võ thuật nội/ngoại gia).
Bạch Hoa thường kể về những trận đấu đường phố khổng lồ ở Bắc Kinh giữa các phe phái Hồng Vệ Binh cánh tả và cánh hữu. Tại đó, ông đã chứng kiến những người tập bát quái chưởng Hồng Vệ Binh trẻ tuổi nâng và quăng những kẻ đối nghịch của họ xuống bằng đầu, giết chết họ. Qua thời gian, những trận chiến này leo thang lên việc dùng gươm và giáo. Chính trong những trận đấu quy mô lớn đó Bạch Hoa đã đạt được sự kính trọng sâu sắc của mình đối với bát quái chưởng như một môn võ thuật bậc nhất, đặc biệt là trước nhiều đối thủ trong những trận chiến sinh tử.
Sự rõ ràng của Bạch Hoa về khí nội tại và sự làm chủ của ông đối với sự vận động của mô thức thân thể dưới da thật đáng kinh ngạc cũng như thật chính xác. Mọi điều Bạch Hoa làm đều thuần túy là Đạo gia, không có bất kỳ sắc thái Phật giáo nào. Ông nhấn mạnh phương pháp hỏa của Đạo giáo (mà Lưu đã dạy ông, trái ngược với phương pháp thủy mà Lưu dạy tôi), và được huấn luyện cao độ trong nội đan. Kiến thức của ông về truyền thống khí công Hoa Sơn và lối thái cực quyền lão giá Dương mà ông học từ Lâm Độc Anh (Lin Du Ying) thật vô giá đối với tôi trong nỗ lực thấu hiểu những căn bản của khí công.
Bạch Hoa nhấn mạnh những thực hành khí tọa (chi chu dzuo, xem trang 75). Giống như Hoàng Hy Nghị và Lưu Hồng Khiết, ông đặt sự thực hành cá nhân lên trên hết thảy. Nếu không có cả Hoàng Hy Nghị và Bạch Hoa, tôi đã không có bối cảnh hay công phu để được tư cách học với Lưu Hồng Khiết, và đã không thể thấu hiểu công trình và những truyền thừa của Lưu.
Cách Bạch Hoa Giảng Dạy
Bạch Hoa là một học trò của Đạo giáo cổ điển, đặc biệt là Kinh Dịch. Ông nhìn tất cả những quá trình khí của thái cực quyền và bát quái chưởng như chẳng là gì hơn ngoài những ứng dụng thực tiễn của Kinh Dịch. Bởi vậy ông sẽ quan tâm đến việc mục tiêu của một người là gì, những điều kiện nào cần thiết để hoàn thành mục tiêu ấy, những kỹ thuật cụ thể nào sẽ được yêu cầu để đạt được mục tiêu một cách hiệu quả, và cái gì củng cố hay phủ định mục tiêu ấy. Ông giải thích khuôn khổ của bất kỳ vấn đề nào bằng những thuật ngữ của Kinh Dịch và các kinh điển Hoa khác, bao gồm cả những Kinh Điển Thái Cực. Cách ông dạy là trước hết để cho học viên hiểu rõ những nguyên lý và lý thuyết triết học. Ông sau đó tập trung vào việc làm thế nào để một cách có ý thức chuyển những lý thuyết ấy thành những ứng dụng thực tiễn cho sự vận động thân thể nội tại (nghĩa là, sự vận động của khí bên trong thân thể và những trạng thái tâm cụ thể sẽ sản sinh ra dòng khí cần thiết). Bạch Hoa nhấn mạnh những cử động sức mạnh lớn theo cách của Vương Thụ Kim, hơn là những cử động và biến đổi nhỏ như Hùng Nghĩa Tường và Hoàng Hy Nghị.
Vào tháng Sáu năm 1981, tôi ghé thăm Bạch Hoa ở Hồng Kông trên đường đến chuyến đi học tập đầu tiên tại Bắc Kinh, nơi tôi đã được mời học thái cực quyền tại Viện Giáo Dục Thể Chất chính của Trung Quốc.* Tôi hỏi Bạch Hoa liệu tôi có thể tập luyện với thầy của ông ấy trong lúc tôi ở đó không. Bạch Hoa nói ông hy vọng là tôi có thể. Ông bảo tôi rằng Lưu Hồng Khiết là một ẩn sĩ ở giữa lòng thành phố và không hay dạy người ta. Ông sau đó thêm rằng hoàn toàn không thể đoán trước được liệu Lưu có dạy tôi hay không, ngay cả khi chính Bạch Hoa nhờ, bởi Lưu giữ kín sự tính toán của riêng mình và thường từ chối dạy người ta, thậm chí cả một số võ sư rất nổi tiếng ở Trung Quốc những người đã tìm đến ông. Bạch Hoa bèn viết cho tôi một bức thư giới thiệu long trọng. Như tôi tìm hiểu về sau, ngay trước khi tôi đến nhà ông, Lưu đã có một giấc mơ về việc dạy một người nước ngoài, người khớp với sự mô tả của tôi, và do đó đã đồng ý nhận tôi làm học trò.
Ghi chú của biên tập viên: Vào cuối cuộc huấn luyện này, tác giả đã trở thành người phương Tây đầu tiên được chứng nhận trong toàn bộ hệ thống thái cực quyền đơn giản hóa, bao gồm bài quyền, Đẩy Tay (Push Hands), và vũ khí.
Để tạo ra những ứng dụng tự phát, mạnh mẽ cho những tình huống kỳ lạ không thể lường trước hay định sẵn được. Sự huấn luyện bậc cao hơn của phương pháp tiền thiên tập trung vào việc chạm tới ma trận của Kinh Dịch để hiển lộ khí tự sinh một cách tự phát. Điều này giúp người thực hành xử lý tốt hơn cái hoàn toàn không thể đoán trước, và chậm rãi nuôi dưỡng tâm thức của vô vi ("hành động mà không hành động"), vốn là tinh hoa của mọi thực hành tâm/thân/tâm thức của Đạo gia.
Huấn Luyện Bát Quái Chưởng
Các Giai Đoạn Của Việc Đi Vòng Tròn
Đặc tính định nghĩa của bát quái chưởng là phương pháp huấn luyện cốt lõi là Đi Vòng Tròn. Điều này cũng đúng như nhau cho các khía cạnh võ thuật, năng lượng, và thiền định của nó. Trong những thực hành Đi Vòng Tròn, một cá nhân đi vòng quanh và vòng quanh trong một vòng tròn, thường xuyên đổi hướng giữa chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ, và dùng những loại bước chân thông thường cũng như chuyên biệt đồng thời với việc thi triển những cử động xoắn ốc của cánh tay và eo. Việc Đi Vòng Tròn gồm có nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn xây dựng dần lên trên giai đoạn trước. Giai đoạn đầu là Đi Vòng Tròn trong lúc giữ hai cánh tay ở những tư thế tĩnh, thứ cũng giống như những tư thế đứng trong Ý Quyền (I Chuan, xem trang 181), là một phương pháp huấn luyện sức mạnh cơ bản. Giai đoạn thứ hai của việc Đi Vòng Tròn dựa trên một phương pháp thiền định vốn đã tồn tại bên trong những tu viện Đạo gia từ hàng ngàn năm trước: Đơn Chưởng Biến, đại diện cho quẻ đầu tiên của Kinh Dịch, được gọi là "thiên" (hay kiền trong tiếng Hoa). Nó biểu thị tinh hoa của năng lượng dương, và là phương pháp sinh khí lực chủ đạo của bát quái chưởng, tập trung như nó vốn thế vào việc dùng sức mạnh ở một chưởng tại một thời điểm.
Giai đoạn thứ ba gồm có Song Chưởng Biến, đại diện cho quẻ thứ hai của Kinh Dịch, được gọi là "địa" (hay khôn trong tiếng Hoa). Nó biểu thị tinh hoa của năng lượng âm, và là phương pháp sinh lực âm hay mềm chủ đạo của bát quái chưởng. Nó tập trung vào việc dùng hai chưởng cùng với nhau, phối hợp chúng cho đến khi chúng là một và có khả năng vận động cũng như thay đổi phẩm chất năng lượng giữa chúng với sự trôi chảy và sức mạnh. Giai đoạn thứ tư liên quan đến Tám Chưởng Mẫu cơ bản, nơi mỗi chưởng đại diện cho năng lượng, đặc tính, chiến lược và những phẩm chất vi tế của mỗi quẻ trong tám quẻ của Kinh Dịch. Trong một số hệ thống bát quái chưởng, thay vì tập trung vào chính những năng lượng của Kinh Dịch, thì nó lại nhắm vào những phẩm chất của các con vật liên kết với mỗi quẻ. Giai đoạn thứ năm của việc Đi Vòng Tròn mở rộng kho tàng lên 64 kỹ thuật hay 64 chưởng, nơi mỗi sự biến đổi chưởng nỗ lực đại diện cho vô số những phẩm chất của 64 quẻ trong Kinh Dịch.
SONG CHỔNG BIẾN (DOUBLE PALM CHANGE)
Một cử động là nền tảng của tất cả những kỹ thuật âm, mềm, hay vô hình thù của bát quái chưởng.
Đặc Điểm Của Việc Đi Vòng Tròn
Dù tinh hoa của bát quái chưởng là thiền định trong cử động và tu dưỡng năng lượng, thì sự huấn luyện ban đầu lại không liên quan đến những suy xét huyền bí như thế. Thay vào đó, những phương pháp Đi Vòng Tròn của bát quái chưởng trước hết nhấn mạnh vào cơ học thân thể. Người thực hành đi vòng quanh một vòng tròn thường có đường kính từ 6 đến 12 feet, dù nhiều người ủng hộ việc người mới bắt đầu dùng một vòng tròn có chu vi bằng 8 hoặc 12 bước chân. Việc đi này được thực hiện với ba bước chân chủ đạo: (1) một bước thẳng tiến về phía trước trực tiếp; (2) một bước mũi chân hướng vào trong, đẩy và uốn cong chân và bàn chân của bạn vào hướng xương sống và di chuyển bàn chân ngoài của bạn về phía tâm của vòng tròn; (3) một bước mũi chân hướng ra ngoài, đẩy bạn ra xa khỏi tâm của vòng tròn. (Những bước khác bao gồm lùi lại, đi ngang, xoay tròn, nhảy, zigzag, nhảy lò cò, bước chéo, và bước nửa.) Nếu việc đi được thực hiện đúng đắn, thân thể sẽ tự nhiên khai mở những kinh mạch năng lượng bên trong, trở nên khỏe mạnh và cường tráng.
Vừa như một môn võ thuật vừa như một môn nghệ thuật luyện tập, bát quái chưởng được biết đến ở Trung Quốc vì sự dựa vào bộ pháp của nó. Không phải là hiếm khi những người tập bát quái chưởng thực hiện những cú xoay 270 độ, trong lúc một bàn chân firmly bám chặt xuống đất và bàn chân kia (bàn chân mũi hướng ra ngoài) xoay mở quanh. Những bước chân như thế chỉ có thể thực hiện được nếu hông và phần còn lại của thân thể đã trở nên khai mở và thư giãn sau một thời gian dài luyện tập, và sự vận động xoắn vặn của những bắp cơ sâu nhất trong thân thể thật sự rất mạnh.
Những sự biến đổi chưởng của bát quái chưởng bình thường không được thực hành trong tư thế chậm rãi. Điều này trái ngược trực tiếp với phương pháp chủ đạo của việc vận động chậm rãi trong những bài quyền đơn lẻ của thái cực quyền. Dù những thực hành ban đầu được làm ở tốc độ đi chậm, tốc độ đi bộ tiến triển qua một đến hai năm lên mức tương đương với nhịp độ đi bộ nhanh hiện đại, với những cử động eo và tay chớp nhoáng như sấm sét, những cú xoay, và những đổi hướng không ngừng. Tốc độ thực hành chậm ban đầu được làm không phải vì nó bắt buộc như trong thái cực quyền, mà là để ổn định nhiều yêu cầu kỹ thuật không thể thiếu của bát quái chưởng. Những nguyên lý căn bản của bát quái chưởng phải được tích hợp vào thân thể. Trong giai đoạn thực hành ban đầu của bát quái chưởng, hầu như không thể đi nhanh mà không vi phạm một phần hay toàn bộ những nguyên lý này. Một trong những điều quan trọng nhất liên quan đến sự xoắn vặn của thân thể, đặc biệt là chân và eo.
Trong bát quái chưởng, thân thể không ngừng xoắn vặn và quay chuyển. Không một hành động nào trong bát quái chưởng được thực hiện theo một đường thẳng hoàn toàn, ngay cả trong những phương pháp thực hành tương đối đường thẳng. Thậm chí một kỹ thuật có vẻ như đường thẳng cũng sẽ được thấy, qua phân tích thị giác kỹ lưỡng, là có một đường cong rất nhẹ. Một trong những điều độc đáo về môn nghệ thuật này là nhiều cử động của nó hoàn toàn mang tính cầu. Sự dẻo dai trọn vẹn của thân thể là tối quan trọng trong bát quái chưởng và, quả thực, bát quái chưởng xây dựng sự dẻo dai kết nối nhất của thân thể trong tất cả các môn võ thuật.
Thêm vào sự xoắn vặn của thân thể và sự trơn tru mà nó có thể chảy trong bát quái chưởng, có nhiều nguyên lý vật lý cụ thể phải được tuân theo khi một người đang làm ngay cả thực hành cơ bản nhất của việc Đi Vòng Tròn, bao gồm nguyên lý chi phối sự căn chỉnh thân thể, vốn có những thuộc tính này: (a) trọng lượng chìm xuống chân, (b) cột sống và đầu ngay thẳng, nâng lên và hơi cúi rất nhẹ, (c) toàn bộ thân thể thư giãn nhưng xoắn lại hướng về tâm của vòng tròn, (d) xương cụt hướng về phía trước, và (e) cả hai cánh tay có thể hoặc vận động phối hợp với nhau hoặc đồng thời thi hành những hành động hoàn toàn độc lập với nhau.
Các Đặc Tính Vật Lý Của Việc Đi Vòng Tròn
Nhắc lại, trọng tâm ban đầu của sự huấn luyện bát quái chưởng là làm cho thân thể khỏe mạnh, dẻo dai, và mạnh mẽ. Đây là lợi ích tức thì nhất mà những người mới bắt đầu rút ra từ sự thực hành bát quái chưởng của họ. Nhiều người ở Trung Quốc tập bát quái chưởng chỉ vì lý do này và khá thỏa mãn với những kết quả. Thế nhưng, bát quái chưởng ban đầu không được khuyến nghị cho những ai có bất kỳ loại chấn thương lưng hay khớp nào. Việc đi bộ bát quái chưởng, khi được tập luyện nhanh trong một chương trình huấn luyện mạnh mẽ, gây ra một sức ép lên lưng và đầu gối. Dù sức ép này có thể dễ dàng được một thân thể không bị thương xử lý, nó có thể làm trầm trọng thêm những chấn thương cũ. Tốt nhất là hãy chữa lành bất kỳ chấn thương lưng hay khớp nào trước tiên qua việc thực hành khí công hoặc thái cực quyền. Sau khi những tình trạng ấy đã được giảm bớt, khi ấy mới có thể bắt đầu thực hành bát quái chưởng.
Gạt vấn đề khí sang một bên trong khoảnh khắc (vốn có tầm quan trọng tuyệt đối trong bát quái chưởng), thì sự kéo dài không ngừng của mô thức mềm, sự khai đóng của các khớp và khoang cơ thể, và sự xoắn vặn của những bắp cơ, màng gân, và dây chằng mà môn nghệ thuật này đòi hỏi chính là cái làm cho thân thể mạnh mẽ về mặt vật lý. Những cử động của bát quái chưởng cực kỳ đòi hỏi ở thân thể. Đối với một người quan sát chưa được huấn luyện, có vẻ như một người chỉ đang đi bộ vô nghĩa trong một vòng tròn, thế mà sự xoắn vặn và quay chuyển của thân thể trong lúc người ấy đang thực hiện việc Đi Vòng Tròn vô hình chung đặt một áp lực xoa bóp lên các cơ quan nội tạng và lên hệ xương-cơ.
Việc Đi Vòng Tròn tự thân nó sẽ đạt được sự khai mở và tăng cường phần thân dưới. Để tiếp tục quá trình vào sự khai mở và tăng cường thân mình cùng cánh tay, hàng chục những tư thế duỗi tay cụ thể đã được phát triển cho phần thân trên. Những tư thế này được thực hiện trong lúc Đi Vòng Tròn. Chúng được thiết kế cụ thể để khai mở những mô thức và khớp của lưng trên, cổ, ngực, và cánh tay nhằm cân bằng thân thể về mặt vật lý và năng lượng. Sự khai mở của toàn bộ thân thể diễn ra dần dần qua những tuần, tháng, và năm của việc Đi Vòng Tròn. Khi thân thể giãn ra và mạnh lên, và nhiều năng lượng hơn bắt đầu lưu thông, thân thể dần dần trở nên tráng kiện hơn, cũng như thư giãn hơn.
Các Đặc Tính Năng Lượng Của Việc Đi Vòng Tròn
Bát quái chưởng trước hết và trên hết là một môn nghệ thuật vận động năng lượng nội tại. Như đã nói, sự huấn luyện sức mạnh nội tại cơ bản của bát quái chưởng gồm có tám sự biến đổi chưởng. Ở những cấp độ cao hơn của bát quái chưởng, mỗi sự biến đổi chưởng trực tiếp dùng trong chiến đấu năng lượng vốn có hiện diện trong mỗi quẻ hay quẻ kép của Kinh Dịch. Khi bước vào lần đầu cấp độ thực hành tinh tế hơn này, những cử động có thể mang lấy những phẩm chất sức mạnh nội tại riêng biệt. Chẳng hạn, chúng có thể mang lấy sự nhẹ nhàng hay xuyên thấu cho quẻ đại diện cho thiên, hoặc sự nặng nề, đè ép hướng xuống, hay vô hình thù cho quẻ đại diện cho địa, hoặc những cú sốc đột ngột, chấn động, xoáy nước, hút vào và xoay ra, và vân vân, cho những quẻ khác. Qua một thời gian nhiều năm, tám sự biến đổi chưởng được tích hợp vào việc Đi Vòng Tròn. Những điều này giúp bạn thu được những kỹ thuật tự vệ, tiếp tục tăng cường và khai mở phần thân dưới, và trở nên nhận biết về tám năng lượng chủ đạo của Kinh Dịch. Theo niềm tin Đạo gia, tám năng lượng tương ứng với Tám Thân Thể Của Con Người là: thân thể vật lý, thân thể thái/ khí, thân thể cảm xúc, thân thể tâm trí, thân thể năng lượng tâm linh, thân thể nhân quả, thân thể của cá tính, và thân thể của Đạo. Mỗi thứ trong những thứ này có một mức độ rung động năng lượng khác nhau.
Các Năng Lượng Của Kinh Dịch — Khởi Đầu Của Bát Quái Chưởng Cao Cấp
Một khi bạn có khả năng tuân theo những nguyên lý căn bản trong lúc đi chậm, bạn bèn có khả năng bắt đầu Đi Vòng Tròn ở tốc độ trung bình và rồi nhanh, kết hợp những cú xoay và cử động tay với những đổi hướng không ngừng. Qua thời gian, việc đi vòng tròn nhanh chóng và những biến đổi chưởng tiến hóa thành một cơn lốc xoáy cuộn trào với sự xoắn ốc cực nhanh của thân thể và những đổi hướng tức thời.
Một khi bạn đã đạt tới trạng thái "vô tâm", tâm thức của bạn và rồi thân thể bạn bắt đầu lờ mờ thấy, trải nghiệm, và tích hợp vào bản thể của bạn, từng cái một, thực tại sống động thực sự của tám năng lượng. Sự thấu hiểu này về tám năng lượng là mang tính trải nghiệm và không thể diễn tả chính xác bằng lời. Những truyền thừa trực tiếp từ tâm này sang tâm khác là thiết yếu để dạy bảo quá trình. Dù những ẩn dụ Đạo gia kinh điển làm hài lòng trí tuệ, thì những thực tại của những năng lượng này phải được trải nghiệm trong từng tế bào của thân thể bạn. Bạn bèn bắt đầu trực tiếp nhận thức làm thế nào tám năng lượng này kết hợp với nhau ở những mức độ phức tạp ngày càng tăng cả bên trong lẫn trong thế giới không ngừng hiển lộ ở bên ngoài thân thể. Quá trình này được biểu đạt trong môn nghệ thuật bát quái chưởng như một dòng chảy suôn sẻ, không đứt đoạn xuyên qua tám sự biến đổi chưởng. Dòng chảy này là thiết yếu đối với khía cạnh thiền định và chữa lành của bát quái chưởng. Nó cũng là một nền tảng của hiệu quả võ thuật bát quái chưởng, bởi sự thay đổi liên tục về vị trí và hướng cũng như góc độ tấn công làm rối loạn những đối thủ.
Tám Chưởng Mẫu
Mỗi sự biến đổi trong tám chưởng được thiết kế để tăng cường khả năng của một người trong việc dùng năng lượng tương ứng của nó. Thế nhưng, mỗi chưởng cũng bị tác động bởi năng lượng của bảy chưởng kia ở những mức độ khác nhau. Trong trường phái bát quái chưởng nguyên thủy, nhiều người giỏi nhất đã thực hành Đơn Chưởng Biến trong nhiều năm trước khi học những chưởng khác. Chẳng hạn, Thạch Lưu (Shi Liu), người đã sống với Tung Hải Xuyên và là một trong những học trò giỏi của ông, chỉ thực hành Đơn Chưởng Biến suốt sáu năm đầu tiên của mình.
Thạch Lưu thực hành Đơn Chưởng Biến suốt sáu năm đầu tiên của mình. Đó là tất cả những gì ông ấy làm, thế mà những ứng dụng của ông ấy thật xuất sắc bởi những nỗ lực của ông được tập trung thay vì tản mát qua nhiều bài quyền khác nhau. Một ví dụ hiện đại về sự tản mát như thế có thể thấy ở một số trường phái dùng tất cả 64 chưởng cho huấn luyện võ thuật. Trong những trường phái như thế, thường các học viên không thể dùng những kỹ thuật chưởng một cách hiệu quả, điều phản ánh một trường hợp có quá nhiều thông tin và không đủ sự thấu hiểu chân thực cũng như thấm nhuần môn nghệ thuật.
Có nhiều phiên bản khác nhau của Tám Chưởng Mẫu, tùy thuộc vào dòng truyền thừa (xem trang 308) và cách nó phát triển qua các thế hệ. Thế nhưng, có hai loại của những bộ Tám Chưởng Mẫu tương ứng với phương pháp tiền thiên và hậu thiên. Những bộ hậu thiên liên quan đến việc học tất cả các cử động và bẻ nhỏ cái hsing, hay bài quyền, mà chúng chứa đựng theo cách những cử động ấy được áp dụng trong chiến đấu. Phương pháp này tiếp cận mọi thứ từ hướng bên ngoài vào trong, và dùng phương pháp huấn luyện Tám Chưởng Ngoại có tính bề ngoài hơn. Cử động ngoại bát chưởng (wai ba chang) được dùng nhiều hay ít như cái hsing trong bài quyền với ít biến đổi. Trái lại, phương pháp tiền thiên tiếp cận mọi thứ từ bên trong ra ngoài, và dùng sự huấn luyện Tám Chưởng Nội. Với phương pháp tiền thiên, bạn nội tại hóa những gì bạn đang làm sao cho một vi cử động rất nhỏ có thể chứa đựng tất cả những năng lượng học, cơ học thân thể nội tại, và ứng dụng chiến đấu của một bài quyền. Dù có thể có rất nhiều điều đang diễn ra bên trong, một con mắt chưa được huấn luyện sẽ không thể thấy được những gì đang được làm. Theo truyền thống, bảy trong tám chưởng được thực hiện với bàn tay mở và chỉ một trong tám bao gồm việc dùng nắm đấm khép lại.
Nói chung, phương pháp Tám Chưởng Nội mạnh mẽ hơn vì những cử động nội tại nhỏ hơn của nó cho phép bạn thay đổi nhanh hơn. Biết một lượng lớn hsing, hay bài quyền, không nhất thiết làm tăng khả năng thay đổi không có quán tính của bạn. Vấn đề của sự thay đổi là điều quan trọng nhất đối với những ứng dụng võ thuật hay tâm linh của môn võ này. Như một quy tắc ngón tay cái, càng nhiều bạn thấy ở bên ngoài, thì càng ít điều đang diễn ra ở bên trong. Ngược lại, càng nhiều điều đang diễn ra ở bên trong, thì càng ít có thể thấy được ở bên ngoài. Trường hợp sau này là của những người bát quái chưởng hàng đầu. Khi họ thực hành những cử động đơn lẻ, những gì họ làm trông có vẻ đáng kinh ngạc là đơn giản. Thế nhưng, khi họ áp dụng nó trong chiến đấu, nó trở nên phức tạp đến mức không thể hình dung nổi. Điều hoàn toàn ngược lại thường là trường hợp của những người thực hành có những bài quyền bề ngoài phức tạp. Khi họ áp dụng môn nghệ thuật của mình trong chiến đấu, ứng dụng của họ tỏ ra quá đơn giản và không hiệu quả bởi họ thiếu sự đa dạng và không đáp ứng tốt với sự thay đổi dưới sự tiếp xúc và áp lực thân thể của chiến đấu.
Thạch Lưu Và Đơn Chưởng Biến Cô Đọng
Đối với Thạch Lưu và những người khác, Tung đã lấy bộ Tám Chưởng Nội và cô đọng nó thêm một bước nữa thành Đơn Chưởng Biến. Bên trong Đơn Chưởng Biến và Song Chưởng Biến có chứa những cử động cực nhỏ bao hàm tất cả những nguyên lý, năng lượng, và ứng dụng của toàn bộ hệ thống tám chưởng. Đơn Chưởng Biến này là trọn vẹn bởi nó được phát triển đầy đủ bên trong tâm trí. Không có nhu cầu cho thêm những bài quyền, bởi cái "Tôi," hay ý niệm, từ đó tất cả những suy nghĩ của Thạch Lưu tuôn ra, có một sự thấu hiểu trọn vẹn về bản chất của sự thay đổi và có thể tức thời hiển lộ bất kỳ cử động thân thể nào được yêu cầu. Điều này khá tương tự với những trường phái lấy ý niệm làm trung tâm của hình ý quyền, trong đó, nếu tâm trí có thể hình dung một cử động thân thể và vận chuyển khí qua những đường năng lượng cần thiết, thân thể có thể tức thời chuyển nó thành cử động thân thể với tốc độ và sức mạnh trọn vẹn. Phương pháp cô đọng toàn bộ hệ thống năng lượng bát quái chưởng vào Đơn Chưởng Biến này là phương pháp bát quái chưởng tu viện Đạo gia truyền thống, vốn không quan tâm đến võ thuật, mà thuần túy chỉ với nội đan, thiền định Đạo gia, và những thực hành bảo dưỡng.
Đối với đệ tử của Tung, Thạch Lưu, những cử động tí hon bên trong Đơn Chưởng Biến đã trở thành phương tiện để tu dưỡng năng lượng của ông. Nó có lẽ chỉ là một cử động của ngón tay vào một hình chưởng mới, liên kết sâu xa bên trong tâm trí, kinh mạch năng lượng, và tâm thức của ông để cho ông khả năng chuyển hóa nó thành một ứng dụng chiến đấu. Một người khác đang làm bát quái chưởng có lẽ đã cần làm hai hoặc ba cử động lớn, rộng mở để đạt được cùng một kết quả. Cử động của Thạch Lưu có lẽ chỉ bằng một phần trăm về mặt vật lý, nhưng nó hiệu quả ngang bằng hoặc hơn, cả về mặt vận chuyển khí bên trong thân thể lẫn cho mục đích chiến đấu.
Trong một sự tập trung chi tiết như thế vào Đơn Chưởng Biến, có những cấp độ huấn luyện khác nhau với những mục tiêu khác nhau. Một số phương pháp huấn luyện có mục tiêu là tăng cường một khía cạnh nội tại của thân thể bạn. Chẳng hạn, bạn có thể Đi Vòng Tròn trong lúc tập trung vào một quá trình nội tại cụ thể, chẳng hạn như sự đập nhịp của các cơ quan nội tạng. Vào một lúc khác, bạn có thể tập trung vào một quá trình khác, chẳng hạn như thay đổi áp suất nội tại của dịch não tủy, hoặc có lẽ bạn có thể tập trung vào nhiều quá trình đồng thời. Sự tập trung có chọn lọc vào một quá trình nội tại cá nhân này thường được duy trì trong một khoảng thời gian để "nạp cứng" quá trình ấy vào tâm trí và thân thể bạn. Một người quan sát chỉ sẽ thấy cùng một cử động bên ngoài được lặp lại hết lần này đến lần khác và sẽ không hay biết về những quá trình nội tại đa dạng đang được thực hành.
Tung là người duy nhất được ghi nhận là có khả năng dùng trọn vẹn cả tám biến đổi chưởng. Bắt đầu từ thế hệ thứ ba của trường phái bát quái chưởng nguyên thủy của Tung trở đi, thật hiếm khi có ai có khả năng dùng cả Tám Chưởng Mẫu tới tiềm năng tối đa. Phần lớn, ngay cả những người giỏi nhất, chỉ dùng ba hoặc bốn biến đổi chưởng, bởi thấu hiểu chỉ một biến đổi chưởng có thể mất hàng năm. Sự thấu hiểu chân thực về một chưởng đòi hỏi một sự thấu hiểu chi tiết về cơ học nội tại của chưởng ấy, chứ không chỉ những cử động bên ngoài. Những người tập bát quái chưởng xem những cử động bên ngoài nhiều hay ít chỉ là bao bì.
Hiện nay ở phương Tây, một mẩu thức ăn chỉ nặng có vài ounce có thể có một lượng lớn bao bì quanh nó, nhưng bạn chỉ có thể ăn vài ounce thức ăn đó, chứ không ăn bao bì. Một số những người bát quái chưởng hàng đầu đã học cách giữ cho cử động của họ cô đọng. Những người khác, như Trình Đỉnh Hoa và Ân Phúc, đã mở rộng cử động của họ. Thế nhưng, nói chung người ta công nhận rằng tinh hoa của bát quái chưởng nằm gọn trong Đơn Chưởng Biến và Song Chưởng Biến.
Cử Động Tự Phát
Khi bát quái chưởng của bạn trở nên phát triển hơn cả về bên trong lẫn bên ngoài, có thể có những lúc hay những giai đoạn của cử động tự phát. Trong ngôn ngữ bát quái chưởng, điều này được gọi là, "Khi con rồng chui ra khỏi hang của nó." Cử động tự phát có thể xảy ra trong lúc bạn đang làm bài quyền. Bạn có thể tự phát bắt đầu phóng thích năng lượng theo những cách rất mạnh mẽ, thực hiện những cử động phát kình (fa jin) mà chẳng ai từng dạy bạn. Bạn có thể có những trải nghiệm tâm linh đủ mọi loại.
Biến Hóa Và Nghệ Thuật Chuyển Đổi Của Kinh Dịch
Lưu Hồng Khiết đang dạy tác giả Đơn Chưởng Biến.
Kinh Dịch, hay sách Những Sự Chuyển Đổi, nói về cách một năng lượng, sự kiện, tình huống, hay vật thể này chuyển đổi thành một cái khác. Khi được dùng cho mục đích bói toán, Kinh Dịch được gieo để thu được một hào động, cái lần lượt tạo ra một quẻ mới, và quẻ mới đó là một biến hóa (bien hua), hay sự thay đổi. Một trong những lý do cốt lõi để thực hành bát quái chưởng là để thấu hiểu một cách nội tạng (chứ không chỉ trí thức) những quy tắc nội tại của khí về sự thay đổi. Khi bạn bắt đầu tự mình hiểu làm thế nào khí thay đổi bên trong thân thể/tâm trí của chính bạn, bạn cũng bắt đầu nắm bắt được cách năng lượng chi phối các sự kiện và tình huống vận hành. Bát quái chưởng, sự thực hành cá nhân của Kinh Dịch, bèn chỉ cho bạn cách bắt đầu dùng Kinh Dịch trong hai mươi bốn giờ của đời sống hằng ngày. Bạn làm điều này bằng cách học cách cảm nhận và trực tiếp nhận thức bên trong thân thể chính mình những loại khí khác nhau và quá trình năng lượng mà: (1) khởi xướng một sự thay đổi; (2) mang tới và hỗ trợ một sự thay đổi; (3) không cho phép một sự thay đổi tiến triển qua sự triển khai tự nhiên của nó bằng cách đóng băng nó tại chỗ qua quán tính hay kháng cự nội tại không được nhận ra; và (4) tự nhiên hay không tự nhiên chấm dứt một sự thay đổi. Mục tiêu không chỉ là để trí thức thấu hiểu những ý nghĩa sâu xa của Kinh Dịch, mà là làm cho nó liên quan cá nhân và tự phát hữu dụng trong đời sống hằng ngày. Cho điều này, bạn cần một sự thực hành cá nhân đều đặn. Bát quái chưởng đã được những Đạo gia cổ xưa thiết kế cho mục đích đó.
Dù nó được thực hành như một môn võ thuật, hay một môn nghệ thuật bảo dưỡng, chữa lành hay tâm linh, một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng nhất trong bát quái chưởng là bản chất của sự thay đổi. Trong phần lớn các hình thức võ thuật, cũng như trong nhiều khía cạnh của cuộc sống, có một "cách đúng" và một "cách sai" được cảm nhận để làm mọi thứ. Chẳng hạn, trong những hình thức võ thuật ngoại gia, có một cách đúng duy nhất mà cú đánh có thể được thực hiện. Nếu bạn muốn thay đổi góc độ tấn công, bạn phải dùng một bài quyền bề ngoài khác có góc độ mong muốn. Bát quái chưởng vận hành khác đi. Người tập bát quái chưởng thay đổi những kháng cự nội tại bên trong thân thể sao cho thân thể có thể thích nghi một cách thích hợp và tức thời đánh hay phòng thủ ở góc độ mới, mà không cần nhận lấy một bài quyền bề ngoài mới.
Trong những ứng dụng chiến đấu của bát quái chưởng, việc dùng biến hóa là tối quan trọng. Người ta đã nói rằng Đơn Chưởng Biến chứa đựng mười ngàn năng lượng và kỹ thuật/chiến lược chiến đấu của Kinh Dịch. ("Mười ngàn" là một ẩn dụ Hoa phổ biến đứng cho "không bao giờ chấm dứt," "vô số," hay "vô hạn.") Đơn Chưởng Biến biến đổi khi năng lực của người thực hành được cải thiện, theo cùng một cách mà bạn thấu hiểu những ý nghĩa bên trong của Kinh Dịch nhiều hơn khi bạn làm việc với nó nhiều hơn. Cách những người thực hành vận động bên trong mình, tập trung sự chú ý của họ, và thay đổi những năng lượng bên trong thân thể họ đều tác động đến những góc độ phòng thủ và tấn công có thể có của Đơn Chưởng Biến.
Thế nhưng, như được Tung Hải Xuyên dạy, chỉ có khoảng mười hoặc mười lăm cử động bài quyền cơ bản mà tất cả đều được gọi một cách chính thức là Đơn Chưởng Biến. Tung đã điều chỉnh Đơn Chưởng Biến để tương ứng với thân thể, tâm trí, và năng lượng độc đáo của mỗi học viên. Tung đã truyền lại một bài quyền thân thể cho phép nhiều loại cấu trúc khí cá nhân trải qua biến hóa, hay khả năng thay đổi.
Thật đáng buồn, qua các thế hệ, những biến thể về những biến đổi chưởng này đã bị đóng khung thành những bài quyền cứng nhắc cao độ. Một số trường phái bát quái chưởng đi xa đến mức nói rằng chỉ có một cách đúng duy nhất để làm Đơn Chưởng Biến. Thế nhưng, những học trò giỏi hơn của Tung đã truyền lại cách những thay đổi này có thể được sáng tạo hay sửa đổi, và họ lần lượt sáng tạo ra những bài quyền của riêng họ, mà đã tạo ra biến hóa vốn có của riêng họ, và cứ thế tiếp tục. Đây là cái làm cho bát quái chưởng trở thành một môn nghệ thuật tiến hóa, giống như một chương trình máy tính tự sinh với nhiều hoán vị, có khả năng học hỏi từ những sai lầm của nó. Điều này trái ngược hẳn với những môn võ thuật ngoại gia, nơi những bài quyền thường cứng nhắc bất biến bởi mục tiêu là tạo ra một hiệu ứng bề ngoài cụ thể.
Cuộc Hành Trình Cá Nhân Qua Các Môn Võ Thuật
Con Rồng Chui Ra Khỏi Hang
(tức là) Cho đến khi tôi gặp thầy của mình là Lưu Hồng Khiết, tôi chưa từng thực sự trải nghiệm cử động tự phát trong bối cảnh bát quái chưởng. Khi tôi nói chuyện với những người bát quái chưởng cấp cao ở Bắc Kinh, tôi được bảo rằng chỉ những ai dính líu đến thiền định bát quái chưởng mới có loại trải nghiệm này. Sự dính líu đầu tiên của tôi với cử động tự phát là vào năm 1981 với Lưu tại nhà ông ở Bắc Kinh. Trải nghiệm đó chỉ kéo dài vài tuần. Một người đang quan sát đã mô tả nó như là "rung lắc cái đuôi con rồng" bởi lưng và cột sống của tôi rung động mạnh đến mức trông như thể một cái đuôi đang chui ra từ cột sống của tôi. Nguồn của những cử động cực nhanh mà vẫn cuộn chảy này là sự phóng thích tâm thức nội tại của một con người. Trong quá trình này, năng lượng của bạn bắt đầu trộn lẫn với năng lượng trong môi trường xung quanh và bạn có thể chạm tới những năng lượng nguyên thủy đã khởi nguồn ra dòng truyền thừa bát quái chưởng.
Ẩn dụ về con rồng thật thích hợp cho cử động bát quái chưởng tự phát. Trong tư tưởng Hoa, con rồng có nhiều ý nghĩa. Nó là biểu tượng của Hoàng Đế cũng như Phượng Hoàng là biểu tượng của Hoàng Hậu. Nó là biểu tượng của điềm lành; và nó cũng là biểu tượng của những khát vọng cao cả và tâm linh. Những cử động tự phát mà tôi trải nghiệm thì tương tự với cái được gọi là kriya hay những hành động tự phát trong truyền thống thiền định Shaktipat của yoga Kundalini Ấn Độ. Điểm khác biệt duy nhất là cử động tự phát này đã lấy một hình thức thích hợp với bát quái chưởng và võ thuật, trái ngược với một sự phóng thích cảm xúc hay giải tỏa.*
Như được biểu hiện trong những cử động tự phát này, năng lượng của vũ trụ được gọi là "con rồng" bởi những Đạo gia ở Trung Quốc và "con rắn" bởi những bậc tinh thông Kundalini ở Ấn Độ. Cử động tự phát không phải là vấn đề được phép cử động tự do như diễn ra trong khiêu vũ, tâm lý trị liệu, và một số thực hành khí công, hay kết hợp những cử động đã học trước đây theo hình thức tự do như một nhạc công jazz ứng tác, mà là một cái gì đó sâu sắc và mạnh mẽ hơn. Một năng lượng sống đồng thời trỗi lên từ mặt đất và giáng xuống từ bầu trời. Khi chúng trộn lẫn, chúng trở thành một lực sống bên trong thân thể bạn mà về mặt vật lý di chuyển bạn. Trải nghiệm này có những điểm song song với, nhưng...
Ghi chú của biên tập viên: Nhiều năm sau ở Đài Loan, tôi lại một lần nữa trải nghiệm một hình thức dịu nhẹ hơn của điều này với một nhóm những học trò của Hoàng Hy Nghị đang làm khí công tự phát ở miền trung Đài Loan. Tại đó tôi đã thấy những người chưa từng dính líu đến võ thuật trước đây đang sáng tạo đủ mọi loại hình thức võ thuật. Cả với Lưu và với Hoàng, phương pháp đều được thực hiện thuần túy qua truyền thừa năng lượng mà không có bất kỳ gợi ý bằng lời nói hay tâm lý nào.
CHƯƠNG 6 — BÁT QUÁI CHƯỞNG: NHỮNG CÂN NHẮC VỀ CHIẾN ĐẤU VÀ CÁC ỨNG DỤNG
Một Hành Trình Cá Nhân Qua Võ Thuật
Rồng Ra Khỏi Hang (tiếp theo)
Cảm giác và hương vị này hoàn toàn khác biệt so với sự nhập đồng của pháp thuật shaman, so với sự chuyển động tự phát của năng lượng Kundalini, hay so với sự vận hành của Thánh Thần trong Kitô giáo. Nó cũng tự phát sản sinh ra những năng lực võ thuật và những dòng khí mà thông thường cực kỳ khó đạt được qua việc tập luyện bát quái chưởng bình thường, bất kể nỗ lực và sức mạnh của ý chí lớn đến đâu. Con rồng thực sự nắm lấy thân/tâm của bạn và bắt đầu chuyển động, bắt đầu dạy bạn phải làm gì. Đây được gọi là "thiên thụ của bát quái". Đó là những lời dạy đến từ trời. Không phải là bạn thực hiện một động tác; trái lại, bạn bị chuyển động, đôi khi rất dữ dội. Tôi còn nhớ rõ rằng trong thời gian chuyện đó xảy ra, tôi có thể xoay người trên một diện tích nhỏ bằng đồng xu trong căn phòng chật hẹp của Lưu, trong khi trước kia tôi thường sẽ làm đổ thứ gì đó. Chuyển động tự phát đòi hỏi một mức độ phối hợp thể chất mà ngay cả sau hai mươi năm luyện võ cũng vượt quá năng lực của tôi, thế mà tôi lại đang làm được điều đó. Thân thể tôi thực hiện những cú nhảy lên không trung không tưởng, những cú nhảy mà trước đó tôi chưa bao giờ có thể hình dung nổi. Tôi đang trải nghiệm những bước đầu của khinh công (ching gung), hay kỹ năng thân thể nhẹ nhàng, mà về mặt lịch sử vốn là một sở trường của bát quái. Ở đó không hề có một kỹ thuật cụ thể nào; nó chỉ đơn giản là đột nhiên xảy đến với tôi. Khi giai đoạn chuyển động tự phát này chấm dứt, nó không bao giờ lặp lại một cách trọn vẹn nữa. Tôi tự hỏi liệu toàn bộ công phu kundalini mà tôi đã làm trong hai năm ở Ấn Độ (và đã tập luyện trong nhiều năm) có phải tình cờ đang bộc lộ ra qua bát quái hay không.
Khinh công (ching gung) — Kỹ thuật đặc biệt, nay rất hiếm, [đạt được] bằng cách chuyển hóa khí của nó.
Tôi hỏi Lưu. Ông nói rằng chuyển động tự phát lần đầu tiên xảy đến với ông khi ông còn ở trên núi tại Tứ Xuyên, và rằng đó là một thành phần cơ bản của thiền định Đạo gia. Dù vậy, ông vẫn ngạc nhiên vì chuyện đó lại xảy ra với tôi sớm đến thế trong quá trình tu tập của mình. Khi tôi giải thích về nền tảng huấn luyện kundalini kriya trước đây của mình, Lưu nói rằng quá trình của tôi đã khiến tôi tiếp xúc với những năng lượng này, và vì thế có lẽ tôi đã mở ra, sẵn sàng đón nhận trải nghiệm này ở một giai đoạn còn sớm.
Chuyển động tự phát được xem là một phần thuộc mặt tinh thần của bát quái. Nó giải phóng những cảm xúc bị trói buộc và ban cho người ta khả năng chuyển hóa năng lượng đến một mức độ mà việc tập bát quái có kiểm soát thông thường không thể đạt được. Khi những điều này bắt đầu xảy ra, bạn có thể nhìn thấu vào cội rễ của cái mà sự thay đổi trong bát quái thực sự hướng tới. Chuyển động tự phát thường chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian có hạn, không quá vài năm, và những mức độ nhận thức mà nó tạo ra sẽ không trở thành vĩnh viễn cho đến khi tâm trí đủ cởi mở, ổn định và cân bằng.
BIẾN HÓA VÀ NGHỆ THUẬT BIẾN ĐỔI CỦA KINH DỊCH
Đề tài biến hóa (bien hua) cũng nói về cách các sinh vật sống, kể cả con người, thay đổi và chuyển hóa theo thời gian. Đôi khi những thay đổi ấy diễn ra trong khoảng vài tuần, vài tháng hay vài năm đối với công việc tập bài quyền, nhưng cũng có thể có đến mười lần biến đổi trong nửa giây của các ứng dụng chiến đấu. Việc nghiên cứu biến hóa còn thiếu vắng trong hầu hết các môn phái bát quái ở phương Tây. Tuy nhiên, tại những môn phái bát quái giỏi ở Trung Quốc, mọi thứ đều được nói đến dưới góc độ biến hóa, và mọi sự huấn luyện đều được tiến hành với sự cân nhắc đến biến hóa. Biến hóa, hay sự thay đổi, là trái tim và linh hồn của Kinh Dịch. Hình (hsing), hay bài quyền, là cách thân thể bạn chuyển động và hình dạng bên ngoài cụ thể mà nó tạo ra, và là trọng tâm cơ bản của các môn nghệ thuật ngoại gia. Biến hóa cũng quan tâm đến việc khí/hình dạng thân thể bên trong của bạn thay đổi như thế nào khi nó gặp phải một tình huống, hoặc ở bên trong cơ thể bạn, khi khí của bạn nhảy từ một mức độ thấp lên một mức độ năng lực cao hơn, hoặc cách nó biến đổi trong một kỹ thuật võ thuật từ một cú đánh bằng chưởng sang một cú đánh bằng cẳng tay rồi sang một cú đánh bằng vai, và cứ như thế. Trong khía cạnh tinh thần của bát quái, biến hóa quan tâm đến việc bạn nhảy từ một mức độ ý thức này sang một mức độ ý thức khác như thế nào trong nội đan (internal alchemy).
Trong chiến đấu, biến hóa có thể được biểu đạt qua cách bạn thay đổi và cách bạn thực hiện một động tác cụ thể. Lực có thể thay đổi một cách rất nhỏ hoặc một cách kịch liệt để thích ứng với cách mà đối thủ đã thay đổi góc độ hay lực lượng của một đòn tấn công, và tư thế của cơ thể bạn có thể chuyển từ tấn công sang phòng thủ hay từ phòng thủ sang tấn công, có thể nhiều lần trong mỗi giây.
Chuyển Hóa Năng Lượng Và Các Ứng Dụng Chiến Đấu
Có ba cách chính yếu mà những người tập bát quái phát triển khả năng sử dụng các sự biến đổi năng lượng cho mục đích võ thuật. Thứ nhất và quan trọng nhất là sự thực hành áp dụng một kỹ thuật trong khi thân thể học cách uốn nắn theo các năng lượng của môi trường, cũng như theo năng lượng cá nhân của chính mình và của đối thủ. Là một môn nghệ thuật võ thuật và tinh thần, bát quái chủ động sử dụng khí của môi trường, hút năng lượng từ đất và trời. Bát quái được xem là một môn nghệ thuật thuộc về thiên giới hơn là thuộc về địa giới, bởi vì chuyện những người tập bát quái hút năng lượng từ các hành tinh và các vì sao, theo nghĩa đen, là điều rất phổ biến. Bằng cách hình thành những kết nối tâm linh với các lực tự nhiên này, những người tập bát quái sử dụng chúng khi họ di chuyển qua và tương tác với năng lượng của hào quang cá nhân của người tập. Những năng lượng không ngừng đi lên từ lòng đất và đi xuống từ bầu trời kết hợp với năng lượng tại chỗ của môi trường xung quanh bạn. Chẳng hạn, nếu bạn sống gần một ngọn núi hay đại dương, cơ thể bạn hấp thu năng lượng của những lực môi trường ấy cũng như của gió và cây cối. Nó cũng hấp thu năng lượng của con người đang tấn công bạn. Sự kết hợp của tất cả những năng lượng này làm nảy sinh một phản ứng năng lượng thích hợp một cách chính xác, và phản ứng đó trở thành ứng dụng võ thuật. Trong các môn võ ngoại gia, các kỹ thuật chiến đấu dựa trên nguyên tắc: "Hắn làm thế này thì tôi làm thế kia." (Hắn tung một cú đấm và tôi thực hiện một trong vô số các ứng dụng phản xạ tiềm năng.) Tuy nhiên, trong bát quái, bạn
Tám Tiên Tửu
Một buổi chiều trong một công viên ở Đài Bắc, tôi thấy một nhóm tám người đang tập một môn võ khác thường dưới một gốc cây. Nhóm này do một ông lão dẫn dắt, người di chuyển như một thiếu niên. Tôi đứng xem một lúc, và chẳng bao lâu sau, vị sư phụ và tôi bắt đầu trò chuyện. Ông ngạc nhiên vì tôi có thể nói tiếng Trung và có lòng yêu mến Đạo gia. Ông nói phương pháp của ông gọi là Tám Tiên Tửu (Eight Drunken Immortals), và rằng nó thuộc về một dòng truyền thừa Đạo gia, chứ không thuộc phương pháp Thiếu Lâm. Ông hỏi tôi có muốn học không. Khi tôi hỏi nơi đến tập, ông đáp rằng nếu ông dạy, ông sẽ dạy dưới gốc cây này, trên bãi cỏ, vào cuối buổi chiều từ thứ Hai đến thứ Năm. Những nỗ lực của tôi muốn nhờ ông hay các học trò của ông nói rõ hơn về bất kỳ khóa huấn luyện nào khác cùng loại đều không đi đến đâu. Tình hình lúc nào cũng vẫn như vậy. Tôi đến học khá đều đặn dưới gốc cây này trong vài năm. Rồi một ngày, không hề báo trước, cả nhóm biến mất. Không ai biết họ đã đi đâu, thậm chí không biết chính xác họ là ai. Tôi không bao giờ gặp lại họ nữa.
Những võ sư say rượu liên tục sụp đổ rồi bất ngờ bật nhảy lên như một chiếc hộp có lò xo bật người. Họ dường như hoàn toàn mất thăng bằng và/hoặc lăn lộn trên sàn, thực hiện những cú ngã đệm không thể tin nổi, rồi đột ngột bật nhảy lên để tấn công. Khi đứng thẳng, họ thường dường như chẳng có chút sự rắn chắc nào trong thân thể. Trông họ hoàn toàn sơ hở và mở toang, thế nhưng khi một đối thủ tìm cách thừa cơ, hắn lại thấy mình bị bóp nghẹt mà không biết tại sao hay bằng cách nào. Nói chung, đó có lẽ là môn võ mang tính chơi đùa nhất mà tôi từng tập.
Có hai trường phái Tám Tiên Tửu. Trường phái thứ nhất xuất phát từ nhánh Thiếu Lâm của địa quyền gọi là địa đường (ti tang), chuyên về các kỹ thuật chiến đấu dưới đất. Trong địa quyền, khi người tập ngã xuống đất, họ có thể đánh đối thủ trên đường ngã xuống và/hoặc cũng kéo đối thủ xuống theo. Một khi đã ở dưới sàn, một võ sư Tám Tiên Tửu sử dụng những kỹ thuật dưới đất rất tinh vi, đặc biệt là các cú đá, các đòn đánh vào thần kinh, các đòn bóp cổ và các đòn khóa khớp, hoặc nhắm vào một đối thủ đã bị quật ngã, và/hoặc vào một đối thủ đang đứng và tìm cách giẫm đạp lên mình. Trường phái thứ hai thuần túy là của Đạo gia. Đó là một môn võ mà các Đạo sĩ dạy cho con cái hay thiếu niên của họ để phát triển thân thể vật lý và khí của các em trong khi các em vẫn còn quá nhỏ để trải qua kỷ luật chính xác mà việc thành công trong các môn võ nội gia đòi hỏi.
Địa đường (ti tang) — Nhiều hệ thống khác nhau [của võ thuật Trung Quốc] liên quan đến việc chiến đấu dưới đất.
Tám Tiên Tửu đào tạo những nguyên lý cơ bản nhất được dùng trong các môn võ nội gia theo những cách tuyệt vời. Tuy nhiên, nó dựa nhiều hơn vào việc sáng tạo biểu hiện nguyên lý mà không câu nệ vào hình thức. Môn võ này có một hệ thống khí công tuyệt vời. Nó phát triển
một số yếu tố của hệ thống nội công 16 phần rất tốt, nhưng không phải toàn bộ hệ thống, cũng không đạt đến mức độ chính xác như trong các môn võ nội gia. Môn phái này bao hàm một sự thâm hiểu về cách trọng lượng cơ thể người và đà chuyển động vận hành, và có thể thao túng những yếu tố này trong cơ thể khi nó đang di chuyển qua không gian.
Về một số mặt, tôi muốn nói rằng Tám Tiên Tửu đã đưa sự dẻo dai, các kỹ năng ngã và khả năng đặc biệt di chuyển theo mọi hướng của Hầu quyền lên một bước nữa. Tuy nhiên, nó thay thế tính hung dữ của Hầu quyền bằng sự tinh nghịch và một cảm giác giao hảo vui vẻ, cả trong cách nó đánh bại đối thủ lẫn trong tâm thế triết học nói chung của nó. Về mặt nhu nhuyễn, Tám Tiên Tửu gần với thái cực quyền nhất. Ở trạng thái tấn công, nó là sự pha trộn các nguyên lý của thái cực quyền và bát quái chưởng cùng với một số chất liệu độc đáo của riêng nó. Về bộ pháp, các nguyên lý né tránh và sự nhấn mạnh vào biến hóa cùng tính bất khả đoán, nó gần với bát quái nhất.
Tám Tiên Tửu nhấn mạnh một số phẩm chất võ thuật khác thường.
Nó chứa đựng nhiều kỹ thuật gập khớp và gập thân hơn bất kỳ môn võ ngoại gia hay bán nội bán ngoại nào khác. Nó truyền cho người tập khả năng gập thân thể con người lại như một con búp bê bằng giẻ, nhờ đó cho phép người tập vừa đỡ vừa tấn công từ những góc độ hoàn toàn bất khả đoán bằng mọi phần của cơ thể, kể cả mông và lưng. Kỹ năng gập thân cực độ của các võ sư say rượu khiến cho việc áp dụng các đòn khóa khớp lên họ hầu như trở nên bất khả. Tuy một số người cho rằng các võ sư say rượu trật khớp của họ ra để chống lại các đòn khóa, họ không làm vậy. Chính những chuyển động cực kỳ nhỏ nhặt của vai và vùng bên dưới xương sườn tạo ra ảo ảnh đó. Tám Tiên Tửu không phải là một môn phái "hoặc thế này hoặc thế kia", và nó sử dụng ngang nhau các cú đấm, các đòn đánh bằng bàn tay và ngón tay, cùng một kho tàng lớn các cú đá thông thường và bất thường từ những góc độ kỳ lạ, các đòn khóa khớp, đủ loại quăng quật, cả khi đứng thẳng lẫn khi ngồi xổm, và việc sử dụng rộng rãi đôi chân khi ở dưới đất.
Mặc dù Tám Tiên Tửu có kết hợp công phu khí đã được phát triển, nhưng sự nhấn mạnh chính của nó về lực và chuyển động chủ yếu đặt vào sự chuyển dời trọng lượng hơn là vào công phu khí thuần túy — thứ không đòi hỏi đà chuyển động của trọng lượng cơ thể vật lý để thành công. Hệ quả là, môn võ này nghiên cứu những chi tiết chính xác về
cách những sự chuyển dịch trong đà của người tập Tửu quyền sẽ ảnh hưởng tương ứng như thế nào đến đà và sự thăng bằng cơ thể của đối thủ họ.
Sự kiểm soát chính xác không gian của chính họ và của đối thủ này cho phép các võ sư say rượu tạo ra những ảo ảnh thị giác và sử dụng sự lừa dối với lợi thế lớn. Một trọng tâm khác của việc chuyển dời trọng lượng là khả năng làm cho bất kỳ điểm nào trên cơ thể, chẳng hạn một đầu khuỷu tay, cái đầu, đan điền hay đầu gối, trở thành trung tâm của sự thăng bằng và chuyển động, rồi sau đó nhanh chóng chuyển đổi tùy ý từ bất kỳ một trong nhiều điểm thăng bằng nào sang một điểm khác. Cách xoay trở như vậy cho phép các võ sư say rượu trông có vẻ hoàn toàn mất thăng bằng trong khi thực ra sự thăng bằng của họ lại hoàn hảo. Nhờ thế, nhiều cái bẫy được giăng ra cho một đối thủ không nghi ngờ gì. Ở những giai đoạn luyện tập cao hơn, khả năng này cho phép các võ sư say rượu phân đoạn cơ thể họ một cách trơn tru thành những phần độc lập được nối kết với nhau bằng một sợi dây thăng bằng chung. Cuối cùng, điều này mở rộng đến chỗ có thể dồn toàn bộ lực hay trọng lượng của toàn thân vào một bộ phận duy nhất của cơ thể, chẳng hạn một bên vai hay cẳng tay, hoặc ở mức tốt nhất là chỉ vào một điểm nhỏ xíu duy nhất, chẳng hạn một đầu ngón tay. Phương pháp này cũng thường được thực hiện trong các môn võ nội gia, chỉ là kín đáo hơn nhiều và với nội lực lớn hơn nhiều.
Tám Tiên Tửu bao gồm một dải đầy đủ các kỹ thuật khí được phát triển trong cả các bài tập khí riêng biệt lẫn các chuyển động của bài quyền. Lúc ban đầu, một võ sư say rượu cố ý tìm cách hút năng lượng thần thánh của vũ trụ vào trong cơ thể từ các cõi trời. Trong phương pháp Đạo gia của Tám Tiên Tửu, chính cái khí vũ trụ này làm cho người tập "say", và nó chảy qua các chuyển động của họ. Ở đây không có cảm xúc thật sự nào dính líu, cũng chẳng có sự diễn xuất nào. Một phần của việc huấn luyện là hút năng lượng vũ trụ này vào mỗi một trong ba đan điền của cơ thể, và chuyển nó qua lại giữa ba đan điền ấy như một lực sống động, rồi tiếp theo từ mỗi đan điền đến bất cứ đâu trong cơ thể để tạo ra hiệu quả cụ thể.
Công phu khí của các võ sư say rượu làm cho thân thể họ trở nên rất nhẹ hoặc rất nặng, hoặc dần dần hoặc tức khắc. Năng lượng đi xuống được dùng để làm chìm khí của họ, điều này khiến cho đôi tay họ chìm xuống để đập xuyên qua đối thủ. Sự nặng nề cho phép các kỹ thuật phòng thủ dập tắt đòn tấn công của đối thủ và đặt một lực đáng kể ở cuối các cú đánh, sử dụng lực ly tâm. Trong những trường hợp này, sự nhẹ nhàng của cánh tay và cơ thể làm gia tăng tốc độ, trong khi việc bàn tay trở nên nặng nề vào chính khoảnh khắc cuối cùng khiến võ sư say rượu khuếch đại cú đánh. Sự kiểm soát năng lượng bên trong cơ thể cho phép người tập có thể di chuyển nhanh chóng và ấn tượng lên xuống, tiến lui, sang trái sang phải, cũng như thu nhỏ và co rụt lại thành một quả bóng, rồi lớn lên và phóng ra như một tia sét.
không dùng phản xạ để đáp trả một đòn tấn công. Tâm trí bạn luôn hiện diện và tĩnh lặng, và như đã chỉ ra, bạn chuyển động một cách tự phát để đáp ứng không chỉ với các năng lượng của chính mình và của đối thủ, mà cả với những năng lượng môi trường xung quanh bạn. Hầu hết các môn võ chỉ nhấn mạnh việc có một nhận thức về năng lượng hay chuyển động thân thể của đối thủ.
Thứ hai, có những bài tập trong đó một người tấn công và một người phòng thủ, hoặc tự phát hoặc có quy tắc. Những môn phái bát quái nào sử dụng các bài song luyện chiến đấu đã được sắp xếp trước thì bị coi là ở bên ngoài cánh cổng của bát quái truyền thống. Những phương pháp biến hóa chân chính được học khi hai người tập luyện tự do, tùy ý tấn công lẫn nhau. Điều này có thể được thực hiện trong khi cả hai cùng Đi Vòng Tròn với nhau, hoặc tham gia vào một sự trao đổi tự phát hai người nào đó khác với một số lượng quy tắc tối thiểu (chẳng hạn, người tấn công có thể chỉ tấn công vào những bộ phận cụ thể của cơ thể theo bất kỳ cách nào, hoặc chỉ sử dụng một đòn đánh cụ thể).
Cách thứ ba để học cách biến đổi năng lượng và góc độ trong các ứng dụng võ thuật là thông qua Nhu Thủ (Rou Shou, xem trang 235), một phương pháp huấn luyện rất giống như Thôi Thủ trong thái cực quyền, ngoại trừ việc với Nhu Thủ, bạn được phép đánh, quăng, đá và áp dụng các đòn khóa khớp. Bạn đánh hay vỗ nhẹ trong giai đoạn đầu để không ai bị thương, nhưng đủ mạnh để cú đánh được cảm nhận. Nó không giống như trong karate hay Thiếu Lâm, nơi bạn kéo một đòn lại; trái lại, nó gần với việc tập đối kháng nhẹ trong quyền Anh hơn. Sau khi bạn đã học được khả năng hấp thu các đòn đánh đến mức bạn có thể dễ dàng chịu đựng những đòn mạnh, bạn bắt đầu đánh mạnh hơn, nặng hơn và chịu đòn mạnh hơn, nặng hơn.
Sự biến đổi năng lượng vô hình bắt nguồn từ tâm/ý của bạn là một thành phần then chốt của bát quái, cả với tư cách một môn võ thuật lẫn một môn nghệ thuật tinh thần. Nó đòi hỏi bạn phải biến đổi bên trong cái hình (hsing), hay bài quyền, để ăn khớp với sự biến đổi của năng lượng của chính bạn hay của đối thủ bạn, mà không bị trói buộc bởi chuyển động hình thức bên ngoài của mình. Một động tác vật lý trong bát quái có thể được thực hiện theo vài trăm cách khác nhau, mỗi cách được xem là một sự biến hóa (bien hua). Mỗi sự biến hóa mô tả một cách khác nhau mà qua đó khí đi đến một nơi trong cơ thể bạn, hoặc khí của bạn đi đến một mức năng lượng cụ thể và biến thành một cái gì đó khác. Sự biến hóa dựa trên năng lượng không ngừng hợp tụ và chia tách. Sự dung hợp và phân hạch này giải phóng một năng lượng và những khả năng to lớn. Chính điểm mà ở đó sự dung hợp hay phân hạch tiềm năng này xảy ra sẽ quyết định hình thức mà năng lượng sẽ tiếp nhận tiếp theo. Mọi thứ trong bát quái luôn được nhắm tới việc cho phép sự giải phóng hay hấp thu năng lượng đột ngột ấy, và sử dụng những năng lượng đang biến đổi mãnh liệt này một cách thành quả.
Biến Đổi Các Góc Độ Tấn Công: Đường Tròn, Đường Xoắn Ốc, Tam Giác Và Hình Vuông
Như đã chỉ ra, những sự biến đổi được biểu đạt như biến hóa cũng có thể chỉ sự thay đổi về các góc độ tấn công vật lý, hay sự thay đổi trong năng lượng của bạn hoặc năng lượng của đối thủ bạn. Những môn võ thuật bán nội bán ngoại tinh vi nhất về mặt kỹ thuật ở Trung Quốc, cũng như ở Indonesia và Nhật Bản, đều sử dụng các kỹ thuật của đường tròn, đường xoắn ốc, tam giác và hình vuông. Tuy nhiên, thông thường những kỹ thuật này chỉ được thực hiện trong các chuyển động lớn, đòi hỏi vài phân hay vài bộ không gian mới thành công. Bát quái, trái lại, có khả năng sử dụng thành công những góc độ này một cách thường xuyên chỉ trong một phần nhỏ của một phân không gian, nhờ vào cách môn nghệ thuật này có thể gập lại và uốn nắn phần bên trong của cơ thể. Những kỹ thuật bát quái này có thể là một sự bổ sung cực kỳ hữu ích cho aikido, chẳng hạn.
Lưu Hùng Giới và tác giả bắt đầu bài tập song luyện Đi Vòng Tròn của bát quái.
Bát quái quan tâm đến tám góc độ tiếp cận cơ bản đối với một con người: trước và sau, trái và phải (cả bên trên lẫn bên dưới eo), và bốn hướng chéo. Trong bát quái, sự biến đổi các góc độ là một mối bận tâm lớn. Khi những người tập bát quái có kỹ năng tiếp xúc với đối thủ của họ, họ có thể thay đổi một góc độ một cách rất nhỏ, hoặc qua việc đi bộ, hoặc xoay thân rồng, hoặc gập các khớp cổ tay, khuỷu tay và vai, sao cho dường như họ đang di chuyển theo ba hướng cùng một lúc. Ở giữa
tất cả những sự thay đổi hướng ấy, đối thủ bị đánh mà không biết bằng cách nào hay từ đâu. Sự biến đổi góc độ nhanh chóng này làm cho một người tập bát quái biến mất và đột nhiên xuất hiện trở lại, khiến nhiều người ở Trung Quốc ví bát quái với những hành động của một bóng ma.
Bát quái chưởng, với tư cách một môn võ thuật, chia không gian nằm ngang thành tám góc hướng, có thể được hình dung theo các điểm la bàn mang tính cá nhân (không phải địa lý), trong đó hướng bắc luôn là hướng mà người đó đang đối diện. Tám điểm này gồm bốn hướng chính (bắc, nam, đông và tây) cùng các đường chéo của chúng (đông bắc, đông nam, tây nam và tây bắc). Việc đi bộ trong một vòng tròn cho phép khai thác các góc độ khác nhau này cho mục đích võ thuật. Thứ nhất, nó phát triển một nhận thức về các góc độ này. Thứ hai, bằng cách luôn luôn bắt rễ vững chắc trên một chân, bạn có thể, với sự huấn luyện đầy đủ, di chuyển với đầy đủ tốc độ và lực từ bất kỳ điểm la bàn nào sang bất kỳ một trong bảy hướng còn lại.
Những sự thay đổi hướng nhanh chóng của bát quái chưởng trở nên khả thi bởi vì mỗi bước chân mới lại mở ra tám góc độ khả dĩ khác cho việc di chuyển. Tuy khái niệm này có vẻ đơn giản, sự thực hành thì không. Sau khi một sự hiểu biết về các góc độ nằm ngang đạt được thông qua thực hành Đi Vòng Tròn, một cảm thức về phương thẳng đứng sẽ đạt được thông qua tám cái biến chưởng. Với những cái này, người tập sử dụng các chuyển động lên xuống theo phương thẳng đứng khi đi vòng tròn, và nhờ đó phát triển một sự thấu thị về chiều cao và chiều sâu. Bằng cách kết hợp những chiều kích này, các góc độ tấn công bên trong không gian vòng tròn nằm ngang của bát quái chưởng được mở rộng vô cùng lớn thành ba chiều của một hình cầu. Những võ sĩ bát quái, đặc biệt trong các thực hành tiền thiên, đạt được một nhận thức về không gian xung quanh trong một hình cầu 360 độ, cũng như có thể cảm nhận được khí ở bên trên mình và bên dưới mặt đất.
Đường Tròn Và Đường Xoắn Ốc
Mọi môn võ đều quan tâm ở một mức độ nào đó đến các góc độ tấn công. Tuy nhiên, hầu hết chỉ liên quan đến những góc độ nằm trên một hay hai mặt phẳng. Việc bát quái xem xét các góc độ này trong không gian ba chiều cho phép khai thác trọn vẹn năng lượng xoắn ốc được phát triển thông qua Đi Vòng Tròn. Trong bát quái chưởng, mỗi góc độ đều có một cung, dù nhỏ đến đâu. Việc sử dụng năng lượng xoắn ốc này cho phép bạn tấn công có lực từ những góc độ mà những người theo các môn võ khác thường không chuẩn bị để hóa giải, cũng không ngờ tới việc phải hóa giải.
Cả những kỹ thuật tấn công lẫn phòng thủ của bát quái đều có thể trông như di chuyển theo kiểu thẳng, cong, tròn, xoắn ốc hay uốn lượn như rắn. Tuy nhiên, cả các chuyển động của bát quái lẫn của thái cực quyền hầu như không bao giờ đi theo một đường thẳng. Chúng ít nhất cũng cong ở mức tối thiểu, ngay cả khi chúng trông có vẻ thẳng. Cái trông giống như một đòn tấn công theo đường thẳng thực ra sẽ được sinh ra bởi những đường xoắn ốc bên trong vô hình do khí của người đó và sự xoắn của các mô mềm — cơ bắp, dây chằng, gân và cân mạc. Ngoài ra, chuyển động vật lý xoắn ốc và/hoặc tròn có thể tạo ra những đường thẳng của năng lượng phóng chiếu. Một động tác chém hay
cắt có thể tương đối thẳng, cong, hay xoắn ốc, tùy thuộc vào những chuyển động vi tế của bạn. Một cú đánh chưởng hướng lên có thể trông giống (a) thẳng, (b) cong, (c) thẳng đi ra từ một vòng tròn nhỏ, (d) cong đi ra từ một vòng tròn nhỏ, hay (e) xoắn ốc. Những đòn tấn công bề ngoài theo đường thẳng cũng có thể bao gồm việc truyền lực theo hướng ngược lại với quỹ đạo của đòn tấn công. Các đường tròn, đường xoắn ốc và đường thẳng có thể tương tác và kết hợp với nhau cả bên trong lẫn bên ngoài.
Tam Giác Và Hình Vuông
Khía cạnh quan trọng tiếp theo của chuyển động và chiến lược bát quái là việc sử dụng tam giác và hình vuông. Cũng theo cách mà các đường thẳng có thể tương tác và kết hợp với các đường tròn và đường xoắn ốc, thì mỗi thành phần đường thẳng của một tam giác hay một hình vuông cũng có thể có những phẩm chất tròn và xoắn ốc này. Tam giác được dùng chủ yếu để tam giác hóa lực từ hai bộ phận của cơ thể nhằm hội tụ vào một điểm duy nhất, hoặc để tạo ra một vectơ lực. Chẳng hạn, lực xuất phát từ điểm A và điểm B có thể kết hợp để đưa lực đến điểm C, hoặc có thể kết hợp để tạo ra một đường lực từ điểm C đến điểm D. Việc tam giác hóa này có thể mang một số hình thức; (a) lực của đối thủ bạn đánh vào cánh tay trái của bạn và được định tuyến lại theo kiểu tam giác ra khỏi cánh tay phải của bạn; (b) bạn tam giác hóa lực từ chân sau bên trái và bàn tay phải của mình, hoặc (c) bạn tam giác hóa lực từ chân trước bên phải và cánh tay dẫn trước bên phải hay bên trái của mình. Trong trường hợp này, các đòn tấn công và phòng thủ bằng tay và chân được thực hiện ở các góc độ dao động từ 30 đến 75 độ, trong đó góc 45 độ là phổ biến nhất và 30 hay 60 độ là phổ biến tiếp theo.
Hình vuông được sử dụng khi di chuyển theo kiểu ngoằn ngoèo, sang bên rồi tiến lên phía trước, rồi lại sang bên. Ở đây, bạn có thể vẫn duy trì tiếp xúc hoặc hoàn toàn tách rời khỏi đối thủ và di chuyển sang bên, nơi mà các đường lực của đối thủ không tác động đến sự tự do di chuyển của bạn hay dọn sẵn cho bạn một đòn phản công tức thì. Sau đó, từ khoảng không gian rõ ràng ấy, bạn có thể phản công. Các phương pháp tam giác thường nhắm tới việc cắt ngang đường lực của đối thủ, làm nó bất động, rồi phản công. Các phương pháp hình vuông thường nhắm tới việc tách rời khỏi các đường lực của đối thủ hay khỏi sự đe dọa tấn công, rồi phản công ở một góc 90 độ. Thông thường, người ta có thể liên tục chuyển qua lại giữa tam giác và hình vuông, thường là trong không gian chưa đầy một phần tư milimét,* sao cho những sự chuyển đổi của bạn hoàn toàn làm đối thủ bối rối. Sự chuyển đổi này được kết hợp với những cú xoay eo nhanh, những cái gập khớp, những cách xoay trở thân thể và bộ pháp tiến lui, cũng như những cú hạ thấp và nâng cao thân thể theo phương thẳng đứng một cách đột ngột. Xét đến điều này, sẽ dễ dàng hiểu được làm thế nào bát quái làm cho đối thủ kinh ngạc bởi tính bất khả đoán của nó cũng như bởi khả năng độc đáo phóng chiếu lực từ những góc độ bất ngờ, vốn là sở trường của nó.
*Sự nhạy bén khi chạm, việc được định trung tâm, khả năng dính bám vào các cánh tay của đối thủ, và sự chuyển eo nhanh chóng, lanh lẹ và chặt chẽ trở nên mang tính quyết định ở mức độ kỹ năng này.
Các Bài Tập Song Luyện
Cũng như thái cực quyền và hình ý quyền, bát quái phát triển các kỹ năng chiến đấu thông qua một trình tự có phương pháp gồm các bài tập đơn luyện và các bài tập với bạn tập. Như đã thảo luận trước đó, Đi Vòng Tròn trong khi thực hiện 16 bài tập năng lượng nội công cơ bản là bài tập quan trọng nhất trong bát quái để phát triển lực võ thuật. Khi được kết hợp với việc giữ các thế đứng, các bài tập đơn luyện và các biến chưởng, bát quái có thể được thể hiện trọn vẹn như một môn nghệ thuật vật lý, năng lượng và tinh thần. Tuy chỉ riêng những bài tập đơn luyện này thậm chí đã có thể dẫn đến một năng lực nào đó với tư cách một người chiến đấu, nhưng để phát triển bát quái trọn vẹn như một môn võ chiến đấu thì đòi hỏi những bài tập đơn này phải được bổ sung bằng những bài tập rất cụ thể với một bạn tập. Đơn giản là không có gì thay thế được cho việc làm việc với một người khác. Các kỹ thuật để làm việc các ứng dụng hai người bao gồm: (1) Nhu Thủ; (2) Đi Vòng Tròn với hai bàn chưởng dính vào nhau và tham gia vào cả những đòn tấn công và phòng thủ đã định sẵn lẫn tự phát; (3) các đòn tấn công và phòng thủ được thực hiện từ các khoảng cách gần, trung bình và xa (cả định sẵn lẫn tự phát); và (4) tập đối kháng tự do.
Nhu Thủ Hay "Tay Mềm"
Một trong những thực hành võ thuật quan trọng trong bát quái là Nhu Thủ (Rou Shou), nghĩa là "tay mềm." Nhu Thủ được các môn phái bát quái khác nhau sử dụng dưới những hình thức khác nhau. Những mục tiêu chính của việc thực hành Nhu Thủ là để:
1. Phát triển sự nhạy bén và sự sống động của cái chạm.
2. Vượt qua khuynh hướng trải nghiệm sự tê liệt hay sự hoảng loạn trong chiến đấu.
3. Phát triển (như trong Thôi Thủ của thái cực quyền) các khả năng (a) bắt rễ, (b) gập và xoắn eo cùng các khớp cánh tay, và (c) kích hoạt các lò xo trong đôi chân cho cả chuyển động theo phương thẳng đứng lẫn nằm ngang.
4. Cung cấp một cách an toàn và thiết thực để phát triển các kỹ thuật chiến đấu thực tế và các góc độ chiến đấu, ở mức chưa phải là chiến đấu thực sự.
Nhu Thủ có thể tỏ ra vô giá đối với những người tập thái cực quyền, vì nó hình thành một nhịp cầu tự nhiên giữa Thôi Thủ (vốn không đủ cho việc tự vệ thực tế) và tập đối kháng. Sự chuyển tiếp an toàn này đáng tiếc là thiếu vắng trong hầu hết các môn phái thái cực quyền hiện đại.
Theo truyền thống, Nhu Thủ rất được ưa chuộng tại các môn phái bát quái ở Thiên Tân, nhưng ít hơn tại các môn phái ở Bắc Kinh. Cũng như Thôi Thủ của thái cực quyền, Randori trong judo và aikido, Thính Kiều (Sticking Hands)* của Vĩnh Xuân và mọi hình thức vật lộn, Nhu Thủ được thực hiện với một bạn tập. Cũng như trường hợp của
*Những bài tập hai người nổi tiếng khác của võ thuật bao gồm: (1) Các bài tập nối tay của Penchat/Silat; (2) Kaki Te của Cương Nhu Karate (Goju Karate); và (3) các bài tập nối tay của hầu hết các hệ thống Công Phu tay ngắn và tay trung bình của Nam phái Trung Quốc và tay dài của Bắc phái. Sẽ bao gồm bất kỳ hệ thống nào trong đó, thông qua việc chạm vật lý vào các cánh tay, người ta có thể kiểm soát và đánh bại một đối thủ.
Thôi Thủ của thái cực quyền, Nhu Thủ phát triển khả năng bắt rễ của bạn khi bạn cố gắng phá vỡ sự thăng bằng của người kia. Tuy nhiên, Nhu Thủ khác với Thôi Thủ ở chỗ mục đích là đánh bạn tập của bạn, chứ không chỉ đẩy anh ta. Bạn có thể đẩy nếu muốn, nhưng đó không phải là mục tiêu chính. Trái lại, đẩy chỉ là một trong nhiều lựa chọn, bao gồm các đòn khóa khớp, các đòn đánh tay không, các đòn quăng, các đòn quét chân, và rốt cuộc là "điểm" trên cơ thể (tức là điểm huyệt [dian xue] hay dim mak). Nhu Thủ giống với Thính Kiều (Sticking Hands) của Vĩnh Xuân ở chỗ cả hai đều tìm cách đánh, nhưng ngoài điều đó ra, những khác biệt của chúng là đáng kể. Các góc độ của Vĩnh Xuân rất tuyến tính, trong khi Nhu Thủ thì tròn và có tính hình cầu. Ngoài ra, trong Nhu Thủ, hai bàn tay nói chung là mở, trong khi ở Thính Kiều thì các cú đấm chiếm ưu thế.
Lý do thực hành này được gọi là "tay mềm" là vì bạn rất cố ý giữ cho cổ tay được thả lỏng và hai bàn tay mềm mại. Điều này cho phép bạn đánh bạn tập của mình có lực nhưng không gây thương tích. Hãy nhớ, sự an toàn của bạn tập phải là ưu tiên cao nhất của bạn.* Một bạn tập bị thương có thể sẽ không thể tiếp tục tập luyện với bạn. Hơn nữa, khi gây ra tổn hại, những ác ý không cần thiết sẽ nảy sinh. Trong xã hội hiện đại, điều quan trọng là tránh thương tích trong lúc tập luyện để có thể đi làm và kiếm sống vào ngày hôm sau.
Tiến Trình Huấn Luyện
Nhu Thủ chiếm vùng trung gian giữa bát quái như một bài tập đơn luyện và bát quái như một môn võ thuật. Nó tiến triển từ một sự tương tác rất có cấu trúc và mềm mại với bạn tập cho đến bạo lực tự do chảy trôi mà được kiểm soát (ở đó không có thương tích nào gây ra). Các bài tập Nhu Thủ tiến triển một cách có phương pháp, xếp lớp kỹ năng này lên kỹ năng khác. Đừng vội vã tiến lên mức độ tiếp theo. Cũng như xây một ngôi nhà, bạn phải phát triển nền móng của mình một cách cẩn thận, bằng không toàn bộ cấu trúc sẽ yếu ớt. Mặt khác, cũng đừng bị kẹt ở một mức độ luyện tập suốt nhiều năm ròng. Nhu Thủ, cũng như Thôi Thủ trong thái cực quyền, là một phương tiện để đạt một mục đích (khả năng tự vệ), chứ không phải là tự thân mục đích.
Khi mới bắt đầu Nhu Thủ, đừng di chuyển đôi bàn chân. Sử dụng một thế cung bộ, chuyển trọng lượng qua lại từ chân này sang chân kia. Giữ hai cánh tay trong một vòng tròn nằm ngang lớn ở phía trước cơ thể bạn. Rồi di chuyển hai cánh tay theo kiểu vòng tròn để có được một cảm thức về cơ thể bạn như một hình cầu. Làm mềm cơ thể bạn khi bạn chuyển trọng lượng qua lại. Xoắn eo và đôi chân khi bạn di chuyển. Bạn và bạn tập sau đó có thể ghép hai cổ tay lại với nhau trong khi cả hai tiếp tục di chuyển chúng trong những vòng tròn lớn. Thay phiên nhau để một trong hai người dẫn dắt người kia, trong khi người theo nhẹ nhàng dính bám vào cổ tay của người dẫn. Làm cho mọi chuyển động của bạn nhẹ nhàng và có tính vòng tròn. Tránh mọi sự đứt quãng trong chuyển động khi hai cánh tay của bạn dần dần bắt đầu xoắn ốc và quấn quanh cẳng tay của bạn tập ngày càng nhiều hơn theo thời gian, giống như một cái đinh xoắn đang được tháo ra.
*Những võ sĩ chuyên nghiệp, nhân viên an ninh, vệ sĩ, cảnh sát, dân giang hồ và nhân viên quân sự tác chiến thường luyện tập khắc nghiệt hơn, vì chiến đấu là một phần trong cách họ kiếm sống, và sự thiếu kỹ năng có thể gây tử vong.
Ảnh do Owen Muciair cung cấp.
Nhu Thủ
(1) Tác giả (bên phải) xoay eo và phòng thủ, phá vỡ sự thăng bằng của người tấn công và khiến anh ta lao về phía trước. Lưu ý rằng bàn tay dưới của tác giả được đặt sẵn để vỗ vào mạng sườn của người tấn công. Cú vỗ sẽ được sinh ra bởi một cú xoay eo.
(2) Khi người tấn công tìm cách thoát lui về phía sau, tác giả tách ra và kiểm soát cả hai cánh tay của anh ta, kéo căng một cánh tay lên trên và cánh tay kia ra phía ngoài.
(3) Tác giả xoay eo để phản công bằng một đòn đánh vào cổ, đòn này có thể tiếp diễn thành một cú quăng.
Nhu Thủ có một tính chất rất khác với Thôi Thủ. Nó có một phẩm chất dương rất xác định. Nó trông rắn chắc và thẳng thắn. Những kỹ năng được học trong thái cực quyền (phát kính [fa jin], bắt rễ, nhượng bộ, tính vòng tròn của chuyển động, sự gập các khớp và tính đàn hồi của cơ thể) tạo thành một nền tảng tuyệt vời cho Nhu Thủ. Ngược lại, Nhu Thủ sẽ cải thiện đáng kể thái cực quyền của một người và thêm vào đó những chiều kích mới thú vị và quý giá cho Thôi Thủ. Nhu Thủ cũng có thể có giá trị lớn đối với những người tập aikido muốn gia tăng khí và các kỹ năng aikido của họ theo những cách cả vi tế lẫn thô thiển. Nếu được thực hành đúng cách, những chuyển động như rắn của Nhu Thủ có thể đẹp đến mức không thể tin nổi khi nhìn.
Đừng cố gắng tấn công hay phòng thủ trong giai đoạn đầu của Nhu Thủ. Sau một thời gian dài luyện tập ở giai đoạn đầu, bạn có thể bắt đầu những đòn tấn công và phòng thủ rất nhẹ nhàng. Tiếp tục di chuyển hai cánh tay theo kiểu xoắn ốc, dính bám vào bạn tập ở cổ tay và chuyển trọng lượng qua lại. Hãy cảm nhận sự lên xuống như thủy triều của năng lượng bạn và năng lượng của bạn tập. Lực đang tới của bạn tập xuất phát từ đâu? Nó đang di chuyển như thế nào? Nó đang hướng về đâu? Bạn có thể định hướng lại nó, biến đổi nó, hấp thu nó hay di chuyển vòng quanh nó bằng cách nào? Ngược lại, bạn định hình lực của mình để tiếp xúc với bạn tập như thế nào? Bạn thay đổi nó ra sao để đáp ứng với sự phòng thủ của anh ta hay cô ta? Những góc độ nào có tác dụng và những góc độ nào không? Ở những góc độ nào thì lực thực dụng của bạn mạnh, yếu hay trung tính? Đòn tấn công/phòng thủ đến một cách yếu ớt hay với năng lượng mạnh mẽ? Trình tự nào của các hành động và phản ứng tạo ra một khe hở? Những người tập bát quái không cố đâm xuyên qua các cánh tay của đối thủ. Chìa khóa của một đòn tấn công thành công là tạo ra một khe hở rõ ràng, giống như một lỗ thủng trên chiếc áo cho phép một con muỗi chích. Trong trường hợp của bát quái, một khe hở cỡ con muỗi cho phép một con hổ cắn.
Đối với học viên trung cấp, điểm chính yếu là giữ cho các kỹ thuật được tròn trịa, sao cho khi bạn bị đánh, bạn có thể tiếp tục từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác mà không bị những sự ngưng nghỉ do quán tính, do sự tê liệt về cảm xúc hay do sự căng thẳng thể chất gây ra. Điều này phát triển khả năng giữ bình tĩnh và không bị tê liệt khi áp lực đang đè nặng. Vì rốt cuộc bạn phải chạm vào đối thủ thì một kỹ thuật võ thuật mới có tác dụng, nên Nhu Thủ bắt đầu quá trình biến đổi ngay tại điểm mà cơ thể bạn chạm vào đối thủ. Thông thường điểm đó ở đâu đó trên các cánh tay. Nhu Thủ sau đó hình thành nhịp cầu giữa việc duy trì khoảng cách của bạn và cú sốc của việc hai cánh tay chạm nhau và đánh đấm, quăng quật và khóa khớp. Nhu Thủ là một bài tập huấn luyện thiết thực ở chỗ nó cho phép bạn phát triển khả năng đánh bạn tập (hay đối thủ) với tốc độ và lực. Nó cũng có thể làm cho cơ thể bạn quen thuộc với cú sốc của việc bị đánh hay bị đỡ. Nếu sự quen thuộc này không được thu nhận, trong một cuộc chiến thật sự bạn có thể đông cứng lại như một con thỏ bị dính vào đèn pha ô tô vào ban đêm.
Việc thực hành Nhu Thủ phát triển khả năng di chuyển và rốt cuộc là khả năng chiến đấu của bạn. Khi bạn xoắn và xoay cơ thể, bạn cũng nên mở và đóng cột sống cùng các khớp và các khoang của cơ thể. Sự mở và đóng này, cũng như trong thái cực quyền và hình ý quyền, cho phép cơ thể bạn hoạt động như một cái lò xo khổng lồ
có thể hấp thu năng lượng và hoàn trả nó. Nó cũng cho phép bạn di chuyển lên xuống theo phương thẳng đứng một cách dễ dàng vô cùng, điều này mang tính quyết định cho tấn công và phòng thủ. Việc xoắn và xoay cánh tay, chân và thân thể là cần thiết để định hướng lại lực đang tới. Thông thường, hai bàn tay và cái eo của một người dường như đang đi theo những hướng khác nhau, điều này tạo ra những góc độ tấn công lừa dối mà hầu hết mọi người sẽ không cho là có thể.
Hãy mở rộng những giới hạn của việc thực hành Nhu Thủ của bạn theo thời gian. Hãy tập Nhu Thủ với càng nhiều bạn tập khác nhau càng tốt. Mỗi người sẽ có những đặc điểm thể chất, năng lượng và cảm xúc riêng biệt. Trong bất kỳ buổi tập nào, bạn và bạn tập có thể thỏa thuận với nhau về bất kỳ biến thể nào của Nhu Thủ mà hai người mong muốn. Chẳng hạn, bạn có thể thay đổi tốc độ của các chuyển động hay lực của các cú đánh. Hãy vui vẻ với nó! Chỉ cần chắc chắn rằng bất kỳ sự leo thang nào cũng xảy ra một cách chậm chạp, phù hợp với năng lực của bạn và của bạn tập. Con người có thể bị thương nặng trong những buổi tập đối kháng không được kiểm soát. Làm tổn thương cơ thể mình một cách vĩnh viễn để học cách tự vệ không phải là một chiến lược khôn ngoan cho lắm. Đó là lý do tại sao các bài tập hai người được phát minh ra. Nhu Thủ không cần phải "yếu ớt" và thiếu vắng lực lượng thể chất cùng những vết bầm trên bề mặt da, nhưng bạn muốn việc luyện tập của mình gia tăng khí, sức mạnh và sức khỏe cũng như các kỹ năng chiến đấu của mình, mà không làm tổn thương bản thân hay bạn tập.
Một sự leo thang lớn của Nhu Thủ là cho phép đôi bàn chân được di chuyển. Điều này đến lượt nó cho phép bạn thực hành bộ pháp của mình và phối hợp đôi chân, hai bàn tay và thân thể. Một sự leo thang khác là gia tăng lực của các cú đánh để mang lại cho bạn tập một cú đánh có thực chất hơn. Nếu các kỹ thuật của bạn bao gồm khả năng uốn cong tại cổ tay, điều đó không chỉ mang lại cho bạn sự dẻo dai cần thiết cho các cú đánh chưởng của bát quái, mà còn cho phép bạn đánh vào cơ thể bạn tập một cách chắc chắn, nhưng không gây thương tích. Cùng một cú đánh ấy có thể hoặc là gây khó chịu, hoặc rất đau đớn, hoặc có khả năng gây thương tích, hoặc thậm chí gây tử vong, tùy thuộc vào việc cổ tay và bàn chưởng của bạn mềm hay rắn. Mức "gây khó chịu" sẽ là đủ để bạn và bạn tập ghi nhận một điểm số. Bất cứ điều gì kém hơn thế này có thể khiến bạn không rõ về điều thực sự đã xảy ra, và bạn sẽ không học được cách hành động và phản ứng một cách thực tế. Khi bạn leo thang, những cảm xúc tiêu cực sẽ có khuynh hướng nảy sinh. Đây là nơi mà việc có một cái tâm thiền định tĩnh lặng sẽ được thử thách một cách thực tế. Học cách thả lỏng dưới một lực ngày càng tăng cũng sẽ tỏ ra vô giá trong việc học cách đối phó với sự căng thẳng do sự hung hăng và/hoặc những áp lực về thời gian gây ra.
Đừng thêm các cú đá vào Nhu Thủ của bạn cho đến những giai đoạn luyện tập cao cấp. Cái rễ của bạn phải được thiết lập rất vững vàng. Nếu nó không được kết nối tốt, bạn sẽ làm mất thăng bằng của chính mình cả về mặt thể chất lẫn năng lượng khi bạn đá. Thay vì thu được lợi bằng cách thực hiện một kỹ thuật đá mới, bạn sẽ bị mất đi, bởi vì bạn sẽ đang xây một ngôi nhà không có nền móng, điều này sẽ làm cho bạn tập dễ dàng quật ngã bạn.
Nhu Thủ phát triển khả năng biến đổi cực kỳ nhanh chóng của bạn để đáp ứng với các hành động của bạn tập. Khi bạn bắt đầu Nhu Thủ, nhận thức của bạn về khí của chính mình và sự nhạy cảm của bạn với năng lượng của bạn tập có thể
rất hạn chế. Hãy thả lỏng và đừng lo lắng. Hãy kiên nhẫn. Theo thời gian, nhận thức của bạn và khả năng cảm nhận các chuyển động của bạn tập sẽ được cải thiện. Thực hành Nhu Thủ sẽ phát triển khả năng di chuyển khí trong cơ thể bạn và sử dụng nó cho các mục đích võ thuật. Trong những giai đoạn đầu của Nhu Thủ, bạn tiếp xúc liên tục với bạn tập, điều này cho phép bạn cảm nhận một cách trực tiếp cơ thể và năng lượng của bạn tập. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hành Nhu Thủ, bạn có thể bắt đầu lùi ra xa khỏi bạn tập để bạn có thể đạt được một sự hiểu biết về việc cảm nhận năng lượng của bạn tập từ một khoảng cách, mà không cần chạm vào. Điều này bắt đầu nhịp cầu giữa Nhu Thủ và chiến đấu thực tế. Bạn sẽ thấy rằng khi sự nhạy cảm của bạn được cải thiện, khoảng cách giữa bạn và đối thủ chẳng tạo ra mấy khác biệt. Bạn mở rộng tâm trí của mình để cảm nhận cơ thể của người kia, và bạn di chuyển tương ứng. Ở giai đoạn này, điều quan trọng là bắt đầu thực hành huấn luyện tấn công và phòng thủ ở khoảng cách gần, trung bình và xa, nơi bạn không bắt đầu bằng việc chạm mà thay vào đó bắc cầu qua khoảng trống bằng những cách thiết thực được rút ra từ các chuyển động bài quyền khác nhau. Ở những mức độ cao hơn của việc huấn luyện bát quái, có những đòn tấn công và phòng thủ khá tinh vi, phát triển khả năng tiến vào và thoát ra khỏi các đòn tấn công và phòng thủ của đối thủ bằng cách xây dựng trên những kỹ năng và sự nhạy cảm đã thu nhận được thông qua Nhu Thủ.
CHÂN DUNG MỘT BẬC THẦY NỘI GIA
Lưu Hùng Giới — Những Tiềm Năng Của Môn Nghệ Thuật Được Hiện Thực Hóa
Người thầy cuối cùng của tôi ở Trung Quốc, Lưu Hùng Giới (Liu Hung Chieh), là một bậc thầy về bát quái, hình ý quyền và thái cực quyền, cũng như về thiền định Đạo gia. Ngoài ra, ông là một bậc thầy về thư pháp và một học giả cổ điển Trung Quốc, người cũng có một sự hiểu biết trọn vẹn về lý luận y học cổ truyền Trung Quốc. Lưu có thể, bằng cách để tâm trí của mình tiếp xúc với cơ thể tôi một cách phi vật lý, sử dụng năng lượng trong cơ thể tôi để thực sự di chuyển tôi quanh căn phòng khi tôi thực hành Đi Vòng Tròn. Ông có thể làm điều này khi ông đang tập với tôi, đang ngồi thiền, hoặc mạnh mẽ nhất là khi ông đang thực hành thư pháp, điều mà ông làm mỗi ngày. Khi ông viết, nó giống như những câu chuyện về các Đạo sĩ cổ điển, những người bằng cách viết các bùa chú (talisman) có thể khiến những sự kiện thần bí xảy ra.
Đôi khi, khi ông di chuyển tôi bằng khí của mình, tôi cảm thấy như thể một làn sương mù đang rơi xuống tôi từ bầu trời, nhưng kỳ lạ thay, một làn sương mù lại có cảm giác như một trọng lượng nặng nề. Sau khi tôi cảm thấy được bão hòa với trọng lượng của làn sương ấy, tôi sẽ được di chuyển quanh căn phòng. Những lúc khác, tôi cảm thấy như thể mình đang cố đi bộ xuyên qua một bức tường bùn rắn chắc. Thật không thể tin nổi. Khí của Lưu được hội tụ qua thư pháp như qua một thấu kính. Lưu kể về việc thầy của ông, Mã Thế Thanh (Ma Shr Ching), đã từng tập luyện với kiếm hay tay không trong khi Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan) ngồi thiền. Với đôi mắt nhắm lại, Đổng sẽ sửa lại Mã và bảo ông phải làm gì. Khi Lưu làm điều đó với tôi, tôi có thể cảm thấy năng lượng của ông sôi sục bên bên trong hệ thống của mình. Ông không nói gì cả. Năng lượng của ông chỉ đơn giản bắt đầu chảy qua. Phương pháp giảng dạy của ông bao gồm một số sự sửa chữa và chỉ dẫn về mặt thể chất, nhưng ông chủ yếu dựa vào những sự truyền khí như vậy. Vì tôi đã có rất nhiều nền tảng về chuyển động thể chất và kỹ thuật võ thuật, nên thay vào đó Lưu tập trung vào
việc chỉ cho tôi thấy nội năng của mình đáng lẽ phải di chuyển như thế nào, bằng cách sử dụng và truyền năng lượng của chính ông vào thân/tâm của tôi khi tôi làm việc đơn luyện. Ông cũng huấn luyện tôi cả trong những sự trao đổi tay không của kỹ thuật chiến đấu lẫn các phương pháp chữa bệnh của liệu pháp khí công bát quái và tui na (thôi nã), một loại làm việc trên cơ thể (xem trang 282).
Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin), Hồng Nghĩa Hường (Hung I Hsiang) và Lưu Hùng Giới đều có một sức mạnh không thể tin nổi. Tất cả họ đều có khả năng phóng xuất năng lượng (phát kính, fa jin), trong đó họ có thể một cách không gắng sức và không gây đau đớn bứng rễ và phóng những người khỏe nhất bay đi nhiều bộ theo bất kỳ hướng nào họ chọn. Họ cũng có khả năng chạm vào bạn mà không có lực rõ rệt nào và phóng chiếu năng lượng của họ vào bên trong cơ thể để gây thương tích hay đau đớn nếu cần thiết. Lưu cũng có thêm khả năng chữa bệnh bằng cùng một cái chạm nhẹ của phát kính ấy.
Trong ba người, Lưu là người mạnh nhất. Sự thật này thật khó tin, vì Lưu nặng chưa tới 110 pound, trong khi Hồng ở khoảng 240 pound và Vương gần 300 pound.
Vào một trong những ngày đầu tiên của tôi với Lưu, ông hỏi về nền tảng võ thuật của tôi. Lưu nói rằng tôi trông to lớn và khỏe mạnh, điều mà tôi đúng là như vậy, với cân nặng trên 200 pound. Như một bài kiểm tra nhỏ, ông đứng dậy và đặt bàn tay của mình vào thế Đơn Hoán Chưởng (Single Palm Change) rồi bảo tôi di chuyển nó. Tôi không thể. Tôi thậm chí không thể di chuyển nổi một ngón tay của ông. Người đàn ông này chưa bao giờ nặng quá 110 pound, thế mà tôi không thể di chuyển một ngón tay của ông bằng toàn bộ sức nặng của mình, bất chấp mọi kỹ năng và sức mạnh mà tôi đã phát triển qua hai mươi năm huấn luyện. Cũng như Vương, Lưu nói rằng có khí quan trọng hơn là có kích cỡ, tuổi trẻ hay sức mạnh.
Lưu xuất thân từ một gia đình giàu có. Ban đầu ông là một chàng trai trẻ rất siêng năng học hành, không phải dạng thể chất, người tập trung vào các nghiên cứu Nho giáo cổ điển. Thực tế, ông tốt nghiệp đại học ở Bắc Kinh, điều rất bất thường vào thời đại đó đối với một bậc thầy võ thuật lớn trong tương lai.* Yếu ớt khi còn là một thiếu niên, ông lập luận rằng nếu ông không củng cố cơ thể khi còn trẻ, ông có thể dễ dàng gặp những vấn đề sức khỏe trong đời sau. Không giống như nhiều võ sĩ nổi tiếng trong tương lai khác, ông không xuất thân từ một nền tảng thuộc tầng lớp lao động thành thị hay nông thôn, nơi sức mạnh thể chất được thu nhận qua lao động chân tay cường độ cao. Muốn được khỏe mạnh như hầu hết các nam thanh niên, và là một người hâm mộ các tiểu thuyết võ thuật thời bấy giờ, ông hỏi cha mẹ xem mình có thể học võ thuật được không.
*Vào những ngày cuối của triều Đại Thanh và những ngày đầu của Trung Hoa Dân Quốc, nhiều bậc thầy võ thuật nội gia được công chúng biết đến nhiều nhất là những người có sự giáo dục chính quy ở mức tối thiểu, thậm chí trong một số trường hợp là mù chữ.
Lưu xuất thân từ một gia đình đã sản sinh ra nhiều thế hệ thầy thuốc Trung Quốc. Với tư cách đó, cha mẹ ông có động cơ thúc đẩy Lưu củng cố cả khí lẫn huyết của mình và học hỏi cùng trải nghiệm trong chính cơ thể mình những tín điều của y học Trung Quốc. Họ cũng nghĩ rằng việc có thể tự bảo vệ mình trước bạo lực thể chất là hữu ích và đặc biệt cần thiết trong những thời kỳ bất ổn về chính trị. Vì vậy, khi Lưu mười một tuổi, gia đình ông đã ban cho ông những điều ông mong muốn. Họ đưa ông đi học hệ thống võ ngoại gia Thiếu Lâm Bắc phái Lục Hợp (Six Combination) từ một vị sư phụ có uy tín. Tình huống của Lưu khi đó giống với hầu hết người Mỹ hay người châu Âu đương thời thuộc tầng lớp trung lưu hay thượng lưu sống ở thành thị muốn học võ thuật. Tiếp nhận võ thuật với sự nhiệt tình lớn lao và sự luyện tập chuyên cần, Lưu tiến bộ rất nhanh chóng, đến mức vị thầy của ông cảm thấy ông đã
học những điều cơ bản một cách tốt đẹp. Thầy của ông cũng cảm thấy đó là trách nhiệm của mình để chuyển giao Lưu, người có tài năng, cho một bậc thầy ở mức độ cao hơn, người có thể giúp Lưu thực hiện được tiềm năng của mình tốt hơn.
Vị thầy Thiếu Lâm của Lưu đưa ông đến ngôi trường còn nguyên vẹn cuối cùng của truyền thống bát quái Bắc Kinh nguyên thủy. Đó là trường của Trình Đình Hoa (Cheng Ting Hua) tại Chang Wen Men Wai Hua Shi, nơi tổ chức cuộc tụ họp lớn nhất của những người tập bát quái ở Bắc Kinh. Lưu chính thức được nhận vào dòng truyền thừa bởi con trai của Trình Đình Hoa là Trình Hữu Long (You Lung).
Năm mười bốn tuổi, Lưu là người cuối cùng được nhận vào ngôi trường bát quái nguyên thủy. Người trẻ nhất tiếp theo là ba mươi tuổi. Tại đây, không chỉ những học trò tập phái Trình mà cả những người thuộc mọi phái bát quái đều đến và thực hành cùng nhau. Những học trò trẻ hơn được các học trò kỳ cựu dạy dỗ, những người này có thể đã lớn hơn họ từ ba mươi đến bốn mươi tuổi và đã tập bát quái hàng thập kỷ. Cùng với việc học Long phái (Dragon style) của Trình Đình Hoa, Lưu cũng học Liễu Diệp Chưởng phái (Willow Leaf Palm style) của Doãn Phúc (Yin Fu).
Mỗi tối, trong hai hay ba giờ đồng hồ tại một sảnh đường huấn luyện rộng lớn, các học trò kỳ cựu cá nhân sẽ nhận lấy một học trò trẻ hơn và làm việc với anh ta một cách căng thẳng trong các kỹ thuật đi bộ. Mỗi học trò được mong đợi sẽ tự mình thực hành những gì đã học vào tối hôm trước vào buổi sáng, và Lưu đã làm như vậy. Sau phần đơn luyện, Lưu sẽ thực hành các bài tập chiến đấu hai người, tay không và với binh khí (kiếm và thương), cùng tập đối kháng. Mỗi tối, sau khi bài tập về nhà của ông đã xong, Lưu sẽ đến trường. Thói quen này kéo dài hơn hai năm rưỡi cho đến khi ngôi trường bị giải tán. Lưu chính thức quỳ lạy (kowtow) trước Trình Hữu Long và Trình dạy ông. Trẻ hơn rất nhiều so với mọi người khác trong trường, Lưu trở thành linh vật của trường. Ông thu nhận được những sự thấu thị và các phương pháp thực hành từ nhiều vị kỳ cựu. Tại đây, ông được giới thiệu và bắt đầu thực hành hình ý quyền. Ngôi trường này là một điểm hội tụ đích thực cho tất cả những nhân vật bát quái hàng đầu của Bắc Kinh.
Sau khi ngôi trường giải tán, Lưu tiếp tục học từ những người ông đã gặp ở đó thêm một thập kỷ nữa. Cự Văn Bảo (Ju Wen Bao) ban đầu dạy Lưu các kỹ thuật thiền định bát quái. Tuy nhiên, người mà Lưu ghi công là đã dạy ông nhiều nhất về bát quái, cả về mặt công phu thiền định của nó lẫn sự tinh thông về khí, là Mã Quý (Ma Gui, tức Mã Thế Thanh). Một trong bốn học trò hàng đầu của Đổng Hải Xuyên, Mã không nhận đệ tử chính thức. Tuy nhiên, Mã quý mến Lưu và giới thiệu cho ông công phu năng lượng ở mức độ cao hơn mà Mã đã học từ Đổng. Đã rất già vào thời điểm đó và thích uống rượu, Mã nói rằng thật đáng tiếc là ông đã không gặp Lưu khi ông còn trẻ. Lưu luôn nói rằng tuy các chuyển động bát quái của ông về cơ bản là của phái Trình, nhưng những khía cạnh then chốt nhất của công phu nội khí của ông lại đến từ Mã Quý.
Lưu kể với tôi rằng trước năm 1928, đã có một cộng đồng võ thuật rất mạnh mẽ ở Bắc Kinh, gồm những người thực sự hiểu công phu (gung fu) và thực sự có khả năng sử dụng võ thuật. Ông nói rằng có nhiều người chỉ chơi đùa với nó và không "có" công phu, nhưng rằng có khoảng 200 người thực sự có nó. Đó là những con người của các huyền thoại, mỗi người trong họ có thể biểu hiện tiềm năng của hệ thống công phu của mình. Ngày nay, mức độ kỹ năng đó không còn có thể tìm thấy được tập trung ở một địa điểm địa lý nào nữa. Cũng theo cách của sự bùng nổ văn học và nghệ thuật ở Paris vào thập niên 1920, thời đại đó là một Thời Đại Hoàng Kim của võ thuật ở Bắc Kinh.
CHƯƠNG 6 BÁT QUÁI CHƯỞNG: NHỮNG SUY XÉT VÀ ỨNG DỤNG CHIẾN ĐẤU
HỒ SƠ CỦA MỘT VỊ MINH SƯ NỘI GIA — Lưu Hồng Khiết: Những Khả Năng Của Môn Phái Được Thực Hiện, tiếp theo
Năm 1928, Trung Quốc tổ chức giải đấu võ thuật quốc gia hiện đại đầu tiên. Lưu Hồng Khiết là đại diện của trường phái Bắc Kinh tại giải đấu này. Ngoại trừ những đòn đánh vào hạ bộ, mắt và cổ họng, mọi thứ đều được phép. Giải đấu đặc biệt khốc liệt và phải bị hủy bỏ sau một hoặc hai ngày. Người ta cho rằng sẽ có quá nhiều cái chết và tàn phế. Đã có quá nhiều bạo lực đến mức, giữa chừng giải đấu, những người thắng cuộc được quyết định bằng bỏ phiếu. Quyết định nghiêng về phái hình ý quyền. Mặc dù những người tập bát quái chưởng có khả năng gây tổn thương ít nhất cũng ngang bằng với những người hình ý quyền, họ lại không sẵn lòng tùy tiện sử dụng lựa chọn bạo lực tối đa chỉ để giành chiến thắng. Lưu đã thắng tất cả các trận đấu của mình, nhưng với một tình tiết thú vị. Cha mẹ của chàng trai trẻ là đối thủ cuối cùng của ông đã năn nỉ Lưu đừng làm hại hay tàn phế con trai họ.
Giải Võ Thuật Quốc Gia toàn diện (full-contact) đầu tiên của Trung Quốc được tổ chức tại Nam Kinh vào năm 1928.
HỒ SƠ CỦA MỘT VỊ MINH SƯ NỘI GIA — Lưu Hồng Khiết: Những Khả Năng Của Môn Phái Được Thực Hiện, tiếp theo
Đó là hành vi tiêu chuẩn trong hầu hết các trận đấu nhằm để không ai nghi ngờ ai mới là người thực sự thắng. Cha mẹ nói với Lưu rằng họ sẽ chịu khổ sở vô cùng nếu con trai họ không thể chăm sóc họ khi về già. Vào thời điểm đó, Lưu là một tín đồ nhiệt thành của truyền thống Nho giáo và nhận ra lời cầu xin của họ hẳn phải chân thành biết nhường nào, bởi chính việc hạ mình năn nỉ đã khiến cha mẹ đánh mất thể diện lớn lao. Như một hành động từ bi, Lưu đã tôn trọng lời thỉnh cầu của cha mẹ, và sau khi bộc lộ rõ sự ưu thế đủ để thắng trận, ông đã tránh xa chàng trai trẻ thay vì dấn sâu vào giao chiến với anh ta để tạo ra một kết thúc dứt khoát, như chiến lược ban đầu của ông. Cũng có mặt tại giải đấu là người bạn Vương Lai Thăng của Lưu, cũng như học trò của Ngô Kiện Tuyền là Ngô Đồ Nam, người lớn hơn Lưu ba hoặc bốn tuổi.
Mũi tên chỉ Lưu Hồng Khiết.
HỒ SƠ CỦA MỘT VỊ MINH SƯ NỘI GIA — Lưu Hồng Khiết: Những Khả Năng Của Môn Phái Được Thực Hiện, tiếp theo
Chính nhờ màn trình diễn của Lưu tại giải đấu này mà ông trở thành giáo sư trưởng của Học Viện Võ Thuật Trung Ương Chính Phủ tỉnh Hồ Nam tại Trường Sa từ năm 1932 đến 1934. Trong thời kỳ này, hai người con trai của Ngô Kiện Tuyền là Ngô Công Di và Ngô Công Tảo là những giáo sư cấp dưới dưới quyền Lưu. Ngô Kiện Tuyền và cha ông là Chuan You đã cùng sáng lập ra phái thái cực quyền Ngô, phong cách thái cực quyền phổ biến thứ hai tại Trung Quốc sau phong cách gốc Dương. Mặc dù cả hai không đủ sức thuyết phục Lưu về giá trị của thái cực quyền bằng sức mạnh thể chất, những cuộc thảo luận dài của họ về triết lý mềm mại và nhượng bộ của thái cực quyền đã khơi dậy hứng thú nơi Lưu. Sự kết nối này cuối cùng dẫn đến việc Lưu đến sống và học tập tại nhà của Ngô Kiện Tuyền ở Hồng Kông, và trở thành đệ tử của ông.
Sau đó Lưu trở nên quan tâm đến Phật giáo và cách sống tâm linh của nó sau khi gặp vị cao tăng Phật giáo phái Thiên Thai đã giác ngộ là Đàm Tú Pháp Sư, người đã mời ông đến tu viện của mình để học hỏi. Lưu từ chối đời sống tu viện. Vị sư phụ của ông không bắt Lưu phải trở thành nhà sư, mà chỉ đơn giản là đến học tại tu viện của ông. Một lần nữa, Lưu chứng tỏ mình đặc biệt có tài năng và Đàm Tú bắt đầu dạy ông một cách riêng tư. Sau một thời gian tương đối ngắn, Đàm Tú nhận ra rằng Lưu đã chứng ngộ Tánh Không, mục tiêu chính yếu của tu tập tâm linh Phật giáo Đại Thừa, thứ mà phương Tây thường gọi là giác ngộ. Sau khi chứng ngộ các tôn chỉ tâm linh của Phật giáo Thiên Thai từ Đàm Tú Pháp Sư, Lưu đã dành mười năm đơn độc trong các ngọn núi miền Tây Trung Quốc, tu tập với một số vị minh sư Đạo gia, từ đó ông học được các phương pháp luyện đan nội Đạo gia.
Sự tiếp xúc ban đầu của Lưu với Đạo giáo xảy ra khi ông khoảng mười tuổi. Vào dịp Tết Nguyên Đán, chùa Bạch Vân ở Bắc Kinh mở cửa cho công chúng. Đối với cậu bé, đó là một nơi thần diệu, và điều ám ảnh nhất trong tâm trí cậu là một nhóm các đạo sĩ ngồi bất động hai mươi bốn giờ mỗi ngày trong hơn một tuần.
Tại miền Tây Trung Quốc, Lưu học với từng vị đạo sĩ ẩn tu riêng lẻ, bỏ qua con đường tu viện mà ông đã từng trải nghiệm trong Phật giáo. Vốn không phải là người hay nói chuyện, Lưu khi giao tiếp với tôi tập trung vào các phương pháp tu tập nhiều hơn là vào những tình huống học tập của chính ông trong quá khứ. Chính với các đạo sĩ Đạo gia mà Lưu nói ông đã hoàn tất việc nghiên cứu về khí và chứng ngộ cội nguồn của Kinh Dịch cùng các biểu hiện của nó. Sau đó, Lưu chuyển công việc chính yếu của mình khỏi những nỗ lực và trách nhiệm của võ thuật sang Đạo giáo, bao gồm toàn bộ bát quái chưởng. Trong ba mươi bảy năm tiếp theo tại Bắc Kinh, Lưu làm việc chủ yếu vì lợi ích tâm linh của nhân loại, khi ông đã trở thành người đứng đầu một dòng truyền thừa Đạo gia phương Bắc.
Trong khi giảng dạy tôi, có một sự lên xuống, chảy xiết của các chủ đề mà qua đó Lưu truyền lại những lời dạy Đạo gia của ông. Ông nói thật may mắn vì cả hai chúng tôi chia sẻ những sở thích tương tự—khí công, võ thuật nội gia, thiền định và luyện đan nội. Ông đã muốn sử dụng các phương pháp văn chương và thư pháp, nhưng vì tiếng Hán cổ điển của tôi không đạt chuẩn, Lưu đã huấn luyện tôi bằng những truyền thụ khí trực tiếp qua trải nghiệm hơn là thông qua một truyền thống trí thức văn chương.
Vào ngày trước khi ông mất, và nhiều lần trước đó, Lưu nói với tôi rằng ông đã truyền tất cả kiến thức của mình vào tiềm thức của tôi và rằng sự thực hành sẽ khiến những hạt giống lớn lên thành những cái cây đầy đủ. Chỉ là một phàm nhân bình thường,
HỒ SƠ CỦA MỘT VỊ MINH SƯ NỘI GIA — Lưu Hồng Khiết: Những Khả Năng Của Môn Phái Được Thực Hiện, tiếp theo
những hạt giống đang lớn lên chậm chạp trong tôi, và yet Lưu vẫn còn là một nguồn cảm hứng vô tận về những khả năng của tinh thần.
Vào ngày cuối cùng ông còn sống, Lưu đã dạy tôi những khía cạnh nội tại của thế chưởng bát quái cuối cùng, cũng như phần cuối cùng của công việc biến hóa năng lượng thái cực quyền phái Ngô. Đó là công việc năng lượng mãnh liệt nhất mà tôi từng trải qua. Khi tôi nói điều này với Lưu, ông bảo rằng nó còn khó khăn hơn gấp bội với ông. Ông đã dành nhiều thời gian ngày hôm đó để chia sẻ kiến thức và dọn dẹp những đầu mối lỏng lẻo với tôi. Ngày hôm sau Lưu qua đời chỉ một giờ trước buổi học thường lệ của chúng tôi. Ba ngày sau, thân thể ông vẫn mềm mại và dẻo dai, một dấu hiệu cho thấy một vị đạo sĩ đã viên tịch. Ông được hỏa táng. Một nỗi buồn sâu sắc bao trùm tôi trong một thời gian dài.
PHONG CÁCH GIẢNG DẠY CỦA LƯU
Lưu đã sử dụng tất cả các phương pháp giảng dạy của Vương, Hồng, Hoàng và Bạch Hoa, kết nối những sợi chỉ của lời dạy của họ thành một chỉnh thể mạch lạc. Sau đó ông tiến vào những lĩnh vực hoàn toàn mới. Trong võ thuật, ông chuộng những động tác lớn của Vương và Bạch Hoa vì chúng tốt hơn cho sức khỏe của thân thể và để phát triển mức độ sức mạnh thô tối đa. Rồi ông lấy tất cả các thành phần nội tại của những động tác nhỏ và kết hợp chúng ở bên trong thành những động tác lớn. Như vậy, khi Lưu thực hiện một cú đánh, ông sẽ thay đổi những áp lực nội tại của cú đánh (với cùng mức độ chính xác mà Hồng và Hoàng đạt được với những động tác nhỏ và những sự chuyển dịch cơ chế thân thể) mà không làm hình thức bên ngoài của mình thay đổi chút nào.
Lưu cũng có khả năng thấu hiểu và truyền đạt toàn bộ cái nhìn tổng thể liên kết của khí công. Trải nghiệm này đối với tôi khác với cái có được từ những thầy khác của tôi, những người là các bậc thầy trong những lĩnh vực cụ thể của khí công, nhưng lại không thể kết nối tất cả những sợi chỉ phân tán của toàn bộ tấm thảm khí công. Lưu cũng cực kỳ thành thạo trong việc giải thích cách những kỹ thuật võ thuật khác nhau, khi thực hiện riêng lẻ hoặc trong những tổ hợp khác nhau, ảnh hưởng đến khí của thân thể về mặt y học. Ông cũng biết những tổ hợp khí nào hòa hợp tốt, trung tính hoặc gây tác dụng xấu. Lưu cũng đi sâu vào chi tiết về cách những kỹ thuật võ thuật của bát quái chưởng, thái cực quyền, và ở mức độ thấp hơn là hình ý quyền, có thể được áp dụng trực tiếp trong thiền định Đạo gia để biến chúng thành những tu tập tâm linh chân chính.
NHỮNG LỜI DẠY CỦA LƯU VỀ ĐẠO ĐỨC
Lưu rất rõ ràng về bản chất tâm linh của đạo đức Đạo gia, thứ chia sẻ nhiều điểm chung với, nhưng thường cũng rất khác biệt so với, đạo đức võ thuật Trung Quốc thông thường hoặc đạo đức Do Thái–Cơ Đốc. Những giá trị đạo đức cơ bản này bao gồm một chỉ thị không được can thiệp hay thao túng khí tự nhiên hoặc tự do của một cá nhân khác hoặc một sự kiện tự phát nảy sinh trừ khi được yêu cầu cụ thể. Chủ nghĩa thực dụng và sự chính trực dựa trên sự nhận biết và sáng tỏ nội tại hơn là những hình thức bên ngoài cụ thể, quy tắc, hoặc lợi ích cá nhân áp đặt bởi xã hội. Bạn phải làm những gì bạn nói bạn sẽ làm, và chỉ nói những gì bạn thực sự có ý định và sẵn lòng làm. Quy tắc vàng là "hãy làm cho người khác những gì bạn muốn hoặc sẵn lòng để họ làm cho bạn" và "đừng làm cho người khác những gì bạn không muốn hoặc không sẵn lòng để họ làm cho bạn." Bạn phải cố gắng hết sức, trong phạm vi khả năng sáng tỏ và nhận biết của mình, để cân bằng và đưa đến hòa hợp bất cứ điều gì mà cuộc sống tự phát ném vào con đường của bạn.
...cần thiết trong... và lại một lần nữa... mang tầm quan trọng tối thượng... quả thực có thể là... môn võ thuật. Trong lúc tập đối luyện karate, một cú đá vòng cầu lùi... một cú đấm thẳng. Ở đây, tốc độ và thời điểm của cú đá được dùng để...
CHƯƠNG 7 TỐC ĐỘ: BẢN CHẤT CỦA TỐC ĐỘ TRONG MỌI PHONG CÁCH VÕ THUẬT
TỐC ĐỘ: 7
ĐẠT ĐƯỢC BỐN LOẠI TỐC ĐỘ CƠ BẢN
Trong cuộc chiến thịt gặp thịt của mọi môn võ thuật, tốc độ là một thành phần then chốt. Có bốn loại tốc độ chính trong võ thuật, mỗi loại với những sắc thái riêng biệt. Nếu hai đối thủ ngang tài ngang sức về mọi khía cạnh khác, người chiến thắng thường là người sở hữu một loại tốc độ mà đối phương thiếu. Các trường phái võ thuật khác nhau có xu hướng tập trung vào những loại tốc độ khác nhau, với nhiều phái phớt lờ những loại tốc độ quan trọng không nằm trong triết lý căn bản hay kho tàng kỹ thuật của hệ thống họ.
Thường thì tốc độ của loại này có thể trông giống với loại kia, nhưng trên thực tế hai thứ khác biệt căn bản. Bởi nhiều người tập nghĩ rằng tốc độ của họ nên chuyển giao qua mọi đường lối, họ cứ bối rối vì sao dường như họ không bao giờ đạt được tốc độ trong mọi đấu trường. Đôi khi chỉ bằng cách chú ý đến sự thật đơn giản rằng có những loại tốc độ khác nhau, các võ sĩ có thể phát triển có lợi các kỹ năng tốc độ của mình và từ đó trân trọng những gì trước đây họ đã chế giễu là "khác biệt."
Bốn loại tốc độ trong võ thuật hiện hữu cho mọi phong cách, dù là ngoại gia, ngoại–nội gia, hay thuần nội gia.
LOẠI I: TỐC ĐỘ TỪ ĐIỂM A ĐẾN ĐIỂM B
Loại này liên quan đến việc thân thể hoặc các bộ phận của nó có thể di chuyển từ điểm A đến B qua không gian không bị cản trở hoặc qua nước nhanh như thế nào, có thể đo bằng feet trên giây.
Tốc độ tay và cánh tay. Tốc độ tay và cánh tay then chốt đối với hầu hết các môn võ thuật. Nếu mục đích là đánh đối thủ, nhu cầu về tốc độ là hiển nhiên.
Những người đô vật cũng đòi hỏi tốc độ tay trong việc vươn ra tóm lấy đối thủ, đặc biệt ở những vùng nhạy cảm như bộ phận sinh dục, tai, tóc, hay cổ họng.
Sự chuyển động của một cánh tay. Dùng chính xác cùng một chuyển động cánh tay, bạn có thể đánh nhanh hơn hoặc chậm hơn tùy thuộc vào kiểu tư thế bàn tay bạn giả định. Hãy ghi nhớ rằng một nguyên lý thách thức của võ thuật là giữ cho đôi tay không quá mềm nhũn cũng không quá căng cứng dưới điều kiện chiến đấu. Có một số cách bạn có thể tạo hình bàn tay khi cánh tay di chuyển để tung ra một đòn. Bao gồm:
1. Nhiều loại nắm đấm—phẳng, thẳng đứng, đấm móc lên, cạnh bàn tay búa, cạnh ngón cái của nắm tay khép, và với các khớp đốt ngón tay nhô ra.
2. Quất bằng ngón tay, lòng bàn tay, mu bàn tay hoặc nắm tay mở.
3. Chém bằng các khớp đốt ngón, gót bàn tay, và cạnh bàn tay mở.
4. Đâm và cào bằng ngón tay.
5. Đánh tay mở—cạnh bàn tay, gót bàn tay, cổ tay, và trung tâm lòng bàn tay.
Di chuyển cánh tay nhanh chóng theo mọi hướng. Những cơ khác nhau có thể được sử dụng trong động tác cánh tay này mà không dùng trong động tác kia. Cùng những cơ đó có thể được sử dụng theo những trình tự khác nhau, mỗi cái được nhấn mạnh khác nhau, với những thay đổi thần kinh–cơ được hoàn tất khi chuyển từ động tác cánh tay này sang động tác cánh tay khác theo một hướng khác. Những động tác cánh tay cơ bản cần được huấn luyện riêng biệt để đạt tốc độ là: về phía trước, về phía sau, ngang, cùng bên của thân thể (cánh tay phải di chuyển ở bên phải thân thể) và cắt ngang thân thể. Về phía sau, ngang, và cắt ngang thân thể là những cái khó nhất. Về mục đích võ thuật, nói chung dễ di chuyển cánh tay về phía trước hơn là về phía sau với tốc độ.
Tốc độ của những tư thế tay khác nhau. Có một số yếu tố cũng đúng khi tay chạm nhau, giải thích cho sự chênh lệch tốc độ giữa các tư thế tay khác nhau. Đó là:
1. Tư thế tay và mô mềm. Trong những trình tự khác nhau, các tư thế tay khác nhau huy động một số mô mềm giống nhau hoặc khác nhau; tức là, các cơ, dây chằng, và gân ở bàn tay bạn. Bàn tay bạn có thể tự tạo hình nhanh hơn hoặc chậm hơn, tùy theo trình tự cụ thể của các mô mềm được kích hoạt. Sự khác biệt này xảy ra vì một số mô mềm có thể kém phát triển, thiếu trương lực, quá căng, hoặc có các sợi quá lỏng lẻo hoặc bị rút ngắn. Càng nhiều sức căng trong bàn tay, cánh tay và bàn tay sẽ di chuyển cùng nhau càng chậm khi bạn muốn thực hiện một kỹ thuật nhanh.
2. Mối liên hệ giữa các mô mềm. Khi bạn tung ra một cú đánh tay, mô mềm được hình thành bởi tư thế tay của bạn tác động đến các mô mềm khác chạy dọc lên cánh tay đến vai bạn và, tùy thuộc vào bạn lỏng hay chặt, đến ngực, lưng, và eo, thậm chí xuống đến bàn chân. Một số cơ ở cánh tay và nơi khác có thể được duỗi ra nhiều hơn (lỏng) hoặc ít hơn (chặt). Do đó, một số di chuyển nhanh hơn hoặc chậm hơn những phần khác. Một số mô mềm này thậm chí có thể bị hạn chế. Nếu bạn dùng một tư thế tay cụ thể mà tác động đến các mô mềm hoạt động kém ở cao hơn trên cánh tay hoặc thân thể, bàn tay bạn sẽ di chuyển chậm hơn so với bình thường.
Ví dụ, giả sử bạn thực hiện ba cú đánh tay khác nhau (nắm đấm, lòng bàn tay mở, và cạnh bàn tay) ở tốc độ tối đa, dùng cùng một động tác duỗi thẳng cánh tay. Kết quả: nắm đấm thẳng đứng rất nhanh, lòng bàn tay thẳng đứng khá nhanh, và lòng bàn tay ngang chậm hơn. Tại sao? Cú đấm nắm đấm thẳng đứng sử dụng những đường cơ phổ biến mà ở hầu hết mọi người thường khá thông thoáng và không bị cản trở. Cú đánh lòng bàn tay thẳng đứng tự nhiên kéo vào các cơ ở đỉnh và bên trong vai, vốn tự nhiên chặt hơn ở hầu hết chúng ta, trừ khi chúng ta đã cụ thể duỗi hoặc tập luyện chúng. Cú đánh lòng bàn tay ngang không chỉ dùng những cơ thường chặt ở đỉnh và bên trong vai, mà còn đòi hỏi các cơ lưng rộng (latissimus dorsi) phải được duỗi ra rất nhiều (bình thường thì không), nếu không chúng sẽ kìm hãm tốc độ của chuyển động bàn tay. Để khắc phục những vấn đề tốc độ này, điều thiết yếu đối với những ai quan tâm đến hiệu suất cao, võ thuật sử dụng một loạt các kỹ thuật huấn luyện tinh vi.
Ở hầu hết chúng ta, những mô mềm này trở nên phát triển hoặc qua những chuyển động tự nhiên (có lẽ ít mãnh liệt hơn ở cư dân thành thị) hoặc trong những hoạt động thể chất cụ thể (thể thao, trèo cây, v.v.). Nếu bạn không năng động theo những cách mà bình thường sẽ phát triển các mô mềm liên quan đến cú đánh tay, thì bạn sẽ cần một số bài tập phục hồi hoặc một hoạt động nào đó làm thay đổi trình tự nội tại của các mô mềm được sử dụng. Nếu không, nhiều năm tập luyện sau đó, những cú đánh tay của bạn vẫn sẽ tương đối chậm. Việc lặp đi lặp lại chỉ tập kỹ thuật chậm hơn có thể không phải là câu trả lời để thu hẹp khoảng cách tốc độ giữa các kỹ thuật tay khác nhau.
3. Tình trạng mô liên kết. Mô liên kết bao bọc (màng cân/fascia) sẽ trói buộc các cơ và dây chằng vốn bình thường có thể di chuyển tự do, kìm hãm khả năng di chuyển trơn tru và nhanh chóng của chúng. Để sửa chữa tình trạng này, màng cân sẽ cần được duỗi ra và tách rời; nếu không làm vậy, màng cân chặt sẽ không nhả ra các cơ và dây chằng chưa tách rời bị trói buộc vào nó. Các phương pháp nới lỏng màng cân trong khi vận động là những đặc sản của các môn võ thuật nội gia của Trung Quốc. Đối với những người tham gia võ thuật ngoại gia, xoa bóp cơ–màng cân sâu, các kiểu duỗi giãn như yoga, và thái cực quyền có thể đặc biệt hữu ích.
4. Tín hiệu thần kinh. Về mặt thần kinh, có thể có những tín hiệu mạnh hơn đáng kể tới một số nhóm cơ được chọn hơn là tới những nhóm khác. Thân thể có nhiều đường năng lượng. Nếu những đường năng lượng này bị tắc nghẽn hoàn toàn hoặc một phần, chúng cản trở tốc độ mà tín hiệu di chuyển qua các dây thần kinh.
5. Tuần hoàn. Tuần hoàn kém cũng có thể cản trở mọi loại tốc độ thân thể, đặc biệt là tốc độ tay.
Tốc độ chân và bàn chân.
Đá. Những cú đá là thành phần cần thiết của võ thuật vì bạn không bao giờ biết tay mình có bị trói buộc hay bận rộn bằng cách khác hay không. Một số môn võ thuật chuyên về đá, đặc biệt là đá cao. Bạn có thể đạt tốc độ trong một số kiểu đá nhất định, nhưng không phải trong những kiểu khác. Ví dụ, bạn có thể có những cú đá cao, giữa, hoặc thấp nhanh nhẹn, những cú đá thực hiện khi người đá đang ngồi hoặc nằm trên mặt đất, ngồi trên ghế, hoặc nhảy trên không. Tốc độ của một cú đá có thể thay đổi tùy thuộc vào tư thế bạn bắt đầu. Bạn có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn với cùng một cú đá nếu bạn bắt đầu với bàn chân phẳng trong một thế đứng vững chãi hoặc trên các ngón chân. Tốc độ đá thường nhanh hơn khi trọng lượng cơ thể được cân bằng tốt; tuy nhiên, bạn có thể duy trì tốc độ nếu đang ở tư thế mất thăng bằng không? Yếu tố thăng bằng có thể quyết định sự sinh tồn của bạn trong chiến đấu thực sự.
Bước chân. Hãy tự kiểm tra xem bạn có mức độ tốc độ nào đó trong mọi kiểu bước chân hay không. Có phải có một số bước chân bạn có thể thực hiện nhanh nhẹn? Một số bạn rất chậm? Một số bạn không thể làm chút nào? Bàn chân bạn có thể di chuyển nhanh trên những quãng ngắn, nhưng không trên quãng dài hoặc ngược lại? Bạn rất giỏi giữ vững vị trí và chuyển dịch trọng lượng, nhưng lại chậm khi di chuyển bàn chân theo hầu hết mọi hướng? Bạn có thể chuyển trọng lượng nhanh chóng? Còn tốc độ bước chân tuyến tính về phía trước và phía sau và từ bên này sang bên kia thì sao? Hầu hết mọi người thường có thể bước về phía trước nhanh hơn bước lùi hoặc bước ngang. Rồi còn có những bước nửa, bước nhảy, bước trượt, và bước lùi—bạn nhanh hay chậm với những cái này? Còn vấn đề tốc độ khi bạn di chuyển về phía trước và phía sau ở những góc lệch khác nhau, như 30, 45, 60, hoặc 135 độ. Rồi còn có bước tròn, bao gồm bước đồng hồ cát và các bước ngón chân hướng vào và hướng ra dùng trong kỹ thuật kiếm, các môn võ thuật nội gia, aikido, ninjitsu, judo, và nhiều môn ném khác.
Hãy tự kiểm tra. Bạn có tốc độ đều nhau trong mọi kiểu bước chân hay bạn nhanh hơn ở một số kiểu hơn là những kiểu khác?
Xoay eo và thân thể. Sự xoay của thân thể và eo là một trong những máy phát sức mạnh cơ bản trong mọi phong cách võ thuật. Nhiều người có thể di chuyển tay hoặc chân nhanh nhưng không thể làm vậy khi xoay eo hoặc thân thể. Trong mọi môn võ thuật—ngoại gia, ngoại–nội gia, và thuần nội gia—lý tưởng là di chuyển cánh tay, bàn chân, và eo với tốc độ ngang nhau theo cách phối hợp. Những biến số tốc độ khác nhau đang hoạt động khi xoay eo và thân thể như sau (mỗi cái trong những này đòi hỏi làm chủ những loại tốc độ chân khác nhau, một số dễ hơn những cái khác):
1. Dùng một hoặc cả hai tay để đánh, tóm, kéo, hoặc dẫn dắt đối thủ.
2. Đá bằng chân trước hoặc chân sau.
3. Đá và đánh đồng thời hoặc nối tiếp.
4. Nâng hoặc hạ thân thể.
5. Bàn chân cố định và phẳng.
6. Bàn chân cố định với một hoặc cả hai gót chân nhấc lên.
7. Chân trước cố định với chân sau xoay trục, hoặc phẳng hoặc gót nhấc.
8. Cả hai bàn chân xoay trục và di chuyển đồng thời hoặc nối tiếp có và không có động tác tay.
Mỗi cái trong những này đòi hỏi làm chủ những loại tốc độ chân khác nhau, một số dễ hơn những cái khác.
LOẠI II: TỐC ĐỘ KHI CHẠM
Tốc độ của một vật di chuyển từ điểm A đến điểm B tương đối dễ đánh giá. Bạn có thể thấy nó và đo lường nó—nó hiển nhiên trong một bàn chân, bàn tay, hay eo đang di chuyển. Ngược lại, tốc độ liên quan đến lúc chạm thì tinh tế hơn nhiều. Nó không thể dễ dàng đo lường bằng bất kỳ cách khách quan hữu hình nào, nhưng có thể được cảm nhận chủ quan. Nó bao gồm sự nhạy cảm cũng như khả năng vận động thuần túy. Những yếu tố này hiện diện vì, khi chạm, bên cạnh áp lực và sức mạnh di chuyển giữa hai đối thủ, còn có thêm yếu tố một cá nhân cố gắng phản lại mọi nước đi của người kia, tất cả trong những phân đoạn của một giây.
Nhiều cao thủ vật, judo, và aikido có thể di chuyển cực nhanh lúc chạm, cả khi đứng thẳng lẫn trên mặt đất, nhưng lại tương đối chậm trong việc ném đấm và đá. Ngược lại, nhiều người đấm và đá nhanh lại khá chậm lúc chạm, đến nỗi khi họ áp sát và bị tóm, họ gặp rắc rối vì không thể di chuyển đủ nhanh. Hầu hết các môn võ thuật sử dụng rộng rãi tốc độ trong khi chạm có xu hướng tập trung gần như độc quyền vào hoặc đánh hoặc ném. Ví dụ, trong số những môn nổi tiếng ở phương Tây, Vịnh Xuân và hình ý quyền tập trung chủ yếu vào đánh với tối thiểu kỹ thuật ném. Judo, jujitsu, và aikido tập trung chủ yếu vào ném và khóa khớp. Một số vượt qua cả hai lĩnh vực, như ninjitsu, thái cực quyền, và bát quái chưởng.
Khi chúng ta xem hai võ sĩ điều động, chúng ta thường thấy sự tiếp xúc của cánh tay, chân, hông, và thậm chí lưng. Chúng ta có thể quan sát các chi chạm nhau nhanh chóng, dù không với cùng kịch tính như cánh tay, chân, hay hông di chuyển nhanh qua không khí không bị cản trở. Điều không hề hiển nhiên chút nào với người ngoài cuộc là tốc độ của các chi di chuyển phụ thuộc vào tốc độ của những sự chuyển dịch cơ bắp nhỏ bên trong thân thể, những sự chuyển dịch dường như vô hình, và yet thiết yếu để cung cấp tốc độ cho cánh tay, chân, và hông lúc chạm.
Có những loại cơ bản khác nhau của tốc độ lúc chạm, tất cả phải được tập riêng biệt và rộng rãi để mỗi cái mang lại kết quả. Nhanh nhẹn trong một phương thức không bảo đảm tốc độ sẽ chuyển sang phương thức khác. Các loại cơ bản của tốc độ lúc chạm là:
1. Tay và cánh tay với tay và cánh tay. Lúc chạm, tốc độ của lòng bàn tay, ngón tay, mu và cạnh bàn tay, và cổ tay rất khác với tốc độ ở cẳng tay, khuỷu tay, cánh tay trên, vai, và bả vai. Nhiều người tập có tốc độ ở tay nhưng không ở cánh tay, hoặc ngược lại—họ có cánh tay nhanh và tay chậm hơn. Một người thậm chí có thể có tốc độ ở một số bộ phận, nhưng không phải tất cả chúng đồng thời theo cách phối hợp. Tốc độ kết hợp của tất cả các phần làm việc cùng nhau một cách liền mạch, nhanh chóng, và nhạy cảm là một trong những dấu hiệu cho thấy một minh sư võ thuật cấp cao.
2. Chân với chân. Sự tiếp xúc này có thể thấy trong các đòn ném, quét chân, khóa khớp đầu gối, mắt cá, và thắt lưng dưới, và trong việc đánh vào các huyệt đạo bằng đầu gối của bạn trong khi chân đối thủ bị kẹt ở mắt cá bởi mắt cá của bạn. Khi hai chân chạm nhau, có hai loại tốc độ. Một là cần thiết để phản lại những nước đi hoặc phản nước đi của một người tấn công. Loại kia là tốc độ cần thiết để vượt qua thăng bằng, căn bản, và các sức mạnh khác nhau của hắn nhằm tạo thế cho một cú ném hoặc khóa chân, hoặc để đánh chân hắn bằng chân bạn, hoặc phá vỡ thăng bằng toàn thân hắn trong khi tay bạn đánh hoặc làm gì đó khác với hắn.
3. Hông với hông. Tốc độ xoay hông và sự nhạy cảm khi chạm rất quan trọng cả cho việc thực hiện các đòn ném, cũng như để phản lại ai đó đang cố ném bạn, và để làm mất thăng bằng đối thủ trước khi bạn đánh hoặc đá. Tốc độ lúc chạm này thiết yếu trong bất kỳ hình thức chiến đấu trên mặt đất nào, hoặc nơi lưng bạn bị ép vào tường.
Với tất cả những điều trên, tốc độ rất khác khi bàn chân bạn đang di chuyển thay vì đứng yên. Nói chung, dễ duy trì tốc độ chạm khi bàn chân đứng yên. Nhiều cá nhân thực hiện tốt khi phẳng bàn chân, nhưng trở nên vô hiệu khi họ bước. Cần một loại bình tĩnh và tự chủ hoàn toàn khác để duy trì tốc độ lúc chạm khi bạn đang di chuyển xung quanh.
Yếu tố tốc độ ở tay và chân của bạn tùy thuộc vào việc eo có di chuyển hay không. Thiếu thăng bằng ảnh hưởng tốc độ. Khó duy trì thăng bằng nội tại khi eo di chuyển hơn là khi nó đứng yên. Phần lớn, ban đầu dễ tạo ra tốc độ tay và chân hơn khi eo không di chuyển. Tuy nhiên, sử dụng phối hợp eo cho phép tốc độ tay và chân của bạn đạt mức tối đa. Điều này cũng đúng khi tay bạn đang di chuyển qua không khí và chưa tiếp xúc với đối thủ.
HÀNH TRÌNH CÁ NHÂN QUA CÁC MÔN VÕ THUẬT — Bắc Thiếu Lâm
Sự căng cứng liên tục ở cuối mỗi cú đấm và đá của môn karate tôi tập luyện thời trẻ đã để lại một ấn tượng nghiêm trọng lên thân thể, cảm xúc, và hệ thần kinh trung ương của tôi. Tôi đã tập karate mãnh liệt suốt những năm thiếu niên, nên thói quen căng cứng thân thể và cảm xúc để hoàn thành một mục tiêu đã được khoét sâu vào chính cách thể hiện của tôi qua một giai đoạn phát triển quan trọng. Nhìn lại, có vẻ thói quen căng cứng này đã tràn sang mọi khía cạnh của đời sống tôi cho đến tận những năm ba mươi, gây ra nhiều căng thẳng chung, và làm khó khăn việc hoàn toàn thư giãn trong việc tập luyện các môn nội gia. Chất xúc tác thay đổi thói quen này hóa ra là một phong cách Bắc Thiếu Lâm. Tôi học bài quyền Bắc Thiếu Lâm Lục Hiệp Quyền (Northern Shaolin Six Combination) từ Bạch Hoa ở Hồng Kông ngay trước khi quay lại học với Lưu Hồng Khiết ở Bắc Kinh.
Karate Shotokan (phổ biến nhất ở Nhật Bản và là phong cách tôi đã học lâu như vậy) và Bắc Thiếu Lâm song song với nhau về nhiều phương diện. Cả hai chủ yếu là những phong cách tầm trung và tầm xa nhấn mạnh sức mạnh và sự hung hãn. Cả hai dùng những thế đứng thấp, kỹ thuật tay duỗi dài, những sự xoay eo mạnh và nhanh, và cả đá thường lẫn đá nhảy, đặc biệt là đá trước cao, đá vòng cầu, đá lùi, và đá ngang. Cả hai tập bài quyền ở tốc độ chiến đấu nhanh. Tuy nhiên, có một khác biệt đáng chú ý giữa hai loại chiến đấu này: Trong Bắc Thiếu Lâm, các cơ không bao giờ căng cứng, chúng luôn giữ thư giãn, trong khi trong karate Shotokan các cơ luôn căng để lấy sức mạnh ở cuối kỹ thuật. Thế mà Bắc Thiếu Lâm có thể cung cấp sức đánh ngang bằng karate mà không cần căng cơ. Nó thực hiện kỳ công này bằng cách dùng hai thành phần của hệ thống nội công 16 phần (xem tr. 62). Một thành phần liên quan đến các kỹ thuật hô hấp và thành phần kia liên quan đến sự duỗi nhanh các mô mềm hướng ra ngoài dọc theo các cơ liên kết với các kinh mạch châm cứu dương và hướng vào trong thân thể dọc theo các cơ liên kết với các kinh mạch châm cứu âm. Sự duỗi ra ngoài tạo ra sức phóng để đấm xuyên qua đối thủ, và sự chuyển động mô mềm hướng vào trong tạo ra những lực kéo, chặn lực, đỡ, và những hành động chém. Sức mạnh của một cú đánh trong Bắc Thiếu Lâm đến từ tốc độ mà các mô mềm di chuyển, không phải bằng cách căng các cơ ở cuối.
Cái tư duy chung của việc thực hiện một bài quyền Bắc Thiếu Lâm và một bài quyền karate thì gần như đồng nhất: Sau sự phòng thủ ban đầu, bạn đấm, đá, đánh, và hạ gục đối thủ bằng một cú đánh sạch. Tuy nhiên, những nguyên lý căn bản nền tảng của hai hệ thống chiến đấu này thì trái ngược nhau. Trong Bắc Thiếu Lâm, ở cuối kỹ thuật của bạn, khi bạn hạ gục đối thủ, bạn phóng vô tận vào không gian, mà không khóa tâm trí vào một vị trí cụ thể trong không gian trước bạn. Tại điểm tập trung cú đánh của bạn, bạn không co các cơ lớn, bụng, mặt và hàm, như bạn làm trong karate, mà thay vào đó mở và thư giãn những cơ này trong một vụ nổ ngắn, tập trung, như một tia laser bắn. Trong karate, ngược lại, tại điểm bạn hạ gục ai đó, bạn tập trung sự chú ý vào thân thể đối thủ hoặc hình ảnh hóa của nó, căng thân thể, hét lên,* và trở nên hung dữ.
Bắc Thiếu Lâm, tiếp theo
Bởi vì những chuyển động của hai môn võ thuật này rất giống nhau, tôi, khi mới bắt đầu tập những bài quyền Bắc Thiếu Lâm, luôn căng cứng hữu hình hoặc tiềm ẩn ở cuối một cú đánh. Tuy nhiên, sau một thời gian, với những nhắc nhở tinh thần bên trong nhất quán để thư giãn và buông bỏ, tôi đã có thể tránh căng cứng và trở nên chỉ dùng được kỹ thuật kéo dài mô nội công. Ban đầu, tôi chỉ có thể làm điều này cho một hoặc hai động tác mỗi lần, nhưng sau vài tuần thì có thể làm nó suốt chiều dài của một bài quyền.
Thông qua việc thả lỏng căng thẳng khi thực hiện bài này qua bài khác, tốc độ của tôi bắt đầu tăng dần. Ý định chung để hoàn thành mục tiêu hạ gục đối thủ vẫn hiện diện, nhưng nó không đi kèm với những sự co rút tinh thần bên trong nhằm hủy diệt một kẻ thù được tập trung vào cụ thể, cũng không có cú sốc của cái tôi thường theo sau tâm thế đó như một cái bóng tối. Rồi, một lần trong ba hiệp, tốc độ của tôi bắt đầu tăng tốc mãnh liệt như thể tự nó. Mỗi lần tôi thực hiện một cú đánh với ý định trọn vẹn, tôi có thể cảm thấy một mức độ căng thẳng tiềm ẩn sâu từ những ngày karate biến mất. Cuối cùng, ở cuối bài quyền thứ ba, căng thẳng tiềm ẩn đó biến mất hoàn toàn, không bao giờ trở lại. Sự thay đổi này cho phép tôi tiến vào sâu thẳm các môn võ thuật nội gia không bị cản trở. Trở nên rõ ràng trong nội tạng với tôi rằng có nhiều sức mạnh, uy lực, và hiệu quả chiến đấu có thể có từ sự thư giãn cũng như tâm trí tuổi trẻ tôi nghĩ chỉ có thể bắt nguồn từ căng thẳng.
Tiếng hét, được biết trong tiếng Nhật là kiai (tiếng hét thần), có thể công khai và lớn tiếng hoặc tinh tế và hầu như không nghe thấy. Chức năng của nó là tập trung nội lực của người tập.
TỐC ĐỘ TRONG NHỮNG KHOẢNG TRỐNG GIỮA LÚC CHẠM VÀ LÚC RỜI XA
Trong bất kỳ tình huống chiến đấu nào, thường có một độ trễ thời gian trong những khoảng trống giữa quá trình giao tiếp và rời xa. Trong những khoảng trống như vậy, người tập đặc biệt dễ bị tổn thương và có thể không thể tiếp nối bất kỳ lợi thế nào có thể đã đạt được. Những người mới bắt đầu đặc biệt có xu hướng đông cứng hoặc chậm lại đáng kể trong những khoảng trống giữa đánh và tóm, chạm và đánh, v.v. Trong những khoảng thời gian này, thời gian thường được đo bằng những phân đoạn của một giây. Không dễ dàng để tự nhiên hồi phục và chuyển số trơn tru mà không mất tốc độ. Để phát triển tốc độ trong những khoảng trống này, bạn phải, khi tập luyện, chú ý có ý thức đến các cơ chế nội tại chi phối sự đông cứng hoặc cứng lại, và tìm ra cách thư giãn cả thân và tâm trong những sự chuyển tiếp khó khăn này. Sự căng cứng, sợ hãi, hoặc lo âu thường là nguồn gốc của sự tê liệt tạm thời.
Một lưu ý về tốc độ chạm và không chạm. Đối với mọi loại tốc độ lúc chạm, cần có sự kiểm soát vận động tinh. Khi nhịp tim tăng vọt (thường do sợ hãi hoặc thiếu sự bình tĩnh nội tại ở người tập), hai điều xảy ra. Thứ nhất, sự kiểm soát có ý thức các kỹ năng vận động tinh bắt đầu suy giảm, làm cho võ sĩ khó cảm nhận và phản ứng hơn. Thứ hai, tầm nhìn dần thu hẹp. Do đó, cần bảo đảm rằng những phản ứng tốc độ lúc chạm của bạn được tập đủ để chúng được khắc sâu mạnh mẽ vào tiềm thức sao cho chúng có thể bật ra một cách phản xạ mà không cần suy nghĩ có ý thức. Việc đạt được sự tĩnh lặng và bình tĩnh của tâm qua tu tập cũng quan trọng như việc làm chủ các kỹ thuật chiến đấu thực sự—để dưới áp lực khắc nghiệt, tâm bạn vẫn bình tĩnh và mạch không tăng vọt một cách báo động.
Cùng một lẽ, nếu bạn chủ yếu tập những môn võ chạm, việc học một số cú đánh tay và đá cực kỳ đơn giản đòi hỏi tối thiểu sự phối hợp vận động tinh, như một sự dự phòng (nghĩa là, nếu tự vệ thực dụng là một trong những mục tiêu của bạn), là vô cùng hữu ích.
LOẠI III: TỐC ĐỘ TRONG NHỮNG ĐIỀU KIỆN KHÁC NHAU
Theo dõi và nhịp điệu—Thay đổi hướng ở giữa một chuyển động. Đối với mọi loại kỹ thuật chạm và không chạm, tốc độ thể chất gắn liền với nhịp điệu. Nhịp điệu liên quan đến việc bảo thân thể khi nào di chuyển, và nhanh hay chậm thế nào. Bên cạnh việc di chuyển nhanh hơn đối thủ, bạn có thể thắng một trận đấu di chuyển cùng tốc độ với hoặc thậm chí chậm hơn đối thủ nếu bạn di chuyển vào đúng thời điểm và/hoặc ở góc độ chính xác. Nhịp điệu về căn bản là một mối liên kết giữa khả năng di chuyển nhanh của thân thể bạn và khả năng tinh thần nhận biết khi và how tốt nhất để di chuyển. Thành phần trung tâm thiết yếu—mối liên kết điều phối—là năng lực của hệ thần kinh kết nối hai cơ chế này. Sự trôi chảy của chuyển động của bạn, cũng như kỹ năng thay đổi kỹ thuật nhanh chóng của bạn, được quyết định bởi tốc độ mà tín hiệu di chuyển qua tất cả các dây thần kinh và kênh năng lượng của thân thể, bao gồm những cái ở đan điền thượng, da, tủy sống, và não.
Tăng thời gian phản ứng của hệ thần kinh đòi hỏi bạn phát triển khả năng nhịp điệu của mình và khắc chúng vào tâm tiềm thức. Lớp màng ngăn giữa tâm hữu thức và tiềm thức càng mỏng, càng dễ điều phối tốc độ với nhịp điệu. Điều này có nghĩa gì? Cảm giác chuyển động chậm hoặc méo mó thời gian (nơi mọi thứ dường như xảy ra trong chuyển động chậm siêu thực) mà nhiều người trải nghiệm khi họ có một trải nghiệm tốc độ đỉnh cao, nảy sinh một phần vì tiềm thức không sở hữu một cảm giác về thời gian tuyến tính. Khi mọi thứ dường như chậm lại với bạn, không nhất thiết là những sự kiện bên ngoài đã chậm lại; thay vào đó, có thể là hệ thần kinh trung ương của bạn đã tăng tốc đáng kể và đang kết nối với tâm tiềm thức ở một tốc độ nhanh hơn nhiều so với bạn quen thuộc. ("Nó đã kết thúc trước khi tôi kịp nhận ra mình đang làm gì.") Giả sử bạn đang di chuyển ở một tốc độ được tăng tốc và lần này lớp màn giữa tâm hữu thức và tiềm thức của bạn mỏng đi. Trải nghiệm này là một trạng thái rất thư giãn, với cảm giác có tất cả thời gian trên thế giới trong tầm sử dụng, không kèm theo bất kỳ cảm giác chuyển động chậm siêu thực nào. Tác động nhịp điệu này có thể có những hàm ý:
1. Tốc độ có một quỹ đạo cố định hoặc liên tục tăng tốc (như một viên đạn bắn từ súng) khác với tốc độ có thể thay đổi ở bất kỳ điểm nào giữa chuyển động (như một tên lửa tìm nhiệt zigzag để bám đuổi một máy bay lẩn tránh). Chuyển động quỹ đạo cố định chỉ đòi hỏi một tín hiệu rõ ràng từ hệ thần kinh trung ương; chuyển động liên tục thay đổi hướng đòi hỏi nhiều đầu ra từ hệ thần kinh trong một khoảng thời gian cô đặc. Tốc độ liên tục đổi hướng là một đặc sản của các võ sĩ nội gia cũng như những người đánh kiếm và dao dùng lưỡi hai cạnh.
2. Tốc độ khác nhau tùy thuộc vào việc bạn bắt đầu bất kỳ kỹ thuật võ thuật nào từ một khởi đầu bất động hay thực hiện nó khi thân thể bạn đã trong chuyển động. Các võ sĩ thường dùng đòn giả để đưa mình lên tốc độ trước khi tung ra một đòn tấn công thực sự. Ngược lại, nếu trong chiến đấu bạn có thể nhận ra cách đối thủ đang tăng tốc hệ thần kinh của họ, bạn có thể tìm ra cách ngắt quãng và làm rối loạn các mô thức của họ, từ đó chuyển tình thế về lợi thế chiến thuật của mình.
3. Tốc độ trong khoảng trống (bất kể kích thước của nó) từ khi kết thúc một kỹ thuật đến khi bắt đầu một kỹ thuật mới, trong cùng một phương thức chạm hoặc di chuyển qua không khí, trực tiếp phụ thuộc vào một cảm giác nhịp điệu.
4. Tốc độ trong việc đảo ngược hướng trái–phải của eo cũng là một thành phần then chốt của sự làm chủ võ thuật.
Kỹ thuật tuyến tính và tròn. Các kỹ thuật tròn vốn phức tạp hơn, và do đó khó học hơn nhiều so với các kỹ thuật tuyến tính. Nói chung, ban đầu dễ đạt được tốc độ đặc biệt trong các kỹ thuật tuyến tính, nơi tay, chân, hoặc thân thể bạn di chuyển theo một đường thẳng đơn giản từ điểm này sang điểm khác. Tuy nhiên, về lâu dài, các kỹ thuật tròn có lợi thế tốc độ có sẵn là giảm quán tính. Quán tính đặt một sức kéo lên tốc độ và có thể khiến hệ thần kinh chậm lại hoặc đông cứng. Các kỹ thuật tròn giảm quán tính nhiều hơn các kỹ thuật tuyến tính có thể vì, dùng tính tròn, dễ thư giãn cơ bắp và tận dụng khả năng tạo tốc độ của lực ly tâm.
LOẠI IV: TỐC ĐỘ LIÊN QUAN ĐẾN SỨC MẠNH
Tốc độ với sức mạnh tối thiểu, trung bình, và tối đa. Một trong những đặc điểm phân biệt của những võ sĩ hạng cao mọi dáng người từ gầy như dao cạo đến đẫy đà, là tốc độ, sự uyển chuyển, và sức mạnh được bộc lộ ngang nhau trong những chuyển động của họ. Mặc dù sự kết hợp này là lý tưởng, nó không dễ đạt được, mất nhiều năm, có lẽ hàng thập kỷ, của kỷ luật khắc nghiệt trước khi được hoàn thiện.
Tuy nhiên, không phải hiếm trong võ thuật để thấy những người tập có thể di chuyển đẹp đẽ hoặc với tốc độ kinh ngạc, nhưng lại không có sức mạnh. Điều gì giải thích cho điều này? Một lượng tốc độ nhất định của bạn được sử dụng sâu bên trong thân thể dưới da để kết nối thân thể sao cho bạn có thể phóng sức mạnh về phía người khác hoặc hấp thụ sức mạnh của người khác mà không bị ngã. Khi các phần của thân thể lỏng lẻo và không kết nối, chúng không thể củng cố lẫn nhau hay khuếch đại sức mạnh của nhau. Càng nhanh các kết nối được tạo ra, khả năng cuối cùng để vừa phóng vừa hấp thụ sức mạnh càng mạnh. Tốc độ nội tại cần thiết để gây ra sự gắn kết thân thể bên trong khác với tốc độ làm cho các phần thân thể di chuyển trong không gian. Tốc độ thực sự có nghĩa là có những kết nối nội tại vững chắc và có khả năng di chuyển thân thể nhanh chóng qua không gian cùng một lúc.
Một trong những niềm vui của việc có một thân thể vật lý là làm cho nó di chuyển trôi chảy và nhanh chóng, những phẩm chất của một số môn võ thuật và phong cách khiêu vũ. Tuy nhiên, nếu bạn có bất kỳ khát vọng nào hướng tới sự thành thạo trong nghệ thuật chiến đấu, cần thiết bạn nhận ra những mức độ tốc độ bạn có thể hiện thực đạt được với những mức độ sức mạnh khác nhau. Để đánh ai đó vào tinh hoàn hoặc mắt, hoặc để lánh khỏi đường của ai đó miễn là không có tiếp xúc thể chất, không đòi hỏi sức mạnh, chỉ cần tốc độ. Tốt hơn là học cách tạo ra tốc độ tối đa với sức mạnh tối thiểu.
Dĩ nhiên, cũng hữu ích khi học cách hiệu quả ở mức độ mà cả tốc độ và sức mạnh của bạn được đưa vào hoạt động ở đâu đó giữa tầm của chúng. Có lẽ bạn chỉ muốn khống chế ai đó trong một cuộc chạm trán không đe dọa tính mạng, và bạn không muốn làm hại họ hoặc tự làm mình bị thương.
Ở đây, sự né tránh có tầm quan trọng, tuy nhiên cũng có thể cần phải tung ra một cú đánh cảnh cáo xót xa để ngăn tình hình phát triển thành một tình huống mà người vi phạm phải bị thương mới dừng lại.
Cũng hữu ích khi nhận biết tốc độ nhanh nhất bạn có thể tạo ra trong khi phóng sức mạnh tối đa của mình, và tiến bộ dần dần để tăng tốc độ đó. Việc huấn luyện cho mức độ này là tinh vi nhất và đòi hỏi nỗ lực khắc nghiệt nhất.
Một lần nữa, tỷ lệ tốc độ–sức mạnh phải được tập với các kỹ thuật tay và chân của bạn. Tập với bàn chân cố định và eo xoay hoặc không, cũng như với bàn chân di chuyển có eo xoay hoặc không.
NGHỊCH LÝ NHANH–CHẬM CỦA CÁC MÔN VÕ THUẬT NỘI GIA
Các môn võ thuật nội gia, đặc biệt là thái cực quyền, thường được tập ở những tốc độ rất chậm. Suy diễn từ việc xem những chuyển động bài quyền chậm này, nhiều người đánh giá các môn võ thuật nội gia quá chậm để chiến đấu. Điều này thậm chí đã trở thành chủ đề cho những câu đùa, như một câu kể trong một câu lạc bộ hài kịch ở San Francisco. "Đã là buổi trưa và trên đường đi ăn trưa tôi thấy gã thái cực quyền này đang bị cướp. Hắn đấm đẹp đến mức tôi đứng lại xem. Nhưng tôi phải quay lại làm việc lúc một giờ, nên tôi không có cơ hội thấy cú đấm trúng đích."
Giống như võ thuật ngoại gia, các môn võ thuật nội gia có thể và quả thực chiến đấu và di chuyển ở tốc độ chớp nhoáng trong lúc chiến đấu, cả lúc chạm và từ điểm A đến B. Tuy nhiên, về mặt vận hành, chúng hoạt động khác với hầu hết võ thuật ngoại gia. Việc trình diễn những kỹ thuật tốc độ được dẫn dắt từ bên trong này cũng đòi hỏi trương lực cơ tốt nhưng quan trọng nhất là một hệ thần kinh trung ương hiệu quả và không bị tắc nghẽn.
Mỗi trong ba môn võ thuật nội gia cũng có những phương pháp huấn luyện chuyên biệt và kỹ thuật võ thuật để tạo ra tốc độ hữu hình bên ngoài của việc di chuyển trong không gian từ điểm A đến B. Trong thái cực quyền, những ví dụ rõ ràng nhất là cánh tay tơ tằm, đấm đa hướng, và đấm đường thẳng dùng những sự mở và đóng nhanh. Trong cánh tay tơ tằm, nắm đấm di chuyển rất nhanh, phủ cả hai bên thân thể đối thủ từ trên xuống dưới, thay đổi trôi chảy từ đấm thẳng, sang chém ngang đến móc, như đầu mút của một tấm lụa bay trong gió lớn. Điều này cho phép những cú đấm đổi hướng nhanh chóng (nhiều đến mười cú đấm tầm ngắn, trung, và dài trong ba giây), dùng mặt trước của nắm đấm và phần búa của bàn tay khép để đánh. Khi điều này xảy ra, cánh tay và khuỷu tay dường như không xương khi chúng gập và cong liền mạch như một tấm vải lăn sóng. Bát quái chưởng có một kỹ thuật tương tự, chỉ khác là ở đây cú đấm không mượt như tơ mà di chuyển theo những chuyển động xoắn ốc, cắt chéo thân thể đối thủ, đánh đều bằng mọi phần của nắm đấm từ mọi góc độ có thể tưởng tượng, cào, khoan, và chém cũng như tạo ra những va chạm trực tiếp. Trong hình ý quyền, khí mà bàn tay bộc phát thấp của hành hỏa biểu hiện (pao chuan) rõ ràng có thể được thực hiện như một cú đấm tốc độ, hoặc thích ứng với tốc độ ngoại gia trong bất kỳ cú đánh tay nào.
Trong một số loại công việc bài quyền bát quái chưởng nhất định, cũng như trong phái thái cực quyền Trần, tốc độ của cả chuyển động thân thể và những cú đánh tay hiển nhiên rõ ràng và không hề che giấu chút nào. Trong các môn nội gia, bất kỳ cú đấm nào từ điểm A đến B đều có thể hoạt động như một tên lửa tìm nhiệt bám đuổi và đánh trúng một mục tiêu đang di chuyển và lẩn tránh, hoặc nó có thể đi như một viên đạn trên một quỹ đạo cố định. Mặc dù, nói chung, tốc độ không chạm từ điểm A đến B hiện diện mãnh liệt trong các môn võ thuật nội gia, nó được nhấn mạnh ít hơn tốc độ lúc chạm.
Được nhấn mạnh hơn là nhịp điệu và tốc độ lúc chạm, hoặc thể chất hoặc tinh thần, đặc biệt là tốc độ để nhận ra và di chuyển đến những góc chiến đấu thuận lợi. Có hai khía cạnh cấu trúc quan trọng của các môn nội gia giải thích cho sự tập trung này: (1) những phương pháp luận đằng sau việc tạo ra sức mạnh và (2) một sự nhấn mạnh vào những khía cạnh phi vật chất của chiến đấu hơn là chỉ thuần vật chất.
Trong việc gõ trống, có một nhịp, rồi một khoảng không, rồi lại một nhịp khác. Trong phương pháp 1, về mặt tốc độ, các môn võ thuật nội gia làm việc nhiều hơn trên khoảng không giữa các nhịp, hơn là trên chính những nhịp, như phổ biến hơn trong các môn ngoại gia. Điều này là do nguyên lý võ thuật nội gia được tóm tắt súc tích trong các kinh điển thái cực quyền rằng, "Từ thế này sang thế khác, nội lực không đứt đoạn." Điều này có nghĩa là sức mạnh nội tại liên tục được duy trì mọi lúc. Nhìn từ một góc độ khác, không bao giờ trong bất kỳ phần nào của một chuyển động mà chi hoặc thân thể bạn chùng xuống và không có sức mạnh. Hãy giả định rằng đầu ra sức mạnh của bạn được coi tương đương với việc đánh vào trống (một nhịp). Trong các môn nội gia, sức mạnh liên tục được duy trì ngang nhau cả giữa các nhịp và trong khi đánh nhịp, không phân biệt. Sức mạnh tại điểm tiếp xúc được khuếch đại bằng cách tăng tốc độ chuyển động nội tại dưới da bạn (một quá trình vô hình với mắt thường), và không phải bằng cách căng cơ. Trong võ thuật ngoại gia, sức mạnh thường được phát huy trong khi đánh nhịp, không nhất thiết bằng cách tăng đà của hành động, mà bằng cách khởi động những sự co cơ có thể thực tế làm chậm vận tốc của hành động. Sau những sự co cơ này, có một khoảng trống tạm thời mà không có sức mạnh, cho phép thân thể thời gian để nạp lại trước khi sức mạnh lại được phát huy.
Nguyên lý chuyển tốc độ nội tại lên hoặc xuống để tăng hoặc giảm đầu ra sức mạnh tại bất kỳ điểm tiếp xúc nào được sử dụng cùng một cách cả lúc chạm hay trong không khí đi từ điểm A đến B. Trong một cú đấm, chẳng hạn, bàn tay của người tập nội gia có thể không di chuyển nhanh hơn theo cách A-đến-B bên ngoài nhưng, tùy thuộc vào việc tốc độ nội tại tăng hay giảm khi tiếp cận mục tiêu, sức mạnh mang vào một điểm tiếp xúc sẽ lớn hơn hoặc nhỏ hơn. Tốc độ nội tại tăng cường này có thể liên quan đến và/hoặc được tạo ra bởi bất kỳ một trong những chuyển động khí của hệ thống nội công 16 phần (xem tr. 62), bao gồm: tốc độ mở hoặc đóng các khớp hoặc đốt sống sống, sự giải phóng năng lượng từ đan điền hạ đến bàn tay, hoặc sự kéo dài các mô mềm ở bề mặt trong (âm) hoặc ngoài (dương) của thân thể bạn (xem tr. 127).
Đối với việc đánh, việc sử dụng chung tốc độ trong các môn ngoại gia rất khác, đặc biệt là karate (thứ cung cấp một hình ảnh mạnh mẽ về võ thuật ngoại gia cho công chúng). Nguyên lý chung về tốc độ và sức mạnh của ngoại gia tuân theo một chu trình ba phần lặp đi lặp lại: bùng nổ, thư giãn và nghỉ ngơi, và khởi động lại cho cuộc bùng nổ tiếp theo. Nói cách khác:
1. Bắn và bùng nổ sức mạnh của bạn, thường căng cơ của bạn,* điều không bao giờ được thực hiện tại bất kỳ điểm nào trong bất kỳ kỹ thuật nội gia nào.
2. Có một khoảng nghỉ ngắn nơi các cơ và dây thần kinh thư giãn và tái sinh. Khoảng trống này cho phép một không gian cần thiết để nạp lại, giống như một người nâng tạ nghỉ giữa các hiệp nâng tạ. Có ích khi nhớ rằng có những giới hạn vật lý về việc các cơ có thể liên tục căng trong bao lâu trước khi mệt mỏi xảy ra hoặc các dây thần kinh tín hiệu cơ căng không còn hoạt động ở hiệu suất tối đa.
3. Khởi động lại các cơ và dây thần kinh để đưa chúng trở lại trực tuyến khi bạn chuyển vào kỹ thuật tấn công hoặc phòng thủ tiếp theo của mình.
Tốc độ vật lý của việc di chuyển từ điểm A đến B, hoặc thậm chí lúc chạm có thể được định lượng ở một mức độ nào đó. Tốc độ lúc chạm và nhịp điệu tập trung vào những phẩm chất phi vật chất của tốc độ không dễ định lượng bên ngoài, mặc dù những phẩm chất này chắc chắn then chốt đối với hiệu quả của các ứng dụng chiến đấu võ thuật nội gia. Phương pháp này được dùng ngang nhau cho tấn công hoặc phòng thủ. Sự tập trung của nó là tốc độ nhận thức nội tại, có thể chuyển hóa thành hành động cho phép bạn dưới áp lực nhanh chóng chu trình qua việc đồng bộ với năng lượng của đối thủ, diễn giải nó, tìm ra một điểm yếu, tâm lý lách vào những khoảng trống vô thức hoặc đà vật lý không thể thay đổi của đối thủ và áp dụng một kỹ thuật thích hợp hoặc dùng một góc chiến đấu giành phần thắng (hoặc, ở mức tối thiểu, để lại cho bạn không bị thương và có thể tiếp tục tìm kiếm một cơ hội khác). Quá trình này có thể được hoàn thành thành công với bạn vật lý di chuyển hoặc nhanh hơn, cùng tốc độ với, hoặc chậm hơn đối thủ. Như vậy, tốc độ vật lý là một sản phẩm phụ, không phải mục tiêu chính. Trên thực tế, quá trình tương đương với việc tìm kiếm "Chén Thánh" trong võ thuật nội gia là khả năng di chuyển chậm hơn đối thủ và liên tục thắng.
Tốc độ chậm hơn mà giành phần thắng đòi hỏi ba loại tốc độ quy tụ đồng thời: (1) nhịp điệu, (2) những tín hiệu cần thiết để duy trì một mức độ sức mạnh liên tục (nếu không sức mạnh của đối thủ có thể sốc thân thể bạn và phá vỡ sự chú ý của bạn), và (3) khả năng giải phóng những bánh răng nội tại của thân thể, thứ mà nếu chúng đông cứng, cũng có thể tạo ra một khoảng trống tinh thần tạm thời phá vỡ sự kết nối giữa bạn và đối thủ.
*Xem Chương 1, tr. 5, "Thú, Nhân, và Thần: Ba Cách Tiếp Cận Võ Thuật."
Nghịch Lý Nhanh/Chậm Của Võ Thuật Nội Gia
Phương pháp này được nhắc đến trong các kinh điển thái cực quyền dưới hình thức một câu hỏi: "Làm sao có thể một ông già lại có thể đánh bại một nhóm những người đàn ông trẻ tuổi hơn?" Rõ ràng là, những người đàn ông lớn tuổi, ngay cả những người tài năng nhất, cũng không có khả năng thể chất để đạt được tốc độ của những người đàn ông trẻ. Hầu như theo định nghĩa, người già vận động với sự chậm chạp, và thế mà những "ông già" ấy — những bậc thầy võ thuật nội gia — nhờ lách vào những kẽ hở, đã chính đáng được biết đến rộng rãi vì khả năng đánh bại những người trẻ và nhanh hơn mình.
Những Đặc Điểm Chung
Cũng có những yếu tố chung được sử dụng trong tất cả các loại tốc độ đã đề cập trước đó trong võ thuật nội gia, dù có hay không có tiếp xúc. Tâm trí bạn cần di chuyển một cách hữu hình cả bên trong lẫn xuyên suốt cơ thể bạn, và phải có một cảm giác cụ thể về luồng không khí bao quanh bạn. Khi tâm trí bạn có khả năng phát triển những cảm giác chủ quan nhưng rất thực tế này, khí của bạn sẽ bắt đầu đi theo.
Khi tâm trí bạn đi xuyên qua chính cơ thể mình, hoặc vào cơ thể của một người đang tấn công để kết nối với năng lượng và ý định của hắn, nó phải thực hiện điều đó một cách trơn tru, và không có kẽ hở. Mục tiêu là trở nên hoàn toàn kết nối, dần dần làm giảm những nơi mà sự nhận biết của bạn bị đứt đoạn, cho đến khi không còn kẽ hở nào. Theo thời gian, kỹ năng này đòi hỏi sự thư giãn tột độ và sự phát triển một cảm giác rất trơn tru về dòng chảy thần kinh bên trong. Việc tạo ra một hệ thần kinh "vận hành trơn tru" là điều cần thiết để phát triển tốc độ trong võ thuật nội gia. Thành tựu này cũng dẫn đến một cơ thể nói chung thoải mái hơn, và là một thành phần quan trọng của các khía cạnh giải tỏa căng thẳng và phát triển sức bền của võ thuật nội gia.
Sau khi hệ thần kinh của bạn bắt đầu vận hành trơn tru mà không trải nghiệm những kẽ hở, chỉ bằng cách để tâm trí di chuyển qua cơ thể bạn nhanh hơn hoặc chậm hơn, bạn có thể tăng và giảm chuỗi liên tục tốc độ của các cử động hoặc ứng dụng chiến đấu một cách tức thời. Một nguyên lý chủ đạo là tâm trí di chuyển khí, và khí di chuyển cơ thể. Tâm trí và khí của bạn di chuyển càng nhanh bên trong thân/tâm một cách thư giãn, thì cơ thể bạn càng có thể di chuyển nhanh. Nơi nào khí bị tắc nghẽn hoặc sự di chuyển của nó bị làm chậm một cách có ý thức, thì bản thân cơ thể cũng chậm lại. Tâm trí và khí của bạn càng thoải mái bên trong cơ thể và có thể di chuyển bên trong một cách vô ngại, không tốn sức, thì cơ thể bạn càng có thể di chuyển bên ngoài trong không gian nhanh hơn, hoặc chuyển đổi từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác, cả hai đều không bị đông cứng hay phải nghỉ ngơi và nạp lại năng lượng.
Tâm trí bạn, qua trung gian của khí và dây thần kinh, trở nên giống như núm điều khiển của một công tắc chiết áp điện, nơi bạn có thể thay đổi các tín hiệu thần kinh gửi đến cơ bắp một cách không tốn sức. Xoay tâm trí theo một hướng và bạn có thể tức thời gia tốc hoặc vượt qua quán tính của cơ thể. Xoay tâm trí theo hướng khác và bạn có thể tức thời dừng lại hoặc kiểm soát tốc độ giảm tốc của mình.
Một mục tiêu chủ đạo, dù trong bài quyền hay trong ứng dụng chiến đấu, là để cơ thể di chuyển như một khối hoàn toàn kết nối và hợp nhất từ một trong hai trung tâm: đan điền hạ hoặc trung mạch. (Xem Phụ lục C, tr. 317.) Mục tiêu này, ngay cả đối với những người tài năng nhất, cũng cần một khoảng thời gian để đạt được.
Đặc biệt trong các ứng dụng chiến đấu, tốc độ và sức mạnh của các cử động dần dần bắt nguồn từ những phần khác nhau của cơ thể bạn, cho đến cuối cùng, sau một giai đoạn phát triển khắc nghiệt, sự kết nối, tốc độ và sức mạnh của cơ thể có thể thống nhất. Khi quan sát cẩn thận, có thể nhận ra điểm khởi nguồn của sức mạnh nằm ở đâu trong cơ thể. Nó đang hình thành từ vai, lưng, ngực và cánh tay, eo hay thân trên, chân hoặc bất kỳ sự hoán vị nào khác có thể chăng? Tương tự, người ta có thể thấy tốc độ bên trong cơ thể một người đang bắt nguồn từ đâu; ví dụ như cánh tay, hông, hoặc chân. Cũng vậy, dòng chảy tốc độ bên trong sự di chuyển của cơ thể một người có thể được phát hiện là nhanh hơn hoặc chậm hơn một cách không cân xứng ở một số phần cơ thể so với những phần khác.
Trong các ứng dụng chiến đấu, những người mới học võ thuật nội gia thường khởi nguồn tốc độ của họ từ một phần nào đó của cánh tay và ngực. Ví dụ, họ cảm nhận một bắp tay trên, vai, hoặc cơ ngực, và dù cơ đó di chuyển nhanh thế nào thì cũng định ra nhịp điệu và thôi thúc phần còn lại của cơ thể di chuyển, đi theo sự dẫn dắt của nó. Dù những người mới có thể lý tưởng muốn tốc độ của họ bắt nguồn từ eo và chân, thực tế là điểm khởi nguồn thực sự của tốc độ trong cơ thể thường nằm ở nơi khác. Một chiến lược tốt để khắc phục sự thiếu thống nhất của cơ thể là:
1. Quan sát cẩn thận và thực tế nơi tốc độ của bạn đang bắt nguồn trong cơ thể.
2. Cho phép bản thân một khoảng thời gian để trở nên thoải mái tại đó, cả về mặt tâm lý lẫn thần kinh, cho đến khi bạn có thể di chuyển mà không tự ý thức từ điểm khởi nguồn tốc độ này, dù nó nằm ở bàn tay, bàn chân, hông, thân mình, hay bất cứ nơi nào khác.
3. Trước tiên hãy tập trung vào các kỹ thuật đơn lẻ. Một cách có ý thức, hãy nỗ lực dần dần di chuyển điểm khởi nguồn của bạn sang những vùng hữu dụng hơn của cơ thể — vai thay vì khuỷu tay, hông thay vì ngực, v.v. Tại mỗi điểm mới hữu dụng hơn và mỗi bình nguyên huấn luyện, bạn phải luôn ổn định và trở nên thoải mái trước khi chuyển sang điểm tốt hơn tiếp theo. Nếu không, sau này bạn có thể gặp khó khăn trong việc leo lên đạt đến tiềm năng tốc độ tối đa của mình. Nếu bạn muốn tốc độ cánh tay hoặc bàn tay lớn hơn, hãy di chuyển sự chú ý của bạn từ vai, ví dụ, theo những giai đoạn tiến triển đi xuống xương bả vai và lưng trên (nhưng không phải ngực hay thượng huyệt), sau đó chuyển sang lưng dưới, bụng, đan điền hạ, hông, và mông, và từ đó đi xuống từng phần thấp hơn của chân đến bàn chân, cho đến cuối cùng cảm giác của bạn là tốc độ bàn tay đang bắt nguồn từ chính trái đất. Điều này sẽ gia tăng cả tốc độ lẫn sức mạnh. Nó mang lại cảm giác, khi bạn thực hiện một đòn đánh bằng tay, giống như đá ai đó bằng bàn tay của mình. Trước khi cử động bàn chân, hãy dần dần chuyển điểm khởi nguồn của cử động từ bàn chân đi lên cơ thể, đến đan điền hạ và cột sống để bước đi và các hành động không đá khác. Đối với các hành động đá hoặc quét, hãy tiếp tục sự tiến triển từ bàn chân đá đến đan điền và cột sống, đi thẳng xuống chân chống đỡ đến bàn chân và vào lòng đất. Đối với các cử động thân mình — trong ném ví dụ — điểm nút của cử động của bạn nên chạy từ cả chi trên và chi dưới của bạn dần dần đến hông, đan điền hạ và, cuối cùng, trung mạch của bạn.
4. Tái sử dụng tất cả các thủ tục hoàn toàn giống hệt vừa được trình bày, tiếp theo hãy chỉ tập trung vào những chuyển tiếp từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác. Tốc độ cần cho một kỹ thuật đơn lẻ dễ đạt được hơn so với tốc độ cần để chuyển tiếp giữa nhiều kỹ thuật liên tục. Điểm khởi nguồn của tốc độ chuyển tiếp có hiệu quả nhất khi đặt ở đan điền hạ và/hoặc trung mạch. Các phương pháp và huấn luyện được nhấn mạnh khác nhau tùy theo môn phái.
Các Chiến Lược Chuyên Biệt
Tất cả các võ thuật nội gia đều chia sẻ những phương pháp huấn luyện tốc độ ở một mức độ nào đó, dù mỗi môn võ có sở thích riêng. Chiến lược huấn luyện của hình ý quyền để gia tăng tốc độ đi theo hai con đường. Thứ nhất là tập trung tâm trí vào việc chiếm hữu mạnh mẽ không gian trước mặt bạn, dù giữ một thế tấn hoặc di chuyển tương đối chậm. Bạn thực sự nắm quyền sở hữu không gian và tất cả năng lượng trong đó. Cử động thể chất của bạn càng chậm, tâm trí bạn càng nhanh và càng trọn vẹn chiếm hữu không gian đó. Con đường thứ hai liên quan đến việc gia tăng tốc độ thần kinh thông qua thực hành đi những đường dài thực hiện Ngũ Hành (xem tr. 186). Ở đây, tâm trí chiếm hữu không gian xung quanh bạn càng nhanh và càng trọn vẹn, thì cơ thể càng nhanh, với huấn luyện đầy đủ, đi theo và di chuyển xuyên qua không gian đó.
Thái cực quyền sử dụng ba chiến lược chủ đạo để tạo ra tốc độ trong các ứng dụng chiến đấu. Chiến lược thứ nhất, mà hầu hết mọi người quen thuộc, là huấn luyện trong các bài quyền nhanh của thái cực quyền. Trong những bài quyền nhanh này, có một nhịp điệu lặp đi lặp lại liên tục giữa việc di chuyển trong chậm động và sau đó thực hiện những đợt bùng nổ cử động nhanh, bạo phát phát kình (fa jin), rồi lại trở về chậm động.
Chiến lược thứ hai là di chuyển trong cực kỳ chậm động, nơi bạn huấn luyện để đặt tâm trí vào cơ thể mình, cho đến khi bạn có thể kiểm soát tốc độ của mình bằng một công tắc chiết áp bên trong. Trong khi bình thường một bài quyền dài thái cực quyền thường mất khoảng hai mươi đến hai mươi lăm phút, thì với phương pháp này một bài quyền sẽ mất tối thiểu một giờ. Để làm được điều này, những chỉ dẫn cụ thể được đưa ra liên quan đến các quá trình tinh thần và thể chất chính xác về cách đấu nối và xây dựng công tắc chiết áp bên trong của bạn một cách hiệu quả nhất. Để có cảm giác về điều này, hãy thử thí nghiệm sau bằng cách sử dụng một loại thiết bị bấm giờ đáng tin cậy: Bắt đầu với hai tay để bên hông, hãy bấm giờ xem bạn mất bao lâu để đi với tốc độ tối đa từ trạng thái đứng yên hoàn toàn đến đánh vào một điểm ngang đầu trên một bức tường. Nghỉ một chút và thử lại, rồi nghỉ và thử lại. Với ba lần thử, bạn sẽ có thể có được cảm giác chính xác về tốc độ tay tối đa của mình. Khi bạn cảm thấy hoàn toàn nghỉ ngơi, hãy lặp lại hành động tương tự, chỉ lần này di chuyển trong cực kỳ chậm động, mất năm phút để hoàn thành cùng một hành động. Nghỉ, và được bấm giờ, lặp lại với tốc độ tối đa. Bạn có thể thấy tốc độ của mình đã tăng lên: Di chuyển trong cực kỳ chậm động là một công cụ rất mạnh mẽ, dù có vẻ nghịch lý, để gia tăng tốc độ.
Phương pháp thứ ba liên quan đến bản chất kỹ thuật của Lãng (Roll Back) (xem tr. 128). Khi tiếp xúc, Lãng không dựa vào tốc độ thể chất mà thay vào đó dựa vào khả năng định thời gian kéo đối phương đến nơi họ không muốn đi. Ở khoảnh khắc then chốt, khi họ mất trọng tâm, thường có một khoảng thời gian cực nhỏ khi đối phương không nhận thức được họ đang đi đâu. Bằng cách tận dụng điểm trống rỗng này trong tâm trí đối phương và sử dụng một sự thay đổi góc nhỏ, người tập thái cực quyền lách vào trước khi đối phương nhận ra điều gì đang xảy ra. Dù điều này dường như như thể người thái cực quyền đã di chuyển rất nhanh, nhưng thực tế không phải vậy. Đúng hơn, người thực hành chỉ đơn giản đã sử dụng sự tinh tế và chính xác để đạt hiệu quả lớn.
Bát quái chưởng sử dụng hầu hết, nếu không phải tất cả, các chiến lược của cả thái cực quyền và hình ý quyền. Chất liệu độc đáo của nó, không có mặt ở hai môn kia, đến từ Đi Bộ Vòng Tròn và từ việc liên tục phóng năng lượng từ bàn chân. Hành động này không chỉ tạo ra tốc độ bàn chân, mà còn giúp tốc độ tay được xây dựng bằng cách thay đổi sự điều chỉnh của hệ thần kinh trung ương và khí của một người. Sau khi những nút thắt trong dây thần kinh và kinh mạch năng lượng được thả lỏng, cánh tay bắt đầu trở nên hòa nhập về năng lượng vào thân mình, và đôi tay có thể bay lượn. Chiến lược thứ hai dựa vào tốc độ được sinh ra từ lực ly tâm của sự quay vòng và xoay eo. Phần thưởng trọn vẹn về mặt tốc độ cuối cùng phụ thuộc vào các kỹ thuật nội công để huy động năng lượng của trung mạch.
Hồ Sơ Các Bậc Thầy Nội Gia
Một Sự So Sánh Năm Bậc Thầy — Những Loại Tốc Độ Khác Nhau Của Họ
Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin)
Khi tôi biết ông, Vương Thụ Kim là một người đàn ông rất to lớn và đã qua tuổi 65. Ông có thể di chuyển khá nhanh qua những khoảng ngắn bốn hoặc năm feet. Điều kỳ lạ về tốc độ của ông là, xét đến tuổi tác và vóc người to lớn của ông, thật đáng kinh ngạc là ông vận động nhanh chút nào. Vương không nhanh như chớp, nhưng ông nhanh theo bất kỳ tiêu chuẩn nào trong giới võ thuật, và có thể được gọi là cực kỳ nhanh đối với một võ sĩ hạng nặng đã già.
Sức mạnh của ông thật đáng gờm. Vương có một lợi thế thêm là ông thực sự không quan tâm nếu bạn đánh trúng ông, vì ông có thể hấp thụ hầu như bất kỳ cú đánh nào một cách không tốn sức. Có khả năng chịu những cú đá đầy đủ vào đầu gối và ống chân, và có khả năng rút tinh hoàn vào trong cơ thể, ông thực sự không thể bị tổn thương. Gần như chỉ có thứ duy nhất bạn có thể đánh trúng mà có thể tạo ra khác biệt là đầu của ông. Tôi chưa bao giờ thử điều đó, bởi vì xét đến việc người Trung Quốc coi trọng "thể diện" thế nào, đánh vào đầu Vương có thể bị diễn giải như một sự thách đấu mà tôi không muốn dính vào. Do đó, tôi chưa bao giờ thử.
Thêm nữa, Vương có thể bảo vệ đầu mình với sự gần như hoàn hảo. Ông có thể để hở một lỗ hổng cho thân mình, nhưng sẽ không bao giờ để một kẽ hở cho phép đánh trúng đầu. Vương đủ nhanh để chặn hầu hết các đòn đánh thẳng vào ông, nhưng hầu hết thời gian ông không thèm làm, cũng giống như bạn có thể không thèm ngăn một con muỗi nhỏ đốt mình.
Dù tốc độ của ông trong Đẩy Tay (Push Hands) và Nhu Thủ (Rou Shou) không có gì đặc biệt, Vương có khả năng kỳ lạ để lọt ra sau lưng đối phương rất nhanh. Tốc độ ông sử dụng không phải là bước đi cực kỳ nhanh, mà đúng hơn là khả năng lách vào những kẽ hở trong sự nhận biết của đối phương. Do đó, khi chiến đấu với những người cực kỳ nhanh, ông sẽ đủ nhanh nhẹn (và đủ nhạy cảm với không gian mà tâm trí của võ sĩ đối phương cư ngụ) để lách qua những kẽ hở. Và ông có đủ sức mạnh đến nỗi chỉ cần lách vào một lần.
Hung I Hsiang
Hung I Hsiang có tốc độ chạm tay đáng kinh ngạc, cũng như sự nhạy cảm. Ông có thể di chuyển đôi tay lên xuống mặt trong và mặt ngoài cánh tay bạn trong khi mỗi một trong năm ngón tay của ông vận hành độc lập, di chuyển cánh tay và/hoặc thân mình bạn theo những hướng khác nhau. Những ngón tay của ông đổi hướng với tốc độ của một nghệ sĩ piano hòa nhạc. Các phần khác nhau của bàn tay ông, di chuyển như một con rắn cuộn lại nhanh chóng, có thể điều chỉnh áp lực lên cánh tay hoặc tay bạn, thay đổi các vector lực mười lần trong một giây.
Về mặt tốc độ xuyên không gian từ điểm A đến điểm B, Hung không đặc biệt nhanh. Tuy nhiên, tốc độ mà Hung có thể gập các khớp và bên trong bụng và chân một cách phối hợp khi tiếp xúc thật kinh ngạc. Hung cũng rất nhanh trong việc lách vào cử động của đối phương, đặc biệt về các góc chiến đấu và di chuyển thân mình sang bên. Kỹ năng này bù đắp hơn cả cho bất kỳ sự bất lực nào trong việc di chuyển cực kỳ nhanh qua không gian vật lý.
Hung luôn nhấn mạnh tốc độ cần thiết để làm cho các góc của bàn tay và eo phối hợp nhanh chóng với các góc của vòng tròn, xoắn ốc, tam giác, và hình vuông.
Bạch Hoa (Bai Hua)
Điểm chuyên môn của Bạch Hoa là những sự mở và đóng cực kỳ nhanh không thể tin nổi và tốc độ tuyến tính từ điểm A đến điểm B. Trên thực tế, ông là một võ sĩ hạng nặng người có thể di chuyển cực kỳ nhanh giữa các điểm. Trong bất kỳ loại hình thực hành Đẩy Tay hay ứng dụng chiến đấu có tiếp xúc nào, tốc độ của Bạch Hoa xuất phát từ khả năng trôi chảy thay đổi từ kỹ thuật này sang kỹ thuật khác.
Dù ông nhanh hơn Vương trong các bài tập tiếp xúc (vì trẻ hơn nhiều), rõ ràng ông không nhanh bằng một số bậc thầy khác. Trong các bài tập tiếp xúc, Bạch Hoa nhấn mạnh sức mạnh hơn tốc độ. Ông đặc biệt ưa chuộng tốc độ trong lúc mở và đóng cơ thể. Tuy nhiên, thay vì tập trung vào tốc độ để tới mục tiêu, ông nhấn mạnh tốc độ xuyên thủng nó một khi đã tới đó.
Bạch Hoa có sự kiểm soát khuỷu tay đặc biệt, và trong tất cả các bài tập có tiếp xúc và không tiếp xúc của ông, ông nhấn mạnh độ đàn hồi của khuỷu tay và việc gia tăng tốc độ đánh của chúng. Bạch Hoa đặc biệt nhanh khi sử dụng vũ khí, đặc biệt là thương và kiếm thẳng, thứ mà ông rõ ràng sử dụng về mặt thể chất nhanh hơn bất kỳ bậc thầy nào khác.
Hoàng Hi Nghĩa (Huang Hsi I)
Hoàng có chi rất dài, với đôi bàn tay khổng lồ có hình dạng có thể thay đổi với tốc độ chớp nhoáng. Trong các bài tập tiếp xúc, ông luôn nhấn mạnh khả năng thay đổi nhanh chóng giữa các hoán vị của bất kỳ kỹ thuật đơn lẻ nào. Dù ông có một kho tàng kỹ thuật rộng lớn, thay vì sử dụng một kỹ thuật khác mỗi khi đối phương đổi thế đối với ông, chính ông sẽ nhanh chóng đổi sang một hoán vị khác của kỹ thuật ông đang dùng, để không phá vỡ dòng chảy của mình.
Hoàng nhấn mạnh sức mạnh hơn tốc độ trong Nhu Thủ. Ông luôn luôn đánh bại đối phương ngay khoảnh khắc một góc chiến đấu tranh chấp nảy sinh. Ông có thể ngăn chặn sức mạnh của đối phương và sau đó đi vòng ngay quanh các khớp của hắn và đánh trúng hắn.
Hoàng có một loại tốc độ thú vị trong đấu tập. Dù kỹ thuật chính của ông là lách vào những kẽ hở của đối phương, ông cũng xuất sắc ngay khoảnh khắc ông giành được một góc chiến đấu thuận lợi, bước vào cực kỳ nhanh và hạ gục đối phương bằng một kỹ thuật hình ý quyền. Ông cũng thường xuyên thực hiện phẩm chất công tắc chiết áp của việc cực kỳ làm chậm hành động của mình giữa chuyển động, chờ đợi, và, khi đối phương cam kết vào cái bẫy ông đã giăng, tức thời vặn công tắc bên trong của mình lên mức tối đa để tấn công. Ông thực hiện kỳ công này ở giữa một cuộc phòng thủ hoặc tấn công. Đối với đối phương, hành động này dường như cực kỳ nhanh, trong khi thực tế Hoàng hoàn toàn không di chuyển thể chất nhanh chút nào.
Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh)
Lưu Hồng Khiết đã vượt qua tốc độ thể chất trong võ thuật. Ông không đặc biệt nhanh về thể chất trong những năm cuối đời khi tôi biết ông, thế mà ông đã tìm thấy "Chén Thánh" của tốc độ trong võ thuật nội gia. Ông có thể di chuyển ở bất kỳ tốc độ nào, dù chậm đến đâu, và thế mà luôn đánh bại đối phương. Ông hoàn thành kỳ công này thông qua sự làm chủ hoàn toàn năng lượng, cả của chính mình và của đối phương, về mặt tốc độ, sự tinh tế, hướng đi, và sức mạnh.
Không có kẽ hở nào trong sự phòng thủ của Lưu, và dường như ông biết bạn sẽ làm gì trước khi bạn làm. Trong các bài tập không tiếp xúc, ông là một thành viên của trường phái tối giản về cử động, đôi khi không di chuyển đôi tay quá hai hoặc ba inch bất kể loại tấn công nào tôi đưa ra nhắm vào ông. Nói chung, sức mạnh của ông lớn đến mức một khi ông chạm vào tay tôi thì không có cách nào lay chuyển ông nếu ông không muốn di chuyển. Càng tôi cố gắng, các lỗ hổng trong phòng thủ của tôi càng lớn, và, tùy ý, ông có thể di chuyển xuyên qua và đánh trúng tôi hoặc áp dụng một số kỹ thuật võ thuật nội gia khác.
Khi tiếp xúc, bất cứ khi nào tôi cố gắng áp dụng sức mạnh chống lại ông, đơn giản là không có gì để áp dụng sức mạnh lên, và tôi thấy mình hơi lệch góc bất kể tôi điều chỉnh lại góc nhanh đến đâu. Dĩ nhiên, ông có thể hoặc áp dụng phát kình tức thời, bất kể tư thế nào, hoặc di chuyển cánh tay tôi ra khỏi đường, dễ dàng chạm vào tôi nhẹ nhàng sau khi mở ra một xa lộ không trở ngại đến một mục tiêu nào đó trên cơ thể tôi. Lưu không nhấn mạnh tốc độ mà đúng hơn là khả năng lách vào bên trong cử động của một người, hoặc, ở bất kỳ góc chiến đấu tranh chấp nào, để thi triển một lực nhẹ, không thể cưỡng lại, luôn đặt đối phương vào thế bất lợi. Lưu là người duy nhất tôi từng gặp có thể di chuyển chậm hơn tôi đáng kể, và thế mà luôn dễ dàng thắng thế.
Người Trung Quốc các độ tuổi khác nhau tập thái cực quyền để nâng cao sức khỏe trong một công viên ở Bắc Kinh.
Sử Dụng Năng Lượng Để Chữa Lành
Khía Cạnh Sức Khỏe Của Võ Thuật
Võ Thuật Nội Gia Như Những Hệ Thống Chữa Lành Bằng Năng Lượng
Các khía cạnh chữa lành, thiền định, và chiến đấu của võ thuật nội gia, đặc biệt là bát quái và thái cực quyền, hoàn toàn đan xen vào nhau. Chương này khép kín một vòng tròn khi chúng ta chuyển từ mặt chiến đấu sang mặt chữa lành của võ thuật nội gia, sức mạnh của nó có thể được dùng để chống lại bệnh tật. Trên thực tế, đối với hầu hết mọi người, danh tiếng của võ thuật nội gia không đến nhiều từ năng lực chiến đấu xuất sắc của chúng, mà đúng hơn từ khả năng tuyệt vời của chúng trong việc điều trị những bệnh mà các phương pháp khác không thể, cũng như từ khả năng tăng cường các phương pháp chữa lành khác. Việc thực hành võ thuật nội gia hỗ trợ sự tràn đầy sinh lực và dẻo dai suốt đời, đặc biệt là khi về già, và do đó có thể phục vụ như một phần bổ trợ hữu ích cho bất kỳ chương trình trường thọ nào. Trong ba võ thuật nội gia là trọng tâm của cuốn sách này, thái cực quyền là phổ biến nhất. Sự phổ biến của nó phần lớn là do sự dễ dàng tương đối ban đầu khi thực hành và do sự dễ tiếp cận nhờ số lượng lớn các thầy thái cực quyền đang hoạt động. Nói như vậy, bát quái và hình ý quyền cũng có những khả năng tương tự, dù chúng sử dụng những phương pháp khác nhau. Nhiều người khắp Trung Quốc tìm đến thái cực quyền và khí công để tự chữa lành mình khỏi mọi thứ bệnh tật và thương tích.*
Tất cả các võ thuật nội gia đều được sử dụng một cách trị liệu ở Trung Quốc để hạ huyết áp, cải thiện chức năng thần kinh, điều hòa hệ tiêu hóa, và điều trị cái mà phương Tây đang bắt đầu gọi là hội chứng mệt mỏi mãn tính (hoặc kiệt sức). Võ thuật nội gia cũng nổi tiếng vì giúp phục hồi chấn thương do chấn động lên các khớp, cơ, và cột sống. Các khía cạnh trị liệu của võ thuật nội gia có độ sâu, bề rộng, và sự phức tạp về kỹ năng ngang bằng với mặt chiến đấu của chúng. Về cơ bản, các kỹ thuật chữa lành dựa trên liệu pháp khí công tinh vi.
Chú thích của biên tập viên: Chính tác giả đã sử dụng phong cách Ngô của thái cực quyền do Lưu Hồng Khiết dạy để hồi phục từ vết thương nghiêm trọng ở cột sống do một tai nạn ô tô gây ra.
Sự Khác Biệt Giữa Sức Khỏe và Thể Lực Từ Góc Nhìn Nội Gia
Cách tiếp cận sức khỏe được nhiều võ sĩ võ cứng bên ngoài, cũng như những người trong các môn thể thao cạnh tranh, thực hiện là tạo ra một trạng thái thể lực cực độ. Nếu bạn nhìn vào bất kỳ môn thể thao hạng nặng nào (tiếp xúc hoặc không tiếp xúc), bạn sẽ thấy mục tiêu chủ đạo là hiệu suất tối đa thể hiện tốc độ, sức mạnh, sức mạnh cơ bắp, và sự nhanh nhẹn. Tuy nhiên, trong Đạo gia, sức khỏe được định nghĩa không phải nhiều về mặt hiệu suất vượt trội, mà đúng hơn là một trạng thái an toàn tổng thể trong đó tâm trí bạn sáng suốt, cảm xúc cân bằng (nghĩa là, bạn khỏe mạnh về tinh thần), cơ thể bạn không bị bệnh hữu cơ hay thương tích, và bạn có sinh lực mạnh mẽ đi kèm với cảm giác an lạc.
Một người được coi là có thể lực ở phương Tây có thể làm được hơn 100 cái hít đất, chạy marathon, sở hữu một thân hình cơ bắp đẹp đẽ — và thế mà không khỏe mạnh về mặt nội tại. Anh ta hoặc cô ta có thể có lưng xấu, khớp bị hư, vấn đề về gan, cảm xúc mất cân bằng, bất lực trong việc xử lý căng thẳng, và yếu sinh lý hoặc rối loạn chức năng tình dục. Mặt khác, một người khỏe mạnh về nội tại có thể trông yếu ớt, không có cơ bắp, hoặc béo, chỉ có thể chạy vài trăm mét, hoặc thiếu sức mạnh thể chất. Thế mà người này có thể có một tấm lưng khỏe mạnh, khớp và tuần hoàn máu tốt, cân bằng về cảm xúc, không có vấn đề về nội tạng hay hệ thần kinh trung ương, có thể thực hiện tất cả các hoạt động bình thường của cuộc sống với sức bền, có một đời sống tình dục trọn vẹn, và có thể xử lý căng thẳng nặng nề một cách thư giãn.
Từ khung này, dễ dàng thấy rằng một người có thể được coi là có thể lực mà không khỏe, hoặc khỏe mà không có thể lực. Trong các môn phát triển khí của Đạo gia, mục tiêu đầu tiên là làm cho một người khỏe mạnh, một mục tiêu hữu ích và tiếp cận được với tất cả mọi người. Mức độ phát triển khí đó thực ra tốn ít công sức hơn việc trở nên "có thể lực." Để trở thành một võ sĩ hay vận động viên ưu tú, bạn phải trước tiên trở nên khỏe mạnh và sau đó nỗ lực hơn để đạt được thể lực, năng lực tối đa, và hiệu suất đỉnh cao.
Nếu mục tiêu chính của bạn là sức khỏe, lĩnh vực quan trọng nhất để tập trung là đưa khí đến trạng thái mà người Trung Quốc gọi là thông (tong), đó là khả năng của khí lưu thông hoàn toàn khắp cơ thể mà không bị trở ngại. Để hoàn thành sự lưu thông khí, điều then chốt là học kỹ chương trình nội công 16 phần cơ bản của Đạo gia (xem tr. 62). Để vượt xa việc đơn giản là không có bệnh tật sang phát triển chức năng tinh thần và thể chất ưu tú đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn. Thông thường, một người tiến bộ từ những thực hành sức khỏe dễ dàng sang một thể lực tổng quát sang huấn luyện phức tạp hơn để bao gồm tốc độ thể chất tối đa, sức mạnh, sinh lực, và sự minh mẫn tinh thần.
Sức Khỏe Cá Nhân: Bao Giác và Bản Chất Của Những Giới Hạn
Bát quái rõ ràng là một trong những đam mê của Bao Giác. Sự tiếp xúc ban đầu của ông với nó đến từ một giáo viên riêng mà gia đình đã thuê để dạy ông khi còn bé. Bao Giác có một khiếu hài hước trầm lặng, bí hiểm và một phong thái mà người phương Tây gọi là "hiền hòa." Ông là một người rất kín đáo ở tuổi gần năm mươi, cao khoảng năm feet rưỡi và rất gầy, người không thích nói về bản thân hay cuộc đời trước đây của mình ở Trung Quốc. Một người tử tế thích đồ ăn Nga, Bao Giác làm việc cho một cửa hàng buôn lông thú. Khác với hầu hết mọi người trong cường quốc kinh tế đang trỗi dậy của Hồng Kông, ông dường như không có nhiều hứng thú với tiền bạc. Qua phong thái, ngôn ngữ, và sự học vấn rõ ràng cả bằng Anh lẫn Trung, ông dường như xuất thân từ một gia cảnh trung lưu hoặc thượng lưu ở Bắc Kinh.
Khi đấu tập, Bao Giác sẽ tự phát tấn công và phòng thủ. Trong trò chuyện, ông sẽ chia sẻ kiến thức của mình về các đổi thủ chưởng đơn lẻ và những điều nên và không nên làm về cách thực hành để phục hồi sức khỏe.
Bao Giác mắc một ca cấp tính của một dạng thấp khớp di truyền. Nếu ông thực hành tốt và khôn ngoan, cơn đau của ông sẽ biến mất, nhưng nếu ông không thực hành, sức khỏe của ông sẽ đảo ngược và sức mạnh trong các ứng dụng của ông sẽ suy yếu đáng kể. Người ta có thể thấy những khác biệt rõ rệt ở ông qua một tháng, một tuần, một ngày, hoặc chỉ trong một giờ. Là người hoàn toàn thạo tiếng Anh, ông thường sẵn lòng và có khả năng ngôn ngữ để chia sẻ những trải nghiệm của mình. Ông cung cấp những hiểu biết to lớn về cách cơ thể trung niên vận hành với khí để đạt sức khỏe tối đa, và cụ thể là cách hoặc làm quá mức hoặc làm thiếu mức khiến bệnh tật gia tốc, giữ nguyên, hoặc thuyên giảm.
Bao Giác chuyên về lối đánh đánh-và-chạy. Vì nhỏ con, ông có tầm với và sức mạnh kém hơn những người to lớn, nên ông tập trung vào sự né tránh và những đòn phản công nhanh chóng vào-ra. Bao Giác là một ví dụ sống động rằng ngay cả những người có khuyết tật, bẩm sinh hay không, cũng có thể tự vệ thực tế nếu họ bỏ thời gian và nỗ lực.
Bạn Có Phải Học Tự Vệ Để Có Được Lợi Ích Sức Khỏe Không?
Nhiều người học võ thuật nội gia ở phương Tây chỉ quan tâm đến một số trong năm khía cạnh của sự thực hành. Những khía cạnh này là sức khỏe cá nhân, hiệu suất cao, chữa lành người khác, tự vệ, và thiền định. Ở Trung Quốc, bạn học những gì thầy bạn dạy. Nếu bạn không thích một khía cạnh của những gì đang được dạy, bạn đơn giản phớt lờ nó và làm qua loa vì lễ nghĩa. Một học trò Trung Quốc sẽ nhận ra và chấp nhận rằng những thầy riêng lẻ sẽ truyền đạt những lát cắt tương tự và khác nhau của toàn bộ chiếc bánh võ thuật nội gia.
Ở phương Tây, học trò thường có những kỳ vọng không thực tế về những gì một thầy có thể, nên, hoặc sẵn sàng cung cấp. Một câu hỏi thường được hỏi là, "Nếu tôi tập thái cực quyền hay bát quái, tôi có phải học chiến đấu, chữa lành, thiền định, v.v. không? Tôi chỉ thực sự muốn..." Sự thật là, bạn không phải nếu bạn không muốn. Tuy nhiên, tốt nhất là thảo luận những câu hỏi này với thầy của bạn bởi vì ông/bà ấy có thể chỉ biết cách dạy bằng cách cũng bao gồm những phần bạn không thích. Ngay cả nếu một người thầy có thể lược bỏ những phần mà bạn cá nhân không thích, sẽ khôn ngoan nếu thu thập một số thông tin về những phần đó và lắng nghe người thầy về giá trị tiềm năng của chúng đối với sự tiến bộ lâu dài của chính bạn.
Bởi vì quá nhiều câu hỏi bối rối nảy sinh trong tâm trí học trò, thật đáng giá để thảo luận làm thế nào bạn nên tiến hành theo đuổi thành công những mục tiêu bạn nhận thức được theo một cách cân bằng và thông minh. Một cá nhân có thể cảm thấy thế này: "Tôi quan tâm đến việc trở nên khỏe mạnh và thực sự thích cách những thực hành khí này làm cơ thể tôi cảm thấy, nhưng tôi không thích cái thứ chiến đấu này, và tôi trung lập đối với việc chữa lành người khác và thiền định." Một người khác có thể là một vận động viên muốn dùng các môn nội gia Đạo gia để xuất sắc hơn trong một môn thể thao nhất định, và chẳng quan tâm chút nào đến thiền định hay các yếu tố khác. Một người chữa lành có thể không quan tâm đến khía cạnh chiến đấu, và một chiến binh có thể hoàn toàn không quan tâm đến việc chữa lành người khác, trong khi bất kỳ người nào cũng có thể hoặc không thể tiếp nhận thiền định. Một người thiền định có thể hoặc không muốn dính líu đến hiệu suất cao, tự vệ, hay chữa lành người khác.
Để đạt được thành quả của bất kỳ một trong năm khía cạnh thực hành cá nhân Đạo gia này, bạn sẽ phải nhấn mạnh những phương pháp và chiến lược sẽ đem lại một kết quả cụ thể. Có cả sự chồng chéo lớn và những khác biệt rõ ràng giữa các phương pháp huấn luyện, về mặt tâm trí bạn vận hành thế nào và bạn đặt nỗ lực ở đâu. Để đạt được sự bình an tâm trí hay thể nhận ra Đạo không đòi hỏi bạn trở thành một chiến binh vĩ đại, hay ngược lại. Có thể bạn có thể vượt qua tính cách của mình và thế mà có ít kỹ năng trong việc chữa lành bệnh tật thể chất của người khác. Cũng tương tự, bạn cũng có thể trở thành một người chữa lành thể chất vĩ đại hay một võ sĩ mà thế mà vẫn sống trong sự dày vò và mất cân bằng về cảm xúc hoặc tâm linh.
Vì vậy vấn đề là bạn nên đặt bao nhiêu trọng lượng vào mỗi khía cạnh thực hành khí cá nhân của mình tại bất kỳ thời điểm nào. Những lợi ích nào bạn muốn đạt được lúc này? Sở thích của bạn hiện nay nằm ở đâu? Sự nhấn mạnh của bạn có thể thay đổi qua một khoảng thời gian nhiều năm, tháng, tuần, ngày, hoặc thậm chí trong suốt một buổi thực hành đơn lẻ. Bản chất của thực hành võ thuật nội gia là những nhu cầu cơ bản của sức khỏe luôn được đáp ứng bằng sự phát triển khí, thứ tự nhiên mang lại sức khỏe tốt. Có một sự khác biệt lớn giữa việc tối thiểu khỏe mạnh (nghĩa là, không bệnh rõ rệt) và đang ở trong một trạng thái sức khỏe và sinh lực tuyệt vời. Bạn có thể không quan tâm đến việc chữa lành người khác một cách chuyên nghiệp, nhưng nếu một người bạn thân, người thân, hay người yêu trở nên bệnh, bạn có thể đột ngột phát triển sự quan tâm đến việc chữa lành một người khác. Bạn có thể không quan tâm đến kỹ năng chiến đấu trong một thời gian dài cho đến khi một sự kiện bạo lực nào đó chạm đến bạn hoặc một người thân cận. Những người thiền định nhiều năm sau có thể thấy mình trở nên quan tâm đến hành động và trực tiếp vượt qua những nỗi sợ và giới hạn thể chất. Những chiến binh thành thạo có thể một ngày nào đó trở nên quan tâm đến việc chinh phục những nỗi sợ phi vật lý và chuyển hóa sức mạnh của những cú đấm thành sức mạnh của hòa bình và lòng nhân từ. Xét về bối cảnh của toàn bộ hệ thống, năm thành phần có lợi của bát quái, thái cực quyền, và tất cả các môn nội gia được gán những giá trị "trọng lượng." Tại bất kỳ thời điểm nào, tùy thuộc vào sở thích cụ thể hay mức độ tiến bộ trong các buổi thực hành cá nhân của chính bạn, bạn nên cân nhắc sự chú ý hiện tại của mình đối với các mục tiêu và khát vọng của mình.
Bảng thống kê sau đây đưa ra những lượng thời gian được đề xuất để dành cho mỗi khía cạnh thực hành theo các sở thích cụ thể khác nhau.
Tỷ Lệ Đề Xuất Của Thời Gian Thực Hành
| Khía cạnh | Người Cao Tuổi Trung Bình (% thời gian) | Người Thiền Định (% thời gian) | Chiến Binh (% thời gian) | Người Chữa Lành (% thời gian) |
|---|---|---|---|---|
| Sức khỏe tổng quát | 60 | 20 | 20 | 15 |
| Tái sinh | 20 | 20 | 50 | 10 |
| Chiến đấu | 10 | — | 60 | — |
| Chữa lành | 10 | — | — | 50 |
| Thiền định | 10 | 60 | 20 | 20 |
Những con số này có thể thay đổi theo thời gian khi sở thích và sự tinh thông của bạn trong một lĩnh vực tăng lên hoặc khi trở nên cần thiết để củng cố một điểm yếu để tối đa hóa và/hoặc cân bằng năng lực của bạn trong các lĩnh vực quan tâm chính. Ví dụ, một người thiền định có thể cần giải quyết những nỗi sợ thể chất về chiến đấu để tiến bộ với thiền định, hoặc một người chữa lành có thể cần giải quyết khí tâm linh hay cảm xúc mất cân bằng cá nhân của mình bằng thiền định để có thể phục vụ bệnh nhân tốt hơn.
Hãy ghi nhớ rằng nếu bạn đến một siêu thị môn nội gia, bạn bình thường mua những mặt hàng chủ lực (sức khỏe) bất kể bạn lấy gì khác, và sau đó những mặt hàng đặc biệt (chiến đấu, thiền định, trường thọ, chữa lành). Càng nhiều số lượng mặt hàng đặc biệt của bạn, giá càng cao (nỗ lực, thời gian thực hành, học tập, v.v.), nhưng càng lớn sự thưởng thức và thỏa mãn. Theo thời gian trôi qua, không phải là hiếm để có được nhiều hơn của một hạng mục đặc biệt nào đó, cũng như những món cụ thể (kỹ thuật cụ thể). Là trách nhiệm của cá nhân để quyết định họ muốn gì, và họ sẵn lòng làm bao nhiêu cho những lợi ích. Bạn được những gì bạn trả tiền — không có bữa trưa miễn phí nào trong bất kỳ sự thực hành nội gia chân chính nào.
Những bậc thầy giảng dạy bát quái và thái cực quyền chân thực hơi giống như những chủ cửa hàng thực phẩm. Một số có những cửa hàng nhỏ (một hoặc hai hạng mục) với một vài món chất lượng cao. Một số có những siêu thị lớn với cả năm hạng mục, nhưng với một sự pha trộn các món chất lượng cao và thấp. Những cửa hàng mà mọi thứ đều chất lượng cao nhất thì cực kỳ hiếm. Công việc đầy thử thách của một bậc thầy bát quái hay thái cực quyền là, từ các hạng mục hiện có, dạy học trò theo một cách thức tiến bộ được điều chỉnh theo những gì họ muốn, những gì họ có khả năng đạt được, và sự phát triển cũng như hội nhập cân bằng cần thiết cho cơ thể và tâm trí của họ.
Sức Khỏe và Thể Lực Trong Võ Thuật Nội Gia
Khi được thực hành vì sức khỏe và thể lực, bát quái, thái cực quyền, và hình ý quyền có ba khía cạnh cơ bản: các cử động thể chất, sự phát triển khí, và sự giải phóng căng thẳng khỏi dây thần kinh và tâm trí. Để đạt được cả sức khỏe và thể lực trong bát quái, các cử động thể chất của Đi Bộ Vòng Tròn và các kỹ thuật đổi thế sẽ giữ cơ thể bạn hoạt động. Chỉ những điều này cũng sẽ giúp giữ cho những công nhân ít vận động khỏe mạnh. Công việc khí sẽ cân bằng các năng lượng của cơ thể bạn. Các kỹ thuật thiền định làm lặng tâm trí sẽ là một sự trợ giúp to lớn trong việc cân bằng cảm xúc của bạn. Những người thực hành bát quái huấn luyện vì thể lực nỗ lực tạo ra sự cân bằng, tốc độ, và sức mạnh ưu tú trong khi nâng cấp các nội tạng, tuyến, và khớp của họ để giành được sinh lực ưu tú và sự cảnh giác tinh thần. Tất cả điều này phải được kết hợp với một tâm trí và hệ thần kinh trung ương thư giãn, bình tĩnh, và linh hoạt.
Kỹ thuật trung tâm cho sự phát triển nội tại trong bát quái, Đổi Thủ Chưởng Đơn (Single Palm Change) (xem tr. 217), đã được thực hành trong các tu viện Đạo gia ít nhất 1500 năm mà không có ứng dụng chiến đấu. Nó được thực hiện thuần túy để tăng cường sức khỏe, thể lực, sự minh mẫn tinh thần, và các thực hành thiền định. Do đó, bạn không cần thiết phải theo đuổi tích cực các khía cạnh tự vệ của bát quái để đạt được những lợi ích này. Ở mức độ ban đầu của huấn luyện vì sức khỏe, một cách tiếp cận thực hành dễ dãi hơn sẽ giúp thúc đẩy sự lưu thông khí để chăm sóc những khó chịu thể chất hằng ngày với nỗ lực tối thiểu. Nếu bạn theo đuổi những lợi ích lớn hơn, bạn sẽ phải trả cái giá cao hơn của nỗ lực lớn hơn và thời gian thực hành dài hơn. Khi cường độ thực hành tăng lên, những lợi ích tăng lên tương xứng.
Nếu một người muốn thêm các ứng dụng chiến đấu vào hỗn hợp, các bài quyền thực hiện ở tốc độ chậm và trung bình là đủ cho sức khỏe, trong khi tốc độ đầy đủ, phòng thủ/tấn công thay đổi nhanh là cần thiết cho thể lực trọn vẹn. Đối với sức khỏe và thể lực cá nhân, công việc đơn lẻ là đủ, và cũng không các ứng dụng chiến đấu cũng không việc thực hành áp dụng công việc chữa lành trị liệu lên người khác là bắt buộc. Công việc thiền định mức độ bắt đầu của tính tâm linh có ích để làm lặng tinh thần và thúc đẩy sự lưu thông khí tốt hơn, nhưng công việc thiền định Đạo gia trung cấp hay cao cấp và nội đan không phải là điều kiện tiên quyết cho một tâm trí và cơ thể khỏe mạnh. Đơn thuần có khí chìm xuống đan điền hạ và có tâm trí trở nên tập trung, bình tĩnh, và thư giãn là đủ cho sức khỏe hay thể lực.
Chú thích của biên tập viên: Bạch Hoa đã phỏng vấn các nhà sư tại Tu viện Long Môn (Lung Men Gate Monastery) rất chi tiết vào năm 1985 để xác minh lịch sử này.
Bảng 1 — Các Thông Số Để Thực Hành Đổi Thủ Chưởng Đơn Vì Sức Khỏe và Thể Lực
| Khía cạnh của Đổi Thủ Chưởng | Để Đạt Sức Khỏe | Để Đạt Thể Lực |
|---|---|---|
| Tốc độ đi bộ | Tốc độ chậm hoặc trung bình là đủ | Bạn phải có khả năng đi bộ nhanh và thực hiện những bước chớp nhoáng, xoay eo, và cử động tay |
| Sức bền | Ban đầu chỉ cho sức bền thấp đến trung bình | Bạn phải phát triển sức bền đáng kể để đạt được khả năng trình diễn thực sự cao |
| Thế tấn | Chỉ cần thế cao hoặc trung bình | Thế thấp hoặc ngồi xổm là cần thiết |
| Xoắn các gân, cơ, và màng cơ | 50 đến 60 phần trăm năng lực là đủ | 70 đến 90 phần trăm năng lực là cần thiết |
| Sức mạnh chân | Trung bình là đủ | Sức mạnh chân ưu tú là cần thiết |
| Hơi thở | Phải sâu và chậm | Phải sâu, chậm, và đặc biệt dài một cách đặc biệt |
| Vật có tải trọng | Không cần tạ hoặc vũ khí | Khuyến nghị huấn luyện với các quả cầu sắt hoặc vũ khí nặng |
| Cử động | Không cần các kỹ thuật trên không | Cần các kỹ thuật trên không (nhảy, đá, xoay) |
| Kích thước vòng tròn | Vòng tròn lớn hoặc trung bình; xoắn vừa phải các cơ quan | Vòng tròn nhỏ để xoắn cơ quan và cơ tối đa |
| Thời gian tối thiểu | 20 đến 30 phút | 30 đến 60 phút |
Bảng 2 — Các Thông Số Để Thực Hành Bài Quyền Đơn Thái Cực Quyền Vì Sức Khỏe và Thể Lực
| Bài Quyền Đơn Thái Cực Quyền | Để Đạt Sức Khỏe | Để Đạt Thể Lực |
|---|---|---|
| Tốc độ thực hành | Chậm đến trung bình | Cực chậm đến cực nhanh |
| Sức bền | Ban đầu chỉ cho sức bền thấp đến trung bình | Bạn phải có khả năng sức bền đáng kể |
| Thế tấn | Cao hoặc trung bình | Thấp hoặc trung bình |
| Sự xoắn | 40 đến 50 phần trăm năng lực là đủ | 70 đến 80 phần trăm năng lực là đủ |
| Sức mạnh chân | Trung bình là đủ | Sức mạnh chân ưu tú là cần thiết |
| Hơi thở | Phải sâu và chậm | Phải sâu, chậm, và đặc biệt dài |
| Huấn luyện vũ khí | Không cần thiết | Ưu tiên huấn luyện vũ khí thường xuyên và nặng (kiếm thẳng, đao, thương) |
| Cử động | Chỉ đá đến độ cao đầu gối hoặc háng | Đá đến thượng huyệt hoặc cao hơn |
| Thế tấn (postures) | Thực hiện bằng hệ thống nội công 16 phần một cách nhẹ nhàng bên trong | Thực hiện bằng hệ thống nội công 16 phần để tạo ra những nén bên trong như thép |
| Thời lượng thế tấn | Tối đa 5 phút | 15 phút trở lên |
| Thời gian thực hành mỗi ngày | 20 đến 30 phút | Tối thiểu 30 đến 60 phút |
Bảng 3 — Các Thông Số Để Thực Hành Ngũ Hành Hình Ý Quyền Vì Sức Khỏe và Thể Lực
| Bài Quyền Ngũ Hành | Để Đạt Sức Khỏe | Để Đạt Thể Lực |
|---|---|---|
| Tốc độ thực hành | Tốc độ đi bộ bình thường | Cực chậm hoặc cực nhanh |
| Sức bền | Ban đầu chỉ cho sức bền thấp đến trung bình | Bạn phải có khả năng sức bền đáng kể |
| Thế tấn | Trung bình đến cao | Trung bình đến thấp |
| Sự xoắn | 50 đến 60 phần trăm năng lực là đủ | 70 đến 80 phần trăm năng lực là đủ |
| Sức mạnh chân | Trung bình là đủ | Sức mạnh chân ưu tú là cần thiết |
| Hơi thở | Phải sâu và chậm | Phải sâu, chậm, và đặc biệt dài |
| Huấn luyện vũ khí nặng | Không cần thiết | Ưu tiên với đao và thương; càng nặng càng tốt |
| Cử động | Không cần đá trên háng hoặc nhảy trên không | Đá đến thượng huyệt và các kỹ thuật trên không |
| Thế tấn (postures) | Thực hiện bằng hệ thống nội công 16 phần để tạo ra những nén bên trong như thép vừa phải | Thực hiện bằng hệ thống nội công 16 phần để tạo ra những nén bên trong như thép và sức mạnh bên trong tối đa |
| Thời lượng thế tấn | 5 phút cho Tam Thể; tối đa 1 phút mỗi thế khác | Có khả năng thực hiện Tam Thể trong 30 đến 60 phút |
| Thời gian thực hành mỗi ngày | 100 yards bước hình ý, 20 đến 30 phút | 30 đến 60 phút hoặc tối thiểu 1000 yards bước hình ý |
Cách Võ Thuật Nội Gia Và Khí Công Tạo Ra Sức Khỏe
Ở Trung Quốc, quan điểm phổ biến nhất về võ thuật nội gia là chúng chủ yếu là những hệ thống khí công tinh vi để thao túng khí của cơ thể nhằm mục đích chữa lành. Các quan điểm của Y học Cổ truyền Trung Quốc và y học phương Tây chính thống khác nhau về cách thúc đẩy chữa lành và giảm bớt nỗi đau khổ của con người. Y học Trung Quốc tìm cách chữa lành cơ thể bằng cách cân bằng các dòng năng lượng bên trong nó, tăng cường cái gì thiếu hụt và giảm bớt cái gì dư thừa. Trong số các liệu pháp dùng để thay đổi sự mất cân bằng khí có thảo dược, châm cứu, các cử động trị liệu (bao gồm những của khí công và võ thuật nội gia), và xoa bóp trị liệu. Những liệu pháp Trung Quốc này thường không có tính xâm lấn và các tác dụng phụ có hại đôi khi gắn liền với dược phẩm mạnh và phẫu thuật.
Y học Trung Quốc và phương Tây cũng khác nhau về phương pháp chẩn đoán. Y học phương Tây kiểm tra những thay đổi vật chất trong cơ thể qua một loạt xét nghiệm lâm sàng sinh hóa và sinh lý, một số trong đó sử dụng thiết bị kỹ thuật cao. Y học Trung Quốc kiểm tra xem các dòng khí của cơ thể bị mất cân bằng thế nào, sử dụng các kỹ thuật quan sát tinh vi có thể bao gồm bắt mạch và xem lưỡi, sờ nắn, phân tích khí trường, và tính đến các mẫu thức khí cảm xúc và tâm linh của bệnh nhân. Thực hành nhất quán các phương pháp chẩn đoán Trung Quốc có thể cuối cùng đưa những sự nhạy cảm cực độ với khí nội tại vào nhận thức có ý thức của người hành nghề. Cũng theo cách đó, một người có thể đạt được những sự nhạy cảm này và sau đó áp dụng chúng qua các kỹ thuật chữa lành khí công cụ thể thích hợp để chữa lành các tình trạng khác nhau ở bản thân và người khác.
Các phương pháp để sửa chữa các tình trạng sức khỏe của chính mình hoặc giúp một người khác với một vấn đề đều nằm trong hệ thống nội công 16 phần (xem tr. 62). Những phương pháp này có thể được dạy bởi những giáo viên võ thuật nội gia có năng lực với các mức độ tinh thông và khả năng giao tiếp khác nhau. Thế mà cả ba võ thuật nội gia đều tinh vi đến mức các kỹ thuật chữa lành của chúng vẫn hoạt động tuyệt vời trong những phiên bản đã bị pha loãng. Một số nơi đầu tiên để tìm kiếm sức mạnh chữa lành của công việc bài quyền đơn lẻ nằm ở việc cân bằng hai bên trái và phải của cơ thể cả về thể chất lẫn năng lượng, giải phóng các dây thần kinh và làm chìm khí. Những chấn thương chân, hông, và lưng dưới, cũng như các vấn đề mãn tính khác, có thể được giúp đỡ rất nhiều bằng cách căn chỉnh cơ thể đúng cách. Học cách mở và đóng các khớp có thể ngăn ngừa hoặc giúp viêm khớp. Kích thích khí trường bên ngoài của cơ thể, cũng như kéo giãn có hệ thống các cơ và màng cơ, có thể kích thích các kinh mạch châm cứu của người thực hành.
Tất cả điều này xảy ra đơn thuần qua các bài tập cử động mà mục đích chủ đạo là di chuyển và cân bằng có hệ thống khí của cơ thể con người. Đối với đa số dân số thực hành, những kỹ thuật tự vệ mạnh mẽ nhất của võ thuật nội gia là những kỹ thuật để tự bảo vệ mình chống lại cả bệnh tật và sự tàn phá của tuổi già. Đây là lý do tại sao số lượng khổng lồ người Trung Quốc thực hành võ thuật nội gia và/hoặc khí công mỗi ngày.
Có hai khía cạnh chủ đạo đối với các cử động năng lượng của võ thuật nội gia được thực hiện vì sức khỏe. Khía cạnh thứ nhất liên quan đến việc bất kỳ cử động cụ thể hay chuỗi cử động nào được thực hiện như một tổng thể trị liệu. Khía cạnh thứ hai liên quan đến việc chúng được thực hiện như một tổng thể nhấn mạnh vào từng thành phần nội công cá biệt. Điều này đòi hỏi kiến thức chi tiết về việc toàn bộ bài quyền có thể hoặc không cần được điều chỉnh để thích ứng với bất kỳ chuỗi đơn hoặc nhiều thành phần nội công bổ sung nào. Một người chỉ biết một bài quyền như một tổng thể sẽ không bình thường nhận thức được những phẩm chất năng lượng và hoán vị chính xác đặc thù cho từng cử động cá biệt.
Sửa Chữa Khí Bị Kích Động
Một trong những điều một người thầy năng lượng giỏi truyền đạt cho học trò là cách phát triển khí một cách trơn tru mà không có tác dụng phụ. Thật không may, có những thực hành khí công không đúng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khí và/hoặc hệ thần kinh trung ương của học trò. Khí công bùng nổ về mức độ phổ biến ở Đài Loan và Trung Quốc Đại lục trong nửa sau của thập niên 1980. Tại Hội nghị Khí Công Quốc tế năm 1994, được tổ chức ở San Francisco, California, các chuyên gia trong lĩnh vực báo cáo rằng việc thực hành khí công không đúng cách là một vấn đề đang leo thang khắp châu Á, và thậm chí nhiều hơn ở Trung Quốc Đại lục.
Các kỹ thuật chữa lành bát quái dựa trên Kinh Dịch đặc biệt hiệu quả trong việc sửa chữa hậu quả của việc thực hành khí công không đúng cách. Thật không may, những kỹ năng này cực kỳ hiếm ngay cả ở Trung Quốc. Các thực hành năng lượng đi xuống và hòa tan của nội công thường hình thành phần bắt đầu của những thủ tục này. Trong nhiều trường hợp, điều này một mình đã đủ để giải quyết các vấn đề bắt nguồn từ thực hành khí công không đúng cách. Nếu bạn cần giúp đỡ trong lĩnh vực này, hãy tìm kiếm từ một người am tường năng lượng sẵn lòng và có kinh nghiệm quen thuộc với các phương pháp Trung Quốc. Thông thường những người hành nghề túi na khí công có chuyên môn cần thiết. Hệ thống chữa lành bát quái, ví dụ, cụ thể sử dụng tám năng lượng chủ đạo của Kinh Dịch, cùng với chẩn đoán các năng lượng của ba đan điền, để điều trị những gì đã trở nên sai trái về mặt thể chất, cảm xúc, tâm lý, hoặc tâm linh với cơ thể từ những thực hành năng lượng không đúng cách. Việc bắt mạch ba đan điền này là một công nghệ cực kỳ tinh vi là một chuyên môn của những người Đạo gia. Phật giáo và những người hành nghề khí công y học có những cách tiếp cận thay thế đối với vấn đề.
Chú thích của biên tập viên: Để biết thêm thông tin về chủ đề này, xem B. K. Frantzis, Opening the Energy Gates of Your Body, North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993, Phụ lục C, "Tầm Quan Trọng Của Việc Thực Hành Khí Công Đúng Cách."
Chú thích của biên tập viên: Để biết thêm thông tin về những chủ đề này, xem B. K. Frantzis, Opening the Energy Gates of Your Body, North Atlantic Books, Berkeley, California, 1993, Chương 3.
Võ Thuật Nội Gia Như Một Con Đường Tự Nhiên Để Trở Thành Một Người Chữa Lành Bằng Đôi Tay
Võ thuật nội gia, cùng với các phương pháp khí công liên quan của chúng, đã, ở Trung Quốc, truyền thống là một bãi huấn luyện nhất quán để trao quyền cho những người chữa lành bằng năng lượng. Tất cả các kỹ thuật và cử động võ thuật nội gia và khí công (cũng như các kỹ thuật thiền định Đạo gia) có thể cho bạn kiến thức và khả năng để di chuyển năng lượng của bạn nhằm chữa lành. Các công nghệ chữa lành bằng đôi tay của thái cực quyền, hình ý quyền, và bát quái đều bắt nguồn từ khí công. Chúng được gọi chung là túi na (tui na), hoặc cụ thể hơn, túi na khí công (tui có nghĩa là đẩy, na có nghĩa là nắm hoặc kéo.) Túi na khí công có thể được xem như công việc trị liệu cơ thể bằng năng lượng hoặc xoa bóp.
Mỗi võ thuật nội gia có các phương pháp xoa bóp trị liệu bằng năng lượng liên kết trực tiếp với nó. Trong khi ba hệ thống hình ý quyền, thái cực quyền, và bát quái chia sẻ nhiều kỹ thuật, mỗi hệ có chuyên môn riêng về công việc trị liệu cơ thể bằng năng lượng. Chính các môn võ chứa đựng những chuyên môn; người thực hành có thể hoặc không học được chúng. Nói chung, những người tinh thông hình ý quyền nổi tiếng với kỹ năng nắn xương và công việc mô sâu, và cũng có kỹ năng sửa chữa những tổn thương chấn thương nặng cho cơ thể, truyền thống được gọi là điệt đả (die da) trong tiếng Trung. Thái cực quyền bao gồm những kỹ thuật rất tinh vi cho thực hành y tế liên quan đến các khía cạnh âm của khí đặc biệt hiệu quả trong việc điều trị các bệnh của nội tạng và ung thư. Những người tinh thông bát quái cũng thành thạo trong tất cả những lĩnh vực này và có những kỹ năng chuyên biệt trong việc làm việc với cột sống, hệ thần kinh trung ương, và tổn thương dây thần kinh.
Ở Trung Quốc, chỉ một thiểu số nhỏ những người thực hành võ thuật nội gia quan tâm đến, hoặc học các phần hay toàn bộ, bất kỳ công nghệ chữa lành bằng năng lượng của hệ thống nào. Hung I Hsiang (xem tr. 203), là một người. Ông rất tinh thông "thuốc đánh" (hit medicine), liệu pháp áp dụng cho những người đã bị thương nặng ở cơ thể do tai nạn, thể thao, hoặc đánh lộn. Cố Hán Hưng Nguyên (Han Hsing Yuan, của Ý Quyền, I Chuan) cũng làm việc như một người hành nghề túi na khí công ở Hồng Kông, cũng như Hoàng Hi Nghĩa (xem tr. 293). Ở một mặt của cách tiếp cận y học Trung Quốc truyền thống, những người chữa lành học cách quan sát gián tiếp cái bóng của khí bằng cách đọc mạch cổ tay, làm chẩn đoán lưỡi, phân tích nước tiểu, và hỏi bệnh nhân các câu hỏi. Trái lại, những người được huấn luyện trong các phương pháp túi na khí công của võ thuật nội gia học cách trực tiếp cảm nhận và thấy cả khí cân bằng và mất cân bằng trong cơ thể. Bằng cách trực tiếp nhận thức 16 thành phần của hệ thống nội công đang hoạt động trong cơ thể, những người hành nghề này có thể phát hiện một khí cụ thể thay đổi và trộn lẫn thế nào
Chú thích của biên tập viên: Tác giả, ví dụ, đã sử dụng sự huấn luyện chuyên biệt của mình trong các phương pháp chữa lành bát quái và thái cực quyền (được học trong một khoảng thời gian mười năm ở Trung Quốc) để giúp xây dựng một chương trình khí công toàn diện thúc đẩy sự an lạc (xem tr. 344).
Sử Dụng Năng Lượng Để Chữa Lành
Võ Thuật Nội Gia Như Một Con Đường Tự Nhiên Để Trở Thành Người Chữa Lành Bằng Đôi Tay
...với các năng lượng khác trong cơ thể. Họ có thể đọc được năng lượng của vầng hào quang bên ngoài, hoặc ba tuyến năng lượng chính của cơ thể (kênh bên trái, bên phải và trung tâm), cũng như hàng ngàn tuyến năng lượng phụ trong thân thể, bao gồm cả các đường kinh mạch châm cứu.
Để thực hành các phương pháp trị liệu năng lượng của võ thuật nội gia, người ta cần được huấn luyện đáng kể trong việc tu dưỡng khí (khí) của chính mình. Nói chung, một người tập nên có khả năng cảm nhận được khí bên trong cơ thể của chính mình trước khi đảm nhận nhiệm vụ khó hơn là cảm nhận khí trong cơ thể của người khác. Ngược lại, loại xoa bóp tuina thông thường không đòi hỏi người thực hành phải có khả năng cảm nhận luồng khí được sử dụng trực tiếp trong khí công tuina. Thay vào đó, nó dựa vào các phương pháp chẩn đoán gián tiếp và vào những trị liệu dựa trên kỹ thuật vật lý chứ không phải năng lượng, chẳng hạn như châm cứu và bấm huyệt Trung Hoa, hoặc các phương pháp có những điểm chung với kỹ thuật nắn khớp cột sống (chiropractic) của phương Tây, công việc mô sâu cấu trúc, hay xoa bóp thông thường. Chính vì những lý do này mà một người muốn trở thành kỹ thuật viên trị liệu hay người làm việc cơ thể bằng khí công trước hết phải có nền tảng vững chắc trong việc tự tập khí cá nhân, rồi mới có thể học một cách thành thạo các phương pháp trị liệu khí công. Tuy nhiên, tuina thông thường thì bất kỳ ai cũng có thể học được.
Mối Liên Hệ Giữa Võ Thuật Nội Gia Và Công Việc Chữa Lành
Theo truyền thuyết, Đổng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan) được những người Đạo gia tìm thấy khi ông bị thương trong núi; họ đã chữa lành cho ông và tiếp tục dạy ông bát quái chưởng để hoàn tất quá trình hồi phục của ông. Dù sự thật về nhiều truyền thuyết xoay quanh Đổng ra sao, câu chuyện này minh họa mối liên kết truyền thống trong Đạo giáo giữa nghệ thuật chữa bệnh và nghệ thuật chiến đấu. Thật vậy, rất phổ biến khi những người Đạo gia cấp cao được huấn luyện trong thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng — tất cả đều nuôi dưỡng khả năng phóng khí, một kỹ năng có thể dùng để chữa người hoặc để hại người. Khả năng phóng khí để giết hoặc làm hại một kẻ tấn công bạo lực trở thành một công cụ quý giá trong tay một thầy thuốc khí công điêu luyện, khi chính luồng khí ấy được dùng để tiêu diệt các tế bào ung thư hoặc làm teo nhỏ các khối u — một chuyên môn của một số những người chữa lành bằng khí công giỏi nhất và nhiều kinh nghiệm nhất ở Trung Quốc. Chữa và hại là hai mặt của cùng một đồng tiền khí.
Các hệ thống chữa lành của ba môn võ thuật nội gia vô cùng tinh vi và cực kỳ hiệu quả. Chúng có lẽ đầu tiên nảy sinh từ nhu cầu điều trị các chấn thương võ thuật, và theo thời gian tiến hóa để điều trị bệnh tật. Chẳng hạn, những kỹ thuật cao cấp hơn từ trường phái bát quái chưởng bao gồm việc nâng cao các mức độ rung động bên trong cơ thể một người, thực hiện bằng cách dùng những âm thanh giống như chân ngôn (mantra) cụ thể để kích hoạt những năng lực đang ngủ say hoặc ít được sử dụng, và/hoặc để ảnh hưởng đến các chức năng năng lượng của mỗi trong tám thân thể năng lượng. Nhiều chân ngôn và âm điệu dao động của Trung Hoa được phối hợp với việc rung động cơ thể và các kênh năng lượng của mình. Hệ thống phức tạp này vượt ra ngoài Lục Âm Chữa Lành cơ bản mà một số người phương Tây quen thuộc.
Dùng cùng những nguyên tắc chẩn đoán và trị liệu khí ấy, một nhà trị liệu khí công không làm việc cơ thể trực tiếp sẽ cố gắng đạt được những kết quả tương tự bằng cách cụ thể thiết kế (kê đơn) các bài tập khí công để thực hiện khi đứng, di chuyển, ngồi, hoặc nằm. Những bài tập này sẽ có chức năng tác động đến cả mô của cơ thể lẫn khí của nó. Bệnh nhân sẽ được chỉ dẫn ở đâu, tại sao, khi nào, và làm thế nào để di chuyển khí bên trong cơ thể, và để đạt được những hiệu quả cụ thể nào. Bệnh nhân cũng được chỉ cho thấy những gì cần làm việc cùng và những gì cần tránh, cũng như làm sao để nhận ra những kết quả tích cực và tiêu cực. Bệnh nhân cũng sẽ được chỉ dạy cách tái giáo dục về mặt thể chất các cơ bắp nội tạng, khớp, đốt sống cột sống và các cơ quan nội tạng của cơ thể nhằm tối đa hóa chức năng vận động và giảm bớt cơn đau. Giống như những liệu pháp soma (cơ thể) tiên tiến đang mới nổi lên ở phương Tây đã khám phá, người Trung Hoa cổ đại thừa hiểu rõ rằng những kết quả trị liệu tốt nhất xảy ra khi các mô cơ thể, tâm trí, và hệ thần kinh trung ương đều được làm việc cùng một lúc.
Giá Trị Của Việc Tập Khí Công Cá Nhân Và Võ Thuật Nội Gia Đối Với Những Người Chữa Lành Phương Tây
Tiếp thêm năng lượng cho đôi tay. Việc tập khí công và võ thuật nội gia, cả ở dạng đơn luyện lẫn trong Đẩy Tay (Push Hands) và Nhu Thủ (Rou Shou), có thể tiếp thêm năng lượng một cách đáng kể và tăng cường độ nhạy xúc giác của mọi loại người làm việc cơ thể. Trong nhiều trường phái làm việc cơ thể ở phương Tây, người ta thường dành vài tháng hoặc vài năm học một loạt các kỹ thuật làm việc soma và thao tác, dọc đường tích lũy kiến thức kỹ thuật sâu sắc về giải phẫu, bấm huyệt hay điểm kích thích (trigger points), sinh lý học, và cứ thế. Thiếu đi "đôi tay có thể cảm nhận một cách trực giác và chính xác", việc áp dụng một phần lớn kiến thức sách vở có được qua gian khổ và học hỏi một cách thích đáng lên một con người sống sẽ kém hơn mức hoàn toàn hiệu quả. Một người làm việc cơ thể có nhu cầu thiết yếu phải biết cách thay đổi áp lực để khám phá khi nào cơ thể bị ép buộc trái ý muốn (điều có thể gây kháng cự hoặc tổn thương) và khi nào cơ thể cho phép một thao tác được tiếp tục. Đôi tay nhạy bén cho phép nhà trị liệu thu thập những thông tin quan trọng mà một đôi "tay chết" không thể làm được. Độ nhạy tay xuất sắc làm cho người làm việc cơ thể có thể cảm nhận được thể chất của cơ thể, hay shenjing swai rou (thần kinh suy nhược — sự kiệt quệ của cơ thể cùng hệ thần kinh và các kênh năng lượng của nó).
Tình trạng này phổ biến khắp xã hội chúng ta, đặc biệt là trong giới những người đạt nhiều thành tựu cao trong bất kỳ lĩnh vực nào. Sự kiệt sức thường ảnh hưởng đến những người giỏi nhất và sáng giá nhất.
Võ thuật nội gia và khí công rất hữu ích để đảo ngược vấn đề kiệt quệ năng lượng này. Chúng tái thiết lập các kênh năng lượng của cơ thể đã bị cạn kiệt hoặc mất cân bằng theo cách nào đó. Khí được tăng cường và tái cân bằng khiến các dây thần kinh ngừng bị kích động liên tục, thực sự được nghỉ ngơi, và theo thời gian, được tái sinh. Khi các dây thần kinh tái sinh, các cơ quan nội tạng lại bắt đầu được tiếp thêm năng lượng, và cơ thể từ từ thoát khỏi trạng thái ngất ngư.
Sự kiệt sức đặc biệt phổ biến trong tất cả các ngành nghề chữa lành, ảnh hưởng đến những nhà tâm lý, cố vấn, y tá, bác sĩ, người làm việc cơ thể, những chuyên gia châm cứu, những bác sĩ nắn khớp, hay bất kỳ ai dính líu đến chăm sóc sức khỏe. Bệnh nhân ở Trung Quốc cũng như phương Tây đều có thể rút cạn người chữa lành. Nếu bệnh nhân đang níu giữ lấy sự sống hoặc có một ám ảnh thần kinh, anh ta hoặc cô ta sẽ literally kéo khí từ cơ thể/tâm trí của nhà trị liệu. Qua những khoảng thời gian kéo dài, quá trình này mang lại sự kiệt quệ cho người chăm sóc và là một trong những lý do chính khiến nhiều người thực hành có tài từ bỏ nghề nghiệp của họ.
Do đó, việc những người chữa lành học cách ngăn ngừa có hệ thống sự kiệt sức về năng lượng là điều bắt buộc. Ở Trung Quốc, những kỹ năng mà các chuyên gia khí tìm thấy là cần thiết nhất đối với những nhà trị liệu đang tích cực hành nghề liên quan đến: (1) làm sao để bảo vệ chính mình, với tư cách là một người chữa lành, khỏi việc để bệnh nhân kéo năng lượng từ mình; (2) làm sao để dùng các bài tập khí công để tái sinh luồng khí đã cạn kiệt của hệ thống mình; (3) làm sao để tránh lập mẫu (patterning) khí của cơ thể mình theo khí của bệnh nhân ốm yếu. Điều sau này đặc biệt là một kỹ năng cần thiết cho những người chữa lành có trực giác tự nhiên. Những người chữa lành như vậy thường hòa nhập về mặt tâm linh với năng lượng của bệnh nhân mình. Một người chữa lành làm như vậy để cảm nhận bên trong chính cơ thể mình cái gì đang làm bệnh nhân đau yếu, để hiểu ở một mức độ trải nghiệm nội tạng xem làm sao để sửa chữa vấn đề. Nếu không thể tách mình ra một cách rõ ràng khỏi tình trạng của bệnh nhân, sẽ có nguy cơ là bạn sẽ lập mẫu chính mình vào những vấn đề mà bệnh nhân đang biểu hiện, hoặc bạn sẽ đơn giản là làm cạn kiệt nguồn dự trữ năng lượng của chính mình.
Một số kỹ thuật năng lượng được dùng để đạt được ba mục tiêu này bao gồm việc đạt được những kỹ năng trong:
1. Niêm phong (sealing) khí của bạn để nó không thể bị kéo ra khỏi cơ thể.
2. Di chuyển năng lượng từ môi trường bên ngoài vào cơ thể của bệnh nhân, để bạn không dùng năng lượng của chính mình và làm cạn kiệt nguồn dự trữ của mình.
3. Trở nên ý thức một cách có chủ ý về việc nguồn dự trữ năng lượng của bạn sâu và mạnh đến mức nào tại một thời điểm bất kỳ. Nếu bạn đã làm cạn kiệt nguồn dự trữ đến một mức độ nguy hiểm, bạn phải học cách dùng những kỹ thuật cụ thể từ 16 thành phần cơ bản của hệ thống nội công Đạo gia để bổ sung lại nguồn dự trữ của mình.
4. Đòi lại luồng khí bạn đã phóng từ cơ thể mình vào bệnh nhân để tái lập mẫu (re-pattern) luồng khí rối loạn chức năng của anh ta hoặc cô ta.
5. Quét sạch khỏi cơ thể/tâm trí của bạn bất kỳ ảnh hưởng tình cảm hay tâm linh nào mà bạn đã nhận từ bệnh nhân trong lúc trị liệu.
6. Kiểm tra chính mình vào những khoảng thời gian thường xuyên trong ngày để tìm sự hiện diện của bất kỳ hạt tàn dư tiềm thức nào. Việc này được thực hiện để bạn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục bằng cách dùng các kỹ thuật khí công của mình nhằm quét sạch những ảnh hưởng tiêu cực ngay trong ngày chúng xảy ra, từ đó ngăn ngừa sự tích tụ — tự ví mình như một chiếc máy đếm Geiger của con người, có thể nói như vậy. Chính sự tích tụ lâu dài của hạt tàn dư tình cảm/tâm linh theo thời gian đã làm hao mòn con người về mặt thể chất và dẫn đến sự kiệt sức về mặt tình cảm.
Giá Trị Của Việc Học Võ Nội Gia Đối Với Những Võ Sĩ Lớn Tuổi
Nói chung, hàng ngũ của các môn thể thao (ngoại trừ golf) phần lớn được lấp đầy bởi những người trẻ. Trong karate và taekwondo, một nửa đến hai phần ba tất cả người tham gia nằm trong các lớp dành cho trẻ em và thiếu niên. Khi người ta già đi, ít bạn đồng trang lứa của họ còn tập võ thuật một cách tích cực, và bị gạt sang làm khán giả. Trái ngược với một môn thể thao khán giả, võ thuật nội gia có thể trở thành một sự theo đuổi suốt đời, cho phép một cách bình đẳng một người bình thường hoặc một võ sĩ tận tâm già đi với sức sống và sự uyển chuyển theo năm tháng trôi qua. Những người tập võ thuật nội gia, giống như những mùa rượu vang hảo hạng, càng già càng ngon. Có những lý do vững chắc tại sao hiện tượng này xảy ra.
Hầu hết các môn thể thao bên ngoài, với nỗ lực và sức ép mà chúng đòi hỏi, gây tổn hại cho cơ thể. Khi bạn còn trẻ, các chấn thương lành nhanh hơn, cơ thể duỗi ra nhanh hơn và dễ dàng hơn, các dây thần kinh hồi phục nhanh hơn khỏi sự kiệt sức, và máu lưu thông hiệu quả hơn. Với hầu hết mọi người, trừ khi họ có huấn luyện khí công hoặc yoga chuyên biệt, những phẩm chất này phai mờ theo tuổi tác. Thông thường có nhiều cơn đau cơ thể gắn liền với sự lão hóa trong tất cả các thực hành bên ngoài khắc nghiệt, từ võ thuật đến thể thao. Các vấn đề về lưng rất phổ biến ở thế giới phương Tây, và chỉ riêng vấn đề này đã làm thưa thớt đáng kể hàng ngũ những võ sĩ trên bốn mươi tuổi, đặc biệt trong những môn võ nhấn mạnh vào nhảy, quăng, và ngã.
Ở Trung Quốc, thái cực quyền đặc biệt được dùng như một phần bổ trợ để huấn luyện các vận động viên thi đấu thuộc mọi loại. Việc huấn luyện này được cung cấp để cải thiện thời gian phản ứng, phản xạ, và tỷ lệ hồi phục sau chấn thương của vận động viên, cũng như để bôi trơn các khớp của họ, tăng phạm vi chuyển động, và, quan trọng nhất, kéo dài tuổi thọ sự nghiệp thi đấu của họ. Giờ đây phương Tây mới bắt đầu tiếp nhận cách tiếp cận này, điều mà rất có thể sớm hay muộn sẽ được các đội thể thao chuyên nghiệp và cá nhân của chúng ta áp dụng như một phần bổ trợ cạnh tranh.
Những người tập thể dục dụng cụ, quyền Anh, và karate, taekwondo, võ cứng (external kung fu), và aikido ở độ tuổi năm mươi vẫn còn hoạt động, cả ở Phương Đông lẫn phương Tây, dù có tồn tại, thì cũng rất ít và thưa thớt. Trên độ tuổi sáu mươi lăm, họ hầu như không còn tồn tại. Trong những trận chiến thực sự, nơi không có sự khoan dung nào được ban phát hay nhận lãnh, thật đáng nghi ngờ không biết có bao nhiêu trong số những cao thủ võ thuật lớn tuổi có thể đánh bại những võ sĩ trẻ hơn, mạnh hơn nhiều. Ông bà tóc bạc bắt đầu tập karate và trở nên giỏi nó, là đủ hiếm để xứng đáng xuất hiện trên một chương trình truyền hình hoặc ít nhất là một bản tin.
Hãy đối chiếu tình huống này với võ thuật nội gia, nơi một nửa tất cả người tập ở Trung Quốc đã trên năm mươi tuổi, và nơi không phải là một sự kiện hiếm hoi khi một võ sĩ nội gia đã là công dân cao niên đánh bại một cách thuyết phục một võ sĩ trẻ hơn, mạnh hơn nhiều. Thật vậy, ở cấp độ sư phụ, đây là một trạng thái bình thường của sự việc. Trong ý nghĩa này, võ thuật nội gia là tương đương phương Tây của golf. Quả thực, hai hoạt động này có nhiều điểm song song. Cả hai đều có một dòng chảy đều đặn, êm ái, và có một truyền thống được thực hiện ngoài trời trong những khung cảnh giống như công viên. Cả hai đều là những môn thể thao tác động thấp, dựa vào kỹ năng nhiều hơn là sức mạnh thô bạo và năng lực vận động được quyết định bởi gen. Với tư cách như vậy, cả hai đều được người trung niên và lớn tuổi cũng như giới trẻ đón nhận rộng rãi, kỹ năng có sẵn như nhau cho mọi lứa tuổi. Những người chơi cả golf lẫn võ nội gia sẽ tập trong nhiều giờ liền để trải nghiệm sự tinh khiết của "cú đánh hoàn hảo", nơi tâm và thân trở nên nhất thể, mà không đòi hỏi nó xảy ra ngay lập tức hay mỗi lần. Cả hai đều có thể tuyên bố một tỷ lệ cao những người có học thức và thành đạt, những người trân trọng mức độ năng lực và sự kiên trì liên quan đến việc đạt được sự nhẹ nhàng và tinh tế trong những điều kiện thử thách.
Những Ai Nên Tập Võ Thuật Nội Gia Sau Tuổi Ba Mươi
Về cơ bản có ba nhóm, trải dài từ những chuyên gia võ thuật đến những người hoàn toàn mới bắt đầu, những người nên tập võ thuật nội gia một cách tích cực sau tuổi ba mươi. Nhóm thứ nhất gồm những người trên ba mươi tuổi hiện đang tập các hệ thống bên ngoài và muốn duy trì mức độ kỹ năng thể chất của mình, và lý tưởng nhất, muốn thấy nó tăng lên thay vì giảm xuống. Các phương pháp của tất cả võ thuật nội gia có thể giúp những võ sĩ ngoại gia di chuyển tốt hơn và trơn tru hơn trong môn nghệ thuật đã chọn của họ. Nhấn mạnh của võ nội gia vào sự thư giãn đi sâu vào các dây thần kinh và cơ bắp của người tập nâng cấp tốc độ và phản xạ của những võ sĩ ngoại gia đang tập. Chẳng hạn, cao thủ Shotokan karate được kính trọng H. Kanazawa bắt các học trò đai đen của mình học thái cực quyền để enables họ làm karate tốt hơn. Càng nhiều cá nhân có thể học cách thư giãn cơ thể, họ càng có thể căng cơ thể một cách mạnh mẽ hơn, nếu họ chọn như vậy. Tuy nhiên, điều ngược lại thì không đúng. Những cơ thể đã quen với sự căng cứng thường không thể thư giãn tốt.
Hành Trình Cá Nhân Qua Võ Thuật
Võ Thuật Và Sự Lão Hóa
Tôi không còn là một người đàn ông trẻ nữa. Lúc còn thanh xuân, tôi đã sống qua và tận hưởng ngọn lửa mà những người trẻ có được từ việc tập võ thuật. Hầu hết bạn bè của tôi, những người từng tận tâm, không còn tập võ thuật nữa vì những hậu quả bình thường của tuổi già, và tôi đã cảm thấy nỗi buồn khi chứng kiến họ sống thiếu đi thứ từng là một niềm vui lớn lao đối với họ. Đecho lại lời của hàng triệu người ở Trung Quốc, tôi có thể nói một cách trung thực rằng bằng cách dùng võ thuật nội gia và khí công, tình trạng này không nhất thiết phải xảy ra. Tôi nói điều này với tư cách là một người nội gián võ thuật đang bước đến tuổi năm mươi tại thời điểm viết cuốn sách này, một người đã yêu và tập võ ngoại gia, ngoại/nội gia, và nội gia cho đến khi chúng trở thành một phần của máu và xương tôi.
Khía cạnh sức khỏe trị liệu của võ thuật nội gia sâu sắc không kém gì khía cạnh chiến đấu của nó. Mặc dù tôi cũng đã, cùng với các kỹ thuật chiến đấu của nó, chuyên sâu cá nhân về mặt sức khỏe của võ nội gia xuyên suốt những năm 1970, phải đến khi tôi làm việc với Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh) ở Bắc Kinh tôi mới học được sâu sắc và có lợi biết bao khía cạnh phục vụ cuộc sống khác này của võ nội gia có thể là. Từ từ và tỉ mỉ qua nhiều năm, Lưu đã đi qua tất cả các động tác với tôi một cách kiên nhẫn, lặp lại nhiều lần từ một góc độ năng lượng và trị liệu, cũng giống như chúng tôi cũng nhìn chúng từ góc độ chiến đấu, thiền định Đạo gia, và luyện kim nội đơn (internal alchemy). Chúng tôi liên tục phân tích những tác động của các động tác võ thuật nội gia lên mọi loại dòng chảy khí và sức khỏe, bình đẳng cho cả những người khỏe mạnh và muốn duy trì như vậy, lẫn những người có vấn đề cần giúp đỡ.
Ở Nhật Bản, Mỹ, và châu Âu, dân số nói chung đang bạc mái, điều làm cho sức khỏe và tuổi thọ có được từ võ nội gia trở nên vô cùng quan trọng. Tất cả những người đang già đi, dù là võ sĩ hay không, đều có thể được hưởng lợi sâu sắc từ việc học một số phương pháp nội gia có thể mang lại sức sống cho bất kỳ ai ở bất kỳ độ tuổi nào. Chất lượng cuộc sống đã trở thành một vấn đề lớn đối với những dân số đang già đi. Tôi sẽ lập luận rằng việc thực hành các kỹ thuật của khí công và nội công có thể là một cách thức đáng kinh ngạc để tăng chất lượng cuộc sống cho những người đang già đi.
Khả năng di chuyển mạnh mẽ mà không cứng cứng là một khác biệt lớn chủ yếu giữa những võ sĩ tầm thường và những võ sĩ ưu tú. Các kỹ thuật của võ thuật nội gia làm mềm các khớp và cơ bắp một cách đáng kể, nới lỏng những khuỷu tay, đầu gối, vai, và hông bị căng cứng. Việc thực hành những kỹ thuật này luôn luôn tăng tốc độ và sức mạnh xoay hông cần thiết trong tất cả võ thuật và nhiều môn thể thao. Khi những võ sĩ lớn tuổi học võ nội gia và khí công, họ thường có thể thực hiện các kỹ thuật hiện có mà họ đã thu thập được với tốc độ nhanh hơn.
Nhóm thứ hai bao gồm những võ sĩ lớn tuổi muốn tăng cường kho vũ khí kỹ thuật võ thuật mà họ đã làm chủ. Việc mở rộng cơ sở kiến thức của bạn có thể thú vị và đầy hưng phấn khi sự truyền thêm chất liệu mới làm cho môn nghệ thuật hiện tại của bạn càng lúc càng sống động. Học võ thuật nội gia không bao giờ thất bại trong việc đem lại những hiểu biết sâu sắc về thực hành võ thuật ngoại gia. Có một giá trị thực sự trong nghiên cứu cross-martial, điều đã được chứng minh đầy đủ bởi những võ sĩ cực kỳ thành tựu như người sáng lập aikido Ueshiba Morihei và ngôi sao điện ảnh Lý Tiểu Long (Bruce Lee).
Kỹ năng võ thuật nội gia có thể giúp giảm thiểu đáng kể nhiều khó khăn nảy sinh từ một cơ thể đang già đi làm bạn thất vọng. Điều này áp dụng cho những người tập chưa đến đai đen đang cố gắng phân loại xem điều gì làm cho một kỹ thuật võ thuật thực tế hay không. Nó cũng áp dụng cho những đai đen cấp thấp và cao cấp hoặc những tương đương của họ trong các võ thuật khác, những người muốn đạt được mức độ kỹ năng cao nhất có thể trong cuộc đời họ. Nếu sự quan tâm chính của bạn là học những khía cạnh của võ nội gia làm thư giãn và làm mượt bên trong cơ thể, thì bạn không cần phải tìm một sư phụ chiến đấu võ nội gia hùng mạnh (không quá phổ biến có sẵn ở phương Tây). Tuy nhiên, nếu khao khát của bạn là đi xa về mặt chiến đấu trong đời này hết mức có thể, thì bạn cần đến một người thầy người có thể trình diễn các phương pháp chiến đấu nội gia thay vì chỉ nói về chúng.
Nhóm thứ ba gồm những người trên ba mươi tuổi đã từng tập võ thuật, được lợi từ nó, muốn tiếp tục, nhưng buộc phải dừng lại do áp lực của công việc và đời sống gia đình. Hầu hết đã tập taekwondo hoặc karate và bỏ cuộc. Giờ đây đã trung niên hoặc lớn tuổi hơn, họ muốn quay lại võ thuật và tìm một thứ gì đó có thể duy trì hoặc nâng cấp sức khỏe của họ, chữa lành những chấn thương cũ, và cũng enables họ đạt được sức bền sẽ cho họ lợi thế để kiên trì và thành công, bất kể lĩnh vực công việc của họ là gì. Bởi vì trong các trường phái võ thuật nội gia chiến đấu không có sự ngã, không có đập tay cánh tay quá mức, và có considerably ít giao đấu tiếp xúc hơn, người lớn tuổi ít có khả năng nhận những chấn thương có thể can thiệp vào thời gian làm việc. Bạn có thể già đi cùng với võ thuật nội gia; bạn không cần phải bỏ cuộc hoặc tập nửa vời sau khi tuổi thanh xuân qua đi. Ngày nay, nhiều trường karate ngoại gia và võ công phu (gung fu) đang thêm thái cực quyền hoặc bát quái chưởng vào repertoire của họ chính vì những lý do này.
Võ Thuật Nội Gia Và Sức Khỏe Tâm Thần
Võ Thuật Nội Gia Cho Thanh Thiếu Niên
Một số võ thuật nội gia có lẽ có thể giúp đỡ với những vấn đề về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là với giới trẻ. Hiện nay, và rất có thể trong một thời gian dài trong tương lai, chúng ta đang ở trong một kỷ nguyên quá đông dân, một kết quả của nó là bạo lực lan tràn, đặc biệt giữa những thiếu niên thành thị ở thế giới phương Tây. Khía cạnh nghệ thuật/thiền định Đạo gia của bát quái chưởng để học cách giải quyết những xung đột nội tâm mà không có những hành vi bạo lực vốn có trong những võ thuật hung hãn hơn khác, khiến võ thuật nội gia tiềm năng quý giá để giúp giới trẻ của chúng ta "thuần hóa con thú dã man bên trong". Dưới bề mặt bạo lực của những thiếu niên và những người đàn ông trẻ đầu độ tuổi hai mươi nằm sự apathy khổng lồ, sự chối bỏ, sự vô vọng, và nỗi sợ hãi những không gian tối tăm, vô thức bên trong xã hội cũng như bên trong cơ thể/tâm trí cá nhân của chính họ. Để làm nhẹ bớt một nguồn chính của tội ác bạo lực và sự rối loạn chức năng con người, bao gồm cả nghiện ma túy, sẽ rất hữu ích nếu phát triển những phương pháp mới để giải phóng những không gian tối tăm này trước khi thiếu niên rối loạn chức năng trở thành người trưởng thành tự hủy hoại chính mình.
Bạo lực ngẫu nhiên của giới trẻ ăn mòn cấu trúc của xã hội. Những thanh niên với một hình ảnh bản thân mạnh mẽ, rõ ràng, và tích cực ít có khả năng làm hư hại vô ích bản thân và người khác hơn. Những thiếu niên bạo lực thường cần một cấu trúc mạch lạc mà họ có thể tin tưởng. Một cấu trúc như vậy có thể được tìm thấy trong võ thuật. Các yếu tố của nó bao gồm các hệ thống xếp hạng dựa trên công trạng khuyến khích cá tính và lãnh đạo, sự phát triển sức mạnh thể chất và sự phối hợp, và một nhóm tương tác cao mà một thiếu niên có thể thuộc về và đồng nhất với theo một cách tích cực.
Những Lợi Ích Về Sức Khỏe Tâm Thần Của Võ Thuật Nội Gia
Cuốn sách này giờ đây khép lại vòng tròn và quay lại chủ đề của Chương Một: võ thuật động vật, con người và tâm linh. Động vật phản ứng với những thôi thúc bản năng không thể kiểm soát, những thứ quyết định hành vi bên ngoài của chúng. Con người có khả năng nhận ra khi họ bị chiếm hữu bởi những bản năng động vật của mình. Thường tuy nhiên, họ không có sự kiên nhẫn hay sự định tâm tâm lý để lùi lại, nhận ra rằng những bản năng động vật của họ đang áp đảo họ, chọn quyết định xem họ có muốn đi theo con đường động vật hay con đường con người, và hành động tương ứng.
Việc thực hành võ thuật nội gia một cách nhất quán huấn luyện mọi người trong khả năng làm chứng (witness) những cảm xúc của họ, và chờ đợi cho khoảnh khắc quan trọng đó khi họ có thể quyết định ghi đè lên modus operandi giống động vật theo bản năng của mình. Khả năng quan sát và đưa ra một lựa chọn có ý thức trước khi hành động này được mài giũa mỗi lần những người tập thực hiện một bài quyền đơn luyện hoặc một ứng dụng chiến đấu. Trong các động tác đơn luyện, nó xảy ra trong lúc chờ đợi cho phần quan trọng của một phần nhỏ giây cần thiết để huy động tâm trí trước khi khí theo sau và bảo cơ thể hành động.
Trong các ứng dụng chiến đấu, nó xảy ra khi những người tập chờ đợi, ban đầu quan sát ý định của một đối thủ, và diễn giải những hệ quả của một hành động (một cuộc tấn công, phòng thủ, hoặc phản công tiềm tàng) trước khi họ lách vào khe hở và xoay chuyển tình huống võ thuật theo lợi thế của họ. Con người có khả năng chờ đợi và quan sát chính mình trước khi hành động; động vật thường không có, vì chúng phản ứng theo bản năng từ những hormone của chúng.
Về mặt tâm lý, những cảm xúc "dương" của sự lo âu, cơn giận dữ, sự muốn có không ngừng và sự thất vọng đi kèm với nó đều dần dần bị giảm bớt với việc thực hành võ thuật nội gia. Một số thực hành nội gia đóng góp vào việc làm bớt đi những cảm xúc rất con người này vốn làm giảm niềm vui sống. Thứ nhất là các kỹ thuật hơi thở, vốn có xu hướng làm lắng dịu tâm trí và làm mượt khuynh hướng của tâm trí bùng nổ và nổ tung. Thứ hai là sự làm tĩnh lặng tâm trí, vốn là một mục tiêu cơ bản của tất cả các thực hành đơn luyện võ thuật nội gia và một thành phần nền tảng của các ứng dụng chiến đấu của chúng. Khi sự tĩnh lặng tâm lý và tình cảm này bắt đầu lắng xuống hệ thần kinh, trở nên "được thể nhập" (embodied), nó cân bằng, làm lắng dịu, và thay đổi sinh lý học, từ đó loại bỏ nhiều triggers sinh học vô thức mà theo hormone duy trì một sự thiên hướng về thất vọng và giận dữ.
Võ thuật nội gia phát triển sự kiên nhẫn. Phát triển sự kiên nhẫn dần dần tạo ra một ý thức về sự bình thản tâm lý và sự chấp nhận về cuộc sống và những hoàn cảnh thay đổi thường không thể kiểm soát của nó, cái mà lần lượt tạo ra một ý thức khỏe mạnh hơn về sự cân bằng nội tâm và khả năng sống thoải mái với chính mình. Sức khỏe tâm lý ở một mức độ nào đó đòi hỏi con người đi đến những thỏa thuận thực tế với cả những sự kiện bên ngoài thường vượt quá khả năng kiểm soát của chúng ta, (cũng giống như nhu cầu kiểm soát của con người mong muốn chúng không phải như vậy) và những giới hạn con người của chính chúng ta, (chẳng hạn như muốn thực hiện một động tác tốt trước khi một người đã đặt vào đủ sự thực hành), cái mà không thể tránh khỏi sẽ cần thời gian và sự kiên nhẫn để làm mượt.
Những cảm xúc tâm lý "âm" của sự thiếu lòng tự trọng (cái có thể dẫn đến mọi loại cảm xúc "dương" tiêu cực bù đắp), sự tự hủy hoại, sự apathy, thiếu sự theo đuổi đến cùng, và trầm cảm cũng được giúp đỡ bởi thực hành võ thuật nội gia. Bất cứ điều gì làm cho năng lượng của một người chuyển động có thể có khả năng dịch chuyển sinh lý học vốn làm thiên hướng một người về nhiều loại trầm cảm. Những thực hành năng lượng cao của việc di chuyển nhanh (chẳng hạn như nhanh chóng Đi Vòng Tròn trong bát quái chưởng hoặc làm quyền đấm tốc độ hay các bài quyền nhanh trong thái cực quyền hay hình ý quyền) có thể đặc biệt hữu dụng để di chuyển năng lượng của một người ra khỏi một trạng thái trầm cảm.
Hành động đạt được năng lực trong võ nội gia có thể dần dần nâng cao lòng tự trọng của một người theo nhiều cách. Thứ nhất, bằng cách trở nên có năng lực một cách thực tế trong một thứ bản chất không dễ dàng, một người phát triển sự theo đuổi đến cùng và nhận ra những gì có thể đạt được trong cuộc sống, cái đem lại một lực phản kháng thực tế để vượt qua những khuynh hướng thất bại trước đây và cảm giác vô giá trị. Thứ hai, võ nội gia có thể làm cho mọi người ý thức rằng họ có thể "kết nối" với bên trong của họ trong những khoảng thời gian dài, mà không có sự khó chịu.
Càng nhiều một người đào sâu vào những thực hành tâm linh của võ thuật, môi trường nội tâm tự nhận thức của họ càng trở nên rõ ràng và rộng lượng hơn. Một khi điều này xảy ra, nhu cầu cho những hành vi tự hủy hoại được thúc đẩy vô thức có thể bắt đầu suy giảm tự thân.
Phát hiện ra rằng hành động tích cực đem lại những lợi ích nội tâm và năng lực thực sự cũng dần dần cắt bỏ nền đất từ đó sự apathy bám rễ và lớn lên. Vượt qua sự apathy hướng tới một hướng đi tích cực hơn trong cuộc sống nằm ở cốt lõi của tất cả các thực hành võ thuật tâm linh.
Khi một người tập bước vào giai đoạn tâm linh chủ động của võ thuật, anh ta hoặc cô ta deliberately tìm cách giải quyết tất cả những gì ngăn cản sự nở hoa trọn vẹn của tình yêu, lòng trắc ẩn, sự bình thản, sự tha thứ, công lý, sự hào phóng, và trí tuệ. Những phẩm chất này đều đóng góp vào một môi trường tâm lý khỏe mạnh và có khả năng vượt qua tất cả những giới hạn tâm lý.* Bằng cách này, mọi người có thể "đánh bại" "bản chất thấp kém" của chính mình và có thể trỗi dậy "chiến thắng" để hoàn thành tiềm năng mà tất cả con người được sinh ra cùng với nó.
*Điều quan trọng cần lưu ý là, bất kể những lợi ích sức khỏe tâm thần nào chúng có thể đem lại cho một người tập, võ thuật nội gia không phải là một sự thay thế cho tâm lý trị liệu. Những ai có vấn đề tâm thần hoặc tình cảm nên tìm giúp đỡ từ một chuyên gia sức khỏe tâm thần có trình độ.
Chân Dung Một Vị Sư Phụ Nội Gia
Chữa Lành Cho Người Khác — Hoàng Hi Nghĩa (Huang Hsi I) Và Khí Chữa Trị Liệu
Hoàng Hi Nghĩa (Huang Hsi I) có thân hình vạm vỡ, cao ngang với chiều cao trung bình của một người đàn ông Mỹ, nhưng cao so với một người Đài Loan bản xứ. Sức mạnh và khí dồi dào của ông (cả tự nhiên lẫn được huấn luyện) kết hợp với đôi tay khổng lồ, cực kỳ nhạy cảm, đã làm ông trở thành một người chữa lành tuyệt vời trong công việc cơ thể trị liệu khí công và liệu pháp xương khớp (osteopathy) Trung Hoa. Giống như nhiều người ở Đài Loan, ông xuất thân từ nền tảng nông dân, và do đó có một sự gần gũi mạnh mẽ với những sinh vật sống, bao gồm cả cây cỏ và thảo dược. Ông yêu thích nấu ăn cho người khác, và là một trong số ít người đàn ông mà tôi từng gặp có thể chuẩn bị thức ăn với các thảo dược trị liệu và làm cho những món ăn đó có vị ngon. Rất uyển chuyển về mặt thể chất, Hoàng có một thói quen đáng mến là xổm xuồng bằng cả bàn chân trên một chiếc ghế đẩu nhỏ trong khi nói chuyện điện thoại. Mặc dù ông ăn mặc theo quần áo hiện đại, ông là một người Trung Hoa rất cổ điển, bảo thủ, với một trái tim vàng. Ngay cả theo tiêu chuẩn Trung Hoa, ông cũng là một người kỳ quặc. Trong vài năm khi chúng tôi là bạn cùng phòng, Hoàng sống theo một cảm thức nông thôn về thời gian dựa trên các mùa. Ông không chú ý nhiều đến đồng hồ, điều gây cho tôi, cũng như nhiều người khác biết ông, một sự thất vọng cực độ. Cuối cùng, tất cả chúng tôi đều đầu hàng trước cảm thức của Hoàng về dòng chảy tự nhiên của các sự kiện đang mở ra, phớt lờ những lịch trình và kỳ vọng của chính mình. Khi Hoàng và tôi ở bên nhau, ông đang học cách dùng tiếng Quan Thoại một cách tự nhiên, thay vì tiếng Đài Loan bản xứ của ông, thứ mà tôi không biết. Mặc dù tiếng Quan Thoại của ông cuối cùng trở nên rất ổn, vào thời điểm đó nó tạo nên một sự hài kịch của những lỗi lầm ngôn ngữ và văn hóa. Những vấn đề giao tiếp này có thể đã làm cho tình huống không thể chịu đựng nổi nếu chúng tôi không có một tình cảm tự nhiên như vậy dành cho nhau, và tôi không có một sự tôn trọng to lớn như vậy đối với những thành tựu của ông. Tôi cũng thích khiếu hài hước của ông. Bên cạnh là một cao thủ võ thuật nội gia excepcional, Hoàng không nghi ngờ gì là một trong những nhà trị liệu khí công và người làm việc cơ thể có năng khiếu nhất mà tôi từng gặp trong suốt thời gian ở Phương Đông của mình.
Tôi sống và học với Hoàng Hi Nghĩa vào các năm 1978 và 1979. Vào thời điểm đó, ông là một trong những học trò hình ý quyền mạnh mẽ nhất của Hùng Nghĩa Tương (Hung I Hsiang). Hoàng, trước, trong và sau thời gian với Hùng, đã lặng lẽ học với một số những sư phụ nội gia lão luyện nhất của Đài Loan từ Đại Lục. Trong những năm chúng tôi là bạn cùng phòng, Hoàng — trong tất cả học trò của Hùng — rõ ràng có sự chỉ huy tinh tế và tinh xảo nhất về Nhu Thủ (Rou Shou) mà tôi từng thấy.
Hoàng đã giới thiệu tôi với khí công cột sống, và là một ảnh hưởng lớn trong việc huấn luyện khí công tui na của tôi. Trong chuyến đi dài thứ hai của tôi đến Đài Loan, tôi học ít thường xuyên hơn với Hùng Nghĩa Tương (xem tr. 203), lấp đầy nhiều khoảng trống quan trọng với Hoàng. Hoàng nhận tôi làm em trai của ông, tránh nhiều cấu trúc Nho giáo kỳ lạ của việc làm đệ tử mà về mặt văn hóa sẽ làm cho cuộc sống trở nên cực kỳ phức tạp đối với tôi với tư cách là một người nước ngoài. Kỹ năng hình ý quyền và bát quái chưởng của Hoàng rất cao, và sự nắm bắt của ông về khí công nội Đạo gia đạt mức độ hiếm có đối với một người đàn ông trẻ như vậy.
Phương pháp giảng dạy của Hoàng là của trường phái truyền thống: để học trò chật vật tìm thấy ý nghĩa thiết yếu của một kỹ thuật nội gia bên trong chính họ từ những thông tin được truyền đạt nhưng không được đánh vần chính xác. Hoàng cực kỳ có tài năng trong việc chỉ dạy mà không trực tiếp tường minh, đó là một trong những phương pháp giảng dạy Đạo gia kinh điển.
Chủ yếu thông qua việc giảng dạy của Hoàng mà tôi có thể hoàn toàn hiểu phần lớn những gì Hùng Nghĩa Tương đang truyền đạt. Hoàng cũng là người đầu tiên làm cho tôi hiểu tầm quan trọng của phương pháp Đạo gia làm việc với các đốt sống cột sống và hệ thần kinh tủy sống. Chính những ứng dụng cá nhân của nhiều kỹ thuật của ông đã allows tôi bắt đầu hồi phục từ những chấn thương lưng nghiêm trọng mà tôi gánh chịu trong một vụ tai nạn xe hơi (đốt sống nứt và mô mềm bị rách) vào năm 1982. Nếu không có tri thức khí công cột sống mang lại sự sống mà Hoàng Hi Nghĩa, Lưu Hồng Khiết, và một số sư phụ khí Đạo gia khác đã dạy tôi, tôi sẽ không bao giờ đi lại được sau vụ tai nạn đó, và rất có thể đã chết ngay trong chính vụ tai nạn. Phương pháp của Hoàng giúp tôi rất nhiều với cơn đau liên tục mà tôi chịu đựng ngay sau vụ tai nạn. Về sau, thái cực quyền lão gia Dương (Old Yang style) của Lâm Độc Anh (Lin Du Ying) giúp chữa lành lưng trên và cổ của tôi, và cuối cùng thái cực quyền lưu phái Ngô (Wu style) do Lưu dạy đã chữa khỏi lưng dưới của tôi.
Chữa Lành Cho Người Khác — Hoàng Hi Nghĩa Và Khí Chữa Trị Liệu (tiếp theo)
Hoàng là một chuyên gia về các tư thế đứng khí công của Đạo giáo, công việc khí của hình ý quyền, và các phương pháp biểu hiện ánh sáng trong cơ thể thông qua đứng và khí công động tác tự phát. Hoàng đã lấy tri thức về khí, công việc di chuyển tay của bát quái chưởng, và võ thuật nội gia của mình, và trực tiếp chuyển nó vào đấu trường có lợi của liệu pháp và chữa lành. Ông đã bắt đầu và phát triển một sự hành nghề cực kỳ thành công như một bác sĩ khí công.
Phụ Lục A: Các Lưu Phái Thái Cực Quyền Khác Nhau
Một Lược Sử Ngắn — Nguồn Gốc Các Lưu Phái Thái Cực Quyền Khác Nhau
Nhiều người đã tuyên bố biết chính xác nguồn gốc của thái cực quyền. Một số tuyên bố này dường như khá hợp lý, một số rõ ràng cần được xem xét kỹ, và những người khác dường như được tạo ra từ lợi ích cá nhân. Có quá nhiều sách viết về nguồn gốc của thái cực quyền, cả bằng tiếng Trung lẫn các ngôn ngữ khác, đến nỗi chỉ một lịch sử xương sống được trình bày ở đây. Lịch sử ngắn gọn này liên quan đến những điểm có giá trị cho những học trò thái cực quyền, những người sẽ được hưởng lợi từ môn nghệ thuật này trong môi trường công nghệ cao của thế kỷ hai mươi mốt. Cũng như truyền đạt các kỹ năng chiến đấu, tất cả võ thuật nội gia, bao gồm thái cực quyền, đều cực kỳ quý giá cho sức khỏe và chữa lành, giảm và quản lý stress, và cung cấp một ý thức về sự cân bằng rất cần thiết trong đời sống chung của một người.
Nguồn gốc của thái cực quyền trước khi nó đến làng họ Trần (Chen village) thì mở ra cho tranh cãi, và sẽ cực kỳ khó khăn để xác minh về mặt lịch sử vượt qua một bóng tối của sự nghi ngờ. Tuy nhiên, một điều có thể nói với sự chắc chắn: Trong thời hiện đại, nguồn rõ ràng của cái được công nhận rộng rãi là thái cực quyền cấp cao bắt nguồn từ làng họ Trần ở miền trung Trung Quốc.*
Để thực sự hiểu nguồn gốc của bất kỳ lưu phái hay trường phái cụ thể nào, việc nhìn vào cái mà nó thực sự làm bây giờ mới mang tính bộc lộ hơn, hơn là nghiên cứu lịch sử sớm của nó. Bằng cách này, một người có thể khám phá ra những loại kỹ năng công phu (gung fu) mà các thầy của nó hiện sở hữu và những học trò chăm chỉ của nó bắt đầu biểu hiện. Để phân biệt sự cường điệu và tư duy theo ý muốn khỏi thực chất, hãy nhìn vào bản chất của những động tác chiến đấu bên ngoài mà một trường phái đang dạy, công việc nội đang được truyền đạt, và những chỉ thị bằng lời được nhấn mạnh nhất của nhóm. ("Thư giãn!" "Hạ xương cụt xuống!" "Chìm khí xuống!" "Mở và đóng các khớp và cột sống của bạn!" và cứ thế.) Tóm lại, hãy tập trung vào cấu trúc thực sự của những gì họ làm, vì cuối cùng đó là tất cả những gì bất kỳ học trò nào sẽ bị phơi bày ra. Câu chuyện lịch sử về một bữa ăn ngon có thể quyến rũ, nhưng thường kém thỏa mãn hơn việc nếm những hương vị của bữa tối hôm nay.
*Ghi chú của biên tập viên: Tác giả đã học lưu phái Trần của thái cực quyền ở Bắc Kinh vào giữa những năm 1980 với Phùng Chí Cường (Feng Zhi Qiang), học trò của Trần Phát Kha (Chen Fa Ke) ở làng họ Trần.
Thái Cực Quyền Nguyên Thủy Của Làng Họ Trần
Có bốn lý thuyết chính liên quan đến việc thái cực quyền lần đầu tìm đường vào làng họ Trần (nghĩa là, nguồn gốc của thái cực quyền). Lý thuyết Một nói rằng vị Tiên Đạo gia nổi tiếng Trương Tam Phong (Chang San Feng) đã quan sát một con rắn và một con sếu đang đánh nhau. Từ quan sát này, ông đã tạo ra một môn võ thuật nội gia mềm mới, khác với công phu gung fu chùa Thiếu Lâm bên ngoài, và ông truyền vào đó tất cả trí tuệ, những chiến lược quân sự, và các phương pháp trường thọ của Đạo giáo. Tri thức này truyền xuống Vương Tông Nhạc (Wang Tsung Yueh), người đã đến làng gia đình họ Trần ở miền trung Trung Quốc, nơi rõ ràng nằm ngoài con đường thường đi và located xấp xỉ khoảng một tuần đi ngựa từ chùa Thiếu Lâm. Lý thuyết Hai nói rằng Vương Tông Nhạc học thái cực quyền từ một trong nhiều dòng truyền thừa có thể có mà nguồn của chúng không hoàn toàn rõ ràng, có thể là của Trương Tam Phong, hoặc những dòng truyền thừa già hàng trăm năm hơn. Tại điểm này, Lý thuyết Một và Lý thuyết Hai hòa nhập vào nhau.
Một đêm, Vương đến quán trọ địa phương của làng gia đình họ Trần, nơi hầu như mọi người đều là họ hàng bằng máu hoặc bằng hôn nhân. Một cuộc trò chuyện nối tiếp. Dần dần, Vương proceeds đầu tiên bôi nhọ và sau đó xúc phạm môn võ thuật của làng, thứ mà họ Trần rất tự hào, và là thứ mà ngôi làng phụ thuộc để phòng thủ chống lại những quân phiệt và bọn cướp. Theo thời gian, những người làng trở nên vô cùng phẫn nộ. Họ bùng nổ và tấn công Vương. Ông chấp nhận thách thức, và sau đó proceeds đánh cho họ một trận ra trò theo một cách thuyết phục và ngoạn mục nhất. Ngày hôm sau, những người làng hỏi Vương liệu ông có thể dạy họ môn võ thuật kinh ngạc này không. Ông đồng ý. Tuy nhiên, ông không có thời gian để dạy họ các động tác thể chất của môn võ thuật của mình. Thay vào đó, ông đã thích nghi các nguyên tắc của môn võ thuật Đạo gia của mình với lối võ thuật bên ngoài giống Thiếu Lâm của họ, gọi là Quyền Pháo (Cannon Fist).
Trong Lý thuyết Ba, thái cực quyền được tạo ra bởi Trần Vãn Đình (Chen Wan Ting) của làng họ Trần, người đã từng là một tướng chiến đấu trong quân đội của Kỳ Kỳ Quang (Chi Chi Guang), vị tướng nổi tiếng nhất của Trung Quốc thời bấy giờ. Với tư cách như vậy, Trần được kỳ vọng thực hiện nghệ thuật chiến đấu thực sự ngang bằng hoặc tốt hơn quân đội của ông,* và có thể bị yêu cầu chấp nhận những thách thức thể chất để chứng minh giá trị của mình trong tích tắc. Trần Vãn Đình được cho là đã kết hợp các nguyên tắc của lý thuyết y học Trung Hoa và hệ thống kinh mạch châm cứu với các phương pháp chiến thuật của Kỳ. Hai mươi chín trong ba mươi hai kỹ thuật cơ bản của thái cực quyền Trần hầu như giống hệt những kỹ thuật trong sách huấn luyện quân sự của Kỳ Kỳ Quang cho quân đội của ông. Phương pháp của Kỳ rõ ràng là dựa trên Thiếu Lâm.
Trong Lý thuyết Bốn, thái cực quyền được đưa đến làng họ Trần bởi một người đàn ông tên là Khương Phát (Jiang Fa), người đang chạy trốn vì những lý do không xác định. Khương được ban cho nơi trú ẩn chính trị và sự bảo vệ bởi Tướng Trần Vãn Đình (Chen Wang Ting) để đổi lấy việc dạy ông và thị tộc của ông thái cực quyền. Trong lý thuyết này, Khương Phát biết cả hệ thống sức mạnh nội của Vương Tông Nhạc (Wang Tsuang Yueh) và các phương pháp chiến thuật của Kỳ Kỳ Quang. Kỳ gọi những thứ này là Trường Quyền (Chang Chuan), thứ thực chất là một bộ sưu tập những kỹ thuật chiến đấu Thiếu Lâm tốt nhất của Trung Quốc thế kỷ thứ mười sáu.
Tuy nhiên, chi tiết về việc Khương Phát đã đến sở hữu tất cả tri thức này như thế nào bị để lại mơ hồ. Trong lý thuyết thứ tư này, Trần Vãn Đình vẫn là một tướng chiến đấu nhưng dưới một vị tướng nhà Minh khác thay vì Kỳ Kỳ Quang. Sau khi Khương Phát dạy Trần Vãn Đình chất liệu cuối cùng* trở thành bài quyền thái cực đầu tiên của làng họ Trần, Trần Vãn Đình tự mình tạo ra cái cuối cùng trở thành bộ bài thái cực quyền Trần thứ hai, gọi là Quyền Pháo (Cannon Fist).
Theo quan điểm của tác giả, chỉ có hai điều hợp lý có thể được xem xét. Thứ nhất, rằng lưu phái gia đình họ Trần của thái cực quyền trực tiếp bắt nguồn từ, hoặc có một tiền thân chung với, sách hướng dẫn quân sự của Kỳ Kỳ Quang. Thứ hai, mặc dù lưu phái Trần rõ ràng sử dụng các điểm châm cứu và lý thuyết đường kinh mạch, nó nhất quán, đặc biệt ở các cấp độ huấn luyện trung và thượng, với phương pháp nội công Đạo gia truyền thống hoàn chỉnh hơn, mà hệ thống kinh mạch châm cứu chỉ là một phần.
*Cấu trúc quân sự Trung Hoa thường khác với cấu trúc phương Tây, nơi vị tướng ngồi lùi lại xa khỏi cuộc hỗn chiến, chỉ huy trận đánh. Ở Trung Quốc cổ đại, khi hai đội quân giáp mặt trên một chiến trường, đôi khi hai vị tướng hàng đầu sẽ cưỡi ngựa ra thẳng giữa cánh đồng để đơn đấu một đối một, trong khi cả hai bên xem. Những vị tướng này huấn luyện quân đội của họ, và quân đội sử dụng các phương pháp chiến đấu của họ. Nếu một vị tướng thua, quân đội của ông ta sẽ diễn dịch điều này như là đội quân kia có công nghệ quân sự (nghĩa là, võ thuật) ưu việt hơn. Bên thua khi đó có thể đầu hàng hoặc tan rã.
*Nguyên thủy, lưu phái thái cực quyền Trần có sáu bài quyền, theo thời gian, được cô đặc lại thành hai bài — Bộ Một và Quyền Pháo.
Thái Cực Quyền Rời Làng Họ Trần Và Trở Thành Lưu Phái Dương, Sau Đó Là Lưu Phái Hao
Lưu Phái Trần Trở Thành Lưu Phái Dương Của Thái Cực Quyền
Trong thế kỷ tiếp theo, làng họ Trần phát triển môn võ thuật nội gia này lên một mức độ rất cao. Ngôi làng thịnh vượng bằng cách trồng và bán thảo dược, và thành công một phần vì khả năng canh giữ sự vận chuyển những sản phẩm quý giá của nó. Vào thế kỷ mười chín, Dương Lộ Thiền (Yang Lu Chan, 1799–1872), một thanh niên có tài và có động lực với tình yêu vĩ đại dành cho võ thuật, được thầy của mình, một người đàn ông tử tế có chính trực, bảo rằng thầy không thể đưa anh đi xa hơn được nữa. Vị thầy nói rằng môn võ thuật của làng họ Trần đạt đến tiêu chuẩn của tài năng của chàng thanh niên, và là nơi lý tưởng để anh đến. Tuy nhiên, những lời dạy của môn võ thuật kinh ngạc này là bí mật và bị cấm đoán đối với những người không phải thành viên gia đình.
Bị chiếm hữu bởi khao khát học môn nghệ thuật này, Dương đã vạch ra một kế hoạch để vào làng gia đình họ Trần, nơi bị cấm đối với người ngoài. Giả điếc một cách thuyết phục, ông đã quản lý để trở thành một người hầu cho gia đình của người lãnh đạo võ thuật của thị tộc. Dương làm việc chăm chỉ, đáng tin cậy hoàn thành các nhiệm vụ của mình, dần dần trở nên hoàn toàn được tin tưởng, và được trao chìa khóa cho tất cả các phòng. Những chiếc chìa khóa cho phép ông quan sát việc huấn luyện nội mà không bị phát hiện khi nó được thực hiện sau những cánh cửa khóa. Sau khi việc huấn luyện kết thúc, Dương đã cần mẫn thực hành những gì ông đã thấy đến tận khuya, thức dậy sớm hơn những người khác để hoàn thành vai trò người hầu đáng tin cậy của mình. Quá trình bí mật này đã diễn ra trong vài năm.
Một ngày nọ, Dương bị bắt quả tang. Một số học viên đòi ông phải bị đuổi khỏi làng tại chỗ; những người khác muốn xé xác ông ra. Vị thầy chính cho phép Dương trình diễn các động tác ông đã học được qua việc do thám. Tiếp theo, Dương được phép nhận những thách thức từ các học viên, những người mà ông đã đánh bại một cách thuyết phục. Đầu của thị tộc suy ngẫm câu hỏi, "Nếu chàng thanh niên này đã đi xa đến thế mà không cần chỉ dạy, thì anh ta có thể làm gì với nó?" Trần đã bị ấn tượng với bản tính tốt và nhân cách của Dương, và đánh giá cao sự kiên nhẫn lớn lao mà chàng thanh niên đã tập luyện để có cơ hội học hỏi. Quyết định rằng tài năng, sự kiên trì, và năng lực rõ ràng của Dương không thể bị từ chối, Trần đã cho ông một sự khởi đầu cuối cùng, thử thách sự chân thành và sự tôn trọng truyền thống Nho giáo của ông đối với một người thầy. Dương đã vượt qua với màu sắc rực rỡ. Ông sớm trở thành học trò được yêu thích của Trần.
Sáu năm đầu của việc huấn luyện của Dương tập trung vào việc dạy ông công việc sức mạnh nội của bài quyền, chính xác và tỉ mỉ đến từng chi tiết nhỏ nhất. Trong sáu năm tiếp theo, sự tập trung là vào việc tinh luyện các khả năng lắng nghe, diễn giải, và xả thải năng lượng của ông lên một mức độ cao với huấn luyện Đẩy Tay, và huấn luyện cả có vũ khí lẫn không vũ khí. Sáu năm cuối của việc huấn luyện của Dương được dành cho việc học các kỹ thuật chiến đấu và chiến lược để dùng chống lại những đối thủ chí mạng, có động lực, cả tay không lẫn có vũ khí.
Dương hoàn thành nền giáo dục võ thuật của mình và rời đi với những lời chúc tốt đẹp của thầy và sự sẵn lòng cho phép ông lan truyền thái cực quyền ra ngoài làng và dạy bất kỳ ai ông muốn. Dương đi khắp Trung Quốc, thách đấu mọi cao thủ và sư phụ được kính trọng để thử thách chân lý của môn nghệ thuật của mình, cả tay không lẫn với vũ khí ưa thích của ông, cây thương, được biết đến như là "vua của các vũ khí truyền thống Trung Hoa".
Bất kể ông đi đâu, Dương đều đánh bại mọi người một cách không thể nghi ngờ, mà không làm họ bị thương, ngay cả những người cố gắng tàn tật hoặc giết ông — một mức độ kỹ năng tối thượng đã làm cho ông được công nhận rộng rãi như một sư phụ võ thuật của cấp độ cao nhất.* Từ những thách đấu này, ông giành được tên gọi "Dương Bất Bại" (Yang the Invincible). Mức độ kỹ năng của ông cuối cùng đã mang lại cho ông công việc thầy dạy võ thuật cho đội cận vệ của Hoàng đế, một vị trí được dành cho người được chứng minh là võ sĩ giỏi nhất Trung Quốc. Theo thời gian, hệ thống mà Dương dạy trở nên được biết đến như là thái cực quyền gia đình Dương, hay đơn giản, thái cực quyền lưu phái Dương.
*Những câu chuyện về Dương Lộ Thiền rất nhiều. Ông là một nhân vật huyền thoại xứng đáng trong võ thuật Trung Hoa. Truyền thuyết kể rằng một khi ông rời làng họ Trần, ông không bao giờ thua một trong nhiều trận đấu của mình. Vô số sách thái cực quyền lưu phái Dương bằng tiếng Anh và tiếng Trung kể những câu chuyện truyền cảm hứng tuyệt vời về những chiến công võ thuật của ông cũng như của các con trai ông. Những câu chuyện này minh họa những kỹ năng mà thái cực quyền có khả năng, nhưng thường thiếu các chi tiết đầy đủ về cách những kỹ năng này được thu thập. Nhiều trong những kỹ năng này vẫn tồn tại ngày nay, trong khi những kỹ năng khác dường như đã bị mất đối với các thế hệ sau.
Lưu Phái Dương Kết Hợp Tiểu Lưu Phái Trần Sinh Ra Lưu Phái Hao/Vũ
Trong khi tiếp tục dạy những tinh hoa của Hoàng đế, Dương cũng dạy những công dân bình thường ở Bắc Kinh. Một trong những học trò đầu tiên của Dương là một người đàn ông tên là Vũ Vũ Tương (Wu Yu Hsiang). Sau khi học ban đầu với Dương, Vũ quyết định đến làng họ Trần để mở rộng sự tiếp xúc của mình với môn nghệ thuật tuyệt vời này. Trên đường đi để gặp sư phụ của Dương, thay vào đó ông được giới thiệu với một sư phụ lưu phái Trần hàng đầu của phương pháp động tác nhỏ. Vũ học với ông và học tốt lưu phái nhỏ. Trong một góc của một cửa hàng muối gần làng họ Trần, Vũ, có thể cùng với các anh em của ông, đã khám phá ra Thái Cực Kinh (Tai Chi Classics), thứ mô tả những nền tảng triết học và vận hành của môn võ thuật nội gia gia đình họ Trần. Khoảng thời gian này ở Bắc Kinh, tên gọi thái cực quyền lần đầu được đặt ra, dựa trên các nguyên tắc triết học Đạo gia. Cái tên tiếp tục cho đến ngày nay. Nghệ thuật của Vũ tập trung vào khía cạnh khung nhỏ (small-frame) của thái cực quyền (xem tr. 111), thứ ngày nay hiếm khi được tìm thấy ở dạng nguyên chất của nó. Trong thế kỷ hai mươi, lưu phái Vũ Vũ Tương đã đổi tên và cuối cùng trở nên được biết đến như là lưu phái Hao, sau Hao Wei Zhen. Nó cuối cùng hợp nhất với các thực hành hình ý quyền và bát quái chưởng của Tôn Lộc Đường (Sun Lu Tang) để trở thành thái cực quyền lưu phái Tôn (Sun style).
Lưu Phái Dương Cũ Chuyển Thành Lưu Phái Dương Mới
Trước thế kỷ hai mươi, sự thành công và địa vị kinh tế của những chuyên gia võ thuật thái cực quyền chủ yếu dựa trên khả năng thuyết phục mọi người rằng họ ưu việt về mặt thể chất trong những đối đầu thực sự, tiềm tàng chí mạng, có hoặc không có vũ khí truyền thống. Hơn nữa, họ phải có khả năng truyền lại tri thức võ thuật của mình theo những cách cũng sẽ allows học trò của họ đạt được những khả năng phi thường của họ. Từ khi bắt đầu ở Trung Quốc, võ thuật thường được xem là siêu nhiên hoặc thiêng liêng. Súng tự động chưa được phổ biến rộng rãi và việc sử dụng sức mạnh tương đối ưu việt của khẩu súng, "cân bằng gia" cũ, chưa thâm nhập vào tư duy Nho giáo bảo thủ.
Tình huống này thay đổi đột ngột vào năm 1900 với Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn (Boxer Rebellion), nơi những võ sĩ — được báo chí phương Tây gọi là Những Người Đấm Bốc (Boxers) — được triều đình nhà Thanh đang hấp hối tuyển mộ để chiến đấu và đuổi các cường quốc phương Tây ra khỏi Bắc Kinh. Những Người Đấm Bốc đã thua, với những hậu quả khủng khiếp.
Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn đã làm cho Trung Quốc sốc vào thế giới hiện đại bằng hỏa lực súng máy, và Bắc Kinh bị chinh phục một cách hiệu quả bởi các quốc gia phương Tây và Nhật Bản mới được công nghiệp hóa. Những kẻ ngoại quốc đã đốt ấn tượng của chiến thắng của họ vào ý thức Trung Hoa bằng cách xẻ Trung Quốc ra thành những "nhượng địa" (concessions), hay những thuộc địa. Trước thất bại này, người Trung Hoa thường tin rằng võ thuật có thể giáp ranh với "siêu nhiên", và nhiều người không tin tưởng rằng súng ống ưu việt hơn võ thuật. Giờ đây họ tin rồi. Mặc dù võ thuật nội gia có một lợi thế rõ ràng hơn võ thuật ngoại gia, chúng hầu như không có lợi thế gì trước súng lặp hoặc tự động. Thái cực quyền chiến đấu của Dương Lộ Thiền đã thay đổi trọng tâm sau Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn, khi người Trung Hoa rõ ràng nhận ra súng có thể làm gì, và rằng súng đã đến ở lại.
Lưu phái Dương cũ. Trọng tâm trong phương pháp của Dương trước Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn là vào các kỹ thuật chiến đấu. Việc huấn luyện tập trung vào cả việc sản sinh sức mạnh và làm thế nào để sử dụng hiệu quả sức mạnh đó dưới những điều kiện chí mạng.* Trong suốt cuộc đời của Dương Lộ Thiền, con trai ông Phan Hầu (Pan Hou), cháu nội ông Thiếu Hầu (Shao Hou), và Vũ Kiến Tuyền (Wu Jien Chuan), Đẩy Tay không được đồng nhất với huấn luyện chiến đấu. Các động tác của băng (peng), lã (lu), kê (ji) và án (an) (xem các tr. 127–135) được nhấn mạnh nhiều hơn trước Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn. Những học trò của thế hệ này được dạy thái cực quyền như một môn võ chiến đấu.
*Võ thuật Nhật Bản đã trải qua sự chuyển đổi tương tự này vì những lý do khác. Sau cuộc duy tân Minh Trị (Meiji restoration), các samurai không còn được phép đeo kiếm và đấu tay đôi hay thách đấu đến chết một cách hợp pháp. Võ thuật seriously tập trung vào các kỹ thuật thực sự của chiến đấu chí mạng được gọi là jitsu như trong jujitsu. Những môn tập trung chủ yếu vào khía cạnh giáo dục thể chất, tâm linh, và xây dựng nhân cách của võ thuật được gọi là do (Đạo trong tiếng Trung), như trong judo.
PHỤ LỤC A — CÁC PHONG CÁCH KHÁC NHAU CỦA THÁI CỰC QUYỀN: MỘT LỊCH SỬ TÓM TẮT
môn võ thuật, và những bài quyền họ tập được gọi là phong cách Dương gia cổ. Bài quyền và Đẩy Tay được xem chủ yếu như những kỹ năng chuẩn bị hữu ích, những viên đá lót bước hướng tới khả năng thực sự có thể thực hiện thành công các ứng dụng chiến đấu trong chiến đấu không kịch bản. Nhiều trong số các học trò của thế hệ đó đã được dạy các kỹ năng chiến đấu thái cực quyền một cách khá trực tiếp. Những lời dạy võ thuật này, dù hiện nay chỉ còn là thiểu số, vẫn tồn tại và tiếp tục được giảng dạy cho đến ngày nay.
Chú thích của biên tập viên: Tác giả đã học phong cách Dương gia cổ với Lâm Đỗ Anh vào những năm cuối đời của Lâm, tại Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc đại lục, vào năm 1983. Lâm vốn học môn nghệ thuật này tại Bắc Kinh và Thượng Hải. Các thầy của ông là Điền Triệu Lân và Ngô Huệ Xuyên, hai trong số những võ sĩ thái cực quyền giỏi nhất ở Bắc Trung Quốc, và là học trò của Dương Ban Hầu.
Phong Cách Dương Mới
Phần lớn phong cách Dương gia được tập luyện ngày nay bắt nguồn từ người cháu trai khác của Dương, là Dương Thành Phủ, người không thực sự trưởng thành trong nghề cho đến sau cuộc Nghĩa Hòa Đoàn. Khi còn trẻ, Dương Thành Phủ đã sa vào lối sống sa đọa, rượu chè và ở chốn lầu xanh, nên đã không hoàn tất được huấn luyện chiến đấu cổ điển. Thế nhưng, ông lại rất giỏi Đẩy Tay. Vào thời của ông, những năm 1920 và 1930, các học trò rất quan tâm đến việc trở nên khỏe mạnh và cường tráng, và đó chính là điều mà việc thực hành Đẩy Tay mang lại. Tuy nhiên, họ không mấy hào hứng với cấp độ tinh thông võ thuật tiếp theo, vốn thường đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn mức họ sẵn lòng bỏ ra để đạt được công phu trình độ cao.
Ngày nay, việc tìm được những người có thể dạy mặt chiến đấu cũng khó như tìm được những người sẵn lòng bỏ ra thời gian và công sức cần thiết để đạt tới sự tinh thông. Khi chúng ta tiến gần hơn đến thiên niên kỷ mới, hầu hết các trường phái thái cực quyền thậm chí còn không thực hành Đẩy Tay một cách nghiêm túc, và càng ít hơn nữa đạt đến trình độ ứng dụng chiến đấu. Việc học cả Đẩy Tay lẫn mặt ứng dụng chiến đấu của thái cực quyền—dựa trên sự tĩnh lặng và minh mẫn thay vì một cơn bùng phát hoóc-môn thú tính—mang lại nhiều giá trị về mặt tu dưỡng cá nhân.
** Câu chuyện kể rằng người chú của ông đã nhốt Dương Thành Phủ trong một căn phòng suốt vài năm, và không cho ông ra ngoài cho đến khi chàng trai trẻ có thể đánh bại ông ta ở môn Đẩy Tay. Ở Trung Quốc, còn có một câu chuyện truyền miệng khác phổ biến hơn, và có khả năng đúng hơn. Nó suy đoán rằng sau cái chết của cha và chú, và sau khi nhận ra trách nhiệm gia đình của mình, Thành Phủ đã được dạy chủ yếu bởi người anh trai lớn Shao Hou (Thiếu Hầu) và các thành viên cấp cao khác có liên hệ trực tiếp với gia tộc Dương, chẳng hạn như Ngô Kiến Tuyền.
Hai khía cạnh đan xen tồn tại đồng thời trong con người: nhu cầu tâm lý muốn đúng và cảm thấy chiến thắng, và nhu cầu sinh học muốn sinh tồn. Đẩy Tay đáp ứng cái thứ nhất, nhưng không phải cái thứ hai.
Phong Cách Dương Sinh Ra Phong Cách Ngô
Trong thời gian Dương Lộ Thiền dạy các vệ binh của Hoàng đế, ông có ba học trò ưu tú: Vương Thuần, người giỏi nhất về nội lực cứng; Linh Sơn, người giỏi nhất về dùng nội lực mềm; và Toàn Hữu, người thuần thục nhất về hóa nội lực, cấp độ cao nhất của thái cực quyền. Sau khi triều Mãn Thanh sụp đổ, gia đình Toàn Hữu đã đổi họ Mãn Châu của họ thành họ Hán là Ngô, để hợp với thời thế về mặt chính trị hơn. Phương pháp thái cực quyền của Toàn Hữu vẫn được giảng dạy tại Bắc Kinh, dù không phổ biến lắm, bởi vì ông chủ yếu là một võ sĩ thực hành hơn là một người thầy dạy võ. Toàn Hữu truyền lại toàn bộ tri thức của mình cho con trai là Ngô Kiến Tuyền, người cũng học từ con trai của Dương Lộ Thiền là Dương Ban Hầu, thầy của nhiều võ sĩ thái cực quyền giỏi xuất hiện vào đầu thế kỷ hai mươi.
Ngô Kiến Tuyền đã giảng dạy cùng với các thành viên gia tộc Dương tại hiệp hội của họ ở Bắc Kinh, trước khi cả ông và Dương Thành Phủ rời Bắc Kinh để truyền bá thái cực quyền đến Thượng Hải và Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, Ngô lớn hơn Dương Thành Phủ gần hai mươi tuổi và đắm mình sâu hơn vào con đường võ thuật của phong cách Dương gia cổ. Trong nhiều dịp, cả Ngô và Dương Thành Phủ đã cùng biểu diễn bài quyền thái cực quyền của họ trong các buổi trình diễn, và người ta thường nói rằng Ngô đã mài giũa kỹ năng Đẩy Tay của Dương Thành Phủ khi họ ở cùng nhau tại Thượng Hải. Thế nhưng, Ngô Kiến Tuyền lại quan tâm nhiều hơn đến mặt động tác nhỏ của thái cực quyền thay vì phương pháp động tác lớn và trung bình của Dương Thành Phủ. Những động tác bài quyền mà chính Ngô dạy về cơ bản là giống với bài quyền Dương Thành Phủ hiện đại, vì cả hai đã hợp tác với nhau. Tuy nhiên, vì bài quyền này là phong cách động tác nhỏ, các động tác của nó gọn gàng hơn, và vì nó bắt nguồn từ phong cách Dương gia cổ, nó lưu giữ nhiều tri thức cũ về ứng dụng chiến đấu, với sự nhấn mạnh mạnh mẽ vào các kỹ thuật quật ngã. Ngô Kiến Tuyền là một người thầy giỏi truyền bá, đã lan tỏa thái cực quyền của mình khắp Nam Trung Quốc nhiều như, hoặc hơn cả Dương Thành Phủ. Đối với những ai tập thái cực quyền truyền thống, phong cách Ngô là phong cách phổ biến thứ hai tại Trung Quốc, do gia tộc Dương và các học trò của họ đã có sự dẫn trước một thế hệ. Ở thế hệ tiếp theo, các con trai của Ngô đã thay đổi bài quyền, nhấn mạnh vào tấn pháp cao hơn và ít tròn trịa hơn so với bài quyền của cha họ, chuyển dịch theo cách của Dương Thành Phủ hướng tới một định hướng ít tính chiến đấu hơn.
Phong cách Ngô có ba nhánh chính: nhánh của cha Ngô là Toàn Hữu, chủ yếu tập trung ở Bắc Kinh, nơi có số người theo học ít nhất; nhánh các học trò của chính Ngô, là phổ biến nhất; và nhánh bắt nguồn từ các con trai ông, với số người tập luyện nằm ở đâu đó giữa hai nhánh kia.
Xem Wu Style Taijiquan của Vương Bồi Sinh và Tăng Duy Kỳ, Nhà xuất bản Triệu Hoa, Bắc Kinh, Trung Quốc, 1982.
Tư Duy Võ Thuật Truyền Thống
Trước cuộc Nghĩa Hòa Đoàn, những người học một loại võ thuật không học với những người theo đuổi một môn võ khác. Để thực sự được huấn luyện trong một môn võ thuật Trung Quốc, một người tập mới phải trải qua một nghi lễ sư phụ—đệ tử chính thức. Trong nghi lễ này, các đệ tử phải thề nhiều lời thề và khấu đầu—cúi đầu gõ xuống sàn, thường với lực đáng kể, để thể hiện sự chân thành. Người thầy trở thành cha nuôi của bạn; bạn với tư cách đệ tử trở thành con trai nuôi của ông. Bản chất Khổng giáo mạnh mẽ của nghi lễ đã gắn kết bạn một cách mãnh liệt với thầy và các bạn đồng môn, với gia đình võ thuật mới của bạn. Các học trò không được phép học ngoài hệ thống của mình, trừ khi được cho phép rõ ràng. Những kẻ bất tuân chỉ thị này sẽ bị các đồng môn làm ngơ, và một thành viên gia tộc võ thuật thậm chí có thể thách đấu kẻ vi phạm, với ý định sát thương mà cả hai đều hiểu rõ.
Chú thích của biên tập viên: Tác giả đã học phương pháp này từ thầy của mình là Lưu Hồng Khiết, người đã sống và học với Ngô Kiến Tuyền.
Những người thầy có tâm đều cảm thấy trách nhiệm đối với việc học của học trò cũng giống như một người cha cảm thấy đối với việc giáo dục con trai mình. Một người thầy tốt chỉ giải phóng một đệ tử để học với một người thầy thứ hai, nếu thấy rằng: (a) đệ tử đã học hoàn toàn hệ thống của thầy thứ nhất, có thể biểu diễn nó một cách danh dự, và sẽ có lợi từ những tri thức mới hữu ích cùng sự nâng cấp kỹ năng; (b) có điều gì đó thiếu hụt trong việc giáo dục của học trò mà một người thầy cụ thể khác, người mà thầy ban đầu kính trọng sự chính trực, có thể dạy tốt hơn. Những tình huống dạy chéo này khá hiếm, bởi vì nội dung của các hệ thống võ thuật mạnh hơn được coi là những bí mật quân sự sinh tử. Các thầy không muốn tài liệu của mình rơi vào tay đối thủ.
Vũ Vũ Tương, chẳng hạn, chỉ có thể học thái cực quyền Trình phong cách nhỏ vì ông đã là một "thành viên gia đình" khi trước đó từng được Dương Lộ Thiền dạy, người đã mở cửa cho những người ngoài khác ở các thế hệ sau. Tàn tích của tư duy này vẫn còn tồn tại trong các hệ phái cửa đóng. Tâm lý này cũng giải thích, ngay cả ngày nay, cho tinh thần cạnh tranh gay gắt rằng, "Môn phái của tôi giỏi hơn môn phái của bạn" và, "Bạn là kẻ phản bội nếu học ngoài phong cách của mình". Những cảm xúc này không hiếm gặp trong cộng đồng võ thuật hiện đại. Ví dụ, tư duy phong kiến cũ này là một chủ đề phổ biến trong các bộ phim võ thuật Trung Quốc đến từ Đài Loan và Hồng Kông trong nửa cuối thế kỷ hai mươi. Thật không may, thói quen cũ khó chết.
Cơ cấu xã hội Khổng giáo tôn thờ quá khứ và đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt với những hình thức chính xác của truyền thống mình, đến mức khó để hầu hết người Mỹ hay châu Âu có thể hiểu nổi. Như một lý lẽ cho hành vi của họ liên quan đến bất cứ điều gì đang xảy ra hiện nay, người Trung Quốc sẽ trích dẫn, cả bằng lời nói lẫn văn bản, những sự kiện từ hàng ngàn năm trước như thể những sự kiện đã qua từ lâu đó vừa xảy ra vào tuần trước. Người ta kỳ vọng người nghe hiểu và sẽ phản ứng đúng đắn với chỉ một sắc thái nhỏ nhất của một sự kiện lịch sử được ngụ ý đi vào cuộc trò chuyện. Tất cả những kỳ vọng này, được Khổng giáo thấm nhuần, đều mang theo những hình phạt nếu bị vi phạm. Ở Trung Quốc, truyền thống võ thuật đặc biệt mang tính chính thống. Ngày nay, vì người phương Tây không hiểu những kỳ vọng Khổng giáo ngụ ý, các học trò phương Tây thường trở nên bối rối và gặp khó khăn khi học từ các đại sư võ thuật Trung Quốc. Có một khoảng cách văn hóa lớn cần vượt qua, đặc biệt khi cả hai bên đều lớn lên với những loại ranh giới xã hội, hành vi và tâm lý rất khác nhau. Thường thì, vài cái cúi chào hay bắt tay không đủ để xoa dịu những kỳ vọng bị hiểu lầm, được ngụ ý trong tâm trí của người này, nhưng không bao giờ được bày tỏ công khai hay mạch lạc với người kia. Thường thì, mỗi bên đều cảm thấy bị bên kia bóc lột.
Trước cuộc Nghĩa Hòa Đoàn, những người theo một phong cách nội gia võ thuật bình thường không chia sẻ tri thức với những người học phong cách khác, cũng giống như trong thời Chiến tranh Lạnh, người Mỹ và Nga không công khai chia sẻ công nghệ quân sự của họ với nhau. Thực tế của súng đạn đã xóa bỏ một phần lớn nhu cầu thực dụng cho sự tách biệt đó. Sau đó, các thầy bắt đầu sẵn lòng hơn trong việc dạy những người đã học các phong cách khác. Xu hướng này bắt đầu ngay trước cuộc Nghĩa Hòa Đoàn với các trường phái hình ý quyền và bát quái chưởng, và mở rộng đến các trường thái cực quyền vào thập kỷ tiếp theo. Đến những năm 1920, chính phủ trung ương đã thiết lập các trường võ thuật quốc gia nơi nhiều phong cách được dạy dưới một mái nhà, đôi khi bởi những người đứng đầu trong phong cách của họ, bao gồm cả Dương Thành Phủ và Ngô Kiến Tuyền của thái cực quyền. Trong thời gian này, nội gia võ thuật bắt đầu được những thành viên có học thức hơn trong xã hội thực hành ngày càng nhiều, một xu hướng tiếp tục cho đến ngày nay.
Các Phong Cách Kết Hợp
Cuộc sống khá ổn định ở Trung Quốc trước cuộc Nghĩa Hòa Đoàn. Người dân không di chuyển nhiều. Sau đó, dân số Trung Quốc trở nên cực kỳ di động: đường sắt được xây dựng, thời kỳ quân phiệt bắt đầu, đất nước bị Nhật xâm lược, Cách mạng Cộng sản gây ra nội chiến, tất cả làm di dời hàng triệu người. Tất cả sự di chuyển này đã gây ra sự pha trộn các phong cách võ thuật đến mức chưa từng có trong lịch sử Trung Quốc.
Thái cực quyền bắt đầu pha trộn với các phong cách khác theo ba cách chính. Thứ nhất, vào năm 1914, phong cách Hảo động tác nhỏ (của Vũ Vũ Tương) đã được Hảo Vĩ Trân dạy cho một đại sư hình ý quyền nổi tiếng tên là Tôn Lộc Đường, sau khi Tôn đã làm một việc tốt cho ông ở Bắc Kinh. Tôn, cũng như nhiều người tập hình ý quyền và bát quái chưởng sau ông, bị thu hút bởi ý niệm mềm mại của thái cực quyền. Tôn đã kết hợp phương pháp thân thể mềm của thái cực quyền với các kỹ thuật bám rễ và đan điền của hình ý quyền cùng các phương pháp bước chân của bát quái chưởng. Sau đó ông viết một loạt sách về nội gia võ thuật, khẳng định rằng ba môn nội gia là một gia đình. Sự thống nhất này trở thành phong cách kết hợp thái cực quyền đầu tiên và là phong cách duy nhất được biết đến rộng rãi là dựa trên phong cách động tác nhỏ.
Thứ hai, có một số phong cách kết hợp thái cực quyền/bát quái chưởng được mô phỏng trực tiếp từ phong cách Dương khung lớn hoặc trung bình. Trong một số phong cách này, hình ý quyền và bát quái chưởng chiếm ưu thế; trong những phong cách khác, thái cực quyền Dương chiếm ưu thế. Thái cực quyền, hình ý quyền và bát quái chưởng chia sẻ một số lượng kỹ thuật giao thoa khó tin; trong những trường hợp này, mỗi môn trong số chúng về cơ bản đang thực hiện cùng một ứng dụng chiến đấu, nhưng với hương vị riêng của mình. Những phong cách này thường sử dụng chuỗi bài quyền cơ bản của phong cách Dương, nhưng trong nhiều động tác cụ thể có lồng ghép ngầm hoặc lộ liễu các yếu tố của hình ý quyền và bát quái chưởng, chẳng hạn như:
4. Thay thế một động tác tay/cánh tay hình ý quyền hoặc bát quái chưởng cho động tác thái cực quyền quy định của nó. Ví dụ, một động tác Bồng (Ward Off) nằm ngang tròn của thái cực quyền có thể đổi thành một động tác "trồi và khoan" theo hướng thẳng đứng của hình ý quyền/bát quái chưởng, thực hiện với sự mềm mại của thái cực quyền. Động tác Thục nữ thoa thái (Fair Lady Weaves the Shuttles) của thái cực quyền trở nên giống với quyền Đấm (Pounding Fist) của hình ý quyền hơn. Những sự thay thế này xảy ra xuyên suốt các bài quyền kết hợp. Thực chất, một kỹ thuật hình ý quyền/bát quái chưởng được thực hiện theo cách của thái cực quyền.
2. Bước chân bát quái chưởng thường được thay thế cho bước chân thái cực quyền. Một bước "ngón chân hướng ra ngoài" của bát quái chưởng được dùng để đổi hướng hoặc xoay người là dấu hiệu rõ ràng nhất, vì động tác này không tồn tại trong thái cực quyền truyền thống.
3. Sự hiện diện của các động tác bài quyền con vật hình ý quyền bên trong bài quyền thái cực quyền.
4. Bàn tay được tạo hình theo cách hình ý quyền/bát quái chưởng, không phải theo cách của thái cực quyền.
5. Cái cổ trồi lên rõ rệt của hình ý quyền có thể thấy được, điều bình thường không làm trong thái cực quyền.
6. Các tấn pháp sử dụng sự cân bằng 60/40 trọng lượng lên mỗi chân bắt đầu xuất hiện, thay vì sự cân bằng 100/0 của phong cách Dương.
Một trong những bài quyền kết hợp hoàn chỉnh nhất về mặt chiến đấu là bài do Trần Bàn Linh sáng tạo, trong một ủy ban, cho Viện Võ thuật của chính phủ trung ương. Bài quyền này được tạo ra để bảo tồn võ thuật trong thời kỳ Nhật xâm lược. Vào thời điểm này, tương lai của Trung Quốc không chắc chắn, và không rõ đại sư nào có thể bị giết, cùng với những di sản vĩ đại của họ. Chủ tịch ủy ban, Trần Bàn Linh, một kỹ sư theo nghề bên cạnh là một đệ tử chính thức của hình ý quyền và bát quái chưởng, đã tập luyện tại làng Trần và cũng học rộng rãi với Dương Thiếu Hầu (phong cách Dương gia cổ) và Ngô Kiến Tuyền (phong cách Ngô). Các phong cách khác trong mô hình kết hợp này đã tìm đường đến phương Tây là phong cách Phó của Phó Chấn Tùng, và phong cách Quán Bình của Quách Liên Anh.
Chú thích của biên tập viên: Tác giả đã học phong cách này trong những năm cuối thập niên 1960, thập niên 1970 và 1980 tại Nhật Bản và Đài Loan. Cả Vương Thụ Kim và Hồng Ý Tường đều từng tập phong cách thái cực quyền này, vốn gồm chín cấp độ giáo huấn.
Cách chính thứ ba mà thái cực quyền pha trộn với các phong cách khác là khi một người thuần thục một môn võ Thiếu Lâm cụ thể gắn hương vị của những kỹ thuật Thiếu Lâm đó vào các động tác ngoại gia của một bài quyền thái cực quyền. (Một tình huống tương tự cũng đã xảy ra với bát quái chưởng — xem tr. 313). Thông qua kiểu kết hợp này, các võ sĩ Thiếu Lâm có được lợi ích về thân thể và sức khỏe của thái cực quyền và, đồng thời, tăng cường công phu Thiếu Lâm chủ đạo của họ bằng những kỹ thuật thái cực quyền mới hữu ích. Cùng lúc đó, họ tiếp tục tập trung vào môn võ nguyên thủy của mình. Một ví dụ tốt về điều này là bài quyền thái cực quyền của Trương Đống Thần, một cao thủ đấu vật Trung Quốc được kính trọng tại Đài Loan. Trương đã học với Dương Thiếu Hầu. Thật cực kỳ rõ ràng khi ông thực hiện thái cực quyền rằng những động tác quật ngã của ông hoàn toàn thấm nhuần bài quyền của mình. Trương từng nói rằng càng lớn tuổi, ông càng thích tập thái cực quyền hơn, và càng nhận được nhiều từ nó, đặc biệt là khả năng kéo dài sự nghiệp võ thuật của mình vào những năm về già. Đánh giá này được nghe từ nhiều đại sư võ thuật hàng đầu thuộc mọi loại hình ở Trung Quốc.
Chú thích của biên tập viên: Tác giả đã học với Trương Đống Thần trong một thời gian ngắn vào những năm 1970.
Các Phong Cách Thái Cực Quyền Khác: Gia Tộc, Bí Mật và Dòng Truyền Thất Truyền
Có rất nhiều lời tuyên bố xung quanh ngụ ý rằng hình thức thái cực quyền này hay hình thức kia bắt nguồn từ một dòng truyền cổ xưa thất truyền hoặc bí mật. Nhiều loại tuyên bố về lịch sử đặc biệt này là đáng ngờ. Chúng thường được đưa ra dưới tiêu đề các dòng truyền thất truyền trước làng Trần (như từ Trương Tam Phong hoặc Vương Tông Nhạc), của các phong cách gia tộc, và của các phong cách bí mật bắt nguồn từ những nghiên cứu ngầm với những người thừa kế các dòng truyền chính thống. Một số phong cách này rõ ràng là những biến thể của các phong cách lớn; một số có nội dung chất lượng cao, trong khi những phong cách khác thì bị pha loãng cực kỳ. Một số "dòng truyền" này rõ ràng phần lớn là Thiếu Lâm được thực hiện theo cách chậm rãi của thái cực quyền, kết hợp một vài động tác thái cực quyền. Những phong cách này thường bắt nguồn từ thung lũng Trường Giang.
Điều Gì Đã Gây Ra Việc Tạo Ra Các Phong Cách Mới?
Mới Và Cải Tiến So Với Bị Pha Loãng
Khi thái cực quyền đột biến thành các phong cách mới—Trần sang Dương sang Hảo sang Ngô sang các phong cách Kết hợp—mỗi phong cách mới đã thay đổi các động tác bài quyền của nó một chút hoặc đáng kể. Những thay đổi cốt lõi này ban đầu không được thực hiện vì lợi ích sức khỏe cho công chúng, mà vì khả năng truyền lại các kỹ năng võ thuật nguyên thủy của người thầy cho thế hệ tiếp theo. Hai quan điểm đảng phái cạnh tranh nhau được nắm giữ về kết quả hiệu quả của những thay đổi này. Quan điểm thứ nhất là phong cách sớm hơn chứa đựng tất cả tài liệu nguyên thủy và phong cách mới là một phiên bản bị pha loãng của cái cũ. Quan điểm ngược lại nói rằng mô hình mới đã cải tiến cái cũ, đưa nó lên những tầm cao mới với tài liệu mới, loại bỏ những phần chết của các bài quyền gốc.
Bất kỳ quan điểm nào cũng có thể nói chính xác hơn trường hợp, tùy thuộc vào những dòng truyền còn tồn tại cụ thể nào đang được thảo luận. Ví dụ, các động tác của bài quyền Trần và Dương nguyên thủy rất khác nhau một cách rõ rệt. Nếu không có cái nào tiên tiến hay hoàn chỉnh hơn cái kia, điều gì có thể giải thích cho những thay đổi? Trong phương pháp của chúng, một số khác biệt cơ bản có thể nhìn thấy rõ ràng.
1. Tấn pháp: Khác với phong cách Dương, phong cách Trần sử dụng các tấn pháp trong đó cả hai bàn chân không hướng cùng một hướng chung. Phong cách Trần cũng thường sử dụng các tấn tiến với phân bổ trọng lượng chân 55/45 phần trăm. Phong cách Dương cổ điển sử dụng sự cân bằng trọng lượng 100/0 của hai chân (nghĩa là, 100 phần trăm trọng lượng của bạn đặt trên chân trước, không phần trăm nào trên chân sau), và chỉ có tấn cung tiến về phía trước.
Bài quyền Trần bắt nguồn từ những động tác quân sự trên chiến trường, nơi mọi người mặc áo giáp thời trung cổ mà phải được bù đắp. Các tấn pháp phong cách Trần được nói đến đã được thiết kế cụ thể để đạt được những sự bù đắp này và có được một vị trí khả thi để thực tế quật ngã một đối thủ mặc giáp. Đến thời điểm Dương đến Bắc Kinh, thời thế đã thay đổi. Với sự xuất hiện của vũ khí hỏa khí, áo giáp chiến trường trở nên lỗi thời; do đó, nhu cầu về các kỹ thuật đối phó với kẻ thù mặc giáp đã qua đi. Dương và các học trò của ông phải đối phó nhiều hơn với những tình huống mà các vệ sĩ gặp phải, chứ không phải những đạo quân đối đầu nhau.
Dương cũng đang dạy những người có huấn luyện rõ ràng trong Thiếu Lâm Bắc phương, vốn sử dụng tấn cung. Bằng cách tận dụng những gì họ đã biết để huấn luyện họ, Dương, theo quan điểm của một số người, đơn giản đã thích nghi với nhu cầu của môi trường mình. Tấn cung có trọng lượng 100/0 cũng là một cách tuyệt vời để làm việc với yêu cầu kỹ thuật cơ bản của thái cực quyền là hư và thực (một chân đầy trọng lượng nhưng rỗng về nội lực và ngược lại), vốn có lý lẽ cực kỳ thực dụng đằng sau nó.
2. Động tác tay: Phong cách Trần nhấn mạnh các động tác thằng ty (cuộn tơ) lộ liễu. Trong những chuyển động này, trong lúc xoắn vào và xoắn ra của các mô mềm của cơ thể, mỏi khuỷu tay liên tục di chuyển giữa hai cực (nghĩa là, cẳng tay song song với mặt đất—khuỷu tay ở góc 90 độ và cẳng tay vuông góc với mặt đất với khuỷu tay hướng xuống sàn). Phong cách Dương nhấn mạnh kỹ thuật kéo tơ. Trong kỹ thuật này, năng lượng được kéo trực tiếp từ cột sống đến các khớp và sự xoắn của mô mềm cơ thể hiện diện rõ ràng nhưng ẩn giấu trong những chuyển động vi tế của thân thể. Mỏi khuỷu tay được cố định ở đâu đó giữa hướng xuống đất và một góc 45 độ sang bên. Mỏi khuỷu tay không bao giờ hướng 90 độ sang bên, hay xen kẽ giữa di chuyển lên và xuống giữa hướng xuống đất và 90 độ sang bên, như trong phong cách Trần.
Chính xác tại sao Dương thay đổi bài quyền của mình chỉ có ông ta thực sự biết. Tuy nhiên, câu chuyện tiêu chuẩn là có lẽ ông đã thay đổi phong cách Trần vì một số lý do cơ bản. Nhiều chuyển động thằng ty lực (chan sz jin) sử dụng sự di chuyển của mỏi khuỷu tay đã được thiết kế để di chuyển xung quanh những chỗ phình mà áo giáp tạo ra. Những kỹ thuật này đặc biệt tốt cho việc quật ngã hoặc khóa khớp những đối thủ mặc giáp, không vũ khí hoặc có vũ khí. (Quật ngã và khóa khớp những người lính mặc áo giáp thực tế hơn nhiều so với đánh họ.) Phương pháp của Trần cũng hoạt động ngang nhau với những người không mặc giáp.
* Nếu không cần maneuver xung quanh sự cồng kềnh và sự bảo vệ do áo giáp tạo ra, nhu cầu di chuyển khuỷu tay không còn cần thiết nữa. Dương đã thích nghi các kỹ thuật của mình cho phù hợp, để tối đa hóa hiệu quả của thời gian thực hành.
* Chính nhu cầu này cũng được các võ sĩ đạo (samurai) Nhật Bản nhận ra, những người đã phát triển nhu thuật (jujitsu) theo cùng một hướng để hoạt động trong mọi điều kiện, chống lại những đối thủ có hoặc không mặc áo giáp, cả trong những cuộc gặp gỡ có vũ khí lẫn tay không.
Nguyên Nhân Của Những Biến Thể Trong Cùng Một Phong Cách
Trong cùng một phong cách thái cực quyền, các động tác thay đổi vì nhiều lý do. Phong cách Dương là một phong cách tốt để minh họa tình huống vì nó phổ biến nhất và đã sản sinh ra số lượng học viên lớn nhất, không phải vì nó là phong cách tốt nhất. (Các phong cách thái cực quyền khác thường trải qua những thay đổi bên trong chính chúng vì cùng những lý do như phong cách Dương.) Chỉ riêng ở Thế giới phương Tây hiện nay đã có ít nhất 20 bộ động tác "phong cách Dương" có thể định nghĩa rõ ràng. Những bộ này nhấn mạnh một số, nhưng không phải tất cả, những nguyên tắc giống nhau. Những bài quyền này có từ 24 đến 128 động tác, tất cả cùng được gọi chung là phong cách "Dương". Vì vậy, chỉ riêng cái tên "phong cách Dương" không chỉ ra một cách chính xác những gì bất kỳ trường thái cực quyền phong cách Dương nào thực sự đang làm. Những lý do cho những thay đổi trong phong cách Dương là:
** Chú thích của biên tập viên: Tác giả đã nghiên cứu mức độ phổ biến tương đối của các phong cách thái cực quyền tại Trung Quốc đại lục vào những năm 1980. Vào thời điểm đó, phong cách Dương và phong cách Ngô (một biến thể cơ bản của Dương) thu hút gần 90 phần trăm những người tập thái cực quyền; các phong cách kết hợp chiếm phần lớn phần còn lại; phong cách Trần chỉ là một phần rất nhỏ của phần còn lại, nhưng đang trải qua một cuộc phục hưng; và phong cách Hảo thì cực kỳ hiếm.
1. Mong muốn của một người thầy hoặc nhóm để bảo hộ những gì họ đang làm, để phân biệt triết lý cụ thể hay phương pháp huấn luyện của họ trong vũ trụ phong cách Dương. Thường thì, bạn thấy mong muốn của một nhóm muốn phân biệt tài liệu của mình với những biến thể mà, theo quan điểm của họ, có chất lượng thấp hơn hoặc từ một dòng truyền "không thuần khiết" hơn. Ở Mỹ, chẳng hạn, có phong cách gia tộc Đổng và phong cách Trịnh Mạn Thanh, mỗi phong cách có hoặc một bài quyền hoàn toàn riêng biệt hoặc một vài động tác bảo hộ đặc trưng bên trong bài quyền của nó. Gia tộc Đổng có một số động tác độc đáo bên trong bài quyền chậm dài của họ, cũng như một bài quyền nhanh đã được sửa đổi, vốn không hẳn là cách thầy của họ là Dương Thành Phủ thực hiện thái cực quyền. Rồi còn có bài quyền ngắn 37 động tác đã sửa đổi của Trịnh Mạn Thanh, lần nữa cũng không hẳn là những gì gia tộc Dương đã làm.
* Gia tộc Dương luôn thực hiện cả bài quyền chậm và bài quyền nhanh, vốn bắt nguồn từ hai bài quyền nguyên thủy của thái cực quyền Trần. Bài thứ nhất tập trung chủ yếu vào các động tác chậm với một vài động tác nhanh được thả vào thỉnh thoảng để thực hành phát lực (fa jin). Trong bài thứ hai, sự nhấn mạnh nhiều hơn vào các động tác nhanh hơn là chậm.
2. Những biến thể cá nhân được người thầy ưa chuộng được thể chế hóa vào bài quyền. Một ví dụ tốt là tư thế tay của Thục nữ trong bài quyền phong cách Dương của Trịnh Mạn Thanh. Tư thế này rõ ràng không hiện diện trong các bài quyền gia tộc Dương cổ điển.
3. Chính những thầy thái cực quyền chỉ học được những mảnh vụn, chứ không phải các bài quyền hoàn chỉnh, và họ truyền lại tri thức không trọn vẹn của mình qua các thế hệ. Do đó, các học trò qua nhiều thế hệ tiếp tục hoặc leo thang phiên bản bị pha loãng.
4. Một học trò học kỹ từ thầy của mình, nhưng đã thay đổi các động tác để phù hợp với quan điểm cá nhân về điều gì có giá trị trong thái cực quyền. Những thay đổi như vậy có thể trở nên được thể chế hóa.
5. Một nhánh tập trung độc quyền vào một hoặc chỉ một vài phần của hệ thống nội công 16 phần hoàn chỉnh và định hình bài quyền để hoàn thành những khía cạnh được chọn của công việc năng lượng thái cực quyền, gạt bỏ các cân nhắc quan trọng khác. Dần dần, các động tác thể chất được đúc kết để phù hợp và thể hiện công việc năng lượng một phần.
7. Những truyền thụ Dương nguyên thủy liên quan đến các kỹ thuật nội tại của thái cực quyền được tiếp nhận không trọn vẹn, nên các nguyên tắc của những môn võ khác được ném vào để bù đắp sự khác biệt. Quá trình này làm cho bài quyền thái cực quyền lai tạo thành một loại đồ uống pha trộn, một phần thái cực quyền Dương, hai hoặc ba phần thứ khác. Tình huống này xảy ra phổ biến khi dùng Thiếu Lâm Bắc phương ở Trung Quốc đại lục và thêm vào Hạc Trắng Phúc Kiến ở Đài Loan. Thường thì, những "bí mật" của các phong cách này dựa trên các phương pháp Thiếu Lâm, hơn là thái cực quyền. Hãy ghi nhớ rằng các thầy chỉ có thể dạy những gì họ biết. Ba thế hệ sau, một học trò đã học một hệ thống không trọn vẹn chỉ biết rằng đây là phong cách của tôi. Những học trò như vậy không nhận thức được khả năng cũng như thiếu sót của bài quyền mình.
8. Những biện pháp được thực hiện để làm cho thái cực quyền dễ học hơn. Hậu quả là, các bài quyền bị rút ngắn, động tác bị xóa bỏ, sự chính xác trong những động tác cụ thể trở nên mờ nhạt, tất cả dưới ngọn cờ giảm mức độ thất vọng của người học khi đối mặt với tài liệu thử thách. Thông thường, sự hạ thấp này của thái cực quyền được thực hiện để giúp lan tỏa những lợi ích sức khỏe chân chính của nó đến một đối tượng rộng hơn (vì có gì đó còn hơn không có gì), hoặc để có thêm nhiều học viên trả tiền. Khi sự đơn giản hóa xảy ra, đôi khi nội dung chiến đấu và năng lượng của bài quyền bị ảnh hưởng—nó hoặc bị giảm đi rất nhiều hoặc bị loại bỏ hoàn toàn.
9. Nhiều thầy trong những năm về già mất đi động lực để bỏ ra năng lượng và sự quan tâm cần thiết để duy trì bài quyền và/hoặc trình bày nó trong tất cả chi tiết của nó.
Xét tất cả những điều trên, thật dễ dàng để thấy những thay đổi có thể và thực sự xảy ra như thế nào. Quá trình này có khả năng sẽ tiếp tục lâu dài trong tương lai.
PHỤ LỤC B — BỐI CẢNH CỦA BÁT QUÁI CHƯỞNG
Một Lịch Sử Tóm Tắt
NỀN TẢNG CỦA TRƯỜNG BÁT QUÁI CHƯỞNG TRONG THỜI HIỆN ĐẠI
Một vài điều về vị sáng lập bí ẩn của bát quái chưởng hiện đại, là Đổng Hải Xuyên (1798–1879), có thể nói với sự chắc chắn. Một điều là phương pháp giảng dạy của ông độc đáo ở chỗ ông không dạy bất kỳ ai chưa phải là một chuyên gia võ thuật. Một học viên tương lai sẽ phải tập luyện võ thuật nhiều năm trước khi Đổng thèm chí nói chuyện với anh ta. Bát quái chưởng là một trường cao học dành cho các võ sĩ, không phải tiểu học, trung học, hay thậm chí đại học. Nó được coi là một môn võ thuật cực kỳ tinh vi, và bất kỳ ai Đổng dạy đều phải có sự cam kết được chứng minh để học tập. Một học trò phải là người ôm trọn võ thuật, người đã trải qua năm hoặc mười năm huấn luyện ban đầu, và coi võ thuật là công việc của cả một đời. Một số học trò cấp cao của Đổng đã trở thành xương sống của trường bát quái chưởng hiện đại và tiếp tục tự mình dạy nhiều người. Thế nhưng, có bốn người đặc biệt mà kỹ năng hay công phu của họ vượt lên trên những người khác. Họ được biết đến với tên gọi Tứ Đại Đệ Tử.
Bốn Học Trò Chính Của Đổng
Doãn Phúc (1842–1911)
Học trò cấp cao nhất của Đổng là Doãn Phúc, người gầy đến mức được đặt biệt danh là "Doãn Gầy". Lưu Hồng Khiết, thầy của tác giả, đã giữ những bức ảnh Doãn Phúc tập với một thanh đao trong một cuốn album cũ phủ đầy bụi mà ông cất trong phòng. Thanh đao lớn đáng kể so với Doãn. Bất chấp vóc dáng nhỏ bé, Doãn Phúc được biết đến là cực kỳ mạnh mẽ. Các kỹ thuật chiến đấu của ông, dùng Chưởng lá liễu (Willow-Leaf Palm), dựa trên khả năng chém xuyên thẳng qua cánh tay đối thủ để đánh vào thân thể anh ta. Doãn Phúc kiếm sống như một vệ sĩ chuyên nghiệp, nhưng ông cũng dạy nhiều người khi ở Bắc Kinh, và ở tỉnh Sơn Đông khi về già. Ông có một số học trò nổi tiếng. Thật không may, nhiều người tuyên bố bắt nguồn từ trường của Doãn Phúc có lẽ đã không. Khi Đi Vòng Tròn (một kỹ thuật huấn luyện bát quái chưởng cơ bản—xem tr. 216), các học trò của Doãn Phúc đi với các ngón tay chỉ ngang về phía tâm của vòng tròn thay vì chỉ lên trời, vốn là cách thông thường động tác này được thực hiện. Họ được biết đến với việc huấn luyện theo kiểu đi này, cũng như khả năng xuyên thủng thân thể đối thủ bằng các ngón tay của họ.
Doãn Phúc đã làm chủ la hán quyền (lohan chuan), một hệ thống quyền thuật Thiếu Lâm Bắc phương, trước khi học bát quái chưởng với Đổng. Bằng cách kết hợp la hán quyền của mình vào bát quái chưởng của Đổng, Doãn Phúc đã phát triển một phương pháp luận hoàn toàn mới để dạy bát quái chưởng, một phương pháp dùng các kỹ thuật tuyến tính thay vì tròn trịa. Bát quái chưởng về cơ bản là một môn nghệ thuật chuyển động vòng tròn phát triển cái gọi là tiên thiên (hsien tien), hay khí "tiên thiên", nhưng những phương pháp tuyến tính này phát triển cái gọi là hậu thiên (hou tien), hay khí "hậu thiên". Mục đích của Doãn Phúc khi phát triển những phương pháp tuyến tính này là để dạy các kỹ thuật tự vệ cơ bản và cơ học thân thể của bát quái chưởng trước khi giới thiệu Đi Vòng Tròn. Việc Đi Vòng Tròn có thể hơi trừu tượng đối với các học viên mới bắt đầu. Lời đồn ở Bắc Kinh và Thiên Tân cho rằng các học trò của Doãn Phúc đã dạy những phương pháp đường thẳng cho quân đội Trung Quốc. Cách tiếp cận đường thẳng có thể không hoàn toàn đến từ Doãn. Rõ ràng là các phương pháp tuyến tính của bát quái chưởng cũng bị ảnh hưởng (dù mức độ đến đâu là suy đoán) bởi số lượng lớn những người tập hình ý quyền cũng học bát quái chưởng. Phương pháp tuyến tính của Doãn Phúc đã được một số học trò mang đến thành phố Thiên Tân, thành phố chị em của Bắc Kinh, và nằm cách đó chỉ 35 dặm. Thiên Tân là một thành phố cảng, và việc các võ sĩ từ Bắc Kinh đến đó dạy rất phổ biến. Phương pháp tuyến tính đã được Cao Nghĩa Thăng học, người đã đến Bắc Kinh để học với Doãn Phúc, Trình Đình Hoa, và có lẽ các đại sư khác. Những phương pháp đường thẳng này chủ yếu quan tâm đến sự phóng xuất sức mạnh để chiến đấu và không có ứng dụng nào có thể nhận thấy đối với thiền Đạo gia. Ngay từ đầu trong huấn luyện bát quái chưởng của mình, Lưu Hồng Khiết cũng đã học phương pháp đi của Doãn Phúc. Ông đã tập với một số học trò của Doãn, những người tập luyện tại trường bát quái chưởng của Trình Hữu Long. Vào thời điểm đó, bát quái chưởng là một trường không có nhánh. Chỉ về sau các phong cách mới bị tách ra.
* Phương pháp bát quái chưởng tuyến tính của Doãn Phúc đã trở nên nổi tiếng ở Thiên Tân, cũng như các phương pháp tuyến tính của một vài người khác, chẳng hạn như Ngô Mộng Sa. Các phương pháp bát quái chưởng tuyến tính của Cao Nghĩa Thăng (vốn có lẽ bắt nguồn từ Trình Đình Hoa) cuối cùng đã đến Đài Loan qua Trương Xuân Phong và được truyền từ ông sang Hồng Ý Dân và Hồng Ý Tường (những người tác giả đã học cùng).
Trình Đình Hoa (1646–1900)
Một học trò nổi tiếng khác của Đổng là Trình Đình Hoa. Nhiều người tập bát quái chưởng ngày nay bắt nguồn từ trường Trình Đình Hoa hơn bất kỳ trường nào khác. Trình Đình Hoa đã học trụy giao (suai chao), đấu vật Trung Quốc, khi còn trẻ. Do đi theo con đường ít kháng cự nhất, Đổng đã dạy nhiều phương pháp quật ngã của bát quái chưởng cho Trình hơn bất kỳ học trò nào khác. Trình được biết đến với khả năng quật ngã của mình. Ông là một người thấp, vạm vỡ, xây dựng hơi giống chính Đổng, và rất khỏe. Trình Đình Hoa đã phát triển một phương pháp 64 biến hóa chỉ được thực hiện khi đang đi vòng tròn. Trong khi phương pháp của Doãn Phúc được biết đến với những chuyển động xuyên thẳng được thực hiện với một lượng sức mạnh khổng lồ, bát quái chưởng của Trình Đình Hoa được biết đến với những sự đổi hướng cực nhanh và phức tạp như rắn, khiến đối thủ hoàn toàn mất phương hướng và do đó dễ dàng bị đánh bại.
Mã Thế Thanh (còn gọi là Mã Quý) (1853–1940)
Mã Thế Thanh (còn gọi là Mã Quý) đã học với Doãn Phúc trong vài năm đầu của huấn luyện bát quái chưởng và sau đó học trực tiếp với Đổng tại nhà ông. Phần lớn lịch sử trực tiếp của bát quái chưởng được kể cho tác giả đến trực tiếp từ Lưu Hồng Khiết, người đã nghe nó trực tiếp từ Mã Thế Thanh khi ông là học trò riêng của Mã. Mã không nhận đệ tử chính thức nào, và ông chỉ dạy Lưu khi đã lớn tuổi. Mã không thích dạy. Ông sở hữu một doanh nghiệp gỗ thành công, nơi ông kiếm đủ tiền để không cần phải kiếm sống như một người thầy bát quái chưởng chuyên nghiệp. Một người khác trong Tứ Đại, Mã Vĩ Kỳ, sở hữu một doanh nghiệp than thành công. Cùng với nhau, hai người này được gọi chung là "Mã Me (than) và Mã Mộc (gỗ)".
Mã Thế Thanh kể cho Lưu về Đổng đã dạy như thế nào. Đổng thường ngồi với đôi mắt nhắm, mô tả mọi chuyển động Mã đang thực hiện, và bảo ông điều chỉnh nó theo cách này hay cách khác. Đổng từng ngồi thiền hàng giờ mỗi ngày. Cơ sở của sức mạnh võ thuật của ông, ít nhất theo Mã, ít nhất cũng do các thực hành ngồi của ông, vốn là thiền thuật Đạo gia thuần túy, ngang bằng với các kỹ thuật võ thuật của ông.
Một câu chuyện nổi tiếng về Mã Thế Thanh diễn ra như sau: Dương Lộ Thiền của danh tiếng thái cực quyền gia tộc Dương có ba học trò được coi là giỏi nhất của ông. Đó là Toàn Hữu (người, cùng với con trai Ngô Kiến Tuyền, đã sáng lập thái cực quyền phong cách Ngô), được biết đến với nội lực hóa chuyển, cấp độ cao nhất của năng lượng trong thái cực quyền; Linh Sơn, được biết đến với nội lực mềm của mình; và Vương Thuần, được biết đến với nội lực cứng và sức mạnh thẳng, vững chắc. Trong một dịp, Vương Thuần và Mã Thế Thanh đã giao chiến. Vương Thuần bay vút ra khỏi cửa hai lần, lần thứ hai kéo cả cánh cửa theo mình. Sự cố này có lẽ là trường hợp duy nhất được báo cáo về cuộc chiến đấu giữa những người hàng đầu về thái cực quyền và bát quái chưởng. Như một quy tắc, trong trường bát quái chưởng, chưa từng có hiềm khích với bất kỳ thành viên nào của trường thái cực quyền, như đôi khi xảy ra giữa các hệ thống công phu Thiếu Lâm khác nhau. Thái cực quyền và bát quái chưởng chia sẻ hầu hết những nguyên tắc cơ bản giống nhau. Chúng chỉ khác nhau ở những cách cụ thể mà họ áp dụng những nguyên tắc này.
Mã Vĩ Kỳ (1851–1880)
Thành viên thứ tư của Tứ Đại là Mã Vĩ Kỳ. Lưu có nhiều câu chuyện về Mã Vĩ Kỳ, người được biết đến là cực kỳ mạnh mẽ và bạo lực. Biệt danh của ông là "Mã Mười Ngày" vì khi ông đánh ai đó, người đó thường chết sau mười ngày. Không phải là cần mười ngày trước khi những vết thương của đối thủ cuối cùng giết chết anh ta; Mã Vĩ Kỳ có thể dễ dàng giết một đối thủ ngay lập tức, hiếm khi cần đánh hơn một lần. Đúng hơn, những cú đánh của Mã Vĩ Kỳ được thiết kế để gây ra tổn thương nội tạng tiềm ẩn mà chỉ về sau mới gây ra cái chết. Sự trì hoãn mười ngày sẽ ngăn Mã Vĩ Kỳ bị coi là nguyên nhân pháp lý của cái chết, giữ ông khỏi rắc rối với chính quyền.
Có hai câu chuyện về cái chết sớm của Mã Vĩ Kỳ. Câu chuyện đầu tiên, do Lưu Hồng Khiết kể, là những người thân của một kẻ thách đấu đã trở thành nạn nhân của thủ thuật mười ngày của Mã đã thực hiện một hình thức trả thù hèn nhát và đầu độc ông. Câu chuyện thứ hai, do Trương Khiết ở Bắc Kinh kể, là Mã bị giết trong một trận đấu thách đấu bởi một vị sư Phật giáo là một đại sư võ thuật. Việc giết chóc được thực hiện để ngăn chặn hành vi bạo lực vô đạo đức quá mức của ông tiếp tục.
Mã Vĩ Kỳ nổi tiếng với các kỹ thuật quyền (nắm đấm), vốn không phổ biến trong bát quái chưởng bằng các đòn chưởng. Ông cũng được biết đến với khả năng đi vòng quanh một đối thủ và dùng cẳng tay và nắm đấm với hiệu quả tàn khốc, cũng như với công việc chưởng thẳng của mình. Như một quy tắc chung, hầu hết các học trò của Mã không được coi là giỏi đến thế, có lẽ là kết quả của tính khí cực kỳ bạo lực của Mã. Ông thích chứng minh rằng những gì ông làm có hiệu quả. Thật không may, khuynh hướng này dẫn đến tổn thương thân thể thường xuyên cho các học trò của mình. Do đó, họ thường không hoàn tất việc huấn luyện của mình.
Không Có Học Trò Nào Có Khinh Công Trong Thời Hiện Đại
Đúng hay không đúng, những câu chuyện về Đổng Hải Xuyên thì nhiều vô kể. Hàng trăm câu chuyện tồn tại và, nếu những câu chuyện này được thu thập lại, chúng sẽ tạo thành một cuốn sách đồ sộ. Trong số những câu chuyện này có những câu nói về khả năng nhảy lên không trung đến độ cao lớn của Đổng (bề ngoài, cao đến hai mươi feet). Khả năng này là cái mà người Trung Quốc gọi là khinh công (ching gung), hay làm cho thân thể cực kỳ nhẹ. Đổng được ca tụng vì có thể nhảy vọt lên và treo bằng các đầu ngón tay của mình từ những vật rất cao, chẳng hạn như xà nhà. Thế nhưng, có vẻ như ông đã không truyền lại tri thức khinh công của mình cho bất kỳ ai. Không một học trò nào của ông có thể sao chép được khả năng này.
Người ta kể rằng Đổng đã dạy khinh công cho một người khi đang đi du hành trước khi đến Bắc Kinh. Ông đã dạy khinh công cho người này trong hai hoặc ba năm trong khi chính ông vẫn đang hoàn thiện những kỹ năng ông đã học trong núi. Đổng đã thương hại cá nhân này, người nghèo khó, và đã giúp đỡ anh ta. Một vài năm sau, chính người này xuất hiện ở Bắc Kinh như một tên trộm chuyên nghiệp. Hắn đang dùng khả năng khinh công của mình để nhảy qua hàng rào và tường. Đổng được cho là đã phát hiện ra điều này và ra lệnh cho tên trộm rời khỏi thị trấn nếu không ông sẽ giết hắn vì sử dụng bất đạo những lời dạy của mình. Thật không may, trải nghiệm chua chát này được cho là đã ngăn Đổng dạy kỹ năng đặc biệt đó. Nhiều người tập bát quái chưởng có thể nhảy rất cao, nhưng phương pháp thực sự của khinh công thì không được truyền lại. Nhiều nhà nghiên cứu bát quái chưởng đương đại đã thất bại trong việc khám phá ra một người duy nhất trong bất kỳ truyền thống nào có khả năng này.
SỰ LAN TỎA CỦA BÁT QUÁI CHƯỞNG RA BÊN NGOÀI
Bát quái chưởng nguyên thủy tập trung quanh Bắc Kinh và Thiên Tân, vì đây là nơi Đổng và các đệ tử của ông dạy. Khi Đổng mất vào năm 1879 ở tuổi 81, một số học trò của ông rời Bắc Kinh và định cư ở Bắc Trung Quốc, mang theo môn nghệ thuật. Doãn Phúc rời Bắc Kinh và đi về phía bắc đến tỉnh Sơn Đông, nơi ông mất vào năm 1909 ở tuổi 69. Dòng truyền của Doãn Phúc được truyền lại qua nhiều người, bao gồm Cung Bảo Điền, người cũng đi về phía bắc đến tỉnh Sơn Đông. Trình Đình Hoa mất sớm, và một số học trò giỏi hơn của ông cũng định cư ở Bắc Trung Quốc, trong khi hai con trai của ông tiếp tục dạy ở Bắc Kinh. Thế nhưng, cho đến những năm 1920 và 1930, bát quái chưởng mạnh nhất không nghi ngờ gì vẫn được tìm thấy ở Bắc Kinh và Thiên Tân. Sau đó hai sự kiện đã gây ra sự hỗn loạn lớn ở Trung Quốc: Nội chiến Trung Quốc và cuộc chiến với Nhật Bản. Trong thời kỳ này, sự di cư hàng loạt từ Bắc vào Nam Trung Quốc và từ Trung Quốc đến Hồng Kông và Đài Loan đã xảy ra, bao gồm nhiều đại sư và người tập bát quái chưởng. Trong những năm 1920, 1930 và 1940, Nội chiến giữa Quốc dân Đảng (Dân tộc chủ nghĩa) và Cộng sản ở Nam và Tây Trung Quốc, cùng với cuộc chiến với Nhật ở Bắc và Đông Trung Quốc, đã gây ra sự di dời hàng loạt dân thường cũng như nhân sự chính phủ và quân sự. Giao thông đang được cải thiện, và một hành trình từng mất vài tuần hoặc vài tháng giờ chỉ mất vài ngày. Nhiều võ sĩ miền Bắc Trung Quốc, bao gồm cả những người tập bát quái chưởng, chuyển về phía nam. Một số lớn người tập bát quái chưởng đã kết thúc ở Thượng Hải, một thành phố đang trở thành một trung tâm thương mại lớn. Các thầy chuyên nghiệp bị thu hút bởi cơ hội tài chính ở đó. Thêm vào đó, một số người tập bát quái chưởng là thành viên của các hội kín, những người cũng theo hoạt động thương mại đến Thượng Hải. Những người khác, có liên hệ với Quốc dân Đảng với tư cách quan chức cao cấp hoặc thành viên của tầng lớp thượng lưu xã hội, ở lại cùng thủ đô, vốn bị buộc bởi chiến sự phải dời về Nam Kinh ở phía nam, rồi Trùng Khánh ở phía tây, và cuối cùng là Đài Loan. Nhiều người tập bát quái chưởng gia nhập quân đội và tử trận trong các cuộc chiến.
Thái cực quyền đến phương Tây phần lớn là kết quả của cuộc di cư này. Dương Thành Phủ (của thái cực quyền phong cách Dương), con trai ông Dương Thủ Trung, đệ tử của ông Đổng Anh Kiệt, và Ngô Kiến Tuyền (đồng sáng lập thái cực quyền phong cách Ngô) tất cả đều kết thúc ở Hồng Kông và trở nên rất nổi tiếng, trong khi các đại sư như Trịnh Mạn Thanh đến Đài Loan. Từ Hồng Kông và Đài Loan, thái cực quyền đến phương Tây.
Nhiều người tập bát quái chưởng đã dời đi không phải thuộc cấp bậc cao nhất ở Bắc Kinh; do đó, họ không có nhiều thể diện ở Bắc Kinh. Tất nhiên, người Bắc Kinh và Thiên Tân khá bảo thủ. Khi họ dạy, họ thích đi sâu vào chi tiết. Họ từ chối bất cứ điều gì kém hơn huấn luyện nghiêm túc. Chỉ những người cực kỳ tận tâm mới tham gia bát quái chưởng ở Bắc Kinh và Thiên Tân. Một làn sóng di cư xảy ra vào cuối những năm 1920, khi một nhóm cụ thể gồm năm võ sĩ nổi tiếng, bao gồm các đại diện của trường bát quái chưởng/hình ý quyền (Phó Chấn Tùng và Quế Nhất Chi) đi về phía nam. Họ được gọi là Ngũ Hổ, và được những người quân sự miền Bắc cử đến Quảng Châu ở phía nam.
Lưu Hồng Khiết là bạn của Uông Lai Thanh, một trong năm con hổ nổi tiếng, và đã học trong một thời gian ngắn với thầy Quyền Tự Nhiên Môn của Uông là Đỗ Tâm Ngũ. Lưu và Vương đều có cùng một thầy Lục Hợp Thiếu Lâm Quyền. Sau khi Lưu đánh bại Uông trong một trận đấu thân thiện, Uông giới thiệu Lưu với Đỗ, người đã nhận ông làm học trò. Lưu học ngắn hạn với Đỗ Tâm Ngũ, nhưng dừng lại khi Đỗ muốn ông bắt đầu thực hành đá những khúc gỗ lớn bằng chân trần. Lưu tiếp tục với việc thực hành bát quái chưởng của mình thay vào đó.
Nói chung, bát quái chưởng không trở nên phát triển vững chắc ở Nam Trung Quốc. Hầu hết những người di cư về phía nam từ Bắc Kinh sau nội chiến đều kết thúc hoặc ở Hồng Kông hoặc ở Đài Loan. Từ hai địa điểm này, bát quái chưởng lan tỏa ra phần còn lại của thế giới. Bất chấp sự khuếch tán này, đầu tiên đến Đông Nam Á và sau đó đến Bắc Mỹ và châu Âu, trung tâm của vũ trụ bát quái chưởng bên trong Trung Quốc luôn là và tiếp tục là Bắc Kinh và Thiên Tân.
Bát Quái Chưởng Ở Hồng Kông
Với sự tái bùng phát của Nội chiến Trung Quốc sau thất bại của Nhật vào năm 1945, và rồi sự tiếp quản của Cộng sản ở Trung Quốc vào năm 1949, bát quái chưởng càng bị phân tán hơn. Trong những năm 1940 và 1950, nhiều người chạy trốn khỏi Trung Quốc đại lục đến Hồng Kông và Đài Loan. Một vài người tập bát quái chưởng trình độ cao đã đến Hồng Kông, chẳng hạn như Thuận Hy Côn (người đã đến Đài Loan vào cuối đời). Thế nhưng, như một quy tắc chung, hầu hết những người đến Hồng Kông không nhận học trò. Jack Pao (Bào Chí Minh) (xem tr. 272), một đồng nghiệp của tác giả, là một trường hợp điển hình. Jack bị thấp khớp nặng và tập bát quái chưởng chủ yếu để ngăn cơ thể mình tan rã. Ông đã học bát quái chưởng ở Bắc Kinh khi còn nhỏ. Gia đình ông giàu có, và họ có một người tập bát quái chưởng rất giỏi dạy ông. Bởi vì ông trước đây có quan hệ tốt với giới bát quái chưởng, khi chuyển đến Hồng Kông ông đã thuyết phục một số người tập bát quái chưởng ở đó dạy ông thêm trước khi họ quá già. Có lẽ ông đã không được chấp nhận làm học trò nếu không có nền tảng và các mối quan hệ bát quái chưởng trước đây của mình. Vào thời điểm đó, việc được khai môn vào trường bát quái chưởng cực kỳ khó khăn. Thế nhưng, nếu bạn đã bước qua cửa qua một thầy khác, thì việc thuyết phục ai đó giúp bạn tiếp tục việc học dễ dàng hơn nhiều.
Cách tiến hành này tương tự với truyền thống phương Tây, nơi việc trở thành thành viên của câu lạc bộ rất khó, nhưng một khi bạn đã là thành viên, các thành viên khác sẵn lòng hơn giúp đỡ bạn hòa nhập. Việc kết nạp một người vào câu lạc bộ bát quái chưởng ở Trung Quốc, tất nhiên, giả định rằng các bậc tiền bối có thể thấy bát quái chưởng mà học trò đã học là hàng thật và không phải một phiên bản bị pha loãng mà họ sẽ không chịu trách nhiệm. Người tập bát quái chưởng theo truyền thống cực kỳ khắt khe về việc họ sẽ dạy ai. Ở Hồng Kông và Đài Loan, khuynh hướng này được củng cố bởi những định kiến sâu sắc của người miền Bắc chống lại người từ Nam Trung Quốc, những người mà họ thường coi là hời hợt.
Nói chung, từ năm 1974 đến nay, bối cảnh bát quái chưởng ở Hồng Kông tương đối yên tĩnh. Các học trò của Phó Chấn Tùng ở Quảng Châu và Cao Nghĩa Thăng ở Thiên Tân đã dạy công khai ở quy mô nhỏ, nhưng nhìn chung phần lớn bát quái chưởng được dạy không được phổ biến khắp thuộc địa Crown cũ. Thế nhưng, hình ý quyền lại là một chuyện khác. Người tập hình ý quyền công khai nổi tiếng nhất vào đầu những năm 1970 là cố Hàn Tinh Viên, một trong bốn đệ tử chính của Vương Hương Trai từ trường Ý Quyền. Trường hình ý quyền này (xem tr. 180) tập trung vào đứng tĩnh chứ không phải chuyển động. Hàn có tập một ít bát quái chưởng, nhưng đó không phải là sở thích chính của ông. Có một vài người tập hình ý quyền hàng đầu khác ở Hồng Kông, chẳng hạn như Trần Diệc Nhân và Lương Tử Bằng, và khá nhiều người trình độ trung cấp có năng lực.
Bát Quái Chưởng Ở Đài Loan
Nhiều người tập bát quái chưởng hàng đầu đã đến Đài Loan hơn là đến Hồng Kông. Ở Đài Loan, tuy nhiên, cũng không nhiều người hàng đầu nhận hơn một vài học trò. Cũng có nhiều người tập hình ý quyền giỏi ở Đài Loan, nhưng chỉ một vài người dạy ở mỗi khu vực chính. Ở Đài Bắc, có Trương Chấn Phong và, về sau, các anh em họ Hồng (Hồng Ý Tường và Hồng Ý Miên), và Triệu Liên Phương, người giỏi hình ý quyền về mặt cá nhân, nhưng không thực sự truyền đạt tri thức của mình. Ở Đài Trung, có Trần Bàn Linh và Vương Thụ Kim, cũng như nhiều trường hình ý quyền/bát quái chưởng nhỏ và bí mật tốt khác.
Nhiều người dạy bát quái chưởng công khai trong các công viên ở Đài Loan không được giỏi lắm. Họ sẽ viết các chữ Hán xuống đất và nói, "Đây là ý chúng tôi," nhưng rồi chỉ có thể đưa rất ít trong số đó vào thực hành. Có nhiều người tập bát quái chưởng ở Đài Loan, nhưng hầu hết không phải là những người đàn ông bát quái chưởng, những người trong dòng truyền. Thế nhưng, có những cá nhân rải rác khắp đảo người đã...
Phụ Lục B — Bối Cảnh Của Bát Quái Chưởng: Một Lược Sử
Có những người có kỹ năng, nhưng phần lớn vẫn giữ thái độ khiêm tốn, không phô trương.
Một vấn đề khác của bát quái chưởng tại Đài Loan là những người đại lục, những kẻ mà người bản địa gọi là wai sheng ren, tức "người ngoại tỉnh", đã khinh thường người Đài Loan bản địa, coi họ thấp kém về mặt xã hội và chủng tộc — thực chất chẳng khác gì những kẻ quê mùa. Nói chung, những người tập bát quái chưởng gốc đại lục thường không muốn dạy người Đài Loan. Họ cho rằng làm như vậy là hạ thấp phẩm giá của mình. Trương Trăn Phong (Chang Chen Feng) đã làm nhiều người đại lục phẫn nộ khi ông dạy người Đài Loan. Thêm vào đó, nếu bạn là người Đài Loan (như Hùng Nhất Tương — Hung I Hsiang) hoặc nếu bạn có một vị thầy người Đài Loan, bạn sẽ lập tức bị người đại lục gạt bỏ, cho là không có tài cán gì, bất kể bạn có trình độ cao hay không. Theo thời gian, những thái độ này đã thay đổi phần nào, một phần vì nhiều người Đài Loan đã tập bát quái chưởng giỏi hơn cả con cái của những người đại lục, và một phần vì người đại lục và người Đài Loan đã hòa nhập xã hội nhiều hơn.
Như một quy luật chung, hầu hết những thầy bát quái chưởng thực sự giỏi chỉ có vài học trò được gắn kết chặt chẽ bởi quan hệ gia đình hoặc tình bạn. Thuyết phục một vị thầy nhận mình làm học trò có thể mất nhiều năm cố gắng để gặp gỡ ông, nói chuyện với ông, mang quà biếu ông, và dùng mọi năng lực thuyết phục của bạn. Nhiều người đi tìm môn phái coi mình là may mắn chỉ được gặp gỡ và nói chuyện với những huấn luyện viên hàng đầu, và việc một người được nhận làm học trò hay đệ tử là rất hiếm hoi. Cách huấn luyện truyền thống mà các thầy bát quái chưởng đòi hỏi rất khó khăn và nghiêm ngặt. Nó rất khác với cách huấn luyện dễ dàng hơn của môn bát quái chưởng thể dục thể hình mà bạn hiện thấy ở đại lục, hoặc thứ bát quái chưởng bị pha loãng mà người ta thường thấy ở các công viên công cộng.
Ở Đài Loan, bạn phải tìm kiếm để định vị những người bát quái chưởng có trình độ, và bạn phải kiên trì thuyết phục họ dạy mình. Vương Thụ Kim (Wang Shu Jin) ở Đài Trung (Taichung), cũng như Trần Bàn Linh (Chen Pan Ling). Thật không may, Trần Bàn Linh bị suy yếu vì một tai nạn xe hơi những năm cuối đời, nhưng ông vẫn là một huấn luyện viên xuất sắc. Cũng có những người dạy võ ở các thành phố phía nam của Đài Loan: Gia Nghĩa (Chiayi), Đài Nam (Tainan), và Cao Hùng (Kaohsiung). Có những huấn luyện viên kém cỏi sẵn sàng dạy bất kỳ ai, và có những huấn luyện viên giỏi hầu như không dạy ai cả. Tình trạng này đã dẫn đến sự hoang mang lớn về bát quái chưởng tại Đài Loan.
Bát Quái Chưởng Tại Đại Lục Trung Quốc Ngày Nay: Truyền Thống Và Vũ Thuật
Khi Đại Lục Trung Quốc mở cửa với phương Tây vào những năm 1970 và 1980, và những người bát quái chưởng truyền thống tại Đại Lục, Hồng Kông, và Đài Loan cải thiện được sự giao tiếp, họ đã nhận ra rõ ràng rằng môn nghệ thuật mà họ yêu quý đang bị pha loãng nghiêm trọng. Những người đại lục đã tập luyện vào những năm 1920 và 1930 có trình độ kỹ năng cao hơn đáng kể so với những người đã tập vào những năm 1950 và 1960. Sự chênh lệch này không chỉ là hệ quả của số năm thực hành, mà còn do sự thuần khiết của bát quái chưởng được học. Sự khác biệt không phải là nhỏ nhặt — nó giống như ban đêm và ban ngày. Môn nghệ thuật dường như đang hấp hối, khi mỗi thế hệ nối tiếp nhau lại thể hiện một bát quái chưởng chất lượng thấp hơn. Tình trạng tương tự cũng xảy ra với hình ý quyền và thái cực quyền.
Một số người ở Đài Loan đã nỗ lực phi thường và kéo dài để học bát quái chưởng, và đã tiêu tốn cả gia tài để cố gắng truy tìm những vị thầy chân chính của môn nghệ thuật này. Thế nhưng, các đại sư bát quái chưởng ngày càng già yếu và qua đời, và tri thức của họ thường không được truyền đạt trọn vẹn cho thế hệ kế tiếp. Để làm tình hình tồi tệ hơn, thứ bát quái chưởng chất lượng thấp lại đang nhận được nhiều tín nhiệm hơn, đặc biệt ở những nơi nó bị trộn lẫn với các môn võ thuật công phu (gung fu) bên ngoài.
Khi bát quái chưởng đi từ Bắc Kinh đến Nam Trung Quốc và từ đó lan tỏa sang Đài Loan, Hồng Kông, và phần còn lại của thế giới, nó đã bị trộn lẫn với nhiều môn võ thuật Nam và Bắc Trung Quốc khác nhau. Khi những người bát quái chưởng trình độ thấp rời Bắc Kinh, họ có thể chỉ mang theo 10 đến 20 phần trăm của toàn bộ môn nghệ thuật, và sự pha trộn thứ bát quái chưởng không đầy đủ này với các môn nghệ thuật khác đã dẫn đến sự pha loãng và ô nhiễm rất lớn đối với bát quái chưởng nguyên bản. Việc một người học chút ít bát quái chưởng ở đây, chút ít hình ý quyền ở kia, một ít vật Trung Quốc (Chinese wrestling) từ đâu đó, và có lẽ một vài môn võ thuật hay khí công khác từ không rõ nguồn gốc nào, rồi bắt đầu dạy phiên bản lai tạp của riêng họ là chuyện rất phổ biến. Ngay cả những sự pha trộn khá hơn cũng chỉ là 30 phần trăm bát quái chưởng, với 20 phần trăm hình ý quyền, 30 phần trăm thái cực quyền, và 20 phần trăm các môn nghệ thuật tạp nhạp. Sự lai tạp này không xảy ra trong mọi trường hợp, và nhiều cao thủ vẫn giữ sự kén chọn trong việc chọn học trò và giữ gìn tính truyền thống trong cách dạy. Tuy nhiên, có thể nói chính xác rằng khi bát quái chưởng lan rộng ra bên ngoài, chất lượng của nó đã suy giảm, và những truyền thừa rõ ràng từ trường phái bát quái chưởng nguyên thủy thì rất ít và thưa thớt. Một tình trạng tương tự cũng tồn tại với thái cực quyền, khi đa số những thầy thái cực quyền rời Trung Quốc sang Đài Loan không được đào tạo bài bản về thái cực quyền.
Nhiều yếu tố đã phá vỡ sự truyền thừa của bát quái chưởng trong thời kỳ hậu năm 1949. Trước hết, vào năm 1949, Trung Quốc bị chia cắt về mặt chính trị làm hai phần. Nhiều người theo Quốc Dân Đảng (Nationalists) đã cố gắng chạy trốn sang Hồng Kông, Đài Loan, hoặc Đông Nam Á vì có nguy cơ bị xử tử hoặc tù đày dài hạn. Đối với những người ở lại đại lục, việc thừa nhận mình biết bát quái chưởng là việc đầy rủi ro. Họ có thể bị đưa vào danh sách "cần theo dõi", vốn tiềm ẩn sự nguy hiểm cực độ. Nhiều người bát quái chưởng đã chạy đến những vùng hẻo lánh của Trung Quốc và "giấu ánh sáng của mình", không phô bày những gì họ biết. Nếu họ đã trên 60 tuổi, họ có thể đã "giấu ánh sáng" cho đến khi qua đời. Nếu họ có dạy thì cũng chỉ có lẽ cho một hoặc hai cá nhân trong bí mật, khó có thể gọi là điều kiện học tập tối ưu.
Thứ hai, trước Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Quốc, có "Đại Nhảy Vọt" (Great Leap Forward) vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, khi 30 triệu người chết vì nạn đói. Trong thời gian này, hầu như không có thực phẩm nào ở Trung Quốc. Đối với bất kỳ vận động viên nghiêm túc nào đang tập luyện nặng, thức ăn đầy đủ là cần thiết để tập luyện tốt. Vì thực phẩm không có sẵn, việc tập luyện bát quái chưởng của thế hệ những năm 1950 và đầu những năm 1960 đã chịu ảnh hưởng tương ứng.
Trong giai đoạn này, một số điều thực sự đã giúp trường phái bát quái chưởng phần nào: Một trong những vệ sĩ được Mao Trạch Đông tin cậy nhất là một người tập bát quái chưởng; sau đó Mao đề xướng thái cực quyền thuần túy vì sức khỏe và những người bát quái chưởng đôi khi có thể núp sau sự cho phép chính thức đó.
Yếu tố làm suy yếu thứ ba là việc "cái cũ" trở thành mục tiêu chính của Cách Mạng Văn Hóa và bị chống lại, cũng giống như Nho giáo và Phật giáo bị bài trừ. Giải pháp khéo léo cho vấn đề này là sự ra đời của Vũ Thuật (Wushu), hay "nghệ thuật kỹ thuật chiến đấu". Thay vì Vũ Thuật mang bản chất quân sự hay thiền định, nó lại là một hệ thống nghệ thuật trình diễn được nhà nước bảo trợ. Vũ Thuật dựa trên sự pha trộn giữa các động tác võ thuật, múa, và thể dục dụng cụ. Từ góc độ chiến trường, võ thuật bị hạ cấp xuống thành "động tác chiến đấu", thường được biểu diễn giống múa hơn là quyền thuật. Trọng tâm được đặt vào giáo dục thể chất, với thiên hướng ưu tiên vẻ đẹp trực quan trong biểu diễn. Vũ Thuật cũng được thiết kế để lập danh mục và bảo tồn các hình thức động tác chiến đấu, về cơ bản tạo ra một bách khoa toàn thư sống về các kỹ thuật võ thuật Trung Quốc. Được chính phủ trung ương hậu thuẫn, các võ thuật Trung Quốc vì thế được quảng bá cả đến quần chúng nhân dân Trung Quốc, lẫn đến các quốc gia khác thông qua các chuyến lưu diễn Vũ Thuật hữu nghị quốc tế do chính phủ bảo trợ. Trọng tâm được đặt vào điền kinh, giãn cơ, vẻ đẹp của động tác, và tinh thần Trung Hoa. Chương trình nghị sự này hoàn toàn khác với võ thuật truyền thống, vốn kết hợp những đức tính của chiến trường như lòng dũng cảm, tinh thần, sức mạnh, năng lực chiến đấu, thiền định, cũng như các giá trị đạo đức của Nho giáo, Phật giáo, và Đạo gia. Trong khi các võ sư truyền thống dành từ năm đến ba mươi năm để hoàn thiện một môn võ thuật tích hợp, thì người biểu diễn Vũ Thuật giống như một vũ công sử dụng phương pháp múa hiện đại.
Ban đầu, một vũ công hiện đại bắt đầu với một nền tảng động tác cốt lõi chung nhấn mạnh vào giãn cơ, thăng bằng, kiểm soát cơ thể tốt, và khả năng thể hiện sự hiện diện trên sân khấu bằng cách bộc lộ cảm xúc hay uy lực thông qua động tác.
Phương pháp Vũ Thuật, vốn cũng giống như múa, không bao gồm bất kỳ huấn luyện sức mạnh thực tế nào có thể áp dụng vào tự vệ, sử dụng làm nền tảng môn trường quyền (chang chuan — Bắc Thiếu Lâm trường quyền) để dạy các kỹ năng cơ bản về giãn cơ, thể dục dụng cụ (lộn nhào và xoay người trên không), thăng bằng, vận động cơ thể tốt, sự hiện diện sân khấu, và các biểu hiện của động tác chiến đấu với sức mạnh thể chất tối thiểu.
Cũng giống như vũ công hiện đại sau đó liên tục học những phần biên đạo mới, người tập Vũ Thuật sẽ tiếp theo học hàng trăm bài (sets) từ hàng chục môn võ thuật được biểu diễn như những biến thể trên nền tảng huấn luyện trường quyền cơ bản. Những người thực hành Vũ Thuật thường nghiên cứu các động tác bên ngoài (các bài) của một môn võ thuật trong vài tháng, sau đó thêm "môn võ thuật" mới vào kho tàng giảng dạy hay biểu diễn của họ, thường là mà không đạt được bất kỳ năng lực chiến đấu đáng kể nào trong "môn võ thuật mới" đó. Các thầy truyền thống, nhận thức được cách tiếp cận Vũ Thuật, thường bày tỏ sự dè dặt về nó. Vào những năm 1990, các phương pháp tiếp cận truyền thống đã bắt đầu tái xuất hiện trong Vũ Thuật, đặc biệt với việc khôi phục các cuộc thi đấu tiếp xúc toàn diện (full contact) ở Trung Quốc.
Những người tập Vũ Thuật làm việc rất chăm chỉ với "Võ Thuật Hiện Đại". Nỗ lực và hàng ngàn giờ thực hành cần mẫn của họ xứng đáng nhận sự tôn trọng chân thành. Tuy nhiên, nghệ thuật trình diễn và võ thuật truyền thống là những sinh vật hoàn toàn khác nhau về những gì chúng mang lại cho người thực hành và cho xã hội. Vũ Thuật chủ yếu quan tâm đến các động tác bề ngoài của bát quái chưởng, trong khi bát quái chưởng truyền thống quan tâm đến sự phát triển nội tại và các kỹ năng thực tế có thể đạt được từ môn nghệ thuật cổ xưa này. Các giá trị và kỹ năng của một người quan tâm đến tu dưỡng khí và khả năng chiến đấu rất khác với những người quan tâm đến biểu diễn sân khấu. Vũ Thuật đã có những đóng góp quý giá về mặt văn hóa thể chất và kỹ năng tổ chức. Tuy nhiên, nhìn chung, Vũ Thuật là một trong những dòng chảy đã pha loãng môn nghệ thuật của bát quái chưởng trường (ba gua chang) truyền thống.
Các Dòng Truyền Thừa Khác Nhau
Các trường phái của Thành Đinh Hoa (Cheng Ting Hua) và Ân Phúc (Yin Fu) đã trở thành hai trường phái bát quái chưởng thống trị cả bên trong và bên ngoài Trung Quốc. Trong tất cả những người thực hành bát quái chưởng mà tác giả từng thấy ở Đài Loan, Hồng Kông, và Đại Lục Trung Quốc, đa số những người có thể nhất quán sử dụng bát quái chưởng như một môn võ thuật đều xuất thân từ một trong hai dòng truyền thừa này. Những đệ tử khác của Đồng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan), cụ thể là Tống Thư Dung (Sung Shr Rong), và Thập Lưu (Shr Liu — người mà Đồng cũng từng sống cùng), đã truyền lại môn nghệ thuật của họ, nhưng theo quan sát của tác giả, chính những học trò của họ — những người cũng đã học với Thành Đinh Hoa hoặc Ân Phúc — mới là những người nói chung có thể thực sự sử dụng trọn vẹn môn nghệ thuật của mình.*
Có nhiều trường phái khác, thường được gọi là bát quái chưởng này hay bát quái chưởng kia, tự xưng là có nguồn gốc từ đâu đó ngoài Đồng Hải Xuyên, dù tất cả các trường phái bát quái chưởng được kính trọng vì kỹ thuật chiến đấu của họ đều bắt nguồn từ Đồng. Có nhiều câu chuyện về những trường phái bát quái chưởng bí mật ở những vùng hẻo lánh của Trung Quốc. Nhất định, bất cứ khi nào những lời tuyên bố này được điều tra sâu, thì luôn luôn hóa ra những trường phái đó bắt nguồn từ dòng Thành Đinh Hoa hoặc Ân Phúc. Nếu không, thì những gì họ đang làm không thể sánh được với bát quái chưởng của Đồng về nội dung hay hiệu quả.
Hiện nay tại Trung Quốc, đa số những võ sĩ mạnh nhất và những kỹ thuật gia bát quái chưởng tài nghệ nhất không nghi ngờ gì đều xuất thân từ trường phái Thành Đinh Hoa. Trường phái Ân Phúc vẫn mạnh, nhưng số người có thể thực hành dòng bát quái chưởng này với trình độ cao dường như đang
Ghi chú của biên tập viên: Mặc dù tác giả đã "trao đổi tay" (nghĩa là đấu tập hoặc thực hiện Nhu Thủ — Rou Shou) với hơn 200 người thực hành, ông không tự mình truy tìm từng nhánh của các trường phái khác, và do đó những quan sát của ông có thể không hoàn toàn chính xác. Ông đã nghiên cứu cả hai phong cách, và không có sự ưu tiên đặc biệt cho phong cách nào. Mỗi phong cách đều có những đặc điểm riêng, tích cực và tiêu cực. Trường phái Ân Phúc thiên về tuyến tính hơn, và trường phái Thành Đinh Hoa thiên về đường cong và xoắn ốc hơn.
thu hẹp lại, trong khi số lượng những người thực hành Thành Đinh Hoa trình độ cao dường như tương đối đang tăng lên. Tình trạng này có thể là do Thành đã thu hút những học trò giỏi hơn, hoặc có thể vì hệ thống của ông dễ học hơn. Tại Hoa Kỳ và châu Âu vào thời điểm này, đại đa số người thực hành bắt nguồn từ trường phái Thành.
Không phải mọi dòng truyền thừa đều sẽ giữ nguyên vẹn khía cạnh vật lý/khí, khía cạnh võ thuật, và khía cạnh tinh thần của bát quái chưởng. Các thầy chỉ có thể dạy những gì họ biết, và đó có thể không nhất thiết là những gì học trò mong muốn thầy nên biết. Những thầy bát quái chưởng và các nội gia võ thuật khác trình độ cao thực sự rất hiếm. Do đó, phương pháp của họ nên được tôn vinh. Thông thường, điều gì đó có chất lượng làm phong phú cuộc sống của bạn sẽ được ghi nhớ — lâu sau khi cái giá và nỗ lực bỏ ra đã phai mờ khỏi ký ức.
Phụ Lục C — Giải Phẫu Năng Lượng Của Cơ Thể Con Người
Các Kênh Năng Lượng Chính Và Ba Đan Điền
Ba kênh năng lượng chính, hay những đường dẫn chảy — kênh trái, kênh phải, và kênh trung tâm (xem Hình 1 và Hình 2) — bắt đầu hình thành lúc thụ thai và tồn tại trong một người suốt cuộc đời. Những năng lượng quan trọng khác di chuyển trong cơ thể con người theo các mô thức kinh lạc đã được y học Trung Hoa vẽ bản đồ rõ ràng. Bất kỳ sách nào về châm cứu đều nên bao gồm các biểu đồ xác định chúng. Tuy nhiên, theo lý thuyết khí công của Đạo gia, kênh trái, phải, và trung tâm tồn tại trước các kinh lạc châm cứu và tạo ra những kinh lạc này trong quá trình phát triển bào thai. Ba kênh năng lượng chính có một số đặc điểm chung.
Ví dụ, cả ba đều nằm ở trung tâm cơ thể; nghĩa là, trong mỗi kênh, các dòng chảy năng lượng xảy ra ở giữa khoảng cách giữa da ở trước cơ thể và da ở sau cơ thể.
Ngoài ra, kênh trung tâm hợp với kênh phải ở phía bên phải cơ thể và kênh trái ở phía bên trái tại đầu ngón tay, đầu ngón chân, trung tâm nách, kwa (nếp gấp bẹn), và tại huyệt bách hội (ba hui / bai hui), nằm ở trung tâm đỉnh đầu.
Đường Đi Của Kênh Trung Tâm
Trong thân mình và đầu: Kênh trung tâm chạy từ trung tâm của đáy chậu (khu vực giữa hậu môn và phần sau của cơ quan sinh dục ngoài) xuyên qua trung tâm thân mình lên đến huyệt bách hội ở trung tâm đỉnh đầu. Kênh chạy qua các cơ quan nội tạng, mô mềm, mạch máu, và não.
Trong cánh tay: Kênh trung tâm chạy từ trung tâm đan điền (đan điền giữa) đến một điểm gặp gỡ ở trung tâm nách, nơi năng lượng của kênh trung tâm và kênh trái hoặc phải tạm thời hợp nhất. Từ nách, năng lượng của kênh trung tâm di chuyển qua tủy xương của xương cánh tay, qua trung tâm các khớp khuỷu tay rồi đến khớp cổ tay, đến trung tâm lòng bàn tay và từ đó, qua tủy xương, đến đầu ngón tay. Ở đầu ngón tay, năng lượng của kênh phải và trái ở hai bên tương ứng hòa quyện với năng lượng của kênh trung tâm và, một khi đã hợp nhất, tiếp tục đi đến rìa của thể dĩ thái (etheric body).
Trong chân: Kênh trung tâm chạy qua tủy xương từ đáy chậu giữa hai chân dọc theo một đường tiếp tục băng qua khung chậu đến kwa và ổ cối khớp hông. Từ đó nó đi qua tủy xương của xương chân, qua các khớp đầu gối và mắt cá chân, rồi qua trung tâm của mỗi bàn chân dọc theo một đường giữa từ gót chân đến phần lòng bàn chân trước (ball of the foot) và sau đó qua tủy xương của các ngón chân.
Nơi kênh trung tâm rời khỏi cơ thể: Năng lượng của kênh trung tâm hòa lẫn với năng lượng của kênh phải và trái, và những năng lượng hỗn hợp này thoát khỏi thể xác vật lý đến thể dĩ thái tại những điểm này:
1. Từ đầu ngón tay và đầu ngón chân, kéo dài đến ranh giới của thể dĩ thái.
2. Từ huyệt bách hội ở đỉnh đầu đến ranh giới của thể dĩ thái phía trên đầu, nơi năng lượng cá nhân của một người kết nối với năng lượng của trời (năng lượng vũ trụ).
3. Từ trung tâm phần lòng bàn chân trước của mỗi bàn chân kéo dài ra bên dưới bàn chân, đến ranh giới của thể dĩ thái ở phía dưới, nơi năng lượng cá nhân của một người kết nối với năng lượng của đất.
Hình 4 — Kênh Trung Tâm: Trung tâm nách (phải), trung tâm bụng giữa (phải), kwa (phải), trung tâm nách (trái), đan điền thượng, đan điền trung, trung tâm bụng giữa (trái), đan điền hạ, kwa (trái), và rìa thể dĩ thái. Thiên (năng lượng vũ trụ) ở trên; địa (năng lượng đất) ở dưới.
Đường Đi Của Kênh Trái Và Kênh Phải
Trong đầu và vai: Từ đỉnh đầu đi xuống xương đòn, kênh trái và kênh phải không bao giờ giao cắt kênh trung tâm. Kênh trái và kênh phải bắt đầu tại huyệt bách hội ở đỉnh đầu (nơi năng lượng của chúng hợp với kênh trung tâm). Chúng tiếp tục đi xuống trung tâm não bộ, song song ở hai bên kênh trung tâm với một khoảng cách nhỏ đến mức không thể cảm nhận được. Tại đan điền thượng (con mắt thứ ba), khoảng cách giữa kênh trái và kênh phải nới rộng ra, và chúng tiếp tục đi xuống trung tâm mắt, đến lỗ mũi, xuống mỗi bên miệng, xuống cổ họng, đến mức xương đòn, gần nhưng không giao cắt kênh trung tâm. Tại điểm này kênh trái và phải phân nhánh theo một đường sang trái và sang phải dọc theo đường giữa giữa xương đòn và lưng, nơi chúng tạm thời hợp với kênh trung tâm ở trung tâm nách, trước khi lại tách ra.
Trong cánh tay: Từ trung tâm nách ở bên tương ứng của cơ thể, kênh trái và phải chạy xuống mỗi cánh tay đến đầu ngón tay bên trong ma trận xương (calicum) của cả xương cánh tay và các khớp, đến đầu của năm ngón tay. Tại đây, kênh trái và phải hợp nhất với kênh trung tâm.
Trong chân: Bắt đầu từ kwa (nếp gấp bẹn), cả kênh trái và phải chạy bên trong ma trận xương của ổ cối khớp hông tương ứng, xương đùi và xương ống chân, khớp gối và mắt cá chân, bên trong những xương nhỏ của bàn chân dọc theo hai đường song song mỏng ở hai bên kênh trung tâm, đến trung tâm phần lòng bàn chân trước nơi kênh trái, phải và trung tâm hợp nhất. Chúng sau đó lại tách ra và đi đến đầu ngón chân, nơi lại một lần nữa kênh trái và phải hợp với kênh trung tâm và năng lượng hỗn hợp tiếp tục đến ranh giới của thể dĩ thái.
Các cửa kiểm soát của kênh trái và phải: Có ba "cửa cống" năng lượng có thể cho phép năng lượng đi qua kênh trái và phải không bị cản trở, hoặc làm suy giảm nó, hoặc cắt đứt hoàn toàn dòng chảy của nó. Chúng nằm ở trung tâm nách, trung tâm bụng giữa, và kwa.
Hình 2 — Kênh Trái và Kênh Phải: Thiên (năng lượng vũ trụ). Kênh trái và phải, hợp nhau tại đỉnh đầu, cách nhau một khoảng không thể nhận thấy cho đến khi chúng nới rộng ra tại đan điền thượng. Đan điền thượng, trung tâm nách (phải), trung tâm nách (trái), đan điền trung, trung tâm bụng giữa (phải), trung tâm bụng giữa (trái), đan điền hạ, kwa (phải), kwa (trái), rìa thể dĩ thái, và địa (năng lượng đất).
Phụ Lục D — Các Dòng Truyền Thừa Và Niên Biểu Huấn Luyện
Tóm Tắt Kinh Nghiệm Võ Thuật Của B. K. Frantzis
Niên Biểu Huấn Luyện Võ Thuật Của Tác Giả
| Môn võ thuật | Nơi huấn luyện | Thời gian huấn luyện |
|---|---|---|
| Judo | New York; Tokyo | 1961–67; 1967–70 |
| Karate | New York; Tokyo; Okinawa | 1961–67; 1967–69; 1970 |
| Jujitsu | New York | 1962–66 |
| Aikido | New York; Tokyo | 1963–1967; 1967–69 |
| Taido | New York | 1965–66 |
| Crane Trắng Quảng Đông (Cantonese White Crane) | New York | 1966–67 |
| Quyền Khỉ (Monkey Boxing) | New York | 1966–67 |
| Bát Quái Chưởng | Tokyo/Taiwan | 1968–71; Taiwan/Hong Kong 1974–75, 77–79, 83, 87, 89; Bắc Kinh 1981, 83–86 |
| Thái Cực Quyền | Tokyo/Taiwan | 1968–71; Hong Kong/Taiwan 1974–75, 77–79, 83, 87, 89, 97; Hạ Môn (Xiamen) 1983–84; Bắc Kinh 1981, 83–86 |
| Hình Ý Quyền | Tokyo/Taiwan | 1968–71; Hong Kong/Taiwan 1974–75, 77–79, 83, 87, 89; Bắc Kinh 1981, 83–86 |
| Crane Trắng Phúc Kiến (Fukien White Crane) | Tokyo; Taiwan | 1971; 1974–75 |
| Vịnh Xuân (Wing Chun) | New York; Hong Kong | 1972, 76; 1974, 75, 77 |
| Vật Trung Quốc (Chinese Wrestling) | Taiwan | 1974 |
| Quyền Khỉ Bắc Phái (Northern Monkey Boxing) | Taiwan | 1974–75, 78 |
| Tám Tiên Say (Eight Drunken Immortals) | Taiwan | 1974–75, 78 |
| Tỳ Hoa (Praying Mantis) | Taiwan | 1974–75 |
| Thiếu Lâm Bắc Phái (Northern Shaolin) | Hong Kong | 1983 |
Ghi chú: Vào thời điểm những khóa huấn luyện này, các thầy võ truyền thống Trung Hoa của nội gia võ thuật thường không cấp chứng chỉ cho học trò. Tuy nhiên, một số tài liệu đã được trao cho tác giả, một phần trong số đó xuất hiện trong các phần sau. Biểu đồ trên không bao gồm việc tác giả tập luyện các môn liên quan như thiền định, khí công, tu na (tui na), và các môn trị liệu cơ thể khác, cũng như không bao gồm hai năm ông ở Ấn Độ nghiên cứu Yoga, Kundalini, và Tantra.
Các Chứng Chỉ
Chứng Chỉ Bát Quái Chưởng
Kumar Frantzis, người có pháp danh được ban là Phạm Thanh Nhân (Fan Qingren) và Phạm Chí Sơn (Fan Zhishan), là một đệ tử xuất chúng của môn bát quái chưởng của chúng tôi (truyền thống). Nghệ thuật của ông rất tinh xảo và thân thể cùng đôi tay ông mạnh mẽ, dồi dào sinh khí.
Mùa hè này, Kumar Frantzis đã đến Trung Quốc và được huấn luyện trực tiếp trong sân tập của chúng tôi. Ông có khả năng suy ra các trường hợp khác từ một ví dụ, thấu hiểu một cách ngầm hiểu và học tập cần mẫn, tập luyện chăm chỉ. Ông có tâm hồn cởi mở và giỏi học hỏi từ người khác. Rất ít người trên thế giới có thể sánh được với ông. Như người ta thường nói, những người làm nghề chuyên nghiệp không bằng những người thực sự yêu thích những gì họ đang làm.
Khi ông trở về Hoa Kỳ, tôi hân hạnh viết vài lời để khen ngợi và khích lệ ông.
Lưu Hồng Khiết (Liu Hongjie / Liu Hung Chieh)
Sân huấn luyện, Bắc Kinh, ngày 6 tháng 9 năm 1981
Chứng Chỉ Thái Cực Quyền
Chứng chỉ số 80853
Ngày 11 tháng 9 năm 1981
Kumar Frantzis đã hoàn thành việc học nâng cao thái cực quyền 24 hình thức (24 patterns), thái cực kiếm 32 hình thức, đao thái cực và Thôi Thủ (Push Hands — Đẩy Tay) tại Học Viện Thể Dục Thể Thao Bắc Kinh, Bắc Kinh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, từ ngày 4 tháng 8 năm 1981 đến ngày 10 tháng 9 năm 1981. Ông đủ tư cách làm huấn luyện viên.
Học Viện Thể Dục Thể Thao Bắc Kinh
Bắc Kinh, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa
Chứng Chỉ Hình Ý Quyền
Kumar Frantzis, người có pháp danh được ban là Phạm Thanh Nhân và Phạm Chí Sơn, là một đệ tử xuất chúng của môn hình ý quyền của chúng tôi (truyền thống). Công phu (kỹ năng) của ông rất tốt, và động tác của ông nhanh nhẹn và hoàn hảo.
Mùa hè này ông đến Trung Quốc và tôi đã trực tiếp huấn luyện ông. Khi tôi bảo "A", ông đã biết "Z". Ông thấu hiểu mọi thứ từ tâm can và linh hồn. Ông cần mẫn và tập luyện chăm chỉ. Ông rất khiêm tốn khi đặt câu hỏi. Trong một ngày thực hành, ông có thể đi được ngàn dặm. Tôi rất vui vì ông là một học trò rất đặc biệt và xuất chúng.
Khi ông trở về Hoa Kỳ, tôi hân hạnh viết vài lời để khen ngợi và khích lệ ông.
Lưu Hồng Khiết (Liu Hongjie / Liu Hung Chieh)
Sân huấn luyện, Bắc Kinh, ngày 11 tháng 9 năm 1981
Các Dòng Truyền Thừa
Thông tin dòng truyền thừa này được Lưu Hồng Khiết cung cấp cho B. K. Frantzis. Lưu nói rằng không thể liệt kê tất cả các đại sư của dòng truyền thừa. Theo lời Lưu, "Những đại sư được liệt kê ở đây là những người quan trọng, và môn nghệ thuật của họ được truyền lại trực tiếp bởi Thế Hệ Cũ."
Danh Sách Tên Các Đại Sư Bát Quái Chưởng
Thế hệ thứ nhất: Đồng Hải Xuyên (Tung Hai Chuan)
Thế hệ thứ hai: Ân Phúc (Yin Fu), Mã Duy Kỳ (Ma Weigi), Thành Đinh Hoa (Cheng Ting Hua)
Thế hệ thứ ba: Mã Quý (Ma Gui), Lý Vĩnh Khánh (Li Yongqing), Lưu Kiến Thần (Liu Jianchen), Quách "Cái Bánh Bao" (Mantou Guo)
Thế hệ thứ tư: Chu Văn Bảo (Zhu Wenbao)
Thế hệ thứ năm: Lưu Chấn Lâm (Liu Zhenlin)
Thế hệ thứ sáu: Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh)
Thế hệ thứ bảy: Bạch Hoa (Bai Hua), Phạm Thanh Nhân (Kumar Frantzis)
Danh Sách Tên Các Đại Sư Thái Cực Quyền
Trương Tam Phong (Chang San Feng — một nhân vật Đạo gia huyền thoại)
Vương Tông Nhạc (Wang Tsung Yueh)
Trần Vương Đình (Chen Wang Ting)
Trần Hưng (Chen Hsing)
Dương Lộ Thiền (Yang Lu Chan)
Dương Ban Hầu Truyền Hữu (Yang PanHou Chuan You)
Ngô Kiệm Tuyền (Wu Jien Chuan)
Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh)
Phạm Thanh Nhân (Kumar Frantzis)
Danh Sách Tên Các Đại Sư Hình Ý Quyền
(Kể từ Lý Lạc Năng, huyện Thẩm, tỉnh Hà Bắc)
1. Lý Lạc Năng (Li Luo Neng)
2. Lưu Kỳ Lan (Liu Qilan), Quách Vân Thâm (Guo Yun Shen)
3. Lý Tông Nghĩa (Li Tsung I), Trương Chiêu Đồng (Chang Chao-Tung)
4. Lý Vân Sơn (Li Yunshan), Thượng Vân Tường (Shang Yunxiang), Tôn Lộc Đường (Sun Lu Tang)
5. Lý Giang Cửu (Li Jiangiu), Kim Vân Đỉnh (Jin Yunding)
6. Lưu Hồng Khiết (Liu Hung Chieh), Lý Khuê Nguyên (Li Kuiyuan)
7. Bạch Hoa (Bai Hua), Phạm Thanh Nhân (Kumar Frantzis)
Phụ Lục E — Thuật Ngữ Trung Hoa
Cách Chuyển Tự (Romanization) Các Từ Tiếng Trung Trong Cuốn Sách Này
CÁCH CÁC TỪ, CỤM TỪ VÀ TÊN RIÊNG TIẾNG TRUNG ĐƯỢC CHUYỂN TỰ TRONG VĂN BẢN NÀY
Các bản dịch tiếng Anh của các từ và cụm từ tiếng Trung đã được sử dụng rộng rãi trong văn bản này. Tuy nhiên, do bản chất của nội dung, không phải lúc nào cũng có thể tránh được việc sử dụng một bản chuyển tự (transliteration) của tiếng Trung thực tế. Do đó, một bảng chú giải ở cuối sách đã được cung cấp, bao gồm định nghĩa của tất cả các thuật ngữ tiếng Trung được chuyển tự. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm chuyển tự âm thanh của các từ tiếng Trung sang tiếng Anh một cách chính xác đều nhất định sẽ thất bại phần nào. Một lý do là tiếng Trung có những âm mà tiếng Anh đơn giản là không có; lý do khác là tiếng Trung sử dụng một hệ thống "thanh điệu" không tồn tại trong tiếng Anh. Hơn nữa, tiếng Anh có những âm không có trong tiếng Trung. Những người nói tiếng Anh cố gắng phát âm các từ tiếng Trung sẽ không thể tránh khỏi thêm vào những âm từ ngôn ngữ của họ, làm bóp méo cách phát âm tiếng Trung.
Mỗi hệ thống chính để chuyển tự các từ tiếng Trung đều có những khiếm khuyết của nó. Chữ Hán (Chinese) được viết bằng các hình tượng (ideogram pictures), mỗi hình có thể truyền đạt một ý tưởng hoặc vài ý tưởng kết hợp. Những hình tượng này, khi được nói ra, được phát âm khác nhau trong các ngôn ngữ tiếng Trung khác nhau. Đối với tai người nước ngoài, những ngôn ngữ này đôi khi có vẻ xa cách như tiếng Pháp và tiếng Đức. Ví dụ, từ chỉ gia đình là jia trong Quốc Ngữ (National Language), tức tiếng Quan Thoại (Mandarin), nhưng nó là gar trong tiếng Quảng Đông, một thổ ngữ khu vực của Trung Quốc, hay phương ngữ, được hơn sáu mươi triệu người ở tỉnh Quảng Đông và người Hồng Kông sử dụng. Còn có những ngôn ngữ khu vực khác, lại với những âm khác cho cùng một chữ, chẳng hạn như tiếng Tứ Xuyên (Szechuanese — ngôn ngữ có số người sử dụng lớn hơn tiếng Quảng Đông) và tiếng Mân Nam (Minnanhua) của tỉnh Phúc Kiến (là một ngôn ngữ cổ hơn tiếng Quảng Đông). Tồi tệ hơn nữa, có các thổ ngữ nhỏ bên trong mỗi phương ngữ chính. Trong một số trường hợp ở Trung Hoa cũ, những người từ cùng một tỉnh, cách nhau chỉ một hoặc hai trăm dặm, hầu như không thể giao tiếp với nhau.
Không có một hệ thống duy nhất đúng để viết các từ tiếng Quan Thoại chuẩn bằng tiếng Anh hay chữ La Mã (Roman script). Hiện nay, có ba hệ thống chính để chuyển tự tiếng Trung, những hệ thống này đánh vần cùng một từ tiếng Trung đôi khi giống nhau và đôi khi khác nhau. Mỗi trong ba hệ thống này là một phương pháp chuyển tự hợp lệ để thể hiện âm phát ra của tiếng Quan Thoại chuẩn bằng bảng chữ cái tiếng Anh. Ba hệ thống đó là hệ thống Pinyin của Đại Lục Trung Quốc, hệ thống Wade-Giles, và hệ thống Yale.
Hệ thống Pinyin của Đại Lục Trung Quốc, đang được sử dụng với tần suất ngày càng tăng trong giới học thuật và văn học phổ thông, đã chính thức được Liên Hợp Quốc sử dụng từ năm 1972 khi Trung Quốc thay thế Đài Loan tại tổ chức này. Kể từ đó, Pinyin đã trở thành cách "chính thức" để chuyển tự các từ tiếng Trung. Hệ thống này dùng chữ x tiếng Anh như một âm "hs" hay "sh", chữ q như một âm "ch", và chữ z như một âm "dz". Hệ thống Wade-Giles là hệ thống tiêu chuẩn được dùng phổ biến nhất trước những năm 1980. Trong hệ thống này, ký hiệu gây nhầm lẫn nhất là dấu nháy đơn, vốn cực kỳ quan trọng trong phát âm.
Theo đó, trong hệ thống Wade-Giles, bạn sẽ thấy t'ai chi ch'uan. Nó được phát âm là "tie jee chewan."
Dùng hệ thống Pinyin, nó được viết là tai ji quan.
Dùng hệ thống Yale, nó xuất hiện là tai ji chuan.
Hệ thống Yale là hệ thống được dùng ít phổ biến nhất. Nó được Đại Học Yale tạo ra cụ thể để thể hiện, ở mức độ lớn nhất có thể, một cách phát âm hợp lý về cách tiếng Trung được phát âm chính xác bằng các chữ cái tiếng Anh. Ví dụ, khí công (chi gung) trong hệ thống Yale là chi gung; trong Wade-Giles, nó là chi kung; và trong Pinyin, nó là qi gong. Thực ra, cách nó được nói ở Trung Quốc gần nhất với "chee gung". Chữ qi của Pinyin và chữ kung của Wade-Giles là gây nhầm lẫn nhất ở đây.
Một cách khác để minh họa những khác biệt đáng kể giữa ba hệ thống chuyển tự là xem xét cách mỗi hệ thống phiên âm môn nội gia võ thuật là chủ đề chính của cuốn sách này, môn nghệ thuật dựa trên Kinh Dịch (I Ching).
Trong hệ thống Wade-Giles, môn nghệ thuật là pa kua chang.
Trong hệ thống Pinyin, môn nghệ thuật là ba gua zhang.
Trong hệ thống Yale, môn nghệ thuật là ba gua jang (gần nhất với tiếng Trung được nói thực tế).
Cuốn sách này tự do pha trộn và kết hợp các chuyển tự từ các hệ thống hiện có trên hai cấp độ. Trước hết, về mặt nhận thức (cognitive). Đối với những ai đã đọc các tài liệu liên quan về võ thuật, khí công, thiền định, v.v., chúng tôi đã tự cho mình quyền làm cho việc nhận ra từ hay cụm từ nào đang được nhắc đến dễ dàng hơn bằng cách đánh vần nó theo cách có khả năng không gây nhầm lẫn nhất. Thứ hai, chúng tôi xáo trộn các chuyển tự ở cấp độ cụm từ. Ví dụ, chúng tôi đã chuẩn hóa cách viết "ba gua chang" cho môn nội gia võ thuật này. "Ba gua" từ Pinyin và Yale, và "chang" từ Wade-Giles. Tại sao? (1) Bởi vì "ba gua" khá gần với tiếng Trung được phát âm, trong khi "pa kua" thì chẳng gần gũi chút nào. Nếu bạn được đào tạo về tiếng Trung, từ "jang" rõ ràng là gần nhất với âm tiếng Trung, nhưng nếu bạn không được đào tạo, thì "jang", "chang", và "zhang" đều vô dụng như nhau, và "chang" ít nhất cũng được biết đến rộng rãi từ "pa kua chang". (2) Đối với người phương Tây trung bình không được đào tạo về tiếng Trung, cách viết "ba gua chang" sẽ gợi lên những âm thanh có khả năng gần nhất với những gì một người bản xứ nói tiếng Trung sẽ nói.
Cuộc thảo luận về ngôn ngữ này có thể có vẻ nặng nề đối với một số người. Tuy nhiên, có hơn một tỷ người Trung Hoa trên thế giới và sự hiểu lầm có thể lãng phí rất nhiều thời gian và năng lượng. Sự lựa chọn đã được đưa ra để cuốn sách này sử dụng các chuyển tự cho phép người nói tiếng Anh bắt chước tốt nhất cách tiếng Trung nguyên gốc thực sự phát âm. Do đó, mối quan tâm không phải là tuân thủ bất kỳ một hệ thống chuyển tự hình thức nào.
Phụ Lục F — Bảng Chú Giải (Glossary)
Các từ và cụm từ tiếng Trung trong bảng chú giải này đôi khi được theo sau trong ngoặc đơn bằng các chuyển tự thay thế, hoặc theo hệ thống Pinyin, Wade-Giles, hay Yale, hoặc sự kết hợp của các hệ thống này. Các từ tiếng Nhật không có chuyển tự thay thế.
A
Aikido — Một môn võ thuật nội gia dựa trên năng lượng của Nhật Bản. Aikido được Morihei Ueshiba sáng tạo ra vào những năm 1930 từ sự pha trộn độc đáo giữa Daito Ryu aikijitsu (một hình thức jujitsu), các kỹ thuật kiếm, và những lời dạy của một tôn giáo huyền bí giống Thần Đạo (Shinto) bao gồm thần chú và công việc âm thanh gọi là Kototama. Thêm vào đó, aikido kết hợp một số sự giác ngộ mà Ueshiba đã đạt được trong hành trình hướng tới giác ngộ tâm linh của chính ông, và (như tác giả giả thuyết) các phương pháp bát quái chưởng và khí công khác mà Ueshiba học được trong thời gian ở Trung Quốc.
Các phong cách Aikido — Ban đầu aikido chỉ có một trường phái, nơi người sáng lập Morihei Ueshiba giảng dạy và nơi các thành viên gia đình ông tiếp tục dạy. Đây được gọi là phong cách Hombu, nghĩa là trụ sở. Theo thời gian, những học trò cao cấp của Ueshiba đã tạo ra các phong cách khác nhau của riêng họ. Ví dụ, phong cách Tomeki, một sự hợp nhất giữa aikido và judo, nhấn mạnh vào các thực hành thi đấu. Các phong cách chính thức khác bao gồm Yoshinkai, Ki Society, và Iwama.
Giả kim thuật (Alchemy) — Quá trình thay đổi chất này thành chất khác. Trong lĩnh vực bí truyền, giả kim thuật có hai nhánh chính — ngoại và nội. Giả kim thuật ngoại xảy ra trong một phòng thí nghiệm để tập trung các năng lượng tâm linh con người nhằm biến đổi các loại thảo dược và khoáng chất thông thường thành những loại thuốc siêu việt, biến đổi kim loại rẻ thành vàng, tạo ra Hòn Đá Của Triết Gia (mà các giả kim thuật sư tin là ban cho sự bất tử thể xác), và đạt được tri thức trực tiếp về Thượng Đế. Giả kim thuật nội (được người Trung Hoa gọi là nội đan — nei dan) tìm cách thông qua thiền định và những bài tập nhất định về tâm/thân/tinh thần để: (1) làm việc với ý thức của một cá nhân nhằm trở nên nhận biết mức độ rung động năng lượng tế bào của cơ thể để chữa lành bệnh tật; (2) nâng lên, đưa ra, và chuyển hóa những năng lực bình thường bị ẩn giấu của thân/tâm; và (3) nâng cao ý thức thông thường lên những mức độ tinh tế hơn của siêu ý thức cho đến khi tâm mở rộng bao trùm toàn bộ vũ trụ. Tất cả điều này được thực hiện bên trong tâm/thân/tinh thần của một cá nhân mà không sử dụng bất kỳ thiết bị phòng thí nghiệm bên ngoài nào.
An — Trong nội gia võ thuật, bất kỳ năng lượng hay sức mạnh nào di chuyển đi xuống.
Ứng dụng (Application) — Công dụng thực tế hoặc phạm vi công dụng của một kỹ thuật cụ thể trong võ thuật, y học Trung Hoa, hay thiền định.
Quang tràng (Aura) — Trường năng lượng hay sinh điện bao quanh cơ thể người sống. Xem thêm Thể dĩ thái (Etheric body).
Bát quái chưởng (Ba gua hoặc ba gua chang; ba gua zhang, pakua chang, ba gua jang) — Bát quái chưởng (Chưởng Bát Quái) là một trong ba môn nội gia võ thuật chính của Trung Quốc. Nó là một thực hành của Đạo gia dựa trên Kinh Dịch, đồng thời là một thực hành trường thọ, một môn võ thuật, một phương thức chữa lành, và một thực hành tâm linh/thiền định.
Ba guamen — Một trường phái bát quái chưởng có toàn bộ truyền thống võ thuật của bát quái chưởng còn nguyên vẹn, thường bắt nguồn từ một dòng truyền thừa.
Ba ji chuan (pa chich'uan) — Một môn võ thuật ngoại/nội của Bắc Trung Quốc.
Ba MuChang — Xem Tám Chưởng Mẹ (Eight Mother Palms).
Bashr — Một trong các hình thức của hình ý quyền, dựa trên Ngũ Hành.
B
Bước ngón chân hướng ra (Bai bu; pai pu) — Toe out. Bước chân ngón hướng ra của việc Đi Vòng Tròn (Circle-Walking) bát quái chưởng, cho phép người tập bước ra ngoài vòng tròn.
Bai shr (bai shi) — Lễ khởi môn chính thức (formal initiation ceremony) trao quyền đệ tử cho một cá nhân trong văn hóa Trung Hoa. Còn được gọi là lễ khấu bái (kowtow).
Bando — Một môn võ thuật từ Miến Điện.
Huấn luyện sức mạnh cơ bản (Basic Power Training) — Xem Ji Ben Gung.
Beng chuan (beng quan) — Quyền Nghiền (Crushing Fist). Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Bien hua (pien hua, bian hua) — Thay đổi; những sự thay đổi. Bản chất của sự thay đổi chính nó. Cơ bản đối với Đạo giáo và Kinh Dịch là mọi thứ trong vũ trụ hiện tượng đều đang trong quá trình thay đổi, ngoại trừ Đạo, vốn vẫn bất biến. Những gì xảy ra trong quá trình chuyển dịch, cách sự thay đổi đó diễn ra, và kết quả cuối cùng của sự thay đổi đều là những khía cạnh của bien hua. Thuật ngữ này cũng áp dụng cho sự chuyển dịch trải nghiệm trong giả kim thuật Đạo gia giữa một mức năng lượng hay ý thức này với mức độ khác, cao hơn hoặc thấp hơn. Nó cũng chỉ cách bạn thay đổi từ kỹ thuật chiến đấu này sang kỹ thuật khác trong nội gia võ thuật, hoặc từ một can thiệp chữa lành này sang can thiệp khác trong khí công tu na (chi gung tui na).
Đao (Broadsword or knife; dao hoặc tao) — Cả hai thuật ngữ tiếng Anh đều được dùng thay thế cho vũ khí lưỡi cong chủ yếu được dùng trong võ thuật Trung Hoa để chiến đấu với nhiều đối thủ. Thanh kiếm này tương đối hẹp ở dưới, mở rộng ở phần ba trên của lưỡi, và lại thu hẹp thành một mũi nhọn sắc ở trên. Một hoặc cả hai cạnh của lưỡi có thể được mài sắc.
Bu diu bu ding — Một thuật ngữ kỹ thuật trong thái cực quyền cho chiến đấu ở điểm chạm, nơi người thực hành không muốn đẩy vào, cũng không buông lơi, điểm tiếp xúc giữa mình và đối thủ.
Phật giáo (Buddhism) — Một trong những tôn giáo lớn của thế giới. Phật giáo dựa trên những lời dạy thiền định của Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Gautama the Buddha) người đã sống và dạy ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Phật giáo phần lớn đã biến mất khỏi Ấn Độ kể từ các cuộc xâm lược của Hồi giáo xảy ra từ thế kỷ thứ mười ba đến mười sáu, và phổ biến nhất trong các nền văn hóa của châu Á phương Đông — Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Đông Nam Á, và Tây Tạng. Bốn nhánh chính của Phật giáo được nhắc đến trong cuốn sách này là Tây Tạng, Thiên Thai (Tian Tai), Vipassana, và Thiền (Zen/Chan).
Budo — Các võ thuật Nhật Bản có mục tiêu là đồng thời tu dưỡng kỹ thuật chiến đấu, nhân cách, và tâm linh.
Bujitsu — Các võ thuật Nhật Bản có mục tiêu duy nhất là phát triển các kỹ thuật chiến đấu và sát hại hiệu quả.
Bunkai — Các ứng dụng chiến đấu của một động tác võ thuật Nhật Bản.
C
Kênh trung tâm (Central channel; zhong mai, chung mai, jung mai) — Kênh năng lượng chính nằm ở chính giữa cơ thể người, giữa đáy chậu và đỉnh đầu, và kéo dài qua tủy xương của cánh tay và chân.
Chan sz jin (chan sijin) — Kỹ thuật quấn tơ (silk-coiling) của thái cực quyền phái Trần, trong đó các mô mềm của cơ thể xoắn và vặn một cách mạnh mẽ.
Trường quyền (Chang chuan; chang quan) — Quyền dài (Long fist). Phương pháp cơ bản của các môn võ thuật ngoại Bắc Thiếu Lâm, hình thành cốt lõi của chương trình võ thuật Vũ Thuật chính thức do nhà nước bảo trợ tại Đại Lục Trung Quốc.
Thái cực quyền phong cách Trần Bàn Linh (Chen Pan Ling style tai chi) — Một hình thức tổ hợp cụ thể của thái cực quyền.
Thái cực quyền làng Trần (Chen village tai chi) — Hình thức nguyên thủy của thái cực quyền.
Bát quái chưởng Thành Đinh Hoa (Cheng Ting Hua ba gua) — Phong cách bát quái chưởng phổ biến nhất; sử dụng Chưởng Rồng (Dragon Palm).
Khí (Chi; qi, ch'i; ki trong tiếng Nhật) — Năng lượng, sinh lực vi tế, năng lượng nội tại, sức mạnh nội tại. Năng lượng biểu hiện làm cho một thứ gì đó vận hành và hoạt động. Khái niệm này là nền tảng của văn hóa Trung Quốc, Nhật Bản, và Triều Tiên, trong đó thế giới không chỉ được nhận thức thuần túy qua vật chất vật lý mà còn qua năng lượng vô hình.
Chi chu dzuo (qi chu zuo, ch'i ch'u tso) — Phương pháp di chuyển một cảm giác khí được cảm nhận trong cơ thể như một lực sống từ đan điền hạ vào bất kỳ kênh năng lượng nào mà người tập một cách có ý thức hướng nó đến.
Khí công (Chi gung; qi gong, chi kung) — Công việc/năng lượng (Energy work/power). Nghệ thuật và khoa học cổ xưa của Trung Hoa về phát triển và tu dưỡng khí bằng nỗ lực của chính mình. Các kỹ thuật khí công có thể thực hiện ở tư thế đứng, di chuyển, ngồi, nằm, và trong khi quan hệ tình dục. Những bài tập này cân bằng, điều hòa, và tăng cường các kênh năng lượng, trung tâm, và điểm của cơ thể.
Khí công tu na (Chi gung tui na; qi gong tui na, ch'i kung twei na) — Trị liệu cơ thể bằng khí. Một chuyên khoa của y học Trung Hoa, nơi người chữa lành trực tiếp phát ra và cân bằng lại khí trong cơ thể bệnh nhân để đạt được kết quả trị liệu. Các kỹ thuật chẩn đoán của nó dựa trên việc đọc năng lượng của quang tràng bên ngoài, cũng như năng lượng vi tế của các đan điền bên trong cơ thể.
Chi sau (Chisau) — Thực hành đấu tập chạm hai người của Vịnh Xuân (Wing Chun), nơi cả hai đối tác cố gắng đánh, chặn, và phản đòn lẫn nhau.
Chin na (ch'in na, ginna) — Nắm bắt các khớp. Nhánh của võ thuật Trung Hoa liên quan đến việc dùng khóa khớp để bất động và bắt giữ một người, cũng như trật hoặc gãy các khớp tay, chân, và đốt sống cột sống. Cũng dùng để kéo, xé, hoặc rách da bằng cách nắm lấy.
Thư pháp Trung Hoa (Chinese calligraphy) — Một phương pháp viết các chữ Hán hoặc các khái niệm tượng trưng bằng hình ảnh sử dụng bút và mực. Thư pháp được người Trung Hoa coi là một hình thức nghệ thuật cao và một hình thức khí công trí tuệ, một trong những đặc điểm phân biệt của nó là khí, hay năng lượng, được chiếu lên bề mặt được viết.
Y học Trung Hoa (Chinese medicine; Traditional Chinese medicine, TCM) — Hệ thống y học truyền thống 3000 năm của Trung Quốc. Các nhánh cơ bản của nó là châm cứu, nắn xương (bone-setting), khí công, khí công tu na, thảo dược, và cứu ngải (moxibustion). Các can thiệp trị liệu của nó không dựa nhiều vào việc điều hòa vật chất vật lý của cơ thể mà là điều hòa năng lượng vi tế (khí), thứ nói cho vật chất biết phải cư xử thế nào.
Vật Trung Quốc (Chinese wrestling; shuai/shwei jiao, shuai chiao) — Môn võ thuật ném truyền thống của Trung Quốc. Nó bao gồm vật (chỉ đứng, không có vật trên thảm), khóa khớp, và đá thấp. Cũng thế shuai fa là một thuật ngữ chung trong tiếng Trung dùng cho thành phần ném của bất kỳ môn võ thuật nào.
Ching gung (qing gong, ch'ing kung) — Kỹ năng nhẹ thân (Lightness skill). Kỹ thuật đặc biệt trong võ thuật Trung Hoa (dường như đã mai một trong thế hệ hiện nay) làm cho cơ thể cực kỳ nhẹ bằng cách thay đổi khí của nó, cho một người khả năng nhảy lên 10 đến 20 feet hoặc nhảy xuống từ ba tầng trở lên mà không hề hấn gì. Ching gung là kỹ thuật ưa thích của những tên trộm và vệ sĩ trong các tiểu thuyết Trung Quốc và phim võ thuật.
Choi li fut (choy lay fut, choy lee fut) — Một phong cách chiến đấu Thiếu Lâm Nam phái từ tỉnh Quảng Đông.
Đi Vòng Tròn (Circle-Walking) — Phương pháp huấn luyện chính của môn nội gia võ thuật bát quái chưởng.
Quyền kết hợp (Combination Form tai chi) — Một bài quyền trong đó một hoặc một vài phong cách thái cực quyền và/hoặc hình ý quyền, bát quái chưởng, hay Thiếu Lâm được trộn lẫn trong một bài quyền duy nhất.
Quyền bông (Cotton boxing) — Một môn võ thuật ngoại/nội của Bắc Trung Quốc.
D
Đại Thành Quyền (DaCheng Chuan) — Một tên khác của Ý Quyền (I Chuan).
Dalu — Một phong cách Thôi Thủ (Push Hands) di chuyển.
Dai — Một kỹ thuật năng lượng trong bát quái chưởng để dẫn dắt năng lượng của một người. Năng lượng của một người và của đối thủ hòa quyện thành một dòng chảy không thể tách rời. Sau đó một người có thể giành quyền kiểm soát sức mạnh của đối thủ và hướng nó vì lợi thế của mình.
Daito Ryu — Phong cách jujitsu Nhật Bản mà từ đó aikido bắt nguồn.
Di pan gung fu (di pan gong fu) — Kỹ năng của phần thân dưới. Kỹ năng tu dưỡng khí trong đó khí từ đan điền hạ xuống bàn chân hoàn toàn và trọn vẹn mở ra. Trong võ thuật và khí công, đây được coi là mức độ kỹ năng cao nhất, bởi nếu khí thân dưới mở hoàn toàn, khí sẽ tự động đến thân trên. Điều này được tóm tắt trong câu châm ngôn tu dưỡng khí cổ điển: "Rễ càng sâu, cây càng cao và cành càng sum suê."
Dian xue (dien hsueh) — Tiếng Quan Thoại cho dim mak.
Die da — Thực hành y học truyền thống Trung Hoa để xử lý những vết bầm tím, sưng tấy, và gãy xương ngay lập tức của các tai nạn vật lý và chấn thương.
Dim mak (Cantonese) — Nghệ thuật đánh vào các huyệt châm cứu để gây hại hoặc tử vong.
Quá trình hòa tan (Dissolving process) — Một kỹ thuật nội công để giải phóng năng lượng bị giam cầm cả từ bên trong cơ thể con người và thể dĩ thái.
Dojo — Thuật ngữ Nhật Bản chỉ một hội trường huấn luyện võ thuật.
Dou jin (dou jing) — Kỹ thuật nội gia võ thuật rung động hoặc lắc mạnh cơ thể một cách đột ngột và với lực lớn. Dou jin được dùng để phát sức ở cự ly ngắn, tung ra những cú đánh mạnh khi người ta bị vây chặt với ít hoặc không có khoảng cách để đánh hay làm phát kình (fa jin), hoặc để đổi hướng giữa chuyển động và đánh những đối thủ lắc lư như những võ sĩ quyền Anh phương Tây.
Đổi Chưởng Kép (Double Palm Change) — Một động tác là nền tảng của tất cả các kỹ thuật âm, mềm, hay vô hình của bát quái chưởng.
Yếu tố đất (Earth element) — Trong vũ trụ quan Trung Hoa, một trong những năng lượng hay yếu tố cơ bản từ đó mọi hiện tượng hiển hiện được tạo ra.
Tám Tiên Say (Eight Drunken Immortals) — Một môn võ thuật ngoại/nội trong đó người tập bắt chước những động tác lảo đảo, ngã, lăn của một người say.
Tám thể năng lượng (Eight energetic bodies) — Trong triết học Đạo gia, tám tần số rung động năng lượng rõ ràng cấu thành một con người. Mỗi cái được gọi là một "thể". Chúng được xác định là thể vật lý, thể dĩ thái/khí, thể cảm xúc, thể tâm trí, thể năng lượng tâm linh, thể nhân quả, thể cá thể tính, và thể của Đạo.
Tám kinh lạc đặc biệt (Eight extra hoặc special meridians) — Tám kinh lạc có công dụng đặc biệt trong châm cứu vượt trên các kinh lạc dọc và ngang bình thường.
Tám Chưởng Mẹ (Eight Mother Palms; ba mu chang, ba mu zhang, pa mu chang, ba mu jang) — Tám sự thay đổi hay mô thức động tác cơ bản của bát quái chưởng. Năng lượng của mỗi quẻ trong tám quẻ của Kinh Dịch được thể hiện trong một trong tám chưởng mẹ.
Sự trống rỗng (Emptiness) — Một trạng thái sâu sắc của sự cân bằng tâm linh, tâm trí, và tâm linh, là mục tiêu chính của tất cả các thực hành thiền định châu Á và nằm ở cốt lõi của những cấp độ thành tựu cao hơn trong nội gia võ thuật.
Không/đầy (Empty/full; xu/shi, hsu/shi, syu/shr) — Một khái niệm căn bản tồn tại xuyên suốt khí công, y học Trung Hoa, và nội gia võ thuật. Không (empty) chỉ sự thiếu hụt, sự thiếu hụt, hoặc ít hơn của một thứ gì đó. Trái ngược của nó, đầy (full), chỉ sự dồi dào, sự dư thừa, hoặc đơn giản là nhiều hơn của một thứ gì đó. Thường được dùng để nói về khí của một bộ phận cơ thể hay cơ quan nội tạng đang đầy hay không.
Các kênh năng lượng của cơ thể (Energy channels of the body) — Tất cả các kênh năng lượng vi tế của cơ thể mà qua đó khí lưu chuyển.
Thể dĩ thái (Etheric body; chi body) — Trường sinh điện (bioelectric field) kéo dài từ vài inch đến vài trăm feet từ cơ thể một người. Thường được gọi là quang tràng (aura) ở phương Tây.
Võ thuật ngoại/nội (External/internal martial arts; nei wai quan/chuan) — Những võ thuật sử dụng cả một chương trình khí công nội tại phát triển rõ rệt và các thực hành cơ bắp ngoại tại dựa trên sự co rút cơ bắp qua sự căng cơ vật lý.
Võ thuật ngoại (External martial arts; wai jia quan, wai chia ch'uan) — Các võ thuật tập trung vào tính vật lý, sức mạnh cơ bắp, phản xạ, sự căng cơ, kỷ luật tinh thần, và điều kiện hóa cơ thể (hít đất, gập bụng, nâng tạ, và chạy bộ), chứ không phát triển và tu dưỡng khí.
F
Fa chi (faqi) — Phóng xuất, phát ra, hay phóng khí. Hành động wherein khí được chiếu từ cơ thể hay tâm của một cá nhân sang người hay vật khác, vì bất kỳ lý do gì. Được gọi là wai chi hay khí ngoại khi dùng về y tế cho trị liệu khí công. Được gọi là fa gung khi dùng cho các truyền thừa trong thiền định.
Phát kình (Fa jin; fa jing, fachin) — Phát ra hay phóng xuất sức mạnh. Kỹ thuật nội gia võ thuật phát sức sao cho nó đi xuyên qua đối thủ (mà không gây hại vật lý), di chuyển anh ta trong không gian cũng như một cơn gió thổi bụi bay đi. Phát kình cũng có thể dùng để tập trung sức mạnh bên trong đối thủ để bẻ gãy xương hoặc làm vỡ nát cơ quan nội tạng.
Phong thủy (Feng shui) — Khoa học huyền bí toán học của địa lý phong thủy Trung Hoa, nơi người ta định vị các đường năng lượng, mối quan hệ, và điểm của một địa điểm vật lý trên mặt đất. Địa điểm đó có thể là một mảnh đất, một tòa nhà, hoặc sự sắp xếp các vật thể trong một căn phòng. Khí của địa điểm sau đó được phân tích để xác định các tác động tích cực hay tiêu cực của nó đối với việc biểu hiện sự giàu có, các mối quan hệ tình cảm, sự hòa hợp gia đình, tâm linh, hoặc đối với việc liệu một số loại sự kiện nhất định sẽ thành công hay không. Các kỹ thuật sau đó có thể được sử dụng để giảm bớt vận rủi hoặc tăng cường vận may.
Ứng dụng chiến đấu (Fighting application) — Công dụng thực tế hoặc phạm vi công dụng để chiến đấu của một kỹ thuật cụ thể của một môn võ thuật.
Yếu tố lửa (Fire element) — Trong vũ trụ quan Trung Hoa, một trong những...
Bảng Thuật Ngữ
Năng lượng/thành tố cơ bản — Những năng lượng hoặc thành tố cơ bản mà từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
F
Phương pháp Hỏa (Fire method) — Một kỹ thuật thiền định hoặc năng lượng nhấn mạnh việc đẩy bản thân đến giới hạn và dùng nỗ lực tối đa, 100% năng lực của bạn.
Ngũ Tổ (Five Ancestors) — Một lưu phái Thiếu Lâm Nam thuộc tỉnh Phúc Kiến (Fukien/Fujian), chứa đựng trong mình những chất liệu cốt lõi của hầu hết các lưu phái "tay ngắn" (short-hand) miền Nam.
Khung (Frame) — Hình dáng thể chất và những phẩm chất năng lượng mà một thế tấn của võ thuật nội gia đảm nhận, trải dài từ nhỏ và cô đặc (khung nhỏ) đến lớn và bao trùm (khung lớn).
Fut gar — Một lưu phái ngoại gia của Thiếu Lâm Nam, xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông (Canton).
G
Cương nhu tương tế (Gang rou hsiang chi / gang rou xiang ji) — Khả năng của một người tập thái cực quyền trong việc hòa hợp sức mạnh cứng và mềm lại với nhau, và chuyển đổi tức thời giữa chúng.
Karate Goju (Goju karate) — Một lưu phái karate có nguồn gốc Thiếu Lâm Nam tỉnh Phúc Kiến rất sâu đậm. Nó có cả hai nhánh Okinawa và Nhật Bản.
Công phu (Gung fu / gong fu / kung fu) — (1) Một mức độ kỹ năng thường đạt được qua nỗ lực liên tục lâu dài trong bất cứ việc gì. (2) Một thuật ngữ chung cho tất cả các võ thuật Trung Hoa. (3) Cũng chỉ các môn nghệ thuật ngoại gia và ngoại/nội gia của Trung Hoa, trái ngược với chỉ riêng võ thuật nội gia ("Bạn tập võ thuật nội gia — thái cực, bát quái, hình ý — hay công phu?").
Thái cực lưu phái Hao (Hao style taichi) — Lưu phái thái cực quyền ít phổ biến nhất; dựa trên những động tác ngoại và nội nhỏ.
Võ thuật cứng (Hard martial arts) — Những phương pháp võ thuật mà kỹ thuật của chúng dựa vào sức mạnh và lực lượng ưu việt để đánh bại sức mạnh thua kém. Việc luyện tập võ thuật cứng nhắm làm cho thân thể cứng như thép, đặc biệt là cánh tay và chân. Những cách tiếp cận cứng có thể được dùng trong cả võ nội gia (hình ý quyền chẳng hạn) lẫn các lưu phái ngoại gia, nhưng chủ yếu thịnh hành trong võ thuật ngoại gia.
Hình ý Hà Bắc (Hebei hsing-i) — Một nhánh của hình ý quyền, nơi hình ý quyền và bát quái chưởng hòa lẫn vào nhau và không còn riêng biệt.
Heng quyền (Heng chuan / heng quan) — Quyền Chéo (Crossing Fist). Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền (hsing-i chuan).
Hào (Hexagram) — Một trong sáu mươi bốn sự biến đổi năng lượng của Kinh Dịch (I Ching).
Ấn Độ Giáo (Hinduism) — Một tôn giáo lớn của Ấn Độ, có thể truy nguyên xa đến tận thời kỳ có ghi chép. Những văn bản quan trọng nhất của nó là các bộ Veda, Upanishads, và Bhagavad Gita. Ấn Độ Giáo đã sinh ra Yoga, Mật Tông (Tantra), và Phật Giáo.
Y học đánh thương (Hit medicine / die da, tie da, dida) — Một nhánh của y học Trung Hoa chuyên xử lý hậu quả của những chấn thương do sang chấn, như gãy xương, sưng tấy, tổn thương mô mềm, trật khớp cột sống, sai khớp xương, và tổn thương nội tạng.
Lưu phái Hombu — Xem Aikido.
Hậu thiên (Hou tien) — Xem Post-birth (Sau khi sinh).
Tiên thiên (Hsien tien) — Xem Pre-birth (Trước khi sinh).
Tâm (Hsin / xin, shin) — Trái tim/tâm trí. Nguồn gốc tối hậu của sự tồn tại của một con người theo tư tưởng cổ điển Đạo gia và Phật giáo. Cái tâm vừa vi tế vừa phi vật chất, và tọa lạc gần trái tim vật lý.
Tâm ý (Hsin-i) — Quyền Tâm Ý (Heart/mind boxing). Một thuật ngữ khác cho hình ý quyền (hsing-i chuan).
Hình (Hsing / xing, shing) — Hình thức hoặc dạng hình mà bất cứ sự hiển lộ nào đảm nhận, dù là một vật thể cụ thể, một động tác võ thuật, một năng lượng vi tế hay cảm giác, hoặc một cấu trúc tinh thần của tâm.
Hình ý quyền hoặc Hình Ý Quyền (Hsing-i hoặc Hsing-i Chuan / xing yi quan, shing yi chuan) — Quyền Ý Hình (Mind-form boxing). Một võ thuật nội gia cứng do tướng quân Trung Hoa Nhạc Phi (Yue Fei) sáng tạo vào thế kỷ thứ mười ba. Hình ý quyền nhấn mạnh mọi khía cạnh của tâm trí để tạo ra các hình thức và động tác chiến đấu của nó.
Hình ý môn (Hsing-imen) — Một trường phái hình ý quyền giữ nguyên vẹn toàn bộ truyền thống võ thuật của hình ý quyền, thường từ một nguồn truyền thừa.
Hung gar — Một lưu phái ngoại gia của Thiếu Lâm Nam, xuất xứ từ tỉnh Quảng Đông.
Hyung (Hyung là tiếng Hàn; tiếng Hoa: tao lu; tiếng Nhật: kata) — Một bài quyền (form). Một chuỗi các động tác võ thuật được dàn dựng sẵn, thực hiện một mình hoặc với một hay nhiều bạn quyền.
Ý (I / yi) — Ý chí, tâm hướng, ý định, tâm trí, và tâm trí chiếu phóng. Trong thế giới khí (chi) của Trung Hoa, "Ý" (phát âm là yee) chỉ khía cạnh cụ thể của tâm trí có chức năng chiếu phóng. Nếu một người nhìn thấy điều gì đó và muốn đạt được hoặc di chuyển về phía đối tượng của ý định (dù là cụ thể hay tinh thần), người ấy huy động "Ý", và sau một khoảng trống cực nhỏ liền chuyển vào hành động.
Kinh Dịch (I Ching / yi jing) — Sách của những sự biến đổi (Book of Changes). Cuốn sách 5000 năm tuổi này được xem là văn bản Đạo gia kinh điển về bản chất của sự thay đổi và cách thức thay đổi diễn ra. Kinh Dịch bao hàm tám quái (trigrams) thể hiện tám năng lượng khí nguyên thủy mà vũ trụ được cấu thành, theo tư tưởng Đạo gia. Tám quái này mở rộng thành sáu mươi bốn khi trình bày chi tiết cách mỗi quái cá nhân tác động, làm dịu, và mở rộng những quái khác khi chúng hòa trộn. Bát quái chưởng là một thực hành thân/tâm/thần hướng tới việc một cá nhân trải nghiệm ngay trong bản thể của chính mình điều mà Kinh Dịch truyền đạt trên bình diện trí tuệ.
Ý quyền (IChuan / I Chuan) — Còn được biết đến với tên Đại Thành Quyền (Da Cheng Chuan). Một lưu phái hình ý quyền dựa trên tám thế đứng tĩnh hơn là trên những động tác cổ điển của hình ý quyền. Ý quyền được phát triển bằng cách kết hợp hình ý quyền cổ điển với bộ pháp bát quái, quyền Anh, và khí công Phật giáo.
Ý xuất tọa (I chu dzuo / yi chu zuo, i ch'u tso) — Một phương pháp tu luyện khí cơ bản, nơi người ta dùng "Ý" để tạo ra một hình ảnh tinh thần (quán tưởng), từ đó gián tiếp dẫn khí đi khắp thân thể con người theo nguyên lý cổ điển Trung Hoa: "Ý" dẫn hoặc chuyển động khí.
Iaido — Môn võ thuật Nhật Bản dùng kiếm; tập luyện với những thanh kiếm samurai thật.
Quá trình hòa tan nội tại (Inner-dissolving process) — Một thực hành khí Đạo gia (nội công) cơ bản để giải phóng năng lượng bị tắc nghẽn ở bất cứ đâu trong một con người; chủ yếu dùng để chữa lành và tăng cường các khía cạnh tình cảm, tinh thần, và tâm linh của cá nhân.
Nghệ thuật nội (Internal arts / nei jia, nei chia) — Những nghệ thuật năng lượng ở Trung Hoa quan tâm đến việc tu dưỡng thiền định, khí nội tại, và những khía cạnh bên trong của bản thể con người hơn là chỉ những biểu hiện bên ngoài có thể định lượng được của họ trong thế giới vật lý.
Võ thuật nội gia (Internal martial arts / nei jia quan, nei chia ch'uan) — Những hệ thống chiến đấu basê sức mạnh của mình trên việc tu dưỡng khí, tâm trí, sự thư giãn hoàn toàn, trường thọ, và thiền định hơn là những phương tiện thuần túy vật lý của võ thuật ngoại gia. Mặc dù có những khía cạnh nội tại trong một số võ thuật Thiếu Lâm ngoại gia, ở Trung Hoa thuật ngữ "võ thuật nội gia" thường chỉ ba võ thuật Đạo gia là thái cực quyền, hình ý quyền, và bát quái chưởng.
Khí Công Thiết Y (Iron shirt chi gung) — Theo cổ điển, một trong nhiều thuật ngữ dùng cho khả năng chịu những đòn vật lý nặng nề mà không đau hay thương tổn, tựa như bạn mặc một chiếc áo sắt bảo vệ.
J
Nhượng (Jan / rang) — Nhượng bộ. Một thuật ngữ kỹ thuật cho một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính (sticking energy) trong thái cực quyền.
Chính khí (Jeng chi / zheng qi, cheng ch'i) — Khí thống nhất. Khí duy nhất thống nhất tất cả khí của thân thể, mà việc tu tập tất cả các nghệ thuật nội Đạo gia, bao gồm cả bát quái chưởng, hướng tới tu dưỡng.
Kích (Ji) — Trong võ thuật nội gia, bất cứ năng lượng nào ép hoặc chiếu phóng theo hướng tiến lên phía trước.
Cơ bản công (Ji ben gung / ji ben gong, chi ben kung) — Việc luyện tập sức mạnh cơ bản, qua đó tất cả các võ thuật Trung Hoa phát triển loại sức mạnh mà chúng chuyên biệt hóa.
Kình (Jin / jing) — Sức mạnh (Power).
Kinh lạc (Jingluo) — Những kinh mạch bên (collateral meridians). Các kinh mạch châm cứu bao bọc theo chiều ngang quanh thân thể và nối kết những đường châm cứu dọc của nó.
Trửu (Jou / zhou, chou) — Đòn cùi chỏ (Elbow stroke).
Judo — Một võ thuật ngoại gia Nhật Bản dựa trên vật, khóa khớp, khóa siết, và siết cổ. Là hậu duệ của môn võ thuật Trung Hoa suy thái (shuai jiao) và môn võ thuật Nhật Bản jujitsu. Judo đã là một môn thể thao Olympic từ thập niên 1960.
Jujitsu — Môn võ thuật ngoại gia cận chiến không vũ khí của các samurai trong thời kỳ phong kiến Nhật Bản. Dựa chủ yếu trên quăng hất, khóa khớp, khóa siết, và siết cổ, với đấm, đá, và đánh là thứ yếu.
K
Khai-hợp (Kai-he) — Mở và đóng.
Kao — Đòn vai (Shoulder stroke).
Karate — Võ thuật ngoại gia Nhật Bản dựa chủ yếu trên đá, đấm, đánh bằng tay, quét chân, và một vài đòn quăng hất. Karate chủ yếu là một võ thuật tay không, với sự huấn luyện vũ khí hạn chế. Các lưu phái karate chính được nhắc đến trong sách này là: (1) Karate Nhật Bản, chủ yếu là một lưu phái cứng tập trung đồng đều vào đá và đấm, bốn nhánh lớn là Shotokan, Goju, Wado, và Shito; (2) Karate Okinawa, một dạng karate nguyên thủy dựa trên huấn luyện sức mạnh vật lý thô; (3) Karate Shorin Ryu, một lưu phái cứng lớn của Okinawa dựa trên tấn thế thấp, đá thấp, và đấm mạnh. Nó là một trong những tiền thân chính của karate Shotokan; (4) Karate Uechi Ryu, một lưu phái cứng lớn của Okinawa nổi tiếng với việc dùng các kỹ thuật căng cơ động (dynamic tension) trong huấn luyện; (5) Karate Triều Tiên hay taekwondo, nhấn mạnh đá (đặc biệt là đá cao); về mặt lịch sử bắt nguồn từ Thiếu Lâm Bắc.
Kata (kata là tiếng Nhật; tiếng Hàn: hyung; tiếng Hoa: tao lu) — Một bài quyền; một chuỗi các động tác võ thuật được dàn dựng sẵn, thực hiện một mình hoặc với một hay nhiều bạn quyền.
Katana — Một thanh kiếm samurai cong của Nhật Bản.
Kendo — Môn nghệ thuật kiếm thuật Nhật Bản, nơi những người tham gia tập luyện với áo giáp sơn mài và những thanh kiếm làm bằng tre.
Kenkyusei — Một nghiên cứu sinh đặc biệt trong các võ thuật Nhật Bản — đặc biệt là judo và karate — thường thì học trò phải là đai đen cấp ba trở lên.
Khí (Ki) — Xem Chi.
Kickboxing — Một môn thể thao thi đấu tiếp xúc đầy đủ dựa trên võ thuật ngoại gia, thực hiện với găng tay quyền Anh, kết hợp kỹ năng quyền Anh với những cú đá karate.
Không kình (Kong jin / kong jing, kung jin) — Lực rỗng (Empty force). Kỹ thuật năng lượng của hình ý quyền, nơi các hành giả được cho là có thể hạ gục người khác mà không chạm vào họ, chỉ bằng cách chiếu phóng năng lượng.
Khẩu bộ (Kou bu / k'ou pu) — Bước chụm mũi chân của bộ pháp đi bát quái.
Kundalini — Một phương pháp thiền định của Ấn Độ dùng công việc năng lượng để tháo gỡ những bí ẩn của ý thức con người và "giác ngộ".
Gia tộc công phu (Kung fu family) — Một cấu trúc gia đình thay thế của Trung Hoa dựa trên võ thuật hoặc thiền định. Thầy tượng trưng cho người cha, học trò trở thành con cái, những người học trước trở thành anh/chị cả, những người mới đến là em trai/em gái, và cứ thế.
Kuntao — Một võ thuật Indonesia có ảnh hưởng Trung Hoa cực kỳ mạnh mẽ.
Kwa (kua) — Khu vực ở mỗi bên thân thể, trải dài từ dây chằng bẹn qua mặt trong khung chậu đến đỉnh (mào) của xương hông.
L
Liêm (Lan) — Hợp nhất (Merging). Một thuật ngữ kỹ thuật cho một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
Lantsaihua — Những kỹ thuật quyền tự do (sparring) của thái cực quyền.
Laogong (Lao gung / lao gong/kung) — Điểm năng lượng ở trung tâm lòng bàn tay; điểm dễ dàng nhất trên thân thể để chiếu phóng khí ra ngoài.
Kênh trái (Left channel) — Một trong ba đường năng lượng chính trong thân thể (ở bên trái), hai đường kia là kênh phải (đối cực ghép đôi của nó), và kênh trung ương. Những đối cực ghép đôi của các kênh năng lượng vi tế trái và phải chịu trách nhiệm cho tất cả các chức năng song đối âm/dương của một con người, bao gồm cả hoạt động của thân thể, tình cảm, hoạt động tâm linh, và sự hiển lộ của các sự kiện trong thế giới bên ngoài.
Liệt (Lieh / lie) — Năng lượng xé (splitting energy) của thái cực quyền.
Liên hoàn (Lien huan) — Một trong các bài quyền của hình ý quyền, dựa trên Ngũ Hành.
Truyền thừa (Lineage) — Trong võ thuật, một dòng dạy dỗ liên tục chạy từ một bậc thầy qua những thế hệ học trò xứng đáng nối tiếp, những người trở thành thầy của chính họ và truyền lại tri thức.
Đệ tử truyền thừa (Lineage disciple) — Một đệ tử chính thức được chọn để học hỏi và mang theo cho các thế hệ tương lai toàn bộ tri thức nguyên vẹn của bất cứ truyền thừa võ thuật nội gia cụ thể nào.
Thính kình (Listening power / ting jin, t'ing chin) — Khả năng cảm nhận và diễn giải chính xác năng lượng của người khác bằng tay và tâm trí của mình.
Lưu hợp (Liuhe) — Sáu sự kết hợp của các bộ phận cơ thể (vai và hông, khuỷu tay và đầu gối, bàn tay và bàn chân) phải được phối hợp tinh tế với nhau và với nội tam hợp (nei san he) để tối đa hóa sức mạnh thể chất trong võ thuật nội gia.
Lưu hợp bát pháp (Liu he ba fa / liu ho pa fa) — Một võ thuật hoàn toàn nội gia của Trung Hoa kết hợp các yếu tố vận động của thái cực quyền, hình ý quyền, bát quái chưởng, và Thiếu Lâm. Nổi tiếng với bài quyền cực kỳ dài, có thể đạt 700 động tác ở một số nhánh. Tương đối hiếm ở phương Tây.
Lohan (Arhat Boxing) — Một lưu phái Thiếu Lâm Bắc.
Lost Track Boxing (mizong quan, mi tsung ch'uan) — Một hệ thống chiến đấu Thiếu Lâm Bắc ngoại gia.
Đá sen (Lotus kick) — Một cú đá ngang trong thái cực quyền, bắt đầu từ phía trước thân thể và di chuyển ra bên ngoài thân thể ít nhất xa đến vai hoặc thậm chí xa hơn. Dùng xương ống chân, mu bàn chân, cạnh ngoài của bàn chân, hoặc gót chân làm vũ khí đá.
Lữ (Lu) — Thu nhận hoặc tụt lùi (Roll Back), năng lượng thu nhận và nhượng bộ của võ thuật nội gia. Thuật ngữ này đặc biệt dùng trong thái cực quyền.
Hạ đan điền (Lower tantien / dantian) — Tọa lạc dưới rốn ở trung tâm thân thể, trung tâm năng lượng này chủ yếu chịu trách nhiệm cho sức khỏe của thân thể con người. Nó là trung tâm năng lượng duy nhất nơi tất cả các kinh mạch năng lượng tác động đến thân thể vật lý giao nhau. Còn được biết trong tiếng Nhật là hara và trong tiếng Anh là cánh đồng (elixir) hoặc cánh đồng chu sa (cinnabar field).
M
Võ thuật (Martial arts) — Nhiều phương pháp luận chiến đấu khác nhau, cả tay không lẫn có vũ khí, quan tâm đến những kỹ thuật được thể chế hóa để làm bị thương hoặc giết một kẻ tấn công theo cách hiệu quả nhất với tổn hại ít nhất cho bản thân.
Tĩnh lặng thiền định (Meditative stillness) — Một mức độ thành tựu trong thiền định, nơi tâm trí của người tập trở nên đặc biệt tĩnh lặng và nghỉ ngơi thư giãn, an trú trong chính nó.
Thành tố Kim (Metal element) — Trong vũ trụ quan Trung Hoa, một trong những năng lượng hoặc thành tố cơ bản mà từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Tiêu trung tiêu (Middle burner) — Tọa lạc trong thân mình giữa đám rốn (solar plexus) và hạ đan điền. Năng lượng hiện diện trong khu vực giữa này của thân thể điều phối và hài hòa khí của thượng tiêu và hạ tiêu, nằm trên và dưới tiêu trung tiêu.
Trung đan điền (Middle tantien / dantian) — Một trong ba trung tâm năng lượng chính trong thân thể. Hai nơi riêng biệt được xem là trung đan điền. Chúng nằm gần nhau, mỗi nơi quản lý những chức năng năng lượng khác nhau. Điểm tọa lạc ở đám rốn ngay dưới xương ức chịu trách nhiệm cho các chức năng vật lý của các nội tạng giữa thân thể (gan, lách, và thận), cũng như ý chí kiên trì. Điểm tọa lạc gần tim trên kênh trung ương quản lý các mối quan hệ vật lý, tình cảm, tinh thần, tâm linh, hoặc nhân quả.
Mok gar (mo jia trong tiếng Quan Thoại) — Một lưu phái chiến đấu Thiếu Lâm Nam từ tỉnh Quảng Đông.
Quyền Khỉ (Monkey boxing / hou chuan) — Một hệ thống võ thuật bắt chước động tác của con khỉ, vốn nổi tiếng về sự tàn ác trong chiến đấu, cũng như về nhảy, lăn, và những động tác cực kỳ lừa gạt.
Thiền động (Moving meditation) — Bất cứ phương pháp thiền định nào mà người tập có thể hiện thực hóa các mục tiêu của thiền định (bao gồm làm tĩnh tâm trí) trong khi thân thể liên tục vận động.
Mudra (ấn) — Một tư thế tay/ngón tay/thân thể tự động kích hoạt các kinh mạch năng lượng của một người theo một cách thức cụ thể hoặc tạo ra một trạng thái tâm trí hay tâm linh đặc thù cho người tập.
Hình ý Hồi giáo (Muslim hsing-i) — Một lưu phái cụ thể của hình ý quyền.
Nam quyền (Nanchuan / Southern Fist) — Tất cả các trường phái miền Nam của võ thuật Trung Hoa.
Natural Gate Boxing — Một lưu phái Thiếu Lâm Bắc ngoại/nội nổi tiếng với kỹ thuật đá của nó.
Ngã bát trưởng (Nei bachang) — Tám lòng bàn tay của bát quái được thiết kế để đưa một cá nhân vào tiếp xúc trực tiếp với những năng lượng sống mà tám quái của Kinh Dịch dựa trên.
Nội đan (Nei dan) — Đúng nghĩa là "trứng/thuốc viên vũ trụ bên trong". Một thuật ngữ cho các phương pháp luyện đan nội (internal alchemy) của Đạo giáo. Xem Alchemy (Luyện đan).
Nội công (Nei gung / nei gong/kung) — Nội lực (Internal power). Hệ thống tu luyện khí (chi Sung) nguyên thủy ở Trung Hoa do Đạo gia phát minh. Hệ thống nội công Đạo gia tạo thành nền tảng cho các võ thuật nội gia là bát quái chưởng, thái cực quyền, và hình ý quyền.
Nội gia (Nei jia) — Một thuật ngữ dùng để mô tả tất cả võ thuật nội gia hoặc các thực hành khí Đạo gia như một gia đình.
Nội kình (Nei jin / nei jing, neichin) — Nội lực. Một dạng cụ thể của khí tích hợp tất cả các năng lượng khác nhau của thân thể thành một khí thống nhất có thể biểu hiện sức mạnh vật lý.
Nội tam hợp (Neisanhe) — Ba thành phần nội tại của tâm trí trong lý thuyết Đạo gia: "Ý" (tâm hướng), khí (năng lượng), và thần (tinh thần hoặc ý thức), tất cả phải được hiệp nhất trong các thực hành võ thuật nội gia Trung Hoa.
Tân dương thức (New Yang style) — Các phương pháp thái cực quyền do thế hệ thứ ba và những thế hệ sau của gia tộc Dương giảng dạy, vốn giảm bớt sự nhấn mạnh vào ứng dụng chiến đấu để ủng hộ Thừa Thủ (Push Hands).
Niệm (Nien / nian) — Dính chặt (Adhering). Một thuật ngữ kỹ thuật cho một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
Ninjitsu — Một lưu phái võ thuật Nhật Bản chuyên biệt, về mặt lịch sử chỉ được dùng độc quyền bởi những sát thủ chuyên nghiệp ở Nhật Bản.
Thiền tỳ hàm (Northern Praying Mantis / tang lang quan, t'ang lang ch'uan) — Một phương pháp Thiếu Lâm bắt chước động vật, chuyên bắt chước hành động của con côn trùng thiền tược (praying mantis). Thiền tỳ hàm có cả nhánh Bắc và nhánh Nam. Thiền tỳ hàm Bắc nổi tiếng với bộ pháp giậm chân, đánh bằng ngón tay, những động tác tay phức tạp, và triết lý chiến đấu cực kỳ hung hăng hướng công.
Thiếu Lâm Bắc (Northern Shaolin / bei Shaolin, pei Shaolin) — Một nhánh Bắc của các hệ thống võ thuật ngoại gia Thiếu Lâm, nổi tiếng với những động tác thân thể dài và duỗi ra, đá cao, và chiến đấu tầm xa. Cũng là một võ thuật cụ thể trong toàn bộ gia đình Thiếu Lâm Bắc.
Karate Okinawa — Xem Karate.
Cựu dương thức (Old Yang style) — Các phương pháp thái cực quyền do thế hệ thứ nhất và thứ hai của gia tộc Dương giảng dạy, những người rõ ràng nhấn mạnh vào ứng dụng chiến đấu.
Mở/đóng (Open/close / kai/he) — Khái niệm âm/dương ghép đôi của Trung Hoa về sự lớn lên/thu nhỏ, giãn nở/co rút, và kéo dài/rút ngắn, v.v. Sự đập nhịp phổ quát này xảy ra ở cấp độ hạ nguyên tử.
Khí cương (Pao chuan / pao quan) — Quyền Đập (Pounding Fist). Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Penchat/Silat — Những võ thuật Indonesia có nhiều lưu phái cụ thể đa dạng, phần lớn là ngoại gia và ngoại/nội gia.
Phanh (Peng / p'eng) — Đẩy trôi (Ward Off) hoặc năng lượng vươn lên của võ thuật nội gia.
Phanh kình (Peng jin / peng jing, peng chin) — Năng lượng bao trùm (Expansive energy). Sức mạnh nội tại vươn lên, đẩy ra ngoài, tạo thành nền tảng của khía cạnh khí dương trong võ thuật nội gia.
Phi quyền (Pichuan / pi quan) — Quyền Chém hoặc Xé (Chopping or Splitting Fist). Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Thế (Posture) — Vị trí tĩnh cuối cùng kết thúc một kỹ thuật võ thuật hoặc một động tác khí công. Cũng là một động tác toàn bộ mà một võ thuật hoặc kỹ thuật khí công cụ thể được đặt tên.
Hậu thiên (Post-birth / hou tien) — Những gì xảy ra với một con người sau khi rời khỏi bào thai. Những tài năng, kỹ năng, hoặc thành tựu không bẩm sinh mà có được sau khi sinh.
Bát quái hậu thiên (Post-birth ba gua) — Thực hành đi vòng tròn (Circle-Walking) theo tuyến tính trái ngược với thực hành bát quái chưởng.
Khí hậu thiên (Post-birth chi) — Khí mà con người có được bằng cách ăn, uống, ngủ, thở, và tập luyện.
Tiên thiên (Pre-birth / hsien tien) — Bất cứ điều gì đã xảy ra với một con người giữa thời điểm thụ thai và lúc sinh ra.
Bát quái tiên thiên (Pre-birth ba gua) — Thực hành đi vòng tròn của bát quái, với mục đích phát triển khí tiên thiên theo cùng cách như đã được thực hiện trong các tu viện Đạo gia.
Khí tiên thiên (Pre-birth chi) — Năng lượng một cá nhân hấp thụ.
Q
Khí (Qi) — Xem Chi.
R
Randori — Thuật ngữ Nhật Bản chỉ sự tập quyền tự do (free sparring) dùng trong judo, jujitsu, và aikido.
Đảo nghịch (Reversal) — Một kỹ thuật võ thuật, nơi người tập đi theo một hướng rồi thực hiện một cú xoay 180 độ hoàn toàn sang hướng đối diện để hoàn thành một ứng dụng chiến đấu. Được dùng ngang nhau trong đánh, quăng hất, và khóa khớp.
Kênh phải (Right channel) — Một trong ba đường năng lượng chính của thân thể. Xem Kênh trái.
Triệt căn (Rooting) — Kỹ thuật chìm năng lượng thân thể và cắm rễ nó vào lòng đất. Khó mà di chuyển vật lý một võ sư đã làm chủ triệt căn. Trong võ thuật nội gia, triệt căn mang lại cho người tập sức mạnh to lớn.
Nhu thủ (Rou Shou / Soft Hands) — Còn được biết với tên San Shou hoặc Tự Do Thủ (Free Hands) ở Đài Loan. Một kỹ thuật chuẩn bị chiến đấu hai người, thực hành trong bát quái (và một số trường phái hình ý quyền), trong đó cánh tay của hai bạn quyền tiếp xúc xoắn ốc liên tục. Nhu thủ có thể được ví như một sự kết hợp giữa Thừa Thủ thái cực quyền, judo, và thủ dính (sticky hands) của Vịnh Xuân.
S
Samadhi — Một trải nghiệm thiền định chỉ báo một giai đoạn cụ thể của "giác ngộ".
Samurai — Những hiệp sĩ chiến binh của Nhật Bản cổ đại, những người đã trở thành hình mẫu kinh điển của võ thuật Nhật Bản. Đặc điểm phân biệt nhất của họ là kiểu tóc búi và việc đeo hai thanh kiếm, những thứ mà họ cực kỳ tinh thông sử dụng.
Savate — Một võ thuật Pháp kết hợp đá và quyền Anh phương Tây.
San chin — Một thế võ thuật, nơi một chân ở phía trước và chân kia ở phía sau thân mình, cả hai bàn chân cong vào trong một mức độ nào đó và hướng vào nhau. Một thế thường được dùng để phát triển hơi thở sức mạnh trong một số lưu phái karate và các trường phái Thiếu Lâm Nam.
Tam thể (San Ti) — Kỹ thuật phát triển nội lực chính của hình ý quyền. Tam thể được thực hiện đứng yên và giữ một thế tay tĩnh cụ thể.
Bảy mươi hai kỹ thuật chân (Seventy-two leg techniques) — Một chuỗi các kỹ thuật võ thuật bát quái liên quan đến đá, khóa chân, và các thủ pháp bộ pháp.
Sát khí (Sha chi / sha qi) — Khí giết chết khi chạm vào.
Thượng bàn công phu (Shang pan gung fu) — Những kỹ thuật võ thuật bắt nguồn kỹ năng và sự phát triển của chúng từ sức mạnh của nửa thân trên hơn là từ chân.
Hình ý Sơn Tây (Shanxi hsing-i) — Hình thức nguyên thủy của hình ý quyền đến từ tỉnh Sơn Tây (Shanxi) ở Tây Bắc Trung Hoa.
Thiều thôi (Shao Twei / shao tui) — Một cắt chân, quét mắt cá, hoặc đá của Thiền Tỳ Hàm Bắc, nhắm vào bắp chân hoặc gân Achilles.
Thiếu Lâm công phu (Shaolin gung fu / sil Jum trong tiếng Quảng Đông) — Tu viện Thiếu Lâm là nơi sinh (truyền thuyết nhưng không phải lịch sử) của võ thuật ở Trung Hoa. Thiếu Lâm đồng nghĩa với võ thuật ngoại gia. Những cấp độ cao hơn của Thiếu Lâm có thực hành khí công, nhưng như một quy tắc chung, việc phát triển sức mạnh vật lý và sự hung hãn được nhấn mạnh hơn là tu dưỡng khí.
Shiatsu — Một phương pháp xoa bóp Nhật Bản dựa trên các nguyên lý của y học cổ truyền Trung Hoa. Shiatsu dùng các ngón tay ấn vào các huyệt châm cứu để có hiệu quả trị liệu.
Shorin Ryu — Xem Karate.
Shotokan — Xem Karate.
Suy thái (Shuai jiao / shwei jiao, shuai chiao) — Vật Trung Hoa.
Thuận thế chưởng (Shun shr jang / shun shi zhang, shun shi chang) — Đổi chưởng nhịp nhàng (Smooth palm changes). Một sự đổi chưởng trong bát quái liên quan đến sự pha trộn các năng lượng âm và dương, trái ngược với chỉ thuần dương hay thuần âm. Cụm từ chung cho bất cứ sự đổi chưởng nào trong bát quái ngoài Đổi Chưởng Đơn và Đổi Chưởng Kép.
Silat — Xem Penchat.
Đổi Chưởng Đơn (Single Palm Change / dan huan zhang, tan huan chang) — Kỹ thuật căn bản nhất trong bát quái. Đổi Chưởng Đơn là một tiểu vũ trụ của toàn bộ hệ thống, dựa trên quái đầu tiên (thiên) của Kinh Dịch.
Sáu mươi bốn hào (Sixty-four hexagrams) — Sáu mươi bốn sự biến đổi năng lượng cơ bản của Kinh Dịch.
Rắn (Snake) — Một lưu phái Thiếu Lâm Nam.
Võ thuật mềm (Soft martial arts) — Những võ thuật mà kỹ thuật phòng thủ của chúng dựa trên không đối kháng lực bằng lực mà là nhượng bộ và đổi hướng lực của đối phương. Những đòn của võ thuật mềm không có vẻ ngoài của sức mạnh nhưng lại cực kỳ mạnh mẽ tàn khốc, basê trên khí và cơ học thân thể vi tế. Võ thuật mềm có thể là ngoại gia hoặc nội gia. Ngay cả một hệ thống võ thuật "cứng" nhiệt thành nhất cũng sẽ có vài kỹ thuật mềm.
Thiền Tỳ Hàm Nam (Southern Praying Mantis) — Nhánh Nam ngoại/nội của Thiền Tỳ Hàm, sử dụng rộng rãi thực hành chạm tay và có nhiều công việc khí nội tại hơn nhánh Bắc.
Thiếu Lâm Nam (Southern Shaolin / nan Shaolin, nan quan/chuan) — Một lưu phái chiến đấu nổi tiếng với những động tác có thể thực hiện trong một không gian nhỏ, ví dụ kinh điển là trên một con thuyền. Các lưu phái Thiếu Lâm Nam đặc trưng bởi những động tác tay ngắn, sát, chặt, đá thấp, và bộ pháp ngắn, chặt.
Thương (gậy) (Staff or pole) — Một vũ khí cắt không chủ đạo của võ thuật Trung Hoa, thường làm bằng gỗ, nhưng có thể làm bằng kim loại. Chiều dài của nó thay đổi từ bốn đến chín feet, với chiều dài năm đến sáu feet là phổ biến nhất.
Khí công đứng (Standing chi gung / jan chuang, zhan zhuang) — Khí công được thực hiện đứng yên, hoặc với cánh tay của người tập nghỉ bên hông, hoặc được giữ trên không trung trong một thế tay tĩnh. Khí công đứng là một trong những kỹ thuật cơ bản nhất để phát triển nội lực.
Thế tay tĩnh (Static arm postures) — Thực hành mà một cá nhân giữ cánh tay bất động trong không gian, dù chân có di chuyển hay không. Thực hành này được làm để đưa khí từ bụng và cột sống đến đầu ngón tay và ổn định các trục thẳng hàng nội tại của nửa thân trên.
Đính kình (Sticking power / nien, nian) — Kỹ năng võ thuật dính vào da hoặc vũ khí của đối phương bằng tay, cánh tay, thân thể, hoặc vũ khí của chính mình để kiểm soát một tình huống chiến đấu một cách phòng thủ hoặc công kích.
Kiếm lưỡi thẳng hai cạnh (Straight double-edged sword) — Thanh kiếm cơ bản dùng cho chiến đấu một đối một trong võ thuật Trung Hoa. Thanh kiếm này chém đều bằng cả hai cạnh và mũi nhọn sắc có thể đâm thủng thịt.
Bước thẳng (Straight step) — Một trong ba bước cơ bản trong bát quái, nơi người tập bước tới phía trước.
Tùy (Suei) — Từ hóa (Magnetizing). Một thuật ngữ kỹ thuật cho một trong bốn giai đoạn của năng lượng dính trong thái cực quyền.
Thái cực thức Tôn (Sun style taichi) — Một lưu phái kết hợp của thái cực quyền do Tôn Lộc Đường (Sun Lu Tang) sáng tạo, hợp nhất thức Hao với hình ý quyền và bát quái chưởng.
Swari waza — Kỹ thuật chiến đấu trên mặt đất của aikido, nơi người tập đứng thẳng với một hoặc cả hai đầu gối chạm đất, dù đứng yên hay di chuyển trên thảm.
Dịch dịch (Synovial fluid) — Một dịch cơ thể hiện diện trong khoảng không gian giữa các khớp của thân thể.
T
Taekwondo — Một võ thuật ngoại gia Triều Tiên nhấn mạnh kỹ thuật đá; cũng được biết với tên karate Triều Tiên.
Thái cực quyền (Tai chi chuan / tai ji quan, taijiquan, tai chi ch'uan) — Quyền Thái Cực Tối Thượng (Supreme ultimate martial arts fist). Một trong ba võ thuật nội gia của Trung Hoa, nổi tiếng nhất với sự nhấn mạnh vào mềm mại, vận động chậm, và phương pháp luận khí công tinh vi basê trên sự phối hợp toàn thân về mặt vật lý. Được đa số người tập chủ yếu thực hành vì sức khỏe, không phải chiến đấu. Như một võ thuật, thái cực quyền nhấn mạnh sự mềm mại, các kỹ thuật nhượng bộ và chiến lược phản công, và sự hòa quyện của sức mạnh nội tại cứng và mềm.
Thái Cực Kinh (Tai Chi Classics) — Một luận văn thế kỷ mười chín về các nguyên lý nền tảng của thái cực quyền, được cho là do Vương Tông Nhạc (Wang Tsung Yueh) viết. Chứa đựng những cụm từ ngắn gọn, bí hiểm có nhiều tầng ý nghĩa.
Thái cực môn (Taichimen) — Một trường phái thái cực quyền giữ nguyên vẹn toàn bộ truyền thống võ thuật của thái cực quyền, thường từ một nguồn truyền thừa.
Đường nê bộ (Tang ni bu / t'ang ni pu) — "Đi bộ bùn lầy" (Mud-walking). Những nguyên lý cơ bản về khí và cơ học vật lý mà bộ pháp đi vòng tròn của bát quái dựa trên.
Đan điền (Tantien / tant'ien, dantian) — Ba trung tâm chính trong thân thể con người nơi khí tập hợp, phân tán, và tuần hoàn lại. Chúng quản lý giải phẫu năng lượng của một con người. Việc thực hành ba đan điền là cội rễ vận hành của tất cả các thực hành khí Trung Hoa.
Đạo / Đạo giáo (Tao/Taoism / dao) — Đạo (The Way). Tôn giáo thần bí thực dụng của Trung Hoa tạo thành nền tảng nguyên thủy của văn hóa Trung Hoa cổ điển, bao gồm sự chơi đùa âm-dương của các đối cực, y học Trung Hoa, và nghệ thuật chiến lược và chiến tranh.
Đạo gia (Tao jia / dao jia, tao chia) — Những thực hành thần bí nội tại, bí truyền của Đạo giáo. Bao gồm giai đoạn khởi đầu của thiền định Đạo gia liên quan đến các phương pháp làm tĩnh hoàn toàn tâm trí và một giai đoạn cao cấp, liên quan đến luyện đan nội (internal alchemy), hay sự chuyển hóa các năng lượng bên trong để nhận ra và trở thành một với Đạo, bản chất của vũ trụ chính nó.
Đạo giáo (Tao jiao / dao jiao, tao chiao) — Những khía cạnh bên ngoài của Đạo giáo, bao gồm các bóng ma (mediums), thờ cúng tượng, và bói toán.
Sư phụ Đạo gia (Taoist master) — Một người ngộ đạo hay "giác ngộ" thành thục của thiền định Đạo gia, người đã đạt đến và hoàn thành những thực hành cao nhất trong Đạo giáo. Những cá nhân này cực kỳ hiếm.
Quyền Thái (Thai boxing / muay thai) — Võ thuật ngoại gia truyền thống của Thái Lan. Nguyên thủy tập luyện với găng tay gắn thủy tinh xay nhỏ, quyền Thái nay được thực hiện với găng boxing thông thường trong một vòng đấm bốc. Nổi tiếng với những cú đá, đâm gối, và đánh cùi chỏ, lưu phái quyền này là nguồn vào nguyên thủy cho hệ thống karate/kickboxing tiếp xúc đầy đủ đã trở thành một sân chơi lớn trong thế giới các giải đấu võ thuật thương mại.
Tam tiêu (Three burners / san jiao) — Một nguyên lý y học Trung Hoa về cách khí của thân thể được phân chia thành ba phần cần được tích hợp để đạt sức khỏe tối ưu và tuần hoàn khí cân bằng. Thượng tiêu chỉ phần thân thể bao gồm ngực, cánh tay, cột sống trên, cổ, và đầu. Trung tiêu bắt đầu ở đám rốn và kết thúc ở hạ đan điền. Nó bao gồm cột sống giữa, gan, thận, và lách. Hạ tiêu bao gồm bụng dưới, cột sống dưới, cơ quan sinh dục, hông, và chân.
Địa đường quyền (Ti tang earth boxing / di tang) — Nhiều hệ thống võ thuật Trung Hoa liên quan đến chiến đấu mặt đất (earth).
Thính kình (Ting jin / t'ing chin, ting jing) — Khả năng lắng nghe và diễn giải năng lượng của người khác trong võ thuật nội gia.
Toe-out/toe-in (bai bu/kou bu) — Bước cơ bản thực hiện trong đi vòng tròn bát quái.
Lưu phái Tomeki — Xem Aikido.
Võ thuật Trung Hoa truyền thống (Traditional Chinese martial arts) — Những võ thuật tồn tại truyền thống ở Trung Hoa trước cuộc Cách mạng Cộng sản. Võ thuật truyền thống basê trên những kỹ năng chiến đấu thực dụng với những nền tảng tôn giáo và triết học của Nho giáo, Phật giáo, và Đạo giáo.
Tsa jr chuei — Một trong các bài quyền của hình ý quyền dựa trên Mười Hai Hình Thú.
Tài (Tsai / cai) — Năng lượng Kéo Xuống (Pull Down) trong thái cực quyền.
Khoan quyền (Tsuan chuan / zuan quan, juanchuan) — Quyền Khoan (Drilling Fist). Một trong năm kỹ thuật cơ bản của hình ý quyền.
Thôi na (Tui na / tweina) — Hệ thống liệu pháp xoa bóp trị liệu của Trung Hoa, được xem là ở mức độ cao hơn xoa bóp Trung Hoa thông thường (được gọi là ammo). Nằm trong những can thiệp trị liệu của nó là bấm huyệt, nắn xương, và thao tác khớp và đốt sống, cùng với công việc mô sâu (myofascial), sọ-cụt (craniosacral), gân và dây chằng, và sắp xếp lại cũng như tái cân bằng nội tạng/tuyến. Khi kết hợp trị liệu với khí công, nó được gọi là khí công thôi na (chi gung tui na).
Thôi thủ (TuiShou) — Xem Push Hands (Thừa Thủ).
Tuntu — Thuật ngữ võ thuật Thiếu Lâm chỉ việc hút vào và phun ra, không giống nhưng trên bình diện thô có những nét tương đồng với thực hành mở/đóng của các nghệ thuật nội tại.
U
Ý thức vũ trụ (Universal Consciousness) — Cái gì đó nền tảng, không thể định nghĩa, mà toàn bộ vũ trụ được cấu thành từ đó. Được gọi là Đạo ở Trung Hoa cổ đại.
Thượng đan điền (Upper tantien / dantian) — Tọa lạc trong não bộ, đan điền này kiểm soát các cơ chế nhận thức và chức năng tâm linh của con người.
W
Ngoại bát trưởng (Wai ba jang / wai ba zhang, wai pa chang) — Tám lòng bàn tay ngoài. Thực hành bát quái chưởng hậu thiên cơ bản của những kỹ thuật đi vòng tròn thứ cấp, chỉ hoạt động như ứng dụng chiến đấu.
Ngoại gia (Wai jia / wai chia) — Thực hành bên ngoài. Những thực hành không tu dưỡng đáng kể phần bên trong bản thể con người, mà chủ yếu quan tâm đến việc hoàn thành các mục tiêu trong thế giới bên ngoài.
Thành tố Thủy (Water element) — Trong vũ trụ quan Trung Hoa, một trong những năng lượng hoặc thành tố cơ bản mà từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Phương pháp Thủy (Water method) — Một kỹ thuật thiền định hoặc năng lượng nhấn mạnh việc dùng nỗ lực tối đa mà không căng sức hay ép buộc.
Vệ khí (Weichi) — Lớp năng lượng giữa da và cơ của một con người, bảo vệ chống lại bệnh tật xâm nhập vào thân thể từ môi trường bên ngoài.
Bạch Hạc (White Crane) — Một võ thuật Trung Hoa ngoại/nội bắt chước hành động của con chim hạc trắng. Có ba nhánh của lưu phái này: Quảng Đông, Phúc Kiến, và Bắc, mỗi nhánh có những chuyên môn khác nhau.
Bạch Mi (White Eyebrow / pak mei trong tiếng Quảng Đông, bai mei trong tiếng Quan Thoại) — Một lưu phái chiến đấu Thiếu Lâm Nam ngoại/nội, tay ngắn, từ tỉnh Quảng Đông.
Vịnh Xuân (Wing Chun) — Một võ thuật ngoại gia miền Nam Trung Hoa basê chủ yếu trên đánh bằng tay. Phương pháp luận phát triển chiến đấu chính của nó được gọi là "tay dính" (sticky hands) hay chi sau (chi sau), một thực hành mà cả hai đối thủ giữ tiếp xúc tay/cánh tay khi họ cố gắng đánh và phòng thủ chống lại các đòn tấn công của nhau.
Thành tố Mộc (Wood element) — Trong vũ trụ quan Trung Hoa, một trong những năng lượng hoặc thành tố cơ bản mà từ đó tất cả các hiện tượng hiển lộ được tạo ra.
Ngũ Mai (Wu mei) — Một võ thuật Thiếu Lâm Nam ngoại/nội.
Thái cực thức Ngô (Wu style taichi) — Một lưu phái thái cực quyền đặc biệt nổi tiếng với các thành phần chữa lành và thiền định. Một lưu phái chiến đấu khung nhỏ phát triển từ thức Dương. Thức Ngô là hình thức thái cực quyền phổ biến thứ hai ở Trung Hoa và đang trở nên phổ biến hơn ở phương Tây.
Vô vi (Wu wei) — Làm mà không làm (Doing without doing). Khái niệm Đạo gia căn bản về việc để hành động trỗi dậy từ một tâm trí trống rỗng không định kiến hay chương trình nghị sự, một hành động vận hành bằng cách đơn giản theo đuổi dòng chảy tự nhiên của năng lượng vũ trụ khi nó hiển lộ mà không căng sức hay có sự can dự của cái tôi.
Võ thuật (Wushu) — Một thuật ngữ chung chỉ những võ thuật được dùng vào những thời điểm khác nhau trong lịch sử Trung Hoa. Đôi khi được gọi là "võ thuật hiện đại". Võ thuật đương đại nay basê trên giá trị trình diễn thể thao hoặc sân khấu hơn là chiến đấu. Nó khác về mặt triết học với võ thuật truyền thống.
Y
Thái cực thức Dương (Yang style tai chi) — Hình thức thái cực quyền phổ biến nhất ngày nay.
Kinh mạch âm và dương (Yin and yang meridians) — Mười hai kinh mạch năng lượng vi tế dọc chính của thân thể.
Bát quái thức Âm Phủ (Yin fu style of ba gua) — Hình thức bát quái phổ biến thứ hai ngày nay; dùng Lưu Diệp Chưởng (Willow Leaf Palm).
Âm dương (Yin yang) — Khái niệm Đạo gia kinh điển rằng vũ trụ được cấu thành từ những đối cực (mặt trời/mặt trăng, chủ động/thụ động, làm/nghỉ, hạnh phúc/buồn bã, v.v.) không thù địch, mà bổ sung và cần thiết để hoàn tất lẫn nhau. Chính qua sự chơi đùa âm-dương của các đối cực mà mọi sự hiển lộ, rõ ràng hay vi tế, xảy ra.
Dụng pháp (Yung fa / yong fa) — Những ứng dụng chiến đấu của một động tác võ thuật Trung Hoa.
Z
Thiền (Zen / Zen là tiếng Nhật; tiếng Hoa: Chan) — Một kỷ luật tâm linh được tạo ra bởi sự hợp nhất của các phương pháp Đạo gia và Phật giáo. Những thực hành Thiền đôi khi được thích ứng vào võ thuật. Xem Phật Giáo.
Chương Trình Năng Lượng Đạo Gia B. K. Frantzis®
Các Khóa Huấn Luyện Hiện Có
Ông Frantzis và/hoặc các giáo viên được huấn luyện của ông giảng dạy nhiều khía cạnh của Nghệ Thuật Năng Lượng Đạo Gia (Taoist Energy Arts) trong các seminar, các khóa ẩn cư (retreats), và các lớp học tại những địa điểm ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Để biết thông tin về lịch trình giảng dạy, sách, băng video, và băng audio, xin liên hệ:
B. K. Frantzis Energy Arts®
P.O. Box 99
Fairfax, CA 94978-0099
USA
Phone: (415) 454-5243 Fax: (415) 454-0907
Web site: www.energyarts.com
Chương Trình Khí Công Sáu Phần
Chương trình này dạy công việc năng lượng nội tại của mười sáu thành phần nội công Đạo gia (xem tr. 62). Cùng với nhau, những khóa học này cung cấp một chế độ khí công hoàn chỉnh, kết hợp công việc năng lượng của y học phương Đông, thiền định Đạo gia, và vận động thể chất. Các khóa học là:
Rồng và Hổ Khí Công (Dragon and Tiger ChiGung)
Thực hành khí công truyền thống 1500 năm tuổi này là một bài tập bảy động tác, lý tưởng cho mọi lứa tuổi hay mức độ sinh lực. Dễ học, nó nhanh chóng cho phép bạn nhận ra khí trong thân thể và chiếu phóng/hấp thụ năng lượng từ đôi tay. Những kỹ thuật này đã được áp dụng từ thời cổ đại để chữa lành bằng cách giải tỏa những tắc nghẽn trong các aura năng lượng con người.
Mở Các Cửa Năng Lượng Của Thân Thể Bạn (Opening the Energy Gates of Your Body)
Học cách tập trung sự tỉnh thức của bạn để phối hợp và kiểm soát có ý thức dòng chảy khí của thân thể bạn. Năng Lượng Cửa dạy hơi thở Đạo gia cơ bản, cách thực hiện khí công đứng, hòa tan các tắc nghẽn năng lượng, và cảm nhận các cửa năng lượng của bạn cùng chức năng của chúng. Bạn được dạy cách nạp năng lượng cho nội tạng và điều chỉnh các trục thẳng hàng cơ học nội tại để thúc đẩy chữa lành và bắt đầu kiểm soát những vận động của từng đốt sống cột sống của bạn.
Hôn Nhân Của Trời Và Đất (The Marriage of Heaven and Earth)
Bài tập đơn giản, một động tác này được dùng rộng rãi ở Trung Hoa để giảm nhẹ các vấn đề lưng, cổ, khớp, và thần kinh cơ. Nó có hiệu quả trong việc tăng tính đàn hồi của các khớp, sức mạnh tổng thể, và sự linh hoạt nửa thân trên. Những sự mở và đóng của cơ bắp (để dẫn động sự vận chuyển năng lượng qua các kinh mạch châm cứu của bạn) và các khớp được dạy ở đây là những kỹ thuật nội tại quan trọng của võ thuật Đạo gia để kiểm soát khí.
Khí Công Cột Sống: Uốn Cung Và Bắn Tên (Spinal Chi Gung: Bend the Bow and Shoot the Arrow)
Học cấp độ sâu nhất của hơi thở Đạo gia, nơi các đốt sống, khớp, hốc, tuyến, và cơ bắp cột sống liên kết về mặt vật lý và năng lượng bằng cách giãn nở hoặc co rút cùng nhau với mỗi hơi thở. Học cách kiểm soát hoàn toàn vận động đa hướng của tất cả các đốt sống của bạn, sửa chữa các vấn đề lưng, và khuếch đại sức mạnh của bạn.
Thân Thể Năng Lượng Xoắn Ốc (Spiraling Energy Body)
Ở đây, bạn học cách hướng dòng chảy hướng lên của năng lượng trong thân thể, chiếu phóng khí của bạn dọc theo những đường xoắn ốc, mở các kênh năng lượng phải, trái, và trung ương, trung hòa và chuyển hóa năng lượng tiêu cực, và dẫn năng lượng tùy ý đến bất cứ điểm nào trong thân thể bạn.
Các Vị Thần Chơi Trong Mây (Gods Playing in the Clouds)
Sáu động tác của Các Vị Thần bao hàm tất cả các kỹ thuật nội tại của khí công. Phương pháp tái sinh Đạo gia mạnh mẽ này khuếch đại tất cả những chất liệu trong các khóa khí công trước. Bạn cũng học cách làm xương cứng hơn, thanh lọc thân thể tình cảm khỏi năng lượng tiêu cực, và mở cũng như ổn định trung tâm tim và kênh năng lượng trung ương của bạn.
Võ Thuật Và Các Chương Trình Khác
Việc giảng dạy các võ thuật nội gia là bát quái, thái cực, và hình ý, cũng như thiền định Đạo gia, các khóa khí công thôi na, và các chương trình huấn luyện giáo viên hiện có vào những thời điểm khác nhau. Xin viết thư, gọi điện, gửi fax, hoặc ghé thăm trang web của chúng tôi để biết thêm thông tin.
Xin lưu ý: Ông Frantzis nói chung không thực hiện những việc chữa lành một đối một cho các vấn đề cụ thể. Thời gian của ông hiện được cống hiến cho việc hướng dẫn các nhóm, huấn luyện giáo viên, viết lách, và giáo dục sức khỏe cộng đồng.
B. K. Frantzis Energy Arts®
Post Office Box 99
Fairfax, CA 94978-0099
USA
B. K. Frantzis Energy Arts®
Post Office Box 99
Fairfax, CA 94978-0099
USA
DÁN TEM TẠI ĐÂY (AFFIX STAMP HERE)
Xin hãy cho tôi biết thêm về B. K. Frantzis Energy Arts®. Tên ____________________. Địa chỉ đường phố ____________________. Thành phố ____________________. Bang ____________________. Mã bưu điện ____________________. Quốc gia ____________________. Số điện thoại ____________________. Tôi quan tâm đến: 〇 Khóa ẩn cư (Retreats) 〇 Seminar 〇 Video 〇 Sách 〇 Băng audio 〇 Võ thuật 〇 Sức khỏe 〇 Chữa lành 〇 Thiền định 〇 Khí công 〇 Hình ý 〇 Bát quái 〇 Thôi na.
Xin hãy cho tôi biết thêm về B. K. Frantzis Energy Arts®. Tên ____________________. Địa chỉ đường phố ____________________. Thành phố ____________________. Bang ____________________. Mã bưu điện ____________________. Quốc gia ____________________. Số điện thoại ____________________. Tôi quan tâm đến: 〇 Khóa ẩn cư (Retreats) 〇 Seminar 〇 Video 〇 Sách 〇 Băng audio 〇 Võ thuật 〇 Sức khỏe 〇 Chữa lành 〇 Thiền định 〇 Khí công 〇 Hình ý 〇 Bát quái 〇 Thôi na.
$24.95
Tác giả ném đối phương lên không trung bằng một kỹ thuật chiếu phóng năng lượng của thái cực quyền.
B. K. Frantzis bắt đầu võ thuật vào năm 1961. Sau khi huấn luyện đai đen cao cấp trong judo, karate, và aikido tại Nhật Bản, ông đi sâu hơn vào võ thuật và các kỹ thuật chữa lành toàn thời gian trong mười năm tại Trung Hoa. Ông giảng dạy ở Bắc Mỹ và Châu Âu.
B. K. Frantzis Energy Arts™ Publications
Từ Clarity Press. ISBN: 1-55643-253-4. Võ thuật.
Những Gì Các Võ Sư Thành Tựu Cao Nói Về Cuốn Sách Này
"B. K. Frantzis có một chiều sâu và bề rộng tri thức về nội gia (các nghệ thuật nội tại) mà rất ít người phương Tây sở hữu. Tập sách này chứa đựng thông tin có giá trị lớn cho học giả, người chiến đấu, người thiền định, người học về năng lượng, và các võ sư mọi lưu phái. Là một người đã 'bắt tay' với Bruce Frantzis, tôi có thể làm chứng cho sức mạnh, sự vi tế, và tính hiện thực của khả năng võ thuật của ông ấy."
— Don Ethan Miller, bốn lần vô địch Thừa Thủ thái cực quyền quốc gia Mỹ, hơn ba mươi năm kinh nghiệm trong võ thuật châu Á.
"Công trình của B. K. Frantzis về các cấu trúc thực dụng và bản chất của các hệ thống nội gia này là mang tính định nghĩa. Nó sẽ trở thành một kinh điển, và sẽ phục vụ như một chất xúc tác cho những tâm hồn đồng điệu. Một điều phải có cho tất cả học trò nghiêm túc của võ thuật."
— Stan Israel, học trò cao cấp của Chen Man-ching, người mang đai đen trong judo, karate, và jujitsu, hơn bốn mươi năm kinh nghiệm trong võ thuật.
"B. K. Frantzis là một trong số ít người phương Tây thấu hiểu hệ thống võ thuật nội gia Đạo gia. Cho những ai tìm cách hiểu các nguyên lý năng lượng trong nghệ thuật của chính họ, Frantzis nay đã mở ra Con Đường (The Way)."
— Robert Nadeau, Aikido Đai Đen Cấp Sáu, Giám đốc City Aikido, San Francisco, California.
Những Gì Bạn Sẽ Tìm Thấy Trong Cuốn Sách Đáng Kinh Ngạc Này
〇 Những điểm tương đồng và khác biệt cụ thể giữa võ thuật nội gia (bát quái, thái cực, và hình ý) và võ thuật ngoại gia. Làm thế nào các nghệ thuật nội tại nâng cao võ thuật ngoại gia, như taekwondo, karate, công phu, v.v.?
〇 Những suy ngẫm về ba cách tiếp cận với võ thuật — động vật, con người, tâm linh. Sự khác biệt giữa việc tập võ thuật vì chiến đấu, vì sức khỏe, và vì sự tăng trưởng tâm linh là gì?
〇 Bản chất và sự sử dụng tốc độ trong võ thuật. Bốn loại tốc độ nào có thể được áp dụng trong chiến đấu?
〇 Làm thế nào các nghệ thuật nội tại có thể giúp giảm căng thẳng, chữa lành bệnh tật, và cân bằng tình cảm. Bạn có thể làm gì để dùng sức mạnh nội tại nhằm tăng cường sức khỏe thể chất của chính mình? Giá trị của sức mạnh nội tại đối với các võ sư lớn tuổi là gì?
〇 Những hồ sơ cá nhân thú vị về chín trong số những đại sư võ thuật nội gia vĩ đại mà tác giả đã học cùng tại Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, và Trung Hoa Đại Lục. Những người đàn ông này là giáo viên như thế nào?
〇 Làm thế nào sức mạnh khí nội tại quan trọng bậc nhất được tạo ra, nuôi dưỡng, và sử dụng trong thân thể. Những thực hành nào bạn có thể làm để thực tế phát triển năng lượng khí của chính mình?
Giá $24.95. ISBN 1-55643-253-4. Phân phối bởi Publishers Group West. NORTH ATLANTIC BOOKS, Berkeley, California.