Hoàng Đế Nội Kinh — Tố Vấn
Lời Nói Đầu · Tiểu Dẫn & Lời Dịch Giả
Lời Đầu Sách
Y học ngày càng phát triển đạt đến một trình độ cao; và xu hướng của Y học hiện đại, ở thế giới cũng như ở Việt Nam, là sự kết hợp giữa Tây y và Đông y, trong đó những nền tảng của Đông y với sự phát triển lâu đời càng ngày càng đóng góp vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cộng đồng. Trải qua hàng nghìn năm, nền Đông y cổ truyền đã khẳng định được giá trị của mình và để lại những bộ cổ thư vô cùng quý báu mà nền khoa học hiện đại càng ngày càng tiếp thu, khám phá và ứng dụng một cách hiệu quả.
Hoàng đế nội kinh tố vấn là một trong những bộ sách quý đó. Cùng với Chu dịch, Mai hoa dịch, Đạo đức kinh, Hoàng đế nội kinh tố vấn (thời gian ra đời của bộ sách này, nếu căn cứ vào niên đại ước tính của Hoàng đế là vị vua huyền thoại trong cổ sử Trung Hoa, thì đã trên 5000 năm) được xếp vào “Tứ đại kỳ thư” của nền văn hoá Đông phương chứa nhiều bí ẩn cho đến nay vẫn chưa được giải mã triệt để. Hoàng đế nội kinh tố vấn là tác phẩm kinh điển được coi là công trình lý luận hàng đầu của nền Y học Đông phương, các danh y xưa nay như Hoa Đà, Biển Thước, Y Doãn, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh... đều coi đây là sách gối đầu giường trong việc nghiên cứu, chẩn trị, bổ, tả, liệu dược bệnh nhân và truyền dạy môn sinh đệ tử; và cho đến ngày nay bộ sách vẫn được sử dụng trong thực tế lâm sàng. Ở nhiều nước, Phương Đông cũng như phương Tây, đã có rất nhiều công trình dịch thuật, nghiên cứu, chú giải bộ sách. Ở Việt Nam cũng đã có nhiều người dịch và giới thiệu tóm lược công trình y học vĩ đại này, nhưng cho tới nay, bản dịch Hoàng đế nội kinh tố vấn của Nguyễn Tử Siêu do nhà xuất bản Hồng Khê xuất bản năm 1953 tại Hà Nội được coi là đầy đủ nhất.
Lương y Nguyễn Tử Siêu (1887-1965, còn có các bút danh Nguyễn An Nhân, Liên Tâm lão nhân, Hoa Cương) xuất thân trong một gia đình Nho học, nguyên quán xã Hương Ngải, huyện Thạch Thất, ngoại thành Hà Nội, đã qua Tam trường thời cựu học, sau chuyển sang học quốc ngữ, trải qua các nghề viết văn, dạy học và thầy thuốc Đông y. Về văn học, cụ chuyên về tiểu thuyết lịch sử, đã xuất bản hơn 20 cuốn sách với nội dung cổ vũ lòng yêu nước, chống cường quyền ngoại xâm, tiêu biểu như: Tiếng sấm đêm đông, Hai bà đánh giặc, Vua bà Triệu, Vua Bố Cái, Đinh Tiên Hoàng, Việt Thanh chiến sử, Trần Nguyên chiến kỷ... Về y học, cụ đã viết Y học tùng thư, Sách thuốc trẻ em, Sách thuốc phụ nữ, Châm cứu sơ bộ thực hành và dịch Hoàng Đế nội kinh, Ngoại cảm thông trị, Khôn hoá Thái chân, Tân châm cứu học... tất cả hơn 20 cuốn. Cuốn Tử Siêu Y thoại là tác phẩm cuối cùng của tác giả. Việc chữa bệnh, giảng dạy, viết sách y học của cụ đã góp phần đào tạo nên nhiều lương y có tài năng của thế hệ sau.
Ngoài công việc viết văn, dạy học và hành nghề đông y, cụ Nguyễn Tử Siêu còn tham gia hoạt động xã hội. Cụ từng là Chủ tịch mặt trận Liên Việt tỉnh Sơn Tây, Phó chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh Sơn Tây, uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội Đông Y Việt Nam các khoá 1 và 2 (1957-1965).
Với sự cho phép của gia đình dịch giả Nguyễn Tử Siêu, Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây tìm tài liệu và tổ chức tái bản bộ sách Hoàng đế nội kinh tố vấn này. Trong dự định, chúng tôi sẽ tiếp tục giới thiệu cuốn Tử Siêu Y thoại và những tác phẩm khác của cụ khi có điều kiện.
Đông Tây, ngày 11/11/2009
Tiểu Dẫn
Tố vấn là một bộ sách do vua Hoàng Đế cùng với sáu vị bầy tôi là Kỳ Bá, Quy Du Khu, Bá Cao, Thiếu Sư, Thiếu Du, Lôi Công lúc bình nhật cùng vấn đáp mà biên tập nên. Sách Bản kỷ có chép: “Hoàng Đế hỏi Kỳ Bá mà làm thành Nội kinh” chính là bộ này. Nhưng xét trong sách này, phần nhiều là lời nói của Kỳ Bá, cho nên trong Bản kỷ không chép đến tên các bầy tôi khác.
Lại xét ngoài 81 thiên của bộ Tố vấn, lại còn 81 thiên của bộ Linh khu... Giờ nhận thấy trong Tố vấn có những câu dẫn “Kinh nói rằng: v.v...” đều là lời ở trong Linh khu thì đủ biết rằng: bộ Linh khu soạn trước, mà Tố vấn thì soạn sau.
Trong Tố vấn chỉ lấy danh hiệu Thiên Sư, Phu Tử để tôn xưng Kỳ Bá... Còn Quy Du Khu với các bầy tôi khác thì không thấy gọi ai như vậy. Đến Lôi Công thì lại tự xưng là tiểu tử, đệ tử mà Hoàng Đế cũng có khi ban lời dạy bảo. Có lẽ học lực của Lôi Công chưa bằng các vị kia mà tuổi cũng còn ít hơn cả chăng?
Và có những danh từ là Công Bá, là Sư... tựa như là đều lấy tước hiệu để gọi. Tức như ở thiên Bảo mệnh toàn hình luận, có chỗ xưng là Thiên tử, là Quân vương; thiên Di tinh biến khí luận, thiên Ngũ thường chính đại luận, thiên Linh khu quan năng v.v... đều xưng là Thánh vương. Thiên Trứ chí giáo luận, thiên Sơ ngũ quá luận có câu nói: “phong quân Hầu vương” v.v...; thiên Sinh căn kết có những danh từ như vương, công, đại nhân v.v... Vậy thì đó là tước, hiệu không còn ngờ gì nữa. Đến như Quy Du Khu, Thiếu Du, Bá Cao... đều là tên chư thần mà thôi.
Đời sau, ông Trình Tử có nói: “Tố vấn do tay các công tử nước Tần soạn ra”. Cũng có người cho là do các Nho gia đời Tiên Tần soạn... Đó đều là nệ về những danh từ tước hiệu, mà không xét kỹ toàn thư, nên ức thuyết như vậy. Giờ xét ở những thiên Lục tiết Tàng tượng luận, thiên Nguyên đại luận, Ngũ vận hành đại luận, Lục vi chỉ đại luận, Lục nguyên chính kỷ đại luận, Khí giao biến đại luận, Ngũ thường chính đại luận, Chí chân yếu đại luận, v.v... bàn về thiên đạo, lịch pháp, vạn tượng, nhân thân, kinh lạc, mạch thể, nhân sự, tri, pháp, lời cổ, ý sâu... Không loại sách Chư Tử nào có thể ví kịp, thật đúng là chỉ bậc thiên thần chí thánh mới có thể soạn nổi.
Ngu này thiết nghĩ: Thượng đế lúc nào cũng nhân ái muôn dân; mà làm hại sinh mệnh của muôn dân là bệnh; muốn trị bệnh phải nhờ ở sách... Nhưng im lặng không nói nên giáng sinh bậc thần thánh để nói thay và sớm soạn ra bộ sách này để cứu sinh mệnh cho muôn dân.
Phương chỉ, Lục thư chế ra từ đời Phục Hy, y dược bắt đầu từ đời Thần Nông... Mà từ đời Phục Hy đến Hoàng Đế có linh nghìn năm, phàm việc văn tự chế tác chắc đã rõ ràng lắm. Sách Ngoại kỷ, Bản kỷ đều chép: Hoàng Đế đặt quan, cử tướng, xét lịch, làm nhạc, chế ra cổn miện, thuyền, xe; cắt dã, chia châu, xẻ đất ruộng, đặt tỉnh điền, trồng trăm giống lúa, xây đắp thành quách... Phàm tước, hiệu, văn tự, lúc đó đã đều đủ. Lại trải qua các họ Kim Thiên, Cao Dương, Cao Tân, linh ba trăm bốn mươi năm, mới đến nhà Đào Đường (Nghiêu). Vậy bao các chế tác, người đời sau chỉ biết hai họ Đường Ngu (Thuấn) là thịnh hơn cả... Nhưng có biết đâu là gây từ Hy Hoàng dẫn đà cách thời kỳ đó đã lâu lắm rồi. Sao lại riêng đối với Sử thư, Linh khu, Tố vấn mà còn ngờ vực nữa ư?
Đến thời Xuân Thu, Tần Việt Nhân soạn ra Nạn kinh nhận nhầm Tam tiêu, Doanh, Vệ và chứng quan cách, đó là một người làm mờ tối mất nghĩa của Nội kinh; Hoàng Phủ Mật đời Tấn, biên làm Giáp Ất kinh, phần nhiều trích ở Linh khu, không phát minh được nghĩa nào. Đời Đường, khoảng niên hiệu Bảo Ứng, Khải Huyền Tử là Vương Băng có chú thích, nhưng cứ theo từng câu để giải nghĩa, gặp chỗ nào ngờ thì bỏ qua; chương tiết không chia, trước sau lẫn lộn. Đời Nguyên, Hoạt Bá Nhân soạn bộ Đọc Tố vấn sao, phần nhiều chỉ theo chú giải của họ Vương, không phát minh được nghĩa gì. Chỉ về khoảng năm Gia Hựu đời Tống, triều đình sắc cho bọn Cao Bảo Hành hiệu chính lại, có nhiều chỗ giúp ích cho Vương thị, duy vẫn cứ theo chia làm 24 quyển, rất sai với cái nghĩa soạn sách của Thánh nhân.
Án: Ban Cố soạn thiên Nghệ văn chí có chép rằng: “Hoàng Đế nội kinh 18 quyển, Tố vấn 9 quyển, Linh khu 9 quyển...”.
Lại án: Thiên Ly hợp chân tà luận trong Tố vấn có chép: “Hoàng Đế nói: Nghĩ như Cửu Châm chín thiên, Phu Tử lại nhân lên chín lần, 9 lần 9 thành 81 thiên, để theo với số của Hoàng Chung. Đại đề kinh điển của các bậc thần thánh, phần nhiều dùng theo số chín, Chín nhân với chín thành 81 thiên. Giờ đây, ngu này chia làm 9 quyển cũng chỉ là theo cái di ý của thần thánh mà thôi.
Trộm nghĩ Thánh, phàm cách bậc, cổ kim khác đời, ngu này sở dĩ không tự lượng mà dám lạm chú thích bộ này, chẳng qua e cho đời sau mờ tối không hiểu nghĩa lý của Thánh nhân, nên mới quan khuy, ly trắc... Mong được giúp ích muôn một mà thôi. Hay khen, hèn chê... Hoặc công, hoặc tội, tôi nào có e ngại gì chỗ đó...
MÃ NGUYÊN ĐÀI
Lời Dịch Giả
Xem bài Tiểu dẫn trên đây, thì bộ Tố vấn là một bộ sách rất có giá trị của giới Đông y, dù các bậc đại thánh đại hiền ở đời sau như các ông Biển Thước, Hoa Đà, Trọng Cảnh, Tôn Tự Mịch, Đào Hoằng Cảnh v.v... cũng không vị nào có thể phát minh được hơn và vượt được ra ngoài phạm vi lý thuyết và thực nghiệm của Nội kinh.
Vậy thì, đối với Nội kinh ta chỉ nên biết nó là hay, nó là có ích, ta cần phải học tập và nghiên cứu...
Dịch sách đã là một sự khó; dịch sách thuốc lại càng khó; dịch sách thuốc mà dịch đến Nội kinh, Tố vấn lại càng khó. Dưới đây tôi xin trình bày mấy điểm chính:
1. Về các danh từ, cổ nhân rất hay dùng danh từ để: một là hình dung cái công năng của cơ quan hoặc là để ấn định hẳn cái tính cách của nó. Như những danh từ: Nhất dương, Nhị dương... Tam âm, Tam dương; Sơ chi khí, Nhị chi khí, Tam... Tứ... Ngũ chi khí... Tư thiên, Tại toàn, Nam chính, Bắc chính v.v... đều có ý nghĩa riêng, nếu giải rõ nghĩa đen, thì mỗi danh từ phải nói tới một trang hoặc nửa trang mới hết. Mà muốn đặt lấy một danh từ nôm cho gọn, thì chịu không sao tìm được tiếng. Vậy gặp những danh từ đó, xin cứ để vậy nguyên chữ Hán, mà giải nghĩa theo từng trường hợp thuận tiện.
2. Ở Nội kinh có những câu đặt rất gọn mà nghĩa rất hay, như: “Âm bình, dương bí; tinh thần nãi trị” v.v... Những câu như thế, nếu muốn giải nghĩa cho rõ, thì một chữ “âm”, một chữ “dương”, rồi thế nào là “bình”, thế nào là “bí”, rồi đến chữ “tinh”, chữ “thần”, rồi mới đến chữ “trị” đều phải phân tích cho hết mới đủ nghĩa. Chớ nếu chỉ dịch đổi thêm ra ba, bốn tiếng mà muốn cho trọn nghĩa thì quyết không sao được. Vậy gặp những câu thế, đành cũng xin dựa theo điệu “cổ” mà dịch thành câu ngắn, cho có vẻ “cổ”, còn nghĩa thì xin giải ở dưới.
3. Về các tên thiên, phần nhiều chỉ trích lấy một vài chữ ở trong thiên để nêu tên cho có phân biệt, cũng như ở sách Nho, trong Luận ngữ, ví ở chương đầu có chữ “học nhi...” thì đặt ngay là thiên Học nhi, ở chương đầu có chữ “vi chính” thì đặt ngay là thiên Vi chính chứ thực ra không có nghĩa đặc biệt gì khác cả. Ở Nội kinh, Tố vấn cũng vậy. Nên về các tên thiên, dịch giả miễn không giải nghĩa.
4. Như bài Tiểu dẫn ở trên này, thì về Nội kinh, các nhà chú giải có rất nhiều. Bản mà dịch giả dịch đây là theo bản hợp chú của Trương Ấn Am và Mã Nguyên Đài. Vậy những chú giải ở trong bản dịch này, hoàn toàn theo của hai tiên sinh đó.
5. Về chú giải bằng Hán văn ở bộ Nội kinh hợp chú này, Trương Ấn Am hoàn toàn giữ về mục chú thích từng câu, còn Mã Nguyên Đài thì chú giải thành một bài tổng quát ở dưới. Nếu dịch cả hai phần chú giải thì e trùng phức và quá dài. Nên bản dịch này, dịch giả phần nhiều chỉ dịch chú giải của Trương Ấn Am... Còn thỉnh thoảng, có một vài chỗ, nhận thấy giải ở trên chưa được thật rõ ràng, thì cũng có dịch cả bài Tổng quát ở dưới. Nhưng đó chỉ là một số ít.
6. Về việc dịch bộ Nội kinh này, dịch giả đứng hẳn về phương diện “dịch” chứ không phải “thuật”. Nên đối với nguyên văn Nội kinh đều dịch hết, không dám thêm bớt chỗ nào. Riêng chỉ có về phần chú giải, như trên đã nói... là có thêm, bớt.
7. Như lời trên bài Tiểu dẫn của Mã Nguyên Đài thì bộ Linh khu soạn trước rồi mới đến bộ Tố vấn soạn sau. Lại xem trong bài Tựa về Linh khu của Trương Ấn Am tiên sinh thì Tố vấn là một bộ sách nói nhiều về nguyên nhân của các chứng bệnh sở dĩ sinh ra, còn Linh khu thì nói nhiều về phương pháp điều trị. Vậy hai bộ đó, phải coi như cánh tay phải với cánh tay trái. Không thể bỏ sót một bên nào được. Nay đã dịch xong Tố vấn, hãy xin nói về Tố vấn, nếu hoàn cảnh cho phép, khi nào dịch xong được Linh khu, sẽ lại xin trình bày sau.
8. Tôi vốn già yếu, lại ở nơi thôn ổ, rất ít văn hữu tụ hội, có thể nhờ đó để chất chính những lẽ phải trái... Vì tấm lòng yêu mến Đông y, yêu mến cổ học, và sợ nếu để chậm sẽ ít người chịu dịch, nên mạo muội phiên dịch ra đây, chắc sự nhầm sót còn thiếu nhiều. Nếu được các vị cao minh chỉ giáo cho để cải chính về sau, thì không những riêng tôi, mà các hậu học về Đông y sau này cũng được cảm tạ vô cùng.
2-7-1953
NGUYỄN TỬ SIÊU
Thiên 1–5 · Thượng Cổ Thiên Chân Luận → Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận
Chương một · Thượng Cổ Thiên Chân Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi Thiên Sư rằng:
– Tôi nghe, người đời Thượng cổ đều sống tới trăm tuổi mà sức khỏe không kém sút, đến người đời nay tuổi mới năm mươi mà sức khỏe đã kém sút. Đó là vì thời thế khác chăng? Hay là lỗi tại người chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về đời Thượng cổ, những người biết đạo, bắt chước ở âm, dương; điều hòa với thuật số, ăn uống có mực, khởi cư có thường, không làm quá sức, cho nên gìn giữ được cả hình hài và tinh thần, sống trọn số trời, linh trăm tuổi mới thác.
Người đời nay thì không thế; lấy rượu thay làm nước uống; lấy càn bậy làm sự thường; đương lúc say lại nhập phòng; do lòng dục làm kiệt mất tinh, hao tán mất khí chân nguyên; không biết gìn giữ cẩn thận; không biết điều dưỡng tinh thần; chỉ cốt cho được khoái tâm, làm trái ngược cái vui thú của sự dưỡng sinh; khởi cư không có điều độ... Cho nên mới độ nửa trăm tuổi đã rất là suy yếu.
Bậc Thánh nhân đời Thượng cổ đã răn dạy người dưới mình biết xa lánh hư tà tặc phong, trong lòng điềm đạm hư vô, chân khí thuận theo, tinh thần bền vững, bệnh còn do đâu mà sinh ra được; vì vậy nên chí nhàn mà ít dục, tâm yên mà không sợ, hình mệt mà không quá, chân khí điều hòa, mọi sự đều được mãn nguyện,
Ăn đã đủ ăn; mặc lại đủ mặc; phong tục vui vẻ, trên dưới êm hòa, không hề ganh tỵ... Nên dân về thời kỳ đó gọi là "Phác".
Do đó, những điều dâm tà không thể làm bận tâm họ, những điều ham muốn không thể làm mỏi mắt họ. Kẻ ngu, người khôn, người hay, kẻ kém, không phải sợ đến ngoại vật, nên mới hợp với đạo... Vì thế, nên mới có thể sống linh trăm tuổi, mà sức khỏe vẫn không kém sút... Đó là bởi "đức toàn" vậy.
Hoàng Đế hỏi:
– Người đến tuổi già thì không sinh con, vì tinh lực hết chăng? Hay là tại số trời?
Kỳ Bá thưa:
– Con gái, bảy tuổi thì Thận khí đầy đủ, răng đổi tóc dài. Hai lần bảy (14 tuổi) thì thiên quý sinh ra, Nhâm mạch thông, Thái xung mạch thịnh, kinh nguyệt đúng kỳ xuống nên mới có con. Đến năm ba bảy (21 tuổi), Thận khí điều hòa, chân nha mọc hết. Đến năm bốn bảy (28 tuổi), gân xương đều bền rắn, tóc dài hết mực, thân thể khỏe mạnh. Đến năm năm bảy (35 tuổi), Dương minh mạch suy, vẻ mặt bắt đầu khô khan, tóc bắt đầu rụng. Đến năm sáu bảy (42 tuổi), mạch của ba kinh dương suy kém ở trên, vẻ mặt khô khan hẳn, tóc bạc. Đến năm bảy bảy (49 tuổi), Nhâm mạch hư, Thái xung mạch kém sút, thiên quý hết, địa đạo không thông, cho nên thân thể hao mòn mà không có con.
Con trai, tám tuổi thì Thận khí đầy đủ, tóc dài, răng đổi. Đến năm hai lần tám (16 tuổi), Thận khí thịnh, thiên quý đến; tinh khí đầy tràn, âm dương hòa nên mới có con. Đến năm ba tám (24 tuổi), Thận khí điều hòa, gân xương cứng mạnh, chân nha mọc hết. Đến năm bốn tám (32 tuổi), gân xương đầy đủ, cơ nhục nở nang. Đến năm năm tám (40 tuổi), Thận khí suy dần, tóc rụng, răng se. Đến năm sáu tám (48 tuổi), Dương khí suy kiệt ở trên, vẻ mặt khô khan, râu tóc đốm trắng. Đến năm bảy tám (56 tuổi), Can khí suy, sự cử động của gân yếu, thiên quý hết, tinh ít, Thận Tàng sút, toàn thân mỏi mệt. Đến năm tám tám (64 tuổi), răng tóc đều rụng.
Thận chủ về thủy (nước), chứa đựng "tinh" của năm Tàng, sáu Phủ. Năm Tàng có đầy đủ (thịnh) mới có thể tả ra. Giờ năm Tàng đều suy, gân xương rã rời, thiên quý hết rồi, cho nên râu tóc bạc, thân thể nặng nề đi đứng không vững, mà không có con.
Hoàng Đế hỏi:
– Có người tuổi đã già mà còn sinh con, là vì cớ sao?
Kỳ Bá thưa:
– Đó là bởi người ấy bẩm thụ cái khí của Tiên thiên được thịnh, cái khí mạch của Hậu thiên cũng được dồi dào lưu thông, khiến cho Thận khí thừa thãi, nên mới có con. Tuy nhiên, cứ cái giới hạn chính thì con trai chẳng qua tới tám lần tám; con gái chẳng qua tới bảy lần bảy thì tinh khí của trời đất đều đã kiệt rồi.
Hoàng Đế hỏi:
– Những người có đạo, tuổi tới linh trăm, còn sinh nữa không?
Kỳ Bá thưa:
– Những người tu đạo, có thể không già và giữ vẹn được thân hình, vậy tuổi dẫu nhiều, vẫn có thể sinh con được.
Hoàng Đế nói:
– Đời Thượng cổ có bậc chân nhân có thể xoay chuyển được trời đất, điều hòa được âm dương, thở hút tinh khí, giữ vững hình thần, da thịt không lúc nào thay đôi... nên mới có thể sống cùng trởi đất, tới mãi vô cùng tận. Dó là hạng người sống hợp với đạo,
Vẻ đời Trung cổ, có bậc Chí nhân, sửa đức hợp đạo, hòa với âm dương: thuận với bốn mùa, xa đòi, lánh tục, chứa tinh, vẹn thần. rong chơi trong Khoảng trời đất, xa trông ra ngoài tám cõi... Đó là bởi biết giữ gìn tu luyện. nên mới được mạnh mẽ và sống lâu. Bậc này rồi cũng được như Chân nhân.
Về bậc thứ. có hạng gọi là Thánh nhân, ở trong vòng trời đất, thuận theo lẽ tám phương, tuy cũng có thị dục như người thể tục, nhưng không có lòng hờn giận, cũng áo, mũ. cũng miếu đường: bên ngoài không để nhọc hình về việc: bên trong không đề nhọc về lo; lẫy vui vẻ làm hay, lấy tự đặc làm thích... Do đó hình thể không mỏi mệt. tinh thần không lìa tan... nền cũng có thể sống được lính trăm tuôi!,
Lại bậc thứ nữa, có hạng gọi là Hiền nhân, bắt chước Sự vận hành của trời đất và mật trời, mặt trăng; thuận theo lẽ nghịch và thuận cửa hai khí Âm Dương, với sự thay đổi của bốn mùa. Cổ tu luyện theo đời người Thượng cô, cho hợp với dạo... Như thế cũng có thê sống lâu mãi mãi,
Chú Giải
- Những tên thiên ở đây, phần nhiều trích một vài chữ ở trong bài để đặt. Bến thiên ở đầu bộ này đều bàn về phương pháp điều dưỡng "tỉnh, thân. khí, huyết”...
- Theo Sư &: Hoàng Đề họ Công Tôn, tên Hiên Viên, là con vua nước Hữu Hùng. nội vua Thân Nông lên làm vua, trị thiên hạ, đóng đô ở gò Hiên Viên. vượng về Thổ Đức, nên gọi là Hoàng Đề.
- [hành từ tôn xưng Kỳ Bá.
- Do, tức là cái phương nháp điều dưỡng tỉnh thân khí huyết.
- Tuy số tức là phương pháp bắt chước ở âm dương. Âm dương là cái gốc của vạn vật, thuận với nó thì sống, trái với nó thì chết. Cho nên cần phải điều hòa mà thuận theo nó.
- Khởi cư có thường thì nuôi được thần; không làm quá sức thì nuôi được tỉnh. Thần với tinh đầy đủ lo gì không sông lâu.
- Rượu làm hại Tỳ, Tỳ khí bị thương thì không tiêu hóa được thức ăn, sinh khí vì đó mà bị thương: làm càn bậy thì thương thần; say rượu nhập phòng thì thương tỉnh. Như thế gì mà không chóng chết.
- tâm chứa thần, khoái tâm thì thần bị thương.
- my rà tức là khí độc; Tặc phong tức là gió độc.
- xo Từ nói: "Trong xem tâm mình, tâm không có gì là tâm; ngoài xem hình mình, hình không có gì là hình; xa xem muôn vặt, vật không có gì là vật... Ba điều đỏ đã hiểu thấu, thì sẽ còn chỉ thấy có "không". Rỗi xem không cũng không, không không còn không. Cải không đã "vô", vô "vò” cũng "võ; vô "vô" đã "võ", trong trẻo thường lặng; lặng không còn lặng, “dục” sinh sao được; "dục" đã không sinh, tức là "chân tĩnh". Chân thường ứng với vật, chân thường hợp với tính; thường ứng thường tĩnh, sẽ được thường thanh tịnh.... Đoạn nói của Lão Tử trên này thật là một phương pháp xem “không” tất hay. Đem mà giải nghĩa bến chữ "điềm đạm hư vô" trên này cũng rất đúng.
- Vị điềm đạm hư vô nên mới chí nhản mà ít dục; vì tinh thần bền vững, nên mới tâm yên mà không sợ; đân khắp bốn phương đều được an cư lạc nghiệp, nên mới mãn nguyện.
- Dân chúng đã biết vâng theo lời đạy của người trên, nên mọi sự đều cứ tới "mực" vừa đủ thì thôi, không hề ham muốn xa hoa, cho nên phong tục mới được vui vẻ. không còn sự ngờ vực phen ghét; do đó, người trên không hiếp kẻ dưới. kẻ dưới không ghen ghét người trên, không còn aí làm điều nì quá cái phạm vị địa vị của mình. Dân như thế đã thuộc vào hạng thành thực và chất phác. Nghĩa chữ "phác" có vẻ như quê mùa mà thành thực, khác với tiếng “quê mùa" của ta thường dùng, 3) Đức tức là "minh đức" của trời phủ cho; roàn tức là không đẻ vật dục nó làm hại tới. Trang Từ nói: "Người giữ đạo thì đức toàn; đức toàn thì hình toàn; Tinh toàn tức là hợp với đạo của Thánh nhân vậy. Từ đoạn này trở lên, ôn Kỳ Bá đã trả lời Hoàng Đẻ được đây đù về cải cớ người xưa sống lâu.
- Thiền ý cũng như Thiên ất, đều là chất nước, tức là huyết, tức lả kinh nguyệt. Đản bà chủ về việc sinh đẻ, thuộc âm; mặt trăng cũng thuộc am. Mặt trăng có khi tròn khi khuyết, nên thiên quý cũng theo đó mà đúng kỳ tiết ra, nên gọi là kinh nguyệt. CỀ Thái xưng. Nhâm mạch là hai thứ mạch thuộc kỷ kinh. Hai mạch này đều phát sinh từ Thiếu phúc, đo bụng dẫn lên, làm một nơi để chứa kinh huyết, gọi là huyết hải. Nhâm mạch chủ về ràng buộc bảo thai, Xung mạch chủ về huyết hải. giở hai mạch đều đã thông, nên kinh nguyệt mới đúng Kỷ xuống mà thụ thai.
- Cận nha tức là một thứ răng thực mọc sau nhất, chân nó rất su. Thận kí tức là một thứ khí do Thận sinh ra. Khí sinh ra bởi tính, cho nên thiên quý đến trước rồi Thận khí mới điều hỏa đầy đủ. Đến lúc đó chân nha mới mọc. Lại ản: Con gái sinh theo số 7 như trên, 7 thuộc về số của Thiếu dương. Con gái thuộc âm. mà tính theo số dương, đó là trong âm có dương.
- Mạch của kính Dương mĩnh dẫn lên mặt, vòng lên đầu tóc, cho nên đến lúc suy thi vẻ mặt thành ra khô khan vả tóc rụng. Phảm khí thuộc về dương mà huyết tạch thuộc về âm, cho nên con gái thi mạch suy trước mà con trai thị khí suy trước. Lại án: Đường mạch của kinh túc Dương mỉnh hợp với hai mạch Xung, Nhâm vòng qua rỗn mà đi lên, Nên chỉ khí Xung Nhâm đã hư thì Dương minh cũng phải hư.
- Mạch của ba kinh dương đều dẫn lên đầu. Đến khi mạch đó suy thì vẻ mặt tất phải khô và tóc tất phải bạc.
- nửa đó tức là những mạch thuộc về hạ bộ - bộ phận dưới. Lại như thiên Tam bệ cửu hậu nói: Hạ bộ tức chỉ về kinh túc Thiếu âm (thận). Thiên quý chứa ở Thận, đến khi thiên quý hết, tức là các đường mạch của túc Thiếu ãm thuộc về bộ phận dưới không thông, do đó mới thân thể hao mòn mà không có con.
- Tám" là số của Thiếu âm. Con trai vốn là dương thô mà lại tỉnh theo âm số, đó là trong dương có âm. CỦ Tỉnh khu kinh nói: Xung mạch, Nhâm mạch đều phát sinh tự trong “bào", dẫn lên phía trong "phúc", là cái mốc của các kinh lạc; cái nỗi ra bên ngoài. do bên hữu phúc dẫn lên họp ở yết hẳu. chẽ ra dưới miệng và xung quanh môi. Người huyết khí đều thịnh thì tràn tới ngoài da, làm nóng trong thịt. Người thịnh riêng về huyết thì thắm tới ngoài đa, mọc thành lông nhỏ. Người đàn bà khí có thừa mà huyết thì thiếu - vì thường tiết ra nguyệt kinh - khiến hai mạch Xung, Nhâm không đầy đủ ở xung quanh miệng nên mới không có râu.
- Thiên quy tức là âm tính, cho nên tinh khí của con trai cũng gọi là thiên quý. Như Vương Băng nhận thiên quý là huyết, thì thiên quý của con trai cũng là huyết hay sao? Thuyết đó không đúng. Thận là nơi gắc của sinh khí. Con trai suy về khí trước, cho nên khi Thận khí suy thì tóc rụng. răng se.
- Can do Thận sinh ra (tức là Thủy sinh Mộc), Thận khí suy cho nên mới lây đến Can. Can chủ về Thận, vì Can khí suy nên sự cử động của gân phải yếu. Thận chủ về xương. Giờ gân với xương đều suy, cho nên toàn thân mới mỏi mệt.
- Doạn này lại nói rõ thêm cái nghĩa thiên quý của Tiên thiên, phải nhờ sự giúp ích do tân dịch của Hậu thiên. Vì năm vị vào Tỳ, đều dẫn tới cái nơi sở thích của nó. Thận là thủy Tàng, thu hút và chứa đựng các chất tỉnh dịch của năm Tàng, rồi lại bố tán ra. Chất ấy dẫn lên Tâm, hóa sắc đỏ thành ra máu; máu ẫy dẫn tới hai mạch Xung, Nhâm làm thành cái biến chứa kinh huyết, để nuôi cơ nhục vả mọc ra tóc lông. Cho nên. về bên con trai, khi thiên quý đã đến thời tinh khí đầy tràn, hóa đỏ làm - ra máu, dẫn ra Xung, Nhằm mà mọc râu ria; còn bên con gái, khi thiên quý đến thời kinh nguyệt đúng kỳ dẫn xuống. Vậy tỉnh với huyết đều gọ: là thiên quý. Lại án: Kinh nói: Con đường của Vĩnh huyết, chủ ở sự ăn UỐng. Thức ăn vào Vị rồi truyền lên Phế, tràn ngập ở bên trong, phân tán ra bên ngoài, Cá chất tỉnh khiết hơn nhất, thường lưu thông ở trong kinh mạch, đề thấm nhuân và nuôi nắng cơ nhục. Con trai tắm lần tám, con gái bây lần bẩy, cái "số" của trời đất đã đến cực độ, cho nên thiên quý hết. Nhưng cái chất huyết dẫn ở trong kinh mạch vẫn không hết. Cho nên những người già cá ăn uống dược, Tỳ Vị khỏe thì gân xương vẫn còn mạnh. Lại án: Về con gái, có người đã quá cái giới hạn “bẩy báy” mà kinh nguyệt vẫn lôi thôi không dưa, đó là do cái huyết ở trong kinh toại trần vào.Vượng, Nhâm mà tiết ra cho nên mặt vàng, mình cây, xương đau, gân môi.
- Ta nên nhớ rằng: huyết của Kinh toại dẫn ở trong mạch, huyết của Xung, Nhâm, thẩm ra ngoài mạch.
- Bắt đầu sinh ra, hợp ngay với đạo, giữ vẹn được thiên chân, nên gọi là Chân nhân.
- Từ đoạn này trở xuống là Hoàng Đề thuật lại những chuyện nghe được từ đời trước, để giải thêm về lẽ sống của con người.
- Hai bậc Chân nhân và Chí nhân, xa đời lánh tục, tu đạo để giữ vẹn lầy thiên chân, không có tình hệ luyễn của vợ con, không có thói thèm muốn của thế tục. đó là một bậc đi ra ngoài cõi tục, khác hăn với người đời. Đến như bậc Thánh nhân thì vẫn ở trong vòng trời đất, vẫn có luân lý cương thưởng, nhưng chỉ dùng cải phương án "vô vỉ" để sử trị tự thân và thiên hạ, nên không phải nhọc đến thân thể và tĩnh thần... Do đó, cũng có thê sống tới linh trăm tuổi - Bậc này, như năm đời Đế, ba đời Hoàng và Chu Công Không Từ v.v...
- Rãc hiển nhân tuy ở trong trần tục, nhưng không bị vật dục nó che lấp. Dù cỏ đồi khi cũng bị mờ ám đi đôi chút, nhưng lại sửa sang được ngay, cũng sáng súa như nhật, nguyệt, tỉnh, thần; có thứ tự như bốn mùa và sự điều tiết của âm dương... Như thế thì tuy cải địa vị là Hiền nhân, mà cũng có thê đạt tới được bực Thánh nhân hoặc Chân nhân cũng chưa biết chừng... Đó là cái ý khuyến miễn của Hoàng Đề.
Chương hai · Tứ Khí Điều Thần Luận
Kinh Văn
Ba tháng mùa Xuân gọi là phát trần”, khí của trời đất mới phát sinh, muôn vật đều nảy nở tươi tốt. Đêm năm, dậy sớm, đi dong đẻo ngoài sân, buông xõa tóc, nới rộng áo, để cho "chí" sinh ra””. Chỉ sinh mà không sát; chỉ cho mà không đoạt (cướp lấy); chỉ thưởng mà không phạt”). Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa xuân, tức là cải đạo đưỡng sinh vậy. Nếu trái lại, sẽ thương đến Can, không đủ khí giúp sự phát triển của Tâm, tới mùa hạ biến ra bệnh hàn....
Ba tháng mùa Hạ gọi là phôn tút), Khí của trời đất giao nhau? muôn vật nở hoa, kết quả. Đêm năm sớm dậy, chớ ngại ngày dải, Đừng để trong "chí" có sự giận dữ, cho thần khí được thư thái. Đề cho khí bên trong được tuyên tiết ra bên ngoài, không bị vít lấp, Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa hạ, tức là cái đạo dưỡng sinh vậy. Nếu trái lại sẽ thương đến Tâm, tới mùa thu biến ra bệnh ngược (sốt rét, úi...). Tâm khí ít không đủ giúp sự thâu liễm của Phé, mùa đông tất lại mắc thêm bệnh,
Ba tháng mùa Thu gọi là dung bình”, khí trời hanh ráo, khí đất trong sáng?) Nằm sớm, dậy sớm theo tiếng gà gáy”), Dễ cho "chí được an ninh, lắm dịu bớt sự túc sái của mùa thu; thâu liễm thần khi, cho Phế khí được trong sạch“. Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa thu, tức là phương pháp giúp sự thâu liễm vậy. Nếu trái lại, sẽ thương đến Phé: không đủ khí giúp cho sự thu Tàng, mùa đông sinh ra bệnh xôn tiết (thổ tả,
Ba tháng mùa Đông gọi là bế Tàng?®), Nước thành băng, đất nứt nẻ. không nên làm phiên nhiễu Dương khí”, Năm sớm, dậy muộn, nên đợi lúc mặt trời mọc, khiến cho "chí" như ẩn nắp, như giấu piễm, 'để cho khí của Tâm vớt Thận giao nhau, lánh nơi rét tới nơi ấm, đừng để bì phu bị lõa lồ tuyên tiết, làm động tới căn khí ở bên trong”), Làm như vậy cho hợp với cái khí của mùa đông, tức là cái đạo giúp sự thâu tàng vậy. Nếu trái lại. sẽ thương đến Thận, không đủ khí giúp sự sinh trưởng của Can, tới mùa xuân, tất sinh ra bệnh nuy, quyết,
Thiên khí vốn trong sạch, sáng sủa? "tàng đức" vận động không ngừng, nên không cân phải giáng xuống mà cũng như giáng xuống”), Nếu thiên khí không “tảng" mà lại sáng tỏ, thì nhật nguyệt sẽ không còn sáng, mà hư tà sẽ làm hại không khiếu”. Nếu Dương khí bị vít lấp, thì địa khí sẽ tràn ngập lên””' khiến cho mây mù đông đặc. bạch lộ không thể xuống”) các loài cỏ cây cũng bị khô héo, úa vàn”. Do đó, tặc phong. bạo vũ, dôn đập tới luôn; cái khí hậu của bốn mùa cũng thành ra trái ngược lẫn lộn. Con người sinh sống trong khoảng đó, nêu không biết giữ mình cho đúng phương pháp thì tránh sao khỏi nguy đến tính mệnh.
Chỉ có bậc Thánh nhân là hay thuận theo thời khí để giữ mình, cho nên không mắc phải những tật bệnh lạ lùng, mà sinh khí cũng còn được lầu bền mãi mãi.
Làm trái khí mùa xuân thì Thiểu dương không thỉ triển được các công năng sinh phát. Can khí sẽ uất mà biến bệnh; làm trái khí mùa hạ thi Thái dương không thì triển được các công năng trưởng dưỡng (nuôi lớn), Tâm khí sẽ bị rỗng không mà sinh bệnh; làm trái khí mùa thu thì Thái âm không thi triển được cái công năng thâu liễm. Phế khí sẽ bị đầy trướng mà sinh bệnh; làm trái khí mùa đông thì Thiếu âm không thi triển được cái công năng thâu tảng. Thận khí bị chìm lắp mà sinh bệnh/, Nghĩ như, khí Am Dương của bốn mùa thực là gốc rễ của muôn vật: vì vậy, bậc Thánh nhân, về hai mùa xuân, hạ thì nuôi khí dương; về hai mùa thu, đông thì nuôi khí âm, tức là bôi đưỡng noay từ nơi pốc rễ”) cho nên mới có thể cùng với muôn vật cùng chỉm nồi ở trong vòng sinh trưởng'””. Nếu làm trái mất ngay từ nơi gốc rễ, thì không sao toàn được”). Cho nên nói răng: hai khí Âm Dương ở trong bốn mùa. nó là trước sau của muôn vật, là gốc của sự sống, chết. Trái nó thì tai hại sẽ sinh ra. thuận nó thì tật bệnh không mắc phải. Chỉ có bậc Thánh nhân là hay thuận theo được lẽ đó. còn kẻ ngu thì rất dễ sao nhãng.
Thuận theo lẽ âm dương thì sống, trái thì chết, theo thì trị, trái thì loạn.
Vì thế cho nên Thánh nhân không trị khi đã mắc bệnh, mà trị từ lúc chưa mắc bệnh; không trị khi đã loạn mà trị từ lúc chưa loạn. Nếu bệnh đã mắc mới uống thuốc, loạn đã thành mới sử trị. khác chỉ lúc khát mới đào piếng, sắp đánh nhau mới dúc đồ binh. chăng cũng muộn lắm ru,
Chú Giải
- Thân chứa ở năm Tàng, nên phải điều hòa bốn khí đề giữ thân. 2) Nảy nở cái mới để thay dỗi cái cũ. Xuân khí bốc lên, sinh muôn vật. thay cũ đôi mới, nên gọi là phát trần.
- Cái khí phong mộc của phương Đông (tức là Can khí) dẫn thăng lên đầu óc, nên phải xõa tóc cho nó được sơ tán điều đại. "Chí" tức là cái cơ phát sinh của năm Tàng. Chí với ý dùng để giá ngự tinh thần, thâu liễm hòn phách, thông đạt ấm lạnh... Vì vậy, nên suốt cả bốn mùa, lúc nào cũng làm cho thuận "chí.
- Dầu là đề cho hợp với cái lẽ dưỡng sinh.
- Cạn thuộc Mộc, vượng về mùa xuân. Giờ làm trái ngược mắt cái khí xuân sinh, thì sẽ thương Can. Can bị thương, thì đến mùa hạ sẽ biến ra bệnh hàn. Vỉ mùa hạ thuộc Tâm hòa. Can mộc đã bị thương thì không thể sinh được Tâm hỏa... Đến mùa hạ sẽ biến thành bệnh hàn... Sở dĩ như vậy là vì Tâm hỏa đã không được cái "sinh" (của Can mộc), tự nhiên “Thủy” nó sẽ đến khắc "Hỏa" nên mới phát ra bệnh hàn.
- Tươi tốt, rậm rạp vì muôn vật được hấp thụ Dương khi. ỚÌ MÙa hạ, Âm khí đã hơi bốc lên, Dương khí đã hơi giáng xuống, cho nên gọt là "giao nhau, ” Không nên ngại ngày dài, phải thường vận động.
- Về tháng Trường hạ (tháng 6) thuộc về thời kỳ phát triển của hai hành Hỏa và Thổ (tức Tâm và Tỷ). Nếu giận dữ thời Can khí phát động, sẽ làm thương đến Tỳ thổ. Hạ khí bồng nỗi ra bên ngoài, nên phải để cho tuyên tiết, không bị vít lắp, thời Can sẽ được thư xướng, không sinh bệnh hoạn.
- Tâm thuộc Hôa, vượng về mìa hạ, nếu làm trái với cái khí của mùa hạ thì tâm sẽ bị thương. Tâm bị thương, đến thu sẽ thành bệnh ngược. Đó là vỉ cái khí của mùa hạ phù việt ra bên ngoài, đến mùa thu thì thâu liễm vào trong. Giờ không thâu liễm được khiến cho hai khí Âm Dương cùng chọi lẫn nhau nên mới thành bệnh ngược. Lại như: Dương khí vỗn phái sinh từ Âm tàng tại Hạ tiêu, mùa xuân dẫn lên bộ phận trên, mùa hạ dẫn ra bộ phận ngoài, mùa thu thâu liễm vào bộ phận trong, mùa đông ẳn ở bộ phận dưới. Cờ mùa hạ đã bị thương ở trên rồi, đến mùa thu không còn gì để thâu liễm. Sự thâu liễm đã bị sút kém, đến mùa đông không còn gì để bế Tàng, Dương khi không trở về nơi căn bàn; đến mùa đông là thời kỳ phát triển của hàn thủy, không có khí dương ấm áp dễ làm cho nó được quân bình điều hòa, nên mới lại mắc bệnh vả nguy hiểm, Muôn vật đến mùa thu đều đã đây đù, bình tĩnh nên gọt như vậy, tức là hinh dung từ.
- Và mùa thu khí lạnh bốc lên. nên khí trời hanh ráo; Dương khí giáng xuống nên mặt đất trong sáng. Vào mùa thu, sà gáy sớm nhưng xuống chuồng muộn. Người cũng nên thức từ lúc gà gáy, nhưng tới khi gà xuống chuồng sẽ dậy. Sơ với xuân, hạ dậy hơi muộn hơn. Đó là thuận theo sự "thâu liễm"” của mùa thu.
- phế thuộc hành Kim. chủ về mùa thu. Người đến mùa thu cũng phải thâu liễm thần khí, khiển cho Phế khí cũng được ám áp trong sạch.
- Mùa thu chủ về hành Kim, Phế cũng thuộc hành Kim. Làm trái thu khí thì thương đến Phế kim. Phế kim do đó không sinh được Thận thủy là một Tàng thuận về mùa đồng nền mới sinh ra bệnh xôn tiết - sở dĩ sinh ra bệnh đó, là vì: Phế thuộc về "táo Kim" của kinh Dương minh; Tỳ thô chét thắp (âm) ưa táo (ráo). giờ Phế kim đã suy, không thê sinh Thùy; Thận khí lại suy. không gìn giữ được Thủy; Ty thô cũng lại không chế được Thủy, nên mới bị “thấp” nó xâm lần; Tỳ b/ tháp xâm lấn thì tránh sao khỏi xinh chứng xôn tiết (vì ăn uống không tiêu hóa được, hoặc thô (mửa) hoặc tả (ia ra, có khi còn nguyên cả thức ăn.
- Che đậy, cất kín. Tới mùa đông, khí trời hình như đã thâu liễm, không biết dương, muôn vật cũng phải theo đó mà giữ gìn thân thể.
- Về mùa đông, bên ngoài khí trời rét, nên Dương khí của con người cũng thâu Tàng vào cả bên trong, nên giữ gìn, không làm việc gi quá sức, khiến phiển nhiễu đến Dương khí, phải tuyến tiết ra bên ngoài.
- Lánh rét, tới ấm là cốt để nuôi cải bộ phận "tiêu dương”, ngoái bỉ phu thuộc về nơi sở chủ của Dương khí. Nhưng Dương khí vốn pốc từ bộ phận chí âm, rồi mới phát ra ngoài bì phu. Nếu bên ngoài không giữ gìn âm kín. thì khí dương ở bên trong tất phải phát ra đề tiếp viện, đó tức là làm lay động đến căn khí, rất có hại.
- Thận thuộc Thủy, vượng về mùa đông. Nếu mùa đông trái mất sự bế Tàng, thì sẽ thương đến Thận. Thận đã bị thương, không còn đủ sức dẻ sinh Can mộc. nên sang mùa xuân. Can mộc cũng bị suy yếu - Can chủ cân. Can suy: yếu thời cán mắc bệnh. nên thành chứng ma: - tức là chứng gân giần ra, Không cử động được - hoặc cái sử khí của Can quay nghịch xuống bộ phán dưới, thi thành chứng quế: - chân tay piá lạnh.
- Máy đoạn trên, bản về nên thuận theo cái khí của bốn mùa đề điều dưỡng tỉnh thân của mình. Nhưng muốn được bốn mùa thuận tự, không trái ngược, trước phải nhờ thiên khí êm hòa. Nếu thiên khí không êm hòa, thì bốn mùa cũng không thể thuận tự. Nền từ đây trờ xuống, lại bàn về cái khí của trời đất.
- khí trời cần phải vận động không ngừng. đã không ngừng nên không cần phải giáng xuống mà cũng như giảng xuống.
- Thiên Khí vốn sáng sửa, nhưng cốt ở sự "ân Tàng" nên mới cần đến Sự Sáng sủa của nhật nguyệt. Nếu giờ lại không ân Tàng, thì tức làm lẫn át mất cả sự sáng sủa nhật nguyệt, không cỏn giữ được cái địa vị thanh tĩnh cao minh nữa. Tỷ như khí dương (ấm) của con người không gìn giữ che chờ ở các bộ phận trên và ngoài, thì hư tà (tức là khí độc) sẽ lọt vào các khiếu (lỗ hồng như tai, mũi, v.v...) mà làm lại.
- Nếu thiên khí đã bị vít lắp, thì địa khí sẽ tràn ngập lên, tức lả chỉ cỏ lên mà không có xuống, khí của trời đất còn êm hòa sao được.
- Địa khí bốc lên thành ra mây mù, thiên khí giảng xuống thành ra mưa móc, giờ chỉ có thăng mà không giáng, nên không có bạch lộ (giọt nước trong, trắng, Khí của trời đất đã không hỏa, hoặc sinh ra mưa dầm, thối đất, Gió nóng héo cây, không những cây cỏ chết mà con người cũng không sao khỏi sinh bệnh tật...
- Xét qua muôn vật, giống nào cũng có được một thử sinh khí tự nhiên, đủ cỏ gặp sự bất hòa của âm dương. thì nó cũng không đến nỗi tuyệt điệt. Duy có giống người là đã bị tấm lòng thị dục nó làm trác táng mất nguyên khi rồi. nều lại gặp sự bất hòa của thời tiết, thì không sao khỏi chết. Đến bậc Thánh nhân thì đã biết thuận theo sự bất hòa của thời tiết để thi hãnh mọt phương pháp tu dưỡng, đề phòng, nên sinh khí lúc nào cũng đôi dào, không khi nào hết được. có Đoạn này nói về hai khí Ấm Dương, tùy thời thay đổi; nêu làm trải ngược nó, thì những Tàng Phủ sở chủ về từng rùa, tự nỏ cũng bị bệnh, chứ không đợi thiếu sự giúp ích của Tàng nọ khiến cho Tàng kia cũng bị bệnh nữa. Thiếu dương (Đởm) chủ về cái khí sinh tươi của mùa xuân. Nếu làm trải khí mùa xuân. thì khí của Thiếu dương không bốc lên, sẽ khiến Cần bị uất mà sinh bệnh (vì Can Đởm là biếu. lý với nhau). Thái dương chủ về cái khí trưởng dường của mùa hạ. Nếu Thái dương không trưởng dưỡng, thời Tâm khí sẽ bị thiếu sút mà sinh bệnh. Thái âm chủ về cái khí thâu liễm của mùa thu. Nếu Thái âm không thâu liễm, thì Phê điệp (tá phối) sẽ sưng lên mà sinh bệnh. Thiếu âm chủ về cái khí bế Tảng của mùa đông. Nếu Thiếu âm không bề Tàng. thì Thận khí sẽ hư mà sinh bệnh.
- Thiếu dương Đớm kỉnh, Đờm là Giáp mộc, Can là Ất mộc, nên Can với Đờm cùng làm biểu, lý. Thủ Thái dương Tiểu trường kinh, Tiểu trường là Bính hỏa, Tâm là Đĩnh hỏa. nên Tâm với Tiêu trường là biêu ý. Trên đây nói Đờm không sinh phát mà Can mắc bệnh v.v... là đo chỗ "cùng làm biểu, lý" đó. Cái khí Âm Dương ở bốn mùa, "sinh, trưởng, thâu, tàng" hóa nuôi muôn vật, cho nên làm gốc rễ cho muôn vật. Về hai mùa xuân. hạ, dương thịnh ở bên ngoài mà hư ở bên trong: vẻ hai mùa thu đông, âm thịnh ở bên ngoài mà hư ở bên trong. Cho nên Thánh nhân nuôi khí dương về xuân hạ. mà nuôi khí âm về thu đông, tức là bôi dưỡng từ nơi gốc rễ vậy - Hoặc có người hỏi: tiết trên nói "hai mùa thu đông, khí âm chủ về việc thâu tàng. đây lại nói: "khí âm thịnh ở bên ngoài...". Vậy âm dương lại có hai “lẽ chăng? Xin đáp: Trời thuộc dương, đất thuộc âm; trời bọc ở ngoài đất, đất lọt ở trong trời. Hai khí Ẩm Dương đều tự đất phát ra, rồi lại thâu tảng vào trong đất, thì gọi là "âm ở trong âm”, khi đã thoát ra khỏi mặt đất thì gọi là "dương ở trong âm". Vậy trên kia nói: "âm chủ vẻ thâu tàng", tức là thâu tàng cái đương đã thoát ra vậy.
- Muôn vật có cái gốc ấy, mới có thể sinh trưởng: Thánh nhân biết bồi dưỡng cái gốc áy, nên mới có thê cùng muôn vật chỉm nỗi ở trong vòng sinh trưởng. Lại án: Tiết trên nói Thiếu dương, Thái dương... thì đủ biết Dương khí ở trong con người cùng hòa hợp với Dương khỉ của trời đất, nên chi Thánh nhân ở hai mùa ấy mới bồi dưỡng Dương khí. Tiết trên nói Thiếu âm, Thải âm... thì đủ biết Âm khí ở trong con người cùng hòa hợp với Âm khí của trời đất, nên chỉ Thánh nhân ở hai mùa ấy mới thâu tàng Âm khi, chính là điều dưỡng ngay từ nơi gốc rễ. bào Ty như “trái với khí mùa xuân... trái với khí mùa hạ v.V.... bà "Thuận" là nói về lẽ âm dương cùng hợp. ngũ hành củng sinh, như Đông phương Can mộc sinh Nam phương Tâm hòa, rồi Hỏa sinh Tỳ thô. Thô sinh Phế kim, Kim sinh Thận Thùy, Thủy sinh Can mộc v.v... Cái khi của năm Tàng cùng liên lạc đều có thứ tự; nếu làm trái sẽ loạn mà sinh bệnh.
- Kim Quỹ Ngọc Hảm nói: Bậc thượng công (thầy thuốc giỏi) chữa từ là chưa mắc bệnh thế nào? - Thầy (Trọng Cảnh tự xưng) đáp: Tỷ như thấy Can mắc bệnh, biết là sẽ phạm đến Tỷ (Can mộc khắc Tỳ thổ), nên bổ ngay Tỳ. khiển cho Tỷ đủ năng lực để kháng cự lại sự khắc của Can, do đó Can khí bắt buộc phải theo lẽ chính mà truyền sang Tâm (Can Mộc sinh Tâm hỏa). Đó là xoay nghịch làm cho thuận. đổi loạn làm cho trị vậy. Nếu đợi đến lúc khí của năm Tàng đã loạn; bệnh của năm Tảng đã thành, bấy giờ mới theo để điều trị, thì kịp sao được nữa?...
- Thiên này, nói vẻ lấy cái khí Âm Dương trong bốn mùa của trời đất để nuôi cái khí Âm Dương ở trong năm 'Tàng của con người, lại đem năm Tàng để ứng với năm hành. Nghị luận rất thấu triệt,
Chương ba · Sinh Khí Thông Thiên Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế nói:
– Các bậc thánh triết đời xưa hiểu suốt (thông) lẽ trời. biết răng "khí trời là cái gốc của tính mệnh con người". Trời lấy hai khí Ấm Dương để sinh ra muôn vật. mà tính mệnh của người là gốc của âm dương: cho nên ở trong khoảng sáu coi) khí đó phân tán ra ở trên mặt đắt, chía làm chín châu”) khí đó phân tán ra ở con người, thành ra chín khiếu”). Năm Tàng”) và mười hai khớp xương”) đều cùng thông với thiên khí. Những phần tử đẻ sinh ra con người nhờ ở năm hành và ba khí“. Nếu không cẩn thận, hằng phạm phải những khí đó, sẽ sinh tật bệnh. Trái lại, nễu biết cần thận. sẽ được sống lâu. Thiên khí là một thứ rất trong sạch. ta hay thể theo cái khí trong sạch ấy mà giữ mình. thì “chí ý” tự an tĩnh, mà cái Dương khí bao bọc quanh mình ta cũng kín đáo, dù có "tặc tà” cũng không làm gì được. Chỉ có bậc Thánh nhân là hay để phòng như vậy. Còn người thường thì trái với lẽ đó. nên trong thời chín khiếu bể nghẽn, ngoài thời cơ phụ bị vít, cải dương khí bao bọc bên ngoài tan rã, đó là tự mình gây nên bệnh.
Dương Khí ở con người, như “thiên” vớt “nhật”. Nếu làm sai lạc mất địa vị của nó, sẽ không thê sống được. Thiên đức, lúc nào cũng kiện vận không những nên mặt trời sáng tỏ; Dương khí ở con người cũng do đó mà bao bọc ở bên ngoài. - Dương khí vỗn gốc ở Chí âm, bên ngoài gặp phải khí hàn, tức thì dương khí từ bên trong ửng ra để cản lại - Sự ứng ra ấy nhanh chóng như xoay cối cửa (nên gọi là vận khu)',
Gặp phải "thử" và "hãn" sẽ hành ra phiên và thở gáp. Nếu không phiền, sẽ nói nhiều: mình nóng như than, hãn ra thì khỏi??,
Gặp phải tháp (khí âm), đầu nặng như đội; thấp phạm vào Dương khí, nhãn đó mà hóa nhiệt. Dương khí vốn là một vật nhuẫn nuôi các đường gân, giờ Dương khí bị thương, gân sẽ mắc bệnh. Các gần nhỏ co rút lại, các gân lớn buông chứng ra, thành ra bệnh câu loan và túng thi (co quấp rã rời không cử động được). Có khi lại sưng thững cả tứ chỉ (bởi Dương khi không vận hành ra tứ chỉ nên sưng thũng.
Nếu lại quá phiền lao thì Dương khí bị phân tán ra bên ngoải, không có đủ năng lực để bảo vệ Âm khí ở bên trong, tính sẽ tự tiết ra mà háo kiệt. Nếu ở mùa hạ thì thành chứng tiên quyết (tức chân tay giá lạnh); tính khí hư, nên mắt mờ, trông không tỏ, tai ù không nghe rõ.
dương khí thông ra bì phụ, tấu lý (thớ thịt, bắp thịt), nếu tức giận quá độ thì khí nghịch lên, huyết cũng theo mà uất lên bộ phận trên, gây nên chứng "bạc quyết" (toàn thân giá lạnh), sân nhờ có huyết mới thấm nhuần mềm mại; giờ huyết bị uất, gân không được thấm nhuẳn, nên mới thành ra rã rời không thể cử động.
Nếu hãn ra chí có nửa minh® SẺ sinh ra chứng thiên khôt! nếu hãn ra mà gặp thấp, sẽ thành chứng mọc các mụn nhỏ lắm tắm}, Những người mà ăn nhiều thức cao lương, phần nhiều mọc
Hãn ra gặp giờ, khí lạnh át lại, sẽ uất thành các mụn nhỏ như nốt sởi. Dương khí, cái chất "tỉnh" của nó thì nuôi thần, cái tính "nhu của nó thì nuôi gân?) Nếu sự "khai hạp"Ở® của nó bị vướng mắc, sẽ bị hàn tả phạm vào. Phạm vào đường xương sống, thì thành bệnh "gù", Nó lưu luyến ở trong mạch máu, trong thớ thịt, thì thành chứng “tế”; hoặc phạm vào Tâm tàng thì thành chứng hay sợ, hay hãi: hoặc phạm vào khí phận ở trong các thớ thịt thì thành chứng mụn sưng??? "Nếu hãn ra chưa hết, nhiệt còn lưu luyến trong tấu lý, huyệt Du?) bị vít, sinh chứng phong ngược??, ha Ta nền biết rằng, "phong” đứng vào hàng đầu mỗi trăm bệnh. Nếu tấu lý bền kín, thì dù có gió độc cũng không làm gì được?, Bệnh tà nếu đề lưu luyễn lâu, nó sẽ truyền hóa, trên dưới không thông. Lương Công không để cho như vậy, phải chính trị ngay từ trước. Dương khí ban ngày thì chủ về bên ngoài. Lúc mờ sáng khí ấy mới phát triển, đúng trưa thời toàn thịnh, quá chiều thì đã hư, khi môn bắt đầu đóng,.. Vậy nên về phần đêm nên giữ gìn, đừng quá dùng sức gân xương. đừng ra hóng sương móc. Nếu trái lẽ ấy sẽ không khỏi mắc bệnh!. Kỳ' Bá nói: - Âm chủ về Tảng tỉnh, mà thường bỏng lên để ứng với bên ngoài: Dương chủ về bảo vệ ở bên ngoài cho âm được bền vững kín đáo. Am không thăng được đương thì luỗng mạch chảy gấp, sẽ phát bệnh cuỗng!”?, ương không thăng được âm thì khí của năm Tàng tranh giành nhau, do đó chín khiếu không thông,
Chỉ bậc Thánh nhân biết điều nhiếp âm dương, khiến cho gân mạch điệu hòa, xương tủy bên chặt; khí huyết đều thuận, nên trong ngoài hòa hợp, "tà" không thể làm hại, tai mắt tỏ sáng?
Phong phạm vào khí, tỉnh sẽ mât; nhân lại phạm vào cả Can,
Nếu lại thêm sự ăn quá no, gân mạch tức thời sụt lỏng, Đại trường nhiệt tích mà gây nên bệnh trị””. Hoặc vì uống quá nhiều thì khi nghịch; nếu lại quá dùng sức, Thận sẽ bị thương, do đó thành chứng đau ở cao cốt””!, Tóm lại, cái cốt yếu của âm dương, dương có bên bị thì sinh mệnh mới vững vàng,
Hai khí ây nêu không điều hòa, như có xuân không thu, có đông không hạ. Nêu làm cho nó điêu hòa tức là phương pháp của bậc Thánh nhân.
Nếu dương bị tả phạm, không thì hành được cái nhiệm vụ làm bên ở bên ngoài, âm sẽ bị mắt ở bên trong.
Ấm bình dương bí tinh thần sẽ trị, âm dương ly biệt tinh khí sẽ tuyệt,
Gặp phải lộ (móc) và phong sẽ sinh bệnh hàn nhiệt. Mùa xuân bị thương về phong tà, khí lưu liên sẽ thành chứng đỗng tiết (tả); Hạ bị thương về thừ, tới mùa thu sẽ sinh chứng ngược; Thu bị thương về thấp, ngược lên thành chứng ho, phát ra thành chứng nuy quyết; Đông bị thương về hản. sang xuân sẽ thành ôn bệnh,
Tà khí của bón mùa, lại làm thương cả năm Tảng?,
Âm tỉnh sinh ra, gốc tự năm Vị; Thần của năm Tăng, bị thương bởi năm Vị, Vì vậy nên: Vị nếu quá chua, Can khí bị đẫm ướt, Tỷ khí sẽ bị tuyệt. Vị nếu quá mặn, đại cốt nhọc mệt, cơ nhục bị sút, Tâm khí bị chèn nén,
Vị nếu quá ngọt, Tâm khí thở gấp và đầy, da sạm đen, Thận khí không yên”?,
Vị nếu quá đắng (khổ), tỳ khí không thắm nhuân, Vị khí sẽ quá hậu,
Vị nếu quả cay (tân), gân mạch rã rời, tinh thần sẽ bị hại.
Vì thế phải cần thận điều hòa năm VỊ, khiến cho xương cứng, gân mềm, khí huyết lưu thông, tấu lý sẽ bền chặt kín đáo. Như thể sẽ '' được vô bệnh vả sống lâu,
Chú Giải
- Thiên này nói về "khí trời giao thông với khí ở trong thân thể con người". Đầu thiên có hai chữ "thông thiên" nên đặt làm tên bài. '# Trên, dưới và bỗn phương là sáu cõi. ®) ký, Duyện, Thanh, Từ, Kinh, Dương, Dự, Đương, Ủng là chín châu.
- Hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi, miệng và tiền hậu âm là chín khiếu.
- Năm Tàng là Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận.
- Hai tay hai chân đều có ba khớp lớn, cộng thành 12 khớp. Linh khu nói: Đắt có chín châu, người có 12 khiếu; trời có năm âm, người có năm Tàng; năm có 12 thảng, người có 12 khớp xương lớn; năm có 365 ngày, người có 365 đốt xương nhỏ; đất có 12 nguồn nước, người có 12 đường mạch. Khớp xương là một nơi thần khí qua lại, cho nên hợp với năm tháng của trời; mạch là một nơi lưu thông của huyết dịch, cho nên hợp với nguồn nước chảy của.
- chín khiếu tà một nơi ra vào của Tầng khí; năm Tàng là nơi tụ họp và biến hóa của hai khí Âm Dương, cho nên đêu phối hợp của thiên khi.
- Ba khí là ba khí thuộc âm và ba khí thuộc dương. Ba khí thuộc ầm là: hàn, táo và thấp. Ba khí thuộc dương là: phong, hỏa và thứ (khí năng.
- Phàm cái độc của khí "phong, hàn" đều bắt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, vì thế nên Dương khí ở bên trong mới ứng ra để càn lại - do đó, gây nên sốt nóng - Mạc Trọng Siêu nói: Án: Bệnh thương hàn bắt đầu phạm vào khí phận ở bì mao, gặp Dương khí ở bên trong ứng ra nên hóa nhiệt, nhiệt dù nhiều cũng không chết - Tỷ như bệnh ở kinh Thái dương, phát nhiệt nhức đầu, mạch "lại" trằm (bệnh ở Thái dương, đáng lẽ mạch phù, nên đây dùng chữ "lại") nên kịp cứu "lý" (trong) đó là bởi Dương khí không "vận khu được ra bên ngoài, nên kíp dùng Can khương, phụ từ để cứu Dương khí ở “lý” cho nó ra ngoài. Nguyễn Hán văn đoạn này chỉ có một câu: "Nhân ư hàn dục như vận khu”, theo nghĩa đen thì là: "Nhân ở khí hàn muốn như xoay cối cửa" vi dịch như thể thì khó hiểu, nên phải giải đài như trên.
- Dương tà của trời (tức hơi nắng) phạm vào Dương khí của người, khí bị thương không vệ ngoại (giữ bền ngoài) được, nên mồ hôi (hăn) mới thoát ra. Cái "tà" ở khí phận nhiệt quá bách vào Tâm, nền Tâm phiên. Bộ VỊ của Tâm ở trong Phế, Tâm mắc bệnh Phế cũng bị lây, Hỏa khắc (Kim) nên mới thành thở gấp. Nếu không phiền, thì tà khí vẫn còn ở khí phận; khí phận bị thương nên khí hư, khí hư nên nói nhiều, Dương tả của trời phạm vào Dương khí của người, hai khí đó cùng chọi nhau, nên mình mới nóng như than. Tà nhiệt đỏ gặp được chất âm dịch thì giải, nên mồ hôi ra mới khỏi.
- Thương hàn luận nói rằng: Phàm bệnh thường tự hăn là do khí không hòa, lại dùng thuốc cho "phát hãn” thêm, khiển cho (vình, vệ) điểu hòa sẽ khỏi. Xem như vậy thì biến: vì gặp khi thự mà hãn ra, là vì “thử” làm thương đến khí dương, khiến cho vệ khí (dương) không hòa. Đến khi hãn ra mà khỏi, tức là do vinh vệ hòa vậy. - Trương Khiết Cổ nói: Do sự hành động mà mắc phải, gọi là trúng nhiệt; do sự yên lặng mà mắc phai, gọi là trúng thứ. Trủng nhiệt thuộc dương chứng; trúng thử thuộc âm chứng. - Lý Đông Viên nói: Về những thắng thử nhiệt, những người nhàn hạ lánh năng ở những nơi buông sâu nhà rộng... Trong thời kỳ đó mà mắc bệnh, gọi là trúng thự. Chúng trạng tất nhức đâu ổ hàn, thân hình eo rút, các khớp xương đau nhức, trong lòng buôn bực, da thịt rất nóng và không có bãn. Đó là bởi cái khí âm hàn ở nơi buông sâu nó cản át lại mà sinh bệnh. Nếu do người lao động mắc phải ở ngoài trời nắng thì gọi là trứng nhiệt, chứng trạng tất nhưc đâu, buốn bực, ó nhiệt, da thịt nóng như đối, khát nhiễu HỎNG lắm, hãn ra như tắm... đó là bời nhiệt độc phạm tới Phế khí mà sinh bệnh. ® Vì Dương khí không bao bọc được khắp mình.
- Khô đét một nửa mình.
- Các nốt nhỏ, bên trong có mủ, tên chữ Hán gọi là "tỏa phí.
- Vì cái nhiệt độc của thức ăn nhiều chất mỡ "béo ngậy” hay mọc định, mụn hoặc kiết ly v.v...
- Vì Dương khí bị át lại, không tiết ra được, nên mới mọc những nốt "như vậy.
- Dương khí là cái chất "tĩnh" của thủy cốc cho nên trước nuôi "thần khí” của năm Tàng, tính "như là cái khí sơ dương của Thiếu dương.
- Đầu bài nói về "thần khí", vốn gốc ở Thiên chân; đây lại nói tới "thần khí” do năm vị sinh ra, đó là bởi: "tính, khí, thân" đều có cà Tiên thiên và Hậu thiên, Cái "thần khí" của Tiên thiên lại phải nhờ cái khí "thủy cốc" của Hậu thiên để sinh dưỡng cho nên có câu rằng: "Hai tỉnh cùng cọ sát nhau, gọi là thân", hai "tỉnh" đó là tính của Thiên ất và tính của Thủy cốc vậy.
- Khai hạp là mờ đóng, tức là nói khí ấy vận ra hoặc thu vào, tựa như cánh cửa mở và đóng.
- Đây nói sự bảo vệ của Dương khí không được bên chặt, khiến hàn tà phạm vào mà gây nên các chứng trạng. Ta cần phải bảo trọng khí đó. - Tế Công nói: Bảo vệ bên ngoài không gì bằng bì mao (da lông); nếu bì mao không bên kín thì tà sẽ phạm ngay vào tấu lý (mạch lạc). Mạc Từ Tấn nói: Cải nhiệt độc của thức ăn cao lương, phạm vào nhục lý sẽ mọc định lớn; cải tà khí ở bên ngoài phạm vào nhục lý sẽ mọc mựn sưng. Xem đó thì biết bì bao, nhục lý đều thuộc địa hạt cai quản của Dương khí. Vậy ta giữ gìn cho Dương khí đầy đủ không bị hao hụt, tự nhiên các bệnh không phát sinh được...
- Du tức là một huyệt thuộc Phế bộ - tấu lý bị thưa rỗng, thì biểu đương với tà khí đều ân nấp ở đó. Hàn tà ở biểu thì theo dương mà hóa nhiệt; tà lọt vào tấu lý mà biểu khí không trở về được "kinh" là nơi cư trú của minh, vì thế nên huyệt Du mới bị vít.
- phong ngược là một chứng sốt vùi chỉ nóng mà không rét.
- Đoạn nảy nhắc lại: nên phải bảo trọng Dương khí đề cho tấu lý được bên kín. Đại phàm: hàn thử trước phạm vào bì mao, còn phong tà thì thấu thăng vào tấu lý - Phong là một thứ đi nhanh và biến hóa luôn; khi đã phạm tới cơ tấu, thì sẽ đi tới ngay kinh mạch. Khi đó hoặc thành chứng “hàn trúng", hoặc thành chứng "nhiệt trúng", hoặc thành chứng "thiên khô", hoặc thành chứng "tích tụ"... Nên mới gọi là "đầu trăm bệnh" - Tiết trên nói về "hản, thử, thấp" làm thương biểu đương, nên cần phải giữ sức cho biểu dương khỏi bị yếu: đoạn này nói: phong tà phạm thẳng vào tấu lý, nên cần phải bảo vệ nguyên chân cho được bền kín.
- Truyền hóa như hoặc hóa làm hản, hoặc hóa làm nhiệt, hoặc hóa làm táo kết, hoặc hóa làm thấp tả v.v... Bởi ở trời có cái tà khí lục đâm, mà trong thân con người cũng có sáu khí để hòa theo.
- Đóng, tựa như đóng cửa. Theo kinh Linh khu: Mùa xuân thì sinh, mùa hạ thì trưởng, mùa thu thì thâu, mùa đông thì Tàng, đó là lẽ thường của thiên khí. Trong thân con người cũng ứng theo như vậy. Lấy một ngày chỉa làm bốn mùa, sáng sớm là xuân, về đêm là đông... Sáng sớm Dương khí mới phát triển, cho nên người ta phần nhiều sáng sớm hay tỉnh táo và lanh trí khôn, đúng trưa thì khí trưởng, trưởng thì thắng được tà...
- Gần tối, nhân khí bắt đầu suy; đến đêm, khí đó thu vào Tàng, nên phải giữ gìn, đừng quá nhọc mệt, không đề lõa lồ, để phòng ngoại tả xâm phạm.
- Sinh mệnh con người, gốc ở âm dương. Dương lại sinh ra bời âm. Nên trên kia Đề nói vê đương, đây Kỳ Bá lại nói về âm.
- Khí thuộc dương, huyết mạch thuộc âm. Dương thịnh mà âm không thăng được, nên mới phát bệnh cuồng.
- Năm Tàng thuộc âm, chín khiếu là nơi cửa ngõ của thủy khí. Nếu âm thịnh mà dương không thăng được, thì cái khí của năm Tàng giao tranh ở bên trong, chín khiếu do đó mà không thông. Bởi cái khí của năm Tàng, ra ngoài thì là dương, ở trong thì là âm. Tàng thuộc âm, tinh huyết thuộc âm; khí thuộc dương, chỉn khiếu thuộc dương, ở trong là âm ra ngoài là dương. Năm Tàng chủ về Tàng tinh; Bàng quang là một cơ quan chứa tình dịch. Cái khí biểu dương, do tỉnh thủy tự Bàng quang sinh ra; cái khí ở cơ tấu, lại do nguyên chân ở năm Tàng. Đó tức là Dương khi sinh ra bởi âm tỉnh. Nên mới nói rằng: "Cái gốc của sinh mệnh con người là ở âm dương" v.v...
- Âm dương điều hòa, tà không phạm tới; tình khí thông lên tai, thân khí thông lên mắt, nên tai mắt tỏ sáng.
- Phong là Dương tà, nếu phạm vào phu biểu thì khi sẽ bị thương. Dương khí bị thương thì âm tình sẽ bị mắt, (hoặc như chứng tiết tinh). Can thuộc Mộc, phong với Mộc là đồng khí; nếu phong phạm vào, tất phải động đến Can khi. Can khí bị phong tà phạm thì huyết sẽ bị thương (vì Can tàng huyết). Câu này lại nêu rõ cái nghĩa đương phải giữ bên cho âm.
- ở) Cạn chủ huyết và cân. Thức ăn vào VỊ, tán bố cái tinh khí lên Can, rồi thấm nhuân vào cân. Giờ tà đã làm thương Can mà lại ăn quá no, không đủ sức để bố tán thực khí cho được thấm nhuận vào cân, nên gân bị sụt lông, khiến thực khí đình trệ ở Đại trường, hóa thành thấp nhiệt, mà gây nên bệnh trĩ. Nước uống vào Vị, chuyển Du lên Phế. Phế chủ về khí ở toàn thân. Giờ khí bị tả làm thương, mà lại uống nhiều, thủy tính không thể tán bố, nên mới thành chứng khí nghịch. Cao cốt tức chỗ xương ngang lưng.
- Mấy câu nảy tông kết cải nghĩa ở mấy đoạn trên, và lại nêu rõ "cân phải chú trọng về Dương khí.
- Bình là quân bình, bí là kín đáo, bên chặt. Tức là ý nói hòa hợp với nhau, riêng dương vẫn phải giữ bền bên ngoài.
- Thấp thuộc âm, phong thuộc dương; hàn là âm bệnh, nhiệt là dương bệnh. Bị thương về phong, bộ phận trên chịu trước; bị thương về thập, bộ phận dưới chịu trước. Dương bệnh, ở trên đi hết rồi thì quay trở xuống, vì thế nên xuân bị thương về phong, mà thành chứng đỗng tiết. Âm bệnh ở dưới đi hết rồi thì quay trở lên, vì thế nên thu bị thương về thấp, mà lại thành chứng ho. Đó là cát lẽ âm dương củng trao đổi vậy. Hạ bị thương về thử, "thử hăn" không tiết ra được, khí nông ân nấp ở bền trong, tới mùa thu, Âm khí phát ra, gặp phải khí nhiệt, nên thành chứng ngược. Đông bị thương về hàn, tả không phát ngay, hàn khí ẩn nắp ở bên trong, tới mùa xuân Dương khí phát ra, tà sẽ theo Dương khí mà hóa nhiệt, phát ra ôn bệnh (danh từ, tên một chứng sốt nóng thuộc về mùa xuân). Đó là đường lỗi ra vào và sự biến hóa của âm dương vậy.
- Khí của bến mùa là phong, hàn, thử, thấp. Câu này tỏ ra: chăng những sự khí hóa của âm dương, mắc bệnh, mà cả vật hữu hình là năm Tàng cũng mắc bệnh, vì bệnh lâu thì truyền hóa.
- Thần khí sinh ra bởi âm tinh: tỉnh của năm Tàng sinh ra bởi năm vị - thương bởi năm vị, vì trong năm vị có một vị "thiên thăng" - nhiều hơn - Toan sinh Can, Khổ sinh Tâm, Can sinh Tỳ, Tâm sinh Phế, Hàn sinh Thận... Đó là âm sinh ra bởi năm vị.
- Vị toan (chua) vào Can. Nếu chưa quá thì Can nhiều tân dịch nên đẫm ướt; Can đã bị đảm ướt, Tỳ không chuyển Du vào đâu, nên Tỷ khí bị tuyệt.
- Đại cốt tức là Phủ của Thận. Vị mặn quá thì thương Thận, nên đại cốt bị thương; Thủy tà thịnh phạm lên Thỏ (Tỳ) nên cơ nhục sút; thủy dẫn ngược xâm lần vào Tâm, nên Tâm khí như bị chèn nén.
- Vị quá ngọt, thì Thổ khí (Tỳ) quá đầy đù rồi. Thỏ đã quá đây đủ, thì.tâm không còn có thể truyền sang cho con nó nữa (Hỏa sinh Thổ, Tâm là mẹ, Tỳ là con), vì thế nên thành chứng thở gấp và đầy; Thận chủ về thủy, sắc nó đen; Thổ Cang (khô ráo, quá găng) quá thì làm thương đến Thận, nên mới hiện ra ngoài đa sạm đen và Thận khí không yên.
- Đường "lạc" của Dương minh thuộc Tâm, cái khí của "tử mẫu" cùng giao thông liên lạc với nhau. Năm Vị vào Vị, Vị đẳng dẫn lên tâm trước. Vậy nếu quá đắng thì mẫu khí thịnh (tâm) mà VỊ sẽ cường. Vị cường thì cùng với Tỷ âm không liên lạc nữa. Do đó Tỳ không chuyển Du tân dịch cho Vị, mắt cái năng lực thấm nhuằn. Vị khí sẽ thành quá hậu (hậu là tà khí hữu dư có thừa.
- Kim khí (phế) thiên thịnh thì Can sẽ bị thương, gân mạch do đó mà rã rời (vì Can chủ cân), do đó tinh thần cũng bị hại lây.
- Thận Tàng tinh mà chủ về xương, Can Tàng huyết mà chủ về gân. Phong phạm vào Dương khí (tức thứ khí bảo vệ ngoài bì phu) thì cái "tả" đó sẽ làm thương đến Can, tình cũng nhân đó mà bị mắt. Giờ biết cần thận điều hỏa năm Vị, thì xương sẽ cứng mà gân cũng mềm, tấu lý do đó mà bền chặt kín đáo (tà còn phạm vào sao được). Đó chính là bởi Dương khí sinh ra tự âm tỉnh mà thí hành cái nhiệm vụ đối với bên ngoài. Người ta nếu hiểu biết được cái là âm dương và cái nhiệm vụ đối với bên trong bên ngoài của nó, mà đừng làm quá nhọc mệt để hại đến dương, cần thận điều hòa năm Vị để nuôi lấy âm, thì âm dương sẽ hòa bình, còn ngại gì tật bệnh, còn lo gì không sống lâu...
Chương bốn · Kim Quỹ Chân Ngôn Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Trời có tám thứ gió, kinh có năm thứ gió, là nghĩa thế nào? Xỳ Bá thưa: - Tám thứ gió nếu là "tà phong", phạm vào kinh, tức thành kinh phong, nó xâm vào năm Tàng, bệnh sẽ đo đó mà phát sinh, Chỉ cần được cái "sở thắng" của bến mùa, tỷ như: xuân thăng Trường hạ, Trường hạ thăng đông, đông thăng hạ, hạ thăng thu, thu thắng xuân. Đó tức là cải sở thắng của nó!,
Đông phong sinh về mùa xuân, bệnh phát tại Can du và Cảnh hạng; Nam phong sinh về mùa hạ, bệnh phát tại Tâm du và Hung hiếp; Tây phong sinh về mùa thu, bệnh phát tại Phế du và Kiến bối: Bắc phong sinh về mùa đông, bệnh phát tại Thận du và Yêu cổ; Trung ương là Thổ, bệnh phát tại Tỳ du và Tích?
Cho nên, về xuân khi, thường phát bệnh tại đâu “?: về hạ khí, thường phát bệnh tại Tàng: về thu khi, thường phát bệnh tại Kiên bối (vai và lưng); về đông khí, thường phát bệnh tại tử chì (4 tay chân. Cho nên, mùa xuân thường hay sinh bệnh ty nục; tháng trong hạ (tháng năm) thường hay sinh bệnh đỗng tiết, hàn trung (đi tả và lạnh ở bên trong); mùa thư thường hay sinh bệnh phong ngược; mùa đông thường hay sinh bệnh tý, quyết (tê đau và giá lạnh tay chân)”?,
Cho nên, về mùa đông nếu biết giữ gìn cẩn thận, không để cho Dương khí quá háo tán ra ngoài, thỉ sang xuân sẽ không bị các chứng như ty nục và bệnh ở cảnh hạng. Trọng hạ không bị bệnh ở hung, hiếp; Trường hạ không bị đỗng tiết, hàn trung: thu không bị phong ngược; đông không bị tý, quyết và xôn tiết hãn xuất, -na Nghĩ như tỉnh, là cải gốc của sinh mệnh con người. Cho nên người biết tàng tình (giữ gìn, dè dặt) thì mùa xuân không mắc bệnh ôn. Về mùa hạ, nếu thử hãn (nóng nực ra mồ hôi) không tiết ra được, sang thu sẽ thành bệnh phong ngược... Đó là mạch pháp của bình nhân người thường, vô bệnh, Cho nên nói răng trong âm có âm, trong dương có dương. Từ sảng sớm tới đúng trưa là dương ở dương; Từ đúng trưa tới hoàng hôn là dương ở trong âm; từ chập lối tới gà gáy là âm ở trong âm; Từ gà gáy tới sáng sớm là dương ở trong âm. Tấm thân của con người cũng ứng theo như vậy,
Nói về âm dương thuộc con người thì ngoài là dương, trong là âm; nói riêng về tâm thân con người thì sau lưng là dương, trước bụng là âm; nói về âm dương ở trong Tàng Phủ con người thì Tàng là âm, Phủ là dương!.
Can, Tâm, Tỳ, Phế, Thận là năm Tàng, đều thuộc âm; Đởm, Vị, Đại trường, Tiêu trường, Bảng quang, Tam tiêu là sáu Phủ đều thuộc dương'.
Sở dĩ muốn biết:
Âm ở trong âm, dương ở trong dương, là Vì: Mùa đông bệnh tại âm, mùa hạ bệnh tại dương, mùa xuân bệnh tại âm. mùa thu bệnh tại đương... Biết được bệnh tại đâu, có thê dùng châm thạch để điều trị.
Cho nên, lưng thuộc dương, mà dương ở trong dương tức là Tâm; nếu âm ở trong dương lại là Phế. Phúc thuộc âm, mà âm ở trong âm tức là Thận; nếu dương ở trong âm lại là Can. Phúc thuộc âm, nếu chỉ âm ở trong âm, lại là Tỳ.
Đó đều là sự du ứng của âm dương, biểu, lỷ, nội, ngoại, tàng, _ phú Vậy.
Hoàng Đề hỏi:
– Năm Tàng ứng với bốn mùa, vậy có sự thâu thụ (tiếp nhận, liên lạc) gì không?*
Kỳ Bá thưa:
– Có. Đông phương sắc xanh, thông vào với Can, khai khiếu lên mắt, Tàng tình ở Can“®, Phát ra bệnh thành chứng kinh sợt ”. Về Vị lả chua, thuộc vẻ loài thảo mộc”®), Thuộc về lục súe là gàt'”), Thuộc VỀ ngũ cốc là lúa mạch"””, Thuộc về bến mua, trên ứng với Tuệ tỉnh“””, Xuân khí thuộc về bộ phận đầu?) Thuộc về âm là tiếng giác”. Thuộc về số là số tám), Thuộc về mùi (sú, hơi ngửi thấy) là mùi hôi, Do đó, biết là thường phát sinh bệnh ở gân 2, Nam phương săc đỏ (xích), thông vào với Tâm, khai khiếu lên tai, Tàng tinh tâm ””. Bệnh phát sinh ở cả năm Tàng”), Về Vị là vị đăng (khô) và thuộc về hỏa”. Thuộc về lục súc là dê, Thuộc vẻ ngũ cốc là thử”) Thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Huỳnh hoặc! Thuộc về âm là tiếng chủy®?, Thuộc về số là số bảy", Thuộc về mửi là mùi hắc). Do đó, biết là thường sinh bệnh ở mạch.
Trung ương sắc vàng, thông vào với Tỳ, khai khiếu lên miệng, Tàng tinh ở Tỳ?” Bệnh phát sinh ở cuỗng lưỡi””), Về VỊ là ngọt (cam) và thuộc về Thổ”, Thuộc về lục súc là bò.. Thuộc về ngũ cốc là tắc”), Thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Chân!). Thuộc về âm là cung””, Thuộc về số là số năm) Thuộc về mùi là mùi thơm?. Do đó, biết là thường sinh bệnh tại nhục thịt,
Tây phương sắc trăng, thông vào với Phế, khai khiếu ở mũi, Tàng tinh ở Phế., Bệnh phát sinh ở vai. Về Vị là cay (tân) và thuộc về Kim”, Thuộc về lục súc là ngựa., Thuộc về ngũ cốc là đạo (lúa nếp)., Thuộc vê bốn mùa, trên ứng với sao Thái Bạch. Thuộc về âm là thương”. Thuộc về số là số chín 2), Thuộc về mùi là mùi tanh, Do đó, biết là thường sinh bệnh tại bì mao.
Bắc phương sắc đen, thông vảo với Thận, khai khiếu ở Nhị âm (tiền âm và hậu âm), Tàng tinh ở Thận ””). Bệnh phát sinh ở Khê, Về Vị là mặn (hảm) và thuộc về Thủy”. Thuộc về lục súc là lợn? Thuộc về ngũ cốc là đậu”?), Thuộc về bốn mùa, trên ứng với sao Thần”. Thuộc về âm là vũ'!), Thuộc về số là số sáu”). Thuộc về mùi là mùi hủ mục 'Š?, Do đó, biết là thường sinh bệnh tại xương”!, Vậy nên người giỏi về xem mạch phải xét rõ sự "nghịch tòng. của năm Tàng, sáu Phủ và cái giường mối của âm, đương, biếu, lý và Tàng, Phủ... ghi nhớ ở trong tâm ý, hợp với tinh thần, sẽ biết được rõ rệt, khỏi phải hồ đồ thế là đắc đạo.
Chú Giải
- "Kim quỹ" là cái hòm băng vàng, “chân ngôn" một lời nói rất đúng, chi bậc Thánh nhân biết đạo mới có thể nói. Tám thứ gió, tức là luồng gió của tám phương. Kinh tức là đường kinh mạch của năm Tàng. Năm thứ gió, tức là phong tà phát sinh tự năm kinh. Ở Dây nói, thứ gió đó, nếu ở trời thì là luồng gió của tám phương; nếu ở người thì nó sẽ biến thành tà phong của năm kinh và năm Tảng. ® Cái sở thắng của bốn mùa (tức là cái chủ khí, cái vượng của nó) như: xuân chủ Mộc, hạ chủ Hỏa, Trường hạ chủ Thổ (tháng 6), thu chủ Kim, đông chủ Thủy... Vậy nó sẽ thắng như: xuân thắng Trường hạ v.v... (tức là khắc - Mộc khắc Thổ v.v...). Bởi năm Tàng nhân thời mà vượng, nên nó mới có thể thăng được cái không thăng. Tiết trên nói về tám thứ gió phong sinh bệnh, tức là do cái "phong sở thắng" nó khắc "cái thời bất thăng"; tiết dưới nói được cái "khí sở thắng" của bốn mùa, nên mới có thể thăng được cái bất thăng. } Đoạn này nói về chính khí của bốn mùa, cũng có thể gây nên bệnh cho kinh du thuộc năm Tàng. Người ta sinh ra bởi năm hành, nhờ có phong khí (như giờ gọi là không khí) mà sinh trưởng. Nhưng phong khí dù sinh ra muôn vật nó cũng có thê lảm hại muôn vật. Cũng như nước có thê làm nỗi được thuyền, mà cũng có thể làm đấm được thuyền. Vì vậy nên đây bắt đầu nói ngay đến phong khí làm hại năm Tàng, rồi sau mới nói đến năm Tàng nhờ ở năm khí của năm phương mà sinh ra. Dù là cái huyệt của kinh khí, phát sinh ra từ đấy. Trên đây nói: Đông phong sinh về mùa xuân v.v... Đó là nói về Tàng khí thực, thì chỉ bệnh ở khí, nếu Tàng khí hư sẽ bệnh Tàng... Từ đây trở xuống nói phân biệt thêm cho rõ. Cành là cô, hạng là gáy; Hung hiếp là lồng ngực và sườn; Kiên bối là vai và lưng; Yêu cô là ngang thắt lưng và về; Tích là đường xương sống.
- Khí, tức là chỉ về khí của bốn mùa và năm Tàng. Can du ở Cảnh hạng, mà mùa xuân lại phát bệnh tại đầu, là vì xuân khí thì thăng lên, Dương khí cũng ờ về bộ phận trên. Cho nên, nếu bệnh vẻ khí thì phát tại trên, nễu bệnh về "kinh" thì lại phát tại Cánh hạng. Vì thế nên dưới đây, có chỗ nói về bệnh tại khí, có chỗ nói về bệnh tại kinh v.v... Đều là phân biệt sự hư thực của Tàng khí và kinh du vậy.
- Mùa hạ Dương khí phát tiết ra ngoài, Tàng khí bị hư ở bên trong, nên phong khí thừa mà phạm vào Tảng.
- Thu khí chủ về sự thâu giảng, không thể bảo vệ được bì phu, cơ tấu, nên phong khí mới phạm vào Du..
- Tứ chỉ là nơi gốc của khí dương, đông khí ẩn nấp vào bên trong, Dương khí bị hư ở bên ngoài, nên mới phát bệnh tại tứ chì - Trở lên, nói về cải khí của bốn mùa và năm Tàng,
- Trên đây, dùng hai chữ "thường hay", là nói về kinh du của năm Tàng đều ở bộ phận ngoài, phong làm thương cơ tấu thì dễ lọt vào kinh. Ty nục tức là đỗ máu cam (máu chảy ra ở mũi), vì bệnh tại đầu nên ty nục. Kinh Du của tâm ở hung hiếp, nên bệnh tại đấy, Chu Tế Công hỏi: Chỉ nói bệnh tại hung hiếp, mà không nói chứng trạng, là vì sao? - Đáp: Về ba đoạn trên và dưới đây, đều phản phúc biện luận về sự "xuất nhập” của Tàng khí vả kinh du, cho nên chỉ nói: "bệnh tại đầu, bệnh tại Tàng, bệnh tại kiên bôi và hung hiếp” v.v... mà không nói là bệnh gì, đến như nói về các chứng: "ty nục, đồng tiết v.v..." là nói về bệnh thuộc kinh mà tại đầu thì có chứng ty nục; bệnh thuộc kinh mà tại phúc thì có chứng đồng tiết và hàn trung v.v... Tuy nhiên, mấy đoạn đây vẫn không chú trọng về chứng trạng. Mùa hạ, Dương khí ở bên ngoài, nên lý khí hư hàn. Tháng Trường hạ thấp Thỗ chủ khí, phong lọt và kinh đu, tức phạm vào trong tà thành chứng đỗng tiết, đó là "phong mộc thừa hư mà thẳng thô"; Tỳ là một chỉ âm ở trong âm không thê hóa được nhiệt, nên mới thành chứng hàn trung. Mùa thu, Dương khí thâu liễm vào bên trong, Âm khí dẫn ra bên ngoài. Tà với chính cùng gặp nhau ở khoảng "nội với ngoại” giao tiếp, hai bên cùng xung đột lẫn nhau nên mới thành chứng phong ngược (sốt, ủi. Tứ chỉ là gốc của mọi khí dương. Mùa đông, Dương khí ân nập ở bộ phận dưới, khiến cho kinh khí bị hư ở bên ngoài. Bị phong lọt vào kinh, nên tử chí mặc chứng quyết. Trở lên, nói về bệnh tại “kính, lạc.
- Đoạn này lại nói thêm: Nếu gìữ được Dương khí bèn bị thì bốn mùa kinh du không bị mắc bệnh. Lại nói thêm hai chứng xôn tiết và hăn xuất để tỏ cho người ta biết rằng: con người nếu hay bảo trọng và giữ gìn cái khí nguyên chân, thì không khi nào tả còn phạm được vào kinh mạch mà gây nên cái bệnh tại bên trong là xôn tiết, cũng không khí nào còn phạm được vào Dương khí mà gây nên cái bệnh ở bên ngoài là hãn xuất vậy.
- Thần khí với huyết mạch đều sinh ra bởi tình, cho nên nói "tình là ĐỐC của sinh mệnh". Biết Tàng được tỉnh thì huyết khí giữ bèn ở bên trong, còn tà nào phạm được vào bên ngoài, cho nên không mắc phải bệnh ôn. Về mùa hạ, cần phải có thử hãn, nêu thử hãn không tiết ra được, đến mùa thu gặp tiết thâu tảng, hai khí xung đột nên mới sinh chứng phong ngược. Thiên này chuyên bản về "kinh mạch", nên đây nói là mạch pháp của bình nhân. Từ gà gáy tới sáng sớm, Dương khí mới phát triển, ứng với cái khí xuân sinh, cho nên thuộc về dương ở trong âm; từ sáng sớm đến đúng trưa, Dương khí dương lúc thịnh ứng với cái khí Trường hạ, cho nên thuộc về dương ở trong dương: từ đúng trưa đến hoàng hôn, Dương khí mới bắt đầu suy, ứng với các khí mùa thu, cho nên thuộc về âm ở trong đương; từ chập tôi đến gà gáy. Dương khi thu về bên trong, ứng với khí mùa đông, cho nên thuộc về âm ở trong âm. Cho nên nói rằng: trong một ngày cũng có bốn mùa. Vì thế nên mạch pháp của bình nhân cũng ứng theo như vậy. Thiên này bắt đầu nói đến đường lối của kinh mạch. Kinh mạch bên trong liền với Tàng, Phủ; bên ngoài chăng khắp thân mình. Âm dương ra vào, trong ngoài tuần hoàn. Vì thế những tác dụng "sinh, trường, thấu, Tàng" đều ứng theo với mạch pháp của con người. Trong thân con người, Đốc mạch dẫn lên lưng, cai quản toàn thê khí dương trong thân hình; Nhâm mạch vòng lên bụng, cai quản toàn thể khí âm trong thân hình... nên mới nói "lưng là dương, bụng là âm" v.v...
- Kinh mạch sinh ra bởi năm hành thuộc đất, ứng với sáu khí thuộc trời... Cho nên phảm nói về kinh mạch, trước phối hợp với năm Tàng năm hành. rồi sau mới bàn tới sáu Phi.
- Đông bệnh tại Thận, Thận là âm ở trong âm, nên nói: "đông bệnh tại âm”; Hạ bệnh tại Tâm, Tâm là dương ở trong dương, nên nói: "hạ bệnh tại Tâm”: Xuân bệnh tại Can, Can là dương ở trong âm, nên nói: "xuân bệnh tại âm"; Thu bệnh tại Phế, Phế là dương ở trong âm, nên nói: "thu bệnh tại dương”: Châm (kim) thạch (đá) là hai thử dùng đề chữa bệnh tại kinh mạch. Biết được âm trong âm và dương trong dương thế nảo rồi, mới nhằm vào kinh du của năm Tàng, dùng châm thạch đề điều trỊ.
- Vương Thị nói: Tâm thuộc về dương Tảng, bộ Vị nó ở vào thượng tiêu, dương ở vào địa vị dương, nên nói là "đương ở trong dương": Phế thuộc về âm Tàng, bộ VỊ nó ở vào thượng tiêu, âm ở vào địa vị dương, nên nói là: âm ở trong đương”; Thận thuộc về âm Tàng, bộ Vị nó ở vào Hạ tiêu, âm ở vào địa vị âm, nên nói là: "âm ở trong âm": Can thuộc về dương Tàng, bộ VỊ nó ở vào Hạ tiêu, dương ở vào địa vị âm, nên nói là: “đương trong âm"; Tỳ thuộc về âm Tàng, bộ Vị nó ở vào Trung tiêu, Thái âm mà ở vào địa vị âm, nên nói là: "chỉ âm ở trong âm...,
- Ý nói năm Tàng đã ứng với âm dương và bốn mùa, vậy tất phải có khí sắc gì để hợp với khí sắc của năm phương và âm dương của bốn mùa...
- Tỉnh khí của Can khai khiếu lên mắt, mà lại thông với thiên khí... Đó tức là trời thông với người mà người lại thông với trời. Còn âm tính thì lại Tàng về chính Tàng của nó.
- Mùa xuân Dương khí bốc lèn, nên bệnh phát sinh cũng có vẻ chắn đãng mà thành kinh sợ.
- Cạn thuộc Mộc, với thảo mộc cũng một loài.
- Kê (gà) thuộc quẻ Tốn, chủ về phương Đông.
- ® A/Mạch là một thứ đứng đầu hàng ngũ cốc, nên Ứng về Đông phương. Tịnh khí của Mộc ứng lên Tuế tinh.
- Xuân khí bốc lên, xuân phong cũng phát sinh ở trên, nên bệnh tại đầu, đó là do lẽ "đồng khí tương cảm" mà sinh ra. So với các Tàng khác "nhân khí hư mà mắc bệnh" không giống nhau.
- Giác là một âm thuộc về Mộc, ứng về mùa xuân.
- Dịch nói: Thiên do số 3 sinh ra Mộc, địa do số tắm mà hợp thành, nên nói "số của Can là tám.
- 1727, một thứ khi thuộc Mộc.
- Cạn chủ gân, nên bệnh tại gân. Ngũ âm, ngũ số, ứng theo với khí vô hình cúa trời; bì, nhục, gân, xương ứng theo với cái hữu tỉnh của đất. Lấy cái ửng vô hình của trời mà sinh bệnh tới cái hữu hình là gần xương của người, đó là do sự khí hóa giao cảm mà nên, Âm tỉnh của năm Tàng, nhờ tâm thần hóa ra sắc đỏ mà thành máu, ở đây bàn về huyết mạch của Tàng Phủ. nên nói: "tàng tính ở Can.
- Tâm thuộc Hỏa, nên cũng sắc đò. - Tà khí Tàng Phù luận nói: Bao khí huyết ở mười hai kinh mạch với 365 lạc... đều dẫn lên mặt rồi chạy ra không khiếu (lỗ hồng. chỗ rồng), riêng một thử khí khác thì chạy ra tai đề làm thành sự "nghe" - "Biệt khí" tức là khí của Tâm.
- Bệnh... ở cả năm Tàng, tức là chỉ về các khí của năm Tảng, Tâm là một cơ quan chủ tế cả năm Tàng sáu Phủ, cho nên Tâm khí mắc bệnh, thì khi của các Tảng khác cũng đêu mắc bệnh.
- Đăng là vị của hỏa, Tâm khí thông với Nam phương, nên cùng với hành Hỏa ở trong ngũ hành cùng loài.
- Thừ là một thứ lúa có sắc đỏ. mà tính ôn (ám), nên là thứ lúa của Tâm.
- Huỳnh hoặc là "tỉnh" của Hòa.
- Chủy là một âm thuộc Hỏa, ứng về mùa hạ.
- Dịch nói: Thiên đo số 2 sinh ra Hỏa, địa do số 7 mà hợp thành, nên nói: "số của tâm là bảy.
- Khí bị Hỏa đốt chảy, thì thành mùi hắc - nguyên chữ Hán là "tiêu. Tâm chủ về mạch, nên bệnh tại mạch, (36) Thả VƯỢng về cuối bốn mùa, bộ Vị ở vào khoảng giữa Tỳ thuộc về Thô tàng, nên khí cũng thông nhau.
- Tịnh khu nói: "Tỳ chủ về việc đón tiếp lương thực, lấy miệng lưỡi đề biện biệt sự yêu ghét và cát hung”. xem đỏ thì biết Tỳ khí không lên lưỡi.
- Tỳ thuộc Thổ. không có Vị, lấy Vị của lúa nên vị ngọt, thuộc hành Thổ ở trong năm hảnh.
- nguyên chữ Hản là "ngưu”. Còn về trâu, nguyên chữ Hán là "thủy ngưu". Bỏ sắc vàng. nên là giỗng nuôi của Tỳ.
- La "tác" sắc vàng, vị ngọt, nên cũng thuộc Tỳ.
- Sao Chấn thuộc Thả.
- Tiếng Cung thuộc Thả.
- Dịch: Thiên lấy số năm sinh ra Thổ, địa lấy số mười mà hợp thảnh. Thỏ chuyên ở trong ngôi "năm", nên riêng chủ về “sinh số.
- Khí nhân Thổ biến, thành mùi thơm.
- Tỳ chủ cơ nhục, nên sinh bệnh tại nhục.
- phế thuộc Kim, nền theo sắc trắng của Tây phương, mũi là khiếu của Phé.
- Cảm thu khí, sinh bệnh tại vai và lưng.
- Quê "Càn" thuộc ngựa, Phế thuộc Càn kim.
- # Đạo sắc trăng, nên là thử lúa của Phé - Tỳ cốc. Tịnh khí của loài Kim, ứng lên sao Thái bạch.
- Thương, một thứ tiếng chủ về phương Tây.
- Dịch: Địa lấy số bến sinh ra Kim, Thiên lấy số chín mà hợp thành, Nên Phế số chín, '$® Khí nhân Kim biến thành mùi tanh (tỉnh.
- Phế chủ bì mao, nên biết là bệnh tại bì mao.
- Thận thuộc thủy, nên theo sắc đen của Bắc phương, bộ vị của Thận ở dưới nên khai khiếu ra Nhị âm.
- Chỗ đại hội của nhục gọi là "cốc", chỗ tiểu hội của nhục gọi là khê. Đại hội, tiêu hội tức là nơi khớp xương nhỏ liên lạc với nhau, một làn thịt mỏng bao bọc ngoài xương tức lả "khê". Thận vốn chủ xương, mà khẽ là do khí của "cốc" sinh ra.
- Mặn là nguyên chất của nước.
- Lợn sắc đen, thuộc Hợi, nên lả giống nuôi của Thận (thận súc.
- Đâu đen sắc đen, tính trầm xuống, nên là Thận cốc.
- Thân tính thuộc Thủy. Một thứ tiếng thuộc Thủy.
- Dịch: Thiên lây số một sinh ra thủy, địa lấy số sáu mà hợp thành, nên số 6 thuộc Thận. Thận chủ về xương, nên bệnh tại xương. Kinh nói: Can sinh cân, Tâm sinh huyết, Tỷ sinh nhục, Phế sinh bì mao, Thận sinh cốt... Vậy cân, cốt, bì mao, đều đo năm Tàng sinh ra, nên Tàng nào mắc bệnh thì cái "sinh ra" cũng mắc bệnh. Lại như trên nói: Xuân khí bệnh tại đầu, hạ khí bệnh tại Tàng, thu khí bệnh tại kiên bôi, đông khi bệnh tại tứ chi... Đó là Tàng khí làm ra bệnh.
- Đoạn này nói tông kết cái đường lỗi của kinh mạch sinh ra ở năm Tang, liên lạc với sáu Phủ, ngoài hợp với năm phương, năm hành và âm dương sáu khí. Trái với bốn mùa là "nghịch", thuận với bốn mùa là “tòng.
Chương năm · Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế nói:
– Âm dương là đạo của trời đất?, là giường mối của muôn vật, là cha mẹ của sự biến hóa”, là gốc ngọn của sự sinh sai, là cái kho chứa mọi sự thân minh??.
kỳ» l
Trị bệnh phải tim tới gốc", Nên biết rằng:
tích lũy nhiều dương là trời, tích lũy nhiều âm là đất”): âm thì tĩnh, dương thì táo). dương sinh ra, âm nuôi lớn; đương giảm đị, âm tiềm Tàng?: Dương hóa khí, âm thành hình” ”); hàn cực sinh ra nhiệt, nhiệt cực sinh ra hàn: khí hàn sinh ra chất trọc (đục), khí nhiệt sinh ra chất thanh (trong, Thanh khí ở bộ phận dưới thì sinh chứng xôn tiết, trọc khí ở bộ phận trên thì sinh chứng điền trướng (đây, tức), Đó là âm dương ở trong người do sự "nghịch tùng" mà sinh bệnh vậy?,
Cho nên thanh dương là trời, trọc âm là đất, khí đất bốc lên thành mây, khí trời giáng xuống thành mưa, mưa làm ra bởi địa khí, tây làm ra bởi thiên khít), Thanh dương tiết lên thượng khiêu, trọc âm tiết xuống hạ khiếu“! thanh dương phát ra tấu lý, trọc âm
chạy vào năm Tàng”””; thanh dương đây đủ ở tứ chỉ, trọc âm quy tụ về lục Phủ,
Thủy là âm, Hỏa là dương, đương là khí, âm là VịU”, Vị theo về hình, hình theo về khí, khí theo về tỉnh, tỉnh theo về hóat!#'. Tính nhờ ở khí, hình nhờ ớ Vị?) Do hóa sinh ra tỉnh, do khí sinh ra hình!??, _ Vị làm thương hình, khí làm thương tỉnh, Tỉnh hóa làm khí, khí thương bởi VỊ”, Âm vị tiết ra hạ khiếu, Dương khí tiết ra thượng khiếu”, Vị hậu thuộc về âm, bạc thuộc về dương. Khi hậu thuộc về dương, bạc thuộc về âm), VỊ hậu thi phát tiết, bạc thì không; khí bạc thì phát tiết, hậu thì phát nhiệt). Cái khi của Tráng hỏa suy, thì cái khí của Thiếu hỏa tráng: Tráng hỏa "thu hút" khí, khí "thu hút" Thiếu hỏa; Tráng hỏa làm tán khí, Thiếu hòa sẽ sinh khí.
Khí vị tân, cam, công năng của nó chuyên về phát tán, thuộc dương. Khí vị toan, khỗ, công năng của nó có thể đũng liệt, thuộc âm,
Âm thắng thì dương sẽ mắc bệnh, dương thăng thì âm sẽ mắc bệnh. Dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn/,
Gặp (trùng) hàn thi hóa nhiệt, gặp nhiệt thì hóa hàn”?,
Hàn làm thương hình, nhiệt làm thương khí; khí bị tổn thương thành bệnh đau, hình bị thương thành bệnh thũng,
Nếu trước đau mà sau mới thùng, đó là khí làm thương hình; nếu trước thũng mà sau mới đau, đó là hình làm thương khí”',
Phong thắng thì sinh ra động:
nhiệt thắng thì sinh ra thũng; táo thắng thì sinh ra Can; hản thắng thì sinh ra "phù" (thần khí phủ việt; thấp thăng thì sinh ra "nhu tiết" (âm thấp, tiết tả)??,
Trời có bốn mùa, năm hành để thí hành sự sinh, trưởng, thâu, tàng và để sinh ra các khí hàn, thử, táo, thấp, phong?.
Người có năm Tàng hóa ra năm khí, để sinh ra hỳ, nộ, bị, ưu, khủng,
Cho nên, hý với nộ làm thương đến khí, hàn với thử làm thương đến hình”), Bạo nộ thì thương đến âm, bạo hý thì thương đến hình. Nếu khí dẫn ngược lên, mạch sẽ bị đầy tràn, ly thoát mắt cái hình của chân Tàng”S,
Hỷ, nộ không hạn chế, hàn thử để quá độ, sinh mệnh sẽ không được bền,
Cho nên "trùng âm" tất bệnh dương, "trùng dương" tất bệnh âm.
Mùa đông bị thương về hản, tới mùa xuân tất phát bệnh ôn; mùa xuân bị thương về phong, tới mùa hạ tất sẽ phát bệnh xôn tiết; mùa hạ bị thương về thừ, tới mùa thu tất phát bệnh hơi ngược; mùa thu bị thương về thấp, tới mùa đông tất phát bệnh khái thấu!?,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Tôi nghe các bậc Thánh nhân đời Thượng cô hiểu rõ thân thể con người: Vẻ Tàng, Phủ thì phân biệt rõ rằng; về kinh mạch thì xét rõ đầu mỗi; vẻ "lục hợp" của mạch, nên rõ sự hội thông của nó; về các "khí huyệt" thì chỉ rõ từng nơi và ấn định cái danh của nó; về các "khê, cốc đều chỉ rõ cái chỗ bắt đầu của nó; về bộ phận bì phu, cỏ nghịch có tùng, đều có điêu lý; về bốn mùa, âm dương, đều có kinh hỷ, và ứng vào thân thể con người đều có biểu, lý liên lạc với nhau... Có thật thế chăng“?*%
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đông phương sinh ra phong (gió), phong sinh Mộc, Mộc sinh toan, toan sinh Can, Can sinh cân (gân), cân sinh Tâm, Can chủ vẻ mắt. Theo lẽ đó, ở trời gọi là "huyền", ở người gọi là "đạo", ở đất thì là "hóa", hóa sinh năm vị. Đạo sinh ra trí, huyền sinh ra thân.
Thần ở trời tức là khí phong, ở đất tức là hành Mộc, ở thân thể con người tức là cân, ở Tàng Phủ con người tức Can.
Ở sắc là màu xanh, ở âm là âm giác, ở tiếng là tiếng hô (thở ra. reo hò), ở sự biến động là ác (nắm tay lại, hình dung sự co gân), ở khiếu là mắt, ở vị là toan, ở chí là nộ. Nộ (giận) làm thương Can, bị sẽ thăng nộ; phong làm thương cân, táo sẽ thắng phong; toan lâm thương cân, tân sẽ thắng toan,
Nam phương sinh nhiệt (nóng), nhiệt sinh hỏa”? Hoả sinh khổ, khổ sinh Tâm“? Tâm chủ huyết“, huyết sình Tỳ”, Tâm chủ về lưỡi,
Theo lẽ đó, ở trời là khí nhiệt, ở đất là hành Hỏa, ở thể là mạch, ở Tàng là tâm,
Ở sắc là xích (đỏ), ở âm là âm chủy, ở tiếng là tiếng cười, ở sự biến động là ưu (lo}“®, ở khiếu là lưỡi, ở vị là khổ, ở chí là hỷ.
Hỷ quả thì thương tâm, khủng sẽ thắng hỷ (khủng là Thận chí và là thủy thăng hỏa); nhiệt quá thì thương khí, hàn sẽ thắng nhiệt; khổ làm thương khí (khổ là hỏa vị, nên cũng thương khí, hản sẽ thăng khỏ (Thủy khắc Hỏa.
Trung ương sinh thấp“”, thấp sinh Thổ””, Thổ sinh cam, cam sinh Tỳ, Tỳ sinh nhục, nhục sinh Phế”, Tỳ chủ về miệng.
Theo lẽ đó, ở trời là khí thấp, ở đất là hành Thổ, ở thể là nhục, ở Tàng là Tỳ. Ở sắc là sắc vàng, ở âm là âm cung, ở tiếng là tiếng hát”””, ở sự biển động là uế®) ở khiếu là miệng, ở vị là cam, ở chị là tư (nghĩ ngợi.
Tư quá thì thương Tỳ, nộ sẽ thắng tư; thấp quá thì thương nhục, phong sẽ thẳng thấp; cam quá thì thương nhục (vị làm thương hình, toan sẽ thắng cam('?),:
Tây phương sinh táo”, táo sinh Kim (nhân khí mà sinh hinh,
Kim sinh tân (nhân hình mà thành vị), tân sinh Phế (nhân vị mà sinh '_ Tàng), Phế sinh bì mao (nhân Tàng mà chủ về hình), bì mao sinh Thận”, Phế chủ về mũi.
Theo lẽ đó, ở trời là khí táo, ở đất là hành Kim, ở thân thể là bì mao, ở Tàng là Phế, ở sắc là sắc trăng, ở âm là âm thương, ở tiếng là tiếng khóc?', ở sự biến động là khái (ho), ở khiểu là mũi, ở vị là tân, ở chí là ưu (lo.
Uu làm thương Phế, hỷ sẽ thắng ưu (Hỏa khắc Kim), nhiệt làm thương bi mao, hàn sẽ thắng nhiệt; tân làm thương bì mao®) khổ sẽ thắng tân.
Bắc phương sinh hàn (bắc thuộc Thủy, nên sinh hậu), hàn sinh Thủy“””, Thủy sinh hàm (mặn, vị của thủy) hàm sinh Thận, Thận sinh cốt tủy, tủy sinh Can, Thận chủ về tai (thận khí thông lên tai.
Theo lẽ đó, ở trời là khí hàn, ở đất là hành Thủy, ở thân thể là dương, ở Tầng là Thận”, ở sắc là sắc đen, ở âm là âm vũ, ở tiếng là tiếng thở dài“, ở sự biến động là run rấy, ở khiếu là tai, ở vị là hàm, ở chí là khủng.
Khủng quá thương Thận, tư sẽ thắng khủng:
hàn quá làm thương huyết””', táo sẽ thắng hàn”: hàm quá làm thương huyết, cam sẽ thắng hàm (tức Thổ khắc Thủy.
Cho nên nói rằng:
Trời đất là một bộ vị trên và dưới đủa muôn vật: âm với đương, đối với người là huyết khí của nam nữ; tả với hữu là đường lối của âm dương; Thủy với Hỏa là triệu chứng của âm dương”: âm với dương là trước sau của muôn vất.
Nên chủ ý rằng:
Âm ở bên trong, nhờ có sự giữ gìn của đương ở bên ngoài. Dương ở bên ngoài nhờ sự sai khiến của âm ở bên trong'.
Hoàng Đề hồi rằng:
– Nên bắt chước ở âm dương như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Dương thăng thì mình nóng, tâu lý vít lấp, thở mạnh*và khó củi hoặc ngửa, hăn không ra mà nhiệt, răng se; do đó thành phiên oán (bực dọc, nóng nảy), bụng đây, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa đông, không qua được mùa hạ?
Âm thăng thì mình lạnh, hãn ra, mình thường mát, thường run và rét, Rét thì quyết, quyết thì bụng đầy, thuộc chứng chết, chỉ qua được mùa hạ không qua được mùa đông. Đó là sự biến của âm dương "thiên thăng" và là chứng trạng phát hiện vậy.
Hoàng Đề hồi răng:
– Muốn điều dưỡng hai khí ấy, làm thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nếu biết được cái lẽ "thất tốn, bát ích" thì hai khí ấy có thể điều hòa. Nếu không biết, sẽ là cái cơ tảo suy vậy.
Con người, năm bến mươi tuổi, Âm khí đã tới phân nửa, sự khởi cư đã suy rồi”).:
Tới năm năm mươi tuỏi, thân thê nặng nè, tai rắt không còn sáng tỏ nữat,
Tới năm sáu mươi tuôi, thì âm suy, khí đã rất suy, chín khiếu không thông lợi, dưới hư trên thực, nước mũi nước mắt thường chảy ra?
Cho nên nói:
Biết thì khỏe mạnh, không biết thì chóng già,
Thân khí vốn "cùng" sinh ra ở âm tỉnh, mà về sau cái danh nó "khác” đây thôi (vì chia ra tỉnh, khí, thẦn ba danh từ.
Người trí xét rõ tự chỗ "đồng" (cùng), còn kẻ ngu trí biết xét ở chỗ “dị" (khác); kẻ ngu thường bắt tức, người trí thường hữu dư”.
Vì hữu dư nên tai mất sáng tỏ, thân thể khỏe mạnh, đã đến tuôi lão mà vẫn được như trai tráng; đã tráng mà lại càng đầy đủ thêm (8. — Vị thể nên bậc Thánh nhân làm cái việc "vô vi", vui cái yên "điểm đạm", thuận dục khoái chí ở trong cát phạm vị "hư vô”. Cho nên thọ mệnh vô cùng, sống chung trời đất... Dó là phương pháp trị thân của bậc Thánh nhân vậy,
Trời "bất túc" vẻ phương Tây Bắc. Tây Bắc thuộc âm, do đó, con người tai mắt bên hữu không sáng bằng bên tả; đất "bất mãn" về phương Đông Nam. Đông Nam thuộc dương, do đó, con người tay chân bên tả không mạnh bằng bên hữu!?,
Hoàng Đề hỏi:
– Vị cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phương Đông thuộc dương. Vì là dương, nên tinh khí dồn lên trên thì trên sáng mà dưới hư, cho nên khiến tai mắt sáng tỏ mà tay chân không mạnh. Phương Tây thuộc âm. Vì là âm, nên tính khí dồn ở dưới; dồn ở dưới thì dưới thịnh mà trên hư, cho nên khiến tai mắt.__ không sáng tỏ, mà tay chân được mạnh,
Cho nền, đều là cảm phải tà khí, mà về bộ phận trên thì bên hữu nặng hơn, về bộ phận dưới thì bên tả nặng hơn. Đó chính vì thiên địa âm dương không thể toàn vẹn được, nền tà khí cũng đo chỗ thiêu hụt ấy để xâm lắn,
Cho nên, trời có tinh, đất có hình, trời có tám cõi, đất có năm hành, vì thế mới có thể làm được cha mẹ cả muôn vật (tức là sự sinh hóa ra muôn vật đêu phải gốc ở trời đất.
Thanh dương bốc lên trời, trọc âm theo xuống đắt.
Nhân có sự động tĩnh làm giường mối cho sự "thân minh" nên mới phát triển được cái công năng sinh, trưởng, thâu, tàng, hết rồi lại có,
Chỉ bậc người hiền, về bộ phận trên biết bắt chước trời để nuôi đầu, bộ phận dưới biết bắt chước đất để nuôi chân, về bộ phận giữa biết lựa theo nhân sự để nuôi năm Tàng,
Thiên khí thông vào Phế, địa khí thông vào ách (thực quản, phong khí thông vào Can, lôi khí thông vào Tâm, cốc khí thông vào Tỳ, vũ khí thông vào Thận',
Sáu kính coi như sông, Trường vị coi như biển, chín khiếu là nơi tiết ra của hơi nước.
Lẫy âm dương của trời đất làm âm dương của con người.
Dương hãn, mượn tiếng "vũ" của trời đất để đặt làm tên,
Dương khí, mượn tiếng "lôi" của trời đất đê đặt tên.
Bạo khí tượng với lôi, nghịch khí tượng với dương,
Vậy về phương pháp trị liệu, nếu không bắt chước cải lý âm dương của trời đất, sẽ khó thoát tai hại. Cho nên khí tà phong nó đến, gấp hơn gió mưa"? Người thiện trị (chữa bệnh giỏi) ngay từ lúc tà còn ở bì mao): bực thứ nữa, chữa khi tà vào tới cơ phu”; bực thứ nữa, chữa khi tà vào tới cân mạch®): lại bực thứ nữa, chữa khi tà vào tới sáu Phú”); lại bực thứ nữa, chữa khi tà vào tới năm Tàng. Để tà vào tới năm Tàng thì nửa chết, nửa sống,
Nếu cảm nhiễm phải tà khí của trời thì sẽ hại tởi năm Tàng:
nêu cảm nhiễm vẻ sự nóng hay lạnh của loài thủy cốc (thức ăn, do Sự ăn uống) thì sẽ hại tới sáu Phủ; nếu cảm nhiễm phải thấp khí của đất thì sẽ hại tới bì, nhục, cân, mạch,
Cho nên người khéo dùng châm ””', từ âm phận dẫn qua dương phận, từ dương phận dẫn qua âm phận: lấy bên hữu để trị bên tả, lây bên tà để trị bên hữu; lấy ngoài biểu để biết trong lý, lấy tỉnh thân của mình đề hiểu biết bệnh tình của người bệnh. Do đó, để xem cái nguyên nhân của bệnh nó phát sinh từ đâu, và cái lý tà, chính, hư, thực như thế nào... Như thế mới khỏi gây nên tai hại!9.
Người khéo "chân", xét ở sắc, ấn vào mạch, phải phân biệt âm dương trước đãt''), Xét rõ thanh hay trọc để biết thuộc về bộ phận nào? “): coi hơi thở, nghe tiếng nói, mà biết được sự đau đớn thế nào; xem quyên, hành, quy, củ để mà biết được bệnh nó chủ về đầu: án tay vào bộ vị Xích, Thôn nhận rõ phù, trầm, hoạt, sắc... mà biết dược bệnh nó vì đâu sinh ra''””, Rồi lại xem đến cả người không có bệnh đề rút kinh nghiệm, như thế sẽ không nhằm lẫn nữat!9,
Bệnh khi mới phát sinh, có thể dùng châm thích cho khỏi):
khi bệnh thé đã thịnh, đừng vội dứt bỏ châm, đợi tà khí suy dân, sẽ thôi!9?,
Nhân cái lúc bệnh tà còn nhẹ, mà phạt đương cho nó tiết rat!9: đến khi bệnh thế đã thịnh, phải để cho nó giảm bớt dần; đến khi bệnh thể đã suy thì phải giúp ích chính khí cho nó đầy đủ thêm!9,
Hình bất túc dùng khí để ôn; tỉnh bất túc dùng vị để bổ!
Nếu bệnh tà ở bộ phận cao, làm cho nó vọt lên; nếu ở bộ phận dưới, dẫn cho nó hạ xuống; nếu đây ở bộ phận giữa, nên do bên trong mà tả?!!,
Nếu là tà ở biểu, tâm vào nước cho phát hăn!!!?: nếu ở bì mao làm cho phát tán”'?): nếu tà khí quá mạnh, nên dùng phép án ma cho thâu dẫn!“: nếu là thực, nền tán và tả,
Xét rõ âm dương, để chia nhu cương '*!, Dương bệnh trị ở âm, âm bệnh trị ở dương,
Định rõ khí huyết, cần giữ bộ vịt!®, Nếu huyết thực, làm cho nó hành: nếu khí hư, nên tuyên dẫn cho thông xướng! ',
Chú Giải
- Thiên này nói về: Trời, đất, thủy, hỏa, bốn mùa, năm hành, hàn nhiệt, khí, vị hợp với Tàng, Phù của con người, hình, thân, thanh, trọc, thành tượng, thành hình... đều hợp với cái đạo của âm dương. Cho đến chẩn mạch, sát sắc, trị liệu, châm biếm v.v... đều phải bắt chước ở âm dương, nên gọi là "Ứng tượng đại luận.
- =Đao" tức là cái lẽ của âm dương. Thái cực "tĩnh” mà sinh âm, "động mà sinh dương. Trời sinh ra bởi động, đất sinh ra bởi tĩnh, nên gọi âm dương là đạo của trời đất.
- Vật sinh ra gọi là "hóa", vật đến cực gọi là "biến". Dịch nói: "Ở trời thành tượng, ở đất thành hình, sự biến hóa phát hiện ờ đó". Chu Từ nói: "Biến là cái "tiệm" của hỏa, hóa là sự "thành" của biến". Âm có thê biển thành dương, đương có thể biến làm âm, cái đạo lý biến hóa do âm dương sinh ra, nên gọi là cha mẹ.
- Trời lẫy dương để sinh ra, lấy âm để nuôi lớn; Đất lẫy dương đề giảm đi, lấy âm đẻ tiềm Tàng.
- Ẩm đương biến hóa không thể lường được nên gọi là thần minh.
- » Ác" tức là chỉ về âm dương. Tàng, Phủ, khí huyết, biểu, lý, thượng, hạ ở trong tắm thân con người, đều gốc ờ âm dương, cho tới cái khí phong, hàn, thừ, thấp, bốn mùa, năm hành... đo từ bên ngoài phạm vào, cũng đều thuộc về hai chữ âm dương, Đến về phương diện trị bệnh, lựa cái khí vị của dược vật, dùng "châm" nên tả hay hữu, xét mạch xem trì hay tật, cũng không thể ra ngoài cái lý của âm dương. Cho nên nói: "Trị bệnh phải cầu tới gốc"... Bệnh đó thuộc Dương tà hay Âm tà? Thuộc âm phận hay dương phận? Khí phận hay huyết phận? Rồi nhân đó để lựa chọn đến dược vật, xem nên dùng những Vị khí nó thăng hay vị nó giáng? Âm để bỗ hay khổ đề tiết?... Đó, phương pháp cầu tới gốc là như vậy...
- Tích tức là "tích lũy", chứa chất rất nhiều. Rất cao là trời, rất dày là đất. Tiếp theo câu trên, nói việc trị bệnh nên bắt chước cái âm dương của trời đất.
- Chất âm của đất chủ tĩnh mà có thường; Khí dương của trời chủ động mà không ngừng...
- Mùa xuân với mùa hạ là hai khí Âm Dương của trời, cho nên chú về sinh và trưởng; mùa thu với mùa đông là hai khí Âm Dương của đất, cho nên chủ về sái và Tàng.
- Trời chủ về sinh ra vật, đất chủ về gây thành vật. Cho nền đương hóa cái khí của muôn vật, mà cái khí ở trong thân con người cũng do dương hóa ra; Âm thành cái hình của muôn vật, mà cái hình của con người cũng do âm gây nên... Ú Âm hản dương nhiệt là cái khí chính của âm dương. Hàn cực sinh nhiệt, là âm biển làm đương; nhiệt cực sinh hàn, là dương biến làm âm. - Thiệu Từ nói: Lúc bắt đầu động thì dương sinh, động đến cực độ thì âm sinh; lủc bắt đầu tĩnh thì "nhu" sinh, tĩnh đến cực độ thì "cương" sinh. Đó tức là cái nghĩa "lão biến mà thiếu không biến" ở Chu Dịch. Cho nên cái lý âm dương, hễ đến cực độ thì sinh biến. Tật bệnh ở con người cũng vậy. Như nhiệt quá thì lại hàn. Như những chứng nội nhiệt đến cực độ, thì bên ngoài hiện ra rét run. Hàn quả thì lại nhiệt, như bệnh thương hản mà phát nhiệt. Về phép trị bệnh cũng vậy, như người uống quá nhiều những vị khổ hàn, rồi biến thành hỏa nhiệt.
- Hàn khí đọng xuống dưới, nên sinh ra trọc âm; nhiệt khí thượng thăng, nên sinh ra thanh dương. Thanh khí chủ về dương nên ở trên, giờ lại ở dưới nên sinh chứng xôn tiết (ăn vào lại tả ra), bởi vì chỉ giảng mà không thăng: trọc khi chủ về âm nên ở dưới, giờ lại ở trên nên sinh chứng điền trướng, bởi vì chỉ có thăng mà không giáng. Đó là ám đương tương phản mà sinh bệnh, như thế tức là ®nghịch", nếu trái lại là "tùng". Cho nên nói: “Trị bệnh phải cầu tới gốc", chính là vì tắm thân con người "hữu bệnh hay vô bệnh" đều do âm dương "nghịch, tùng” mà ra vậy.
- Từ câu "đương hóa khí" trở xuống, đều đem âm dương của trời đất hợp với ãm dương trong tắm thân con người đề tỳ lệ, không chuyên nói hăn một bên nào.
- Đoạn nảy tiếp với đoạn trên, nói về: cái địa vị của âm dương có trên dưới khác nhau, mà cái khí của âm dương có "hỗ giao" rồi sau mới thành. được cái biến hóa "mây lên, mưa xuống" đề hóa sinh ra muôn vật. Thanh dương là trời, trọc âm là đất. Đất dù ở dưới mà hơi đất bốc lên làm mây; trời dù ở trên mà khí trời giáng xuống làm mưa. Trời nhờ mây mà sau mới có mưa, nhưng mưa tuy từ trên trời giáng xuống, mà thực là đo cái mây của hơi đất bốc lên, cho nên nói: "mưa làm ra bởi địa khí". Nhờ có mưa giáng xuống, mà sau mới có mây bốc lên. Nhưng mây tuy từ dưới đất bốc lên, mà thực là do cái mưa của khí trời giáng xuống; cho nên nói: "mây làm ra bởi thiên khí". Đó là cái hiện tượng “giao hỗ" của âm dương, mà trong tắm thân của con người cũng có một hiện tượng như vậy.
- Thanh dương của người ứng theo với "thiên" mà tiết ra thượng, khiếu; trọc âm của người ứng theo với "địa" mà tiết ra hạ khiếu. Cũng như sự "lên xuống" của mây và mưa.
- Đây nói: Ôái khí thanh dương dẫn đạt ra tấu lý mà cái "tinh huyết thuộc về trọc âm, thì chạy tới năm Tàng. Vì năm Tàng chủ về việc Tàng tinh.
- Cậu này nói: Cái khí thanh đương do ân uống sinh ra thì dẫn ra tứ chị, còn những chất hồn trọc (cặn bã) thì dồn về sáu Phủ.
- Tịnh của thủy thấm nhuần xuống nên là âm, tính của hòa bóc ngược lên nền là dương. Thanh dương, bốc lên nên là khi, trọc âm giáng xuống nên là Vị (ngũ vị, các thức ăn). Đó là do Thủy Hỏa mà xét ra âm dương của khí và vỊ.
- Âm là Vị, âm gây lên hình; đất cho người ăn năm vị đề nuôi cái hình ấy, cho nền nói: "vị theo về hình". Dương hóa khí, cải khí của "chư dương xuất dẫn ra bì phu cơ tấu, để sinh ra cái hình ấy, nên nói “hình theo về khí. Dương khi sình ra bởi âm tỉnh, cho nên nói "khí theo về tỉnh"; nhờ cái tinh khí của thủy cốc để hóa sinh ra các tỉnh ấy, nên nói "tỉnh theo vẻ hóa. Nhờ tính khí của thuỷ cốc đẻ sinh ra tỉnh, đó tức là “tỉnh nhờ ở khí: nhờ năm vị vào Vị để nuôi cái hình ấy, nên nói “hình nhờ ờ Vị. ' Nhờ tinh khí của thủy cốc để sinh ra tinh: nhờ cái thần khí của "chư dương" đề nuôi cho hình; ấy nên mới nói: "do hóa sinh tinh, do khí sinh hình. # Hình ăn về Vị, tỉnh ăn về khí (vi do nó mà sinh ra nên gọi là ăn, nhưng sự "ăn" đó nếu thái quá thì sẽ bị thương, cũng như sự ăn uống thường vậy. #” Tỉnh là gốc của nguyên khí, mà khí lại do tỉnh hóa ra, Hình ăn Vị mà Vị theo về hình. Đến khi vị làm thương hình thì sẽ lây đến cả khí. #3 Vị thuộc về loại có chất, nên dồn xuống hai khiếu "tiện, niệu" (đại._ tiện và tiêu tiện); khí thuộc về loại vô hình nên tiết lên trên khiến hô hấp. 2) Vị thuộc về âm, mà “vị hậu" là thuần âm, nếu bạc lại là dương ở trong âm; khí thuộc về dương, mà "khi hậu” là thuần dương, nếu “bạc” lại là âm ở trong dương. Đó là trong ảm dương mà lại chia thêm một thứ âm dương khác nhau vậy. (2$ Vị hậu là âm ở trong âm, tình giáng xuống, nên chủ về hạ tiết; vị bạc là dương ở trong âm, tinh bốc lên, nên chủ về tuyên thông. Khí bạc là âm ở trong dương, tinh giáng xuống, nên chủ về phát tiết; khi hậu là dương ở trong dương, tính bốc lên, nên chủ về phát nhiệt. Tiết nảy bàn về âm, dương, khí, vị và thăng giáng. ì 5) Khí là dương, Hỏa là dương, hợp lại mà nói thì khí tức là Hòa. Cái khí của Thiếu dương Tam tiêu sinh ra tự Mệnh môn, dẫn đi khắp trong ngoải, hợp với Bao lạc (thuộc Tâm) mà làm Tướng hỏa, Cái khí sơ sinh của Thiếu dương, dẫn xuống Hạ tiêu để chủ về việc thâu nạp, dẫn tới Trưng tiêu mà chủ về việc sinh hóa. Nạp và hóa các chất tỉnh vị cùa thủy cốc đề sinh ra khí và nuôi hình... Cho nên mấy câu nảy tiếp với đoạn trên nói về "năm vị thát quả thì sẽ thương đến khí, mà Tráng hỏa thái quá cũng sẽ thương đến khí (Tráng hỏa là một thứ hỏa nóng quá, Thiếu hỏa là một thứ Hỏa vừa vậy. Đoạn nảy có hai tiếng Tráng hỏa và Thiếu hỏa là nói về cái nhiệt độ hơn kém của hỏa. Bởi những vị mà khí vị quả hậu, tức là Hỏa nó 'tráng”. Dùng những vị Tráng hỏa thì cải Khí của con người không thể chống nỗi, do đó mà hóa và suy (như dùng những vị ô đầu, phụ tử, khí của con người không thê chống lại được nên phát nhiệt); những vị mà khí vị ôn, tức là Hỏa nó "thiếu", Dùng những vị Thiếu hỏa, thi cái khí của con người sẽ đần sỉnh vượng mà thành tráng (như dùng những vị nhân sâm, đương quy v.v... khiến cho khí huyết của con người dần nên sinh vượng). Vì sao mà cái khi của Tráng hỏa suy? Vì Trảng hỏa có thể "thu hút“ cả cái khí của con người, nên cái khí của Tráng hóa sẽ tự suy. Vì sao mà cái khí của Thiếu hỏa lại tráng? Vì cái khí của con người có thể "thu hút" được cả cái khí của Thiếu hỏa, nên cái khí của Thiếu hôa sẽ thành tráng. Bởi vì Trắng hỏa có thê “thu hút" cái khí của con ngời, nên nô lại có thể làm "tán" cái khí của người; nên mới nói: “khí của Tráng hỏa suy"; bởi vì cái khí của con người có thể "thu hút" được cái khí của Thiếu hỏa, nên nó lại có thể sinh ra cái khí của con người; cho nên mới nói "khí của Thiếu hỏa tráng. Chữ "thu hút" trên đây, nguyên Hán văn là chữ "thực, ăn". Chú phải của Trương Án Am: "Thực cũng như nhập vào. tức là dồn vào làm một". Nguyên Hản văn là "Tráng hỏa thực khí, khí thực Thiếu hỏa" chữ đặt rất pọn, mà ý nghĩa hay, tiếc không tìm tiếng gì thay thế được. Trương Ân Am nói: Tướng hỏa là "tặc" của nguyên khí muốn báo dưỡng "tỉnh, khí, hình" ta nên dẹp yên hỏa ấy. - Vương Từ Phương nói: "Khí của Tráng hỏa, khí của Thiếu hỏa, chữ "khí" đó tức là khí của hỏa. PHỤ LỤC Cần án: Các y giả đời sau dụng dược chỉ biết có hàn, nhiệt, ôn, bình... Đến cái nghĩa âm, dương, thanh, trọc, thặng, giáng, phù, trầm... thì rất ít người lưu ý, nên ít được công hiệu. Lý Đông Viên cũng đã hiểu thấu nghĩa đó, ông có soạn Thang dịch bạn thao tựu trung có thiên “Dụng được pháp tượng”, chuyên nói về lựa chọn dược vị, theo đúng với nghĩa trong thiên này, vậy xin phụ lục thêm vào đây, để duyệt giả biết qua phương pháp dụng dược của cố nhân. DỊCH GIÁ Những Vị khí bạc là âm ở trong đương. Khí bạc thì phát tiết. Các vị có khí vị: tâm, cam, đạm, binh, hàn, lương... thuộc về loại ẫy. Thí dụ: I - Phục linh: Khí bình, vị cam 2 - Trạch tả: Khí bình, vị cam 3 - Chủ linh: khi hàn, vị cam 4 - Hoạt thạch: Khí hàn, vị cam 5 - Cô mạch: Khí bình, vị cam 6 - Xa tiền: khí hàn, vị cam 7 - Đăng tâm: khí bình, vị cam 8 - Ngũ vị tử: Khí hản, vị toan 9 - Tang bì: Khí hản, vị khổ - Thiên môn: khí hàn, vị hơi khổ II - Bạch thược: Khi hơi hàn, vị khổ 12 - Mạch môn: khí hàn, vị hơi khổ 13 - Tế giác: Khí hản, vị toan khô 14 - Ô mai: Khí binh, vị toan _ 15- Mẫu đơn: Khí hàn, vị khổ 16 - Địa cốt bì: Khí hàn, vị khổ 17 - Chỉ xác: Khí hàn, vị khổ 18 - Hổ phách: Khí bình, vị cam 19 - Liên kiều: Khí bình, vị khỗ 20 - Chỉ thực: Khí hàn, vị toan 21 - Mệc thông: Khí bình, vị cam 22 - Mạn kinh: Khí thanh, vị tâm 23 - Xuyên khung: Khí ồn, vị tân 24 - Thiên ma: Khí bình, vị khổ 25 - Tân giao: Khí hơi ôn, vị khổ, tân, bình 26 - Kinh giới: Khí ôn, vị khổ, tân 27 - Ma hoàng: Khí ôn, vị khổ, cam 28 - Tiên hỗ: Khí hơi hàn, vị khổ 29 - Bạc hà: Khí ồn, vị khổ, tân Những VỊ khí hậu là dương ở trong dương. Khí hậu thì phát nhiệt. Các vị có khí vị tần, cam, ôn, nhiệt... thuộc về loại đó. Thí dụ: ] - Phụ từ: Khí nhiệt, vị đại (rất) tân 2 - Ô đầu: Khí nhiệt, vị đại tân 5 - Can khương: Khí nhiệt, vị đại tân 4 - Sinh khương: khiến, vị tân 5- Lương khương: Khí nhiệt, vị cam, tân 6 - Nhục quể: Khí nhiệt, vị đại tân.
- - Quế chỉ: Khí nhiệt, vị cam, tân 8 - Thảo khẩu: Khi nhiệt, vị đại tân 9 - Đinh hương: Khí nhiệt, vị tân 10 - Hậu phác: Khí ôn, vị tân 11 - Mộc hương: Khí nhiệt, vị khổ, tân 12 - Ích trí: Khí nhiệt, vị đại tân 13 - Bạch khấu: Khi nhiệt, vị đại tân 14 - Xuyên tiêu: Khí ôn nhiệt, vị đại tân 15 - Ngõ thù: Khí nhiệt, vị khổ, tần 16 - Hồi hương: Khí bình, vị tân 17 - Huyền hồ: khí ôn, vị tân 18 - Sa nhãn: Khí ôn, vị tân 19 - Hồng hoa: Khí ôn, vị tân 20 - Thân khúc: Khí ôn, vị cam Mậu thuộc thấp, gốc nó khí bình, nó tiêm ôn, lương, hàn, nhiệt. Ở người Ứng vảo VỊ. Tỳ thuộc Thỏ, gốc nỏ vị hàn, nó kiêm tân, cam, hàn, khô. Ở người, ứng vào Tỳ. I - Hoàng kỳ: Khí ôn, bình, vị cam 2 - Nhân sâm: Khí ôn, vị cam 3 - Cam thảo: Khi bình, vị cam 4 - Đương quy: Khí ôn, vị tần, cam 5 - Thục địa: Khí hàn, vị khổ, cam 6 - Bán hạ: Khí hơi hàn, vị khổ, bình 7 - Bạch truật: Khí ôn, vị cam - Xương truật: Khí ôn, vị cam (tân 9 Trân bì: Khi ôn, vị hơi khổ 10 - Thanh bì: Khí ôn, vị tân 11 - Hoắc hương: Khí hơi ôn, vị cam, tần 12 - Tân lang: Khi ôn, vị tẳn 13 - Nga truật: Khí ôn, vị khổ, tân 14 - Tam lăng: _ Khí bình, vị khỗ 15 - A giao: Khí hơi ôn, vị cam 16 - Kha tử: Khí ôn, vị khổ 17 - Hạnh nhân: Khí ôn, vị cam, khổ 18 - Mạch nha; Khí ôn, vị hàm (cam 19 - Đào nhân: Khí ôn, vị cam, khổ 20 - Từ thảo: Khí hàn, vị khổ, cam 21 - Tô mộc: Khí binh, vị cam, hơi toan Những Vị khí vị bạc, là dương ở trong âm, vị bạc thì thông. Các vị có khí vị toan, khổ, hàm, bình... thuộc về loại đó. Thí dụ: I- Phòng phong: Thuần dương, khí hơi ôn, vị khổ, cam, bình 2 - Thăng ma: Khí bình, vị hơi khổ 3 - Sài hồ: Khí binh, vị khổ, tân 4 - Khương hoạt: — Khí hơi ôn, vị khổ, cam bình 5- Uy linh tiên: Khí ôn, vị khổ 6 - Độc hoạt: Khí hơi ôn, vị khổ, cam bình. 7 - Cát văn: Khí binh, vị cam 8 Tế tấn: Khí õn, vị đại tân 9 Cát cánh: Khí hơi ôn, vị cam bình 10 - Bạch chỉ: Khí ôn, vị đại tân 11 - Cảo bản: khí ôn, vị đại tân 12 - Thử niêm từ: Khí bình, vị tân Những VỊ khí vị hậu là âm ở trong âm. Vị hậu thì tiết, Các vị có khí vị Can, khổ, hàn, thuộc về loại đó. I - Đại hoảng: Khí hàn, vị khổ 2 - Hoàng bả: Khí hàn, vị khỗ, cam 3 - Hoàng cằm: Khí hàn, vị khổ 4 - Hoàng liên: Khí hàn, vị khổ 5 - Thạch cao: Khí hàn, vị tân 6- kong đơm: Khí hản, vị đại khô 7 - Sinh địa: Khi hàn, vị khổ - Tri mẫu: Khí hàn, vị khổ 9 - Qua lâu căn: Khí hàn, vị khổ 10 - Nhân trần: Khi vị hản, vị khổ, bình 11 - Phác tiêu: Khí hàn, vị khổ, hàn 12 - Phòng kỳ: Khí hàn, vị đại khổ 13 - Mẫu lệ: Khí hơi hản, vị toan, hàn 14 - Huyền sâm: Khí hàn, vị khổ 15 - Chỉ tử: Khí hàn, vị khổ
- - Xuyên luyện từ: Khí hàn, vị khổ 17 - Hương thị (sị): Khí hàn, vị khổ
- - Địa du: Khí hơi hàn, vị cam, hàn ở Khí với vị vốn đã chia âm dương, mà trong "vị" lại chia ra âm dương khác nhau. Tân dẫn về khí phận mà tính tán. Cam là một vị thuộc về trung ương (thổ) mà lại có cải năng lực tưới rội ra tứ bàng, vì thế nên phàm vị “tân và cam" thì phát tán và thuộc dương. Vị khổ chủ về tiết trở xuống, mà lại kiêm có cái tính chất bốc ngược lên (vì là hỏa), vị toan chủ về thâu giáng, mà lại là một thứ "mộc vị" phát sinh về mùa xuân... đêu có cái nãng lừc thượng đũng (vọt lên) và hạ tiết (tháo chụt trờ xuống). Vì thế nên phàm vị "toan và khô" thì "dũng, tiết" và thuộc âm.
- Mã Thị nói: Dùng vị toan khổ mà đến thái quá thì âm sẽ thắng. Âm thăng thì về dương phận ở trong con người không địch được với âm hàn, do đó dương sẽ mắc bệnh. Dùng vị tân cam mà đến thái quá thì dương sẽ thắng. Dương thẳng thì âm phận ở trong con người không địch nỗi với dương nhiệt, do đó âm sẽ mắc bệnh.
- khổ hóa Hỏa, toan hóa Mộc. Nếu uống nhiều các vị toan, khô, thì sẽ gây lên sự "nhiệt hóa" của Mộc với Hỏa tân hóa Kim, cam hóa Thỏ. Nếu uống nhiều vị tân, cam thì sẽ gây nên sự "hàn hóa” của âm thấp. Phảm dùng thuốc, nếu lâu thì tăng khi, đó là cái lẽ thường vật hóa. Nếu để cho khí tăng lên mãi, sẽ lả cái nguyên nhân chết non.
- Dương hóa thành khí, âm gây nên hình. Hàn thì âm nhiều, nên thương hình. Nhiệt thì dương thịnh, nên thương khi. Khí vô hình, nên đau; hình có Hình, nên thũng.
- Hình theo về khí, mà khí sinh ra hình... Đó là sự tương hợp của âm dương và hình khí. Cho nên, khí bị thương thì lây đến hình, hình bị thương thì cũng lây đến khi. Từ đây trở lên, nói vẻ: khí, vị, âm, đương, hàn, nhiệt... do “thiên thắng tả sinh bệnh,
- Từ đây trở xuống, bàn về bốn mùa năm hành của trời và năm Tàng, năm khí ở con người, với bên ngoài cảm về lục đâm, bên trong thương về năm chí... đều có âm, đương, hàn, nhiệt khác nhau. Tính của phong lay động, nên "phong thắng thì sinh ra động". Nhiệt nhiều làm thương khí, nên nhiệt thắng thì thũng "sưng". Táo làm thương đến tân dịch, cho nên táo thắng thì sinh ra Can (khô ráo, se); hàn làm thương đến dương, cho nền thần khí sẽ phù việt ra ngoài. Thấp thăng thì Tỳ thổ bị thương nên thảnh ra chứng nhu tiết (tiết tả). Phong với nhiệt là Dương khí của trời; hàn, táo, thấp là Ám khí của trời. Đó là sự thiên thắng gây nên bệnh của bốn mùa và năm hành vậy.
- Mười Can của trời, hóa sinh năm hành của đất, năm hành của tật, hợp với sáu khí của trời. Cho nên ở đất là hành Thủy thì ở trời là khí hàn; ở đất là hành Hòa, ở trời là khí thử; ở đất là hành Kim, ở trời là khí táo; ở đất là hành Thô, ở trời là khí thấp; ở đất là hành Mộc, ở trời là khí phong... Đó lả sự ứng tượng rất rõ rệt vậy.
- “9 "Hóa ra năm khí", tức là hóa cái khí của năm hành, Chí của Can là nộ, chí của Tâm là hy, chí của Tỳ là bị, chí của Phế là ưu, chí của Thận là khủng (nghĩa chữ "chỉ" ở đây, có ý như phát sinh ra)... Đó là do năm khí mà sinh ra chí của năm Tàng. - Câu này nỏi về năm Tàng của người hóa sinh năm khí và nãm chí, đều thuộc về âm dương.
- Hỷ, nộ do bên trong phát ra, cho nên làm thương đến hai khí Âm dương; cái tả ngoại dâm do bì mao mà lọt vào cơ lạc, Tàng Phủ, cho nên nói: “hàn thử thì thương hình". - Mã Thị nói: "Chỉ nói hy, nộ” mà ngoài ra như "ưu, tư, khủng" có thể suy ra biết được. Chỉ nót "hàn, thử" mà ngoài ra như "táo, thấp, phong" có thể suy ra biết được.
- Nhiều dương thì nhiễu hỷ, nhiều âm thì nhiều nộ, bởi hỷ thuộc dương mà nộ thuộc âm. Vì vậy nên bạo nộ thì thương âm, bạo hỷ thì thương đương. Cái khí Âm Dương một khi đã "quyết nghịch” dẫn lên, thì cái khí của năm Tàng sẽ đây tràn ở trong mạch, mà thoát ly mắt cái hình của chân Tàng.
- Kinh nói: Kẻ trị giả đối với sự đưỡng sinh, tắt phải thuận theo cái khí của bốn mùa và thích hợp với khí hàn thử, điều hòa sự hỳ nộ và tiết độ việc cư xử, trải lại, nều mọi việc câu thả quá độ, thì còn sống lâu sao được?
- Và thời tiết thuộc âm, mà lại cảm phải khí hàn, như thế là 'trùng âm”, tất sẽ sinh ra chứng dương nhiệt; về thời tiết thuộc dương, mà lại cảm phải khí nhiệt, như thé là "trùng dương" tất sẽ sinh ra bệnh âm hàn.
- Mùa đông bị thương vê khí hàn, cái độc của khí hàn Ẩn nắp ở trong cơ phiu tới mùa xuân, tất phát ra bệnh ôn; mùa xuân bị thương về phong, phong khí thông vào với Can. Can tà hữu dư, tới phạm Tỳ thổ, dằng dai đến mùa hạ tất thành chứng xôn tiết. Mùa hạ bị thương về khí thử, thử hãn không tiết ra được, tới mùa thu gặp phải lương phong hai bên xung đột lẫn nhau, thành ra chứng ngược "hàn nhiệt vãng lai" (túc nóng, lúc rét cứ lần hồi thay đổi). Mùa thu bị thương về khi thấp, thấp nung nấu biến thành nhiệt, nhiệt thuộc hỏa, hỏa phạm lên Phể kim, dăng dai đến mùa đông hàn với nhiệt xung đột lẫn nhau, gây nên bệnh khái thấu. Xem những bệnh thuộc về hai mùa xuân hạ, thi rõ được cái nghĩa "trùng âm tất bệnh dương: xem những bệnh thuộc về hai mùa thu đông, thì rõ được cái nghĩa "trùng dương tất bệnh âm" như nói ở trên.
- Đoạn này dẫn câu hỏi của Hoàng Đế làm tông mạo cho mấy đoạn dưới đây. - Lục hợp (6 hợp), tức là sự tương hợp của 12 kinh mạch, tỳ như: Túc Thái dương với túc Thiếu âm là một hợp; Túc Thiếu dương với túc Quyết âm là hai hợp; Túc Dương minh với túc Thái âm là ba hợp; Thủ Thái dương với thủ Thiếu âm là bốn hợp; Thủ Thiếu dương với Thủ Quyết âm là năm hợp; Thủ Dương minh với thủ Thái âm là sảu hợp... Nó đều theo chính kinh của nó để giao thông liên lạc lẫn nhau. Khí huyết tức là cái nơi kinh khí quy tụ ở đó. Trong thân thể con người tông cộng có 365 huyệt, để ứng với 365 ngày trong một năm. Những chỗ đại hội của nhục (thịt) gọi là cốc, những chỗ tiểu hội của nhục gọi là khê. Các nơi đó đều có cái chỗ bắt đầu sinh ra nó, tỷ như gân, ta thấy là gân, nhưng phải biết do từ đâu mà sinh ra gần v.v...
- Từ đoạn này trở xuống với bốn đoạn nữa là lời của Kỳ Bá thưa lại, đem những cái liên lạc của năm Tàng với "tam tài" (trời, đất, người) phân tách rõ tàng; để chứng thực người xưa sở dĩ được như lời của Đề hỏi trên, chăng qua chỉ hiểu thấu được hết "tam tài" mà thôi, - Đông phương chú về mùa xuân, cái tính chất của Dương khí là bốc lên, nên mới sinh ra phong; phong cô động thì loài cây tươi tốt, nên phong sinh Mộc; cát tính của Mộc là "toan", nên Mộc sinh toan. Trong thân con người, Can thuộc Mộc, Mộc tính toan, nền nói: "toan sinh Can, Phàm cân, đều thuộc về Can, cho nên nói: “Can chủ về cân. Mộc chủ vê sỉnh ra Hỏa, nên nói: "cân sinh Tâm. Mắt là khiếu của Can, nên nói: "Can chủ về mắt, Giờ đem hợp cả "trời, đất, người" lại mà xét, thì chăng qua chỉ cùng chung có một lý. Lý đó, ở trời gợi là huyền (hình dung sự xa xôi bí mật). Ở người gọi là đạo (đạo là một cái lý ai cũng phải có, phải theo). Ở đất gọi là hóa (tức là hóa sinh muôn vật. Bởi đất có sự hóa, nên mới chia ra mọi vật và sinh ra năm vị. Bởi người có biết đạo. nên đạo mới tỏ rõ mà minh trí mới sinh ra. Bởi trời có sự huyền, nên mới có cái hành động khôn ngoan khéo léo, biến chuyển như thần... Do đó ta có thể biết được "tam tài" cũng chỉ là một lý. Nhân đó lại suy rộng ra, ở trong năm khí của trời đã là phong, thi ở năm hành cùa đất sẽ là Mộc, mà ở năm: thể của người sẽ là cân và ở năm Tảng sề là Can... Suy mãi ra đến năm sắc là xanh, năm âm là giác, năm tiếng là hô, năm biến là ác, năm khiếu là mắt, năm vị là toan, năm chỉ là nộ... Cái danh của nó tuy khác nhau, mà cái lý thì vẫn chí có một, tức là đều thuộc về Mộc mà thói. Tuy nhiên, nếu ở bản Tàng mà có sự thái quá, thì Tàng sẽ bị thương, Khi đã bị thương, thì chỉ cái nào mà "Mộc Tàng" không thắng được nó, nó sẽ chế lại được. Cho nên "ở chí là nộ", nếu nộ thái quá thì thương Can, Chi có Phế kim chủ vẻ "bi" là có thể thắng được nộ (Kim khắc Mộc. Ở trời là phong. Phong khí thông vào Can, thì sẽ làm thương đến cận, chỉ có cải khí táo Kim thuộc phương Tây là có thể thăng được phong (vẫn là Kim khắc Mộc. Ở vị là toan. Toan thái quá thì thương cân, chỉ có cải vị tân thuộc Tây phương là có thể thăng được toan... Đó đều là cái lý "Kim khắc Mộc”, nó tương chế nhau như vậy.
- Nam phương chủ về thời tiết mùa hạ, nên sinh nhiệt.
- Khê là vị của Tâm. Vị thuộc ăn, Tàng cũng thuộc âm, nên vị mới sinh Tàng (Tâm.
- Huyết là một chất "lỗng” phát sinh tự Trung tiêu, phụng tâm thần hóa ra đỏ. Nên huyết tức là thần khí,
- Tức Hỏa sinh Thỏ.
- Tâm khí thông lên lưỡi. Tâm hòa thì biết được năm vị.
- Phong hàn, thử, thấp. hoá là âm dương của trời. Mệc, Hòa, Thô. Kim, Thuy là âm dương của đất. Người có nàm Tàng hóa năm khí để sinh ra hy, nộ, bị, ru. hùng, đó là âm dương của người, Tại trời gầy nên tương, tại đất gây nên hình. Về con người thì hợp cả trời đất lại làm một. Ở đầy. trước nói thể. rồi sau mới nói đến Tàng, vì con người hấp thụ cái khí của trời đất trước từ ngoài rồi mới đến trong vậy.
- Các 'Tàng đều có "Du", duy Tâm không có "Du", cho nên sự biến động phát sinh bởi "chí", Tâm chí dẫn vảo Phế (Hỏa khắc Kim) nền thành ưu. Dịch giả án: Về thiên này, bàn đến những "sở thương:
- (Cái làm thương) có ba điểm khác nhau. Như: Về Đông phương, nói: “Phong làm thương cân; toan làm thương cân....
- Về Trung ƯƠng nói: "Thấp thương nhục; cam thương nhục...". Đó là một sự "tự thương” (tức là sự bản Tàng làm thương đến bản Tảng.
- Về Nam phương, nỏi: "Nhiệt thương khí; khô thương khí....
- Về Bắc phương. nói: "Hàn thương huyết; hàm thương huyết...". Đó là làm thương đến cái mình thăng, - Về Tây phương, nói: "Nhiệt thương bì mao..." thể là bị cái khí thắng mà thương mình: nói: "tân thương bì mao..." thể chính là minh tự làm thương mình, Duyệt gia nên nhận kỹ những điểm đó.
- Trung ương chủ về Thổ, để thấm nhuằn khắp cả xung quanh, nên sinh thấp.
- Ở trời là khí, ở đất thành hình... tức là đo khí sinh ra hình. Ê Đất dùng năm vị để nuôi người. Vị cam vào Tỳ trước cho nên chủ về sinh Ty.
- Tực!à Thô sinh Kim.
- Chí của Tỳ là tư (nghĩ ngợi). Khi đã nghĩ được điều gì thì phát ra tiếng hát, Tức là sự vui vẻ. LẺ Lệ là "ơ”, cũng là "nác". Hơi ngược lên trên khoảng Phế vị thành ra nắc. Phía trên Vị, phía dưới Phê. là bộ vị của Tỳ. Nên Tý khi biển động thì thành uẽ.
- Những sự “thắng" ở trên đây đều do sự chế khắc mà sinh ra.
- Tây phường chủ về thời tiết của thu Kim, nên khỉ táo.
- Phê khí chủ về bì mao, nhân Kim khí sinh Thận (tức Kim sinh Thuy.
- Chí của Phế là bị (thương), vì bí nên sinh ra khóc.
- Phế chủ về bì mao, tân làm tán khí, nên thương bì mao.
- 'Tức là hình chủ khí. mà khi lại sinh hình.
- Tình tủy của Thận lại sinh Can mộc - Thể tức là: năm Tảng cũng sinh ra nhau nhưng đều phải do năm khí của trời và năm vị của đất rỏi mới cùng sinh Vậy. Nói về: Năm phương sinh ra năm khí; năm khí sinh ra năm hành; năm hành sinh ra năm vị; năm vị sinh ra năm thể và năm Tàng... Đó tức là con người phải gốc ở hình khí của trời đất mà sỉnh ra vậy. Đén như nói: ở trời là khí hàn, ở đất là hành Thủy, ở tủy là cốt, ở Tàng là Thận v.v... Đó là nói: trời đất sở dĩ thành tượng thành hình được đều gốc ở sự biến hóa bắt trắc của âm dương vậy.
- Thờ đài, nguyên chữ Hán là "thân"”, lại có nghĩa là tiếng "rên". Thận khí ở bộ phận dưới, nên phải lên tiếng thở đài mới tiết lên được.
- Hàn quá thì huyết bị đọng lại, nên nó thương huyết - Hoặc có người hỏi: "Phong thương cân, thấp thương nhục" đó là do bản khí làm thương đến bản thê. Ở Tâm thì nói: "nhiệt thương khí”, ở Thận thì nói: “hàn thương huyết" là cớ sao? - Xin đáp: Khí là dương, huyết là âm: Hỏa là dương, Thủy là âm. Tâm chủ Hỏa mà sinh ra nhiệt, Thận chủ Thủy mà sinh ra hàn... Vì thể nên "nhiệt thương khí" và "hàn thương huyết" là sự đồng khí tương cảm vậy. Như về đoạn dưới đây, nói: âm dương ấy là nam nữ của khí huyết, thủy Hỏa ấy là triệu chứng của âm dương, Tâm Thận ấy là chủ tế của Thủy Hòa, âm dương v.v... cho nên lời nói trên đây tuy với Tàng khác có hơi không giống, nhưng cũng chỉ là cái ý "bản khí tự thương” mà thôi.
- Táo chủ về khí nhiệt của mùa thu, nên thắng được hàn.
- Trời che ở trên, đất chờ ở dưới. Trời với đất đã đứng yên bộ vị, muôn vật sẽ hóa sinh ở khoảng đó. Trương Ấn Am nói: "Cái lý âm dương ở người thì là nam với nữ, ở thể thì là khí với huyết". Mã Nguyên Đài nói: "Muôn vật sinh ra bởi dương, thành được bởi âm. Nói về tắm thân con người thì huyết là âm, khí là dương. Cho nên con trai thuộc dương mà không chuyên có khí, lại có cả huyết đó là trong dương có âm. Con gái thuộc âm mà không chuyên có huyết, lại có cả khí, đó là trong âm có dương. Vậy thì âm dương ở con người tức là nam nữ có huyết, có khí đó.
- Ở trong khoảng trời đất và sáu cõi, Đông Nam là tả, Tây Bắc là hữu. Hai khí Âm Dương với trên dưới bốn bên, ngày đêm tuần hoàn... Mà cái khí Âm Dương ở con người cũng cùng với cái khí của trời đất ngày đêm tuần hoàn. Cho nên nói: "Tả hữu là đường lối của âm dương.
- Thiên theo số 1 sinh ra hành Thủy, địa theo số 2 sinh ra hành Hỏa. Hỏa là dương, Thủy là âm; Thủy Hỏa là một vật hữu hình, nên làm triệu chứng của âm dương.
- Âm tĩnh ở bên trong, dương động ở bên ngoài. Do sự động và tĩnh của âm dương mà hóa sinh ra muôn vật. Tiết trên nói về cái khí Âm Dương của trời đất, vận dụng khắp trên dưới bến bên; tiết này nói về cái khí Âm Dương lại có cái trách nhiệm, trong ngoài khác nhau. Nói về trời đất, thì trời bao bọc ở bên ngoài đất. Nói về người, thì đương lại là một hào lũy hộ vệ cho âm. Ứ Bắt chước âm dương để thi hành việc trị liệu.
- Cao Sĩ Tôn nói: Xét những lời Kỳ Bá giải đáp ở dưới, như “đương thắng thì thân nhiệt, âm thăng thì thân lạnh...", đó là cái hại gây nên bởi âm dương thiên thắng. Như nói: "Hay biết được cái nghĩa thất tôn, bát ích"... Đó là nói về biết điều hòa cái khí Âm Dương ở trong thân mình thì tà không thể xâm phạm gây nên tật bệnh. Như nói: “Con người, tai mắt bên hữu không sáng tỏ băng bên tả; tay chân bên tâ không mạnh bằng bên hữu v.v...". Đó là bắt chước sự thịnh suy của trời đất và bốn phương. Như nói: "Người hiền, bên trên bắt chước trời để nuôi đầu, bên dưới bắt chước đất để nuôi chân, khoảng giữa bắt chước việc người để nuôi năm Tàng.... Dó là bắt chước trời đất để nuôi người. Như nói: "Khí trời thông với đất, khí đất thông vào cuỗng họng; phong khí thông vào Can, lôi khí thông vào Tâm...". Đó là cái khí của trời đất ứng vào người. Như nói: "Bạo khí hình tượng với lôi (sâm), nghịch khí hình tượng với dương...". Đó là khí của con người ứng tượng với trời đất. Như nói: "Khéo dùng châm ấy theo âm để dẫn đương, theo dương dẫn âm...". Đó là bắt chước cái lý của âm dương đề làm cái phương pháp dùng châm. Như nỗi: "Khéo chân ấy, xét sắc để nghe mạch, biết phân biệt âm dương...". Đó là bất chước cái lý âm dương để thi hành việc trị liệu. Tóm lại, toàn thể thiên này bản về âm dương của trời đất và cái khí của năm phương năm hành, đề phối hợp với thân hình, Tàng Phủ của con người... Đến cả việc chân trị điều dưỡng, cũng đều bắt chước ở âm dương nên mới đặt tên thiên này là “âm dương ưng tượng đại luận. 3) Dương thắng là do khí hỏa nhiệt dụng sự, nên mình nóng. Nhiệt ở biểu phận nên tấu lý bị vít lắp, nhiệt ở lý nền hơi thở to; dương thăng ở phúc bộ nên cử phải cúi xuống: dương thăng ở bối bộ nên cứ phải ngửa lên; dương thăng ở toản thần nên hãn Không ra mà mình nóng. Thận chủ về tỉnh dịch, răng se, tức là tân dịch đã khô kiệt; Tâm chủ vẻ huyết, nếu phiên oán, tức là huyết bị khô ráo. Phúc mãn, tức là sinh khí ở Trung tiêu bị tuyệt. Đó là cái từ chứng thuộc về "dương nhiệt thiên thăng". Dù có dai dãng được qua mùa đồng, cũng khó lòng "hãnh miễn" được ở mùa hạ. Đoạn này nói về âm dương ở con người, lại phỏi hợp với âm dương vẻ bốn mùa của trời đắt để tạo thành sự sống chết.
- Âm thắng thì dương hư nên hãn ra, Âm thắng ở bộ phận biểu, nên mình thường mát; nêu ở lý thì hay run mà rét. Tứ chí là gốc của chư dương, biểu. lý đều hàn thì tử chỉ quyết lãnh: tứ chỉ đã quyết lãnh thì phúc hộ sẽ hư và đây. Đó là tử chứng thuộc về "âm hàn thiên thắng". Nếu nhờ được cái khí dương nhiệt của mùa hạ còn có thể cứu được cái nạn âm hàn. Đó là sự biến của âm và dương mà gây nên tật bệnh.
- "Thất tốn, bát ích" - Con gái lấy số "thất" (bẩy) đẻ tính. con trai lây số "bát" (tám) đề tỉnh (như nói: con gái hai bảy thì có thiên quý, con trai hai tắm thì có thiên quý v.v...) - Vậy về số "thất" không nên đề cho (tồn) (giảm bởi). về số "bát" không nên để cho "ích" - (thêm lên). Nói rõ hơn, tức là chỉ về cái nghĩa “Dương thường hữu dư âm thường bất túc" vậy. Nhưng Dương khí vốn sinh ra tự âm tính. Đã biết là âm tính thưởng bất túc, mà đừng để cho nó lại bị khuy tốn nữa, thì hai khí đó sẽ quần bình nhau. Nếu không biết cải lẽ tương sinh của ầm dương, theo phương pháp đề điều đưỡng, thì tuôi chưa đến nửa trăm mà đã suy rồi, 5) Con trai lấy số "bát" làm giới hạn, cho nên đến 40 tuổi mà Âm khí đã tới phân nửa (âm khí tức là Thận khí, tính khí). Âm đã hư, nên khởi cư mỏi mệt. Kinh nói: “Thận hư, Can hư. Tỳ hư đều làm cho con người thân thể nặng nẻ và "phiên oán"", Lại nói: "Tân dịch bị thoát (hết đi) khiến cho xương thịt co duỗi không dễ dàng. Tuổi đến năm mươi thì tỉnh địch, huyết dịch đều hu. nên thân thể nặng nẻ. Tỉnh khí hư không thể dẫn lên bộ phận trên, nên tai mắt không sáng tỏ, Cọn người tơi tuổi sáu mươi đã quả cải thởi kỳ "bây tám” (tức 3, thiên quy kiệt. Thận khí đại suy, vì thế nên âm suy (sinh thực khi không cử động). Chín Khiếu là nơi hơi nước do đó mà tiết ra: tỉnh thuy kiệt mà tính khi suy, vì thế nên chín khiếu không thông lợi. Tỉnh kiệt ở bộ phận dưới, nước đân lên bộ phận trên, nên nước mũi nước mặt chảy ra. Vương Từ Phương nỏi: "Trên nói điều đưỡng hai khí..." chủ trọng về bên "thất tốn”, nền nói: "âm khí tới phân nửa...", nói: “thân thể nặng nẻ...", nói: "âm suy” v.v... Con người, về sự khởi cư động tác thuộc về dương, tai, mặt chín khiếu thuộc về dương... Giờ nói: "khởi cư suy”, nỏi: "tai mặt không sảng tỏ", nói: "chín khiếu không thông lợi" v.v... Đó là do âm hư mà làm lây đến dương vậy.
- miết” là biết cái lẽ "thất tổn bát ích" ở trên, để cố gìn giữ lấy tỉnh. thì âm dương đều thịnh, mà gân xương khỏe mạnh. Nếu không biết cái nguồn pốc của âm dương mà để lòng "dục" kiệt mất tình và háo tán mắt chân nguyền thì tránh sao khỏi suy yếu.
- Người khôn xét rõ âm dương "cùng" sinh xuất bởi "thiên chân không làm quá sức. Dương đây đủ mà âm bên chặt. Tình thân giữ vững ở bên trong, thì âm thịnh mà khí bên ngoài cũng mạnh, biết âm dương cùng "sinh" và "cễ" (bên) thì tính sẽ được hữu dư (có thừa). Kẻ ngu chỉ biết cái “đanh“ nó khác, như "phiền lao thì Dương khi phát lộ ra bên ngoài...” mà không biết là tính cũng sẽ tuyệt ở bên trong; chỉ biết: "làm trải ngược thị thương Thận, do đó. cải khí xuân đương cũng không nhờ đâu mà sinh ra được”... Nhưng không biết: dương vốn đẻ giữ bền cho âm, mà âm thì là gốc của đương, tĩnh khi đồng thời lâm vào tình trạng bất túc...
- "Hữu dư" thì tai mắt sáng tỏ; tinh huyết đủ nên tinh thần cường kiện tình thần bền vững... nên tới tuôi lão mà vẫn tráng...
- Làm theo cái lẽ "vô vi" (có việc mà coi như không có việc) thì bên ngoài không nhọc hình. bên trong không nhọc nghĩ. Diễm đạm, hư vô thì tinh thần bền giữ ở bên trong, chân khí cũng thuận theo, nên thọ mệnh vô cùng...
- ngan này nói: Nhờ âm dương tĩnh khí vận hành nên mới thì triển được cái công năng sinh, trưởng, thâu $àng để hóa sinh muôn vật. Ở con người cũng rên phối hợp với trời đất đẻ nuôi đầu và chân, đừng để cho tà Chí có thể xâm chiếm làm nơi ký túc. Trên nói: "Trời bất túc ở Tây Bắc" là nói cái âm ở trong đương bất túc. Tây Bắc thuộc âm, mà ở con người tài mặt bên hữu không sáng tô băng bên (ã. Tả là dương và hữu là âm. Vĩ âm bật túc ở trần nên như vậy. Trên nói: "Đất bất mãn Đông Nam" là nói cái đương ở trong Âm: bất túc, Đông Nam thuộc dương. mà ở con người tay chân bên tả không mạnh bằng bên hữu. Vì hữu là âm mà tả là dương, vì dương bất túc ở bộ phận dưới nên như vậy.
- Trời có tình, đất có hình. Đông phương thuộc dương, tính khí bếc lên mà dồn cả lên bộ phận trên; vì dồn cả lên bộ phận trên nên trên thịnh dưới hư, khiến cho tai mắt sáng tỏ, mà tay chân không mạnh. Tây phương thuộc âm, tinh khí giáng xuống mà dồn cả tới bộ phận dưới; vì dồn cả tới bộ phận dưới nên dưới thịnh trên hư, khiến cho tai mắt không sáng tỏ mà tay chân lại mạnh, #* Đây, đem thân hình con người đề nói; ở về bộ phận trên thì bên hữu hư, về bộ phận dưới thì bên tả hư. Xem đó thì biết thiên địa âm dương vốn không thể toàn vẹn mà ở con người cũng có sự bất túc về hai bên tả hừu..... Xem đó thì biết hình thể con người không một thứ Bì là không phối hợp với trời đất. Vì lề đó, nên cần phải bắt chước âm dương.
- Thần mính tức là sự biến hóa bắt trắc của âm dương.
- Bên trên phối hợp với trời để nuôi sự sáng tỏ cửa tai mắt, bên dưới phối hợp với đất để nuôi sự bất túc từ "yêu" (tức ngang chỗ thắt lưng) trở xuống. Biết đặt năm vị, thích thuận năm chí, để nuôi sự thái hòa cho năm Tàng... Vậy dù có tặc tà, cũng không thê làm hại được.
- Phế Tàng thuộc về Càn kim, bộ vị ở rất cao, mà làm chủ tế cả các khí ở toàn thân, nên cùng thông với thiên khí. Đây lại nói "đai lại": chăng những cái khiếu ở trên đầu thông với trời, từ "yêu" trở xuống là thông với đất, mà từ năm Tàng, sáu Phủ, chín khiếu, sảu kinh v.v... đều cùng thông với khí của trời đất. Chỉ có bực người hiền là bắt chước được cải lẽ âm dương cùa trời đất để trị thân, nên tật bệnh không sinh ra được.
- Ách (thực quản) tức là cửa của vị Phủ, - Phong sinh Mộc, Mộc sinh Can. Đó là do cái khí của trong và ngoài cùng giao với nhau.
- Lôi (sắm) là do hỏa phát thành tiếng. Tâm là Hỏa Tàng, khí cùng cảm triệu, nên cùng thông với Tâm. - Cốc khí tức là thực phẩm do loài ngũ cốc. Tỳ là Thổ Tàng, chủ về chuyền vận, tiêu hóa, nên thông với Tỳ.
- Thận là thủy Tàng. Vũ khí (hơi nưa) tức là cái khí của hàn thủy, nên cùng thông.
- Tịnh khí thông lên khiếu trên. trọc khí thông xuống khiếu dưới.
- Hãn sinh ra bởi âm địch, nhưng nhờ bởi Dương khí làm cho nó tuyển tiết ra, nên mới gọi là dương hãn.
- Dương khí phát sinh gốc bởi lý âm. Sở đĩ gọi là "tật phong" (gió mạnh, nhanh), vì Dương khí vận hành khắp thân thể, không chút chậm chạp. Bạo khí như lôi hỏa bốc cháy, nghịch khí như dương nhiệt tràn lan...
- Tà phong tức là gió độc. Phàm giớ độc phạm vào người, trước từ bi mao, rồi tới cơ nhục và kinh mạch, rồi lại do kinh mạch mà vào Tàng Phù... Sự tràn lan của nó rất chóng, nên nói: "nhanh hơn gió mưa". Ở đây chi nói một “tà phong", mà không nói đến các bệnh khác, vì "phong" đứng đâu trăm bệnh và khai phát "bì tâu" rất chóng.
- Dương khí là một thứ đề bảo vệ bên ngoài, thì âm ở bên trong mới được bèn vững. Phàm Dương tà (tức tà phong) phạm vào người, phạm vào khí phận ở ngoài bì mao trước. Người thiện trị, giúp sức cho Dương khí, để làm cho tuyên tán. Bỏ tả phong đi thì không khí nào nó còn lẫn vào bên trong được nữa. Tà ở ngoài bộ phận bì mao, nếu không làm cho nó tuyên tán được, thì nó sẽ cứ lưu lại đây rỗi dần dân phạm vảo bộ phận cơ phu (lượt da và thịt mỏng ở bên trong). Cơ phụ cũng còn thuộc về khí phận bên ngoài, nên cũng có thê hòa giải cho tiết ra ngoài bì mao.
- Tà ở cơ phu không làm cho nó giài đi được, nó sẽ cứ yễm lưu tại đây, rồi dần dẫn lắn vào bộ phận kinh lạc (kinh là những mạch máu chạy đọc, lạc là những mạch máu chạy ngang). Kinh lạc bên trong liền với Tàng Phủ bên ngoài chăng khắp thân hình. Khi tà đã vào đến đấy, nên kịp làm cho nó theo kinh mà giải, đừng để cho nó lại vào Tàng, Phù.
- Kim quỹ yếu lược nói: "Kinh lạc bị tà phạm vào Tảng Phủ, đó là cái nguyên nhân bệnh ở bên trong". Vậy khi tả đã vào tới Phủ, tức là "lý" rồi, chỉ có thể cho nó bài tiết theo cái đường lối của Phủ, mới mong khỏi được.
- Mạch của sáu Tảng, đo Tàng chăng vào Phú; mạch của sáu Phủ, do Phủ chăng sang Tang. Vậy nên kinh khí của Tàng Phủ, lúc này cũng liên lạc hỗ thông với nhau. Khi tà đã vào tới Phủ, mà không làm cho nó giải theo đường lỗi của Phủ, thì lẽ tất nhiên là nó phải phạm tới Tàng. Tà còn chập chờn ở vào khoảng “kinh khí” của Tàng, còn có hy vọng liệu trị; nếu đã phạm hăn vào Tàng thì thật là hết hy vọng. Trên đây, dùng chữ "nửa sống nửa chết" cũng chỉ là nói "gượng" vậy thôi. Ta nên nhận rằng: bì phu khí phận thuộc dương, kinh lạc huyết phận thưộc âm, bên ngoài là dương, bên trong là âm; Phủ là dương, Tảng là âm... Tà ở dương phận còn dễ chữa; tà tới âm phận rất khó chữa... Y giả nên đề phòng ngay từ trước, đừng bỏ dễ làm khó mà lại hối hận về sau.
- Tà khí của trời do bì phu mà phạm vào lý âm, nên nói răng: “hại năm Tàng"”. Thủy cốc vào Vị do sự nóng lạnh không thích hợp, hoặc nhiều ít không điều độ, thì bệnh sinh ra ở Trường vị, nên nói rằng: "hại sáu Phủ. Thấp khi do đất phát sinh, khi phạm vào người, tất do từ chân trước, nên mới nói: "hại bỉ nhục cân mạch”. Tóm lại, Tàng là âm, Phủ là dương: cân mạch huyết phận lả âm, bì nhục khí phận là dương. Cái tà khi của trời có âm có đương: cái khí của thủy cốc có nhiệt có hàn... Mà sinh ra bệnh ở thân hình; Tàng Phủ con người cũng có âm dương khác nhau. Người thiện trị phải phân biệt cho rõ mới được.
- Châm: một thứ kim dùng để tiêm vào các huyệt và mạch máu, làm __ cho bệnh tà tiết ra ngoài. Về phương pháp dùng châm này có cả "bể" chứ không chí "tả" mà thôi. Mấy thiên sau đây cũng có nói đến, nhưng tường tận thì ở bộ Linh khu, sẽ dịch tiếp theo bộ Tố Vấn này.
- Trong thân thể con người, âm dương, khí huyết, nội ngoại, tả hữu đều có giao thông, liên lạc với nhau, Người dùng châm biết rõ rằng: bệnh ở dương tất phải đi qua âm, cho nên nhằm vào âm để dẫn cho ra dương... hoặc nhằm vảo dương mà dẫn cho ra âm; cũng vậy, cho đến cả hai bên tả hữu, cũng "thích" bên này để cho giảm bền ki..... Phương pháp này tất huyền điệu, xem mãi về sau sẽ rõ.
- Chẩn, tức tà Ấn ba ngón tay vào bộ vị "quan, xích, thốn" của bệnh nhân để nhận luông của mạch máu chạy ở trong. Đỏ là "chân mạch”. Chữ chân ở đây thì lại bao gồm cả ba phương pháp: "vọng, văn, vấn". Nên về sau đối với việc thăm bệnh, thường gọi là "tử chẩn" (bến phép chân) tức là “vọng, văn, vấn, thiết", Thiết cũng tức là để tay nhận mạch. Trên đây nói: sắc là dương, huyết là âm; nhưng tự trong "sắc" cũng lại có âm dương khác nhau. Ở trong mạch cũng có âm dương khác nhau. Vậy người khéo chân cần trước phải phân biệt âm dương mới có thê hiểu được đích xác.
- Và sắc mặt có sáng sủa (thanh) hay ảm đạm (trọc) khác nhau; nhận rõ bộ phận của nỏ sẽ biết được sự đau đớn của bệnh nhân như thể nào. Hai điêu này thuộc về “vọng” và "văn, 53) Xem sự phản ứng của mạch hợp với bến mùa như thế nào, Về mùa xuân. mạch ứng với quy (thước tròn), vì Dương khí mềm mại, có vẻ như thước tròn; về mùa hạ, mạch ứng với củ (thước vuông). vì Dương khí mạnh thể, có vẻ như thước vuông: về mùa thu, mạch ứng với hành (cán cân), vì âm dương lên xuống. cao thấp phải đều, có vẻ như cán cân; về mùa đông, mạch ứng với quyên (quá cân), vì mùa dồn, Dương khí sụt xuống ở bộ phận dưới. có vẻ nặng như quả cân.
- Thân chủ về bộ phận trên, thuộc dương; Xich chủ về bộ phận dưới, thuộc âm. Mạch phù là bệnh ở biêu, thuộc dương: mạch trầm là bệnh ở lý thuộc âm; mạch hoạt là bệnh tại khí, thuộc dương; mạch sắc là bệnh tại huyết thuộc âm; Xét mạch nó ở trên. dưới biểu, lý, hay khi, huyết... để nhận xem bệnh vì đâu sinh ra.
- Chân mạch người mắc bệnh, lại chân cả người vô bệnh, để cùng so sánh. suy nghiệm. Đó chính là một phương pháp học chân rất cần thiết.
- 7/7: dùng mũi "châm" tiêm vào trong “huyệt" ở da thịt. Khi bệnh mới phát sinh. tà khí còn ở ngoài bì phu, nên dùng châm để "thích", có thể khỏi được ngay.
- Nếu bệnh đã nặng, tức là tà khí tụ nhiều. để châm thong thả, đừng rút ra vội, để cho tà khí rút bớt dân.
- Rạnh mới phát sinh, dùng châm nhẹ mà nông; bệnh đã lâu thì dùng chằm mạnh mà sâu.
- Dẫn lúc cuối cùng, bệnh thế đã suy; nên nhãn cái lúc tà khí đã suy làm cho chính khí được mạnh thêm lên. Đây nói vê phương pháp dùng châm, chia làm ba thời kỳ, tức là "sơ, trung, mạt”. Sơ, tức là thời kỳ "công (đánh đuôi bỏ tà khí đi); Trung, tức là thời kỳ "điều hòa” (dùng cách dịu dàng êm ái để dần dần dồn bò bệnh tà); Mạt (cuối cùng) tức là thời kỳ thâu bô. Tiết này tuy nói về phương pháp dùng châm. mà về phương pháp "dụng được” cũng không ra ngoài phạm vị Ấy.
- Hình tức là hình thể cơ nhục; Tĩnh tức là âm tinh của năm Tâng. Cầu này dạy cho y giả biết dùng thuốc không nên thiên về một bên. Như trên kia có nói: "Vị theo về hình, hình nhờ về Vị", vậy néu hình bất túc thì nên lấy Vị để lâm cho ôn; đây lại nói: "dùng khí để ôn...". Nhưng trên lại có nói: Vị làm thương hình...". Xem đó thì biết "VỊ" cũng có khi làm thương hình. Nhưng Vị lại không thể không có khí, nên mới nói: "dùng khí để ôn", không nên chuyên dùng VỊ, tức là theo cái nghĩa "độc âm thi không sinh" vậy (như dùng âm được phải kèm cả đương dược). Trên kia có nói: "khí theo về tinh, tỉnh nhờ ở khí...". Vậy nếu tỉnh bất túc thì nên lấy khí để bổ. Đây lại nói: "láy Vị đê bổ? Nhưng trên lại có nói: "khí làm thương tỉnh..." thì thiên về bên khí, cũng có thể làm thương đến tỉnh, nên khí tất lại phải có cả Vị. Nên mới nói: "dùng Vị đề bố", không nên chuyên dùng khí. Tức là cái lề "cô dương thì không thành vậy (như dùng dương được phải kèm cả âm dược.
- Con người chia làm ba bộ phận, ở trên thuộc dương, ở dưới thuộc âm. Nếu ở vào khoảng hung cách, nên làm cho nó vọt lên (tức là dùng phương pháp Thỏ). Nếu bệnh ở tà ở bộ phận dưới, nên dẫn cho nó hạ xuống (tức là thấp ở bộ dưới), nên dùng phép làm cho lợi tiểu tiện.
- Đây ở bộ phận giữa (tức là trung mãn), phần nhiều do súc tích, tà khí hữu dư, thì dùng phép tả đi (tức là dùng thuốc hạ.
- Theo kinh Linh khu bàn về chứng trướng mãn có nói: Năm Tàng sáu Phủ đều chứng trướng... Mà nói: "không cần hỏi hư thực, cần phải "tật tá" (tức tà ngay, mau). Nhưng các y giả đời nay, không ai dám nói đến tả (tức hạ) mà bệnh nhản cũng rất sợ tả, để cho cái chứng "trung măn" dăng dai mãi không khỏi, đân dần kinh lạc vít lắp mà chết. Vậy thì, nếu vì sợ tả mà chết, chỉ băng tả sớm mà sống, chả còn hơn r? Ngẫm vậy, mới biết cái nghĩa "tật tả" ở Linh khu là rất đúng vậy.
- "Tâm vào nước". Đời xưa có phép dùng nước tắm vỗ vào bệnh nhân cho ra mồ hôi. Đề trị chứng tà ở biểu. Án: Ở ta có phép "xông", cũng hơi giống phép này.
- Tà ỡ bộ phận bì mao thì làm cho ra mồ hôi, để phát tán đi.
- Án ma tức là đấm bóp đề cho khí huyết lưu thông (nhưng đấm bóp cũng phải có phương pháp.
- "Thực" có chía âm dương khác nhau. Dương thực thì nên dùng phép tản; âm thực thì nên dùng phép tả.
- Âm dương thuộc vẻ thiên đạo, nhu cương thuộc về địa đạo. Con người phải hợp cả lại đê thỉ hành phép điều dưỡng.
- “Trị” là làm cho quân bình. Như cảm phải Dương tả của trời thì phải "trị" từ Âm khí của con người; khiến Âm khí thịnh thì cái tà dương nhiệt kia sẽ tự tui. Nếu cảm về Âm tà của trời thì phải trị từ Dương khí của con người, khiến Dương khí thịnh thì Âm tà tự tán. Xem đó thì biết: "tà chính, âm dương đều có đối đãi với nhau" điều trị phải có khuôn phép mới được.
- Hai câu nối tiếp với nghĩa hai câu trên: như tà khí ở dương phận thì nên bảo vệ phần âm huyết, đừng để cho tà lọt được vào huyết phận; như tà khí ở huyết phận thì nên bảo vệ phần Dương khí, đừng để cho lọt vào dương phận... Bởi Dương tà làm thương khí, Âm tà thương huyết... Vậy phải giữ cho nó tự yên ở bộ vị, thì tà mới khỏi xâm lắn.
- Kình nói: "Tà phạm vào được, do bởi chính hư...". Vậy trên đây nỏi chữ "thực" là chỉ về tà khí, "nói chữ "hư" là chỉ về chính khí. Trên đây nói: tà ở huyết phận, mà huyết thực, nên hành huyết để khu tả; tà ở khí phận, mà khí hư, nên dẫn lên Dương khí đề giúp chính khi. Bởi Dương khí vốn phát
Thiên 6–9 · Âm Dương Ly Hợp Luận → Lục Tiết Tạng Tượng Luận
Chương sáu · Âm Dương Ly Hợp Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
- Tôi nghe:
Trời là dương, đất là âm; nhật là dương, nguyệt là âm. Hợp cả tháng đủ, tháng thiếu, cộng có 360 ngày, thành một năm. Con người cũng ứng theo như vậy. Nay xét về ba kinh âm. ba kinh dương, lại có khi không tương ứng, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về cái lẽ âm dương, lúc bắt đầu, đểm có thể tới số 10, suy ra có thể tới số trăm; đo trăm đếm tới nghìn; do nghìn đếm tới vạn... Rôi đếm không thể đếm. Nhưng về cốt yếu, vẫn chỉ là có "một,
Trời che, đất chở, muôn vật mới sinh, Khi chưa tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là âm xử, tức là âm ở trong âm; khi đã tiết ra khỏi mặt đất, mệnh danh là dương ở trong âm,
Dương phát triển ra chính khí, âm đứng vào địa vị chủ trì, Nhờ đó. sự sinh phát triển ở mùa xuân. sự trưởng phát triển ở mùa hạ, sự thâu phát triển ở mùa thu. sự Tàng phát triển ở mùa đông. Nếu trái lẽ thường đó, khí bốn mùa của trời đất sẽ bị vít lắp,
Vậy cái lề biến của âm dương, hợp với thể chất của con người cũng có thể đếm mà biết được!,
Hoàng Đề hỏi răng:
– Xin cho biết sự ly hợp của ba kinh âm, ba kinh dương?
Kỳ Bá thưa rằng:
ì - Thánh nhân ngoảnh mặt sang phương Nam đề trị dân”, phía trước gọi là Quảng minh), phía sau gọi là Thái xung.
Cái nơi phát sinh ra Thái xung gọi là Thiếu âm (tức Thận); phía trên Thiếu âm gọi là Thái dương (tức Bàng quang). Thái dương, gốc phát khởi từ Chí âm. kết ở Mệnh môn, gọi là dương ở trong âm.
_ Từ khoảng giữa mình trở lên, gọi là Quảng minh”? Phía dưới Quảng minh là Thái âm”, phía trước Thái âm là Dương minh? Dương minh gốc phát khởi từ Lệ đoái, gọi là dương ở trong âm??,
Về "biếu" của Quyết âm là Thiếu dương”. Thiếu dương góc phát khởi từ Khiếu âm, gọi là Thiếu dương ở trong âm,
Xem đó thì biết sự ly hợp của ba kinh dương:
Thái dương là khai (mở), Dương minh là hạp (đóng), Thiếu dương là khu (cỗi cửa)?.
Ba kinh đó không nên để trái ngược nhau, "bác" mà không "phù", mệnh danh là Nhất dương!.
Hoàng Đế hỗi:
– Xin cho biết sự ly hợp của ba kinh âm?...
Kỳ Bá thưa:
– Ở bên ngoài là dương, ở bên trong là âm”” Vậy ở bộ phận giữa thuộc âm; mạch Thái xung ở về phía dưới, nên gọi là Thái âm?®), Thái âm gốc phát khởi tự Án bạch, gọi là âm ở trong âm??, Phía sau Thái âm là Thiếu âm (thận). Thiếu âm gốc phát khởi từ Dũng tuyên gọi là Thiếu âm ở trong âm!?,
Phía trước Thiếu âm gọi là Quyết ãm'”'. Quyết âm gốc phát khởi từ Đại đôn. Đó là “tuyệt dương" trong âm kinh và gọi là "tuyệt âm,
Do đó, sự ly hợp của ba kinh âm:
Thái âm là khai, Quyết âm là hạp, Thiếu âm là khu#?,
Ba kinh đó không nên đề trái ngược nhau "bác" mà chớ trầm, mệnh danh là Nhất âm,
Âm dương đi lại không ngừng, chứa chất sự lưu truyền làm một chu; khí ở lý và biểu, cùng nhau thành công?,
Chú Giải
- Âm tức là âm kinh, dương tức là dương kinh. Trong thiên nảy nói về sự ly hợp của ba kinh dương, ba kinh âm thuộc về thủ (tay), ba kinh dương, ba kinh âm thuộc về túc (chân), cùng với khí Âm Dương của trời đất có tương quan với nhau, nên đặt tên thiên, Trương Ẳn Am nói: Thiền này cùng với thiên Cân kết ờ kinh Linh khu cùng làm biểu, lý. f Ba kinh âm, ba kinh dương của Hoàng Đế hỏi đây là chỉ về cả các kinh thuộc "thủ" vả các kinh thuộc "túc" mà nói. Theo ý Kỳ Bá, âm dương là một vật chỉ có danh mà không có hình, không thể sao đếm được. Nhưng cái cốt yếu chỉ có "một” mà thôi. Dịch nói: Một âm, một dương gọi là đạo. Mạc Tử Tấn nói: Trời đất định vị, nhật nguyệt vận di, hàn thử thay đổi, âm dương ra vào... đều do một khí Thái cực sinh ra.
- Có trời đất rồi mới có muôn vật. Nhưng trời đất hóa dục muôn vật đều phải do sự "xuất nhập" của khí Ám Dương trong bốn mùa, rồi mới có thể phát triển được cái công năng “sinh, trưởng, thâu, tảng" đề làm chung thủy cho muôn vật. Khi khí đó chưa tiết ra khỏi mặt đất thì mệnh danh là "âm xử - xử là ở - tức là còn ở tại trong âm, nên gọi là "âm ở trong âm”, Tới khi đã ra khỏi mặt đất, là dương: đáng lẽ phải gọi là "dương xử”, nhưng dù sao dương cũng không thể lia được âm, nên mới gọi là dương ở trong âm.
- Dương có phát triển chính khí, muôn vật mới nhờ đó mà sinh sôi nảy nở; Âm có ở bên trong giữ cái nhiệm vụ chủ trì, thì muôn vật cũng mới hoàn toàn thành lập được.
- Cậu này nói: sự "xuất, nhập" của địa khí, có thể nhân cái bốn mùa của _ thiên khí để thi hành cái công năng sinh trưởng thâu àng. Đó là cái lẽ thường vẻ sự ly hợp của ầm dương. Nếu trái lại, sẽ bị nguy biến ngay.
- Đây nói về cái biến của âm dương có thể dự tính được, thì ở con người, sự biến dù có phức tạp đến đâu cũng có thê lường được.
- Hoàng Cực Kinh thế thự của Thiệu Từ nói: "Dương không thê độc lập, phải đợi có âm rồi mới lập, nên đương lẫy âm làm nên tàng; Âm không thể tự phát hiện, phải đợi có đương rồi sau mới phát hiện, nên âm lấy dương dẫn đường..." ý nghĩa cũng tương tự như đây.
- Chữ Thánh nhãn ở đây là dùng một danh từ tôn trọng đối với vua mà nói. Nhưng lại mượn đó để nói ví vào thân thể con người. ® Quảng mính tức là Tâm. Tâm bộ vị chủ về Nam phương; Nam phương thuộc hòa, Dương khí sáng tỏ nên gọi là Quảng minh (rộng sáng - một danh từ hình dung và giả tá) - Ở đây, phàm nói đến chữ "trước", tức là chỉ về bộ phận trên, tức là Nam phương. Trong con người lấy Tâm, hung làm trước và phương Nam, lấy yêu Thận làm sau và phương Bắc. Thái xung là nguồn gốc của âm huyết, bộ vị tại Hạ tiều dẫn lên phía sau lưng. ®) Dường mạch của kinh Thái dương phát khởi từ huyệt Chí âm tại ngón chân út, rồi giao kết tại huyệt Mệnh môn (tức là mắt). Đây là nói về dương kịnh thuộc kinh túc Thiếu âm. - Thiếu âm với Thái dương "hợp", dương phát ra từ âm, cho nên ờ phía trên âm. Nửa người trở lên thiên khí làm chủ, nửa người trở xuống địa khí làm chủ. Dương phát ra từ âm, do bộ phận dưới mà lên, cho nên nói: “từ giữa người trở lên gọi là Quảng minh". Ở trên, lấy phía trước làm dương. Đây lại lẫy từ giữa người trở lên làm đương. Thái âm chủ về trung thổ, mà là một cơ quan Chí âm ở trong âm, cho nên bệ vị ở dưới Quảng minh.?) Thái âm (Tỳ) với Dương minh (Vị) "hợp", đều chủ về trung thô, nên bộ Vị ở trước Thái âm. 3 Lệ đoái là tên huyệt, huyệt này ở đầu chỗ ngón chân cái và ngón chân trỏ giáp nhau. Mạch của Dương minh khởi thủy từ đó. (4) Trên kía, vì cái khí của Thái dương ở trên cho nên nói: "phía trên Thiếu âm"; Dương minh ở vào khoảng hai khí dương, mà lại ở vào trung thổ, cho nên nói: "phía trước Thái âm"; Quyết âm ở vào nơi cùng cực của ầm, âm cực ở vào "lý", mà lại sinh ra dương ở "biểu", cho nên gọi là phần biêu của Quyết âm. Vì lấy trước, lấy trên, lấy biểu làm dương, mà như gọi là “trên”, là "trước", là "biểu” tức là nói về cái khí của ba kinh dương. Còn như: Chí âm, Lệ đoái, Khiếu âm... đều là kinh mạch của ba kinh dương. Mười hai kinh mạch thuộc về "thù" và "túc", chủ về cái khí của ba kinh âm, ba kinh dương. Đối với kinh mạch thì chia ra “Tam âm, Tam dương". Đối với khí ở trong mạch bật nồi lên thì gọi là "Nhất âm, Nhất dương". Quyết âm tức là Can, Thiếu dương tức là Đờm.
- Cái khí Âm Dương chia ra làm "Tam âm, Tam dương", cho nên mới có cái nghĩa "khai, hạp và khu" (tức lả tỷ như cửa có mở đóng) và cái "cối cửa" (tức là cái để cho cánh cửa xoay ra xoay vào). Thái dương (tức Bàng quang: bọng đái) là một địa vị Cự dương (khí dương lớn, nhiều), chuyên chứa dựng Dương khí, nên chủ về "khai": Dương mỉnh ở vào khoảng hai kinh dương, nên chủ về “hạp": Thiếu dương là một nơi khí mới bắt đầu phát ra, nên chủ vẻ “khu”, không có "khu" thì không lấy gì lập được, không có “hạp” thì không thể dung vào, không có “khai" thì không thể phát ra... Xem đó thì biết: dù có "ly" nhưng tất phải có "hợp. C Vậy nên, nếu bỏ khu thì không thể khai hạp, hoặc bỏ khai hạp thì còn gì là "chuyển khu". Nên về ba kinh đó không thể để cho tương thất. Nói về mạch, vì thuộc dương cần phải "phù", nhưng không thể quá phù. Dù có chia là Tam dương, nhưng cũng không thể vì sự "chia" đó mà thành ra thể khác, vì rút lại chỉ có "Nhất dương" mà thôi. Nói "Nhất dương", tức là nói mạch đều thuộc dương. Trở lên nói về sự "ly hợp" của ba kinh dương. CÔ Dương khí "xuất" để chủ về bên ngoài; Âm khí "thăng" mà chủ về bền trong. Đ Hai khí Âm Dương đều phát xuất từ dưới. Âm khí xuất mà ở bên trong, vì thế nền ở bên trong là ầm. Mà cái mạch đề phát xuất là Thái xưng lại ở dưới mà "xung" lên trên, nên gọi là Thái âm. Xung mạch là gốc của mười hai kinh, cho nên "Tam âm, Tam dương" đều lấy Xung mạch làm chủ, M Huyết Ấn bạch tại đầu ngón chân cái. Thái ầm là Chí âm ở trong âm.
- Huyệt Dũng tuyển (toàn) tại dưới lòng (gan) bàn chân. Thiếu âm là cái khí Nhất âm sơ sinh, cho nên gọi!là Thiếu âm ờ tron âm.
- Thiếu âm chủ về Thủy, Quyết âm chủ về Mộc. Mộc sinh Thủy. cho nên nói: "Thiếu âm ở về phía trước.
- Huyệt Đại đôn tại khớp Ngọc đường ở ngón chân cái tức là nơi phát sinh của túc Quyết âm Can kinh. Vẻ kinh này là một kinh tuyệt đương thuộc âm kinh, tuyệt đương tức là hét hăn không có dương, tức là thuần âm, "Tuyệt âm" tức hoản toàn thuộc âm. Nghĩa chữ "tuyệt” là hoàn toàn hết thảy.
- Thái âm là một nơi đầy nhiều khí âm. nên chủ khai; Quyết âm là một nơi "giao tận" (đều hết) của khí âm, nên chủ hạp. Thiếu âm là một nơi khi Nhất dương mới bắt đầu sinh ra, nên chủ về khu.
- Dương khí chủ về phù, nên nói "chớ quá phù"; Âm khí chủ về trầm, nên nói "chớ quá trầm". Bởi cái khí của ba kinh dương, khai hạp ở trong và ngoài hình thân con người, cái khí của ba kinh âm. khai hạp ở trước và sau trong nội bộ... Nên mới nói: "Dương ở ngoài, do sự sai khiến của âm ở trong; Âm ở trong, nhờ sự bảo vệ của dương ở ngoài. Sở dĩ gọi là "Nhất âm", là vì mạch đều thuộc âm vậy.
- Ẩm khí tích ở bên trong, Dương khí truyền ở bên ngoài. Bắt đầu từ lúc mặt trời mọc, Dương khí mới phát sinh; mặt trời đúng trưa thì Dương khí thịnh; xế chiều Dương khí bắt đầu suy, tới mặt trời lặn thì Dương khí trở vào với khí âm. Một ngày một đêm thành một chu (vòng). Âm khí mở đóng ở bên trong, Dương khi xuất nhập ở ngoải biểu. Nhờ sự ly hợp đó mà thành "kiếp sống" của con người.
- Am đương dù có ly hợp, nhưng tất phải cỏ sự đi lại không ngừng. Bắt đầu từ thủ Thái âm Phẻ, đến thủ Dương minh Dại trường, túc Dương minh Vị, túc Thái âm Tỳ, thủ Thái dương Tiểu trường. thủ Thiếu âm Tâm, túc Thái dương Bàng quang, túc Thiếu ãm Thận. Thủ Quyết âm Tâm bao lạc, thủ Thiếu dương Tam tiêu, túc Thiếu dương Đớm, túc Quyết âm Can... Như thể là đi hết một chu. Theo giờ cô, cứ hai khắc thì khí đi được một chu, 100 khắc thì 50 chu. Mạch khí dẫn ở trong, hình thể tỏ ờ ngoài, âm dương tuy có ly hợp mà thực là tương thành một cách rất tĩnh khéo. Vậy xem đó thì âm dương ở con người, rất hợp với âm dương của trời đất vậy.
Chương bảy · Âm Dương Biệt Luận
Kinh Văn
– Hoàng Đế hỏi:
– Người có bốn kinh, 12 từng là thế nào?
K Bá thưa:
- Bốn kính ứng với bến mùa:
mười hai tùng ứng 12 tháng: mười hai tháng ứng 12 mạch,
Mạch có âm dương khác nhau. Biết dương sẽ biết được âm, biết âm sẽ biết được đương?,
Phàm về dương gồm có cả năm. Năm lần năm sẽ có hai mươi nhăm phần dương.
Phàm gọi là âm, tức là chân Tàng. Nếu chân Tàng hiện sẽ bại; bại sẽ chết,
Phàm gọi là dương tức là dương của Vị quản,
Phân biệt được dương sẽ biết được bệnh ở đâu; phân biệt được âm sẽ biết được thời kỳ chết hay sống'.
Mạch của ba kinh dương ở đầu, mạch của ba kinh âm ở tay, nhưng cũng chỉ do có một,
Phân biệt được mạch về dương, sẽ biết được cái ngày ky của bệnh; phân biệt được mạch về âm sẽ biết được thời kỳ chết hay sống!,
Nhớ kỹ mạch về âm dương, không nên tin lời bàn bậy,
Phàm mạch gọi là âm dương:
nhân ở "khứ" là âm, “chí" là dương; tĩnh là âm, động là dương trì là âm, sác là dương?,
Phàm muốn nhận mạch của chân Tàng, nếu Can "chí" huyền tuyệt và "cấp", 18 ngày sẽ chết; Tâm "chí" huyền tuyệt, 9 ngày sẽ chết; Phế "chí" huyện tuyệt, 12 ngày sẽ chết; Thận “chí" huyền tuyệt, bảy ngày sẽ chết; Tỳ "chí" huyền tuyệt, bốn ngày sẽ chết,
Bệnh về Nhị dương, phát sinh bởi Tâm và Tỳ. Về con gái, do sự uất kết, khiến cho nguyệt sự không thấy rồi truyền thành chứng phong tiêu. Nếu lại truyền làm chứng tức bôn sẽ chết không chữa được, ra
Bệnh về Tam dương, phát ra chứng hàn nhiệt (rét nóng); ở bộ phận dưới thành chứng ung thũng, với "nuy, quyết, suyễn quyên,
Hoặc lại thêm chứng bì phu khô khan; hoặc chứng "đôi sán,:
Bệnh về Nhất dương thiểu khí (ít hơi) hay ho, hay tiết?,
Rồi truyền thành chứng tâm thống và thành chứng cách! Bệnh về Nhị dương Nhất âm, chủ về kính hãi, bối thống, hay ợ, hay vươn vai... gọi là chứng phong quyết, Bệnh về Nhị âm Nhất dương, hay trướng, tâm mãn, hay thở dài,
Bệnh về Tam dương, Tam âm gây nên chứng thiên khô, nùy dịch và tứ chỉ không cử động được?,
Án vào mạch, thấy bật lên "Nhất dương", gọi là câu; thấy bật lên "Nhất âm” gọi là mao; thấy dương mạch bật lên mà cấp, gọi là huyện; thây dương mạch bật lên mà như tuyệt. gọi là thạch; thấy âm dương hai mạch, có vẻ bình quân, gọi là lưu?,
Âm tranh giành ở bên trong, dương rắc rỗi ở bên ngoài; phách hãn không thâu tảng, tức nghịch sẽ nổi dậy; rồi hun lên Phế, gây nên suyễn minh,
Âm đó sinh ra, gốc có hòa mới là hòa”, Nếu cương gặp Cương, Dương khí sẽ bị phá tán; Âm khí cũng bị tiêu vòng??,
Cương nhu không hòa, kinh khí sẽ tuyệt,
Về loài từ âm. chăng qua ba ngày thì chết: về loài sinh dương, chăng qua bốn ngày thì chết,
Can truyền sang Tâm v.v... gọi là sinh dương: Tâm truyền Sang Phé gọi là tử âm,
Phế truyền sang Thận gọi là trùng âm; Thận truyền sang Tỳ gọi là tịch âm. Chết. Không chữa được.
Nếu kết về dương thì thũng ở tứ chỉ
Nếu kết về âm thi tiện huyệt ha:
thăng: tái kết thì hai thăng: tam kết thi ba thăng??.
Nếu kết ở khoảng âm dương khe nhau. nhiều về bên âm, ít về bên dương thì gọi là Thạch thủy, thũng ở Thiếu phúc. Hai dương kết gọi là Tiêu. la dương kết gọi là Cách, Ba âm kết gọi là Thủy. Một âm một dương kết gọi là Hầu tý.
Âm "bác" đương "biệt" là mạch có thai”; âm dương đêu hư sẽ - sinh chứng trường tiết mà chết, Dương xen vào âm sẽ thành chứng hãn”'”; âm "hư", đường "bác" sẽ thành chứng băng, Mạch ở Tam âm đều "bác", tới nửa đêm ngày thứ hai mươi,: ay sẽ chết, Mạch ở Nhị âm đều "bác”, tới lúc mặt trời lặn ngày thứ mười ba, sẽ chết?, Mạch ở Nhất âm đều "bác", tới ngảy thứ mười, sẽ chết, Mạch ở Tam dương đều "bác" và "cổ", tới ngày thứ ba sẽ chết, Mạch ở Tam âm, Tam dương đều "bác”, Tâm mãn (đây) âm dương ở phúc bộ phát ra hệt, như có sự uât kết... Tới ngày thử năm, sẽ chết, Mạch ở Nhị dương đều "bác", sẽ mắc bệnh "õn”, nguy; không quá 10 ngày, sẽ chết?,
Chú Giải
- "Dấn Kinh" là tượng mạch "chính" của bốn mùa, như: mạch mùa xuân thời huyền, mạch mùa hạ thời câu, mạch mùa thu thời mao, mạch mùa đồng thời thạch. Bốn thử kinh mạch đó để ứng theo với khí của bốn mùa. Mười hai "tùng" là chỉ về khí ba kinh dương, ba kinh âm của thủ và túc (tùng nghĩa là theo). Bất đầu từ thủ Thái âm thuận hành đến Quyết âm, để ứng với 12 tháng. Tỷ như: Thủ Thái âm ứng với tháng giêng, là tháng Dần; Thủ Dương minh ứng với tháng hai, là tháng Mão; Túc Dương minh ứng với tháng ba, là tháng Thân (Thìn); Túc Thái âm ứng với tháng tư, là tháng Ty: Thủ Thiếu âm ứng với tháng năm, là tháng Ngọ; Thủ Thái dương ửng với tháng sáu, là tháng Vị (Mùi); Túc Bảng quang ứng với tháng bảy, là tháng Thân; Túc Thiếu âm ứng với tháng tám, là tháng Dậu; Thủ Quyết âm Ứng với tháng chín, là tháng Tuất; Thủ Thiếu dương ứng với tháng mười, là tháng Hợi. Túc Thiếu dương ứng với tháng mười một, là tháng Tý; Túc Quyết âm ứng với tháng mười hai, là tháng Sửu. Mười hai mạch là kinh thạch của sáu Tảng sáu Phủ. Cái khí cúa ba kinh âm, ba kinh dương ứng với mười hai tháng; mười hai tháng lại ửng với mười hai mạch.
- Thiên này phân biệt âm dương đề biết sống chết nên gọi là: Ám đương biệt luận. Mười hai kinh mạch đo Tàng Phủ âm dương phối hợp. Cho nên biết đương có thể biết được âm, biết âm có thể biết được dương. Biết rõ được âm dương thì có thể biết được sống hay chết, #®) Tiết này lấy chân Tàng của Vị khí để phân biệt âm dương. Dương khí ở trong VỊ, tư dưỡng cho cả năm Tàng. Năm Tàng cùng sinh lẫn cho nhau, mà Tàng nào cũng có đủ cái khi của Tàng kia, nên mới nói: "năm lần năm, sẽ có hai mươi nhăm phần dương.
- Năm Tàng thuộc âm. Nghĩa chữ "tàng" tức là "tảng" (cật đấu), "thần Tàng ở đó mà không phát hiện ra bên ngoải. Sở dĩ không phát hiện ra bên ngoài là nhờ có cái khí dương hòa của Vị khí. Nếu Vị khí không có thì mạch của chân Tàng sẽ phát hiện, thế tức là Tàng khí bại, bại thì tất phải chết. Trên kia nói "hai mươi nhăm phần dương" tức là chì về cái Dương khí đo VỊ quản sinh ra. Vị quản ở vào bộ phận Trung tiêu, chuyên chủ về biến hóa cái tỉnh khi của thủy cốc đề tư dưỡng năm Tàng. Xét về mạch của bốn mùa thì: mùa xuân mạch huyện, mùa hạ mạch hồng, mùa thu mạch phù, mùa đông mạch trằm, mìa Trường hạ mạch hòa hoãn (tức là địu đảng, êm ái, tượng mạch của Thô). Xét về chính mạch của năm Tàng thì: Can mạch huyền, Tâm mạch hông, Tỳ mạch hoãn, Phế mạch sắc, Thận mạch trâm. Như Can mạch về mùa xuân hơi huyền mà trường, Tâm mạch hơi huyền mà hồng, Tỳ mạch hơi huyền mà hoãn, Phế mạch hơi huyền mà sắc, Thận hơi huyền mà trầm... Can mạch về mùa hạ thì hơi hông mà huyền, Tâm mạch hơi hồng mà đại, Tỳ mạch hơi hồng mà hoãn, Phê mạch hơi hồng mà sắc, Thận mạch hơi hồng mà trầm v.v... Bốn mùa, năm Tàng, lúc nào cũng có kiêm cả cái Vị khí hơi hòa... Như thể là hai mươi nhăm phân dương vậy. ®) Nếu phần biệt được cái khí dương hòa của Vị khí thì một khí thấy có vẻ không hòa, sẽ biết được ngay mắc bệnh ở đâu. Nếu phân biệt được cái âm mạch của chân Tàng thì sẽ biết: Nếu là Can mạch phát hiện, thời kỳ 1 ngày chết. Nếu là Tâm mạch phát hiện, thời kỳ chín ngày chết v.v... Tiết này nói chân Tàng là âm, Vị khí là dương, so với hai tiết trên dưới nói về. _ âm dương của kinh mạch khác nhau. Ở) Tiết này lại nói về âm dương của mười hai kinh mạch. Những mạch thuộc về ba kinh dương của thủ và túc: từ thủ chạy lên đầu, rồi lại từ đầu chạy tới túc, cho nên nói: "mạch ba kinh dương ở đầu". Mạch thuộc về ba kinh âm của thủ và túc, từ túc chạy lên phúc (bụng), rôi lại từ phúc chạy ra thủ. Cho nên nói "mạch là kinh âm ở tay". Mười hai kinh mạch dù có thủ túc âm dương khác nhau, nhưng đều do "một" gốc mà xuất đi cả, Mạch của thủ Thái âm Phế, giao với thủ Dương minh Đại trường; Đại trường giao với túc Dương minh vị; Vị với túc Thái âm Tỳ; Tỳ giao với thủ Thiếu âm Tâm; Tâm giao với thù Thái dương Tiêu trường; Tiêu trường giao với túc Thái dương Bảng quang; Bàng quang giao với túc Thiếu âm Thận; Thận giao với Thủ Quyết âm Tâm bao lạc; Bao lạc giao với thủ Thiếu dương Tam tiêu; Tam tiêu giao với túc Thiếu dương Đởm; Đởm giao túc Quyết âm Can; Can lại giao với thủ Thái âm Phé... Vị vậy nên gọi là "một" (nhất quán. f "Phân biệt được mạch về dương" - "mạch” tức là mạch chứng; "dương tức là sự phát bệnh do "Nhất dương, Nhị dương, Tam dương" và "Dương kết - "Phân biệt được mạch về âm" v.v... "mạch" cũng tức là mạch chứng; "âm tức là "Nhất âm, Nhị âm, Tam âm". Nếu phân biệt mạch dương, sẽ biết được sự "ky" của chứng đỏ; còn về âm, thì có thê định đoạt được sống hay chết. _. ®) Câu nảy khuyên học giả nên ghi nhớ cân thận, không nên nói bậy tin cản. (9) khứ" là luồng mạch từ bộ vị dẫn đi; "chí" cũng như "lai" là lưồng mạch từ trong cánh tay hiện ra nơi bộ vị. Phàm Tàng thuộc dương, Phủ thuộc âm. Âm dương ở những kinh thủ túc, tức là 12 kinh mạch của sáu
- sáu Phủ. Vậy phải nhận ở các mạch tượng "lai, khứ, động, tĩnh, trì, sác" đề phân biệt âm dương.
- Tiết này, phần biệt âm dương thuộc chân Tàng vị quản.
- tuyệt” nghĩa là trơ trọi không còn một chút VỊ khí dương hỏa nào.
- là gấp. là quá... Đây nói về mạch của Can. Nếu đã huyền tuyệt, mà lại còn "cấp" (căng như dây cung giương thăng) thì tất phải chết nhưng còn qua được L ngày. Những dự đoán về ngày chết trên đây, đều tính theo sự "tương khắc” mà nói, Như Can mạch đã hiện cải trạng thái huyền tuyệt... Can thuộc Mộc, bắt đầu tính từ ngảy Giáp Ất đếm đến ngày Canh Tân nữa là tám ngảy, lại đếm đến ngày Canh Tân nữa là 10 ngày, cộng lại thành 1 ngày sẽ chết (vì Kim khắc Mộc), (Lại tỷ như ngày Giáp Tý đến ngày Tân Ty cũng là! ngày. Tâm mạch đã hiện cái trạng thái huyển tuyệt, Tâm thuộc Hỏa, đếm từ ngày Bính Dinh trở đi, đến ngày Nhâm Quý là tám ngày, tất phải chết (trèn đây nói chín ngày, cũng chỉ ở vào lúc ngày thứ tám với ngày thứ chín, giao tiếp với nhau thôi. Phế mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt, Phế thuộc Kim, từ ngày Canh Tân mà đếm trở đi, đến ngày thứ tám là ngày Bính Đinh; lại đếm đến một ngày Bính Đình nữa, cộng là 1 ngày tất phải chết (trên đây nói 12 ngày, là từ ngày Canh Tân đếm trở đĩ; đó lại là Canh Tân gặp Canh Tân vậy. Thận mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyết, Thận thuộc Thủy, từ ngày Nhâm Quý đếm trở đi, đến ngày Mậu Kỷ là bảy ngày, tất phải chết. Tỳ mạch đã hiện cái trạng thái huyền tuyệt; Tỳ thuộc Thổ, từ ngày Mậu Kỷ đêm trở đi, đến ngày Giáp Át là tắm ngày tắt phải chết (trên đây nói bốn ngày, là trừ bỏ ngày Mậu Kỷ mà chỉ tính đến ngày Giáp. Vẻ doạn dự đoán những ngày chết trên đây, cũng chỉ là nói về cái lý và đại khái, ta không nên nhất thiết lẫy làm định luật; vì âm dương, Tàng Phú, biển hóa vô cùng, thường khí ở trong tương khặc mà lại có tương sinh, thì đáng lẽ chết mà lại không chết... Gặp trường hợp đó ta cần phải xét cả toàn điện mới được.
- Nhị dương tức là túc Dương minh Vị kinh. Vị là một cơ quan sương lãm (kho đụn), nhiệm vụ của nó lả thâu nạp thủy cốc (thức ăn). Giờ lại không thâu nạp được là vì sao? Chính là bởi tâm Tỳ gây nên. Đơn cứ như con gái do sự uất kết ở Tâm, Tâm không sinh được huyết, huyết không nuôi được Tỳ. Thoạt tiên, VỊ còn thâu nạp. nhưng Tỳ không giúp VỊ để thi hành cái công năng vận hóa... Dân dân cả Vị cũng không thâu nạp được nữa. Do đó, mới biết rõ được Vị bệnh là Tâm, Tỳ gây nên. Lại đo đó, thủy cốc suy ít, không có gì đề biến hóa ra cái khí tỉnh vi, huyết mạch bởi đó mà khỏ. kinh thủy bởi đó mà không thây. Huyết đã khô, khí đã uất, "nhiệt" sẽ sinh ra. Nhiệt cực thì phong sinh, cơ nhục do đó mà tiêu thước, nên mới gọi là "phong tiêu”. Lại do đó, Hỏa phạm lên Phê kim, gây nên chứng thờ gấp, thượng bồn - “Tức” là hơi thở, "bôn” là khí nghịch lên, mỗi lần thờ phải sơ cả vai lên... Tóm lại: Tâm chủ huyệt, Phế chủ khí, Tỳ là gốc của năm Tàng, Vị là biển của sáu Phú... Bao các cơ quan đỏ đồng thời mắc bệnh, phỏng còn sống sao được? Nên mới nói quyết là "chết không chữa được.
- Tam dương tức là túc Thái dương Bàng quang kính. Khí của Thái dương chủ về bộ phận biểu. Khi tà khí phạm vào con người, bắt đầu phạm vào bì mao, "tà" với "chính" hai bên xung đột nhau, gây nên chứng hàn nhiệt (sốt, rét, sốt nóng). Thái dương là một cơ quan chủ vê "khai", khi đã mắc bệnh, thì không còn cái năng lực "khai" nữa, do đó, tà khí lọt vào, tụ ở nhục lý (các thớ thịt), mới gây nên chứng ung thũng (mụn, sưng), Thái dương chủ về khí và cân, Thái dương mắc bệnh, nên cân bị thương, do đó thành chứng nuy (gân rã rời, lỏng lẻo, không cừ động được), Vì khí cũng mắc bệnh, nên lại thành chứng quyết (chân tay giá lạnh) và "xuyên quyên”, tức là đau nhức ở trong gân mạch thuộc bộ phận dưới. Thái dương vốn chủ về biêu phận, nhưng kinh mạch lại phát sinh tự bộ phận dưới, nên khi mắc bệnh thì sinh chứng hàn nhiệt, dần dân về sau lại tiếp diễn thêm những chứng trạng ở trên.
- Vi bị nhiệt nhiều, khiến tình huyết hao tán, nên da đẻ mới thành ra khô khan. "Đôi sán" là một chứng đau nhức ở quả Thận, có khi đau rút lên cả tiêu phúc (phía dưới rỗn. tức bụng dưới) có khi quả Thận sưng to lên, rất đau. Chứng này cũng bởi "cần bị thương” mà sinh ra.
- Nhất dương tức là túc Thiếu dương Đờm kỉnh. Thiếu dương chủ vẻ cải khí sơ sinh. Nếu mắc bệnh sẽ thành chứng thiểu khí (hơi thở ngắn như ít; hoặc hơi cừ động đã mệt. thở gấp ngay); Thiếu dương vốn có tướng hỏa, vì khí "thiểu" nên hỏa "thịnh", rỗi thìa thể phạm lên Phế kim, nên mới hay ho. Nhân dịp đó, cái tà của phong mộc lại phạm tới trung thỏ, nên mới hay tiết (tức đi ngoài nát phân, tựa đi tả, đi tháo.
- Con người sau khi uống ăn, thủy cốc vào Vị, tinh khí lên tâm thành huyết. Giờ Tỳ đã bị thương, vị không nạp được thủy cốc, Tâm không có tư đưỡng, bị hư, nền thành chứng đau tim (tâm thống). "Cách" tức là chứng ăn vào không chịu lại thô ra. Gây nên chứng nảy cũng bởi Trung thổ bị khắc, ú? Nhị dương Nhất âm tức là Vị với Can. Can thuộc Đông phương phong mộc, nên phát bệnh thành chứng kính hãi (hoảng sợ); mạch của túc Dương mỉnh mắc bệnh, nghe tiếng động chạm thì giật mình e ngại. "Bói (lưng, khắp cả lưng chứ không riêng đường xương sống) thuộc dương. Quyết âm chủ về xuân đương Can mộc, cho nên mắc bệnh thì bối thống: Tà khí.phạm vào VỊ, khí dẫn ngược lên để tan đi, nên hay ợ; Vươn vai cũng do - Vị khí bị nghẽn lên, muốn vươn cho để chịu. Hợp tất cả bốn chứng trên đây, nguyên nhân đều do phong mộc mắc bệnh, phạm tới vị thể, nên mệnh đanh là phong quyết.
- Nhị âm là Thiếu âm Thận kinh, Nhất dương là Thiếu dương Đởm kinh, Đởm tả hữu dư, xâm phạm vào Tỷ thổ nên hay trướng (bụng phòng vượt lên), Thận tà hữu đư xâm phạm lên Tâm hỏa, nên Tâm mãn (đầy); Tâm hệ bị co rút, thì khí đạo hẹp lại, nên phải thở dài cho tiết bỏ khí ra. Nguyên Hán văn câu này dùng chữ "thiện khí". Theo chú giải của Mã Nguyên Đài thì thiện khí là hay "tức hơi", đó là do "Đớm khí hữu đư" mà gây nên. É Tam dương là túc Thái dương Bảng quang, Tam âm là túc Thái âm Tỷ. Mạch của Bàng quang từ đầu lưng dẫn xuống chân, mạch của Tỳ chủ về tứ chỉ (hai tay, hai chân). Vì hai kinh đó mắc bệnh nên phát thành các chứng trạng trên. Thiên khô: Khô đét một nửa người. - Nuy địch: Tay chân rã rời, lúc ở bên tả, lúc ở bên hữu, hằng biến dịch luôn. Tử chỉ bất cử: Tay chân không cử động được. Tiết này nói vẻ bệnh gây nên từ Thủy Phủ rồi phạm lên Tỳ Thổ.
- Tiết này nói vẻ mạch thể của năm Tàng. Nhất dương là vi dương: "bật lên" tức là luồng mạch bật lên đầu ngón tay của người án mạch. "Câu, hỉnh dung từ tả cái trạng thái của luồng mạch lúc lại đầy đủ, lúc đi ngoằn ngoèo và chậm... đó là mạch của Tâm. Nhát âm là ví âm. "Mao" hình dung từ, trạng thái của luồng mạch nhẹ nhàng như cái lông, đó là mạch của Phế. Dương mạch bật lên, có vẻ căng thăng nhưng không thăng quá, gọi là Huyền. "Huyền" hình dung từ trạng thái của mạch như dây cung lúc dương. Đó là mạch của Can. Dương mạch bật lên, mà lúc chìm xuống coi như tuyệt, gọi là Thạch. "Thạch": hình dung từ, tả trạng thái của mạch chìm xuống và rắn như đá. Đó là mạch của Thận.
- hình dung từ, tả trạng thái của mạch hòa hoãn như dòng nước chảy. Đó là mạch của Tỳ.
- Tiết này nói về hai khí Doanh Vệ (cũng là âm dương, là huyết khí) cốt ở điều hòa, không nên thiên thắng. Hỏa thì khí Âm Dương sẽ sinh ra, thiên thắng thì khí Âm Dương sẽ giảm đi, kinh khí đo đó mà tuyệt. Kinh mạch, Tàng Phủ ở trong con người cùng giao thông tuần hoàn lẫn nhau, không lúc nào dứt. Âm ở bên trong để giữ gìn cho dương, đương ở bên ngoài để bảo vệ cho âm. Nếu Âm khí thiên thắng, không được Dương khí để điêu hòa, thì âm sẽ tranh giành ở bên trong; nếu Dương khí thiên thắng không được Âm khí để điều hòa, thì Dương khí sẽ rắc rỗi ở bên ngoài. Cao Sĩ Tông nói: Ở đây nói, nếu hai khí Âm Dương không hòa, thì sẽ sinh ra bệnh dương kết, âm kết. Còn như cương với cương gặp nhau, thì lại là dương truyền cho dương, âm truyền cho âm... Tức là một "tử hậu (chứng chết) do âm dương tương tuyệt vậy. có 2?) Đây nói: Âm phải liên lạc với dương. Vì thể nên âm dịch không nên để cho tiết ra ngoài. Hãn là một chất lỏng do huyết sinh ra. "Phách hăn” tức là hãn đo Phế tiết ra (vì Phế Tàng phách nên gọi hãn của Phế là phách hãn. Kinh phí dẫn lên Phế. Phế là nơi tỗng hội của trăm mạch, chuyển Du tỉnh chấp ra bì mao, hãn ra khỏi bì mao, mà tinh huyết vẫn còn Tàng ở âm, Nếu phách hãn không thâu tàng được, đó lả hãn bị cưỡng ra, tinh huyết sẽ do đỏ mà bị thương. Phế chủ về việc dẫn hành đoanh vệ âm dương. Nếu âm địch của Phế Tàng bị tiết ra ngoài tức thời sinh ra táo nhiệt, nhiệt cực hàn sinh, tử chỉ sẽ do đó mà quyết nghịch, nhiệt hun ở Phế, nên thành ra chứng suyễn minh (thở gấp và hơi thở kêu khò khè. Đây nói: Dương có hòa với âm, mới đáng gọi là hòa. Ngoại mạch là dương, Phủ mạch là dương, nhưng đều do năm Tảng năm hành mà sinh ra nên mới nói là "âm đỏ sinh ra.
- Cương áp cương là dương không hòa với âm. Dương không hỏa với âm, thì Dương khí bị phá tán, mà cô âm (âm trơ trọi có một mình) cũng bị tiền vong. Cương (tức dương) với nhu (tức âm) không hòa, thì kinh khí sẽ tuyệt. Kinh khí tuyệt, chỉ trong vòng ba, bốn ngảy sẽ chết.
- Năm Tàng do sự tương khắc mà truyền lẫn nhau gọi là tử âm, do sự tương sinh mà truyền lẫn nhau gọi là sinh dương.
- Can truyền Tâm, Tâm truyền Tỳ, Tỳ truyền Phế, Phế truyền Thận, đều gọi là sinh dương.
- Tâm truyền Phế, Phé truyền Can, Can truyền Tỷ, Tỳ truyền Thận, Thận truyền Tâm đều gọi là tử âm.
- Do sự tương sinh của Dương tảng mà truyền, cho nên chăng qua bốn ngày là số chẵn thời chết; do sự tương khắc của Âm tàng mà truyền, cho nên chăng qua ba ngày là số lẻ thời chết.
- Cạn mạch truyền Phé, Phế truyền Đại trường, Đại trường truyền Vị, Vị truyền Tỳ, Tỳ truyền Tâm, Tâm truyền Tiểu trường, Tiểu trường truyền Bảng quang, Bảng quang truyền Thận tâm Bao lạc, Bao lạc truyền Tam tiêu, Tam tiêu truyền Đởm, Đởm truyền Can... Một Tàng, một Phủ, một thư (giống cái), một hùng (giống đực), âm dương cùng xen nhau như cái vòng tròn không chỗ đứt. Đến nhĩ Can truyền Tâm, Tâm truyền Phế, Phế truyền Thận, Thận truyền Tỳ... Đó đều là kinh khí đã tuyệt, không sao chữa được.
- Phé truyền Thận, cũng là một loại sinh dương. Nhân Phé Thận đều thuộc về tấn Tàng (giống cái), âm lại truyền âm, nên gọi là "trùng âm. Thận là thủy Tàng, mà lại truyền sang cái Tàng không thắng được là Tỳ Phế, nên gọi là "Tích âm". Đều là chứng chết, không chữa được. Đây nói về cái khí Âm Dương không hòa, tự kết mà gây nên bệnh. Tứ chi là gốc của mọi khí dương, Khí theo về hình, vì khí kết nên hình thũng (sưng). Câu này là tóm cả ba kinh dương mà nói.
- Ấm khí kết ở bên trong mà không lưu hành được, thời huyết sẽ những tụ mà tiết trở xuống. Một âm kết, tiện huyết một thăng (tiến, nôm gọi là thưng, mỗi thưng bằng chía năm một phân lít). Hai âm đều kết, tiện huyết hai thăng: ba âm đều kết, tiện huyết ba thăng... Đây là khái quát của Tam âm mà nói.
- Biện mạch thiên nói: "Mạch có dương kết, âm kết, lấy pì để phần biệt? Đáp rằng: Mạch phù mà sác, ăn được mà không đại tiện, gọi là Dương kết; mạch Trằm mà Trì, không ăn được, thân thể nặng nề, đại tiện lại rắn, gọi là âm kết". Xem đó thời biết: Muốn phân biệt âm Dương khí kết, nên xét ở "khứ, chí, phù, trầm, trì, sác" của mạch, đề nhận rõ là âm hay dương. Thũng ở tứ chỉ, biết là Tam dương đều kết; tiện huyết ba thăng, biết là Tam âm đều kết. Thấy hiện ra chứng "tiêu", biết là kết tại Nhị dương sẽ lấy phương pháp của Nhị dương để chữa; thấy hiện ra chứng "cách", biết là kết tại Tam dương, nên lấy phương pháp của Tam dương đề chữa.
- Về thân thể con người, bên ngoài là dương, bên trong là âm: Vị là dương, Thận là âm. Chứng xưng này nó lọt vào bên trong thân hình, bên ngoài Tảng, Phủ và ở vào chỗ trống rỗng của Vị với Thận cách nhau. Thạch thủy tức là Thận thủy. Thận là cửa ngỗ của vị. Cửa ngõ không thông lợn, nên tụ lại ở đó mà thành bệnh. Chứng này, lệch nhiều về bên Thận Tàng, cho nên mới là nhiều âm ít đương và thũng ở Thiếu phúc.
- Nhị dương tức là Dương mỉnh Vị khí. Tiêu là một chứng "khát, uống vào bao nhiêu cũng hết. Bởi vì Dương minh khí kết, nên cái chất tân dịch của thủy cốc không sinh ra được, mới gây nên chứng tiều khát. (Về chứng này có rất nhiều nguyên nhân, sẽ giải rõ thêm ở dưới.
- Tam dương tức là Thái dương Bàng quang. Thái dương là một cơ quan chù hóa sinh ra khí. Mà khí đó pốc từ Bảng quang, đo "nội cách” mà truyền ra "hung hiếp", lại do hung hiếp mà đạt ra phu biểu. Nếu Dương khí kết thời Cách khí không thông. Phía trước nội cách, nhằm vảo chỗ "bí môn của Vị quản. Vì cách khí nghịch lên, nên sự ăn uống cũng bị nghẽn tắc không thông, nên gọi là bệnh "cách.
- Tam âm Tứ: là túc Thái âm Tỳ. Tỳ là một cơ quan chuyên vận. Vì Tỳ khí kết, nên những chất nước vào Vị không bố tán ra được, thành chứng Thủy nghịch.
- hái âm, Nhất dương tức là Quyết âm với Thiếu dương. Thiếu âm phong mộc chủ về khí, mà nhờ được sức hỏa hóa của Thiếu dương. Phong với hỏa, hai khí kết lại, thì Kim khí sẽ bị thương, vì thế nên gây chứng Hầu tý (hầu là cuống họng; tý là đau hoặc vít, nghẽn), tức là chứng đau trong cuống họng. Phụ án: Về chứng "Tiêu", ở đây chỉ nói Hai dương kết, gọi là "Tiều. Nhưng ở thiên Mạch yếu tỉnh vi luận lại có nói: "Do chứng đau thành ra Tiêu trung, Thiên K) bệnh luận nói:... Chuyên thành chứng tiêu khát v.v... Tà Khí bệnh hình thiên ở Hư khứ có nói: "... Tiêu, đan..., Thiên khí quyết luận lại có nói các chứng "phế tiêu, cách tiêu..." khác nhau. Đem mẫy thuyết trên đây, hợp với thuyết "Tam tiêu" của đời sau, thì biết năm Tàng đều có chứng Tiêu đản. Như: Về thượng tiêu, thì một tên gọi là Cao tiêu, một tên gọi là Cách tiêu. Bệnh cơ nói: Thượng tiêu tức là Phế. Uống nước nhiều mà ăn ít, đại tiện như thường mà tiêu tiện trong và lợi. Đó là táo ở thượng tiêu. Về phép liệu trị nên thắm thấp và nhuận táo. Lại nói: Về chứng Cao tiêu, lưỡi đỏ và nứt, khát quá, đòi uỗng nước luôn. Lưu Hà Gian nói: "Uống nước nhiễu mà tiểu tiện nhiễu, gọi là tiêu __ khát". Đó là chỉ về chứng ở Thượng tiêu mà nói, Trần Võ Trạch nói: "Bệnh tiêu khát thuộc về Tâm, cho nên Tâm phiên, khiến Tâm hỏa tản mạn, khát muốn uống nước, các bộ mạch đều "nhuyễn, tán, hoàn toàn là một chứng khí thực huyết hư...". Đó cũng là nói về thượng tiêu. Nay xét, thiên Khí quyết luận ở Tố vấn nói: "Tâm đi nhiệt lên Phế, gây thành chứng cách tiêu. Thiên Tả khí bệnh hình ở Linh khu nói: "Tâm mạch vì tiểu, là chứng tiêu đản..." và ",.. Phế mạch vi tiểu là chứng tiêu đản..." xem đó thì bệnh đó chính là do khí ở thượng tiêu vả kiêm cả Tâm, Phế chứ không riêng gì một Phế. Đồng Viên nói: "Về bệnh Cách tiêu, dùng bài bạch hổ, nhân sâm thang đề điều trị. Về chứng Trung tiêu, có khi lại gọi là Tiêu trung hoặc nội tiêu. Bệnh Cơ nói: "Bệnh Tiêu trung thuộc về Vị khát mà uống ăn đều nhiều, tiêu tiện đó hoặc vàng. Vì nhiệt gây nền tiêu khát, nên biết là bệnh tại Trung tiêu. Nên dùng thuốc hạ (tức là cho tháo ra đẳng đại tiện. Trần Vô Trạch nói: Tiêu trung là một chứng Tỳ đản. Nhiệt quá nhiều nên thành Tiêu trung. Sách Tự chân phương nói: Chứng nội tiêu do nhiệt quá ở bên trong mà gây nên. Tiêu tiện nhiều hơn lượng nước uống vào, uống vào một phản, tiểu ra hai phần - mà lại không khát. Vì hư quá nên hơi thở ngắn. Lưu Hà Gian nói: Uống ăn nhiều mà không khát lắm; hoặc tiểu tiện đi vặt luôn mà thân thể hao mòn gầy còm, gọi là Tiêu trung. Đông Viên nói: Bệnh Trung tiêu, bệnh nhân ãn ngon và nhiều, mà lại gầy mòn, tự hãn, đại tiện rắn, tiêu tiện đi vặt luôn. Vương Thúc Hòa nói: Miệng khô ráo, uống nước nhiều, ăn nhiều mà vẫn đói, đó tức là chứng Tiêu trung. Dùng bài Điều vị thừa khí thang hoặc An hoàng hoàn để điều trị. Nay xét, thiên Mạch yếu tỉnh vi luận ở Tổ vấn: “Đề hỏi: Chân dược vị mạch, như thế nào? Kỳ Bá nói: Mạch thực thì trướng, hư thời tiết. Đề hỏi: Bệnh đã thành, rồi lại biến ra thế nào? Kỳ Bá nói: Bệnh đã thành, sẽ biến thành chứng Tiêu trung. Lại xét thiên Thông bình hư thực luận: "Kỳ Bá nói: Phàm trị chứng tiêu đản, thiên khô, nuy quyết, khí mãn phát nghịch... Phần nhiều là tật bởi ăn nhiều chất cao lương. Lại xét thiên Phúc trung luận: "Hoàng Đề hỏi: Phụ Từ thường nói chứng Nhiệt trung, Tiêu trung không nên ăn những chất cao lương và uỗng các thứ phương thào, thạch được, sẽ phát điền, phát cuồng. Nghĩ như, mắc chứng Nhiệt trung, Tiêu trung phần nhiều là hạng người phú quý. Giờ cấm họ không cho ăn uống những thứ ấy, làm sao vừa lòng họ và bệnh khỏi sao được?.
- Bá đáp: Cái khí chất của phương thảo thạch được phần nhiêu mạnh tợn. Vì mạnh tợn nên khí của nó cấp bách, không phải những hạng người tâm tình hòa hoãn có thể uống được. Về bệnh khí đã mạnh tợn, mà lại uống thứ thuốc mạnh tợn, hai đăng pặp nhau sẽ cùng xung đột. Nếu xung đột sẽ làm thương Tỳ. Tỳ thuộc Thổ mà ghét Mộc... Uống nước ấy vào, đến ngày Giáp Ất, sẽ khó toàn... Lại trong thiên Kỳ bệnh luận: "Hoàng Đề hỏi: Có người mắc bệnh, trong miệng cứ thấy có vị ngọt, là vì sao? Kỳ Bá nói: Đó là do năm khí ràn lên, gọi là Tỳ đản. Nguyên nhân do năm vị ăn vào miệng, chứa ở VỊ, Tỳ giúp việc chuyên Du bao tinh khí tân dịch đều ở Tỳ, nên khiến miệng ngọt. Bệnh đó do các thức ăn ngon béo gây nên. Bệnh nhân tất là người chuộng ăn các thức ngọt và béo. Chất béo gây nên "nội nhiệt", chất ngọt gây nên "trung mãn". Cho nên khí ấy ràn lên, biến thành tiêu khát, Xem đó thì như ở thiên này nói "Nhị dương kết gọi là tiêu”, chính là trỏ về Trung tiêu. Và cũng tức là bệnh thuộc Tỳ, VỊ. Về Hạ tiêu, một tên là tiêu Thận, lại một tên là Thận tiêu, lại một tên nữa là Cường trung. Bệnh cơ nói: "Bệnh tiêu Thận, khi mới phát là chứng cao lâm tiểu tiện nhỏ giọt, mước tiêu như chất dầu mỡ. Khi bệnh đã thực hiện, sắc mặt sạm đen, thân thể pầy còm, hai tai khô đét, nước tiểu đục và có lẫn chất mỡ, Về phương pháp liệu trị nên dưỡng huyết, và làm cho chia Sự trong đục, dần sẽ khôi. Trần Võ Trạch nói; "Bệnh tiêu Thận, thuộc về Thận. Nguyên nhân do thời kỷ tuổi trẻ, chơi bời quá độ; đến khi đứng tuổi, dùng nhiều các thứ thuốc có chất kim thạch, khiến cho chân khí bị suy tán. Gây nên chứng miệng khát, tỉnh dịch tự tiết ra, không uống nước mà tiểu tiện nhiều.... Lưu Hà Gian nói: "Uống nước luôn miệng, bắp đùi gầy mòn, mà tiểu tiện có lẫn chất mỡ, gọi là Thận tiêu, Lý Đông Viên nói: "Chứng Hạ tiêu, phiền khát, đòi uống nước, vành tai khô đét, tiểu tiện ra như mỡ..., Vương Thúc Hòa nói: "Bực đọc, uống nước, khát luôn... Đó là chứng Thận tiêu nên cho uống bài Lực vị, Địa hoàng hoàn. Tụ Chãn Phương nói: “Cường trung là một chứng dương hành cứng lớn, không giao cầu mà tinh khí tự tiết ra.... Lại nói: “Thận thực, thì tiêu mà không khát, tiểu tiện tư lợi, gọi là Thận tiểu, tức cũng là nội tiêu. Về phương pháp liệu trị nên nén Tâm hỏa và tư đưỡng Thận Thủy. Lại xét Linh khu kinh có nói: "Thận mạch vi, tiểu là chứng tiêu đản... và "Can mạch vi, tiểu là chứng tiêu đản..." thì biết Thận với Can đều có chứng tiêu đàn. Và đó chính cũng gọi là chứng Hạ tiêu. Lại xét Tụ Chân Phương nói: "Con người có Thận, cũng như mạch có gốc. Cho nên nếu Thận mắc bệnh, thì trước phải hình dung tiêu tụy, đù có sự tư dưỡng, cũng không sao được bóng nhoáng, cho nên hễ mắc chứng tiêu khát đều đo Thận kinh mắc bệnh, Nguyên nhân đêu do lúc thiếu trắng không tự bảo dưỡng. tỉnh đục quá độ, ăn uống không chừng, lại uống các thứ đan thạch... khiến cho Thận Thủy khô kiệt, Tâm hỏa bốc nóng, Tam tiểu khô đét, nằm Tảng ráo kiệt, do đó sinh ra chứng khát vả lợi...". Đó là nói Tam tiêu đều gốc ở Thận. Thánh Tế Tổng lục lại nói: “Nếu chữa truyền thành chứng "Năng thực (ăn ngon và nhiêu), tất phát ra chứng Não thư (mụn ở đầu óc), bối thương (mụn ở lưng); nêu không truyền chứng “năng thực" thì sẽ truyền thành chứng Trung mãn, cô trướng... đều là chứng khó chữa. Khiết Cô lão nhân chia ra để chữa:
- Năng thực mà khát, cho uống bài Bạch hồ gia Nhân sâm thang.
- Không năng thực mà khát, cho uỗng bài Bạch truật tắn bội gia cái căn. Trở lên là nói vẻ một chứng "tiêu", mà đầu mối phức tạp như vậy, y già nên tĩnh tế lắm mới được.
- "Bác" là hình dung luồng mạch bật mạnh lên tay; "biệt" là biệt lập, khác hăn: "Âm bác" là nói mạch ở Xích bộ (thuộc âm) bật mạnh lên tay; "Dương biệt" là nói mạch ở Thốn khẩu khác hăn, như mạch ở một tay người khác, không còn liên lạc gì với nhau. Chẩn thấy mạch như vậy, chủ về có thai.
- Âm dương ở câu nảy là nói về mạch ở Xích bộ và Thón bộ. Ở con người, phàm vinh, vệ, khí, huyết, đều do cái khí của thủy cốc mà gầy nên. Vị là một cơ quan thụ nạp. Trường (ruột) là một cơ quan truyền đạo. Tới khi âm dương đã đều hư, mà lại giảm mất cái pốc của sự tư sinh (giúp sống, tức thủy cốc), cho nên khó lòng sống được. Nên nói mặc chứng trường tiết (đại tiện nát hoặc tháo) sẽ chết.
- Hãn là âm dịch (một chất lỏng thuộc âm) nhờ sự tuyên phát của Dương khí, mới có thể thắm nhuần ra khắp da lông. Nếu mạch vẻ Dương bộ (thón) động sác, lại "xen" vào Xích bộ (âm), sẽ thành ra hăn. Vậy nên biết: hăn là do Dương khí xen vào âm dịch, mà mạch cũng thành dương mạch xen vào ãm bộ vậy.
- "găng", tức là băng huyết, huyết từ trong chảy tháo ra. Sở dĩ gây nên chứng này là do dương thịnh âm hư, dồn huyết đi càn, mà gây nẻn.
- Thuộc về chứng huyết băng của đàn bả, huyết đó do bào lạc cung mà ra, huyết hạ hành đã lâu, khiến đường đi như đã thuộc; huyết ở bản cung thiếu ít, khiến tất cả huyết ở 12 kinh đều theo một đường lỗi ấy mà tiết lậu ra. Nhưng Bào lạc cung lại "hệ” vào Thận, mà bên trên thì thông với Tâm. Cho nên chứng này dối với hai kinh Tâm, Thận rất cỏ quan hệ, vậy nên mới hiện ra cát mạch trạng "âm hư dương bạc”. Thiên Xuy luận nói rằng: Bí aI quả độ thì bảo lạc tuyệt; Bảo lạc tuyệt thì Dương khí sẽ động ở bên trong, khi phát thì thành chứng băng. Trong sách Trị liệu lục của Lý Đông Viên, dùng các thứ thuốc dẫn kinh của 12 kinh, khiến cho huyết lại trở về 12 kinh. Rồi sau mới dùng thứ thuốc có sắc đen để chỉ huyết. Nếu dùng thuốc có sắc đen ngay mà không trước dùng thuốc dẫn kinh, thì bệnh sẽ khó khói.
- Tam âm tức là Thái âm. Thuộc về hai bộ của Tỳ và Phế, đều bật mạnh lên tay, không có khí dương hòa. "Hai" là hàng đứng đầu của số "chăn": "Mười" là hàng sỐ cuối cùng của âm, nửa đêm là thời kỳ âm vừa hết, mà khí Nhất dương sắp sinh. Thái âm là Chí âm. Nhân cái khí "chí âm mà tuyệt không có chút "sinh dương" nào, tất là chết, chết về thời kỳ âm cực. Đồng Duy Viên nói: "Âm kết, dương kết", là một danh từ chỉ định về khí Âm Dương bị kết.
- Nhị âm tức là Thiếu âm. Mạch ở Nhị âm đều "bác", tức là mạch thuộc hai bộ Tâm, Thận đều bật mạnh lên tay. Thiếu âm chủ về thủy hỏa, thuộc hai khí Âm Dương. Thiên đo số một sinh ra hành Thủy, địa do số sáu hợp thành; địa do số hai sinh ra hành Hỏa, thiên do số bẫy hợp thành. Ngày thứ mười ba, là cuối cùng của số “thành”; mặt trời lặn là cuối cùng của một ngày. Do Âm tàng của thủy hỏa nên chết về số "thành" và cuối cùng của ngày.
- Nhất âm tức là Quyết âm. Mạch của hai bộ Can và Tâm đều bật lên. Ngày thứ mười là cuỗi cùng của âm số. Quyết âm là nơi cuối cùng của khí âm. Chết về ngày đó là do cái khí cuối cùng và cái ngày cuối cùng của âm số vậy. - 2 Tam dương tức là Thái dương. "Cả" là cổ động, mạch vừa bật lên mà lại có vẻ cô động mạnh. Dó là cái triệu chứng dương cực mà không còn một chút gì là âm hòa. Thái dương với Thiếu âm cùng làm biểu, lý và đều chủ về khí thủy hỏa. Thiên do số một sinh ra hành Thủy, địa do số hai sinh ra hành Hỏa. Đó là cái "đương Phủ" thủy hỏa, cho nên chết về cái số "sinh của thiên địa. Ta lại nên nhận rằng: Thiên chủ về "sinh”, địa chủ về "thành, cho nên bệnh ở Thái dương thì chết về "sinh số", mà bệnh ở Thái âm thì chết vẻ "thành số, ở? Tam âm, Tam dương là cái khí của năm hành. Hai khí Âm Dương cùng “bác kích” không hòa, cho nên đến hết cái số của năm hành thì chết, "Tâm mãn" là do dương “bác" lên ở bộ phận trên; có sự "uất kết" là đo âm "Đác” ở bộ phận dưới. "Phúc" (bụng) ở vào bộ phận dưới, là nơi âm dương tương giao với nhau. "Phúc bộ phát ra hết..." tức là dương phát ra hết ở trên, âm phát ra hết ở dưới, mà không còn sự "hòa" hiện ra ở bộ phận giữa nữa. Tiết này nói về âm dương mắc bệnh ở trên và dưới; tiết dưới nói về âm dương mắc bệnh về hàn với nhiệt.
- Nhị dương tức là Dương minh. Bệnh "ôn" tức là sốt rét và nóng. Âm dương ở con người, do cải khí thùy cốc của Dương minh mà sỉnh ra. Nếu Nhị dương đều "bác", thì tuyệt mất cái nguồn ĐỐC sinh ra âm dương rồi. Âm không được Dương điều hòa thì sinh ra bệnh hàn; Dương không được âm điều hòa thì sinh ra bệnh nhiệt. Giờ âm dương đều tuyệt thì là một chứng rất nguy. "Chín" là hàng cuối cùng của số dương: "mười" là hàng cuối cùng của số âm. Chết về ngày thứ mười, tức là đúng vào cái thời kỳ ầm đương đều hết. Tiết trên nói mạch của Tam dương ở đầu, mạch của Tâm âm ở thủ, đó tức là “như" một, là "nhất quán". Nếu hai khí Âm Dương không quán thông với nhau, mà lại tự cùng bác kích (chọi, xung đột) lẫn nhau, thì sẽ gây nên chứng chết như vậy. Tiết này nói: nhờ về khí dương hòa của Vị quản để sinh nuôi âm dương năm Tàng. Nếu hai Dương đều “bác" thì âm dương đều tuyệt, cũng là chứng chết.
Chương tám · Linh Lan Bĩ Điền Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Xin cho biết 12 Tàng có những nhiệm vụ gì và quy tiện như thế nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tâm là một cơ quan quân chủ, thần minh do đó mà sinh ra,
Phế là một cơ quan tương truyện, chí tiết đo đó mà sinh ra,
Can là một cơ quan Tướng quân, mưư lự do đó mà sinh ra,
Dởm là một cơ quan Trung chính, quyết đoán do đó mà sinh ra!.
Chiên trung là một cơ quan thần sứ, hỷ lạc do đó mà sinh rat,
Tỷ vị là một cơ quan thương lẫm (kho đụn), năm vị đó mà sinh ra,
Dại trường là một cơ quan truyền đạo (đưa dẫn, bài tiết), sự biến hóa do dỏ mà rat,
Tiểu trường là một cơ quan thự thịnh (chứa đựng), hóa vật do đó mà sinh ra??,
Thận là một cơ quan tác cường, kỹ xảo do đó mà sinh ra.
Tam tiêu là mội cơ quan quyết độc, thủy đạo do đó mà sinh ra,
Bàng quang là một cơ quan châu đô, tân dịch chứa ở đó, khi hóa thì sẽ triết rat!?,
Phàm 12 cơ quan ở trên, không nên dễ cho "tương thất"U,
Cho nên, nêu chủ "minh" thì dưới yên. Lấy là đó để đưỡng sinh thì sống lâu, trọn đời không bị đau ôm; lẫy lẽ đó đê trị thiên hạ thì thái bình *.
Chủ không minh thì 12 cơ quan sẽ nguy, sứ đạo (tứ Tâm) vít lắp, thân hình bị thương. Lấy lẽ đó để đưỡng sinh thì sinh đau ốm, lây lẽ đó để trị thiên hạ thì rối loạn. Nên phải răn giữ lắm mới được.
VÀ
Chí đạo rất huyền vi, biến hóa thật vỏ cùng, ai biết tới gốc nguôn
Ở trong cõi mờ tối, ai người biết mẫu chết? Lo nghĩ suốt đêm ngày, sao cho được nên hay?
Cải số hoảng hốt, nảy ra từ hảo ly; cái số hào ly, nảy ra từ độ lượng; từ nghìn suy đến vạn, rồi càng suy cảng lớn thêm mãi, cho tới khối thể cùng cực, thân hình mới được chính.
Hoàng Đề nói rằng:
– Thiện lắm thay! Tôi nghe cái đạo "tỉnh, quang" thực là cái đức lớn của bực đại thánh. Muốn làm cho tuyên minh đạo ấy, nêu không trai giới, chọn ngày tốt, không đám thừa nhận ”.
Dế liền chọn ngày tốt, để bài luận trên đây vào trong nhà Linh Lan?”',
Chú Giải
- Sáu Tàng chứa thần (các chất vô hinh), sảu Phủ chứa vật (các chất hữu hình). Ở đây, sảu Tảng sáu Phủ đều gọi là Tàng nên mới có 2 Tàng. - Chứa những thứ gì "thanh" (như thân khi) là quý, chứa những si “trọc” (như thực vật) là tiện. Trong năm Tàng, duy có túc Thái âm là dung thụ thứ "trọc", nên Tỳ, VỊ mới là cơ quan thương lẫm.
- Tâm (trái tim) vị ứng Nam phương. thiêng liêng sáng suốt, nên làm cơ quan quân chủ (ty như vị quán chủ cai trị cả nước); vì thiêng hêng sáng suốt, nên chủ về "tàng thần" và nói "thân minh do đó mà sinh ra". Vương Tử Phương nói: Huyết tức là thần khí. Tâm tàng thần, Tâm chủ mạch, các kinh mạch của 12 Tàng, Phủ đều lấy Tâm là chủ. Phế bộ vị rất cao, ờ gần với quân chủ, tỷ như vị Thủ tướng, chuyên về việc tán bố âm dương, nên nói "trị tiết do đó sinh ra" (trị tiết cũng như hiệu lệnh. f) Can khí cấp và chí về "nộ", nên làm một cơ quan như vị Tướng quân. Nó chủ về cái khí xuân sinh, còn ẩn phục chưa phát tiết ra hẳn, nên chủ về mưu lự (mưu kế, nghĩ ngợi.? Đởm, bẩm thụ cái khí cương nghị, phàm người có Đởm thì hay quyết đoán, nên làm cơ quan trung chính (ngay thăng. 6) Chiến trung tức cũng như cung thành của quân chủ; Tâm chủ bào lạc, bộ Vị đều liền với Chiên trung; Chiên trung thay Tâm chủ bảo lạc để thi hành mệnh lệnh. Tâm chí về hỷ, nên hỷ lạc do đó mà sỉnh ra. Xử Tỳ với vị chủ về việc thâu nạp thủy cốc, nên mới làm cơ quan thương lẫm, tỷ như kho đụn để chứa thóc lúa. Năm VỊ vào VỊ, Tỳ chuyển Du sinh khí ra để nuôi năm Tàng, nên nói "năm Vị do đó mà tiết ra. 8 Đại trường ở phía dưới Tiểu trường; Tiểu trường chứa đựng thủy cốc do vị truyền xuống, rồi lại do Đại trường truyền tống cặn bã ra ngoài, nên mới nói là cơ quan truyền đạo và sự biến hóa do đó mà ra. Ở) Tiêu trường ở phía dưới VỊ, chứa đựng lấy những vật do Vị truyền xuống, hóa lấy tỉnh dịch, rồi tống bỏ cặn bã xuống Đại trường. 9 Thận Tàng về "chí", chí lập thì hay "tác cường” (sức làm mạnh). Bên trong đã tác cường thì kỹ xảo sẽ tỏ ra bên ngoài. Tam tiêu chủ về khí, khí có hóa thì thủy đạo mới lưu thông, nên mới nói là cơ quan quyết độc (quyết là khơi cho chảy, độc là đường nước chảy. 2) Bàng quang là thủy phủ (tức kho chứa nước), bao cái chất nước đều hội tụ ở đó. Cho nên làm một cơ quan châu đô (tức nơi đô hội, đông đúc). Thủy cốc vào Vị, lọc ra chất nước dẫn qua Hạ tiêu, thắm vào Bàng quang. Nếu khí ở Bằng quang có vận hóa, thì nước mới có thê dẫn xuống mà tiết ra ngoài, É? Mười hai cơ quan vừa nói trên, kinh mạch đều cùng liên lạc giao thông với nhau, không nên đề "tương thất” (tức là mất sự giao thông.
- Năm Tàng sáu Phủ, Tâm đứng làm chủ. Quân chủ có thần minh (ý nói huyết mạch chạy đều) thì 12 cơ quan đều yên ở chức vụ của mình... Theo lẽ đó đề dưỡng sỉnh thì lo gì không sống lâu. Do cải y nghĩa đó mà cai trị thiên hạ, thì vua giỏi tôi hiền, trăm quan đều làm tròn nhiệm vụ, lo gì thiên hạ không thái bình.
- Tâm thuộc quẻ "Ly". Ly nghĩa là sáng. Tâm là chủ cả một tắm thân; nếu Tâm chủ không sáng thì 12 cơ quan kia cũng đều bỏ cả chức vụ, còn vên sao được. Tâm bào lạc làm cơ quan thần sứ, thay quân chú đề thi hành mệnh lệnh mà chủ về mạch. Mạch tức là huyết mạch; huyết tức là thân khí. Thần khí rối loại thì huyết mạch ngừng đọng, sứ đạo sẽ bị vít lấp. Huyết khí dầy ở da, nóng vào thịt thám ra bỉ phu, mọc lông tóc, nhuận gân xương, địu quan tiết (các khớp). Nếu huyết mạch không thông thì thân hình còn toản sao được. Do lẽ đó, nên con người phải cần thận bảo vệ lắm mới được.
- Tiết này tiếp theo văn ở đoạn trên, nói: Cái chí đạo tu thân, dưỡng sinh, suy tới đến trị bình thiên hạ, thật rất huyền vi. Bởi cái tâm con người, biến hóa võ cùng, nếu "chính" được Tâm. Do đó đê dưỡng sinh thì sẽ được sống lâu; lại do đó để trị thiên hạ, thì thiên hạ sẽ thái bình. Trái lại, nếu Tâm ấy không chính, về đưỡng sinh cũng mắc phải tai ương, mà vẻ trị thiên hạ cũng thành ra rối loạn. Đó chỉ do có "một niệm” phát sinh, mà thật ít ai biết tới được nguôn gốc...
- Mờ tối" ý cũng như huyền ví; "mẫu chốt" tức là chí đạo; "lo nghĩ tức là lo nghĩ để suy xét cái đạo ấy; biết đạo ấy tức là "nên hay.
- Hoàng hốt" tức là chỉ về "tâm thần" khi mới chớm nở, chưa biết thế nào là nhất định, Từ bắt đầu nó chỉ bằng hào ly (tức rất bé nhỏ); nhưng do đó mà đến không thể đo lường. Chỉ trong có hào ly, mà tà hay chính đã phân, rồi suy ra đến vô cùng, vô tận; Tâm có chính rồi thân hình mới được chính.
- Tỉnh” tức tính khiết; "quang" tức sáng suốt. Cái đạo "chính Tâm, tu thân" rất tỉnh quang. Chỉ bậc đại thánh mới thực hiện được, do chính Tâm, tu thân rồi tới trị quốc bình thiên hạ. "Trai giới" tức lả kính giữ cho được hoàn toàn “thành ý.
- Linh Lan tức là một cái nhà để cất chứa những "chí ngôn, chí luận” của các bậc tiên thánh. Vì eó câu nảy ở cuối, nên dùng làm tên bài ở trên đầu.
Chương chín · Lục Tiết Tạng Tượng Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
- Tôi nghe:
Trời do cái tiết "sáu sáu" để làm nên một năm; người do cái số "chín chín" để "chế hội”; tính ra người cũng ba trăm sáu mươi nhăm tiết, để hợp với trời đất, đã lâu rồi. Nghĩa đó như sao, xin cho biết,
Kỳ Bá thưa răng:
– Cải tiết "sáu sáu" và "chín chín" chế hội, là cốt để phân rõ "thiên độ" và ghi rõ "khí sá"C,
Thiên độ cốt là chỉ để đo sự vận hành của nhật nguyệt. Khí số cốt để phí cái công dụng của hóa sinh,
Thiên là dương, địa là âm; nhật là dương, nguyệt là âm; sự vận hành có phận kỷ, mỗi một chu có đường lối. Nhật vận hảnh được một độ, thì nguyệt vận hành được mười hai độ, mà còn lẻ nữa. Cho nền tính cả tháng thiếu, tháng đủ, cộng ba trăm sáu mươi nhăm ngày mà thành một năm, chúa các khí "doanh, sóc, hư” lại mà thành ra tháng nhuận,
Lập cây thăng làm nêu dễ nhận phương hướng, tính kỹ những giờ khắc thừa... Đó là hoàn tất cái nhiệm vụ thiên đột,
Hoàng Đề hồi răng:
– Tôi đã được nghe thiên độ rồi. Xin cho nghe khí số, hợp lại với nhau như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Trời lấy "sáu sáu" làm tiết, đất lẫy "chín chín" chế hội.
Trời có mười ngày, chọn sáu lần mười ngày mà chu giáp thì thành một năm.
Những bực thông thiên đời xưa, biết được cái gốc về sự sống của con người, là gốc ở âm dương. Cái khí đó ở đất thì là chín châu, ở người thì là chín khiếu đều thông với tam khí.
Cho nên sinh ra năm. mà khí thì có ba. Do ba mà thành trời; do ba mà thành đất; do ba mà thành người,
Ba mà nhân với ba. hợp lại thi thành chín, chín chia ra làm chín đã (khu vực); chín đã chìa ra làm chín Tàng”?,
Cho nên ở con người, về hữu hình có bốn Tàng, về "(hân có năm Tàng", hợp lại thành chín Tàng đề ứng với chín “đã” ở trên,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Tôi được nghe cái tiết "sáu sáu" và cái số "chín chín" rồi. Trên kia Phu Tử nói: "Chúa khí... thành nhuận". Vậy chăng hay thế nào là khí? Kỳ Bá thưa răng:
– Năm ngày là một "hậu”, ba “hậu” là một ”“khí", sáu "khí" là một mùa, bến mùa lả một năm... Mã đều theo khí của mùa để làm chủ trị.
Năm vận cùng rập theo nhau, để cùng đĩ;'eứ đến chọn cái tháng cuối năm, hết vòng rồi lại bắt đầu. Mùa đã lập, khí tán bỗ, như vòng không chỗ nối. Về "hậu" cũng một khuôn phép ấy.
Cho nên nói răng:
"Không biết sự "đa lâm” trong một năm, sự suy hay thịnh của khí và hư thực bởi đâu phát sinh... Không thê gọi là "lương công"2?,
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Bắt đầu năm vận, quanh đi như vòng không đâu mối. Vậy về "thái quá" và "bất cập" như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm khí thay đổi, đều có "sở thắng", "thịnh" hay "hư" xảy ra là cái lệ thường?
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Thế nào là bình khí?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Không sai với thường hậu là bình.
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Thế nảo là thái quá bất cập?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ở Kinh đã có nói rồi,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Thế nào là sở thắng...
Kỳ Bá thưa rằng:
– Xuân thăng Trường hạ, Trường hạ thắng đông, đông thắng hạ, hạ thắng thu, thu thắng xuân... Đó là được cái thăng về năm hành: nhân lây cái khí đó đề đặt tên cho Tàng?,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Sao lại biết là thắng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cốt tìm ở cái khí của nó, nhưng đều phải bắt đầu từ mùa xuân. Nếu khí chữa đến mà đã đến, thì gọi là thái quá. Nó sẽ bách cái "sở bất thắng", mà lẫn cái "sở thắng". Như thế gọi là khí dâm không phân, tật bệnh sẽ sinh ra ở bên trong, lương công cũng không thể ngăn được”), Nếu đã đến mà không đến, thì gọi là bất cập. Như thế thì cái "sở thắng" nó sẽ vọng hành, mà cải "sở sinh” sẽ thu bệnh. Vĩ cái sở bất thắng nó bách đến nỗi thế. Nên gọi là "khí bách,
Ta cần phải cầu cái lúc khí nó đến. Cần thận để chờ cho đúng lúc, khí có thể cùng hẹn. Nếu trái cái thời hậu ấy, thì cái khí của năm vận sẽ không phân, tật bệnh sẽ sinh ra ở bên trong, dù lương công cũng không chữa được, Hoàng Đề hỏi răng:
– Có sự gì duyên tập“) chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí của trời, không thể nào vô thường. Nếu khí không duyên tập, tức là phi thường; phi thường thì là biến,
Hoàng Đề hồi rằng:
– Phi thường thì sẽ biến như thế nảo?
Kỳ Bá thưa răng:
– Biến đến thì mắc bệnh; sở thắng thì nhẹ, sở bất thắng thì nặng. Nhân đó mà lại mắc thêm tà khí thì sẽ chết. Cho nên không phải "thời" của nó thì bệnh nhẹ, đúng vào "thời" của nó thì bệnh nặng!2,
Hoàng Đế hỏi rằng:
- Tôi nghe:
Khí hợp mà có hình, nhân biến mà đặt tên; cái vận của trời đất, sự hóa của âm dương, đối với muôn vật, cái gì ít, cái gì nhiều, xin cho biết?,
Kỳ Bá thưa rằng:
– Loài thảo sinh ra năm sắc, đến sự biến của năm sắc, sức mắt không thể trông siết; loài thảo sinh ra năm vị; đến cái nên của năm vị, người ta không thế dùng siết,
Sự thị đục của các Tàng không giống nhau, mà đều có giao thông với nhau”, Trời nuôi con người lẫy năm khí, đất nuôi con người bằng năm vị. Năm khí vào mũi, chứa ở Tâm phế, khiến cho năm sắc sáng sủa, tiếng nói rõ ràng: năm vị vào miệng, chứa ở Trường vị. Vị có nơi chứa, đề nuôi năm khí. Khi hòa sẽ cùng sinh tân dịch thấm nhuân, "thần" do đó sẽ sinh ra.
Hoàng Đề hỗi:
: - Hình tượng của các Tàng như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tâm là cái gốc của sinh mệnh con người, sự biến hóa của thần do đó mà sinh ra. Vẻ tươi đẹp hiện lên mặt và đây đủ khắp huyết mạch. Nó là kinh Thái dương ở trong dương, thông với khí mùa hạt,
Phế là cái gốc của khí, phách ký túc ở đó. Nó phát hiện ra ngoải lông và đây ở trong bì phu. Nó là Thái âm ở trong đương, thông với khí mùa thu.
Thận là một nơi gốc của sự bế Tàng, "tỉnh" chứa ở nơi đó. Nó tốt đẹp lên tóc, đây đủ ở trong xương. Nó là âm ở trong Thiếu âm, thông với khí mùa đông,
Can là cái gốc của sự làm lụng khó nhọc, hồn ký túc ở đó. Nó tươi đẹp ra các móng tay chân và đây đủ ở trong gân. Nó sinh ra huyết khí. Thuộc về vị là chua, thuộc về sắc là xanh. Nó là Thiếu dương ở trong dương, thông với khí mùa xuân,
Tỳ, Vị, Đại trường, Tiêu trường, Tam tiêu, Bảng quang... là cái gốc của kho dụn. Vịnh gửi ở nơi đó, gọi nó là một cơ quan như đồ dùng. Nó hóa được các chất cặn bã và lưu chuyển các vị vào hay ra. Nó tươi đẹp lên môi và xung quanh miệng. Nó đầy đủ ra ở thịt. Thuộc về vị là ngọt, thuộc về sắc là vàng. Nó là Chí âm, thông với Thổ khí,
Tổng cộng tất cả mười một Tàng, đều thủ quyết ở Dởm?.
Cho nên:
Mạch ở Nhân nghinh thấy một thịnh thì bệnh ở Thiếu dương: thấy hai thịnh thì bệnh ở Thái dương; thấy ba thịnh thì bệnh ở Dương minh; thấy bến thịnh trở lên thì tức là cách dương””?,
Mạch ở Thốn khẩu thấy một thịnh thì bệnh ở Quyết âm; thấy hai thịnh thì bệnh ở Thiếu âm; thấy ba thịnh thi bệnh ở Thái âm, thấy bến thịnh trở lên thì tức là Quan âm,
Mạch ở Nhân nghinh với Thôn khẩu đều thấy thịnh, gấp bốn lần trở lên thì gọi là quan cách. Mạch về chứng quan cách, nếu quả không thể hợp được với tinh khí của trời đất, thi sẽ phải chết”,
Chú Giải
- Cái tiết "sáu sáu"... Do mười Can chủ về thiên. Mười Can (Giáp, Ất, Bính, Định, Mậu, Kỹ, Canh, Tân, Nhâm, Quý). Sáu mươi Giáp Tỷ là một "chu" (tức một vòng, một lượt), là một tiết. "Sáu sáu" tức sáu lần sáu mươi (Giáp Tý) là ba trãm sảu mươi nhăm ngày, hợp thành một năm. Ở con người do số "chín chín để chế hội"... tức là con người có chín khiếu, chín Tàng, địa có chín châu, chín đã; do hợp số "ba" mà thành thiên; hợp số "ba" mà thành địa; hợp số "ba" mà thành nhân (người) v.v...
- Mỗi năm có 365 ngày, mà trời có 365 độ. (Thiên độ) tức là "độ" của trời, chữ độ cũng tựa như thước, như đời nay đo quả đất cũng tính theo độ.
- "Chụ thiên" (một vòng trời) có 365 độ. Nhật mỗi ngày vận hảnh được một độ, suốt năm vận hành được một chu thiên. Nguyệt mỗi ngày vận hành được 15 độ, suốt một tháng trời vận hành được một chu thiên. Đó là lấy cải độ số của trời để ghi sự vận hành của nhật nguyệt. Khí số là nói về cái số "ba" sinh ra năm khi. "Hóa" tức là sự biển hóa của âm dương. Ở trời, thành cái tiết "sáu sáu", ở đất và ở người thành cái số "chín chín" đêu là cái công đụng hóa sinh của âm dương cả. kỳ "sự vận hành có phân kỷ" tức là nói sự vận hành của nhật nguyệt đều có chía rõ "phân dã" (khu vực, đất đai, nơi nhật nguyệt vận hành qua. “Đường lối" cũng là cái đường lỗi vận hành của nhật nguyệt, như Nam đạo, Bắc đạo v.v...
- Lịch pháp, chu thiên có 365 độ và một phần tư độ. Đất tả toàn (vòng về tay trái), một ngày một đêm thì vận hành được một chu thiên và hơn ra một độ. Nhật, nguyệt đều hữu hành. Cử một ngày một đêm, nhật vận hành được một độ: nguyệt vận hành được mười ba độ và một phần bảy trong 1 phần của độ. Nên mới nói rằng "có lẻ". Nhật một năm thì một chu thiên; Nguyệt hat mươi chín ngày có lẻ thì một chu thiên. Vì là hai mươi chín ngày có lẻ nên mới sinh ra tháng đủ tháng thiếu. Mỗi năm có năm ngày lẻ thuộc về.__ "sốc hư”, cho nên chỉ có 365 ngày; lại có năm ngày lẻ thuộc vê "khí doanh. Hợp những ngày “sóc hư, khí doanh” lại mà sình ra tháng nhuận. Cho nên mỗi năm tính cả tháng nhuận tông cộng được 365 ngày có lẽ. Lại án: Hán luật chí chép rằng: Nhật nguyệt và ngũ t:nh, từ phương Tây vòng quanh bầu trời đi về phương Đông; thiên đạo từ phương Đông mà về phương Tây. Một ngảy một đêm, nhật nguyệt theo trời chuyển về phương Tây một chu như kiến bỏ trên cối, cối chuyển một vòng, mà nhật đi về phương Đông chỉ được một độ, nguyệt từ phương Tây đi về phương Đông được 13 độ. Nguyệt đi nhanh, mà mỗi tháng gặp nhật một lần, là một chu thiên. Do đó, mỗi năm ngày Đông chí, ngày Hạ chí, nhật vận hành có chia ra Nam và Bắc đạo; mỗi tháng, ngày "thượng huyện", ngày "hạ huyền, (mặt trăng vòng cong trở lên như cái cung để ngửa là thượng huyền, tức là từ răm (15) trở lên mồng một; mặt trăng vòng cong trở xuống như cải cung để úp là hạ huyên, tức là từ là đến 30), nguyệt vận hành có chía ra Nam đạo và Bắc đạo.
- Đời Thượng cô dùng cây gỗ cao tám thước chôn đứng thăng để đo bóng mặt trời và để chia rõ Đông, Tây, Nam, Bắc. Lấy chu thiên 365 độ và lẻ một phần tư độ đễ suy tính sự vận hành có lẻ của nhật nguyệt; Khí doanh năm ngày có lẻ: Sóc hư năm ngày có lẻ... Tính dỗn cả lại, để cho trọn cái số ngày của một năm. Đó là tính hết vẻ thiên độ.
- Ở đây, Hoàng Đế lại đem cái số chín chín hợp với cái số sáu sáu, để hỏi.
- Trên kia, Kỳ Bá bắt đâu lấy cái số chín chín của người, để ứng với cái số sáu sáu của người. Ở đây, lại lấy cái số chín chín của đất, để hợp với cái số sấu sáu của người.
- Đây nói: Trời lấy cái tiết sáu sáu mà thành một năm. Mười "can” chủ về trời, cho nên nói: "Giời có 10 ngày".: ®) Đây nói: Cái số chin chín của đất và cái số chín chín của người, mà thông với cái tiết sáu sáu của trời, đều gốc ở âm dương. Âm dương là do cái "tam khí" của ngũ hành sinh ra. Bởi thế nên lấy chín châu của đất, chín khiểu của người, đều thông với thiên khí. Vì trời cũng có "tam khí" ấy, đất cũng có "tam khi" ấy vậy. 9) "Sinh ra năm" tức là nói thập Can của trời hóa sinh ra năm hành của đất. "Khí có ba” tức là nói cái khí "Tam âm, Tam dương" do ngũ hành sinh ra. Đây nói:Lấy cái tam khí ấy, ba hợp với ba đề thành ra sáu khí của trời, sáu khí của đất và sáu khí của người. Nói về sáu khí của trời, như: sau Đông chí, được ngày Giáp Tý thì Thiếu dương vượng; lại được ngày Giáp Tý thì Dương minh vượng; lại được ngày Giáp Tý thì Thái dương vượng; lại được ngảy Giáp Tý thì Quyết âm vượng; lại được ngày Giáp Tý thì Thiếu âm vượng: lại được ngày Giáp Tý thì Thái âm vượng... Đó là lấy cái tiết sáu sáu của trời để thành một năm. Nói về sáu khí của đất, như phía hữu Hiển minh, là Vị của Quân hỏa; phía hữu Quân hỏa, lui một bộ, do tướng Hỏa cai trị; lại tiến đi một bộ, do Thổ khí cai trị; lại tiến đi một bộ do Kim khí cai trị; lại tiễn đi một bộ, do Thủy khí cai trị; lại tiến đi một bộ, do Mộc khí cai trị; lại tiến đi một bộ, do Quân hỏa cai trị... Đó là cái khí và địa vị của địa lý ứng với sáu tiết. Nói về sáu khi ở con người, tức là cái khí của "Tam âm, Tam dương" như: Mạch ở Nhân nghinh một thịnh thì bệnh ở Thiếu dương: hai thịnh bệnh ở Thái dương; ba thịnh bệnh ở Dương minh; mạch ở Thốn khẩu một thịnh bệnh ở Quyết âm, hai thịnh bệnh ở Thiêu âm, ba thịnh bệnh ở Thái âm...
- Ở đây lại nói: Về sáu khí của trời đất và người. Ba nhân với ba, hợp lại thì thành cái số chín chín. Cái số chín chín ấy chia làm chín dã ở đất và chín Tàng ở người. Đó là lấy chín châu để phối hợp với chín khiếu, chín đã để phối hợp với chin Tàng. Cho nên nói rằng: "Chín dã phối với chín Tàng". Vì chín châu ở đất, thông với thiên khí. Tam khí của trời chia làm chín đã. Đó là dắt lấy số "chín chín" chế hội, mà hợp với tiết "sáu sảu" của người vậy. Lấy chín khiếu của người, thông với khí trời. Tam khí của trời chia làm chín Tàng. Thế là người lấy số “chín chín" chế hội mà hợp với cái tiết "sáu sáu" của người vậy (chế hội: tức phân phối sự hội họp.
- "ngắn Tầng hữu hình" tức là Tàng chứa vật hữu hình (như thủy cốc v.v...); "thân Tàng" tức là những Tảng chứa về thần (tính thần, thần khí. Những Tàng chứa hữu hình như Vị, Đại trường và Bàng quang... Những Tàng chứa về thần như: Tâm tảng thần, Can tàng hôn, Tỷ àng ý, Phế tàng phách, Thận tàng chí. Năm vị vào miệng, chứa ở Trường vị; các chất tân dịch (nước màu) chứa ờ Bàng quang, để nuôi thần khí của năm Tàng. Cho nên lấy "hình Tàng, thần Tàng" hợp làm chín Tàng, để phối hợp với chín đã, chín châu của đắt.
- Trước nói: “Người lấy số chín chin để chế hội”, sau nói: "đất lấy số chín chín để chế hội". Bởi ở người là chín Tàng, ở đất là chín đã, thì "người" với "đất" đều có thể nói "lấy chín chín để chế hội” vậy.
- Ba lần năm, mười lầm ngày làm một khí. Mỗi một khí "doanh" (đầy, đủ) hai mươi mốt khắc có lẻ. Hợp các ngày "khí doanh, sóc hư" mà sinh ra “nhuận”. Cho nên nói: "Chứa khí doanh nhuận, 3 Nguyệt lệnh nói: "Tiết Lập xuân, năm ngày bắt đầu, gió đông làm tan mặt nước đông đặc; năm ngày thứ hai chập trùng (loài sâu năm co ẫn nắp trong hang) mới cựa; năm ngày sau cùng, cá nhảy lên mặt băng... Như vậy là "năm ngày làm mà hậu" (chữ tiết hậu hay khí hậu v.v... do đây mà ra). la lần năm là mười lăm ngày, thành một “khi”, sáu khí 90 ngày làm một mùa. Tất cả bốn mùa, hợp 24 khí, thành một năm. Nhân cái khí của bốn mùa, cứ theo đó làm chủ trị.
- Tiết này nói về “Chủ tuế" của năm vận. Tỷ như: Về những năm Giáp Kỷ thì Thổ vận làm chủ; về những năm Át Canh thì Kim vận làm chủ; về những năm Bính Tân thì Thủy vận làm chủ; về những năm Dinh Nhâm thì Mộc vận làm chủ; về những năm Mậu Quý thì Hỏa vận làm chủ. Theo sự duyên tập của năm hành, đều làm chủ từng năm một. Trong một năm, cái khí nảo làm chủ, thì làm chủ suốt cả ba trăm sảu mươi nhãm ngày. Cứ năm năm lả một vòng, hết vòng thì lại bắt đầu. Trong một năm, lại chia ra cái mủa của năm vận nó làm chủ, đề bố tán cái khí của năm hành. Năm::hí cứ truyền lẫn nhau, như cái vòng không chỗ nào nối. Cái khí về từng hậu, cũng theo như sự duyên tập năm năm một vòng của chủ vận.
- Mỗi năm có sáu khí "đa lâm" (tức là cái khí ấy nó tới năm ấy). Về năm vận có sự thái quá hay bất cập và khí có thịnh hay suy, do đó sự "thừa võ, thắng phục" bời hư thực gây nên. Cái khí của hảng năm thịnh hay suy, chủ về tật bệnh của nhân dân sống hay chết. Cho nên, nêu không biết khí vận thì không thể làm được lương công (tức là người thợ giỏi, thầy thuốc giỏi.
- Ở trên nói về năm ngày là một "hậu”, theo thiên Nguyệt lệnh ở Lễ ký, sách La Thị Xuán Thu và Đại Minh nhất thống lịch, đều có chép một cách rõ ràng. Xin phụ lục dưới đây, để duyệt giả biết được tường tận. Tháng Mạnh xuân, về tiết Lập xuân: Năm ngày lúc bắt đầu, gió Đông làm tan nước đóng váng. Năm ngày thứ hai, chập trùng với cựa quậy. Năm ngày cuối, cả nhảy lên khỏi mặt nước băng. Tiết Vũ thủy: Năm ngày lúc bắt đầu, rái cá tế cá. Năm ngày thứ hai, chim hồng nhạn về, từ phương Nam bay sang phương Bắc. Năm ngày cuối, ___ CÔ cây mới nảy mầm. Về Trọng xuân: Năm ngày lúc bắt đầu, dào mới nở hoa. Năm ngày thứ hai, chìm thương canh (tu hú) kêu. Năm ngảy cuối, chim ưng hóa làm chím kíu. Tiết Xuân phân: Năm ngày lúc bắt đầu, chim "huyền điều" (tức là chim én) đến. Năm ngày thứ hai, sắm mới động, cây thược dược tối. Năm ngày cuỗi, mới có chớp. Tháng Quý xuân, tiết Thanh minh: Năm ngày lúc bắt đầu, ngô đồng (tức cây vông) mới nở hoa. Năm ngày thử hai, chuột đồng hóa làm chim dễ, mẫu đơn nở hoa. Năm ngày cuỗi, cầu vồng mới phát hiện. Về tiết Cốc vũ: Năm ngày lúc bắt đầu, bèo mới nở. Năm ngày thứ hai, chim minh cưu vỗ cánh bay. Năm ngày cuối chìm đái thắng tới làm tô ở cây dâu. Vẻ tháng Mạnh hạ, tiết Lập hạ: Năm ngày lúc bất đầu, giun đất kêu. Năm ngày thứ hai, giun ở dưới đất mới bò lên. Năm ngày cuối, đây bầu mới mọc. Về tiết khí Tiêu mãn: Năm ngày lúc bát đầu, rau khổ thái mới tốt. Năm ngày thứ hai, các loài cỏ lá mềm chết dẫn. Năm ngày cuối cùng, lúa chín dẫn. Tháng Trọng hạ, tiết Mang chủng (tức là măng mọc): Năm ngày lúc bắt đầu, sâu bọ ngựa mới nở. Năm ngày thứ hai, chìm khuyến cốc kêu. Năm ngày cuối, chim bách thiệt thôi không hỏi. Về khí Hạ chí: Năm ngày lúc bắt đầu, sừng hươu mới rụng. Năm ngày thử hai, ve mới kêu. Năm ngày cuối cùng, cây bán hạ mọc, cây mộc cận tốt (tức ta gọi là cây ông bụt hay dâm bụt. Về tháng cuối hạ, tiết Tiêu thừ: Năm ngày lúc bắt đầu, ôn phong (tức gió ám) thôi đến, Năm ngày thử hai, đế làm tổ ở dưới vách. Năm ngày cuối cùng, chìm ưng mới tập lượn. Về khi Dại thử: Năm ngày lúc bắt đầu, cò nát hóa làm đom đóm. Năm ngày thứ hai, đất âm, oi bức. Năm ngày cuối, thường có mưa to. Về tháng Mạnh thu, tiết Lập thu: Năm ngày lúc bắt đầu, gió mát thối lên. Năm ngày thứ hai, bạch lộ (tức là móc trắng mới nhỏ xuống). Năm ngày cuối, hàn thuyền mới kêu. Về khí Xử thử: Năm ngày lúc bắt đầu, chìm ưng mới tế cá. Năm ngày thứ hai, trời đất mới trong sáng và "hanh". Năm ngày cuối, lúa đã phơi khô. Về tháng Trọng thu, tiết Bạch lộ: Năm ngày lúc bắt đầu, gió mạnh thường thôi đến, chim hồng nhạn bay lại. Năm ngày thứ hai, chìm huyền điều bay về. Năm ngày cuối, các loài chim để đành thức ăn. Về khi Thu phân: Năm ngày lúc bắt đầu, sắm mới thôi không động. Năm ngày thứ bai, các loài sâu đất mới chui vào tô, trấn hỏa thảo mới nở hoa. Năm ngày cuối, nước khan dần. Tháng Quý thu, tiết Hàn lộ: Năm ngày lúc bắt đầu, chim hông nhạn lai tân (tân tức là khách, vẻ tháng trọng thư đã có một loại chim hồng nhạn đến rồi, đến tháng này chim hông nhạn lại đến, Vậy loạt đến trước là chủ mà loạt đến sau này lả khách, nên gọi là lai tân). Năm ngày thứ hai, chìm tước vào nước hóa làm con trai. Năm ngày cuối, cúc mới nở hoa, Về khí sương giáng: Năm ngày lúc bắt đầu, giống sài (chó sói) mới tế loài thú. Năm ngày thứ hai, có cây rụng lá. Năm ngày cuối, giống chập trùng đều ẩn nắp. Tháng Mạnh đông, tiết Lập đông: Năm ngày lúc bắt đầu, nước mới thành băng. Năm ngày thứ hai, đất mới nứt nè. Năm ngày cuối, chim trĩ bay xuống biến hóa làm loại Thận (tức Thận khí, giải nghĩa quá dài, xin để về đoạn khác. Và khí Tiểu tuyết: Năm ngày lúc bắt đâu, cầu vòng thôi không xuất hiện. Năm ngày thứ hai, khí đất bốc lên, khí trời giáng xuống. Năm ngày cuối, mọi sự đều vít lấp mà thành mủa đồng. Tháng Trọng xuân, tiết Đại tuyết: Năm ngày lúc bắt đầu, nước băng càng cứng thêm, đất mới nứt to, chim hạt đám kêu thâu đêm. Năm ngảy thứ hai, hỗ mới giao cấu. Năm ngảy cuối, rau vân (tức là rau mần tưới) mới mọc, lệ chỉ (tức là quả vải), mới nở hoa. Về khí Đông chí: Năm ngày lúc bắt đầu, loài giun mới lân sâu. Năm ngày thử hai, sừng nai rụng. Năm ngày cuối, nước suỗi mới đông. Tháng Quý đông, tiết Tiêu hàn: Năm ngày lúc bắt đầu, chìm nhạn bay về phương Bắc. Năm ngày thứ hai, chim thước (tức bồ các, lành khách) mới làm tô, Năm ngày cuỗi, chim trĩ mới kêu. Về khí Đại hàn: Năm ngày lúc bắt đầu, gà mới ấp. Năm ngày thứ hai, chim mới bay vụt nhanh. Năm ngày cuối, nước đóng đặc xuống tận đáy...
- Rắt đầu cùa năm vận từ Giáp Kỷ hóa Thô; Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hòa lại sinh Thổ... Hết năm năm rồi lại bắt đầu, như vòng không chỗ nối. Những nãm mà năm hành "chủ" đó, lại còn có sự thái quá và bất cập khác nhau.
- Sử phẳng: Cái thắng (được, khắc); “Sở bất thắng”: Cái không thắng. “Vũ”: Khinh, phạm tới... Cái khí của năm vận cứ năm năm một lần thay đổi, Cái năm thái quá, thì nó thẳng được cái mình thắng, mà lại "vũ" cải mình bất thắng. Đến năm bắt cập thì nó sẽ thắng cái mình bất thăng, lại "vũ" cả cái mình sở thắng. Cho nên mới nói là đều có "sở thắng”, Cái khí sở thắng, nếu không chăm giữ đức mình thì thành bỏ hư bản vị, sẽ bị bên ngoài nó thừa cơ mà "vũ"... Đó là lẽ thường của sự thịnh suy.
- “Thường hậu” tức là tiết hậu như thường, không thái quá, không bắt cập.
- « K;nó”? tức là những bải ở trong Linh khu, như Lục ví chỉ, Chí chân, Yếu luận V.V...
- Đây nói về cái "sở thắng” của năm vận. Mùa xuân ứng về hành Mộc, Mộc sẽ thăng Thổ; mùa Trường hạ ứng về hành Thỏ, Thổ sẽ thăng Thủy; mùa đông ứng về hành Thủy, Thủy sẽ thắng Hóa; mùa hạ ứng về hành Hỏa, Hỏa sẽ thắng Kim; mùa thu ứng về hành Kim, Kim sẽ thắng Mộc... Đó là được cái chủ thời của năm hành mà tự làm "thắng". Xuân, hành Mộc hợp với Can; hạ, hành Hỏa hợp với Tâm; Trường hạ, hành Thô hợp với Tỳ; thu, hành Kim hợp với Phế; đông, hành Thủy hợp với Thận. Đỏ là lấy cái khí của năm hành ở bỗn mùa đề đặt tên cho năm Tàng.
- Mùa xuân là bắt đầu của khí. Thiên Lực nguyên chính kỷ luận nói rằng: Vận thái quả thì khí đó đến trước, vận bắt cập thì khí đó đến sau. Đó là cái khí theo lẽ thường của thiên đạo. Vận không hữu đư, không bắt túc, thì gọi là chính tuế, tức là khí đó đến được đúng mùa. Vì thế nên mùa xuân chưa đến mà khí trời đã ôn hòa, đó là khí đến trước, tức là vận thái quá. Cái khí chủ tuế mà thái quá, thì nó bách cái khí "kỳ sở bất thắng" và nó lắn "vũ lấn cái khí "kỳ sở thắng". Chí Chân yếu luận nói rằng: Khí đến gọi là đến, khí phân gọi là phân. Đến thì khi đồng, phân thì khí đị. Đó là cái lẽ chính của trời đất, nếu cái khí chủ về tuế vận, chỉ có thái quá đâm thắng mà không phân, thì tật bệnh sẽ sinh ra ở bên trong, dù lương công cũng không sao chữa được.
- Mùa xuân đã đến mà khí trời chưa ôn hòa, thế là đã đến mà không đến. tức gọi là bất cập. Cái vận khí chủ tuế đã bất cập thì cái khí sở thẳng nó sẽ đi càn, mà cái sở sinh sẽ mắc bệnh, tức là cái sở bất thắng nó bách đến nỗi thế. Tý như Chủ tuế lả Mộc mà bắt cập, thì cái mình sở thắng là Thỏ, khí nó sẽ di càn, mà cái sờ sinh ra mình là Thủy khí sẽ mắc bệnh. Cái khí của Mộc Hỏa đã hư, thì cái mình sở bất thắng là Kim khí, nó sẽ lắn vũ, nên —— mới gọi là khí bách. Vì chủ khí bất cập, mà cái khí "sờ thắng", "sở bất thắng" nó cùng dồn lại để bức bách mà gây nên bệnh.
- "Câu" là cầu cải khí của bốn mùa, trong cải lúc nó nên đến mà đến. Cần thận để đợi cái mùa xuân, hạ, thu, đông, tỷ như cái khí của mùa xuân, có thê hẹn được là ôn; cái khí của mùa hạ, có thể hẹn được là nhiệt; cái khí của mùa thu, có thể hẹn được là lương; cái khi của đông, có thể hẹn được là hàn... Nếu trái lẽ thường đó, mà cái khí của năm hành chủ về các mùa. không phân ra được, thì sẽ sinh ra tật bệnh.
- Về đoạn nói nghĩa "sở thắng" trên này, đầu mối rất phức tạp. Theo chú giải trên đây, chưa được rõ lắm, vậy lại xin giải nghĩa tông quát như dưới: Phàm nói là "thăng", tức là chỉ về sự tương khắc của năm hành. Như: xuân thuộc Mộc, Hạ thuộc Hỏa, Trường hạ thuộc Thổ, Thu thuộc Kim, _ Đông thuộc Thủy, Cho nên Xuân thắng Trường hạ. tức là Mộc khắc Thổ: trường hạ thăng đồng, tức là Thô khắc Thủy; đông thăng hạ, tức là Thủy khắc Hỏa; hạ thắng thu, tức là Hỏa khắc Kim: thu thăng xuân, tức là Kim khắc Mộc. Đó là ở năm hành thì lấy về mùa đẻ tương thắng, mà ở người thì lấy khí để đặt tên cho Tàng. Như Can thắng Tỳ, Tỳ thăng Thận. Thận thăng Tâm, Tâm thăng Phê, Phê thăng Can v.v... Nhưng muôn biết cải "hậu" vẻ sự thắng đó, thì phải ngay từ trước tiết Lập xuân mười lãm ngày, đó là cái hậu lúc bắt đầu. Lúc đó khí hậu chữa nên đến mà đã đến trước, ấy là khí hữu dư; do đó Phể kim sẽ bất túc. Phế kim bắt túc, thì không thể khắc được Mộc, cho nên Mộc thái quá. Vì Mộc khí hữu dư, thì lại bách trở lại Phế kim, mà lấn sang Tỳ thổ. Cho nên nói rằng: “Thái quá thì sẽ bách cái sở bất thắng, mà lần cái sở thắng". Ví phỏng Can mộc hữu dư, thì Phế kim sẽ bất túc. Kim đã bất túc, thì không thể khắc được Mộc, cho nên Mộc thái quá, Mộc khí hữu dư, thì lại bach Phế kim, mà lần sang Tỳ thô, cho nên nỏi răng: "Thái quá thi bách cái sở bất thắng, mà lần cái sở thắng. Đó đều là cải khí của năm Tàng, cùng xung đột với nhau mà gây nền bệnh, nên mới gọi là khí âm. Khí hậu nên đến mà không đến, quá kỳ rồi mới đến, đó là khí bất túc cho nên bảo là bất cập; do đó cái sở thắng nó sẽ đi càn, mà cái sở sinh sẽ mắc bệnh, cái sở bất thắng lại bách thêm. Lại như Can mộc khí ít, không chế được Thổ; Thô khí không còn kiêng sợ gì nữa, liền lấn tràn đi, Mộc, do đó bị hiếp. Cho nên nói: "Cái sở bắt thăng đi càn" mà Tâm cũng đồng thời mắc bệnh. Khí của Can mộc không dược quân bình, khí của Phế kim liền bách vào, cho nên nói: "Cái sở bất thắng bách đến". Nhưng Mộc khí không được bình, Thổ với Kim cùng dồn lại để bách, để gây nên bệnh, nên mới gọi là "khí bách". Vậy nên mình mà khắc được thì gọi là "sở thắng”: cải nó khắc được minh thì gọi là "sở bất thắng"; đến cái sinh ra được minh thì gọi là "sở sinh". Nền ta cần phải "hậu (chờ đợi) cái lúc "khí đến", như “hậu” về năm, thì bắt đầu từ ngày Lập xuân: "hậu" về khí thì bắt đầu từ "định kỳ" của bốn khí; "hậu" về ngày thì tùy ở từng ngày... Cho nên nói: "Cần thận để hậu thời khí, có thê kỳ hạn được.
- Du n tập: Lần lượt nỗi lẫn nhau. Tỷ nhĩ: Mộc nhờ Thùy mà vượng về mùa Xuân, Hỏa nhờ Mộc mà vượng về mùa Hạ, Thổ nhờ Hỏa mà vượng về mùa Trường hạ, Kim nhờ Thô mà vượng về mùa thu, Thủy nhờ Kìm mà vượng về mùa đông v.v... Khí của năm vận cùng duyên tập lẫn nhau đề làm chủ trị.
- Cái khí của trời, bốn mùa thay đổi, tự có kinh thường. Nhưng cái khí của năm vận, có "đức hóa, chính lệnh, biến dị, tai sảnh" không giống nhau. Cho nên cũng có khi không duyên tập, tức gọi là "phản trường” (trái với kinh thường) mà sinh ra biến dịch.
- Năm vận cùng duyên tập là cải kính thường của khí. Nếu phản thường thì sẽ sinh biến dịch. Vậy mỗi khi cái khí biến thường xây đến, thì đãn sẽ mắc bệnh. Tỷ như mùa xuân phong mộc làm chủ. Nếu biến ra chứng "sâu chú" (đi tả gấp). Đó là chủ khí, là phong mộc, mà biến khí là thấp thô. Biến khí bị chủ khí nó thắng được thì dân mắc bệnh nhẹ. Nếu lại biển làm "túc sái", thì đó là: chù khí là phong mộc, mà biến khí là táo kim, biến khí sẽ là cái “sở bất thắng” của chủ khí, do đỏ dân sẽ mắc bệnh nặng. Thể mà lại cảm thêm tà khí nữa, còn sống sao được? Vậy biết rằng: mỗi khi cái khí biến dịch đến nơi, không đúng vảo cái thời nó khắc ta thì bệnh nhẹ: nếu đúng vào cái thời nó khắc ta thì bệnh nặng. Lời giải tông quát: Đoạn này nói về cái khí của năm vận, có khi không duyên tập sẽ gây nên tật bệnh, sự nặng, nhẹ, sống chết đều quan hệ vào đó.
- Khí của âm dương, đều có nhiều ít khác nhau, nên mới gọi là Tam âm, Tam dương. Như nói: "Hình có thịnh suy" tức là nói cái khí chủ trị của năm hành, có thái quá và bất cập khác nhau. Cho nên lúc bắt đầu, nếu là hữu dư, thì bất túc sẽ theo; nếu là bất túc, hữu dư sẽ theo. Biết đón trước, biết theo san, thì cái khí đó có thể hẹn được. Nếu đã thừa mà lại thừa, đã thiếu mà lại thiếu... thì là "phản thường", mà tật bệnh sẽ sinh ra. Tỷ như: Mộc lệnh thái quá, Mộc khắc Tỳ thổ, nhưng Phế kim đủ sức đề chế lại, ấy là nhân cái "sở thắng" mà bệnh nhẹ. Nếu Phế kim không đủ sức để chế lại, mà Tỳ thổ lại bị "sở bất thắng" của Can, thì bệnh tất phải nặng. Bệnh đã nặng rồi, mà lại cảm thêm ngoại tà, thì tất là phải chết. Cho nên nếu khắc không phải cái lúc sở thắng, thì bệnh nhẹ; nếu khắc đúng vào cái lúc sở thắng, thì bệnh nặng, là theo nguyên tắc đó.
- Đoạn này lại nói về khí đất với khí trời cùng hợp lại, mà sinh ra muôn vật có hình. Thiên Ngũ thường chính luận nói rằng: Khí bắt đầu mà sinh hóa, khí tan ra mà có hình, khí bố tán nên sự phỗn dục, khí kết thúc thành ra tượng biến. Nhưng mà cái sự giúp ích của năm vị, sự sinh hóa có hậu bạc, sự thành thực có nhiều ít... sau trước không giỗng nhau. Bởi ở trời là khí, ở đất thành hình. Hình với khí cùng hợp, mà hóa sinh muôn vật. Vật sinh ra gọi là hóa, vật đến cực gọi là biến. Sau khi vật biến đã thành, bấy giờ mới định danh được.
- sài thảo, tức là chỉ về loài ngũ cốc, loài ngũ thái, với các quả của loài mộc v.v... Bởi trời theo số "ba" sinh ra hành Mộc, cho nên trước nói loài thảo mộc, mà sau mới nói đến côn trùng vạn vật năm sắc, đại khái như sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng, sắc đen, v.v... Năm vị, như là vị chua, vị đẳng, vị ngọt, vị cay, vị mặn v.v...
- Đây nói sự thị dục của con người không giống nhau mà năm vị đó đều theo về cải Tàng ưa thích của nó. Như: Vị đăng trước vào Tâm, vị chua trước vào Can, vị ngọt trước vào Tỳ, vị cay trước vào Phế, vị mặn trước vào Thận v.v... Năm khí vào mũi, chứa ở Tâm phế, năm vị vào miệng để nuôi năm khi, cho nên nói rằng có sự giao thông liên lạc với nhau.
- Nãm khí tức là: Tảo (hôi), tiêu (hắc), hương (thơm), tính (tanh), hủ (húc, mục nát). Ở trời gọi là khí, cho nên mới nói là lây năm khi để nuôi người. Ở đất thì là sự biến hóa, hóa sinh ra năm vị, cho nên mới nói là lấy năm vị để nuôi người. Trời, bộ Vị ở rất cao, mà trùm ở bên ngoài đất. Cho nên năm khí đo khiếu bên ngoài mà lọt vào trong Tâm phế. Phế bộ vị ở trên, thuộc về dương. Tâm làm cho tươi đẹp ở sắc và mặt. Cho nên trên mới nói: "Khiến cho năm sắc sáng sủa". Phế chủ về tiếng, cho nên trên mới nói: "Tiếng nói rõ ràng. Đất, bộ Vị ở dưới, mà ở vào bên trong trời, cho nên năm -- VỊ chứa ở Trường vị để nuôi khí của năm Tàng. Khí nhờ được VỊ nuôi, thì âm dương hòa mà sẽ tương sinh với nhau. Phàm các thứ thủy cốc đề ăn vào miệng, nó có năm vị, tân dịch đều chia ra các mạch. Khi đã hòa, tân dịch đã đầy đủ, cái "thản" của năm Tàng sẽ do đó mà sinh ra.
- Tâm chủ về huyết. Do Trung tiêu tiếp thụ lẫy khí và chất nước lỏng, hóa ra sắc đỏ mà thành huyết, để nuôi sống cho con người. Ở con người, không gì quý băng nó, cho nên nói là cái pốc của sinh mệnh. Tầm tàng thân, để ứng biến với muôn việc. Mười hai "kinh mạch" ba trăm sáu mươi nhăm "lạc" hết thảy khí huyết đều dồn cả lên mặt; mà Tâm lại chủ về huyết mạch, cho nên mới nói nó phát hiện lên sắc mặt. Vĩ thể chất của nó là mạch, cho nên mới nói: "đầy đú ra huyết mạch". Nó thuộc về Hỏa, mà bộ Vị lại ở rất cao, cho nên mới là Thái dương ở trong dương và thông với khí mùa hạ, vì mùa hạ chủ về Hỏa. Tế Công nói: Vinh là gốc, vệ là lá. Vinh huyết là cái gốc để cho âm Dương khi huyết sinh ra, nên mới đáng quý.
- phế chủ về khí mà Tàng phách, lại chủ về bì mao. Bộ Vị ở mao mà thuộc âm, cho nên mới là Thái âm ở trong dương và thông với khí mùa thu vì mùa thu chủ về Phế.
- Thời tiết đến mùa Đông Dương khí bế Tàng, các loài sâu bọ đều ẳn nấp. Thận chủ về đông Tàng, cho rên mới gọi là gốc của sự bế Tàng. Thận tiếp thu cái tính địch của năm Tàng, chưa đây để chờ khi phân phát ra. Tóc là một cái chất thừa của huyết, do tính hóa ra. Thận là âm Tàng, mà có cái tượng như một khí dương ở trong quẻ Khảm, cho nên mới là Thiếu âm ở trong âm, mà thông với khí mùa đông. Vì mùa đồng chủ thủy.
- Cạn chủ về gân. Phàm sự vận động khó nhọc đều phải nhờ tới gân, cho nên mới nói là gốc của sự khó nhọc. Móng chân mỏng tay là một cái chất thừa của gân. Can thuộc Mộc, bộ VỊ ở về phương Đông, nó là bắt đầu cho sự phát sinh, cho nên mới sinh ra huyết khí. Mộc vượng ở mùa xuân, Dương khí lúc đó mới bắt đầu sinh ra, nên mới gọi Thiếu dương ở trong đương và thông với khí mùa xuân, vì mùa xuân chủ về Mộc.
- Túc Thái âm chuyên về sự thâu nạp cái chất "trọc" của loài thùy cốc, giữ cải nhiệm vụ chuyên Du, Trường, Vị chủ về sự truyền thụ chất thủy cốc; Tam tiêu chủ về sự khơi chảy luông nước; Bảng quang là một cái kho để chứa các chất nước lỏng... cho nên tất cả đều tóm gọi là gốc của kho đụn. Tỳ vận hóa các chất cặn bã lọc lấy chát tốt để nuôi ngũ Tàng, rồi dồn các chất thừa xấu ra tiền hậu âm, nên mới gọi nó là "khí" tức là đồ dùng.
- Năm Tàng sáu Phủ cộng cả lại là mười một Tảng. Đờm chủ về Giáp mộc, là một cơ quan đứng đầu của năm vận sáu khí. Đờm khí tăng lên thì khí của tất cả mười một Tàng đều thăng lên, nên mới gọi là đều thủ quyết Ở Đởm. Như trên kia có chỗ nói là "cầu cái chí" tức là nói đều quay cả về mùa xuân. Tỷ như: chí của Can là nộ, chí của Tâm là hỷ, chí của Tỳ là tư, chí của Phế là ưu, chí của Thận là khủng... mà cái nào cũng phải thủ quyết ở Dớm, Đớm tức là xuân vậy.
- Đoạn này nói về sáu khí cúa Tàng Phủ, để ứng với cái tiết sáu sáu của trời đất. Bên tả là Nhân nghinh, bên hữu là Khí khẩu. Dương khi từ bên tả mà dẫn sang bên hữu, Âm khí từ bên hữu mà dẫn sang bên tả. Cho nên mới lấy nhân nghĩnh để "nghe" cái khí của Tam dương. Tàng Phủ của con người, lúc nào cũng ứng với sáu khí cùa Tam âm, Tam dương. Thấy "một thịnh là bệnh ở Thiếu dương...". vì Thiếu dương chủ về cái khí xuân thăng, Thái dương chủ về hạ, Dương minh chủ về thu. "Bốn thịnh trở lên" đó là nói về: Âm dương ở con người, chỉ có dương là thịnh hơn hết. Cách dương, vì dương chủ về bên ngoài. Nhưng giờ bị ngăn (cách) hăn ở bên ngoài, không được cải khí trung kiến (ở khoảng giữa phát hiện ra, làm liên lạc) của Tam âm đề điều hòa, khiến cho Dương một mình thái quả.
- "Thốn khẩu" tức là hai bộ vị mạch của kính thủ Thái âm, để nghe cái khí của Tam âm. Quyết âm chủ về cái khí xuân sinh của Át mộc cho nên thấy mạch ở Thốn khấu một thịnh là bệnh ở Quyết âm và Thiếu âm. Nói:
- bổn thịnh trở lên" là vi trong lúc đó, âm dương ở con người chỉ có Thái âm là thịnh hơn hết. Sở đĩ gọi là "quan âm", vì: Âm khí chủ ở bên trong, giờ bị đóng (quan) hãn ở bên trong, không được cái khí trung kiến của Nhị dương để điều hòa... khiến cho Tam âm một mình thái quá. Đây nói về bệnh mạch của Thốn khẩu và Nhân nghinh, để ứng với Tam dương, Tam âm của bỗn mùa... Tức là do sự không quân bình vê sáu khí bốn mùa, khiển cho nhân dân cũng gây nên tật bệnh. Cho nên ở thiên Lực vị chỉ đại luận có nói: "Nên đến mà không đến, là "lai khí" bất cập; chửa nên đến mà đến, là "lai khí” hữu dư. Linh khu nói: "Chân ở mạch thôn, khẩu, nhân nghĩnh, sẽ biết âm dương "hữu dư" hay "bất túc", "bình" hay "bất bình". Như thể, không còn e ngại gì thiếu sót nữa. Phàm gợi "bình nhân”, tức là người vô bệnh. Ngươi vô bệnh mạch khâu, nhân nghĩnh đều Ứng với bốn mùa. Phàm nói "tương ứng”, tức là mạch khẩu với nhân nghĩnh bình đăng, trong âm có đương, trong đương có âm, không hề thiếu sót. Nói: "đều từ sập tư trở lên", tức là âm dương dều thái quá. Trời có âm dương, đất cũng có âm dương. Ở dưới dương thịnh, âm tỉnh kế vào; ở dưới âm thịnh, Dương khí kế theo. Âm dương "thừa chế" với nhau đề cùng sinh hóa. Con người sinh ra ở trong khoáng giao khí của trời đất. Âm dương điều hòa. tức là vô bệnh, Nêu âm dương đều thịnh mà không hòa, thể tức là không dúng với sự "tinh khí thừa chế" của trời đất, còn sống sao được?
Thiên 10–18 · Ngũ Tàng Sinh Thành Thiên → Bình Nhân Khí Tượng Luận
Chương mười · Ngũ Tàng Sinh Thành Thiên
Kinh Văn
Tâm hợp với mạch, vinh ra ở sắc, nó chủ ở Thận.
Phé, hợp với bì (đa), vinh ra ở lông, nó chủ ở Tâm!?,
Can hợp với Tân, vinh ra ở trảo (các móng tay chân), nó chủ ở Phết,
Tỳ hợp với Nhục (thịt), vinh ra ờ môi, nó chủ ở Can,
Thận hợp với cốt (xương), vinh ra ở tóc, nó chủ ở Tỳ,
Cho nên ăn nhiều vị mặn (hàm) thì mạch đọng xít mà sắc biến; ăn nhiều vị đăng (khô) thì bì khô mà mao rụng; ăn nhiêu vị cay (tân thì cân cập (rút, khó co duỗi) mà trảo khô; ăn nhiều vị chua (toan) thì thịt (nhục) xúc (chùn) lại, mà môi rộp lên; ăn nhiều vị ngọt (cam) thì xương đau mà tóc rụng. Đó là sự bị thương của năm Tàng do năm vị gây nên,
Cho nên:
Tâm ưa vị khổ, Phế ưa vị tân, Tỷ ưa vị cam, Can ưa vị toan, Thận ưa vị hàm... Đó lả cái "hợp" của năm vị đối với năm Tàng, do đó mới nuôi nên khỉ của năm Tàng?,
Phàm sắc hiện ra mặt:
xanh bợt như sắc cỏ héo, thì chết; vàng bệch như sắc chỉ xác thì chết; đen kịt như sắc bồ hóng thì chết; đỏ sạm như sắc máu đọng thì chết; trăng bợt như sắc xương khô thì chết. Đó là năm sắc hiện ra triệu chứng chết.
Sắc xanh như màu lông chỉm trả (bói cá), sắc đỏ như màu mà gà, sắc vàng như màu dưới bụng của, sắc trắng như màu mỡ đông, sắc đen như màu lông quạ... đều sống. Đó là năm sắc hiện ra cái triệu chứng sống.
ra Sinh ra ở Tâm, muốn được như lựa bọc "chu" (đỏ thẩm); sinh ra ở Phế, muốn được như lụa bọc "hồng" (đỏ nhạt, phớt); sinh ra ở Can, muốn được như lụa bọc "cam" (đỏ tía); sinh ra ở Tỳ, muốn được như lua bọc hạt quát lâu (đỏ vàng); sinh ra ở thận, muốn được như lụa bọc "tử" (tía hắt, hơi có mảu đen). Đó là chân khí của năm Tàng "vịnh" ra ngoài sắc mặt.
Sắc, VỊ ứng với năm Tàng:
Trắng ứng với Phế, vị Tâm; đỏ ứng với Tâm, vị khổ; vàng ứng với Tỳ, vị ngọt; xanh ứng với Can, vị toan; đen ứng với Thận, vị mặn.
Cho nền, trắng ứng với bì, đỏ ứng với mạch, xanh ứng với cân (gân), vàng ứng với thịt, đen ứng với xương.
Bao các mạch đều dồn lên mắt; bao các tủy đều dồn lại óc (óc là bể của tủy); bao các gân đêu dồn vào khớp (khớp xương); bao các huyết đều dồn vào Tâm: bao các khí đều dồn lên Phế... Đó là sự tuần hoàn sớm tối của "bốn chỉ, tám khí",
Người ta, khi năm thì huyết dồn về Can”, Can nhờ huyết nên hay trông; chân nhờ huyết nên hay đi; tay nhờ huyết nên hay nắm: ngón tay nhờ huyết nên hay cầm?
Năm, dậy, ra ngoài bị gió thối, huyết tụ ở bì phu. Thành chứng tý (vít lấp tê đau), tụ ở mạch lạc thành chứng sáp (huyết không lưu thông), tụ ở chân thành chứng quyết (giá lạnh). Ba chứng đó đều do huyết lần đi không trở lại được nơi cốt không'* mà gây nên.
Ở con người, có đại cốc 12 phận, tiểu khê 354 nơi, là 12 Du... Đó đều là nơi tụ hội của Vệ khí. Tà khí "khách" ở đó, có thể dùng châm thạch cho tiết bỏ địt.
Bắt đầu chân bệnh, phải xét rõ âm dương kinh khí của năm Tàng để đoán bệnh. Muốn biết bệnh bắt đầu từ kính nảo, phải lấy kinh khí của năm Tàng làm căn bản.
Phàm:
nhức đâu, đau trán là đo dưới hư trên thực, lỗi tại túc Thiếu âm Cự dương, quá lắm thì vào thận.
Chóng mặt choáng váng, mắt mờ tai điếc là do dưới thực trên hư, lỗi tại túc Thiếu dương Quyết âm, quá lắm thì vào Can,
Bụng đây anh ách, suốt tới Chỉ cách, dưới quyệt, trên mạo (chóng mặt), lỗi tạt túc Thái âm Dương minh,
Khái thấu hơi nghẽn, trong "hung" quyết nghịch, lỗi tại thủ Dương minh Thái âm'?,
Tâm phiền đầu nhức, bệnh ở trong cách, lỗi tại thủ Cự đương Thiếu âm.
ha.
Về mạch:
có đại, tiểu hoạt. sắc, phù. trầm, có thể chia rõ cái tượng của năm Tàng, có thể lấy loại để sưy; năm Tàng hợp với năm âm. có thể lấy ý để biết năm sắc hiện ra nét mặt, có thê lấy mắt để trông. Người ta nếu hay đem hợp cả sắc với mạch thì về phép chữa bệnh có thể vẹn toàn, "Xích” mạch hiện đến, thấy suyễn và kiên, ấy là có tích khí ở trong, do bị hại về sự ăn, bệnh đó gọi là tâm lý. Nếu bệnh mắc bởi ngoại đâm, thì cũng bởi nghĩ ngợi khiến cho Tâm hư, nên tả khi mới có thể phạm vào được!, "Bạch" mạch hiện đến, suyễn mà phù, đó là trên hư dưới thực, sẽ thành chứng kinh, bởi có tích khí ở trong hung. Nếu suyễn mà hư, thì gọi là phế tý hàn nhiệt. Bệnh này gây nên bởi say rượu mà nhập phòng, "Thanh" mạch hiện đến, trường mà bật mạnh ở tả hữu, đó là bời có tích khí ở Tâm hạ vả hai bên sườn gọi là Can tý, Bệnh này gây nên bỏi hàn thấp, với chứng sán giống nhau; hoặc lưng đau chân lạnh và đầu nhức, “Hoàng” mạch hiện đến, đại mà hư, có tích khí ở trong bụng gọi là quyết sán, cùng một chứng trạng với đàn bà giỗng nhau. Bệnh này cây nên bởi tứ chi có mồ hôi mà gặp gió.
"Hắc" mạch hiện đến, trên kiêm mà đại, đó là vì có tích khí ở tiểu phúc với tiền âm, gọi là chứng Thận tý. Chứng này gây nên bởi tắm gọi nước lạnh mà đi năm ngay.
Phàm xét những mạch Cơ kinh thuộc vẻ ngũ sắc:
mặt vàng. mặt xanh: mặt vàng, mắt đỏ; mặt vàng, mãt trắng; mặt vàng, mặt đen... đều không chết.
Nếu mặt xanh, mắt đỏ; mặt đỏ, mắt trắng; mặt xanh, mắt đen; mặt den. mắt trắng: mặt đỏ, mắt xanh... đều chết,
Chú Giải
- Tâm chủ về huyết mạch, nên mới nói là: “hợp với mạch". Kính nói: "Mạch phát hiện ở khí khâu sắc hiện ra ở Minh đường; cái tính hoa của Tâm hiện lên mặt..." nên đây nói: "vinh ra ở sắc". Vinh là tươi đẹp cũng như tĩnh hoa. Năm Tàng hợp với năm hành, đều có sự tương sinh, tương chế, nên mới có sự sinh hóa. Tâm chủ Hỏa, mà bị chế với thận Thủy. Vì vậy, nên Thận Tàng mới là chủ về sự sinh hóa của Tâm. Nên mới nói: "chủ ở Thận.
- Phế chủ về khí, khí chủ về biểu, nền "hợp với bì". Thương hàn luận nói: "Mạch ở Thốn khâu hoãn mà trì. Hoãn thì Dương khí trưởng, tiếng theo về tiếng "thương", mà mao phát (tóc) dài...". Vì mao (lông) liền ở bì, - khí trưởng thì mao vinh.
- Tùy sinh ra Can, Can sinh ra cân, cho nên mới nói: “hợp với cân. Trảo là cái chất thừa của cân, nên mới nói: "vinh ra ở trào.
- Tỷ chủ về trung ương Thỏ, là một cơ quan thương lẫm, chủ về việc vận hóa cái tỉnh hoa của thủy cốc để sinh ra cơ nhực, cho nên mới nói: "hợp với nhục". Tỷ khai khiến ra miệng, nên mới "vinh ra ở môi.
- Thận chứa tỉnh mà chủ về tủy, cho nên mới nói là: "hợp với xương. Tóc là cái chất thừa của tinh huyết, cho nên nó mới vinh ở tóc.
- Bài Neũ hành luận nói rằng: Bắc phương sinh ra khí hàn, hàn sinh ra thủy, thủy sinh ra hảm (mặn), hàm sinh ra thận, thận sinh ra cốt tủy, tùy sinh ra can, can sinh ra cân, cân sinh ra Tâm, Tâm sinh ra huyết, huyết sinh ra Tỳ, Tỳ sinh ra nhục, nhục sinh ra phế, phế sinh ra bì mao, bì mao sinh ra thận... Đó là do Thiên ất sinh thủy và là sự tương sinh của năm Tảng. Lực vị chí luận lại chép răng: Đề hỏi: Địa lý ứng với sáu tiết, khí vị như thế nào? Kỳ Bá thưa răng: Ở dưới Trướng hỏa, thủy khí tiếp theo, ở dưới thủy vị, Thổ khí tiếp theo; ờ dưới Thô vị, phong khí tiếp theo; ở dưới phong vị, Kim khí tiếp theo; ở dưới Kim vị, hỏa khí tiếp theo; ở dưới quân hỏa; âm tỉnh tiếp theo. “Cang thì hại, thừa sẽ chế", chế thì sẽ thành ra sự sinh hóa. Cho nên mới nói rằng: "Tâm hợp với mạch, phế hợp với bì". Đó là nói về sự tương sinh của năm Tàng. Như nói: "Nó chủ vẻ thận, nó chủ về Tâm v.v... đó là nói về sự tương thành của năm Tàng. Lời giải tổng quát: Đoạn trên này nói về cái "hợp", cái "vinh" và cái “chủ" của năm Tàng. Ở con người có mạch, Tâm hợp với nó; ở con người có sắc, Tâm làm vính cho nó. Nhưng Tâm thuộc Hỏa, thận thuộc Thủy, Hỏa nó chỉ sợ có Thủy, bởi thế nên cái chù về Tâm chỉ có thận. Cũng như quần chủ, là một vị mà nhân dân đều sợ, nên liền lấy người sợ đó làm chủ... Các chữ chủ sau đây, đều theo một nghĩa như thế cả. Ở con người có bì, phế hợp với nó; ở con người có mao, phế làm vinh cho nó. Nhưng phế thuộc Kim, Tâm thuộc Hỏa. Kim nó chỉ sợ có Hỏa, bởi thế nên cái chủ về phế chỉ có Tâm. Ở con người có cân, can hợp với nó; ở con người có trào, can làm vinh cho nó. Nhưng can thuộc Mộc, phê thuộc Kim, Mộc nó chỉ sợ có Kim, bởi thế nên cái chủ về can chỉ có phế. Ở con người có nhục, tỳ hợp với nó; ở con người có môi, tỷ làm vinh cho nó. Nhưng ty thuộc Thỏ, can thuộc Mộc. Thổ nó chỉ sợ có Mộc, bởi thế nên cái chủ về tỷ chỉ có can. Ở con người có xương, thận hợp với nó; ở con người có tóc, thận làm vinh cho nó. Nhưng thận thuộc Thủy, tỳ thuộc Thổ. Thủy nó chỉ sợ có Thổ, bởi thế cái chủ về thận chỉ có tỳ.
- Đoạn nảy nối đoạn trên, nói về cái hại của sự thái quá. Năm hành có tương sinh, lại có tương chế, không thể thiên phế (bò lệch một bên); nếu sự "chế" thái quá thì lại có hại “tương tặc" (cùng làm hại). Vì thế nên, ăn nhiều vị mặn thì thủy vị thái quá mà làm thương đến Tâm, do đó mạch sẽ đọng xít mà sắc biến. Ăn nhiều vị đẳng thì vị Hoả thái quá mà làm thương Phế, do đó bì sẽ khô mà mao rụng. Án nhiêu vị cay thì Kim vị thái quá mà làm thương đến can, do đó cân sẽ co rút mà trảo khô khan. Ăn nhiều vị chua thì mộc vị thái quá mà làm thương đến tỳ, đo đó thịt sẽ dồn xúc lại mà môi rộp lên. Ăn nhiều vị ngọt thì Thô vị thái quá mà làm thương đến thận, do đó xương sẽ đau mà tóc rụng... Năm vị cốt đề nuôi năm Tàng, Tàng này có sự "thiên thắng", thì cái Tàng không thắng kia sẽ bị thương... Vậy nên cái sự "thừa, chế" ta không nên đề cho có lúc thái quá.
- Năm vị vào miệng, chứa ở Trường, Vị rồi biến hóa để nuôi khí của năm Tàng, do đó mới hiện ra năm sắc khác nhan, như tiết dưới.
- Những sắc là triệu chứng chết đều có vẻ khô khan, sạm xĩnh, tức là không có "thần", không có VỊ khí; trái lại những sắc hiện ra triệu chứng sông, đều có vẻ bóng nhoáng mỡ màng, tức là có thần và còn Vị khí.
- Tiết trên nói về khí của năm Tàng hiện năm sắc ra ngoài; đây lại nói về cái chân khí của năm Tàng ấn hiện ra ở ngoài bì phu. Lụa là một thử trăng. các sắc hiện ra ở bên trong lụa, không thật bộc lộ ra bên ngoài. Bởi khí chủ về sắc trắng mà "vinh" chủ về sắc hồng... Tựa “như lụa bọc..." tức là nói: "Cái khí của năm Tàng bọc ở bên ngoài. Tắt cả năm Tảng lúc nào cũng phải ân hiện ở đó, Tức như tục ta thường nói: “Có máu mặt,
- Cái tính khí của năm Tảng sáu Phủ là 12 kinh mạch đều dồn lên mặt, tụ vào óc, rồi mới dẫn xuống cỗ để phân tán đi các nơi.
- Bốn chị là chỗ kính Du ra vào của năm Tàng; tám khê tức là các chỗ thịt bắp ở bên trong bốn chỉ và là nơi thống hội chân nguyên của năm Tàng. Đoạn nảy lại nói: kinh huyết của năm Tàng đều gốc ở Tâm; khí của năm Tảng đều gốc ở phế. Kinh khí vòng đi khắp "bến chỉ, tám khê”, rồi dồn lên mắt, tự vào óc, nhuần gân xương, chơn quan tiết (các khớp xương), sớm tối dẫn đi khắp trong ngoài, như cải vòng không đầu nối. Cho nên người muốn nhận sắc, nên biết cái khí của năm Tàng: người muốn chân mạch, cũng nên lấy năm mạch làm trước.
- Doạn này nói về huyết theo vệ khí đề dẫn đi ở ngoài mạch. Huyết lả chất tình hoa của thủy cốc, tràn ngập ở bên trong, bồ tán ở bên ngoài. Cái thứ dẫn đi ở trong kinh toại, tức là Vinh huyết, còn tràn ngập ở bên trong tức là nơi Xung nhâm. Mạch Xung nhâm khởi từ bảo trung, vòng lên sau lưng, là nơi "bê" của kinh lạc. Cái mạch nối ra ở bên ngoài, theo bên hữu bụng dẫn lên, bố tán ra bên ngoài, nhuận bì phu, mọc hảo mao, lúc thức thì theo "vệ" dẫn trở về can.
- Đây nói về huyết dẫn đi khắp mọi nơi.
- Con người có 365 khớp xương (tức là cốt không) lạc mạch đều thấm nhuân vào đó.
- Đại cốc là các huyệt lớn, tiểu khê là các huyệt nhỏ. "Mười hai Du tức là 12 Du huyệt của Dại cốc. Cái số huyệt của Khê, Cốc trên đây, là ứng với số ngày trong một năm. Một năm chỉ có 360 ngày, trừ sảu ngày "Sóc hư", còn 354 ngày. để ứng với cái số Tiểu khê. Mỗi năm năm ngày khí doanh, có 940 phận; sóc hư năm ngảy, có 940 phận, hợp lại thành 12 ngày đề ứng với 12 Du. Lấy một năm 354 ngảy, hợp với 12 ngày khí doanh Sóc hư, thành 365 ngày có lẻ, thành một năm. Nên mới nói: "Mỗi năm ba trăm lẻ sáu tuần vả sảu ngày, lấy tháng nhuận đẻ định bốn mùa, thành một năm.
- Cự dương tức là Bảng quang. Bàng quang với Thiếu âm cùng là biểu, lý với nhau. Dương khí sỉnh ra ở trong thủy Tảng thủy hủ, mà dẫn lên đầu trán. Trên đây nói "thực" là chỉ về tà khí thực; nói chữ "hư" là chi về chính khí hư. Tà khí phạm vào người, trước ở khí phận ngoài bì mao, lưu ở đây không tiết ra được thì chuyên vào kinh. Vì thế nên mới nói là lỗi tại Cự đương và Thiếu âm. Quá lãm thì vào thận, đó là kinh lạc bị tà, mà lắn sâu vào Tàng Phủ.
- Quyết âm can Tàng, khai khiếu ở mắt, Thiếu dương kinh mạch, đân lên ở tai, tà thực ở dưới, khiến cho kinh khí không thông lên được, nên mới thành ra chứng mắt mờ tai điếc; chính khí hư ở trên, nên mới thành ra choáng váng, 8! hung là thành quách của Tỳ, Vị. Bụng đầy anh ách, đó là phạm vào khí thận của Thái âm Dương minh. Chí cách tức là chỉ lạc và nội cách. Cải chỉ lạc của Thái âm Dương minh suốt vào nội cách. Tả ở khí phận, chuyên vào lạc. nên mới đây ở cả chỉ cách.
- Thủ Thái âm chủ về khí và bì mao. Tà phạm vào khí phận bì mao, thì sinh ra chứng khái thâu thượng khí.
- Cái khí của quân hỏa bị tà phạm ở bên ngoài thì sinh ra tâm phiền ở bên trong, cái khí của Thái dương bị tà thì gây nên chứng nhức ở trên. Đoạn trên này xét chứng trạng đề biết bệnh của năm Tàng.
- Đoạn này nói về chẩn mạch, xem sắc để biết bệnh của năm Tàng. Mạch tiểu là chính khí hư, đại là tả khí thịnh, hoạt chủ về huyết thương, sắc chủ vẽ thiểu khí, phù là bệnh ở ngoài ở Phù; trầm là bệnh ở lý ờ Tàng. Sáu mạch trên đây là đại cương của các mạch khác.
- Dưới đây nói về mạch của năm Tàng. Nhưng không dùng tên Tàng mà dùng săc của Tàng. Như "xích" tức là Tâm, "bạch" tức là Phế v.v... "Suyễn" là hình dung mạch nhanh chóng, "kiên" là mạnh và rắn. Gây nên tích khí là bởi thương thực; hoặc để cho ngoại tà phạm được là do Tâm hư.
- phế chủ về khí mà hư, nên mạch phủ; bệnh ở khí mà không bệnh ở huyết, bệnh ở trên mà không bệnh ở dưới, cho nên mạch trên hư mà dưới thực. Dương khí hư nền thành chứng kinh. "Hung" là một nơi bê của khi, khí đó dỗn cả lên phế để chủ về việc hỗ hấp. Tà tụ ở bộ phận trên thì chính khí ở chiên trung sẽ bị hư, cho nên thành chứng suyễn... chân khí chứa ở phế, chủ về việc dẫn hành vinh vệ ầm dương. Giờ âm dương bị hư, thì sẽ gây nên chứng vãng lai hàn nhiệt. Rượu là một chất lỏng của loài ngũ cốc, nó có cái tính rất mạnh tợn; nó vào trong Vị, khiến cho Vị phải trương lên và đôn khí ngược lên, thảnh ra chứng đây khó chịu ở trong hung. Say rượu mà nhập phòng sẽ thương đến thận, thận là gốc, phế là ngọn. Giờ gốc bị thương cho nên phế hư.
- Trường mà bất mạnh tức là mạch "huyền": mạch huyền là Dương khi bị thương. Phàm chứng hàn thấp phạm vào người ta, phải từ chân trước. Mạch của kinh túc Quyết âm từ chân lên gối, qua Âm khí lên tiểu phúc rồi tới hiếp lặc (xương sườn) cho nền bệnh này cũng giống với bệnh sán thống mà lưng đau và chân lạnh. Quyết âm với Đốc mạch cùng hợp cả ở đỉnh đầu, cho nền có chứng nhức đầu.
- 3) Tỳ thuộc về tứ chỉ. Tứ chỉ mồ hôi ra mà gặp gió, thi phong thấp sẽ lắn vào tỳ, mà thành ra chứng tích khí. Khí đó bị tích lại, không thắm nhuần ra tứ bàng được, thì nghẽn ở bên trong mà thành ra chứng quyết khí. Sở dĩ gọi là quyết sán là vì vừa nghẽn mà lại vừa đau. Về huyết khí con trai con gái cũng giỗng nhau, nên đây nói cũng giống với đàn bà.
- Trên đây nói mạch ở trên kiên... tức là kiên đại ở trên mà không trảm. Thận Tàng thuộc về hản thủy mà chủ khí, cùng với nước lạnh cùng một tính chất, nên mới vì tắm mà sinh bệnh ra vậy.
- »Cơ kính" tức là nói về mạch sắc của Xung nhâm. Xung nhâm là cái bể của kinh huyết. Huyết của năm Tàng đều dồn cả về Can, cho nên hiện ra bên ngoài ta thấy ở mắt. Mặt chủ về khí sắc, mắt chủ về huyết sắc. Nhân năm sắc ở mắt mà đều thấy có mặt vàng, đó là âm của năm Tàng vẫn còn có đương của vị quản, nên không chết. Người ta không có Vị khí thì chết. Mặt không có sắc vàng, tức là không có Vị khí. Ở mặt mà ta chỉ thấy những sắc xanh đen và đỏ, v.v... đó là Tàng tà lần dương, chỉ còn có âm mà không có dương, nên mới đoán là đều chết.
Chương mười một · Ngũ Tàng Biệt Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hồi rằng:
– Tôi nghe những kẻ phương sÉ” hoặc lấy não tùy làm Tàng, hoặc lấy Trường, Vị làm Tàng, hoặc lấy làm Phủ... mà đều lây làm phải cả, không biết vì sao, xin nói rõ cho nghe...
Kỳ Bá thưa rằng:
– Não, tỦy, cốt, mạch, Đởm, nữ tử bảo... sáu thứ đó đều đo địa khí sinh ra. Nó đều Tàng ở âm, mà tượng với đất, chỉ có Tảng mà không Tàng, gọi nó là “kỳ hằng chỉ Phủ”. Đến như Vị, Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang... năm cái đó đêu do thiên khí sinh ra. Khí của nó tượng với trời, chỉ tả mà không Tàng, Nó hấp thụ cái trọc khí của năm Tàng, nên gọi là “truyền hóa chỉ Phủ”, nó không thể tích trữ được lâu mà phải Du tả ngay.
Phách môn cũng là một cơ quan sai khiến của năm Tàng, thủy cốc tới nơi đó, không thể chứa lâu,
Phàm gọi là năm Tàng, tức là những cơ quan chứa tinh khí mà không tả, nó chỉ mãn mà không thực. Đến như Phủ là một cơ quan truyền hóa mà không Tàng, cho nên chỉ thực mà không thê mãn. Bởi vì thủy cốc vào miệng, thời vị thực mà trường hư. khi thức ăn đã dẫn xuống, thời trường thục mà vị hư. Cho nên nói: “thực mà không mãn, mãn mà không thực,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Khí khâu sao lại có thê làm chủ cho cả năm Tàng?
Xọ Bá thưa rằng:
– VỊ coi cũng như cái biển đề chứa thủy cốc, nó là nguôn gôc của sáu Phủ. Năm vị ăn vào miệng, chứa ở Vị để nuôi khí của năm. Tảng: Khí khẩu cũng tức là Thái âm. Phàm khi vị của năm Tàng sáu Phủ. đều sản xuất ra từ Vị, rồi biến hiện lên khí khẩu. Cho nên ở Tàng tượng luận đã nói: “năm khí hút vào mũi, chữa ở Tâm phê. Tâm phê có bệnh, mũi cũng vì đó mà thở không thông,
Phàm trị bệnh, phải xét ở bộ phận dưới như Trường vị, là cơ quan thâu nạp và bài tiết thủy cốc; lại phải chân ở khí khâu đẻ đoán cái khí của Tàng, Phù... rồi mới nhận xét đến ý chí và bệnh tình ra sao.
Nếu câu nệ vào quỷ thân, không thể nói là đức tốt; nếu lại ghét cả châm thạch, không thê tiến tới trí xảo!,
Người mắc bệnh, không muốn dùng đúng phương pháp đề điều trị, bệnh tật không khỏi, dù có cỗ chữa cũng là vô ích.
Chú Giải
- É Phương sĩ tức là những kế tu luyện phương thuật, như học đạo thần tiền V,V... ''? Đất chủ về bế Tàng mà khí bốc lên, trời chủ về khí hóa mà khí Bằng xuống. Con người ta Tàng Phù hình hài, ứng theo với khí Âm Dương của trời đất. Sáu thử trên đây, khác với các cơ quan truyền hóa nên gọ! là kỳ hãng. Phách môn tức là giang môn hoặc hậu môn, nơi cửa bài tiết đại tiện, nên thủy cốc không chứa được lâu.
- Tịnh Khí mới có thể nói là mãn (đây ràn) thủy cốc mới có thê nói là thực (đầy đặc). Tàng chỉ chửa tỉnh khi, cho nên mãn mà không thực. Còn như các Phủ thi thủy cốc có thể đây đặc ở trong, nhưng cũng không thê chứa lâu, nên mớt nói là thực mà không mãn.
- khí khẩu là nơi của hai mạch thủ Thái âm. Cho nên khí của năm Tàng đều hiện ra ở khí khẩu, và đo đó, khí khẩu làm chủ của năm Tàng.
- Thủy cốc vào Vị, do túc Thái âm Tỳ chuyên Du để thấm rồi ra bốn Tàng. Nhưng "thủy" vào VỊ, lại do thủ Thái âm Phế chứa lấy, rồi phân tán ra các nơi; "cốc" vào tới Vị, tính khí truyền sang mạch, Phé làm nơi tổng hợp của trăm mạch và truyền tỉnh ra bi mao; bì mao và mạch hợp với tính, rồi hành khí ra Tàng, Phủ. Vậy thì bao khí vị của năm Tàng sáu Phủ đều sản xuất bởi vị và đều biến hiện ra khí khẩu, nên nói "khí khâu cũng là Thái ảm"”. Tâm với phế ở bộ phận trên, thuộc dương. Phế như cái lọng che của tâm, khai khiểu lên mỗi, cho nên dẫn câu Tăng tượng luận mà nói cho rõ là: vị theo về âm mà khí theo về dương.
- Noày xưa có thuật "chúc do" dùng để chữa bệnh, tựa như phép của thầy phù thủy... có thê đem bệnh của người truyền sang loài vật, rồi vật mắc bệnh mà người khỏi... Trên đây nói vẻ "quỷ thân" tức là chỉ về thuật này.
Chương mười hai · Dị Pháp, Phương Nghi Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Y giả trị bệnh, cùng một bệnh mà phép chữa không giống nhau lại cùng đều khỏi, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là do địa thế khác nhau.
Ty như Đông phương, là một khu vực cái khí của trời đất băt đầu phát sinh từ đó. Nơi đó sản xuất cá và muối nên gần bể. Người sinh ở nơi đó hay ăn cá và ưa vị mặn. Ở đã lấy làm quen, ăn đã lấy làm ngon. Cá ăn nhiều khiến người hay có chứng Nhiệt trưng (nóng ruột) vị mặn thắng được huyết, nên người ở đó phần nhiều sắc đen mà thớ thịt thưa doãng. Thường mắc phải bệnh ung thũng (mụn nhọt, Về phép trị, nên dùng biêm thạch. Cho nên biềm thạch sản xuất ở phương Đông, r*a
Tây phương lả một khu vực sản loài kim ngọc, sa thạch cũng tụ hợp nơi đó. Khí của tròi đất chủ về thâu dẫn. Người sinh ở nơi đó thường ở nơi cao có nhiều gió, thủy thổ lạnh lẽo và cứng răn, Dân thường mặc áo lông, ăn những vị đậm béo, nên Tàng người bẻo chặt và nhiều mỡ... Do đó, tà khí không thê phạm được vào thân thể, tật bệnh chỉ có thể tà bên trong phát ra?,
Về phép điều trị, nên dùng độc dược (các thứ thuốc có chất độc). Cho nên độc dược cũng sản xuất ở Tây phương.
Bắc phương là một khu vực bể Tàng của trời đất. Đất ở đó phần nhiều cao như gò núi, gió rét cắt da, nước đóng thành băng. Người sinh nơi đó thường tụ họp quây quân và uông sữa. Do đó, Tàng hàn, sinh ra chứng mãn (đây). Phép chữa nên dùng ngài cứu, cho nên ngài cứu cũng sản ra ở phương Bắc?,
Nam phương là một khu vực trưởng dưỡng của trời, đất, Dương khí rất thịnh ở nơi đó. Đất ở đó thấp và thủy thô ấm ướt, thường tụ nhiều vũ lộ (sa mù và móc). Người sinh nơi đó ưa ăn vị chua và các thức ướp (như tương, mắm). Tạng người thớ thịt mịn đặc và hiện sắc đỏ, phần nhiều mắc bệnh loạn tý ''. Về phép trị, nên dùng “vi châm. Cho nên “cửu châm” cũng sản xuất tại phương Nam??,
Trung ương, đất bằng phăng và ẩm thấp, là một khu vực trời đất sinh ra muôn vật đông nhiêu. Người sinh nơi đó, ăn uỗng nhiêu thứ mà không bị vất vả lầm, nên thường mắc bệnh nuy, quyết, hàn, nhiệt.
Vẻ phép chữa nên dùng “đạo dẫn án cược” cho nên phép đạo, dẫn, án cược cũng sản xuất ở trung ương?,
Cho nên Thánh nhân tùy theo các địa phương, các khí hậu để thi dụng các phương pháp trị liệu, đều được thích nghỉ (đúng). Vì thế nên, phép trị khác mà bệnh đều khỏi.
Chú Giải
- tÙ Tính của loài cá đều thuộc Hỏa, nên ăn nhiêu hay sinh Nhiệt trung; Tâm chủ về huyết, cho nên vị mặn thăng huyết (tức Thủy khắc Hỏa). Vi huyết bị khắc, hoặc sinh ra ngừng trệ, không lưu thông nên mới sây ra ne thũng.
- Biêm thạch" tức là một thứ đã dùng đề chích vào huyết mạch, cho tắn bỏ ngùng trệ.
- Người đã béo đầy rắn chắc, thì tà khí còn phạm vào sao được. Nên đôi khi mắc bệnh, chỉ có thể do ăn uống và thất tình gây nên.
- Chỉ độc được mới có thể công tà. Nên trên đây nói phải dùng độc được. et Dương vốn sinh ra tự âm, hỏa vốn sinh ra tự thủy. Ngài là một thứ cỏ bầm thụ được cái chân dương ở trong Thủy, Bắc phương riêng thịnh về khí âm hàn. Dương khí bị bể Tàng, dùng ngải để cửu, có thể thông tiếp được nguyên dương ở dưới Chí âm. Nền ngải cũng sản xuất ở phương Bắc. Đông Duy Vẫn nói: Xem đây thì biết, gặp những bệnh hư hàn, trướng mãn, phép chữa nên dùng ôn bô để khải phát nguyên dương, không nên dùng những vị hàn lương khắc phạt.
- VỊ toan có cái năng lực thâu liễm, nên thớ thịt mịn đặc. Đỏ, là thuộc về phương Nam, và đó là sắc hiện ra bên ngoài. "Loạn tý" là một chứng gân bị co rút và tê đau. #ỨI châm" một thứ châm (kim) nhỏ, chỉ dùng để tiêm vào làn đa mỏng. Châm có chín kiểu khác nhau, vì các bệnh khác nhau, nên phải dùng châm khác nhau. Sẽ nói rõ ở Lĩnh khu.
- Trung ương tức là Thể vị, nên muôn vật sinh ra ở đó. Vì bốn phương tụ họp, phẩm vật đầy đủ, nên về sự ăn uống cũng không có nhất định, Sở dĩ sinh ra nuy, quyết và hân nhiệt, là vì vận động ít, khí huyết không lưu thôn. Đây cũng là nói đại khái. chử không nhất định.
- Đạo dân như lối giơ tay lên, có tay xuống, của phép thể thao..f, cược như đảm bóp, hoặc dùng chân để dận lên lưng v.v... Về phương pháp này mục đích là làm cho khí huyết lưu thông.
Chương mười ba · Di Tinh Biến Khí Luận
Kinh Văn
: Hoàng Đế hỏi rằng:
– Tôi nghe đời xưa trị bệnh, làm cho đi ích tính, biến hóa khí... chi cần dùng phép Chúc do mà thôi, Đến đời nay trị bệnh, dùng độc dược để trị bên trong, dùng châm thạch để trị bên ngoài... Thế mà có người khôi, có người không khỏi, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về đời vãng cổ, người ở lẫn vào khoảng cầm thú, động tác (làm mạnh) để cho khỏi hàn, âm cư (núp dưới bóng râm) để cho khỏi năng. Bên trong không có điều gì hệ lụy; bên ngoài không có sự gỉ bó buộc. Đó là một thời đại điềm đạm, ý chí hoàn toàn thỏa thích, tà không thể lọt vảo sâu. Vì thể nên không cân dùng độc dược đề trị bên trong, dùng châm thạch để trị bên ngoài... Mà chỉ dùng Chúc do cũng có thê khỏi.
Đến đời nay thì khác hăn. Sự ưu hoạn làm rầy bên trong, việc nhọc nhãn làm lụy bên ngoài: đã trải với khí của bốn mùa. lại ngược cà sự "thích nghi” của hàn thử (rét nóng). Gió độc thôi tới luôn, hư tả quanh sớm tối... Bên trong vào sâu tới Phủ. Tàng. cốt. tủy: bên ngoài làm thương đến không khiếu, bì phu. Vì thế nên bệnh nhẹ hỏa nặng. bệnh nặng thì chết. đù có Chúc do cũng không công hiệu.
Hoàng Đề khen phải, rồi lại hỏi rằng:
– Tôi muốn khi trị bệnh. biết rõ được sống chết. phân biệt được hiểm nghi, tìm tới điều cốt yếu, không hễ thiếu sót... Lãm thế nảo được như vậy?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Xem sắc, chẳn mạch, là một điều kiện rất cần thiết. Phải hợp với năm hành là Kim, Mộc, Thùy, Hỏa, Thổ, và thời tiết của bốn mùa, gió của tám phương... đều có thể do sắc và mạch để xét đoán.
Về đời Trung cô, đối với việc trị bệnh, đợi bệnh đến rồi mới trị. Dùng thang dịch (thuốc nước) điều trị trong 10 ngày, để trừ khử các chứng bệnh thuộc về “tám gió, năm tý,
Nếu qua mười ngày mà vẫn không khỏi sẽ phải dùng các cành của loài thảo tô, thảo cai (cành và rễ), cả gốc lẫn ngọn để điều trị. Tiêu bản đã được. ta sẽ tiêu tán.
Đến đời gần đây thì không được thế nữa. Không biết nhận khí hậu của bốn mùa, không hiểu lẽ âm dương, không biết đường thuận nghịch. Khi bệnh đã thành rồi, mới dùng “vị châm” để trị bên ngoài, dùng thang dịch đề trị bên trong: bọn thô công lại càng liều lĩnh, cho là bệnh có thể dùng phép “công”; khiến cho bệnh cũ chưa khỏi, bệnh mới lại sinh ra... đó thật là cái lỗi không chịu xét rõ sắc và mạch, không nhận đích được tinh khí thịnh hay hư, và cái lẽ “tiêu bàn”, nên mới đến như vậy.
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Xin cho biết lẽ cết yến thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Cái cốt yêu của sự trị bệnh là xét ở sắc và mạnh. Sau khi đã nhận rõ thế nào là thuận, thế nảo là nghịch, thế nào là tiêu, thế nảo lả bản; rồi lại phải xét xem có “thần” hay không. Nếu không có thần thì sẽ chết. Đó là cái cốt yếu của sự trị bệnh.
Chú Giải
- Tám gió là giờ thuộc về tắm phương. Tỷ là tê, là đau. Năm Tý là mùa xuân (Giáp, Ất) bị thương về phong là Can tý; mùa hạ (Bính, Đinh) bị thương về phong là Tâm tý; mùa thu (Canh, Tân) bị thương về phong là Phế phong; mùa đông (Nhâm, Quý) bị thương về phong là thận 7; về Chí âm (Mậu, Kỷ, trung ương Thổ) mà mắc bệnh là Tỳ tý.
Chương mười bốn · Thang Dịch Giao Lễ Luận
Kinh Văn
Hoàng ĐỀ hỗi rằng:
:
– Dùng ngũ cóc để làm thang dịch với cao tễ (rượu ngọt), như thể nào?
Kị' Bá thưa răng:
– Phai dùng pạo lúa đạo (tức gạo nép) đun băng rơm lúa đạo. Gạo lúa dạo có cái tỉnh chất hoàn toản đề nuôi được nãm Tàng; rơm lúa đạo có cái khí hợp với "Bính Tan” để hóa thủy và nuôi được ngũ Tàng. Sở đĩ dùng như vậy là cót đê cho giúp ích cái sự chuyên vận của trung ương. để thấm nhuằn ra bốn Tàng bên ngoài.
Hoàng Đế hỏi răng:
– Đời Thượng cô tuy có làm ra thang dịch. cao tễ. nhưng chỉ làm mà Không dùng. là vì cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Các bậu Thánh nhãn đời xưa làm ra thang dịch cao tễ. là chỉ làm đẻ phòng bị khi nào tà khí nó phạm đến dấy thôi. Nhưng các người về thồi kỳ đó. phần nhiều giữ được hoàn toàn thiên chân, nên tặc phong không mấy khí phạm vào được. Vì thế. đù có làm ra thang dịch cao tễ. mà cũng không mấy khi phải dùng tới.
Đến doi Trung cổ về sau, về sự giữ gìn thiên chân cũng đã có phản không được hoàn toàn chu đáo. mà tặc phong cũng có đôi khi phạm tới; khi đó dùng tới thang dịch cao tễ thì rất là công hiệu.
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Đến đời nay thường dùng mà bệnh cũng không thấy khỏi hãn, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ở đời này, tất phải thu góp các thứ độc được để trị bên trong, và các thứ “sâm, thạch. châm, ngải” để điều trị bên ngoài, thì bệnh mới mong khỏi được.
Hoàng Đế hỏi răng:
– Đôi khi thấy người ta trị bệnh, đã châm thích khắp các nơi bì nhục gân cốt và các huyết mạch cũng đều đã sơ thông, mà công hiệu vẫn không thấy, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là vì người dùng châm không sử dụng được tinh thần, nên dù có trị cũng là vô ích. Hoàng Đề hỏi rằng: - Thế nảo là không sử dụng được tinh thần? Kỳ Bá thưa rằng: - Người dùng châm, nếu tính thần của mình không chuyên nhất, thì ý của mình không vững vàng, thì đù có châm, bệnh cũng khó lòng khỏi. Giờ, bệnh nhân tinh thần đã tan rã, vinh vệ lại hao mòn, lại thêm thị dục võ cùng, ưu hoạn nỗi tiếp, tinh khí bại hoại, còn khỏi sao được?
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Bệnh lúc mới phát sinh, còn kết tụ ở ngoài bì phu. Nếu không điều trị ngay, lại để đến lúc bệnh đã thành, thì dù có châm thạch, lương được cũng không kịp nữa. Các lương công đời bây giờ cũng đều biết phương pháp dùng thang dịch, biết các số hạn của bệnh khi tiến hay thoái, lại gần gũi bên cạnh, nghe rõ tiếng nói, xét rõ mạch sắc... Thế mà chữa bệnh vẫn không khỏi, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh ở nơi gốc, mà “công” lại trị ở nơi ngọn, tà khí đâu vẫn đóng đấy, khỏi sao được?
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Dương khỉ không bảo vệ được ở ngoài bì phu đó là vì Dương khí ở năm Tảng đã kiệt. Tân dịch không được nhờ khí hóa của Bàng quang, nên đây tràn ra ngoài bì phu, bì phu phù thũng, tứ chi co rút... Gặp chứng trạng như vậy, nên điều trị theo phương pháp nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nên làm cho huyết mạch điều hỏa, dồn bỏ tích trệ bên trong, vận động tứ chỉ cho khí huyết khỏi ngừng trệ, lại làm cho phế khí ấm áp... Cơ nhục và huyết mạch đã điều hòa, thì chứng thũng mãn sẽ tiêu. Tiếp đó, lại dùng phép “khai quỷ môn” (làm mở chân lông, tức phát hãn) và “khiết tĩnh Phù” (thông Bàng quang, tức lợi tiểu tiện), tinh khí sẽ do đó mà hỏi phục, Dương khí của năm Tàng đều được tán bố... Bệnh sẽ tự khỏi.
Hoàng Đế khen phải.
Chương mười lăm · Ngọc Bản Luận Yếu Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Tôi nghe ở thiên Quỹ đạc, Kỳ hằng, nói về bệnh ý nghĩa, phương pháp không giống nhau, vậy phương pháp dùng thế nào?
Xỳ Bá thưa rằng:
– “Quỹ đạc” là một phương pháp đo lường xem bệnh nông hay sâu; “Kỳ hằng” là nói về các chứng bệnh khác thưởng. Hãy xin nói về “'chí, số”: Phàm mạch biến về năm sắc, sự đo lường về những bệnh khác thường, “kinh” dù khác mà “đạo” thì chỉ có “một”. “Một đó tức là cái “thân” của con người. Khi thần ấy đã có, sẽ vận chuyển tới khắp năm Tàng, không còn bị ngừng trệ. Nếu bị ngừng trệ, tức là không có được sự vận chuyển từ trước. Nghĩa đó rất tính, rất vi, không thê coi thường, mà không chủ ý.
Phàm dung sắc của con người, hiện ra ở bộ phận trên dưới, tà hữu, đều có sự “thích nghỉ” của nó. Thấy sắc hiện ra có vẻ nông nồi, đó là bệnh tà chưa vào sâu, nên dùng thang dịch để điêu trị, trong vòng 10 ngày, có thể khỏi (tức là hết lượt của 10 can). Thấy sắc hiện ra có vẻ xa sâu, đó là bệnh tà đã vào sâu, phải dùng được tễ để điều trị, trong vòng 21 ngày có thể khỏi, Nếu thấy sắc hiện ra có vẻ thật sâu, đó là bệnh tà đã quá nặng, phải dùng cao tễ đề điều trị, trong vòng 100 ngày có thê khỏi. Nếu bệnh nhân sắc mặt trắng bợt, thịt má hốc hác không thể chữa. Nhưng cũng phải quá cái thời hạn 100 ngày, mà mạch đoản, khí tuyệt mới chết. Nếu mắc phải ôn bệnh mà thể chất hư quá, cũng chết.
Như trên kia đã nói:
“dung sắc hiện ra ở bộ phận trên, dưới, tá, hữu..”. Đó là vì, sắc hiện ra ở bộ phận trên tức là cái triệu chứng bệnh thể đương hăng, nên gọi là “nghịch”, thấy sắc hiện ra ở bộ phận dưới, tức là cái triệu chứng bệnh thế đã suy, nên gọi là “thuận.
Con gái, sắc hiện ra ở bên hữu... Con gái thuộc âm, mà bên hữu cũng thuộc âm, như thế là “độc âm” nên gọi là “nghịch”; nêu. hiện ra ở bên tả, là dương đã hòa với âm, tức là “thuận”. Con trai sắc hiện ra bên tả... Con trai thuộc dương, mà bên tả cũng thuộc dương, như thế là “độc dương”, nên gọi là “nghịch”; nếu hiện ra ở bên hữu, là âm đã hòa với dương, tức là “thuận”. Lại như: con trai mà sắc hiện ra bền tà, thế là “trùng dương” nên là bệnh chết: con gái mà sắc hiện ra bên hữu, thế là “trùng âm” cũng là bệnh chết. Đó là do âm dương tương phản mà gây nên bệnh. Phương pháp điều trị, cần phải xét ở mạch xem phù hay trầm, như cán cần không đẻ cho sai lệch... Đó là quy tắc của các thiên “Kì hằng" và
Phàm án vào mạch, thấy mạch bật mạnh lên tay, đó là mạch trạng của chứng tý (tay đau và tê), chứng liệt (chân dau vả tê), chứng lúc hàn, lúc nhiệt. Mạch hiện ra, chỉ có âm mà không có dương, hoặc chỉ có dương mà không có âm, gọi là mạch “cô”. Có âm mà không có dương là mạch trạng của chứng vệ khí tiêu mòn; có dương mà không có âm là mạch trạng của chứng vinh khí tiêu mòn. Mạch hư mà lại kiêm có chứng tiết (tả), đó là vì đoạt huyết (mắt huyết). Bởi huyết thuộc về âm loại, chứng “tiết? dù không phải huyết (mất huyết), nhưng huyết do đó mà hư, nên mới gọi là “đoạt huyết.
Mạch “cô” thuộc về tình trạng thiên thăng, nên mới gọi là nghịch”: nếu chỉ “hư”, còn có thể bổ, nên mới gọi là “thuận.
Phàm muốn thỉ hành cái phương pháp của thiên Kỳ hằng, phải từ Thái âm trước. Bởi khí khẩu thuộc Thốn có thể quyết được sống hay chết. Nên phải chú ý vào đó.
Õ ngũ hành, phàm cái gì khắc lại mình, gọi là “sở bất thắng; nếu làm theo sự “sở bất thắng”, tức là nghịch, nghịch thời chết,
Ở ngũ hành, phàm cái gì mình khắc lại được, gọi là “sở thắng”; nếu làm theo sự “sở thắng”, tức là thuận, thuận thì sống.
Cho nên tắm giỏ và bốn mùa. hoặc làm theo "sở bất thắng. hoặc làm theo ”Sở thăng”, đều hết rồi lại bắt đâu. Nếu qua một lần "=nghịch hành”, thì tức là "hành sở bất thắng", bệnh tắt chết, không chối được nữa.
Chú Giải
- GẮc hiện ra có vẻ sâu, thì bệnh thế cũng sâu. Nên phải họp các thứ độc dược thành thang tế để điều trị. "Hai mươi” là con số cuối của số "chăn"; "một" là con số bắt đầu của khí sinh dương. Tính vê 10 can. đã đi tới hai lượt, lại gặp "Giáp" đẻ hỏa "Thỏ". Năm Tàng thuộc âm, khí sắc thuộc dương... Đến ngày thứ 21 tức là thời kì sinh khí của nầm Tàng đã bắt đầu hôi phục. Nên bệnh tình cũng theo đó mà khỏi. Tỷ như: Ở Mộc bộ mà hiện Kim mạch. Kim bộ mà hiện Hỏa mạch, Hỏa bộ mà hiện Thủy mạch, Thủy bộ mà hiện Thô mạch, Thô bộ mà hiện Mộc mạch v.v...
- Tỷ như: Mộc bộ mà hiện Thổ mạch, Thỏ bộ mà hiện Thủy mạch,: Thủy bộ mà hiện Hỏa mạch. Hỏa bộ mà hiện Kim mạch, Kim bộ mà hiện Nước mạch v.V...
Chương mười sáu · Chẩn Yếu Kinh Chung Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hồi răng:
– Cái cốt yếu của phép chẩn mạch, như thế nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tháng giêng, tháng hai, khí trời mới sinh, khí đất mới chớm... Khí của người quy tụ vào can, vì can thuộc Mộc.
Tháng ba, tháng tư là hai tháng Thìn, Ty. Nguyệt kiến thuộc về Thổ với Hỏa. Khí trời lúc đó đã tỏ hắn, khí đất lúc đó đã định hẳn; khí của người quy tụ vào Tỳ, vì Tỳ thuộc Thổ, mà Thỏ lại sinh Hỏa.
Tháng năm, tháng sáu là hai tháng Ngọ và Vị (Mùi). Nguyệt kiến thuộc Hỏa. Hỏa thuộc phương Nam. Khí trời đã thịnh, khí đất đã cao; khí của người quy tụ lên đầu, vì đầu thuộc về Nam phương Hỏa.
Tháng bảy, tháng tám là hai tháng Thân, Dậu. Nguyệt kiến thuộc Kim. Kim thuộc Tây phương. Dương khí của trời đã giáng xuống, mà Âm khí của đất đã bốc lên, mới bắt đầu túc sái (hanh và lạnh); Khí của người quy tụ vào phế, vì phế thuộc về Tây phương Kim.
Tháng chín, tháng mười là hai tháng Tuất, Hợi. Nguyệt kiến thuộc về Thủy. Âm khí mới bắt đầu đọng giá, địa khi mới bắt đầu vít lắp; Khí của người quy tụ vào Tâm... Tức là Dương khí đã vào Tàng.
Tháng mười một, tháng mười hai là hai tháng Tý, Sửu. Nguyệt kiến thuộc Thủy, Thủy thuộc về phương Bắc. Thủy đã cứng rắn, khí đất đã hợp, khí của người quy tụ vào thận. Vì thận thuộc Bắc phương Thủy.
Cho nên, mùa xuân thì “thích” ở Tán du (các Du huyết ở đường mạch) với các tấu lý, thấy chớm máu thì thôi. Nếu bệnh hơi quá, thì cho hơi sâu châm xuống, để cho khí đạo được lưu thông.
Mùa hạ “thích” vào Lạc du (các huyệt của Lạc), thấy chớm máu thi thôi. Nếu để khi đạo truyền đi quá, lại gây nên sự bế tắc, mà bệnh đau càng tăng.
Mùa thu “thích” vào các thớ thịt ở bên trong bì phu. Hoặc đề - nông, hoặc xuống sâu, nhưng chỉ được vào tới thớ thịt, hế thấy thần khí biến chuyển, thì thôi ngay.
Mùa đông thích vào các “Du khiếu” ở bên trong thớ thịt (gần tới xương); bệnh nặng, cho thăng châm sâu xuống: bệnh nhẹ, chỉ nên châm tới thớ thịt thì thôi.
Tất cả bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đều có nơi “thích” nhất định, mà sâu nông đều có phép, không thể nhằm lẫn.
Mùa xuân mà thích vào bộ phận của mùa hạ, thì mạch loạn, khiến người khí sút đi, tà khí sẽ lấn vào cốt tủy, bệnh không thể khỏi. Do đó bệnh nhân sẽ không-muốn ăn vả thiểu khi.
Mùa xuân mà thích vào bộ phận của mùa thu, thì bệnh nhân gần sẽ co rút vả khí nghịch, lại sinh ra chứng khái thấu; bệnh không thể khỏi, thường lại thêm cả chứng kinh, hoặc hay khỏc,
Mùa xuân mà thích vào bộ phận của mùa đông, khiến cho tà khi bám chặt vào trong Tàng, bệnh nhân sinh ra trướng mãn, và cứ lãng lặng không muốn nói thành tiếng.
Mùa hạ mà thích vào bộ phận của mùa xuân, thì không những bệnh không khỏi, mà lại khiến bệnh nhân sinh ra rã rời mỏi mệt.
Mùa hạ mà thích vào bộ phận của mùa thu, thì không những bệnh không khỏi, lại khiến bệnh nhân trong lòng như muốn không nói gì, và cử sợ sệt như người sắp bị bắt.
Mùa hạ mà thích vào bộ phận của mùa đông, không những bệnh không khỏi. mà lại khiến bệnh nhân thiểu khí thường hay gắt pỏng khó chịu.
Mùa thu mà thích vào bộ phận của mùa xuân, không những bệnh không khỏi, lại khiến cho bệnh nhân cứ thắc mắc như định làm việc gì, đến lúc đứng lên làm thì lại quên.
Mùa thu mà thích vào bộ phận của mùa hạ, không những bệnh không khỏi. khiến cho bệnh nhãn chỉ muốn nằm bày bạy, mà lại hay chiêm mộng.
Mùa thu mà thích vào bộ phận của mùa đông, không những. bệnh không khỏi, lại khiến cho bệnh nhân thường rờn rợn phê rét.
Mùa đồng mà thích vào bộ phận của mùa xuân, không những bệnh không khỏi. khiến cho bệnh nhân chỉ muốn năm: nhưng dù năm mà vấn không sao chớp được mãi.
Mùa động mà thích vào bộ phận của mùa hạ, không những bệnh không khỏi. khiến cho bệnh nhân khí tiết quá nhiều ra ngoài gây thành các chúng tý.
Mùa đông mà thích vào bộ phận của mùa thu, không những bệnh không khỏi, lại khiến cho bệnh nhân sỉnh ra chứng khác.
Phàm thích vào hung hay phúc, cần nhất là phải tránh năm Tàng. Nếu trúng vào Tâm thì chỉ trong một đêm một ngày sẽ chết. Nếu trúng vào Tỳ thi năm ngày sẽ chết. Nếu trúng vào Thận, thì bảy ngày sẽ chết. Nếu trúng vào Phế thì năm ngày sẽ chết. Nếu trúng vào Cách, cũng là một loại thương trúng, bệnh dù có khỏi, nhưng quá mội năm tắt cũng phải chết,
Thích, mà biết tránh năm Tàng, tức là biết sự thuận nghịch đó. Nói vẻ thuận, tức là chỉ vào cái nơi mà cách với Tỳ Thận giáp giới nhau. Nhưng kè không biết thì trái lại thế.
Thích vào hung, phúc phải lẫy miếng vải mỏng Phủ lên cải huyệt của mình định thích đã, rồi mới dùng châm từ trên vải mà thích xuống. Thích một lần không khỏi lại thích thêm lần nữa. Lúc thích
cảm châm phải vững vàng ngay ngắn. Thích vào chỗ sưng, nên làm lung lay mũi châm; nêu thích vào kinh mạch, thì đừng lung lay mũi kim. Đó là nói về phương pháp thích.
Hoàng Đế hỗi răng:
– Chứng trạng lúc cuỗi cùng của mười hai kinh mạch như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch của kinh Thái dương tới khi cuối cùng, thì chứng trạng phát hiện: mắt trợn ngược. tay chân uốn lật trái lại, hoặc co quặp không duỗi ra được, sắc mặt trắng bợt, mồ hôi ra đầm dìa, lúc đó sẽ chết.
Mạch của kinh Thiếu dương tới lúc cuỗi cùng, các khớp xương đều rã rời, con ngươi mặt trông lệch sang một bên. Trong vòng một ngày rưỡi thi chết. Lẽ lúc nào thấy sắc mặt đương tái xanh bỗng chuyển ra trắng bợt, tức là lúc thần chết dã đến.
Mạch của kinh Dương minh tới lúc cuỗi cùng, miệng và tai thường méo lại hoặc vạy đi. hay sợ, nói càn, mạch ở tay và chân đều bật lên rất mạnh, ngoài đa thịt không biết đau ngứa. Đỏ là lúc sắp chết.
Mạch ở kinh Thiếu âm tới lúc cuối cùng, sắc mặt den sạm, răng khô và bợn bản, bụng trướng lên và vít lấp cả trên dưới không thông. Dó là thời kỳ chết.
Mạch ở kinh Thái âm tới lúc cuối cùng, bụng trướng bế, khó thở, hay ợ, hay ọc: ọe thì khí nghịch, khí nghịch thì mật đỏ lên: khí không nghịch thì trên dưới không thông; không thông thì sinh ra mặt đen sạm. bì mao khô đét đi... Đó là thời kỳ chết.
Mạch của kinh Quyết âm tới thời kỳ cuỗi cùng, bệnh nhân nóng ruột. cô khô, hay ởi tiêu, trong lòng buồn bực: quá lắm thì lưỡi rụt, thận nang co rúm lại... Đó là thời kỳ chết.
Trở lên là những bại chứng của 12 kinh.
Chương mười bảy · Mạch Yếu Tinh Vi Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Phương pháp chân mạch, như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phương pháp chẩn mạch, nên chọn về lúc sáng sớm; lúc đó, Ấm khí chưa động, Dương khí chưa tán, uống ăn chưa dùng, “kinh mạch” chưa thịnh, “lạc mạch” điều hòa, khí huyết chưa loạn... Lúc đó mới có thê chân mạch của người có bệnh.
“Thiết mạch" để nhận xét âm dương ở năm Tàng động tĩnh thế nào; “quan sắc” để nhận xem hình thể của bệnh nhân thịnh suy thế nào... Năm Tàng hữu dư, hay bắc túc, sáu Phủ cường kiện hay suy nhược... Hợp cả lại để cùng xem xét và quyết tử sinh(.
Mạch, là một cái kho của huyết. Mạch trường thì khí vượng, mạch đoản thì khí bệnh, mạch sắc thì tâm phiền. Mạch đại thì bệnh tiến. Mạch ở Thốn khẩu thịnh thì khí bốc lên; mạch ở Xích trung thịnh thì khí thụt xuống (thành bệnh trướng); mạch đại thì khí suy, mạch tế thì khí ít, mạch sắc thì Tâm thống.
Mạch cuôn cuộn đến tuôn như suối nước chảy đó là bệnh tăng tiến mà sắp tới lúc tệ bại; mạch đi lườn lượt thăng như đây cung, tức là cái triệu chứng của sự chết,
Năm sắc hiện ra ngoài mặt, đỏ là cái tỉnh hoa của khí.
– Sắc xích muốn được như lụa trắng bọc chu sa không muốn như cục son.
– Sắc trắng muốn được màu lông ngỗng, không muốn như hạt muối.
– Sắc xanh muốn được như màu ngọc bích, không muốn như sắc chàm.
– Sắc vàng muốn được như the trắng bọc hồng hoàng, không muốn như hoàng thô.
: - Sắc đen muốn được như màu sơn then, không muốn như nhọ nồi.
Nếu cái tính hoa của năm sắc hiện cả ra ngoài, thì không thê thọ được.
Cái khí tỉnh minh của năm Tàng, cốt nhờ nó để nhận biết muôn vật, chia rõ trắng đen nhận rõ ngắn dài. Nếu lại coi dài là ngắn, coi trắng như đen... Đó tức là cái triệu chứng khí tỉnh minh của năm Tàng đã suy kiệt.
Năm Tàng là những cơ quan ấn khuất ở bên trong, nhưng tiếng nói và sắc mặt đôi phen vẫn phát hiện ra bên ngoài.
– Phàm người trung thịnh, Tàng mãn, đo khí thắng mà lại bị thương về sự “khủng? (thuộc thận), nghe tiếng nói văng vắng như người ở trong nhà nói “vọng” ra; đó là trung khí bị thấp khí xâm lần.
– Nếu giọng nói nhè nhẹ, nói vài tiếng cách quãng lúc lâu rồi mới lại nói tiếp... đó là mắc chứng đoạt khí (khí bị hao mất.
– Bệnh nhân tung bỏ chăn, lật bỏ áo, nói năng cần bậy, không kể gì người thân hay sơ... đó là thần minh (tức thần khi của năm Tàng. bị rồi loạn.
Đại tiện bất cẩm là do tỳ vị đã bại; tiểu tiện bất cắm là đo Bảng quang đã suy. Hai cơ quan đó, giữ lại được thì sống, không giữ lại được thì chết.
Con người cường kiện là nhờ ở năm Tàng. Đầu là một cái kho để chứa thần khí của năm Tàng. Nếu bệnh nhân đầu lệch di, mắt lõm vào, đó là tinh thần sắp bị mắt.
Vai với lưng lả Phủ của bộ phận hung (lỗng ngực, ức). Nếu bềnh nhân lưng gù xuống, vai lệch đi, đó là bộ phận hung đã bị hỏng.
Yêu (chỗ ngang thắt lưng), nó là Phủ của thận. Nếu bệnh nhân không uốn đi lật lại được, đó là thận sắp bị hỏng.
Đầu gỗi, nó là Phủ của cân. Nếu bệnh nhân không co vào duỗi ra được. lúc đi thì cứ phải lom khom... đó là cân sắp bị bại.
l Cốt (xương) nó là Phủ của tủy. Nếu bệnh nhân không đứng lâu được, hoặc đi thì lảo đảo... Đó là xương sắp bị bại. Vậy con người được Phủ khí mạnh thi sông, trái lại, nếu mất thì chết.
Kỳ Bá nói:
– Tàng thuộc âm, Phủ thuộc dương; Thu đông thuộc âm, xuân hạ thuộc dương. Thận chủ về cái khí bế Tảng của mùa đông, mà lại trung thịnh, Tảng mãn, vậy đó là do cái tính của thận Tàng hữu dư. Bàng quang chủ về cái khí hạ thịnh của Thái dương, mà lại tiểu tiện bất cắm, đó là do cái khí của Bàng quang bất túc, gọi là tiêu. Đó là những chứng trạng với bốn mùa.
Nếu thái quá mà lại bất túc, gọi là “tinh, tức lã cái tỉnh của thận Tàng bị tiết ra ngoài; nên bất túc mà lại hữu dư, gọi là “tiêu”, tức là cái thủy của Bàng quang lại chứa ở bên trong. Những hiện tượng đó là do Tàng Phủ, âm dương không “tương ứng” với nhau, gọi nó chứng quan cách.
Hoàng Đế hỏi răng:
– Mạch, động ứng vẻ bốn mùa thế nào?
Làm sao biết được bệnh nơi đâu? Làm sao biết được bệnh biến thể nào? Làm sao biết được bệnh bỗng ở bên trong? Làm sao biết được bệnh bỗng ở bên ngoài? Xin cho biết rõ năm điều dó.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ngoài muôn vật, trong sáu hợp. sự biến của trời đất, lẽ ứng của âm dương. Cái ấm của mùa xuân sẽ gây nên cái nóng của mùa hạ; cái “phần” (tức bực) của mùa thu sẽ gây nên cái "nộ” của mùa đông. Cái sự “động” của bốn mùa. mạch sẽ theo đó mà lên xuống.
Ứng với mùa xuân. tượng mạch như quy” (thược tròn); ứng với mùa hạ, tượng mạch như "củ” (thược vượng): ứng với mùa thu, tượng mạch như "hành" (cán cân); ứng với mùa đông. tượng mạch như *““quyền” (quả cân.
Áy cho nên:
Sau Đông chí 45 ngày, Dương khí hơi lên, Âm khí hơi - xuống: sau Hạ chí 45 ngày, Ấm khí hơi lên. Dương khí hơi xuống. Âm dương lên xuống đều có thời giò nhất định. mạch cũng theo đó làm kỳ hạn. Nếu trái không đúng với kỳ hạn. biết là trong mạch có sự phân rẽ, nhận thấy được kỷ hạn của sự phân rẽ. sẽ biết được thời kỳ chết,
Mạch rất vi điệu, xét kỹ mới hiểu, mạch có mỗi giường, trước từ âm dương. mạch có thường kinh (phép thường), do năm hành sinh; năm hành sinh ra, hợp với bốn mùa.
Dùng bỏ hay dùng tả, đều phải theo đúng với lẽ âm dương của trời đất. Theo dúng được lẽ âm dương, sẽ biết rõ được sống hay chết.
Vì thể nên. tiếng của con người, hợp với ngũ âm, sắc hợp với nụu hành. mạch hợp với âm dương.
Vậy nên người:
Âm thịnh thì mộng lội sông nước và sợ hãi; dương thịnh thì mộng lửa cháy bốc to; âm dương đều thịnh thì mộng cùng giết hại lẫn nhau. Thượng thịnh thì mộng bay; Hạ thịnh thì mộng ngã (từ trên cao lăn xuống). No quá thì mộng cho; Đói quá thì mộng lẫy. Can khí thịnh thì mộng nộ: Phế khí thịnh thì mộng khóc. Đoản trùng (sán sơ mí) nhiều thì mộng hội họp đông người; trường trùng (giun, sán) nhiều thì mộng đánh nhau xây xát.
Phảm chân mạch, phải giữ tâm chí cho hư tĩnh, mới có thể nghe xét được tỉnh vi.
Về mùa xuân, mạch phù lờ lờ như cá lượn gần trên mặt sóng:
về nữa hạ, mạch hiện ngay trên cơ phu (da), “chứa chan” như muôn vật có thừa; về mùa thu, mạch hiện ở dưới cơ phu, như loài sầu sắp ân nắp vào trong hang kín; về mùa đông, án nặng tay xuống gần xương, mạch kín đáo như loài sâu đã ân trong hang, người quân tử phải giữ gìn, không nên hoang Tàng. Cho nên, người chân mạch, phải biết sự hư thực của âm Dương tàng Phủ ở bên trong, lại biết khí tiết của bốn mùa và âm dương ở bên ngoài nó tuân hoàn như thế nào... Sáu điều trên đó, là cái đại pháp của phép chân mạch'.
Tâm mạch bật lên tay, kiên (tức là có lực) mà trường sẽ mắc bệnh thiệt quyền (lưỡi cong lên, khác với rụt) không nói được; nếu nhuyễn (mềm) mà tán (mạch bất túc, khác với trên là thái quá), sẽ sinh chứng tiêu khát, trong vòng 10 ngày sẽ khỏi.
Phế mạch bật lên tay, kiên mà trường, sẽ mắc bệnh thóa huyết (nhỗ ra máu); nêu nhuyễn mà tán, mô hôi sẽ chảy ra đầm đìa, phế khí Suy YẾU.
Can mạch bật lên tay. kiên mà trường, sắc mặt không tái xanh sẽ đau như bị ngã; vì có huyết tích ở dưới hiếp (lườn), gây nên chứng suyễn nghịch; nếu nhuyễn mà tán, sắc mặt lại bóng nhoáng, đó là chứng giật âm (uống nước nhiều, tràn ra). Chứng đó gây nên bởi khi khát, uống nhiều nước, nước chảy trái đường, tràn ra bì phu.
Vị mạch bật lên tay, kiền mà trường, sắc mặt đỏ bừng sẽ mắc bệnh hay đùi đau như gãy, nếu nhuyễn mà tán, sẽ là chứng thực tý (tức đau đạ dây.
Tỳ mạch bật lên tay, kiền mà trường, sắc vàng ủa, sẽ mắc bệnh thiểu khí (ít hơi, động tâm là thở, mà hơi thở ngắn); nếu nhuyễn mà tán, sắc mặt không bóng, sẽ là chứng túc hành thũng (từ đầu gối trở xuống sưng to như phủ).:
Thận mạch bật lên tay, kiên mà trường, sắc mặt vàng kiêm cả đỏ, sẽ mắc bệnh lưng đau như gãy; nếu nhuyễn mà tán thì sẽ mắc bệnh thiểu huyết (ít máu) khó lòng hồi phục.
Hoàng Đề hỏi:
– Chân được tâm mạch mà “cấp”, như thế là bệnh gì? Và bệnh hình như thể nào?
—— Kỹ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó tên Tâm sán, dưới Thiếu phúc sẽ có vật hữu hình...
– Sao biết vậy?
– Tâm thuộc về mẫu Tàng (giống đực), Tiêu trường là chức Sứ, cho nền biết dưới Thiếu phúc có vật hữu hình??.
Hoàng Đề hỏi:
– Chẵn được Vị mạch, bệnh hình như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chân Vị mạch, nếu mạch thực sẽ là bệnh trưởng, nếu mạch hư sẽ là bệnh kiệt.
Hoàng Đề hỏi:
è - Sau khi bệnh đã thành, lại còn biến ra chứng gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nếu do phong gây nên bệnh, sẽ biến thành chứng hàn, nhiệt; nếu do dản (thấp nhiệt) gây nên bệnh, sẽ biến thành chứng Tiêu trung; nếu đo quyết (khí nghịch, tay chân giá lạnh) gây nên bệnh, sẽ biến thành các chứng ở trên đầu, lâu thì thành chứng xôn tiết (ăn vào lại đi tả); trong huyết mạch bị phong lọt vào, sẽ thành chứng lệ (phong vào huyết mạch biến thành trùng, hiện ra các chứng hủi lờ. Sự biển hóa của bệnh rất nhiều, nói không thể xiết. Hoàng Đề hồi: - Các chứng mụn sưng, co sân, đau xương... nguyên nhân bởi dâu? Kỳ Bá thưa rằng: - Những chứng sưng đó bởi hàn khí và sự biến của bát phong (gió ở tám phương. Hoàng Đề hãi: - Nên điều trị thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Đó là chứng bệnh thuộc về thời khí của bốn mùa, nên lấy cái “sở thắng” để trị nó, Hoàng Đề hỏi: - Người đã sẵn bệnh cũ làm thương tổn đến sắc mạch của năm Tàng... làm thế não có thể biết được là bệnh đã lâu và bệnh đã mắc? Kỳ Há thưa rằng: - Xét ở mạch thấy "tiểu” (hư) mà sắc mặt không biến khác... như thế là tân bệnh. Xét ở mạch và năm sắc đều biến khác... Như thế là cửu bệnh. Xét ở mạch và năm sắc đều không biến khác, như thế là tân bệnh, Can với Thận mạch cùng hiện ra, sắc mặt tái xanh lại đỏ... Đó là gây nên bởi sự hủy thương (như uất ức quá độ), nhưng chưa thấy chứng gì kiến huyết (thấy có máu, như gây, đứt, hoặc khạc nhỏ V.V,..). Nếu đã kiến huyết, Sẽ lại là có cả chứng thấp... Hai bền Xích bộ thuộc về quý hiếp (dưới sườn cụt). Xích ngoại để nghe mạch của thận, Xích nội để nghe mạch của phúc. Từ Tả xích mà dẫn lên Tà quan, ngoại để nghe mạch của Can, nội đề nghe mạch của Cách.
Từ I!ữu xích dẫn lên Hữu quan, ngoại để nghe mạch của VỊ, nội để nghe mạch của Tỳ.
Từ Hữu quan dẫn lên Hữu thốn. ngoại để nghe mạch của Phế, nội để nghe mạch ở Hung bộ.
Từ Tà quan dẫn lên Tả thến, ngoại để phế mạch của Tâm, nội để nghe mạch của Chiên trung. Mạch ở “tiền” để nghe các bệnh thuộc về tiền, mạch ở “hậu” để nghe các bệnh thuộc vê hậu.
Thượng cách thượng (từ xích, quan miết tay lên tới Ngư tế) để xét những chứng trạng ở hầu (cuống họng) và trong hung, hạ cánh hạ (từ Thốn, quan miết tay xuôi vào Xích trạch}) để xét những chứng trạng từ Thiếu phúc, yêu, cổ (vế), tật (đầu gối) và bọng chân.
Mạch thể thô, đại, là âm bất túc, dương hữu dư, sẽ gây nên chứng Nhiệt trung.
Mạch, lúc lại nhanh, lúc đi chậm, trên thực, dưới hư... sẽ gây nên chứng quyết và bệnh ở đầu (điên tật). Nếu lúc lại chậm, lúc đi nhanh, trên hư dưới thực, thuộc về bệnh ác phong.
Phàm trúng phải ác phong, do Dương khí phải chịu (Dương khí bị tà thì chính khí hư suy, cho nên mạch lúc lại chậm và trên hư; tả khí hãm vào bên trong, cho nên mạch lúc đi nhanh và dưới thực.
Có khi thấy mạch hiện ra đều trầm, tế và sác... Đó là chứng quyết của Thiếu âm. Nếu trầm, tế, sác và kiêm cà tán... Đó là chứng hàn, nhiệt. Nếu phù mà lại tán... Đó là chứng choáng váng đi đứng không vững.
Các mạch phù mà bệnh nhân không táo (nóng nảy) đều thuộc về dương, là bệnh nhiệt. Nếu bệnh nhân lại có vẻ táo, đều thuộc về thủ Tam dương.
Các mạch tế mà lại trầm, đều thuộc về âm phận, sẽ là chứng đau ở xương; nếu bệnh nhân lại có vẻ tỉnh... là thuộc về túc Tam âm.
Mạch thấy sác và động, thỉnh thoảng lại có một đại, đó lả bệnh thuộc dương mạch. Bệnh nhân sẽ hạ tiết hoặc tiện ra nùng huyết (mủ vả máu.
Phảm án mạch người có bệnh, thấy mạch sắc là Dương khí hữu dư, thấy mạch hoạt là Âm khi hữu dư. Dương khí hữu dư sẽ là chứng mình nóng, không có hãn; Âm khí hữu dư, sẽ là chứng nhiều hãn mà mình lạnh (hàn). Nếu âm dương đều hữu dư, sẽ là không có hãn mà mình hàn.
Ấn vào mạch, đây cho luồng mạch ra “ngoại”, mà mạch vẫn hướng vào “nội” không ra “ngoại”, đó là vì chứng tích ở Tâm, phúc.
Dây cho luồng mạch vào “nội”, mà mạch vẫn hướng ra “ngoại không vào “nội”, đó là vì mình có chứng nhiệt.
Đây cho luồng mạch hướng lên “trên”, mạch vẫn cứ ở “trên” mà không xuống "dưới”, đó là vì có chứng lạnh ở yêu và túc.:
Đây cho luồng mạch hướng xuống “dưới”, mạch vẫn cứ ở “đướt” mà không lên “trên”, đó lã vì có chứng đau ở đầu và cô.
Ấn mạnh tay xuống tới giáp xương, mà mạch khí ít... Đó là vì mắc chứng yêu, tích (xương sống) đau và ở mình có kiêm cả chứng tê (bệnh thuộc về âm.
Chú Giải
- Ở đây nói về phương pháp "chân", là hợp cả "vọng", "văn" và "vấn chứ không chuyên một "thiết. Đây là nói cái đại khái để phân biệt sự thịnh suy của âm dương khí huyết.
- #* Mạc Từ Tấn hỏi: Trái với bốn mùa, mà ở đây chỉ nói đến hai mủa đồng, hạ; bệnh quan cách, mà đây chỉ nói đến không tiểu tiện... Là vì sao - Đáp: Nhật với nguyệt cùng vận hành, hết rét thì nóng. Cho nền về dưới đây có câu răng: "Cái ấm của mùa xuân kía sẽ làm cái nóng của mùa hạ; cái mát của mùa thu kia sẽ làm cái nộ của mùa đông...". Dù phải có bốn mùa mới thành được một năm, nhưng chăng qua chỉ đo hai khí nóng, rét thay đổi mà thôi. Vậy hà tất phải nói cả, mới gọi là đủ hay sao?
- Quan cách không chuyên gì là bệnh không tiểu tiện, mà thổ nghịch cũng có thê gọi là quan cách. Xem dưới đây sẽ rõ.
- Như sau Đông chí 45 ngày, Dương khí hơi lên; sau Hạ chỉ 45 ngày, Âm khí hơi lên. Vậy mà Xích mạch bên trên không tới "quan", đó là âm tuyệt. Sau Hạ chí 45 ngày, Dương khí hơi xuống: san Đông chí 45 ngày, Âm khí hơi xuống. Vậy mà Thốn mạch bên dưới không tới "quan", đó là dương tuyệt. Đó là âm dương không cùng giao hợp, mà lại phân rẽ, trái với -_ cái khí của bến mùa, nên có thế biết rõ được thời kỳ chết.
- Đoạn này nói vẻ âm dương năm hành của trời đất hợp với âm Dương tàng Phủ của con người. Mộng là do "hồn phách, thần khí" tản mạn Du hành. Nhưng đối với âm dương, Tàng Phủ của con người vẫn có liên hệ mật thiết.
- Từ đây trở lên là Kỳ Bá trả lời câu hỏi: "Mạch động ứng về bến mùa..." của Hoàng Đề.
- Đoạn này nói về: Chẩn được mạch ở Tàng mà bệnh lại ở Phủ. Bởi Tàng, Phủ, Kinh lạc cùng liền, Âm dương cùng ứng. Nền mạch hiện ở Tàng (Tâm) mà bệnh thành ở Phủ (Tiểu trường). Kinh nói: Các mạch "cấp" thuộc về hàn. Tâm là Dương tàng mà sợ hàn, cho nên mạch "cấp". Tâm là cơ quan quân chủ, không thể "thự tả", nên bệnh hình ở Thiếu phúc.
- Như hàn phạm vào bên trong thì dùng những vi cam nhiệt đề điều trị. Lại như phương Đông sinh ra phong, phong sinh Mộc, Mộc sinh toan... Tân sẽ thắng được toan v.v...
- Mạch ở con người. Tay bên tà thuộc mùa xuân, thuộc mùa hạ, thuộc phương Đông, thuộc phương Nam, là tiên, là ngoại. Tay bên hữu thuộc mùa thu, thuộc mùa đông, thuộc phương Tây, thuộc phương Bắc, là hậu, là nội. Thến khẩu bên tả, tức là nhân nghĩnh, gọi là tiền..., Thôn khẩu bên hữu, tức là khí khâu, gọi là hậu...
Chương mười tám · Bình Nhân Khí Tượng Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Mạch của bình nhân (người võ bệnh) như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Người ta một lần hô (thở ra), mạch động tới hai lần, một lần hấp (hút vào), mạch cũng động tới hai lần. Nhân sự hô hấp để định hơi thở và xen (nhuận) với lúc ngừng thờ, mạch động tới năm lần. như thế là bình nhân. Bình nhân tức là người vô bệnh,
Nên lấy người vô bệnh để chân mạch người có bệnh. Nhưng lúc chân, phải giữ hơi thở của mình cho điều hòa, mới biết được mạch “động” của người kia đúng hay không đúng.
Phàm người, một hô, mạch động ba lần, một hấp, mạch động ba lần... đó là táo cấp (tức thái quá) ở Xích bộ có nhiệt, là bệnh ôn: nếu Xích bộ không nhiệt, mạch lại có vẻ hoạt, đó là bệnh phong; nếu lại có vẻ sắc, đó là bệnh tý (bệnh thuộc âm.
Phàm người, một hô, mạch động bốn lần, một hấp, mạch động bốn lần trở lên, đó là tử mạch; nếu mạch tuyệt không “chí” cũng chết, mạch lúc thưa, lúc sác cũng chết.
Phàm bình nhân, khí phát sinh từ Vị; VỊ là thường khí của bình
nhân. Người không có Vị khí gọi là “nghịch”. Nghịch cũng chết. Mạch án về mùa xuân, có Vị khí mà mạch hơi huyền là bình huyền nhiều. Vị ít, đó là bệnh ở Can; chỉ huyền, không cớ Vị khí, sẽ chết. Có Vị khí mà mạch thể có vẻ mao, tới mùa thu sẽ phát bệnh; nếu mao nhiều, bệnh sẽ phát ngay.
Chân khí của Tàng phân tán khắp ở Can, tức là những khí ở cái cân, mạc (gân và da màng) bao bọc ở bên ngoài Can, Mạch án về mùa hạ, có Vị khí. mà hơi “câu” (mạch tượng của mùa hạ) là bình, Nếu câu nhiều, Vị khí ít là tâm bệnh; chỉ câu mà không có VỊ khí, sẽ chết. Có Vị khí mà mạch thể có vẻ “thạch”, tới mùa đồng sẽ phát bệnh; nếu “thạch” nhiêu, bệnh sẽ phát nay.
Chân khí của Tàng thông lên Tâm. vì Tâm tàng cái khí của huyết mạch.
Mạch án về mùa Trường hạ, có Vị khí mà hơi nhuyễn nhược là bình. Nếu “nhược” nhiễu, Vị khí ít là Tỳ bệnh. Mạch thể chỉ có “đại” mà không có Vị khí. sẽ chết. Nhuyễn nhược mà lại kiêm có vẻ Thạch, tới mùa đông sẽ phát bệnh. Nếu “nhược” nhiều, sẽ phát bệnh ngay.
Chãn khí của Tàng thâm nhuần ở Tỳ, vì Tỳ Tàng cái khí của cơ nhục.:
Mạch án về mùa thu, có VỊ khí mà hơi mao, là bình. Nếu mao nhiều, Vị khí ít là Phế bệnh nếu chỉ thây mao, không có Vị khí, sẽ chết. Mạch mao mà lại kiêm Huyền, tới mùa xuân sẽ phát bệnh: nếu Huyền nhiều, sẽ phát bệnh ngay.
Chân khí của Tàng cao ở tận Phế, để dẫn hành vinh, vệ và âm dương.
Mạch án về mùa đông, có Vị khí mà hơi Thạch, là bình. Nếu Thạch nhiều, Vị khí ít là Thận bệnh nếu chỉ thạch, không có Vị khi sẽ chết. Thạch mà lại kiêm cả câu, sẽ phát bệnh về mùa hạ; nếu câu nhiều sẽ phát bệnh ngay.
Chân khí của Tàng thấp ở Thận, Thận Tàng cải khí của cốt tủy.
Đại lạc của Vị, tên là Hư lý, nó suốt lên cách, chẳng ngang vào Phể, vòng xuống phía dưới tả nhũ (vú bên trái), lúc nó động có thế “ứng y” (áo mặc sát vào mình, khi mạch động, chạm lên áo = hình dung sự động mạch). Mạch đó để nghe Tông khí (tức Vị khi.
Nếu suyễn nhiều (Phế), mà mạch ở Hư lý thường bị tuyệt, đó là bệnh tại Chiên trung và Hoành lạc bị tích trệ; nếu tuyệt hẳn không “chí”, sẽ chết; nếu động quá đến nỗi “ứng y”, đó là Tông khí muốn tiết ra ngoài (tức là mạch chết.
Muốn biết mạch Thốn khẩu, thái quá với bất cập; nếu mạch ở Thốn khẩu chỉ “đoản” đúng vào ngón tay, đó thuộc về bệnh đầu thông; mạch ở Thốn khẩu đúng vào ngón tay mà “trường”, đó thuộc về bệnh đau ở xương ống chân; mạch ở Thốn khẩu đúng vào ngón tay mà bật mạnh dồn lên, đó thuộc về bệnh đau ở vai và lưng; mạch ở Thôn khẩu Trầm mà Kiên, tức là bệnh ở bộ phận trong: mạch ở Thốn khâu phủ mà thịnh, tức là bệnh ở bộ phận ngoài; mạch ở Thốn khẩu Trằm mà Nhược, thuộc về bệnh hàn, nhiệt và Sán, Giả, đau ở Thiếu phúc; mạch ở Thốn khẩu trầm mà hoành, thuộc về dưới hiếp có tích vả trong bụng có vật tích nằm ngang mà đau; mạch ở Thốn khâu trầm mà lại có suyễn (thớ gấp, hỗn hến), thuộc về chứng hàn nhiệt (sốt rét, sốt nóng.
Mạch thịnh, hoạt mà kiên, là bệnh ở bộ phận ngoại; mạch tiêu thực mà kiên là bệnh ở bộ phận nội; mạch tiếu, nhược và sắc là cửu bệnh; mạch phù hoạt mà tật là tân bệnh; mạch cấp là có chứng “sản, giả” đau ở Thiếu phúc; mạch hoạt là Phong; mạch sắc là Ty; mạch hoãn mà hoạt là chứng Nhiệt trung; mạch thịnh mà khẩn là chứng trưởng.
Mạch thuận theo âm dương, bệnh dễ khỏi; mạch trái ngược âm dương, bệnh khó khỏi; mạch thuận với sinh khí của bốn mùa, bệnh dễ khỏi: mạch trái với sinh khí của bốn mùa mà lại “không gián Tàng”, bệnh khó khỏi,
Cánh tay có nhiều mạch máu xanh, gọi là thoát huyết; mạch ở Xích bộ hoãn và sắc, gọi là giải nọa (bệnh tại Tỳ); lúc nằm yên mà mạch thịnh, cũng gọi là thoát huyết; Xích bộ sắc mà mạch lại hoạt là chứng nhiều mồ hôi; Xích bộ hàn mà mạch lại tế, sẽ là chứng Hậu tiết (ăn xong, đi tả ngay); mạch ở Xích bộ thô và thường nóng, thuộc về chứng Nhiệt trung.
Phàm thấy mạch ở cổ động lên bật bật, thở suyễn và khái, chứng._ thuộc về Thủy. Mi mắt hơi thũng phông lên như ngọa tàm (con tăm năm), chứng thuộc về Thủy. Nước tiểu vàng đỏ, ưa nằm, là chứng hoàng đản. Ăn rồi mà bụng vẫn như đói, là chứng Vị đản. Mặt sưng phù ra, là chứng phong. Bọng chân sưng nặng là chứng Thủy. Lòng trắng mắt vàng... cũng là chứng hoàng đản.
Đàn bà, mạch thuộc kinh Thái âm động nhiều, là có thai.
Mạch có khí hoặc nghịch hoặc thuận với bốn mủa. Dù chưa hiện mạch của bản Tàng, xuân hạ mà mạch lại xấu (giống như tế), thu đông mà mạch lại phủ đại... Như thế là nghịch với bốn mùa.
Chứng phong nhiệt mà mạch lại Tĩnh (nên phủ động), chứng tiết và thoát huyết mà mạch lại thực (nên hư tán), bệnh ở trong mà mạch lại hư (nên trầm thực), bệnh ở ngoải mà mạch lại kiên sắc (nên thăng phù)... đều khó chữa, vì lả trái với bôn mùa.
Con người lấy thủy cốc làm gốc, nếu tuyệt thủy cóc thời tất phải chết. Mạch không có Vị khí (tức khí của thủy cốc) cũng chết. Phàm gọi là không có Vị khí, là chỉ thấy có chính mạch của chân Tàng mà không có vẻ hòa hoãn là Vị khí xen vào. Không những thế, mà Can - không Huyền, Thận không Thạch v.v... cũng là không được Vị khí. Mạch ở kinh Thái dương đến, hồng đại mà trường; mạch ở kinh Thiếu dương đến, lúc sác, lúc sơ, lúc đoản, lúc trường; mạch ở kính Dương minh đến, Phù đại mà Đoản.
Tâm võ bệnh, mạch hiện ra:
lườn lượt không đứt như chuỗi ngọc, như dây chuyên... Thuộc về mùa hạ, lấy Vị khí làm gốc. Nếu có bệnh, mạch khớp khớp chấp nói, có lúc hơi cong. Nếu trước cong mà sau không động, như cầm lưỡi cảu... như thế là Tâm chết,
Phé vô bệnh, mạch hiện ra êm đềm nhẹ nhàng như chiếc lá rơi... Thuộc mùa thu, lấy Vị khí làm pếc.
Nếu có bệnh, không lên không xuống, như phảy lông gà... Nếu lại như vật nôi lẻnh bềnh, không gốc không rễ, như giỏ thôi chiếc lông, trống không tán loạn... như thế là Phế chét.
Can võ bệnh, mạch hiện ra mềm mại dịu dàng như vuốt ngọn Tràng (tràng, tre dài dùng làm tràng, trên đầu nhỏ và lướt mềm. Thuộc mùa xuân, lấy Vị khí làm gốc. Nếu có bệnh, đầy đặc mà hoạt, như nắm trường Can (trường Can tức là “tràng”, nhưng đây nắm vào thân chứ không vuốt ngọn, có vẻ cứng rắn hơn)... Nếu lại cấp mà cứng, như giương dây cung (huyền), như thế là Can chết.
Tỳ vô bệnh, mạch hiện ra hòa nhu mà tương ly, bước đi như pà (trong hòa nhu mà có vẻ cách nhau không liên). Thuộc mùa Trường hạ, lấy Vị khí làm gốc. Nếu có bệnh, dầy đặc mà vững chắc, không có hòa nhu, chuyên Du kém sức (tức Tỳ khí không tản bố ra các Tàng khác). Nếu lại cứng và sắc như đầu mỏ quạ. như móng chân chim, thánh thót như nhả đột, cuỗn cuộn như nước trôi, như thẻ là Tỳ chết.
Thận vỏ bệnh. mạch hiện ra chìm nặng mà linh động như nỏi mà trong không, án nặng tay thời kiên. Thuộc mùa đông, lẫy Vị khí làm gốc. Nếu có bệnh, như lôi dây săn, càng án mà cảng kiên; nếu lại đằng mạnh như giật dây, trình trịch như ném đá... như thé là Thận chết.
Chú Giải
- Cự {e là một hô hai lần động, một hấp hai lần động, cộng lại chỉ có bốn lần. Nhưng còn cái lúc ngừng lại hô hấp nọ tiếp với hô hấp kia, trong khoảng xen nhau đó, cũng lại có một động. Một động đó không ở vào hồ hấp chính, nên gọi là "nhuận" và tính là năm động, chữ "động” cũng gọi là “chí.
- Và câu này, ý nói: Can Tàng vốn có chân khí, nhưng chỉ về mùa xuân mới phát hiện ra ở Can. Can có chứa các khí của cân, mạch, cho nên chủ về Mộc; Mộc chủ về xuân. Can chủ về cân, nên căn bệnh phát hiện về mùa xuân, mà mạch huyền.
- G/ớn là xen, cách; Gián Tàng là do tương sinh mà truyền cho nhau; Khóng gián Tàng là do tương khắc mà truyền cho nhau. Tỷ như: Cái tà ngoại dâm, bắt đầu phạm vào bì mao, thì bên trong hợp với Phê; Phế muốn truyện cho Can, mà Thận xen (gián) vào; Thận muốn truyền cho Tâm, mà Can xen vào; Can muốn truyền cho Tỳ, mà Tâm xen vào; Tâm muốn truyền cho Phế, mà Tỳ xen vào; Tỳ muốn truyền cho Thận, mà Phế xen vào v.v...
- Chân ở Xích bộ của đàn bà, nếu Thiếu âm Thận mạch ở tay trái động nhiều, là có thai con trai.
Thiên 19–29 · Ngọc Cơ Chân Tàng Luận → Tái Âm, Dương Minh Thiên
Chương mười chín · Ngọc Cơ Chân Tàng Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Mạch mùa xuân như huyền... Thế nào gọi là huyền?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch mùa xuân tức là Can mạch, thuộc Đông phương Mộc, muôn vật bắt đầu sinh ra từ đó, cho nên mạch khí hiện ra: nhuyễn, nhược, khinh, hư mà hoạt, ngay thăng mà dài, nên gọi là huyền. Nếu mạch tượng trái thế, sẽ mắc bệnh.
Hoàng Đế hỏi:
– Thế nảo là trái?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch khí lúc lại thực mà cường là thải quá, bệnh sẽ phát ở bên ngoài; mạch khí lúc lại không thực mà “vi” là bất cập, bệnh sẽ phát ở bên trong.
Hoàng Đế hỗi:
– Mạch mùa xuân, thải quá và bắt cập, phát ra chứng hậu thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá thời khiến người hay quên, choáng váng chóng mặt và đau ở đâu. Nếu là bắt cập thời đau ở hung xuất sang lưng, xuống cả hai bên sườn, tức đầy khó chịu.
Hoàng Đề hỗi:
– Mạch mùa hạ như câu... Thế nào gọi là câu?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch mùa hạ, tức là mạch của Tâm, thuộc Nam phương Hỏa, muôn vật nhờ đó để thịnh trưởng. Cho nên mạch khí lúc lại thịnh lúc đi suy, nên mới gọi là câu. Nếu mạch tượng trái thể, sẽ mắc bệnh.
Hoàng Đề hỏi:
– Thế nào là trái?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch khí lúc lại thịnh, lúc đi cũng thịnh là thái quá, bệnh sẽ phát ở bên ngoài; mạch khí lúc lại không thịnh, lúc đi lại thịnh là bất cập, bệnh sẽ phát ở bên trong.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch mùa hạ thái quá và bất cập, phát ra chứng hậu thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá thời khiến người mình nóng và đau ở ngoài đa, hoặc sinh chứng lở lói; bất cập thời khiến người tâm phiền; ở bộ phận trên thời phát chứng ho và nhỗ; ở bộ phận dưới thời phát chứng khi tiết.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch mùa thu như phù... Thế nào gọi là phù?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch mùa thu tức là mạch của Phế, thuộc Tây phương Kim, muôn vật nhờ đó tới thời kỳ “thâu thành”. Cho nên mạch khí lúc lại, khinh hư mà phù, lúc lại thời cấp, lúc đi thời tán, nên gọi là phù. Nếu mạch tượng trái thế, sẽ mắc bệnh.
Hoàng Đề hôi:
– Thế nào là trải?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch khí lúc lại như mao, ở giữa kiên, hai bên hư là thái quá, bệnh sẽ phát ở bên ngoài; mạch khí lúc lại như mao mà vi là bất cập, bệnh sẽ phát ở bên trong.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch mùa thụ, thái quá và bắt cập, chứng hậu phát ra thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá thời khiến người khí nghịch, lưng đau và bực tức khó chịu: bất cập thời khiến người suyễn, hô hấp mệt mỏi mà ho, ở bộ phận trên đôi khi thấy có máu, có khi khí hạ nghịch, là rên kêu ầm ĩ.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch mùa đồng như doanh... Thế nảo gọi là doanh? (Ở yên lặng, chìm xuống, tức là thạch.
Kỳ Bá thưa rằng:
Mạch mùa đông, tức là mạch của Thận, thuộc Bắc phương Thủy. Muôn vật nhờ đó mà bế Tàng, cho nên mạch khí lúc lại trầm mà bác (bật mạnh lên), nên gọi là doanh. Nếu mạch tượng trái thể, sẽ mắc bệnh.
Hoàng Đề hồi:
– Thế nào tả trái?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch khí túc lại như vụt vào đá (đàn thạch) là thái quá, bệnh sẽ phát ở bên ngoài; đến lúc đi lại chậm rãi như đếm là bất cập.
Hoàng Đế hỏi:
– Mạch mùa đông thái quá và bắt cập, chúng hậu phát ra thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá thời khiến người trễ nải, đường xương sống đau, thiêu khí, không muốn nói; bất cập thời khiến người trong lòng bào hao như đói, phía dưới chỗ xương sườn cụt giá lạnh, trong xương sống đau, Thiếu phức đây, tiểu tiện đổi sắc.
Hoàng Đề hỏi:
– Theo thứ tự của bốn mùa các Tàng đều có sự thuận nghịch khác nhau... Còn Tỳ, thời chủ về gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tỳ mạch thuộc Thỏ, nó là cô Tàng (đứng riêng một mình) để thấm nhuân ra bốn bên. Hoàng Đề hỏi:
– Nếu vậy thời sự “thiện” hay “ác” của Tỳ có thê biết được chăng
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cái thiện không thê thấy“) chỉ cái ác có thê thấy.
Hoàng Đề hỏi:
– Thấy cái ác như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch khí lúc lại như nước chảy đôn là thái quá, bệnh sẽ phát ở bên ngoài; nếu chỉ như chim mô, lúc có lúc ngừng là bất cập, bệnh sẽ phát ở trong.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch của Tỳ. thải quá và bất cập, chứng hậu phát ra thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá thời khiến người tứ chỉ không cử động được; bất cập thời khiển người chín khiếu không thông, gọi là trùng cường!?, -ủa.
Năm Tàng, thụ khí ở cái “sở sinh", lại truyền cho cái “sở bất thắng” (đã chua nghĩa ở trên). Khí ký túc ở cái nơi “sở sinh”, mà bị chết ở cái nơi ''sở bất thắng”, bấy giờ mới chết. Đó là vì khí nghịch hành (đi ngược) nên mới chết.
Can thụ bệnh khí ở Tâm, truyền đi đến Tỳ, khí ấy ký túc ở Thận, đến Phế thời chết. Tâm thụ bệnh khí ở Tỳ, truyền đi đến Phể, khí ấy ký túc ở Can, đến Thận thời chết. Tỳ thụ bệnh khí ở Phé, truyền đi đến Thận, khí ấy ký túc ở Tâm, đến Can thời chết. Phế thụ bệnh khí ở Thận, truyền đi đến Can, khí ấy ký túc ở Tỷ, đến Tâm thời chết. Thận thụ bệnh khí ở Can, truyền đi đến Tâm, khí ấy ký túc ở Phế, đến Tỳ thời chết... Đó đều là nghịch. Suốt một ngày một đêm, chia làm năm Tàng... Đề đoán biết sống hay chết, sớm hay muộn...
Hoàng Đề nói rằng:
– Năm Tàng cùng thông nhau, truyền đêu có thứ tự; năm Tàng có bệnh, thời đều truyền tới cái “sở thắng”. Nếu không điều trị theo phép, hoặc ba tháng, hoặc sáu tháng, hoặc ba ngày, hoặc sáu ngày... Truyền khắp năm Tàng thời sẽ chết. Đó là cái thứ tự thuận truyền cho cái “sở thắng.
Cho nền nói răng:
Phân biệt được Dương tảng sẽ biết được bệnh nó từ đâu lại, phân biệt được Âm tàng sẽ biết được cái thời kỳ sống hay chết.
Phong là một thứ đứng đâu của trăm bệnh. Giờ phong hàn phạm vào người, khiến người hào mao đều đứng thăng, bì phu bị vít lại mà thành chứng nhiệt (sốt nóng). Gặp trường hợp đó, nên dùng làm phát hãn đề phong tà tiết ra ngoài.
Hoặc tý, bất nhân (ngoài da tê dại cầu không biết đau), sưng đau... Gặp trường hợp đó, nên dùng nước nóng đề chườm, hoặc dùng lửa cứu, hoặc dùng châm thích cho tiết bỏ huyết độc.
Nếu không chữa bệnh, tà sẽ phạm vào Phế thành chứng Phế tỳ, gây nên thái thấu và thượng khí.
Nếu không chữa, Phế sẽ truyền mà lẫn sang Can thành chứng Can tý, một tên là Quyết sẽ đau ở sườn và Thổ. Gặp bệnh đó nên dùng phép “án” và thích.
Nếu không chữa, Can sẽ truyền sang Tỳ, thành chứng Tỳ phong pây nên bệnh Đản (hỏa đản), trong bụng nóng, tâm phiền, đa vàng.
Gặp bệnh đó, nên dùng phép “án”, dùng thuốc hoặc dùng phép tắm.
Nếu không chữa Tỳ sẽ truyền sang Thận thành chứng Sán, Giả, trong Thiểu phúc nóng nảy và đau, tiểu ra trăng như nước gạo. Lại một tên là Cô. Gặp bệnh đó nên dùng phép “án” và thuốc uống.
Nếu không chữa, Thận sẽ truyền sang Tâm thành chứng gần mạch co rút, mà đau. Gọi là khiết. Gặp bệnh đó nên dùng phép cứu hoặc thuốc uống. Nếu không chữa, trong vòng mười ngày sẽ chết.
Thận hoặc truyền lên Tâm, Tâm liền quay trở lại mà truyền lên Phể, phát chứng hàn nhiệt. Theo phép, ba năm sẽ chết. Đó là thứ tự của bệnh, Nhưng nếu là bệnh “thốt phát” (bỗng dưng phát ra rất chóng, không cân phải theo phép tương truyền để điều trị.
Hoặc có khi truyền hóa không theo thứ tự, như ưu, khủng, bi, hỷ, nộ... Vì nó truyền không có thứ tự, nên thường gây nên bệnh lớn.
Tỷ như hỷ quá thời Tâm hư, Thận khí sẽ thừa cơ mà lắn, nộ; quả thời Can hư, Phế khí sẽ thừa cơ mà lắn. Tư quả thời Tỳ hư, Can khỉ sẽ thừa cơ mà lấn; Khủng quá thời Thận hư, Tỳ khí sẽ thừa cơ mà lần. Ưu quá thời Phế hư, Tâm khí thừa cơ mà lắn... Như một Tảng hư mà bị lấn, thời sẽ truyền qua cả năm Tảng. Cho nên bệnh có năm thứ, mà năm Tàng có năm lần biến... Vậy năm lần năm sẽ thành 25. Vậy sự truyền hóa của năm Tàng đó, cũng đều là lắn cái “sở thẳng” vậy.
Đại cốt (tức xương tay, xương đầu) khô đét, đại nhục (tức hai mông) rúm lại, trong hung khí nghẽn, hơi thở khó khăn, mỗi khi thờ phải so vai rụt cô... chỉ sáu tháng sẽ chết. Thấy mạch của chân Tàng hiện ra, mới có thể hẹn đúng ngày nào (như bệnh ở tâm, sẽ tính đến ngày Nhâm, Quý thì chết v.v... Tức là ngày tương khắc.
Đại cốt khô đét, đại nhục rúm lại, trong hung khí nghẽn, hơi thở khó khăn. Đau ở trong rút lên vai và cô. Chỉ trong một tháng sẽ chết. Thấy mạch của chân Tảng hiện ra, mới có thể hẹn đúng ngảy nào (tức ngày Canh, Tân. Đại cốt khô đét, đại nhực rúm lại, trong hung khí nghẽn, đau ở trong rút lên vai cổ, mình nóng, thịt tiêu mòn hết. Thấy mạch của chân Tàng hiện ra chỉ trong vòng mười ngày sẽ chết (đoạn này nói bệnh ở Phế, truyền sang Tâm thời chế.
Đại cốt khô đét, đại nhục rúm lại, trong hung khí nghẽn, xương tủy hao mòn, cử động cảng suy. Thấy mạch của chân Tàng hiện ra, trong vòng một năm sẽ chết và cũng mới có thể định được hãn là ngày nào (như chết về ngày Giáp, Ảt.
Đại cốt khô đét, đại nhục rúm lại, trong hung khí nghẽn, trong bụng đau, trong Tâm khó chịu, lưng, cô và mình nóng, thịt tiêu mòn hết, mắt lõm trông không rõ... Chết ngay. Nếu còn trông thấy, tới ngày “sở bất thắng" sẽ chết,
Thân thể đã hư quá, tà khí vụt đến, năm Tảng vít lấp, mạch đạo không thông, khí không đi lại, như người chết đuối, không thể hẹn ngày.
Nếu mạch tuyệt không lại, hoặc một “tức” mà năm sáu chí, đù hình nhục không thoát, chân Tàng không hiện cũng chết.
Chân Can mạch hiện ra, trong ngoài đều "“nhăng"” như lăn tay lên lưỡi đao, “lăn lăn” như để lên trên đây đàn, sắc mặt trắng xanh không bóng, lông tóc rơi rụng... Đó là bệnh chết.
Chân Tâm mạch hiện ra, cứng mà bật lên tay, như lăn tay lên chuỗi hạt châu; sắc mắt tía đen không bóng, lông, tóc rơi rụng... Đó là chứng chét.
Chân Phế mạch hiện ra, đại mà hư, như cầm lông chim phớt quệt vào đa, sắc mặt trắng, đỏ không bóng, lông, tóc rơi rụng... Đó là bệnh chết.
Chân Thận mạch hiện ra, bật mạnh lên lại đứt, như vút que vào đá rắn chắc không trùng... Sắc mặt den vàng không bóng, lông tóc rơi rụng... Đó là chứng chết.
Chãn Tỳ mạch hiện ra, nhược mà lúc sác, lúc xơ, sắc mặt vàng xanh không bóng, lông, tóc rơi rụng... Đó là chứng chết.
Phàm chân Tảng mạch hiện ra, phần nhiều chết, không chữa được.
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Thấy chân Tàng mạch hiện ra, mà nhận là chứng chết, là cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm Tàng đều nhờ khí ở Vị. Vậy Vị là gốc của năm Tàng. Tàng khi không thể tự mình dẫn đến Thái âm, phải nhờ có Vị khí mới đến được. Năm Tàng lại phải nhờ Vị khí mới hiện ra được cái mạch tượng theo đúng với mùa mà dẫn đến Thái âm. Cho nên, mỗi khi tà khí mà thắng được. tức là tính khí đã bị suy trước. Người mắc bệnh nặng, Vị khí không thể cùng dẫn đến Thái âm, nên chân Tàng mới một mình hiện ra (tức trong mạch — không có Vị khí). Sở dĩ như vậy là đo bệnh khí nó thắng. Nên mới là chứng chết.
Hoàng Đề nói rằng:
– Phàm trị bệnh phải xét hình, khí, săc có bóng hay không bóng, mạch thịnh hay suy, bệnh mới hay cũ... bấy giờ sẽ chữa, đừng để lỡ thời.
Hình với khí hợp nhau, có thể chữa; sắc bóng vả nỗi ở ngoài da, có thể chữa; mạch thuận với bốn mùa, có thể chữa; mạch nhược mà hoạt là có Vị khí, có thể chữa... Nền theo mùa mà dùng phép thích.
Hình với khí trái nhau, khó chữa; sắc nhợt không bóng, khó chữa; mạch thực mà kiên, khó chữa; mạch trải bốn mùa, khó chữa. Phải xét những nỗi khó đó, đề bảo rõ bệnh nhân.
Phàm nói về trái với bốn mùa, tỷ như:
Mùa xuân thấy mạch của Phế, mùa hạ thấy mạch của Thận, mùa thu thấy mạch của Tâm, mùa đông thấy mạch của Tỳ... Khi mạch hiện ra đều trầm, sắc, không chút Vị khí... thì đều là trái bốn mùa.
Chưa thấy mạch hình của Tàng, về mùa xuân, mùa hạ mà mạch trầm. sắc; về mùa thu mùa đồng mà mạch phù, đại... cũng là trái với bốn mùa.
Bệnh nhiệt mà mạch tĩnh, bệnh tiết mà mạch đại, thoát huyết mà mạch thực, bệnh ở bộ phận trong mà mạch thực và kiên, bệnh ở bộ phận ngoài mà mạch lại không thực và kiên... đều khó chữa.
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Tôi nghe nhận mạch hư thực để quyết bệnh sống hay chất... Xin cho biết rõ nguyên nhân...
Kỳ Bá thưa rằng:
– BỊ năm “thực” hoặc năm “hư”, đều chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Năm thực, năm hư, là thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch thịnh, da nóng, phúc trướng, đại tiểu không thông, mắt mờ... Đó là năm “thực” (tức tà khí thực.
Mạch tế, da lạnh, thiểu khí, tiền hậu đều tiết và lợi, không uống ăn được... Đó là năm “hư” (tức chính khí hư.
Hoàng Đề hỏi:
– Mắc chứng như thế, mà đôi khi cũng có người sống, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nếu nước cháo có thể nuốt được vào vị, tiết và lợi đều ngừng... Thời đù gặp “hư” cũng sống. Nếu mỗ hôi ra được và tiểu tiện lợi... thời dù gặp “thực” cũng sống.
(TRỞ LÊN LÀ HÉT QUYỀN THỨ II
Chú Giải
- Tỳ thấm nhuần ra bốn Tàng. Bốn Tàng nhờ cái khí của Tỳ để thực hiện được cái công năng của mình. Vậy cái thiện của Tỳ chỉ phát hiện ra ở bôn Tàng, mà chính ở mình thì không thây. f Tỳ không hòa đã là cường rồi; chín khiếu không thông, tà khí dương thịnh cũng là cường, nên gọi là "trùng cường" - tức cả hai đều cường, Phế tý: Tức là Phế bị vít nghẽn. Đán: Tức Hoàng đản. Sán: Đau ở bụng dưới, đau rút xuống Thận hoản. G: Nỗi hòn ở trong bụng, nhưng án tay vào lại tan. Khí/: Chân tay co rút.
- Đây là Thận bệnh truyền đến Tỳ thì chết. Bản kinh nói: Bệnh ở Thận, đại tiểu phúc đều đau; Thận truyền lên Tâm, cho nên trong Tâm khó chịu: Tâm lại truyền sang Phế, Phế lại truyền sang Can, cho nên vai, cô và mình nóng. Can lại truyền Tỳ, nên mắt lõm.
Chương hai mươi · Tam Bộ, Cửu Hậu Luận
Kinh Văn
Hoàng Về hỗi rằng:
– Tôi nghe về phép cửu châm, ứng với trời đất, ứng với âm dương, hợp với bỗn mùa và năm hành... Dường lối như thế nào, xin cho biết.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chí số của trời đất, bắt đầu tứ số một, cuối cùng là số chín”. Một là trời, hai là đất, ba là người. Vậy ba lần ba là chín, để ứng với chín “dã.
Ở con người chía làm ba bộ, mỗi bộ có ba hậu, để quyết sống chết, để trị trăm bệnh, đề điều hư thực mà trừ tà tật.
Hoàng Đề hỏi:
– Ba bộ là gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Có hạ bộ, có trung bộ, có thượng bộ. Mỗi bộ có ba hậu, tức là trời, đất và người.
Thượng bộ về trời, ứng vào động mạch ở hai trán; thượng bộ về: đất, ứng vào động mạch ở hai bên má; thượng bộ về người, ứng vào động mạch ở hai bên tai.
Trung bộ về trời thuộc thủ Thái âm; trung bộ về đất thuộc thủ Dương minh; trung bộ về người thuộc thủ Thiếu âm.
Liạ bộ về trời thuộc túc Quyết âm; Hạ bộ về đất thuộc túc Thiếu âm: Hạ bộ về người thuộc túc Thái âm.
Cho nên hạ bộ về trời để hậu (nghe mạch) cái khí của Can; đất để hậu cái khí của Thận; người để hậu cái khí của Tỳ vị,
Hoàng Đề hỏi:
– Về sự “hậu” của trung bộ như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cũng có trời, đất, người khác nhau. Trời để hậu Phế, đất đẻ hậu khí ở trong Hung, người để hậu Tâm.
Hoàng Đề hỏi:
– Về sự “hậu” của thượng bộ như thế nào?
kỳ Bá thua rằng:
– Cũng có trời, đất, người khác nhau. Trời để hậu khí ở đầu, đất để hậu khí ở miệng và răng, người để hậu khí ở tai và mắt.
Trong ba bộ, đều có trời đất người. Do ba mà thành trời, do ba mà thành đất, đo ba mà thành người (tức ở trong chín hậu mỗi hậu đều có ba.
Ba nhân với ba thành chín. Số chín đó chia làm chín đã; chín dã lại hợp với chín Tàng.
Vẻ thần Tàng có năm”), vẻ hình Tàng có bón!?, hợp lại thành chín Tàng.
Năm Tàng đến lúc bại. sắc tất bợt ra. Bợt ra thì hăn chết. Hoàng Đế hỏi: - Về phép “hậu” như thế nào? Kì Bá thưa rằng:
– Trước phải nhận xem người gây hay béo, để xét xem khí hư hay thực. Thực thì tả, hư thì bỗ. Phải trừ bỏ tà khí trong huyết mạch rồi mới có thể điều hòa. Không cứ gì bệnh khó hay dễ, cốt làm cho khí dược quản bình.
Hoàng Đế hỏi:
. - Quyết chết sống như thế nào?
Xỳ Bả thưa rằng:
– Hình thịnh, mạch tế, hơi ít như không đủ để thở, là bệnh nguy.
Hinh gầy, mạch đại, trong hung hơi nghẽn, là bệnh nguy.
Lúc đại, lúc tiểu, lúc tật, lúc từ... mạch đi không đều... là bệnh nguy.
Ba bộ, chín hậu, mạch đều trái nhau, sẽ chết.
Mạch ở trên, dưới, tả, hữu cứ so le không khớp với nhau, là bệnh nặng.
Mạch ở trên, dưới tả, hữu đều trải nhau, không còn nhận được bao nhiêu “chí”, là bệnh chết. Mạch ở trung bộ, hậu dù có đều, nhưng lại trái hắn với các Tàng khác... là bệnh chết.
Mạch ở trung bộ, hậu rất mỏng manh, là bệnh chết.
Mắt lõm xuống, là bệnh chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Sao biết được bệnh ở đâu?
Kỳ Bá thưa rằng:
- Xét ở chín hậu, mạch nếu:
thiên về “tiểu”, thiên về đại là mắc bệnh; thiên về tật, thiên về trì, thiên về nhiệt, thiên về hàn, hoặc thiên về hãm, hạ... đều là mắc bệnh.
Dùng tay tả của mình, án lên chân bệnh nhân, cách xương “khoai” năm tấc, rồi tay hữu của mình gõ lên xương “khoai” của bệnh nhân. Nếu mạch ứng lên quá năm tắc, có vẻ hơi bật bật đều đều, thế là vô bệnh; nếu ứng lên tay nhanh, có vẻ tuồn tuột... là mắc bệnh; hoặc lại chậm chạp bợt bạc... cũng là mắc bệnh.
Nếu mạch ứng lên, trên không tới được năm tắc (tắc ở đây, thuộc về quan xích đời xưa), dù có gõ lên xương cũng không thấy, bệnh sẽ chết.
Bệnh nhân thịt tiêu mòn hết sẽ chết.
Mạch ở trung bộ, lúc xơ, lúc sác sẽ chết.
Nếu mạch hiện ra đại mà câu. là bệnh tại lạc.
Chín hậu cùng ứng, hợp nhau như một, không được so le. Nếu một “hậu” chậm lại sau, là mắc bệnh; hai “hậu” chậm lại sau, là bệnh nặng; ba “hậu” chậm lại sau, là bệnh nguy. Nói “chậm lại sau” tức là mạch ứng không đều.
Xét ở Phủ Tàng, để đoán biết cái thời kỳ sống chết.
Phải trước biết kinh mạch, rồi sau mới biết được bệnh mạch. Mỗi khi mạch của chân Tàng hiện ra, gặp cái ngày “thắng” (khắc), sẽ chết.
Kinh túc Thái dương khí tuyệt bệnh nhân chân không thể co duỗi; khí chết tắt trợn mắt.
Hoàng Đế hỏi:
– Mùa đông thuộc âm, mùa hạ thuộc dương, ứng với người thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch của chín hậu đều trầm, tế cách tuyệt nhau thế là âm, thuộc đông, nên chết về khoảng nửa đêm; nếu mạch thịnh, táo, sác và suyễn. Thế là dương, thuộc hạ, nên chết về đúng trưa. Phàm bệnh hàn nhiệt, thường chết về lúc sáng rõ; chứng Nhiệt trung với bệnh nhiệt cũng chết về lúc đúng trưa; bệnh phong, chết về lúc mặt trời lặn; bệnh thủy chết về nửa đêm; mạch lúc xơ, lúc sác, lúc tật, lúc trì... tới ngày tứ quý sẽ chết.
Thịt ở thân thể tiêu mòn hết, chín hậu dù đều, cũng chết.
Bảy phép chân dù có đử”), nhưng chín hậu đều thuận, không chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Như thế nào, có thể chữa được? Kỳ Bá thưa răng: - Bệnh về kinh mạch thì trị kinh mạch, bệnh về tôn lạc thì trị tôn lạc. Huyết bệnh mà mình có đau. thì trị ở kinh lạc. Nếu phạm phải kỳ tà (tức tà khí lạ lùng, ít khi có), xét luỗng mạch kỳ tà đê thích. Bệnh đã lâu ngày, tụ ở khớp xương, nên thích ngay ở khớp xương. Nếu trên thực dưới hư, huyết mạch không thông, nên tìm chỗ kết ở lạc mạch mà thích cho thấy có máu,
Đồng tử đột cao lên, do khí ở Thái dương bắt túc. Mắt trợn lên, do khí ở Thái dương đã tuyệt, Đó là cái cốt yếu để quyết sinh tử, phải xét kỹ mới được.
Chú Giải
- Tâm tảng thần, Can tảng hồn, Phế tàng phách, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí.
- “Hình Tàng", tức là chứa những vật có hình, Như Vị, Đại trường, Tiểu trường, Bàng quang.
- Bảy phép chẩn như: Trâm, tế huyền tuyệt; thịnh táo suyễn sác; hàn nhiệt: nhiệt trung: bệnh phong; bệnh thủy và thổ tuyệt ở tứ quý v.v... Sở đĩ nói không chết. vì các bệnh thuộc về phong khí, hoặc thuộc về kinh nguyệt, trạng thái như bệnh về bảy phép chắn, mà không phải, nên không chết. Nếu có các chứng trạng thuộc về bảy phép chân, mà chân hậu cũng bại, tất phải chết. Khi chết tất sinh chứng "nấc. Phải hỏi kỹ lúc mới phát bệnh thế nào và hiện đương là bệnh gì, rồi sau sẽ "thiết" đến mạch. xét về kinh, lạc trằm, phù và trên, dưới, thuận, nghịch thế nào... Nếu mạch "tật" là tà chỉ phạm vào kinh mạch, mà không mắc những bệnh ở "thất chân" (bây phép chân); nễu mạch "trì" là bệnh thuộc "thất chân"; luông mạch không còn ởi lại. sẽ chết, bì phu dính vảo xương không còn chút thịt, cũng chết. Những phép thích nảy, đều nói rõ ở Linh khu, đây xin miễn giải,
Chương hai mươi mốt · Kinh Mạch Biệt Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi răng:
- Người ta:
động, tĩnh, đũng. khiếp... mạch có biến đôi không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phàm người, pặp những sự kinh, khủng, nộ. lao động, tĩnh v.V... mạch cũng đều biến. Vì vậy, đi đêm thì hơi thở phát ra ở Thận, khi bốc lên gây bệnh cho Phế. Có sự vấp ngã mà sợ, hơi thở phát ra ở Can. khí bốc lên làm hại Tỳ. Có sự sợ hãi, hơi thở phát ra ở Phế, khí bắc lên làm hại Tâm. Lội nước, lăn ngã, hơi thờ phát ra ở Thận và xương. Gặp trường hợp đó, người đũng, khí hành được thì vô sự; nêu là người khiếp, khí ngừng lại, sẽ mắc bệnh.
Cho nên. về phép chân mạch, xem người dũng hay khiếp và nhận cả ở cốt, nhục, bì phu... sẽ hiểu được bệnh tỉnh, để giúp thêm về phép chân.
Uống ấn quá no, hãn phát ra ở VỊ; sợ quá mất tính thần, hãn phát ra ở Tâm; mang nặng đi xa, hãn phát ra ở Thận; chạy vội, sợ hãi, hãn phát ra ở Can; làm lụng vất và, hãn phát ra ở Tỳ.
: Cho nên xuân, thu, đông. hạ bốn mùa, âm dương đều không làm hại người. Sở dĩ sinh bệnh, chỉ vì quá độ, trái mắt lẽ thường.
Khí vị của thức ăn, sau Khi vào Vị, tán “tịnh” vào Can, tràn khí vào cân.
Khí vị của thức ăn, sau khi vào Vị, các khí “trọc” dẫn lên Tâm, tràn chất “tinh” vào mạch.
Mạch dẫn theo kinh. Kinh khí dẫn lên Phế. Phế tổng hợp trăm lương mạch, Du chuyển tính khí ra bì mao. Mao (khí) với mạch (huyết) hợp tính, dẫn khí về Phủ (phủ thuộc dương, khí là dương; Phủ chứa thần minh, đẻ giúp ích bón Tảng.
Khí cốt ở quân bình; sự quân bình hiện lên khí khẩu, nhờ đó để quyết tử sinh.
Thức uống sau khi vào Vị bao chất tinh khí tràn lan ra, Du chuyển sang Tỳ; Tỳ lại lọc những chất tỉnh túy hơn, để Du chuyền lên Phế; nhờ đó làm cho thủy đạo được thông lợi, Du chuyền xuống Bàng quang, tức thì thủy tỉnh tán bố năm kinh đều đi khắp. Đó là hợp với bốn mùa, năm Tàng âm dương quỹ độ. Tức là lẽ thường của mạch.
Khí ở Thái dương đến một mình, gây nên chứng quyết, suyễn, hư, khí nghịch. Đó là do âm bắt túc, dương hữu dư, cả biểu, lý đều nên tả, thích ở huyệt Hạ du.
Khí ở Dương mỉnh đến một mình, thế là dương thêm dương. Nền tả đương bổ âm, thích ở huyệt Hạ du.
Khí ở Thiếu dương đến một mình, quyết khí, mạch kiên và phía trước bỗng biến thành đại. Nên thích ở huyệt Hạ du. Thiếu dương đến một mình như vậy là đo khí Nhất dương thái quá.
Mạch ở Thái âm bựt mạnh, phải xét ở chân Tàng; mạch của năm Tàng đêu thiểu khí. Vị khí không quân bình... đó thuộc về Tam âm, Nên thích ở huyệt Hạ du, bỗ dương tả âm.
Nếu Nhất dương một mình nghịch lên, thành chứng Thiếu dương quyết.
Dương dồn lên cả bộ phận trên, mạch của bốn Tàng khác đều mạnh, khí trở về Thận, nên trị ở kinh lạc, tâ dương bổ âm.
Mạch của Nhất âm một mình đến, tức chủ trị do Quyết âm. Vì chân Tàng hư nên trong Tâm đau ê âm; quyết khí bức bách, khiến toát mồ hôi. Nên điều độ uống ăn, hòa hợp dược vị và thích ở Hạ du.
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Tàng tượng của các Tàng thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái dương Tàng, tượng Tam dương mà phù; Thiếu dương Tàng, tượng Nhất dương, hoạt mà không thực; Dương minh Tàng, tượng Nhị dương mà phù đại. Thái âm Tàng, mạch bật lên như phục cô; Nhị âm bật đến, dù là Thận, chỉ trằm mà không phùU,
Chú Giải
- Đại ý thiên này, muốn biết bệnh mạch, trước phải biết kinh mạch. Nhưng muốn biết kinh mạch, nên chỉa rõ kinh với khí khác nhau thế nào.
Chương hai mươi hai · Tàng Khí Pháp Thời Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hãi:
– Hợp thân hình con người, bắt chước bốn mùa, năm hành để điều trị... Thế nảo là thuận, thế nào là nghịch, thé nào là đắc, thế nào là thất...? Xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Thay nhau quý, tiện, để biết chết sông, để quyết thành bại và định cái khí của năm Tàng, cùng cái lúc hơi bớt cái lúc nặng thêm... Rồi do đó dự tính khi chết và sống.
Hoàng Đề nói:
– Xin cho biết rõ căn nguyên...
Kỳ Bá thưa răng:
– Can chủ về mùa xuân. kinh khí do túc Quyết âm Thiếu dương chủ trị, ứng với hai ngày Giáp, Át. Can khổ về sự cấp (tức thái quả, kíp ăn vị cam để cho hoãn lại.
Tâm chủ về mùa hạ, kinh khí do thủ Thiểu âm Thái dương chủ trị, ứng với hai ngày Bính, Đính. Tâm khô về sự hoãn (chậm chạp tán mạn), kíp ăn vị toan để cho hậu lại.
Tỳ chủ về Trường hạ, kinh khí do túc Thái âm Dương minh chủ trị. ứng với hai ngày Mậu, Kỹ. Tỳ thô về sự thấp, kíp ăn vị khổ đề cho ráo lại.
Phế chủ về mùa thu, kinh khí đo thủ Thái âm Dương minh chủ trị, ứng với hai ngày Canh. Tân. Phế khổ về khí nghịch lên, kíp ăn vị khổ đề cho tiết đi,
Thận chủ về mùa đông, kinh khí do túc Thiếu dương Thái âm chủ trị, ứng với hai ngày Nhâm, Quý. Thận khổ vẻ sự táo (ráo). kíp ăn vị tân để cho nhuận, do đó khai được tấu lý, sinh ra tân dịch và thông khí...
- Bệnh ở Can, khỏi vệ mùa hạ:
mùa hạ không khỏi tới mùa thu sẽ nặng thêm. Nếu mùa thu không chết, sẽ đứng bệnh vẻ mùa xuân và khôi hắn về mùa xuân. Cám hóng gió (theo nghĩa đoạn trên này và cả dưới đây. chuyên nói về sinh Khắc, đuyệt giả chú ý.
Bệnh ở Can, khỏi ở ngày Bính. Định; ngày Bính, Đình không khỏi, sẽ nặng thêm ở ngày Canh. Tân, Nếu ngày Canh. Tân không chết sẽ đứng bệnh ở ngày Nhâm. Quý và khỏi hãn ở ngày Giáp, ÁI.
Bệnh ở Can, sáng sớm tĩnh tảo. chập tối nặng, nửa dêm yên.
Can khí muốn sơ tắn, kíp ăn vị tân đẻ cho tán; dùng vị tân đề bô, vị toan đề tả...
- Bệnh về Tâm, khỏi ở mùa Trường hạ:
mùa Trường hạ không khỏi, sẽ nặng ở mùa đông. Nếu mùa đông không chết, sẽ đứng bệnh ở mùa xuân, khôi hắn ở mùa hạ.
Cấm ăn thức nóng. mặc áo nóng.
Bệnh về Tâm, khỏi ở ngày Mậu, Kỷ; ngày Mậu, ky không khỏi, nặng ở ngày Nhâm, Quý. Nếu ngày Nhâm, Quý không chết, sẽ đứng bệnh ơ ngày Giáp, Ất khôi hãn ở ngày Bính. Dinh,
Bệnh vẻ Tâm. đúng trưa tịnh táo, nữa đêm nặng, sáng sớm yên.
Tâm muốn nhuyễn (mềm mại), kíp ăn vị hàn để cho nhuyền:
– đúng vị hàm để bỏ. vị cam để tả.
- Bệnh về Tỳ, khoi ở mùa thụ:
mùa thủ không khỏi, sẽ nặng ở mùa xuân, Nếu mùa xuân không chết, sẽ đứng bệnh ở mùa hạ, khỏi ở mùa Trường hạ.
Cấm ăn thức có tính ấm, ăn no và ở nơi ẩm, mặc áo ướt.
Bệnh vẻ Tỳ, khỏi ở ngày Canh, Tân:
ngày Canh, Tân không khỏi sẽ nặng ở ngày Giáp, Ất. Nếu ngày Giáp, Ất không chết, sẽ đứng bệnh ở ngày Bính, Đình, khỏi hắn ở ngày Mậu, Ký...
Bệnh về Tỳ, lúc xế chiều tỉnh táo, lúc mặt trời mọc nặng, chập tối yên.
Tỳ muốn được thư hoãn, kíp ăn vị cam để cho thư hoãn; dùng vị khổ để tả, vị cam để bỏ.
- Bệnh về Phế, khỏi ở mùa đông:
mùa đông không khỏi, nặng ở mùa hạ. Nếu mùa hạ không chết, sẽ đứng bệnh ở mùa Trường hạ, khỏi hăn về mùa thu.
Cắm ăn uống thức lạnh và mặc áo lạnh.
Bệnh về Phế, khỏi ở ngày Nhâm, Quý:
ngày Nhâm, Quý không khỏi, sẽ nặng ở ngày Bính, Định. Nếu ngày Bính, Đỉnh không chết, sẽ đứng bệnh ở ngày Mậu, Kỷ, khỏi hắn ở ngày Canh, Tân.
Bệnh về Phế, chập tối tỉnh tảo, đúng trưa nặng, nửa đêm yên,
Phế muốn thâu liễm, kịp ăn vị toan cho thâu liễm; dùng vị toan để bỏ, vị tân để tả.
– Bệnh về Thận, khỏi ở mùa xuân; mùa xuân không khỏi, sẽ nặng ở mùa Trường hạ. Nếu mùa Trường hạ không chết, sẽ đứng bệnh ở mùa thu, khỏi hăn ở mùa đông.
Cắm ăn các thức xảo, nướng có tính nóng và mặc áo hơ (là) nóng.
Bệnh về Thận, khỏi ở ngày Giáp, Ất; ngày Giáp, Ái không khỏi, sẽ nặng ở ngày Mậu, Kỷ. Nếu ngày Mậu, Kỷ không chết, sẽ đứng bệnh ở ngày Canh, Tân, khỏi hắn ở ngày Nhâm, Quý.
Bệnh vẻ Thận, nửa đêm tỉnh táo, gặp giờ tứ quý (Thin, Tuất,. Sửu, Ty) nặng, xế chiều yên,
Thận muốn kiên, kịp ăn vị khổ để cho kiên; dùng vị khổ để bỏ, vị hàm để tả.
Phàm tà khí phạm vào người, lây cái “thắng” để cùng thêm lên (như Can bệnh, thêm lên về Canh, Tân v.v...); gặp cái “sở bất thắng thì càng nặng, gặp cái “sở sinh” thì đứng bệnh; gặp đúng vào bản vị của mình sẽ khỏi. Tắt phải hiểu thấu cái mạch của năm Tàng, mới có thể nói được lúc nhẹ, lúc nặng và dự đoán được cái thời kỳ sinh tử.
– Bệnh về Can, đau ở hai bên sườn, dẫn xuống Thiếu phúc khiến người hay nộ. Can hư thì mắt lờ mờ trông không rõ, tai nghe không tỏ, hay sợ như sắp bị người bắt. Nên lấy ở hai kinh mạch Quyết âm và Thiếu dương. Khí nghịch thì đầu nhức, tai điếc, mà sưng, nên bớt huyết đi (hoặc tả bớt.
Bệnh về Tâm, trong hung đau; chỉ lạc ở hiếp đầy, dưới hiếp đau;
khắp khoảng xương ở vai, lưng đều đau, hai cánh tay cũng đau.
Tâm hư thì hung phúc to ra, dưới hiếp và yêu cùng rút mà đau.
Lấy ở hai kinh mạch Thiếu âm, Thái dương và trích huyết dưới lưỡi.
Nếu bệnh biến, lại phải thích thêm huyệt Âm khích cho ra huyết.
Bệnh về Tỳ, mình nặng, cơ nhục nhão nát tê dại, chân không co lại được; lúc đi. đau trong xương, dưới chân cũng đau.
Tỷ hư thì bụng đây, ruột sôi, xôn, tiết, thức ăn không đều. Nên lấy huyết ở các kinh mạch Thải âm, Dương mỉnh và Thiếu âm.
Bệnh vẻ Phế, suyễn, khái, nghịch khí; vai, lưng đau, hãn ra; cầu âm (xương khu), vẽ, đầu gối, xương ông đều đau.
Phế hư thì không thở được dài, tai điếc, cuống họng khô.
Lấy huyết ở ngoài kinh mạch Thái âm, túc Thái dương và bên trong Quyết âm.
Bệnh về Thận, bụng to, ống chân sưng, suyễn vả khái, mình nặng; lúc ngủ toát mô hôi, ghê gió.
Thận hư thì trong bụng đau, đại phúc, tiểu phúc đều đau; quyết lãnh; ý tứ không vui.
Nên lấy huyết ở kinh mạch Thiếu âm và Thái âm.
– Can sắc xanh, nên ăn vị ngọt; ngạnh mễ, thịt bò, quả táo quỳ... đều thuộc về vị ngọt.
Tâm sắc xích, nên ăn vị toan; tiểu đậu, thịt chó, quả mận, rau cửu... đều thuộc về vị toan.
Phế sắc bạch, nên ăn vị khổ; lúa mạch, thịt dê, quả hạnh, rau giới (củ kiệu), đều thuộc về vị khổ.. Tỳ sắc hoàng, nên ãn vị hàm; đại đậu, thịt lợn, quả lật, rau hoắc... đêu thuộc về vị hàm.
Thận sắc hắc, nên ăn vị tân; hoàng thử, thịt gà, quả đào, củ hành... đêu thuộc vẻ vị tân.
– Vị tân thì tán, vị toan thì thâu, vị cam thì hoãn, vị khổ thì kiên, vị hàn thì nhuyễn.
– Các thứ thuốc có tính chất độc công trị bệnh tà. Năm giống lúa đề chuyên về sự nuôi năm Tảng; năm thứ quả để giúp cho sự nuôi: năm loài súc để giúp sự bổ ích; năm thứ rau đẻ cho đầy đủ thêm. Khí với vị hợp lại để ăn và uống, sẽ bổ tỉnh và ích khi.
Vậy năm vị tân, toan, cam, khổ, hàm... đó đều có sự lợi ích, hoặc tán, hoặc thâu, hoặc cấp, hoặc kiên, hoặc nhuyễn v.v... Bỗn mùa năm Tàng mắc bệnh, đều theo sự cân dùng thích nghĩ của năm Tàng.
Chương hai mươi ba · Tuyên Minh Ngũ Khí Thiên
Kinh Văn
Sự dẫn vào các Tàng của năm vị:
Toan vào Can, Tân vảo Phế, Khể vào Tâm, Hàm vảo Thận, Cam vảo Tỳ.
Năm khí gây nên bệnh:
Tâm phát ra chứng nắc; Phế phát ra chứng khái; Can phát ra chứng nộ, muốn nói luôn; Tỳ phát ra chứng miệng thường phải nuốt nước miếng; Thận phát ra chứng hay vươn vai và hắt hơi; Vị phát ra chứng khí nghịch, chứng ọe (ợ) và chứng khủng (sợ); Dại trường, Tiểu trường phát ra chứng tiết (tả); Hạ tiêu ràn thành chứng thủy; Bàng quang không lợi thành chứng long (tiêu tiên vít, đau), hoặc bất cước (tức tiểu tiện bất cấm) và di niệu (són đái); Đớm phát ra chứng nộ. Đó là năm bệnh của năm Tàng, hợp với khí của năm Hành.
Tình của năm Tàng cùng dồn lại, sẽ phát các chứng:
Tỉnh khí dồn lên Tâm thì thành chứng hay hỷ; dồn lên Phế thì thành chứng hay bi; dồn lên Tỳ thì thành chứng hay úy; dồn xuống Thận thì thành chửng hay khủng. Năm chứng “dồn” đó, bởi vì hư mới có thê dồn.
Năm sự ghét của năm Tàng:
Tâm ghét nhiệt; Phế ghét hàn; Can ghét phong; T ghét thấp; Thận phét táo.
Năm Tàng hóa ra các chất lỏng:
Tâm hỏa ra hãn; Phế hóa ra thế (nước mũi); Can hóa ra lệ (nước mặt); Tỳ hóa diên (nước dãi); Thận hóa ra thóa (nước miếng.
Sự cắm ky của năm vị:
vị tân dẫn vào khí, khí mắc bệnh không nên ăn nhiều vị tân; vị hàm dẫn vào huyết, huyết mắc bệnh không nên ăn nhiều vị hàm; vị khổ dẫn vào xương, xương mắc bệnh không nên ăn nhiều vị khổ; vị cam dẫn ra thịt, thịt mắc bệnh không nên ăn nhiều vị cam; vị toan dẫn vào cân, cân mắc bệnh không nên ăn nhiêu vị toan.
Các chứng bệnh phát ra ở năm Tàng:
Thận âm mắc bệnh phát ra ở cốt; Tâm dương mắc bệnh phát ra ở huyết; Tỳ âm mắc bệnh phát ra ở nhục; Can dương mắc bệnh phát về mùa đông; Phế âm mắc bệnh phát về mùa hạ.
Năm sự rồi loạn phát sinh bởi tà khí:
Tà lấn vào dương thì phát bệnh cuồng: tả lắn vào âm thì phát bệnh Tý; Dương khí dễn lên thì phát chứng đau ở đầu; Âm khi dồn lên thành chứng không nói được; tà ở dương phận lần vào âm thì bệnh nhân yên tĩnh; tà ở âm phận lắn vảo dương thì bệnh nhân hay nộ.
Năm tà khí hiện ra mạch:
Mùa xuân hiện mạch của mùa thu, mùa hạ hiện mạch của mùa đông, mùa Trường hạ hiện mạch của mùa xuân, mùa thu hiện mạch của mùa hạ, mùa đồng hiện mạch của mùa Trường hạ... Đó gọi là từ âm phận hiện ra dương phận đều là tà khí thăng, khó chữa.
Các thứ “tang” của năm Tàng:
Tâm tăng thân, Phế tàng phách,
Can tàng hôn, Tỳ tàng ý, Thận tàng chí.
Các thứ sở chủ do năm Tàng:
Tâm chủ về mạch, Phế chủ về bì (da), Can chủ về cân, Tỳ chủ về nhục, Thận chủ về cốt.
Năm sự thái quả (lao, nhọc) làm thương đến năm Tàng. Trông âu làm thương đến huyết; năm lâu làm thương đến khí; ngồi lâu làm thương đến nhục; đứng lâu làm thương đến cốt; đi lâu làm thương đến cân.
Năm mạch tương ứng với bốn mùa:
Mạch của Can huyền, mạch của Tâm câu, mạch của Phế mao, mạch của Ty đại, mạch của Thận thạch.
Chương hai mươi tư · Huyết Khí Hình Chí Thiên
Kinh Văn
Cái số thường ở con người:
Kinh Thái dương thường nhiều huyết, ít khí; kinh Thiếu dương thường it huyết, nhiều khí; kinh Dương minh thường nhiều khí, nhiều huyết; kinh Thiếu âm thường ít huyết, nhiêu khí; kinh Quyết âm thường nhiêu huyết, ít khí; kinh Thái âm thường ít huyết, nhiều khi.
Túc Thái dương với Thiếu âm làm biểu, lý; Thiếu dương với Quyết âm làm biẻu, lý; Dương minh với Thái âm làm biểu, lý... Đó là những kinh thuộc về túc.
Thủ Thái dương với Thiếu âm làm biểu, lý; Thiếu dương với Tâm chủ (tức bảo lạc) làm biêu, lý; Dương minh với Thái âm làm biểu, lý”, Đó là những kinh thuộc về thủ.
Muốn biết huyệt Phế du, lấy một cái dây, đo từ đầu vú bên nọ sang đầu vú bên kia rồi gấp đôi lại, lại lấy một đoạn dây khác, cắt bằng cái dây gập đôi nọ. Tức là có ba đoạn bằng nhau. Rồi đem ra sau lưng, để một đầu vào giữa xương Đại trùy (tức huyệt Bạch lao, một cục xương nối liền với cỗ), buông đầu kia xuống dọc đường xương sống, còn hai đầu dây kia chia chẽ ra hai bên. (Đầu dây nọ cách đầu dây kia ba tẤc, tức từ đường xương sống ra đến đầu dây kia, mỗi bền một tắc năm phân). Tại nơi đầu hai dây hai bên đó, là huyệt Phế đu. Cứ để in đầu dây giữa thế, quặt xuống đo một lần nữa, chỗ chỉ của hai đầu dây hai bên sẽ là Tâm du; lại đo xuống lân nữa, tại hai đầu dây hai bên, bên tả là Can du, bên hữu là Tỳ du; lại đo quặt xuống một lần nữa, tại hai đầu dây hai bên là Thận du. Đó là Du huyệt của năm Tàng, muốn dùng phương pháp “cứu, thích” phải theo phương pháp đo thế.
Hình vui, chí khổ, bệnh đó sinh ra bởi mạch, nên dùng cứu, thích đề điều trị.
Hinh vui, chí vui, bệnh đó sinh ra bởi nhục, nên dùng châm, thạch để điều trị.
Hình khổ, chí vưi, bệnh đó sinh ra bởi cân, nên dùng phép úy (chườm) dẫn đề điều trị.
Hình khổ, chí khô, bệnh đó sinh ra bởi cuống họng, nên dùng thứ thuốc có vị ngọt để điều trị.
Thường bị kinh khủng, kinh lạc không thông, bệnh đó sinh ra bởi “bất nhân” (đa thịt tê đại không biết gì), nên dùng phép nặn, bóp và rượu thuốc đề điều trị.
Thích ở huyệt kinh Dương minh, cho tiết bót khí huyết, thích ở huyệt kinh Thái dương, cho tiết bớt huyết, không nền đề cho tiết khí; thích ở huyệt kinh Thiếu dương cho tiết bớt khí, không nên đề cho tiết huyệt; thích ở huyệt kinh Thái âm cho tiết bớt khí, không nên để cho tiết huyết, thích ở huyệt kinh Thiếu âm cho tiết bớt khi, không nên để cho tiết huyết; thích ở huyệt kinh Quyết âm cho tiết bớt huyết, không nên đề cho tiết khí.
Chú Giải
- Những biểu, lý nói đây, tức là chỉ về sự!iên lạc giao thông, có quan hệ mật thiết với nhau,
Chương hai mươi lăm · Bảo Mệnh Toàn Hình Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi răng:
– Trời che đất chở, muôn vật đều đủ, không gì quý bằng người; người nhờ cái khí của trời đất để sinh và cái tiết của bốn mùa để thành. Trên từ quân vương, dưới đến chúng thứ, ai cũng muốn giữ cho được toàn vẹn thân hình. Nhưng đã có hình thì phải có bệnh, nếu không kịp chữa, bệnh sẽ sâu vào xương tủy. Ta lấy làm lo, muốn dùng châm để trừ tật bệnh. Vậy phương pháp nên như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nghĩ như muối, vì vị nó mặn, nên khi của nó thường âm ướt ra ngoài; dây đàn sắp đứt, tiếng nó phải rè; cây đến mùa thu, lá nó phải úa. Có ở bên trong, tất phải hiện ra bên ngoài. Ở con người cũng vậy, bệnh đã quá sâu, sẽ phát chứng nấc (oe), tức là sảu Phủ đã bị hoại, bì nhục bị thương, huyết khí hóa đen... Đến lúc đó, đủ có độc dược, uống vào vô ích; dù có đoàn châm, thích cũng không được.
Hoàng Đề nói:
– Ta nghĩ đến mà đau lòng, trong tâm bối rối lại quá người mắc bệnh. Vậy làm thế nào cho khỏi nỗi đau đớn ây.
Kỳ Bá thưa rằng:
- Người sình ra ở đất, gửi mệnh ở trời:
Trời đất hợp khí, nên gọi là người. Người theo đúng được bốn mùa, trời đất sẽ như cha mẹ;
người thấu hiểu được muôn vật, sẽ cũng như là con trời. Trời có hai khí Âm Dương, người có mười hai tiết (tức 12 kinh mạch); trời có hàn thử, người có hư thực; nếu kinh lý được sự biến hóa của âm dương, không trái với bốn mùa và biết rõ sự lưu hành vận chuyến của mười hai tiết... Sẽ là bực thánh trí, còn ai lừa dối được nữa. Nếu nhận rõ được sự biến của tám gió, SỰ “thẳng” của năm hành, và xuất được cái số hư thực, để xuất, nhập, bổ, tả, thi dù hơi thở hút rất nhỏ, cũng có thể như trông thấy ở trước mắt.
Hoàng Đề hồi:
– Người sinh ra có hình, không lìa khỏi âm dương. Trời đất hợp khí, chia làm chín dã, tách làm bốn mùa. Nguyệt có thiếu thừa, Nhật có dài ngăn; muôn vật đều đến, tính không thể siết; hư, thực, thở, hút, điều trị nhường nào? Xin cho biết rõ.
X) Bá thưa rằng:
– Mộc gặp Kim sẽ héo, Hỏa gặp Thủy sẽ diệt, Thổ gặp Mộc sẽ đạt (điều đạt, xơ tiết), Kim gặp Hòa sẽ khuyết, Thủy gặp Thổ sẽ tuyệt. Muôn vật đều thế, nói không thể hết.
Về phép châm, có thể nêu rõ cho ai nấy đều biết là có năm phép chính:
– Một là trị thần (tức là bảo thủ tinh thần, - Hai là dưỡng thân (tức là bảo thủ thân hinh, - Ba là biết rõ cái chân giả của độc dược, - Bốn là phép chế châm thạch nhỏ hay lớn, - Năm là biết chân rõ Phủ, Tàng, khí, huyết.
Năm phép trên này lập ra, có thứ nên trước, có thử nên sau. Về đời này chỉ biết hư thì làm cho thực, mãn thì làm cho tiết, thế mà thôi. Nếu biết bắt chước trời đất, theo ứn g rôi sẽ động, thì sẽ chóng như vang theo tiếng, như bóng theo hình, độc vãng, độc lai, quỷ thần không lường.
Hoàng Đế nói:
– Xin cho biết phương pháp.
Kỳ Bá thua rằng:
– Phàm phép thích, phải trị thần trước. Năm Tàng đã định rõ chín hậu đã đầy đủ... Bấy giờ mới dùng đến châm. Trong khi dùng châm, phải hết sức tồn thần, không nên quá lạm, không nên vội vàng: trong Tàng Phủ ngoài cân mạch, phải ứng khớp với nhau, đừng chú trọng về hình. Có như thế mới có thể dùng châm để thích cho người.
Người có “hư, thực” năm chứng “hư” chớ gần, năm chứng “thực” chớ xa; đến lúc nên thích, phải nhanh như không kịp chớp mắt. Cầm châm phải vững, cất tay phải đều. Yên tĩnh, chú ý vào châm. Chờ xem khí đến thế nào; lúc sắp dùng châm vững như phương nỏ, lúc châm kim xuống nhanh như phóng tên.
Hoàng Đế hỏi:
– Thể nào là hư? Thế nào là thực?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thích vào người khí hư, phải đợi cho khí đến thực (khí có thực rồi mới có thể thích); thích vào tà khí thực, phải đợi cho khí tiết ra thành hư.
Khi kinh khí đã dẫn đến, phải giữ ngay chớ bỏ lỡ; dù sâu, dù nông, chí phải chuyên nhất, tuyệt nhất không động cập đến một vật gì ở bên ngoài; phải chú ý, đừng sơ suất.
Chương hai mươi sáu · Bát Chính Thần Minh Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hôi:
– Về việc dùng châm phải có phương pháp và chuẩn tắc, xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về phương pháp thích, phải chờ ở nhật, nguyệt, tỉnh, thần và cái khí “bát chính” (tức gió của tám phương). Khi khí đã định rồi sẽ thích. Gặp những ngày ấm áp sáng sủa, thì huyết dịch điều hòa mà vệ khí nỗi ra bền ngoài, thì huyết đễ tả mà khí dễ hành; nếu khí trời giá lạnh và u ám thì huyết ngừng trệ mà vệ khí chìm vào bên trong. Khi nguyệt mới sinh (trăng non) thì huyết khí mới tỉnh (khiết) vệ khí mới hành. Khi nguyệt đây, huyết khí thực, cơ nhục bên chặt; khí nguyệt khuyết, thì cơ nhục giảm sút, kinh lạc hư, vệ khí tán, chỉ còn hình ở lại. Đó là nhân thiên thời để điều hòa khí huyết.
Bởi vậy, trời rét đừng thích, trời ấm khí huyết không ngưng trệ:; lúc trăng non chớ tả; lúc trăng đây chớ bễ; lúc trăng khuyết chớ trị. Cân phải theo đúng thiên thời để điều khí huyết.
Nhận thứ tự của trời và cái thời hư, thực đề thi hành việc thích].. Cho nên nỏi: lúc trăng non chớ tả, e Âm khí của Tàng sẽ bị hư; lúc: trăng đây chớ bổ, e huyết khí càng thêm đây ràn; nếu để cho “lạc còn có huyết ứ lại, đó là đã thực lại làm cho thêm thực, tức là “trùng thực”. Lúc trăng khuyết mà trị, đó là làm loạn kinh mạch, âm dương lẫn lộn, chân với tà không phân biệt, chìm lặn vả ngừng trệ, ngoài hư trong loạn, bệnh tà do đó càng tăng tiến..
Hoàng Đế hồi:
– Tĩnh thần bát chính để “hậu” gì
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tỉnh thần cốt để ghi sự vận hành của nhật, nguyệt; Bát chính cốt để “hậu” cái hư tà của tám phương; Bốn mùa cốt đề chia cái khí của xuân, hạ, thu. đông, để điều hòa cho nó quân bình và xa lánh cái hư tà bát chính đừng đẻ mắc phải.
Đương lúc khí ở con người hư, lại gặp hư tà của trời, hai “hư cùng “cảm” lẫn nhau, SẼ suốt tới xương và làm thương tới năm Tàng... Lương công cứu ngay, đừng để cho bị thương. Cho nên nói: những ngày “thiên kỵ” cần phải biết rõ ',
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết thế nào là “bắt chước đời xưa?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bắt chước đời xưa, tức là băt chước ở châm kinh. Ngoài đó lại còn phải nghiệm về sau này, biết ngày nảo hàn hay ôn, nguyệt bao giờ hư hay thịnh. để “hậu” xem khí phù, trầm thế nào, rôi mới thi hành phép điều trị, sẽ được hiệu nghiệm ngay. Vì thế nên lương công khác hăn mọi người, trông rõ từ vô hình, nghe tỏ từ vô thanh, thật là thân tình, ít ai bì kịp.
Hư tả tức là cái khí của '“bát chính”. Chính tả là do sự nhọc mệt, mình thoát mồ hôi, tấu lý mở rộng, gặp phải hư phong, nó phạm vào người nhẹ nhàng... Những trường hợp đó, người ta chỉ có thể biết được tính, nào ai còn trông thấy hình. Bậc thương, công chữa bệnh ngay từ lúc mới nảy mâm. trước phải biết cát khí của ba bộ, chín hậu, để điều hòa cho khỏi gây thành bệnh lớn.
Còn kẻ hạ công thì chỉ cứu chữa khi bệnh đã thành, khi thể đã bại, có hiểu biết gì đến sự trái ngược của ba bộ chín hậu đâu.
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết rõ phương pháp bỏ, tả...
Xỳ Bá thưa rằng:
– Tả phải dùng “phương” (tức là dương), dùng ngay vào lúc khí “đương thịnh”, lúc nguyệt đương đây, lúc nhật đương ôn và lúc khí ở con người đương thịnh, đúng vào lúc hơi đương hút vào, liền cắm châm vào, chờ lúc thở ra từ từ rút châm... Có như thế, khí mới thịnh __ mà dẫn hành được.
Bồ phải dùng “viên”? viên tức là chuyển di là lưu hành.
Thích đã trúng vào Vinh, lại phải chờ lúc hút vào để xoay chuyền mũi châm.
Cho nên muốn nuôi thần khi tất phải biết rõ thân hình con người gây hay béo, vinh vệ khí huyết thịnh hay suy. Mới có thể dùng châm được trúng.
Chú Giải
- É Ngày (hiên &y: Tức như đương lúc khí ờ mình hư, lại gặp hư tà tặc phong, hai hư cùng gặp nhan, sẽ gây bệnh lớn. Vậy những ngày đó là ngày thiên đạo rất ky, nền gọi là "Thiên ky,
- Về văn pháp chữ Hán, dùng chữ "phương" trèn kia để chọi với chữ "viên" ở đây, chính nghĩa hai chữ đó là "vuông, tròn". Ở đây trái lại, chỉ cần cải tiếng "chọi" nhau mà nghĩa lại khác.
Chương hai mươi bảy · Ly Hợp Chân Tà Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết tả khí ở kinh gây nền bệnh thế nào và nên thích ra sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thánh nhân đặt ra độ số, tất ứng với trời đất. Trời có tú độ (độ đi của sao), đất có kinh thủy (các dòng sông), người có kinh mạch.
Trời đất ôn hòa thì kinh thủy yên tĩnh; trời rét đất nút thì kinh thủy ngừng trệ; trời thử đất nhiệt thì kính thủy tràn lan; gió bão bốc to thì sóng nước dồn cao...
Tà khí phạm vào mạch ở con người cũng vậy. Hản thì huyết ngừng trệ, thử thì khí lỏng loãng. Tà nhân hư mà phạm vào, cũng như kinh thủy bị gió thôi dạt. Động mạch của kinh, lúc đến cũng côn lên; khi đi ở trong mạch thì đều đều trôi chảy. Khí dẫn đến Thốn khẩu, lúc đại, lúc tiểu; đại là tà khi đến, tiểu thì vô sự.
Lúc lưu hành không có nơi nhất định, lúc ở âm, lúc ở dương, không thể chia rõ độ số.
Theo tà ở vào bộ phận nào để nhận xét, ba bộ, chín hậu cho đúng: nếu vụt thấy tà khí ở bộ phận nào, kíp chặn ngay đi, đừng để lầy lắng.
Lúc hút vào thì dùng châm, đừng đề khí nghịch.
Yên lặng để châm thong thả, đừng để tà khí tán bố. Tới khi một hút vào nữa, lại xoay chuyển châm, đó là muốn chờ được khí.
Chờ lúc thở ra, sẽ rút châm; thở ra hết, châm rút ra hết, tà khi cũng ra hết. nên gọi là tả.
Hoàng Đế hỏi:
– Bất túc thì bổ, bổ như thể nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Trước phải dùng tay vuốt lên huyệt định châm. miết mạnh tay xuống cho khí tan, đây lên đây xuống cho huyết lưu thông, đập mạnh lên cho bệnh nhân chú ý, rồi '*'bấu” (cấu) lấy đa lôi cao lên, tức thời hạ châm... Sau khi hạ châm. để yên cho khí lưu thông... Khí khí đã đến, đừng đề biến chuyển. Chờ hút dẫn châm, khí không tiết ra; rút châm vít huyệt, đề khí khỏi kiệt. Như thế gọi là bỗ.
Hoàng Đề hỏi:
– Phép hậu khí như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí tà khí lỉa khỏi lạc để vào kinh, ký túc ở trong huyết mạch, khí hàn ôn chưa hợp nhau, lúc đó tà khí sẽ cuộn lên, lúc lại lúc đi, nên không có nơi nhất định. Cho nên cần phải ngay từ lúc tả khí nó mới lại án cho nó ngưng lại, rồi thừa thế mà thích ngay. Đừng đón tả vảo lúc tà khí dương thịnh.
Chân khí tức là kinh khí, khi kinh khí đã quá hư, thời cũng không nên tả bỏ tà khí giữa lúc đương thịnh.
Nếu “hậu” tà khí không tính, khi đại khí đã quá rồi mới tả, thời chân khí sẽ thoái, thoát thời không thê hồi phục, do đó tà khí lại đến, bệnh càng tăng tiền.
Vậy cân phải tả ngay lúc tả khí mới đến. Nếu hoặc sớm quá, hoặc muộn quá, thời khí huyết đã đến hết, bệnh ấy không thể hạ được nữa.
Hoàng Đề hỏi:
– Bồ với tã, nên dùng phép nảo trước?
Kỳ Bá thưa rằng:
– VỀ phép công tà, thích bớt bỏ huyết cho tà khí tiết ra, rồi sau mới bổ chân khí. Nhưng đó thuộc về tân tả, nên mới thích như vậy, bệnh sẽ khỏi ngay.
Hoàng Đế hỏi:
– Nếu chân khí với tà khí đã trộn lẫn, không còn nôi cuộn lên nữa, thời làm thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phải xét rõ thịnh suy của ba bộ, chín hậu, để điều hòa cho quân bình; xét rõ sự “tương thất, tương giảm” của tả, hữu, trên, dưới và bệnh ở Tàng nào, để định đoạt sự sống chết.
Nếu không biết được ba bộ, thời không biết được âm dương, không phân được trời đất. Phải lấy đất để “hậu” đất, trời để “hậu” trời người để hậu người. Rồi điều hòa trung Phủ (vị) để ấn định ba bộ.
Vậy nếu thích mà không biết bệnh mạch về ba bộ, chín hậu ở nơi nào, đù có sự thái quá hay bất cập cũng không sao ngăn ngừa được.
Chương hai mươi tám · Thông Bình Hư Thực Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế hôi:
– Sao gọi là hư thực?
Kỹ Bá thưa rằng:
– Tà khí thịnh gọi là thực, tính khí đoạt gọi là hư.
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh tỉnh hư thực như thế nào?
Xỳ Bá thưa rằng:
– Khí hư tức là Phế hư. Phàm khí nghịch thời chân lạnh. Nếu gặp thời sinh vượng của nó thời sống, đúng vào thời khắc của nó thời chết. Các Tàng khác đều theo một thông lệ như vậy.
Hoàng Đế hỏi:
– Sao gọi là trùng thực?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ty như bệnh đạt nhiệt, khí nhiệt, mạch mãn, gọi là trùng thực.
Hoàng Đế hỏi:
– Kinh, lạc đều thực nên điều trị thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Kinh, lạc đều thực, tức là Thốn mạch cấp mà xích hoãn. Đều nên dùng châm đẻ thích. Vậy hoạt là thuận, mà sắc là nghịch.
Phàm hư thực đêu theo vật loại trước. Cho nền hễ năm Tàng, xương thịt đều hoạt lợi, thời có thể sống lâu.
Hoàng Đế hỏi:
– Lạc khí bất túc, kinh khí hữu dư, thời như thế nào Kỳ Bá thưa răng: - Nếu lạc khí bất túc, kinh khí hữu dự, thời Thốn khẩu nhiệt mà Xích hàn. Thu, đông là thuận, xuân, hạ là nghịch, nên theo kinh đề điều trị. Hoàng Đề hỏi: - Kinh hư, lạc mãn thời như thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Kính hư, lạc mãn thời Xích bộ nhiệt mãn mà Thốn khẩu hàn sắc. Hoàng Đề hỏi: - Trị chứng ấy như thế nào? Kỳ Bá thưa răng: - Lạc mãn, Kinh hư thời cứu ở âm mà thích ở dương; Kinh mãn, lạc hư thời thích ở âm mà cửu ở dương. Hoàng Đề hồi: - Thế nào trùng hư? Kỳ Bá thưa rằng: - Mạch khí, Thôn hư, Xích hư thời gọi là trùng hư. Hoàng Đề hỏi: - Nên điều trị như thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Bệnh thuộc khí hư, nỏi năng bợt bạt. Nếu Xích hư, thời bước đi lò đỏ. Phàm mạch hư, không giống với mạch âm hư. Vậy nếu hoạt thời sống, sắc thời chết. Hoàng Đề hỏi: - Hàn khí bốc lên mạnh, mạch mãn mà thực, thời như sao Kỳ Bá thưa rằng: - Thực mà hoạt, thời sống: thực mà nghịch, thời chết.
Hoàng Đề hôi:
– Mạch thực và mãn, tay chân lạnh, đầu nóng, thời như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
Gặp mùa xuân mùa thu, thời sống, gặp mùa đông mùa hạ thời chết. Nếu mạch phù sắc, mà mình lại nhiệt, sẽ chết.
Hoàng Đế hỏi:
– Thân hình đều mãn (phù thũng), thời như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thân hình đều mãn, mạch cấp, đại và kiên, Xích bộ lại sắc không tương ứng. Như vậy, thuận thời sống, nghịch thời chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Như thế là thế nảo?
Kỳ Ba nói:
.
– Tay chân ẫm lả thuận, tay chân lạnh là nghịch.
Hoàng Đế hỏi:
– Đàn bà nuôi con, mắc bệnh nhiệt, mạch lại “tiểu” thời thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tay chân nóng thời sống, lạnh thời chết.
Hoàng Đề hồi:
– Đàn bà nuôi con, trúng phong nhiệt, thở suyễn, rụt vai, mạch như thế nào?
Kỳ Bá răng:
– Thở suyễn, rụt vai, mạch sẽ đại thực. Nếu hoãn thời sống, cấp thời chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Trường tích (đại tiện nát), tiện ra huyết, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mình nóng thời chết, mát thời sống?
Hoàng Đề hỏi:
– Trường tích ra lẫn bọt trắng, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch trầm thời sống, phù thời chết. Hoàng Đề hải: - Trường tích mà ra lẫn mủ và máu thời thế nào? Kỳ Bá thưa răng: - Mạch tuyệt thời chết, hoạt đại thời sống. Hoàng Đế hải: - VỀ chứng trường tích, mình không nóng, mạch không tuyệt, thời như sao? Kỳ Bá thưa rằng: - Nếu mạch hoạt, đại thời sống, sắc thời chết. Nên theo từng Tàng để dự đoán ngày chết. Hoàng Đề hỏi: - Mạch “điên tật (bệnh điên, tựa kinh giản) như thể nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Mạch bật lên đại và hoạt, lâu ngảy tự khỏi, nêu mạch tiểu, kiên và cấp, sẽ chết. Hoàng Đề hỏi: - Điên tật, mạch hư, thực thể nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Hư, thời có thể chữa khỏi, thực thời chết. Hoàng Đế hỏi: - Về chứng “Tiểu đán” (mình nóng mà thân thể hao mòn), hư thực thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Mạch thực và đại, bệnh dù lâu, có thể chữa; nếu tiểu viêm và kiên, dù lâu cũng không thê chữa. Hoàng Đề nói: - Mùa xuân nên kíp trị kinh lạc, mùa hạ nền kíp trị kinh du, mùa thu nên kíp trị sáu Phủ, mùa đông thuộc về thời bể tắc, nên dùng thuốc uống mà ít dùng châm thạch. Duy đối với chứng ung thư (mụn, nhọt) thời bất cứ mùa nào, phải dùng châm thạch ngay.
Về chứng ung thư thuộc khí phận chưa định rõ nơi nào, mạch lúc lại lúc thôi, nên thích huyệt tam hồi thuộc kinh với huyệt anh mạch, mỗi huyệt hai lần.
Ung phát ra ở gần nách, thích kinh túc Thiếu dương, năm lần thích mà nhiệt không dứt, thích Thú tâm chủ ba lần, và thích ở kinh lạc thuộc thủ Thái âm, nơi giáp giới đại cốt, ba lần,
Ủng phát ra quá chóng, cân nhuyễn, đau ran ở trong bắp thịt; mồ hôi ở Phế toát ra không dứt, bào khí kém sút, nên thích kinh đu.
Về phúc bộ bạo mãn, án tay vào không dẫn được xuống, nên thích ở kinh, lạc thủ Thái dương nơi đó thuộc về Vị mạc. Huyệt Thiếu âm du, cách đường xương sống ba tắc rưỡi, dùng châm tròn và sắc.
Về bệnh hoắc loạn, thích huyệt Du bảng năm lần, thích túc Dương minh thượng bảng ba lân.
Về bệnh giản, kinh, thích năm mạch; châm thủ Thái âm năm lần, Thái dương kinh ba lần, thích cạnh kinh lạc thủ Thiểu âm một lần, túc Dương minh một lần; cách trên “xương khoai” năm tắc ba châm.
Phàm trị các chứng tiêu đản, bị ngã hoặc bị đánh; thiên khô, nuy huyết, khí mãn, phát nghịch. Những chứng đó, phần nhiều do hạng người giàu sang, béo tốt, ăn nhiều chất cao lương mà sình ra. Nếu gặp chứng cách tắc bế tuyệt, trên dưới không thông, là do bạo ưu mà gây nên. Nếu bạo quyết mà điếc, thiên tắc không thông, do khí ở bên trong “bách” này gây nên. Nếu không do các bệnh ở trong ngoài hoặc trúng phong, mà gầy cỏm yếu ớt, đó là do khí huyết không lưu thông. Nếu chân đi khó khăn, là do phong thấp gây nên,
Các chứng hoàng đản, bạo thống, điên, quyết, cuồng... do khí “nghịch” đã lâu mà sinh ra; năm Tàng không quân bình đo sáu Phủ vít lấp mà sinh ra; đầu nhức. tai ù, chín khiếu không lợi... do Trường vị sinh ra.
Chương hai mươi chín · Tái Âm, Dương Minh Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Thái âm, Dương minh làm biểu, lý, cùng là mạch của Tỳ, Vị. Đến lúc sinh bệnh lại khác nhau, lả vì sao
Kỳ Bá thưa rằng:
– Âm dương khác vị, thay đổi nhau thực hư, thay đổi nhau thuận nghịch; hoặc đo bên trong phát ra, hoặc do bên ngoải phạm vảo... Nơi phát sinh khác nhau nên bệnh danh cũng khác.
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết cái chỗ khác thể nào?
Kỳ Bả thưa rằng:
– Dương thuộc thiên khí, chủ về bên ngoài; âm thuộc địa khí chủ về bên trong. Dương đạo thời thực, âm đạo thời hư. Nếu do tặc phong hư tà phạm vào, thời dương chịu đựng; nếu đo ăn uỗng không chừng mực, khởi cư không điều độ, thời âm chịu đựng. Dương chịu đựng thời vào sáu Phủ, âm chịu đựng thời vào năm Tàng.
Vào sáu Phủ thời mình nóng, thường không thể nằm, hơi thở gấp và khó khăn.
Vào năm Tàng thời đầy nghẽn, bế tắc, ở dưới thành chứng xôn tiết, lâu thành trường tích.
“Tấu"? chủ thiên khí “Vết? chủ về đĩa khí.
Dương chịu đựng phong khi, âm chịu đựng thấp khí.
Am khí do từ chân dẫn lên đến đâu, rồi quay xuống theo cách tay đến đầu ngón tay. Dương khí do từ nay dẫn lên đến đầu, rồi quay xuống đến chân. Cho nên nói: bệnh thuộc dương, dẫn lên bộ phận trên, lâu rồi quay trở xuống: bệnh thuộc âm, dẫn xuống bộ phận dưới, lâu rồi quặt trở lên.
Cho nên, bị thương vì phong, bộ phận trên mắc trước; bị thương vì thấp, bộ phận dưới mắc trước.
Hoàng Đề hỏi:
– Tỳ mắc bệnh mà tứ chỉ không cử động được, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tứ chỉ đều nhờ khí ở Vị, mà không thể tự dẫn đến kinh, phải nhờ Tỳ mới dẫn đến được. Giờ Tỳ mắc bệnh, không thể vì Vị dẫn tân dịch, tứ chỉ không được nhờ khí của thủy cốc, khí đo đó kém sút, đường mạch không thông, cân, cốt, cơ, nhục đều không có khí để thấm nhuằn, nên không cử động được.
Hoàng Đế hải:
– Tỳ không chú về mùa nào, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tỳ thuộc Thổ, chủ về trung ương, thường do bốn mùa để phân tưởng về bến Tàng, mỗi Tàng đều ký trị mười tám ngày, nên không riêng chủ về mùa nào.
Tỳ thường được tiếp xúc trước cái tinh khí của Vị, Thể sinh ra muôn vật mà bắt chước sự biến hóa của trời đất, nên trên dưới tới khắp cả đầu và chân, mà không chuyên chủ một mùa nào.
Hoàng Đề hỏi:
– Tỳ với Vị, chỉ nhờ lượt da vàng (mạc) để cùng liền với nhau, thể mà lại vì Vị dẫn hành được tân dịch, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Túc Thái âm thuộc về Tam âm, mạch của nó suốt từ Vị, liên sang Tỳ, chẳng lên họng (ách), cho nên Thái âm mới hành khí tới cả Tam âm?',
Dương minh thuộc biểu, nó là cáo bể của năm Tàng sáu Phủ, cũng gọi là Tam dương. Tàng và Phủ đều nhận kinh mạch của mình để tiếp thụ khi ở Dương minh, vi thế nên mới có thê vì Vị dẫn hành tân dịch.
Chú Giải
- Quyết âm: Nhất âm. Thiếu âm: Nhị âm. Thái âm: Tam âm.
- Là Vị, Tam âm, Tỳ hành khí của Vị đến Tam âm chuyên vận khí của Dương minh, nhập vào chủ dương. - Là Tỳ, hành khí ở Tam dương, vận khí của Thái âm, nhập vào chú dương. Thái dương: Tam dương. Dương minh: Nhị dương. Thiếu dương: Nhất dương.
Thiên 30–42 · Dương Minh Mạch Giải Thiên → Phong Luận Thiên
Chương ba mươi · Dương Minh Mạch Giải Thiên
Kinh Văn
ì Hoàng Đề hỏi:
– Túc Dương minh mạch mắc bệnh, ghét người với lửa, nghe tiếng gỗ thời giật mình sợ hãi... Chuông trống không sợ, mà lại sợ tiếng gỗ, là vì sao?
Kỳ Bá thưa răng:
Dương minh tức là Vị mạch. Vị thuộc Thổ, nghe tiếng gỗ thời sợ hãi đó là vì Thổ ghét Mộc.
– Sao lại ghét lửa?
– Dương minh chủ về nhục; mạch của nó huyết khí đều thịnh, tà khí phạm vào thời nhiệt, nhiệt quá nên ghét lửa.
– Sao lại ghét người?
– Dương minh quyết thời suyễn mà uắt, vì uất nên ghét người.
– Hoặc có người suyễn mà chết, lại có người suyễn mà sống, là vì sao?
– Quyết nghịch, chứng liền với Tàng thời chết, liền với kinh thời chết (mạch của Thái âm, vòng quanh Vị, lạc cùa Dương minh thông với Tâm. Như nhiệt tà quyết nghịch ở trên, phạm vào kinh mạch của Tâm, Phế, gây nên chứng suyễn, uất thời sông; nếu phạm thăng vào Tâm, Phế thời chết.
Hoàng Đế hải:
– Có chứng bệnh nặng, cởi bỏ áo mà chạy, trẻo lên nơi cao mà hát, hoặc có khi không ăn tới vài ngày, lại trẻo qua tường, leo lên nóc nhà. Những nơi leo trèo đỏ, đều không phải những nơi lúc vô bệnh có thê lên được. Thế mà giờ ốm, lại lên được, là vì sao? Kỳ Bá thưa rằng: - Tứ chỉ là cái gốc của mọi Dương khí. Dương khí thịnh thời tứ chỉ '*thực”, vì “thực nên mới lên được nơi cao. - Cởi bỏ áo là vì sao? - Nhiệt quá ở mình, nên mới cởi bỏ áo đề chạy. - Nói càn chửi bậy, không kể gì thân sơ, là vì sao? - Vì đương thịnh nên sinh ra nói bậy chửi càn, không kể thân sơ, mà không muốn ăn; vì không muốn ăn nên chạy càn,
Chú Giải
- Vị lạc trên thông lên Tâm; Dương thịnh thì tâm thần hỗn loạn, khiến người ta nói càn chửi bậy. Không biêt người thần kẻ sơ. Nhiệt thịnh ở Vị nên không muốn ăn, mà lại muốn chạy càn, vì bốn chân tay bâm khí ở VỊ (tứ chỉ thuộc Tỳ vị). VỊ nhiệt nên chân tay nóng cuông muốn trèo leo chạy càn.
Chương ba mươi mốt · Nhiệt Bệnh Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Phàm nhiệt bệnh, phần nhiều cửng một loại với thương hàn hoặc có người khỏi, hoặc có người chết; người chết phần nhiều ở trong vòng 6,7 ngày; người khỏi đều từ mười ngày trở lên, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cự dương (tức Thái dương Bàng quang) là một nơi tụ hội của mọi khí dương. Mạch của nó liền với Phong Phủ, cho nên nó chủ khí cho Chư đương. Người ta phạm phải hàn tà, sẽ phát bệnh nhiệt. Nhiệt - dù nặng. cũng không chết. Nếu “lưỡng cảm” về hàn mà mắc bệnh, thời khó sông,
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết rõ ràng...
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thương hàn, ngày thứ nhất, Cự đương phải chịu. Cho nên gây chứng đầu và cô nhức đau, yêu tích (ngang lưng và đường xương sống) cứng đờ.
Sang ngày thứ hai, kinh Dương minh phải chịu. Dương minh chủ vê nhục; mạch của nó qua mũi chăng lên mắt, cho nên gây nên chứng mình nóng, mặt đau vả mũi khô, không năm được.
Sang ngày thứ ba, kinh Thiếu dương phải chịu. Thiếu dương chủ về Đởm; mạch của nó vòng qua sườn, chăng lên tai, nên chứng hung hiếp đau mà tai điếc.
Vì kinh, lạc của ba kinh dương đều mắc bệnh, mà chưa phạm vào tới Tàng, nên có thê phát hãn cho khỏi.
Sang ngày thứ tư, kinh Thái âm phải chịu. Mạch của kinh này truyền khắp trong Vị, chăng lên cuống họng, cho nên gây nên chứng bụng đầy mà cô khô.
Sang ngày thứ năm, kinh Thiếu âm phải chịu. Mạch của kinh này suốt Thận chăng lên Phế, buộc vào cuống lưỡi. Cho nên gây chứng miệng ráo, lưỡi khô mà khát.
Sang ngày thứ sáu, kinh Quyết âm phải chịu. Mạch của kinh này vòng qua Âm khí, mà chẳng lên Can, cho nên gây chứng phiền mãn và nang xúc (thận nang co rúm lại.
Tam âm, Tam dương, năm Tàng, sáu Phủ đều mắc bệnh, vinh, vệ không lưu hành, năm Tảng không giao thông, thời sẽ chết.
Nếu không “lưỡng cảm” vì hàn. qua ngày thứ bảy, bệnh ở Cự dương sẽ giàm, chứng nhức đầu hơi bớt qua ngày thứ tám, bệnh ở Dương minh sẽ phạm, mình nóng hơi bớt; qua ngày thứ chín, bệnh ở kinh Thiếu dương giảm, tai điếc hơi nghe tiếng; qua ngày thứ mười, bệnh ở kinh Thái âm giảm, bụng xẹp xuống như cũ, nên đã nghĩ đến sự uống ãn; qua ngày thứ mười một, bệnh ở kinh Thiếu âm giảm, chứng khát khỏi và bụng khỏi đây; qua ngày thứ mười hai, bệnh ở kinh Quyết âm giảm, Thận nang nở ra, Thiếu phúc lép lại, đại khí tiết ra hết, rồi các chứng khỏi dẫn. Hoàng Đế hỏi: - Về phương pháp điều trị, nên thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Về phép điều trị, cần phải làm cho Tàng mạch lưu thông, bệnh sẽ bớt đần.
Hoàng Đế hỏi:
– Chứng nhiệt đã khỏi, mà có khí lại còn sót, không dứt hắn, là vì sao?
X) Bá thưa rằng:
– Sở đĩ còn sót, không dứt hẳn, đó là vì lúc đương nóng nhiều, mà cố gượng ăn uống, nên mới sót lại như vậy. Vi lúc bệnh đã giảm, nhiệt chưa dứt hăn, nhân cốc khi áp bách, hai thứ “nhiệt” hợp lại, nên mới phát bệnh.
– Nên điều trị thế nào?
– Xét rõ sự hư thực, điều hòa sự thuận nghịch, sẽ khiến cho khỏi được.
– Nhiệt bệnh nên kiêng cắm gì?
– Nhiệt bệnh mới khỏi, ăn thịt thời bệnh lại hồi phục. Do đó phải cấm.
Về bệnh “lưỡng cảm”, vì hàn, mạch, ứng với bệnh hình như thế nào?
Sở dĩ gọi là “lưỡng càm”, ngày thứ nhất, Thái dương với Thiếu âm đều mắc bệnh, thời có những chứng đầu nhức, miệng khô và phiển, mãn. Ngày thứ hai, Dương minh với Thái âm đều mắc bệnh, thời có những chứng bụng đây, mình nóng, không muốn ăn, nói mê lãm nhảm.
Ngày thứ ba, Thiếu dương với Quyết âm đều mắc bệnh, thời có những chứng: Tai điếc, nang xúc mà quyết, không thể nhỏ được một giọt nước vào miệng, bất tình nhân sự... Tới ngày thứ sáu sẽ chết.
Hoàng Đế hỗi:
– Năm Tàng đã thương, sáu Phủ không thông, Vinh vệ không dẫn hành... Bệnh như vậy, ba ngày đã chết, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Dương mính là một thử mạch đứng đầu của mười hai kinh, huyết khí đều thịnh; giờ Vị khí tuyệt, nên bất tinh nhân sự và chết.
Phàm mắc bệnh thương hàn mà lại xoay sang “bệnh ôn”, đó là vì bệnh phát sinh trước ngày Hạ chí, thời là bệnh ôn; nếu bệnh phát sinh sau ngày Hạ chí, là bệnh thử. Bệnh thử nên để cho có mồ hôi, thử tả sẽ cùng mỏ hôi mà tiết ra, đừng hãm mồ hôi lại.
Chương ba mươi hai · Thích Nhiệt Thiên
Kinh Văn
– Can mắc bệnh nhiệt, tiểu tiện vàng trước, bụng đau, hay năm, mình nóng. Nhiệt tranh với hàn, thời nói cuồng và kinh, “hiếp” mãn và đau; tay chân vật vã (táo), không thể năm yên. Gặp ngày Canh, Tân nặng thêm, gặp ngày Giáp, Át mồ hôi ra nhiêu. Nếu khí nghịch thời chết ngay từ ngày Canh, Tân.
Nên thích ở kinh túc Quyết âm và Thiếu dương. Nếu khí nghịch thời đầu nhức choáng váng, vì mạch xung lên đầu.
– Tâm mắc bệnh nhiệt, thoạt tiên có ý như không vui, vài ngày sau mới phát nhiệt. Nếu hàn tranh với nhiệt, thời bỗng Tâm thống, phiền, muộn, hay ọe, đầu nhức, mặt đỏ, không có mô hôi. Gặp ngày Nhằm, Quý nặng thêm, gặp ngày Bính, Định thời mô hồi toát ra nhiều. Nếu khí nghịch thời chết ngay từ ngày Nhâm, Quý.
Nên thích ở kinh thủ Thiếu âm và Thái dương. Tỳ mắc bệnh nhiệt, thoạt tiên đầu nặng, dưới má đau. Tâm phiên, sắc mặt xanh muốn ọe, mình nóng. Nếu hàn với nhiệt tranh thời yếu đau không thể cúi ngửa, phúc mãn và tiết tả, hai quai hàm đau. Gặp ngày Giáp, Ất nặng thêm; ngày Mậu, Kỷ mô hôi toát ra nhiều. Nếu khí nghịch thời chết ngay từ ngày Giáp, ÁI.
Thích ở kinh túc Thái âm và Dương minh. Phê mắc bệnh nhiệt, thoạt tiên ngoài da ghê rợn và quyết, đứng các chân lông; ghét phong hàn, lưỡi vàng, mình nóng. Hàn với nhiệt tranh thời thở suyễn và ho, đau chạy khắp hung và lưng, khó thở, đâu nhức không thê chịu được mỗ hôi toát ra rồi lại rét. Gặp ngày Bính, Đinh nặng thêm: gặp ngày Canh, Tân, mô hôi ra nhiều. Nếu khí nghịch thời chết ngay từ ngày Bính. Định.:
Thích ở kinh thủ Thải âm, Dương minh, huyết ra bằng hạt đậu, khỏi ngay.
– Thận mắc bệnh nhiệt, thoạt tiên yếu đau, xương ống chân mỏi nhức, khát nhiều, uống nước luôn, mình nhiệt. Hàn với nhiệt tranh thời cô đau mà cứng: xương ống chân lạnh và mỏi nhức; dưới bàn chân nóng, không muốn nói. Nếu khí nghịch thời cô đau, đầu nhức ê âm. Gặp ngày Mậu, Kỷ nặng thêm; gặp ngày Nhâm, Quý thoát nhiều mô hôi. Nếu khí nghịch, sẽ chết ngay từ ngày Mậu, Ký.
Thích ở kinh túc Thiếu âm, Thái dương.
– Phàm gặp ngày “sở thắng” thời mồ hôi ra (ngày bản khí vượng, gọi là sở thắng.
– Can mắc bệnh nhiệt, má bên tả đỏ trước; Tâm mắc bệnh nhiệt, sắc mặt đỏ trước; Phể mắc bệnh nhiệt, má bên hữu đỏ trước; Thận mắc bệnh nhiệt, mép đỏ trước. Khi bệnh chưa phát, thấy hiện sắc đỏ thời thích ngay, thế gọi là “trị vị bệnh.
Bệnh nhiệt phát ra ở bộ vị (mặt), đến kỳ thời khơi (như Can bệnh nhiệt, má bên tả đỏ trước, gặp ngày Giáp, Ất, mô hôi ra nhiều mà khỏi v.v....
– Nếu thích để cho bệnh khi quay nghịch lại thuận, ba lần “chu (tức qua ba lượt) sẽ khỏi. Nếu lại nghịch. tức “trùng nghịch” sẽ chết.
– Phàm các chứng nên ra mô hôi, gặp ngày “sở thắng' mồ hôi sẽ ra nhiêu.
– Phàm chữa bệnh nhiệt, trước cho uống nước lạnh, rồi mới thích; lại phải cho mặc áo lạnh, ở nơi lạnh, toàn thân lạnh rồi mới thôi.
– Phàm bệnh nhiệt. trước hung, hiếp đau; tay chân vật vã, thích túc Thiếu dương, bổ túc Thái âm. Nếu bệnh nặng, phài thích 59 huyệt.
– Bệnh nhiệt, thoạt tiên đau ở cánh tay, thích thù Dương minh, Thái âm, mồ hồi ra sẽ thôi.
– Bệnh nhiệt, thoạt tiên phát ở đầu, thích huyệt Thái dương ở cỏ, mô hôi ra sẽ thôi.
– Bệnh nhiệt, thoạt tiên phát ra ở ống chân, thích túc Dương minh, mồ hôi ra sẽ thôi.
– Bệnh nhiệt, thoạt tiên mình nặng, xương đau, tài điếc, hay nhằm mắt. thích túc Thiếu âm; nếu bệnh nặng, phải thích 59 huyệt.
Bệnh nhiệt, thoạt tiên chóng mặt mà nhiệt, hung, hiếp mãn, thích túc Thiếu âm, Thiếu dương.
Mạch sắc của Thái dương “vinh” lên xương gò má, đó là bệnh nhiệt. Nếu chưa kịp lan sang bộ khác, hãy nói: “hãy để cho có mỗ hôi”, đợi đến ngày “sở thắng” sẽ khỏi. Nếu cùng với mạch sắc của Quyết âm cùng phát hiện, chằng qua ba ngày sẽ chết.
Mạch sắc của Thiếu dương “vinh” lên trước má đó là bệnh nhiệt. Nếu chửa kịp lan sang bộ khác hãy nói: “Hãy để cho có mồ hôi, đợi đến ngày “sở thắng” sẽ khỏi. Nếu cùng với mạch sắc của Thiếu âm cùng phát hiện, chăng qua ba ngày sẽ chết.
Khí huyệt của nhiệt bệnh, khoảng dưới xương sống đốt thứ ba, chủ về Hung trung nhiệt, khoảng đốt thứ tư, chủ về Cách trung nhiệt, khoảng đốt thứ sáu, chủ về Tỳ nhiệt, khoảng đốt thứ bảy, chủ về Thận nhiệt.
Nếu muốn lấy vinh, nên lấy ở trên đốt thứ mười bỗn, tức Câu cốt, và chỗ lõm ở đốt thứ ba trên xương cô.
Sắc hiện ở dưới má, ngược lên gò má, là chứng tiết tâ, ngày xuống dưới Nha sa là chứng phúc mãn, lan ra sau xương gò má là chứng hiếp thống, nếu đau ở má là đau ở cách...
Chương ba mươi ba · Bình Nhiệt Biệt Luận
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Có người mắc bệnh ôn, mỗ hôi ra rồi, lại phát nhiệt mà mạch “táo, tật”, không vì mô hôi đã ra rồi mà giảm bớt, nói cuỗng, không ăn được... Đó là bệnh gi?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó tên là “Âm, Dương giao”. Giao như thế sẽ chết (vì chính không thắng tà.
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết rõ nguyên nhân.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Người ta sở dĩ có mô hôi, đều sinh ra ở cốc khí; cốc khí sở dĩ sinh ra được là nhờ ở tinh khí. Giờ tà khí với chính khí lao tranh ở nơi xương thịt, nên mới có mô hôi. Sở dĩ có mồ hồi là tà bại mà tỉnh thăng: Tính đã thăng thời nên ăn được và không còn nóng nữa. Vì làm nên nhiệt là tà khí, làm ra mô hôi là tính khí. Giờ mồ hôi ra rồi mà lại nóng, thế là tà thăng; không ăn được thời tỉnh không sinh ra được nữa. Bệnh sẽ cứ lưu mãi, mà tính mệnh cũng khôn toản. Vả ở Nhiệt luận đã nói: “Mồ hôi đã ra mà mạch còn táo thịnh, thời chết”... Giờ mạch không cùng mỗ hôi ứng nhau, thế là không thắng được bệnh còn sống sao được. Nói cuỗng là mắt trí, mất trí cũng chết. Giờ thấy ba triệu chứng chết, không một triệu chứng nảo sống... Bệnh dù có bớt sau rồi tất cũng chết.
Hoàng Đế hỏi:
– Có người mắc bệnh mình nóng, mô hôi ra và phiền, mãn; chứng phiền, mãn không vì hãn ra mà giải... Như thế gọi là bệnh gì? Kỳ Bá thưa rằng: - Hãn ra mà mình nhiệt là phong; hãn ra mà phiền, mãn vẫn không giải là quyết. Bệnh đó gọi là phong quyết. Hoàng Đế hỏi: - Nguyên nhân vì sao? Kỳ Bả thưa rằng: - Cự dương chủ về khí, cho nên bị tà trước. Thiếu âm với Cự dương cũng là làm biểu, lý. Gặp nhiệt thời ngược theo lên, vì theo lên nên thành quyết.
– Điều trị thế nảo?
– “Biểu, lý” đều thích và cho uống thêm thuốc nước.
Hoàng Đề hỏi:
– Bênh “lao phong” như thế nào? (Làm lụng khó nhọc, hãn ra, gặp gió mà phát bệnh, gọi là lao phong.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng lao phong phát sinh từ dưới Phế, chứng trạng của nó cô cứng, đau và mắt mờ. Nước miễng nhỏ ra như nước mũi, ô phong và rét run...
– Điều trị thế nào? - Vì thủy tả ràn lên, không cúi ngửa được. Phải làm cho thông lợi tiểu tiện, để sự cúi ngừa được dễ dàng. Người khí ở Cự dương mạnh, ba ngày khỏi; người trung niên năm ngày khỏi; người già bảy ngày khỏi (bà năm, bảy... đều thuộc về dương số). Nếu ho ra như nước mũi sắc xanh vảng, tựa như mủ, hoặc tròn như viên đạn, khạc ở trong miệng ra... hoặc ra cả ở mũi. Những cái đó không ra được, sẽ làm thương Phế. Thương Phê thời chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Có người mắc chứng Thận phong, mặt và “xương khoai” chân sưng “ụ” lên, nó làm nghẽn ở cô, nói ra cũng khó. Có nên thích chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Người khí hư không nên thích. Không nên thích mà cứ thích, sau năm ngày, khí tất lại nghịch.
– Điều trị như thế nào?
– Tả khí đến, tất chính khí ít, thỉnh thoảng nhiệt. Thỉnh thoảng nhiệt từ trong hung. Bồi dẫn lên đầu, hãn ra, tay nhiệt, miệng khô, khát quá, tiểu tiện vàng, dưới mắt sưng, trong bụng sôi, mình nặng -ò— nê, đi lại khó khăn, nguyệt sự không xuống, phiền mà không ăn được, không thể năm ngửa, nằm ngửa thời ho. Bệnh đó gọi là phong thủy. Đã bàn rõ ở trong Tích pháp (tức Thuy huyệt luận.
– Xin cho biết rõ manh mối.
– Tả phạm tới được, tất bởi chính hư. Âm hư, dương tất phạm tới... Cho nên “thiểu khí, thỉnh thoảng nóng và hãn ra, tiểu tiện vàng do Thiếu phúc có nhiệt: “không thể nằm ngửa”, do trong vị không hòa, “nằm ngửa thời ho", vì thúy nghịch bách lên Phế; phàm các chứng thuộc về thúy, thời thũng ở dưới mắt trước...
– Vị sao?
– Thủy thuộc âm, phía dưới mặt cũng thuộc âm. “Phúc” (bụng) là nơi chính cư của Chí âm. Vì thủy ở trong phúc, nên phía dưới mắt thũng; vì chân khí nghịch lên, nên miệng dẫn, lưỡi khô, năm không thể nằm, nếu nằm ngửa thời ho ra nước trong. Các bệnh thuộc về thủy cũng không thê nằm, vì nằm thời kinh và khái; trong bụng sôi vì gốc bệnh do tự vị; bách lên Tỳ thời phiên và không ăn được, vỉ nó bị nghẽn cách ở vị quản, mình nặng nễ và thũng khó di lại, vì mạch của Vị dẫn xuống cả chân; nguyệt thủy không xuống, vì bào mạch bị vít; bảo mạch thuộc Tâm mà chăng vào trong bảo, giờ chân khí phách lên Phế, khiến Tâm khí không thông xuống dược, mới gây nên chứng trạng như vậy.
Chương ba mươi tư · Nghịch Điều Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi răng:
– Thân thể con người, không phải lúc nào cũng có ôn ở biểu và có nhiệt ở lý. Vậy sở đĩ gây nên các chứng nhiệt mà phiên mãn, là vì sao? Kỳ Bá thưa rằng: - Âm khí ít mà Dương khí thăng, cho nên nhiệt mà phiền mãn. Hoàng Đế hồi: - Thân thể con người, không phải lúc nào cũng có hàn ở biểu và ở lý, vậy sao lại có hàn từ trong sinh ra? Kỳ Bá thưa rằng: - Bởi người đó nhiều Tỳ khí (khí bị vít nghẽn). Dương khí ít, Âm khí nhiều, cho nên mình lạnh như người mới lội dưới nước lên. Hoàng Đế hỏi: - Có người tứ chi nhiệt, gặp phong hàn mà vẫn nóng như đốt, như lửa, là vì sao? Kỳ Bá thưa rằng: - Người đó, Âm khí hư, Dương khí thịnh. Tứ chỉ thuộc về l dương, hai dương củng xung đột nhau, mà Âm khí hư ít, “nước ít không thể làm tắt được lửa nhiều", khiến cho dương một mình chuyên trị. Nhưng chăng qua nó chỉ là “độc thắng” đây thôi, không sao sinh trưởng được.
Hoàng Đề hỏi:
– Có hạng người, thân thể giá lạnh, nước lửa không thể làm cho nhiệt, áo dầy không thể làm cho ẩm... Vậy mà người ấy không rét, không run... Như thế là bệnh gì
Kỳ Bá thưa rằng:
– Người ấy, vốn Thận khí thăng, lấy Thủy làm chủ. Thái dương khí suy, Thận chi (chất mỡ ở trong Thận) khô kiệt, do đó một Thủy không thể thắng được hai Hỏa. Thận thuộc Thủy, mà sinh ra xương, nếu Thận không sinh, thời tủy không được đầy đủ... Nên hản quá vào tới xương. Nhưng sở dĩ không rét run, là vì: Can là Nhất dương, Tâm là Nhị dương, Thận là cô Tàng. Một Thủy không thể thăng được hai Hỏa, cho nên không rét run. Bệnh đó gọi là cốt tý. Rồi sau tất sẽ co quắp tay chân.
Hoàng Đề hồi:
– Có người mắc chứng nhục a (đa thịt tê đại, đau đớn không biết gì), dù mặc áo bông, vẫn tê đại, đau đớn như thường. Như thế là bệnh gi?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là do Vĩnh khí hư, vệ khí thực. Vinh khí hư thời bất nhân (tê dại không biết gì), vệ khí hư thời bất dụng (không cử động được). Vinh, vệ đều hư thời vừa bất nhân, vừa bất dụng, mà coi thịt thời vẫn như thường.
Nếu người đó, thần với chí không tương ứng với nhau, sẽ chết.
Hoàng Đế hỏi:
– Có người bị nghịch khí không thê năm, hơi thớ khò khẻ thành tiếng; lại có người dù không nằm được mà thở không thành tiếng: lại có người năm dậy như thường, mà thờ lại thành tiếng: lại có người nằm được, mà lại suyễn hỗn hến, lại có người không năm không đi được, mà suyễn hỗn hẻn, lại có người không nằm được, năm xuống thì suyễn hồn hên. Vì Tàng nào gây nên chứng trạng như vậy?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Không nằm được mà thờ thành tiếng, đó là đo sự nghịch của Dương minh. Túc Tam dương vốn dẫn đi trớ xuống, giờ lại nghịch trở lên, nên thở thành tiếng. Dương minh là vị mạch. Vị là bê của sáu Phủ, khí của nó cũng dân trờ xuống. Do Dương minh nghịch, không đi theo được đường chính của nó, nên không thể năm. Đến như năm dậy như thường, mà hơi thở thành tiếng, đó là do lạc mạch của Phế nghịch. Lạc mạch không theo được với kinh mạch để lên xuống, cho nên lưu trệ ở kinh mà không đi. Lạc mạch gây nên bệnh nhẹ, nên nằm dậy như thường mà hơi thở thành tiếng. Đến như không năm được, hễ năm thời suyễn, đó là do Thủy gây nên. Thủy theo với tân dịch mà lưu hành; Thận là thủy Tàng, chủ về tân dịch. Giờ khách thủy phạm vào Thận, nên năm thời suyễn.
Chú Giải
- Án: Ở trên, Hoàng Đề hỏi sáu câu, mà đây Kỳ Bá trà lời có ba câu, e có sự thiếu sót rách mất. Ngu không tự lượng, xin bô túc ba câu như dưới:
- Không nằm được mà thở không thành tiếng, đó là vì: Vị không hòa mà khí không nghịch quả.
- Nằm được, đi được mà suyễn... Đó là Vị không mắc bệnh mà Phế, Thận mắc bệnh. Phế chủ khí, nên Phế mắc bệnh thì suyễn; Thận chủ cốt, nên đi thì Thận nhọc mà thành suyễn.
- Không nằm, không đi được mà suyễn... Đó là cả Vị, Thận, Phế đều mắc bệnh. Đi và nằm đều khó, suyễn thì lại nặng hơn, thở thành tiếng... Có lề bệnh tà lại sâu hơn chăng?
Chương ba mươi lăm · Ngược Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỗi:
– “Hài, ngược” đêu sinh ra bởi phong. Lúc phát lúc không, không có kỳ hạn, là vì sao? (Hài cũng là ngược, nhưng chứng phát về đêm gọi là hải, phát về ngày gọi là ngược.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí ngược mới phát, trước khởi sự từ các chân lông (ghê, rợn, vươn vai và ngắp, rồi mới phát... Rét run lập cập, yêu tích đều đau; sau khi lạnh rét thời trong ngoài đều nóng, đầu nhức như muỗn vỡ, khát muốn uống nước lạnh...
– Vì khí gì gây nên thế - Âm dương, trên dưới tranh giành lẫn nhau; hư, thực lần lượt thay đỗi; âm dương lần lượt chuyển đi. Dương dồn vào âm, thời âm thực mà dương hư. Dương minh hư thời rét run cảm cập; Cự dương hư thời đầu, cổ, yêu, tích đều đau; Tam dương đều hư thời Âm khí thăng; Âm khí thắng thời xương lạnh mà đau; Hàn sinh ra từ bên trong, cho nên trong ngoài đều hàn. Dương thịnh thời ngoại nhiệt, âm hư thời nội nhiệt. Ngoại nội đều nhiệt thời suyễn mà khát, nên muốn uống nước lạnh. Bệnh đó gây nên, đều bởi mùa hạ bị thương vì khí thử, nhiệt khí chưa nhiều ở bên trong bì phu, bền ngoải Trường, Vị và tà khí luôn luôn ký túc ở nơi vinh. Nhân đó khiến người dễ ra mô hôi, tấu lý rỗng mở... Nhân gặp thu khí, mô hôi ra lại gặp gió, hoặc do khi tắm, thủy khí cũng ký túc ở khoảng bì phu, cũng ở chen với vệ khí. Vệ khí, ban ngày dẫn hành ở dương phận, đêm dẫn hành ở âm phận. Khí đó gặp dương thời tiết ra ngoài, gặp âm thời bách vảo trong, trong ngoài cùng bách lẫn nhau, nên hăng ngày bệnh phát.
Hoàng Đề hỏi:
– Có chứng, cách ngảy mới phát là vi sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí đó ký túc ở nơi sâu, bên trong bách vào khí âm; Dương khí một mình phát ra, Âm tà bám ở bên trong. Âm với dương tranh giành nhau, không thể ra được, nên cách một ngày bệnh mới phát.
– Bệnh phát có khi muộn, có khi sớm, khi nào làm nên thế?
– Tà khí ký túc ở phong Phủ, theo thăn thịt mà dẫn xuống. Vệ khí một ngày một đêm đại hội ở trong Phủ. Đến ngày hôm sau, tức lả qua một ngày, mới xuống được một đốt (đốt xương sống), nên bệnh phát muộn. Đó là đo tà khí trước ký túc ở tích bối, nên mới khiến như vậy. Mỗi khi dẫn đến phong Phù, thời tấu lý mở; tấu lý mở thời tà khí vào; tà khí vào thời bệnh phát. Vì cở đó, nên cứ mỗi ngày mỗi lui muộn dần. Do phát ra từ phong Phủ, mỗi ngày xuống thấp một đốt, qua hai mươi mốt ngảy, tới cầu cốt (tức xương khu); hai mươi ngày vào trong xương sống, lần vào trong mạch phục lữ; chân khí dẫn lên, qua chín ngày, lên tới huyệt khuyết bồn, khí đó càng ngày càng cao cho nền bệnh phát càng ngày càng sớm.
Hoàng Đế hỏi:
- Phu Tử nói:
Vệ khí mỗi khi đi đến phong Phủ, tấu lý mới mở; mở thời tà khí lọt vào; lọt vào thời phát bệnh. Giờ vệ khí mỗi ngày đi xuống một dốt, khí của nó phát ra, không đúng phong Phủ. Vậy mà: hàng ngày phát bệnh, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là đo tà khí ký túc ở đâu, cô, theo thăn thịt mà dẫn xuống, hư thực không phong nhau, tà trúng không nhất định một chỗ, nên không thể đúng với phong Phủ. Tà trúng ở đầu và cổ, khí đến đầu và cô thời bệnh phái; tà trúng ở lưng, khí đến lưng thời bệnh phát; tà trúng yêu tích, khí đến yêu tích thời bệnh phát; tà trúng ở tay chân, khí đến tay chân thời bệnh phát.
Vệ khí ở vào nơi nào, với tà khí tương hợp thời bệnh phát. Cho nên phong không nhất định lấy đâu làm “phủ”, theo khí phát ở nơi nào, tất mở cả tấu lý... Vậy cái nơi mà tà khí hợp nơi đó tức là Phủ.
Hoàng Đế hỏi:
– Phong với ngược, tựa như cùng một loài. Vậy mà bệnh phong l không thay đổi; đến bệnh ngược, có lúc phát, có lúc không, lã vì sao?
Xỳ Bá thưa rằng:
– Phong khí thường lưu ở một nơi, nên bệnh không thay đổi; ngược khí theo kinh lạc, chìm bách vào bên trong, nên khi nảo gặp vệ khí mới phát.
– Bệnh ngược, trước hàn mà sau nhiệt, là vì sao?
– Mùa hạ bị thương vì đại thử (nắng quá), hăn ra quá nhiều, tấu lý khai phát; nhân lại gặp cái khí hản thủy lạnh lẽo của mùa hạ, chứa ở bên trong tâu lý bì phu, tới mùa thu lại bị thương vì phong, do đó gây nên bệnh.
Hàn là Âm khí, phong là Dương khí. Trước bị thương vì hàn, sau bị thương vì phong, nên bệnh phát, trước hàn mà sau nhiệt và bệnh phát có từng lúc, gọi là hàn ngược.
– Trước nhiệt mà sau hản lâ vì sao?
– Đó là do trước bị thương vì phong, sau mới bị thương vì hàn, nên trước nhiệt mà sau hàn. Bệnh đó cũng phát có từng lúc, gọi là ôn ngược.
Nếu chi nhiệt mà không hàn, là Âm khí tuyệt trước, Dương khí phát ra một mình. Do đó mới có chứng thiểu khí, phiền oan, tay chân nóng mà muốn ọe. Bệnh đó gọi là đan ngược.
Hoàng Đề hỏi:
- Kính nói:
“Hữu dư thời tả, bất túc thời bổ”, giờ nhiệt là hữu dư. hàn là bất túc. Ngẫm như chúng hàn của bệnh ngược, nước nóng lửa đết không thể làm cho ấm, đến khí nhiệt thời dù nước băng cũng không thể làm cho hàn. Nó đều thuộc về cái loại “hữu dư, bất túc. Gặp trường hợp đó. dù lương công cũng đành chịu bó tay, phải đợi bệnh khí tự suy giảm, rồi mới thích, là vì cớ sao? Xin cho biết rõ...
Kỳ Bá thưa rằng:
- Kinh nói:
“Đừng thích lúc nhiệt đương bừng bừng, mạch dương cuồn cuộn và hãn đương đầm đìa...”. Vì lúc đó, tà khí dương mạnh, chính khí dương nghịch, nên không thê thích. Ngẫm như chứng ngược khi mới phát, Dương khí dồn vào âm, đương lúc đó âm hư mà dương thịnh, bên ngoài không Dương Khí, nên rét run trước Âm khí đã nghịch đến cực điểm rôi, thời lại quày ra với dương. Dương với âm lại dồn cả bên ngoài, thời âm hư mà dương thực, cho nên trước nhiệt mà khát. Ngẫm như ngược khí, dồn về dương thời dương thắng dồn về âm, thời âm thăng dương thăng thời nhiệt, thời nhiệt. Ngược phát sinh do sự bát thường của khí phong hàn; khí nó phát tới cực điểm thời khí kia đến. Lúc bệnh phát như lửa bốc cháy, như mưa sa gió táp không thể ngăn cản. Cho nên Kinh nói: “Bệnh lúc đương hăng, chính khí dương bị suy tổn, phải đợi lúc tà khí giảm, sẽ thích, mới được an toàn..." tức là nghĩa đó.
Ngược, lúc chưa phát, âm chưa dồn vào dương, dương chưa dồn vào âm, nhân lúc đó, thừa cơ mà làm cho điêu hòa, chân khí được vên, tà khí sẽ hết. Cho nên không trị giữa lúc bệnh đã phát, vì phong nghịch khí vậy.
Hoàng Đề hỏi:
– Dùng phép “công” thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng ngược lúc sắp phát. âm dương lúc sắp đi dịch, tắt từ “tứ mạt” trước. Dương đã thương, âm sẽ theo. nên trước khi đó, buộc chặt nơi đó cho tà khí không dẫn vào, Âm khí không thê ra. xét rõ các tôn lạc thấy nó có vẻ “thịnh kiên”, thì thích ngay, đó là làm cho nó không kịp dồn vào nhau.
Hoàng Đế hôi:
– Lúc ngược chưa phát, mạch ứng thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ngược khí tất có lúc thịnh, lúc hư... Bệnh tại đương, thời nhiệt mà mạch táo; bệnh tại âm, thời hản mà tạch tĩnh. Đẻn thời kỳ cùng cực thời âm dương đều suy. Lúc vệ khí rời xa thời bệnh được bớt, vệ khí họp lại thời bệnh lại phát.
. Hoàng Đế hỏi:
– Có khi cách hai ngày hoặc ba ngày bệnh mới phát. Lúc bệnh phát, có người khát, có người không khát, là vì sao?
Kỳ Bả thưa rằng:
– Cách ngày bệnh phát là do tà khí với vệ khí ký túc ở sáu Phủ, có lúc tương thất, không được tương đắc... Cho nên khỏi vài ngày rôi mới lại phát,
Bệnh ngược, do âm dương thay đổi về sự “thắng”, hoặc thắng nhiều hoặc thắng ít, nên mới có khát với không khát, khác nhau.
Hoàng Đế hỏi:
- Ở Luận nói:
“Mùa hạ thương vì thử, thời mùa thu tất phát bệnh ngược”... Giờ xem như chứng ngược, lại không đúng như thế, là vi sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là theo vẻ bốn mùa. Đến các chứng trạng khác, lại là trái với bốn mùa. Nếu phát về mùa thu thời rét nhiều, phát về mùa đồng thời rét ít, phát về mùa xuân thời ố phong, phát về mùa hạ thời. nhiều hãn.
Hoàng Đế hỗi:
– Ôn ngược với hàn ngược, tà khí đều có nơi ký túc, vậy ký túc ở Tảng nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ôn ngược gây nên bởi mùa đông trúng phải phong, hàn khí tiềm Tảng ở trong cốt tủy. Đến mùa xuân thời Dương khí phát ra mạnh, tà khí không thê tự tiết ra, nhân gặp đại thử, não tủy hun nóng; cơ nhục tiêu mòn, tấu lý phát tiết, hoặc vì sự nhọc mệt, tà khí theo với hãn cùng tiết ra... Đó là bệnh khí tiềm Tàng ở Thận... Rồi do từ trong mà tiết ra ngoài. Như thế thời âm hư mà dương thịnh, đương thịnh thời sẽ phát nhiệt. Đến lúc khí đã suy thời lại quay trở vào trong. do đó dương sẽ lại hư, dương hư thời lại hàn... Cho nên trước: nhiệt mà sau hàn, gọi là ôn ngược.
Hoàng Đề hỏi:
– Đan ngược như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về đan ngược, do Phê vốn có nhiệt, khí thịnh ở mình, quyết nghịch xung lên; trung khí thực mà không tiết ra ngoài, vì có sự nhọc mệt, tấu lý mở ra, phong hàn kỹ túc ở trong bì phu và khoảng phận nhục, thừa cơ phát ra; lúc phát ra thời Dương khí thịnh. Dương khí thịnh mà không suy thời sẽ thành bệnh. Khí đó không trở vào với âm, cho nên nhiệt mà không hàn. Nhiệt khí đó. bên trong thời Tàng ở Tâm, bên ngoài thời ký túc ở khoảng phận nhục. khiến bệnh nhân cơ nhục tiêu mòn, nên gọi là đan ngược.
Chương ba mươi sáu · Thích Ngược Thiên
Kinh Văn
1. Chứng ngược phát từ kinh túc Thái dương, khiến người yếu đau, đầu nặng, rét từ phía lưng phát sinh, trước hàn sau nhiệt, hơi nóng bừng bừng ngùn ngụt... Lúc nhiệt, mô hồi toát ra mà bệnh vẫn không dứt. Thích ở huyệt Ủy trung cho ra huyết.
2. Bệnh phát từ mạch túc Thiếu dương, khiến người thân thể môi mệt; không hản lắm, không nhiệt lắm, ghét thấy người; thấy người phấp phỏng sợ hãi... Nhiệt nhiều, hãn ra nhiều... Nên thích ở huyệt túc Thiếu dương. Hiệp khê.
3. Bệnh ngược phát từ túc Dương minh, khiến người trước rờn rợn phê rét... Dần dần lâu mới nhiệt, đến lúc nhiệt giảm, hãn ra, thấy nhật nguyệt quang và hỏa khí, đều lấy làm thích... Thích huyệt túc Dương minh.
4. Bệnh ngược phát từ tức Thái âm, khiến người không vui, thường thở đài; không thiết ăn, hản nhiệt nhiều, một khi hãn ra thời bệnh lại phát, phát thời ọe; ọe khỏi thời bệnh lui. Nên thích ngay.
5. Bệnh ngược phát từ túc Thiếu âm khiến người nôn thế nhiều, nhiệt nhiều hàn ít, chỉ muốn đóng kín cửa lại để năm... Bệnh này khó khỏi.
6. Bệnh ngược phát từ túc Quyết âm, khiến người yếu đau, Thiếu phúc mãn, tiểu tiện không lợi, như long bế, mà không thật long bể, nhưng lại muốn tiểu luôn; ý chí như sợ sệt, khi bất túc, trong bụng thường áy náy khó chịu... Nên thích túc Quyết âm, Thái xưng.
7. Bệnh ngược phát từ Phế, khiến người Tâm hàn, hàn rồi lại nhiệt; nhiệt đỡ lại hay sợ, như trông thấy vật gì... Thích thủ Thái âm, Dương minh.
8. Bệnh ngược phát từ Tâm, khiến người trong Tâm rất phiên, chỉ muốn uống nước mát, lại hàn nhiều nhiệt ít... Nên thích thủ Thiếu âm. Thần mồn.
9. Bệnh ngược phát từ Can, khiến người sắc mặt tái xanh, hay thở dài, như người sắp chết... Nên thích túc Quyết âm, cho ra máu: Trung phong.
10. Bệnh ngược phát từ Tỷ, khiến người hàn, trong bụng đây nhiệt thời ruột sôi; sôi rồi hăn ra. Nên thích túc Thái âm.
11. Bệnh ngược phát từ Thận, khiến người nhờn nhờn ghét, yêu tích đau, phải uốn éo luôn đại tiện khó, mắt trông trơ tráo mà không tỏ, tay chân lạnh... Thích túc Thái dương, Thiếu âm.
12. Bệnh ngược phát từ VỊ, khiến người hay đói mà không ăn được; ăn vào lại đầy nghẽn, bụng to; thích hoành mạch ở túc Thái âm cho ra huyết.
Bệnh ngược phát rồi mình mới nóng, thích động mạch ở trên xương khoai, lay châm cho rộng, chờ cho ra huyết, sẽ mát ngay.
Bệnh ngược đương lúc muốn hàn, thích thủ Dương minh, Thái âm, túc Dương minh Thái ầm.
a. Ngược mạch mãn và đại cấp dùng “trung châm”, thích Bối du và bên năm Khư dư, mỗi huyệt một châm, theo đúng người béo gầy, chờ cho ra huyết.
Ngược mạch tiểu, thực và cấp, “cứu” huyệt Thiếu âm ở ống chân, thích huyệt Chỉ tỉnh (là tĩnh huyệt.
b. Ngược mạch mãn, đại và cấp, thích Bối du, năm Khư du, mỗi nơi một lần, chỉ để vừa hành huyết thời thôi.
Ngược mạch hoãn và quá hư, nên dùng thuốc uống, không nên dùng châm.
Phàm trị bệnh ngược, trước khi phát bệnh bằng một bữa ăn (ước nửa giờ đồng hồ) mới có thể chữa. Nếu quá lúc đó, sẽ lỡ, không nên chữa.
Các bệnh ngược, nếu không thây biểu hiện ra ở mạch, thích mười đầu ngón tay cho ra huyết, huyết ra tất khỏi. Lại xem ở mình có những nốt đỏ và nhỏ như hạt đậu, cũng thích cả đi.
c. Mười hai chứng ngược, lúc phát ra không giống nhau vả cùng một lúc, phải nên xem xét bệnh hình, đề biết thuộc về Tàng nào...
Biết lúc bệnh phát, trước một lát bằng bữa ăn cơm, sẽ thích. Một lần thích thời tà khí suy, hai lần thích thời bệnh bớt, ba lần thích thời khỏi. Nếu chưa khỏi, thích hai mạch ở dưới lưỡi cho ra huyết; nếu vẫn không khỏi, thích huyệt Ủy trưng cho ra huyết; lại thích luôn cả
Khư du và Bối du, tất khỏi. Hai mạch dưới lưỡi, tức là Liêm tuyển,
Thích bệnh ngược, phải thích vào khoảng giữa nơi bệnh sẽ phát. Nếu trước nhức đầu và chân đi khó khăn nên thích trên đầu với hai bên trăn, khoảng giữa hai lông mày trước, cho ra huyết. Nếu cổ và lưng đau trước, cũng thích trước ở các huyệt đó. Nếu yêu tích đau trước, thích huyệt Ủy trung cho ra huyết. Nếu tay và cánh tay đau trước, trước thích ở huyệt thủ Thiếu âm, Dương mỉnh. Nếu ống chân đau nhức trước, thích mười ngón chân thuộc túc Dương minh trước, cho ra huyết.
Về chứng phong ngược, khi bệnh phát thời hăn ra và õ phong, Thích bỏ huyết ở Tam dương kinh và Bối du.
Ông chân dau quá, bóp mãi không khỏi, gọi là '*Phụ tủy bệnh dùng “Xàm châm” thích xâu vào xương, huyết ra, khỏi ngay.
Thân thế hơi đau, thích Chí âm.
Các Tĩnh huyệt thuộc âm kinh, chưa ra huyết, nên cách ngày thích một lân.
Ngược không khát, cách ngày bệnh phát, thích túc Thái dương:
khát mà cách ngày bệnh phát, thích túc Thiếu dương. Ôn ngược, hãn không ra được, nên thích năm mươi chín huyệt.
Chương ba mươi bảy · Khí Quyết Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Năm Tàng, sáu Phủ, hàn nhiệt cùng chuyên di như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thận di hàn tới Tỳ, gây nên chứng ung, thũng, thiêu khí. Tỳ di hàn tới Can, gây nên chứng ung thũng, co gân. Can đi hản tới Tâm, gây nên chứng cuông và cách trung. Tâm di hàn tới Phé, gây nên chứng Phế tiêu; Phế tiêu là một chứng uống vào một phân, đi tiêu ra hai phần không thể chữa được. Phé di hàn tới Thận, pây nên chứng đũng thủy; “đũng thủy” là một chứng án vào phúc bộ không kiên, thủy khí ký túc ở Đại trường, đi nhanh thời trong bụng kêu óc ách, như túi chứa nước. Hoàn toàn là thủy bệnh.
Tỳ di nhiệt tới Can, thời gây nên chứng kinh và nục. Can di nhiệt tới Tâm thời chết. Tâm đi nhiệt tới Phế, gây nên chứng cách tiêu.
– Phế đi nhiệt tới Thận, pây nên chứng nhu chí. Thận đi nhiệt tới Tỳ, sây nên chứng hư và trường tiết, khó chữa.
Bào đi nhiệt tới Bàng quang, gây nên chứng “long” và tiểu ra huyết. Bảng quang di nhiệt tới Tiểu trường, cách trường không thấm xuống được, gây nên chúng lở nát trong miệng. Tiểu trường đi nhiệt tới Đại trường, gây nên chứng phục giả, chứng trĩ. Đại trường di nhiệt tới Vị, ăn nhiều mà pầy mỏn, gọi là chứng thực điệc. VỊ di nhiệt tới Đởm cũng gọi là chứng thực diệc. Đởm di nhiệt tới não, thời đau nhức ở trán và Ty uyên, rồi lại thêm cả chứng mục và mờ mắt. Đó, đều gây nên bởi khí quyết?),
Chú Giải
- C Đoạn nảy tổng kết cái nghĩa, Tàng, Phủ hàn nhiệt cũng chuyển di đều ở khí mà không ở kinh, nên mới gọi là khí quyết. Nghĩ như: Nhiệt khí bốc lên, phạm vào lạc mạch thì gây nền chứng nục (đỗ máu cam); thấm nhuằn ra huyết ở bì mao, không thể hóa thành chất loãng để làm mỗ hôi, thì gây nên chứng miệt (mồ hôi như máu); tả nhiệt làm thương khi nên Dương khí hư, gây thành chứng mắt mờ... Đó đều là tại khí mà không tại kinh, nên bài này mới gọi là Khí quyết luận.
Chương ba mươi tám · Khái Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh ở Phế, mà thành chứng ho, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm Tàng sáu Phủ, đều gây nên chứng “khái” không riêng gì một Phế.
– Xin cho biết chứng trạng...
– Bì mao, gốc sinh ra tự Phế. Bì mao mắc phải tà khí trước, tà khí liền theo với chỗ gốc sinh ra nó.
Các thức uống ăn có tính lạnh lọt vào vị theo Phê mạch dẫn lên Phế, thời Phế hàn. Phế hàn thời trong ngoài đêu có tà, tả ký túc luôn ở đó, liền gây nên chứng Phế khái.
Năm Tàng đều theo về từng mùa, đề mắc bệnh, nếu không phải mùa, sẽ truyền lẫn cho nhau. Người với trời đất “tương tham”, cho nên năm Tàng đều theo từng mùa để chủ trị. Cảm vì hàn thời mắc bệnh, nhẹ thời gây nên chứng khái, nặng thời gây nên chứng tiết chứng thống (đau). Gặp mùa thu thì Phế bị tà trước, gặp mùa xuân thì Can bị tà trước, gặp mùa hạ thì Tâm bị tà trước, gặp Chí âm thì Tỳ bị tà trước, pặp mùa đông thì Thận bị tà trước. Hoàng ĐỀ hỏi: - Chứng trạng khác nhau thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng trạng của Phế khái, khái mà thở suyễn thành tiếng, quá lắm thời nhỗ ra huyết. Chứng trạng của Tâm khái, khái thời Tâm thông, trong cuống họng vướng mắc như nghẹn, quá lắm thời yết thũng, hầu tý. Chứng trạng của Can khái, khái thời hai hiếp đau, quá lắm thời không thể trở minh, trở mình thời dưới khư (dưới hiếp, tức lá lách) đầy. Chứng trạng của Tỳ khải, khái thời hữu hiếp đau, đau âm ỉ lên cả vai và lưng, quá lắm thời không thể cử động, cử động thời khái. Chứng trạng của Thận khái, khải thời đau nhức cả vai lưng, quá lãm thời khái ra dãi dây.
Hoàng Đế hỏi:
– Chứng trạng của khái do sáu Phủ, thế nào?
X) Bá thưa rằng:
– Năm Tàng mắc khái lâu, sẽ đi sang sáu Phủ. Tỳ khái không đứt, thời di sang vị. Chứng trạng của vị khái, lúc khái thường nôn, quả lăm nôn ra cả giun. Can khái không dứt, thời di sang Đớm, Chứng trạng của Đởm khái, lúc khái nôn ra cà Đớm trấp (chua, đắng). Tâm khái không dứt, thời di xuống Tiều trường. Chứng trạng của Tiểu trường khái, lúc khái thời thất khí (trung tiện), khí với khái đều mắt. Thận khái không đứt, đi sang Bàng quang. Chứng trạng của Bàng quang khái, lúc khái thời di niệu (són đái). Khái lâu không dứt thời đi tới Tam tiêu. Chứng trạng của Tam tiêu khái, lúc khái thời phúc mãn, không muốn uống ăn. Chứng đó đều tụ ở Vị, liên quan lên Phế, khiến bệnh nhân sinh nhiều nước mũi nước dãi, mặt phù thũng, do khí nghịch gây nên...
– Phương pháp liệu trị thế nào?
– Trị Tảng thời trị ở Du, trị Phủ thời trị ở “hợp”, nếu phù thũng thời trị ở kinh?.
Chú Giải
- Khái đo năm Tàng, đều trị ở Du. Du của năm Tàng đều ở lưng, có phép do đã nói trước. "Hợp" đề trị nội Phủ. Cho nên khái do sáu Phủ thì trị ở hợp. Như vị hợp với Tam lý (tên huyệt, dưới cũng vậy), Đại trường hợp với Cự hư, Thượng liêm; Tiểu trường hợp với Cự hư, Hạ liêm; Tam tiêu hợp với Ủy dương; Bàng quang hợp với Ủy trung ương; Đởm hợp với Dương lăng tuyền. Còn phù thũng thì thích ở kinh mạch thuộc Phé vị.
Chương ba mươi chín · Cử Thống Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hồi:
– Tôi nghe người khéo nói đạo trời, tắt có nghiệm ở người; khéo nói việc cô, tất có hợp với kim; khéo nói việc người, tất có đầy đủ ở mình... Có như thế mới khỏi nhằm lẫn và có thể gọi là minh. Giờ tôi xin hỏi Phu Tử, làm sao nói mà có thể biết, trông mà có thể thấy, sờ mó mà có thê được... khiến cho có thể nghiệm ở mình, để khỏi có sự nhằm lẫn, có thể được chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Xin cho biết rõ muốn biết điều gì?
Hoàng Đề nói:
– Xin cho biết năm Tàng bị “thốt thống” (vụt đau), do khí gì gây nên?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Kinh mạch lúc nào cũng lưu hành không ngừng, vòng quanh không nghỉ. Nếu hàn khí vào kinh mà ngừng trệ, dịt lại không dẫn đi được, kỷ túc ở ngoài mạch thời huyết Ít, ký túc ở trong mạch thời khí. không thông, nên “thốt nhiên” mà đau.
Hoàng Đế hỏi:
– Chứng đau có khi thốt nhiên khỏi, có khi đau quá không lúc nào dứt, có khi đau quá không thể đấm bóp, có khi đấm bóp mà đỡ đau, có khi dù đấm bóp cũng vô ích, có khi suyễn quá mạch bật lên tay, có khí Tâm với bối cùng rút mà đau; có khi hiệp lặc với Thiếu phúc cùng rút mà đau; có khi phúc thống đau xuống âm cổ, có khi đau mãi mà thành tích, có khi “thết nhiên” đau quá mà chết ngất đi, một lát lại sống có khi đau mà nôn, có khi trước phúc thống mà sau tiết tả, có khi đau mà vít không thông đại và tiểu... đều không giống nhau, phân biệt thế nào cho được rành mạch?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Han khí ký túc ở ngoài mạch thời mạch hàn, mạch hàn thời co: quắp, co quấp thời cân cấp, do đó bên ngoài dẫn tới các tiểu lạc, cho nên thốt nhiên đau. Được hơi nóng thời đau khỏi ngay. Nếu lại phạm thêm khí hản, thời chứng đau sẽ phải lâu.
Hàn khí ký túc ở trong kinh mạch, cùng khí nóng xung đột lẫn nhau, khiến cho mạch đây ràn. Vì đầy ràn nên đau không thê đâm bóp.
Hàn khí ngừng trệ, khí nóng ngược lên, do đó mạch đây lớn mà khí huyết loạn, cho nên đau không thê đấm bóp.
Hàn khí ký túc ở khoảng Trường vị, phía dưới mạc nguyên, huyết không dẫn đi được, các tiểu lạc co rút, cho nên đau, đấm bóp thời huyết khi tan rã đi, nên đỡ đau.
Hàn khi ký túc ấy ở mạch xương sống, cho nên án mạnh tay xuống cũng không tới, nên dù cỏ đấm bóp cũng vô ích.
Hàn khí ký túc ở Xung mạch, Xung mạch khởi quan nguyên, theo “phúc bộ” dẫn lên. Hàn khí ký túc thời mạch không thông, mạch không thông khiến cho khí nghẽn lên ở hung nên suyễn và mạch động bật lên tay.
Hàn khí ký túc ở mạch Bồi du, khiến cho mạch xáp (dịt), mạch xáp thời huyết hư, huyết hư thời đau. Du đó rót vào Tâm, cho nên cùng rút mà đau. Đấm bóp thời hơi nóng dẫn được đến, nên khỏi đau.
Hàn khí ký túc ở mạch Quyết âm. Mạch Quyết âm chẳng xuống Âm khí, buộc lên bào. Về hàn khí ký túc ở trong mạch, nên huyết xáp, mạch cấp, do đó gây nên chứng hiệp lạc với Thiếu phúc rút nhau mà đau.
Hàn khí ký túc ở âm cô. mạch ở âm cổ dẫn lên Thiếu phúc, huyết bị xáp lại ở dưới rút lên, nên phúc thống thì đau rút xuống cả âm cổ.
Hàn khí ký túc ở khoảng Tiêu trường Mạc nguyên và ở bên trong Lạc huyết. Huyết bị xáp không chảy được tới đại kinh. huyết với khí ngừng trị không dẫn đi được, cho nền dân dà thành tích...
Hàn khí ký túc ở năm Tàng, quyết nghịch tiết trở lên, Âm khí kiệt. dưỡng khí không lọt vào được cho nên thốt nhiên đau chết ngất đi... đến khí Dương khí lọt vào được thời sống lại.
Hàn khí ký túc ở Trường vị. quyết nghịch ngược lên. cho nên đau mà nỗn.
Hàn khí ký túc ở Tiêu trường, tại đó không thể gây thành chứng tụ, cho nên sau khi đau thời tiết hạ.
Nhiệt khí lưu ở Tiểu trường, trong Tiểu trường đau, nóng nhiều và tiêu khát... Khí nóng làm tiêu khô các vật cặn bã trong Tiểu trường, nên đau mà ví không thông.
Hoàng Đề hỏi:
– “Nói mà có thể biết. trồng mà có thê thây” là thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm Tàng, sáu Phủ đều có bộ Vị ở mặt. Trước hãy xem ở sắc: Hoàng. xích là nhiệt; bạch là hản; thanh và hãc là thông... Đó là trông mà có thê thấy.
– Sờ mỏ mà biết được, là thế nào?
– Trông cải mạch của chủ bệnh “kiên” mà đây huyết, với lúc ấn tay lõm xuống... Đó đều là do sờ mó mà biết.
Hoàng Đế hỏi:
– Tôi biết trăm bệnh. phân nhiều sinh ra bởi khí. Nộ thời khí thượng (ngược lên), hỷ thời khí hoãn, bí thời khí tiểu, khủng thời khí hạ (dẫn xuống), hàn thời khí thâu, thử thời khí tiết, kinh thời khí loạn, lao thời khí háo (hao mòn), tư (nghĩ ngợi) thời khí kết... Chín thứ khí không giếng nhau, vậy chứng hậu như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nộ thời khí nghịch, quá lắm thời nôn ra máu, hoặc thành chứng xôn, tiết.
Hỳ thì khí hòa, chí đạt, vinh, vệ thông lợi, nên khí hoãn,
Bi thì Tâm hệ co rút. Phế xòe rộng ra, khiến cho thượng tiêu: không thông, vinh, vệ không bố tán, nhiệt khí lưu lại bên trong, nên khí tiêu.
Khủng thì tỉnh bị sụt xuống, khiến cho thượng tiêu bị vít; vít thì khí lại phải quay trở xuống, khiến cho Hạ tiêu phát trướng. Cho nên khí không lưu hành.
Hàn thì tấu lý bị vít, khí không dẫn hành được, nên phải thâu liễm lại.
Thử thì tấu lý giãn ra, vinh, vệ thông, hãn ra nhiều, nên khí tiết.
Kinh thì Tâm không tựa vào đâu, thần không nhờ vào đâu, cho nên khí loạn.
Lao thì suyễn và hãn đêu tiết ra, trong ngoài đều háo tán, nên khí háo.
Tư thì Tâm buộc vào một nơi, thần chú vào một việc, khiến cho chính khí lưu trệ không lưu thông, nên mới thành khí kết.
Chương bốn mươi · Phúc Trung Luận Thiên
Kinh Văn
. Hoàng Đế hỏi: - Có người mắc bệnh tâm phúc mãn, sớm ăn thời chiều không thể ăn... Bệnh đó tên là gì? Kỳ Bá thưa rằng: - Bệnh đó tên là cỗ trướng. Hoàng Đế hồi: - Điều trị thế nào? X) Bá dán: - Dùng kê thi lễ. Một liều bớt, hai liều khỏi. Hoàng Đề hỏi: - Có khi lại phục phát là vì sao? Xỳ Bá dáp: - Đó là do sự uống ăn không giữ gìn, nên mới gây nên sự “ngã lạ” như vậy. Hoàng Đế hỏi: - Có người mắc chứng “đầy ách” ở hung hiếp và chỉ lặc, không ăn được. Mỗi khi bệnh sắp phát, thời như ngửi thấy mùi tanh hôi nước mũi chảy ra, nhỗ ra huyết, tứ chỉ lạnh, mắt hoa, thường thường đại, tiêu tiện cũng ra huyết... Đó là bệnh gì? Vì sao mà mắc phải?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó gọi là huyết khô. Nguyên nhân do lúc ít tuôi, có sự gì thoát mất nhiều huyết, hoặc nhân lúc say rượu mà nhập phòng, trung khí kiệt, Can thương: ở con giai thời tinh khí bị khô kiệt, ở con gái thời nguyệt cự không xuống được.
– Điêu trị dùng phương pháp nào?
– Dùng bốn phần Ô tặc cốt, một phần Lự nhự. Hai vị hợp lại dùng trứng chim sẻ luyện làm hoàn, viên bằng hạt đỗ nhỏ. Mỗi lần dùng năm viên sau khi ăn cơm, tiêu với nước bào ngư... Thuốc đó làm cho lợi trường và chữa đau gan.
Hoàng Đế hỏi:
– Có người mắc chứng Thiếu phúc to phình lên, trên dưới tả hữu như có quẳng gốc... Đó là bệnh gì? Kỳ Bá thưa rằng: - Bệnh đó tên là phục lương. - Vị sao mắc chứng ấy? - Có một tủi bọc máu và mủ đặc ở ngoài Trường vị... Rất khó chữa. Mỗi khi ân mạnh tay vào chỗ đó, thời đau điếng người đi. - Vị sao mắc bệnh ấy? - Đó vì: Ở dưới thời liền với Tam âm, tất có lúc cũng “hạ” ra đôi ít nùng huyết; ở trên thời bách liên với vị quản, tất có mọc “ung” ở trong vị quản... Tất phải trải qua lâu ngày lắm mới gây nên bệnh ấy. Rất khó chữa. Nếu ở phía trên rốn là nghịch, ở phía dưới rốn là thuận. Đừng động đến nó và cô chữa lấy khỏi ngay. Về phép điều trị, đã bàn rõ ở thiên Thích pháp.
Hoàng Đề hồi:
– Có người suốt cả thân thê, đùi, vế, chân đều thống, lại đau ở xung quanh rốn... Là bệnh gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó cũng gọi là phục lương, tức là phong căn (gốc của chứng phong. Cái khí phong tà, tràn ra ở Đại trường, mà bám vào hoang. Mà cái gốc của hoang lại ở dưới rốn, nên mới đau ở xung quanh rốn. Không nên vọng động vào nó. Nếu động vào nó sẽ gây nên chứng niệu xáp (tiểu tiện buốt, nhỏ giọt, không ra được.
Hoàng Đề hỏi:
– Phu Tử thường nói chứng Nhiệt trung, Tiêu trung không nên dùng các thứ cao lương, phương thảo, thạch được... Nếu dùng thạch dược sẽ phát điên, dùng phương thảo sẽ phát cuồng... Nghĩ như chứng Nhiệt trung, Tiêu trung, phân nhiều chỉ hạng người phú quý hay mặc. Giờ cần dùng thức cao lương, thế là không hợp với lòng họ, — cắm dùng phương thảo, thạch dược thì bệnh không sao khỏi được... Vậy xin cho biết phải liệu trị thể nào bệnh đó.
Kỳ Bá thua rằng:
– Cái khí của phương thảo tốt, cái khí của thạch được hãn (dữ tợn, độc). Hai thứ khí ấy đều có cái tính “cấp, tật, kiên, kính...” Cho nền, nếu không phải là người có tâm tính hỏa hoãn không uỗng được nó. Phàm nhiệt khí thời lật hãn (dữ tợn), được khí cũng vậy, hai thứ khí ấy sặp nhau sẽ gây nên sự xung đột, e làm thương đến Tỳ. Tỳ thuộc Thổ ' mà ghét Mộc. Nếu uống thứ thuốc ấy, đến ngày Giáp Át sẽ nguy.
Hoàng Đề hỏi:
- Có người mắc chứng:
Ung thũng, cảnh thống, hung mãn và phúc trướng. Đó là bệnh gì? Vì cớ sao mắc phải?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là bệnh quyết nghịch.
– Điều trị thế nào?
– Nếu dùng phép Cứu thời Âm (câm không nói được), dùng phép thích thời phát cuồng... Đợi đến lúc huyết khí cùng hợp lại với nhau. mới có thê chữa.
– VỊ sao?
– Dương khí đã bốc nhiều lên trên, tức là ở trên hữu dư, nếu cứu thời Dương khí sẽ thụt vào âm, vào âm thời thành âm; nếu thích thời Dương khí hư, hư thời sẽ phát cuỗng. Vậy phải đợi lúc huyết khí cùng hợp với nhau sẽ chữa, mới mong toàn vẹn được.
Hoàng Đề hỏi:
– Sao có thể biết đàn bà có thai?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vì là người có bệnh (như nôn ọe, mỏi mệt, không muốn ăn v.v...). mà chân mạch thời mạch không có bệnh.
Hoàng Đề hãi:
– Người mắc bệnh nhiệt, mà có đau là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh nhiệt đó thuộc về dương mạch thịnh. Dương mạch thịnh là do khí của Tam dương động. Nhân một thịnh thuộc Thiếu dương, hai thịnh thuộc Thái dương, ba thịnh thuộc Dương minh, rôi mới vào các kinh âm. Vì Dương lấn vào âm, nên mới mắc bệnh ở đầu với phúc. Do đó mới sinh ra sân trướng và đầu thống.
Chương bốn mươi mốt · Thích Yêu Thống Thiên
Kinh Văn
Túc Thái dương mạch khiến người yêu thống (đau ngang chỗ thắt lưng), đau rút suốt xương sống lên cổ, dưới xuống tới xương khu... Lưng như mang vật gì nặng. Thích Ủy trung thuộc chính kinh Thái dương cho ra huyết. Mùa xuân đừng để thấy huyết.
Mạch kinh Thiếu dương khiến người yêu thống, như người lầy kim đâm vào trong da cứ co ro, không thể cúi ngửa, không thể ngảnh đi ngành lại... Thích vào đầu thành cốt thuộc kinh Thiếu dương cho ra huyết. Mùa hạ đừng để cho thấy huyết.
Mạch kinh Dương minh khiến người yêu thống không thể ngảnh đi ngành lại... Nếu ngành lại hoảng hốt như trông thầy gì lạ... Lại hay bị Thích ba nốt tại trước ống chân thuộc kinh Dương minh, để cho trên dưới đều hòa và ra huyết. Mùa thu đừng để cho thấy huyết.
Mạch kinh túc Thiếu âm khiến người yêu thống, đau suốt xương sống và cổ “nội liêm”. Thích hai nết tại phía trong xương khoai thuộc kinh Thiếu âm. Mùa xuân đừng để cho thấy huyết. Nếu ra huyết quá nhiều sẽ khó hỏi phục.
Mạch kinh Quyết âm khiến người yêu thống, trong “yêu” cứng đờ như giương dây cung nỏ... Thích ở mạch Quyết âm, mạch đó ở sau trong bọng chân, rờ tay vào thấy chỗ nào xúc xiu tức là mạch, sẽ thích. Bệnh này khiến người hay nói, nhưng lại nói đớ dẫn. Nên thích ba nột.
Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống, đau rút lên vai, mắt trông mập mờ, thỉnh thoảng lại di niệu. Thích giải mạch tại chỗ bên ngoài khe khớp xương đầu gối, thích hoành mạch ở đó cho ra huyết, mủ trung thấy sắc huyết đổi khác thì thôi. Bệnh ở giải mạch khiến người yêu thống như buộc chắc dây lưng, thường như muốn gãy, lại hay sợ. Mạch này tại ủy trung, có kết lạc nỗi lên như hạt gạo, thích vào đây sẽ bắn máu ra. Thấy máu biến sắc đen thì thôi.
Bệnh tại mạch Đồng âm khiến người yêu thống tại yêu nôi lên như cái dùi nhỏ, sưng và đau. Thích mạch Đồng âm, tại đầu, Tuyệt cốt phía trên xương khoai thích ba nốt.
Bệnh ở Dương duy khiến người yêu thống đau mà nỗi côn lên như thũng. Mạch này cùng với mạch Thái dương hợp, cách xương khoai bảy tắc, các đất một thước (tức Thừa sơn huyệt.
Bệnh ở mạch Hành lạc khiến người yêu thống không thê cúi ngửa. Nếu ngửa lên thời như muốn ngã. Bệnh này gây nên bởi mang vật nặng làm thương đến yêu, ác huyết tụ lại đó. Thích ở khoảng gần Khích dương hai nốt cho ra huyết (ở giữa Âm môn và Uỷ trung.
Bệnh ở mạch Hội âm, khiến cho người yêu thống lúc đau mỗ hôi ra đầm đìa; tới khi mồ hôi ráo đi, khiến người khát muốn uống nước, lúc uống nước rồi lại muốn chạy. Thích mạch trước đương. Thích trên mạch trực dương ba nốt. Mạch này tại trên kiểu dưới khích năm tắc, nó nằm ngang. Thấy mạch đó thịnh, phải để cho xuất huyết.,
Bệnh ở mạch Phi dương khiến người yêu thống lúc đau tê tái rầu rĩ, quá lắm thời kiêm cả bị và khủng. Thích mạch Phi dương tại phía trong xương khoai nãm tẤc, trước mạch Thiếu âm, cùng hội với mạch Âm duy.
Bệnh ở mạch Xương dương khiển người yêu thống đau rút sang lồng ngực, quá lắm, lưng như gãy, mắt trông lòe loẹt, lưỡi cong lại không thể nói. Thích hai nốt ở Nội cân huyệt tại trước,
Đại cân phía trên xương khoai và dưới xương khoai sau huyệt Thái âm hai tắc.
Bệnh ở Tán mạch khiến người yêu thống mà nhiệt, nhiệt quá sinh phiền. Trong yêu như có mảnh gỗ chắn ngang, quá lắm thời di niệu. Thích Tán mạch tại khe thịt trước xương gối, tức là Thúc mạch. Thích ba nốt.
Bệnh ở mạch Nhục lý khiến người yêu thống đau không thể ho, ho thời gân rút gấp. Thích hai nốt ở mạch Nhục lý, huyệt tại bên ngoài huyệt Thái dương và phía sau Tuyệt cốt thuộc Thiếu dương.
Yêu thống suốt lên xương sống, đau đến nỗi cổ chỉ hơi ngọ ngoạy được; mắt trông lòe loẹt, như muốn ngã. Thích ở huyệt Khích trung thuộc Thái dương cho ra huyết.
Yêu thống mà bộ phận trên hàn, thích ở huyệt Thái dương, Dương minh. Bộ phận trên nhiệt, thích ở huyệt túc Quyết âm; đau không thể cúi ngửa, thích ở huyệt Thiếu dương; bên trong nóng mà suyễn, thích ở huyệt Thiếu âm và thích ở huyệt Ủy trung cho ra huyết.
Yêu thông mà bộ phận trên bàn, đến không thể ngảnh đi, âm thụ ngành lại, thích ở huyệt túc Dương minh; nếu bộ phận trên nhiệt, thích ở huyệt túc Thái âm; nếu trung nhiệt mà suyến, thích ở huyệt túc Thiếu âm.
Đại tiện khó, thích ở huyệt túc Thiếu âm (Dũng toàn.
Thiếu phúc mãn, thích ở huyệt tức Quyết âm (Thái xung.
Dau như gẫy, không thể cúi ngừa, không thể cử động, thích huyệt túc Thái dương.
Dau rút lên trong đường xương sống, thích ở huyệt túc Thiếu âm.
: _ Yêu thống rút xuống Thiếu phúc, không thể ngửa, thích ở huyệt yêu cầu giao hai bên, lấy số ngày “sinh, tử” của mặt trăng để định nốt thích, rút châm, khôi ngay. Đau bên tả, thích bên hữu; đau bên hữu. thích bên tả,
Chú Giải
- “Nguyệt sinh” tức là từ ngày trăng mới mọc đến ngày mười lăm; "nguyệt quách” tức là từ ngày mười sáu đến ngày ba mươi. Tính theo SỐ ngày, như mông một thích một châm, mồng hai thích hai châm v.v... cho đến ngảy mười lãm thích 15 châm; từ mười sáu trở ởi, lại mỗi ngày rút đi một châm, theo sự khuyết của mặt trăng...
Chương bốn mươi hai · Phong Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Phong nó làm thương người, hoặc phát chứng hàn nhiệt, hoặc là chứng Nhiệt trung, hoặc là chứng hàn trung, hoặc là lệ phong, hoặc là thiên khô, hoặc là phong... Bệnh đã khác nhau, danh cũng không giống, hoặc phạm tới cả năm Tàng sáu Phủ... Không hiểu nguyên nhân ra sao, xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phong khí Tảng ở khoảng bì phu, trong không thể thông, ngoài không thê tiết... Nó “dẫn đi rất chóng mà biến đổi luôn”; làm tấu lý mở rỗng, thời ghê rợn mà rét; làm tấu lý vít lấp, thời nhiệt mà khó chịu. Nó hàn thời uống ăn kém sút, nó nhiệt thời cơ nhục hao mòn... Nếu lảm cho người bợt bạt mà không ăn được thì gọi là hàn nhiệt.
Phong khí với khí của Dương minh dồn vảo Vị, đi vòng lên đến phía đâu mắt, nếu là người béo thì phong khí không tiết ra ngoài được, sẽ gây nên chứng Nhiệt trung mà mặt vàng: nếu là người gầy thời tiết ra ngoài mà hàn, sẽ gây nên chứng hàn trung và chảy cả nước mặt, nước mũi.
Phong khí cùng vào với khí của Thái dương, dẫn đi ở mạch du, rải rắc ra ở khoảng phận nhục, cùng xung đột với vệ khí, khiến cho mạch đạo không thông lợi, gây nên chứng cơ nhục sùi sưng thảnh mụn lở. Vệ khí có chỗ không dẫn hành được, sẽ gây nên chứng bất nhân.
Về Lệ phong, do vinh khí nhiệt tụ ở cơ nhục, khiến khí không trong mát, gây nền chứng đọc mũi toét nát mà sắc bại, bì phủ lở nát. Phong hàn ký lục ở mạch mà không dẫn đi được, gọi là Lệ phong, hoặc lại gọi là “hàn, nhiệt”..
Tiết Lập xuân, ngày Giáp, Ất bị thương vì phong, gọi là Can phong; mùa hạ, Bính, Đình bị thương vì phong, gọi là Tâm phong: mùa quý hạ, Mậu, Kỷ bị thương vì phong, gọi là Tỳ phong; mùa thu, Canh, Tân bị trúng về tà, gọi là Phế phong; mùa đông, Nhâm, Quý bị trúng về tà, gọi là Thận phong.
Phong trúng Du huyệt của năm Tàng sáu Phủ, cũng gọi là phong của Tàng, Phủ.
Nếu trúng vào cửa ngõ của khí huyết, thì gọi là thiên phong.
Phong khí theo phong Phủ mà dẫn lên, gọi là não phong.
Phong khí phạm vào đầu hệ, thì gây nên chứng mục phong, nhãn hàn.
Uống rượu mà trúng phong, thì là lậu phong.
Nhập phòng, hãn ra mà trúng phong, thì là nội phong.
Mới gội đầu mà trúng phong, thì là thủ phong,
Phong phạm vào bộ phận trong đã lâu ngày, thi là chứng trường phong, xôn, tiết,
Phong lưu ở ngoài tấu lý, thì là tiết phong...
Cho nên “phong lả trưởng của trăm bệnh”. Đến khi nó biến hóa để gây nên chứng bệnh khác thì không có phương hướng nhất định... Nhưng tóm lại thi lúc nào cũng do “phong khí” mà gây nên,
Hoàng Đề hỏi:
– Năm Tàng bị phong, chứng trạng khác nhau thể nào và xin cho biết phép chân với bệnh nặng (sự biến chuyên của bệnh....
: Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng trạng của Phể phong, nhiều hãn mà ố phong, thỉnh thoảng ho, hơi thở ngắn; ban ngày nhẹ, về đêm nặng. Chân ở phía trên lông mày, sắc trăng bợt.
Chứng trạng của Tâm phong, nhiều hãn mà ỗ phong, môi khô rộp, hay giận dữ. Bệnh nặng thì nói ra khó khăn. Chẩn ở miệng, sắc đỏ.
Chứng trạng của Can phong nhiều hãn mà ố phong, hay bỉ (buôn, thương), họng khô, hay giận, có ý như ghẻt đàn bà. Chẩn ở dưới mắt, sắc mặt tái xanh.
Chứng trạng của Tỳ phong, nhiều hăn mà ố phong, thân thể mỏi mệt, tứ chỉ không muốn cử động, không muốn ăn. Chân ở trên mũi, sắc vàng.
Chứng trạng cúa Thận phong, nhiều hãn mà ố phong, mặt phù thũng, xương sống đau không đứng thăng được, trong lòng có sự như không được toại ý. Chân ở ngoài da, sắc sạm đen.
Chứng trạng của vị phong, cô nhiều hãn mà ố phong, uỗng ăn khó khăn, như có vướng mắc nuốt không trôi; phúc bộ hay đây; nếu không đắp bụng thì hay trướng: ăn thức hàn thì sinh tiết tả. Chân thấy thân thê gẦy mà bụng to.
Chứng trạng của thủ phong, đầu và mặt nhiều hãn mà ố phong. Trước chứng phong phát sinh một ngày thì bệnh nặng, đầu nhức đến nỗi không thể bước ra ngoải; đến ngày phong phát, thì bệnh lại hơi bớt.
Chứng trạng của lậu phong, có nhiêu hãn, thường không dám mặc áo đơn đến bữa ăn thì hãn ra, có khí hãn nhiều mà thở suyễn, phê gió áo thường âm ướt vì hãn, miệng khô và khát, không làm được công việc nhọc mệt.
Chứng trạng của tiết phong, nhiêu hãn, hăn ra ướt cả áo, trong miệng khô, không làm được việc nặng nhọc, toàn thân đều đau và rét...(Rét vì ra hãn nhiễu, thành vong dương.
Thiên 43–53 · Tý Luận Thiên → Thích Chí Luận Thiên
Chương bốn mươi ba · Tý Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh tý (tê, đau) vì đâu sinh ra
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ba khí “phong, hàn, thấp” lẫn lộn dồn đến, hợp lại thành chứng tý. Trong ba khí đó, nếu phong khí thăng thì là hàn tý, hàn khí thăng thì là thống tý, thấp khí thăng thì là chước tý.
Hoàng Đế hỗi:
– Tôi nghe lại có năm chứng tý, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mắc bệnh về mùa đông, là cốt tý; mắc bệnh vệ mùa xuân gọi là cân tý; mắc bệnh về mùa hạ gọi là mạch tý; mắc bệnh vào thời điểm về Chỉ âm gọi là cơ tý; mắc bệnh về mùa thu gọi là bì tý.
Hoàng Đế hỏi:
– Có khi ở bên trong, ký túc vào năm Tàng, vậy khí nào làm nên thế?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm Tàng đều có “hợp”, bệnh mắc lâu không giải đi được sẽ ký túc vào nơi “hợp” đó. Cho nên, nếu cốt tý không dút, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Thận; cần tý không dút, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Can; mạch tý không dứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tâm; cơ tỷ không dút, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Tỳ; bì tý không đứt, lại cảm với tà, nó sẽ ký túc tại Phế... Vậy, phàm chứng tý, đều theo về từng mùa, rồi lại cảm thêm với khí phong, hàn, thấp... Mà gây nên.
Phàm chứng tý ký túc ở năm Tàng, sinh ra các chứng trạng sau này:
Phế tý thì phiên mãn, suyễn mà ẩu (oe.
Tâm tý thì huyết mạch không thông, vì tà bách dưới Tâm, dồn mạnh phạm lên Tâm tàng, nên phiền, lại thêm chứng thượng khí mà suyễn, cuống họng khô, hay ợ; quyết khí ngược lên nên hay khủng,
Can tý, đêm nằm hay giật mình, uỗng nước nhiều, tiểu tiện luôn, trong bụng anh ách, như đàn bà có thai.
Thận tý hay trướng, xương khu dô lên, xương sống gù xuống,
Tỳ tý thi tứ chỉ mỏi mệt rã rời, hay lo, nôn ra nước đãi, trên hung bị nghẽn.
Trường tý, uống nước luôn mà không tiêu tiện ra được, trung khí suyễn cấp, thỉnh thoảng lại thành chứng xôn tiết.
Bào tý thì thuộc bộ phận Thiếu phúc và Bằng quang, án mạnh tay thấy đau ở bên trong như dội nước nóng vào, tiểu tiện lại ít và hay chảy nước mũi trong.
Phàm Âm khí (tức Tàng khí) tĩnh thì Tàng thần, táo thì tiều vong, nếu uống ăn quá độ Trường vị sẽ bị thương (nếu bị thương, tà khí sẽ thừa cơ phạm vào mà gây nên chứng tý.
Nếu thấy suyễn tức quá độ, thì biết chứng tý tụ ở Phế:
thầy ưu tư quá độ, thì biết chứng tý tụ ở Tâm; thấy sự đi niệu luôn luôn, thì biết chứng tý tụ ở Thận; thấy sự mỏi mệt quá độ, thì biết chứng tý tụ ở Can; thấy da dẻ khô khan xãm xinh, thì biết tý tụ ở Tỷ. Phàm chứng tý không khỏi, sẽ càng ngày càng nặng thêm. Duy có chứng thuộc về “phong khí thăng” thì đễ khỏi hơn.
Hoàng Đề hỏi:
– Về chứng tý, có người bị chết, cũng có người lâu ngày mới khỏi, là vì cớ sao? Xin cho biết rỡ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng tý. phạm thăng vào Tàng, sẽ chết; nếu lưu niên ở khoảng gân xương, thì lâu khỏi; nếu chỉ ở khoảng bì phu, thì chóng khỏi.
Hoàng Đề hỗi:
– Nếu ký túc ở sảu Phủ thì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó cũng chỉ là do sự uống ăn, cư xử mà gây nên. Sáu Phủ cũng đều có Du, các khí “phong, hàn, thấp, trúng” vào Du, nhân có sự uống ăn tiếp theo, do Du mà vào, rồi đến ký túc vào Phủ.
Hoàng Đề hỏi:
– Dùng châm để điều trị, thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Năm Tàng có Du, sáu Phủ có hợp, theo bộ phận của mạch, để tìm nơi mắc bệnh mà thích, sẽ khỏi.
Hoàng Đề hỏi:
– Khí của doanh, vệ có gây nên bệnh tý chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vinh, là tinh khí của thủy cốc. Nó hòa điều ở năm Tàng, thắm nhuần ở sáu Phủ, rồi sau mới dẫn vào mạch. Mạch đó vòng khắp trên dưới, suốt qua năm Tàng và chẳng vào sáu Phủ. Vệ, là một thứ hãn khí (mạnh, đỡ) của thủy cốc. Cái tính của nó lật tật, hoạt lợi, không thể vào trong mạch, cho nên dẫn đi ở trong bì phu, khoảng phận nhục, hun lên “hoang mạc”, tan ra “hung phúc”. Trái khí đó thì sinh bệnh, thuận khí đó thì sẽ khỏi. Nó không hợp với các khí phong, hàn, thấp nên không gây nên bệnh tý.
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh tý có khi đau, có khi không đau, có khi bất nhân, có khi hàn, có khi nhiệt, có khi táo, có khi thấp... là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đau là do hàn khí nhiều. Còn như không đau và bất nhân, là vì bệnh lâu vảo sâu. Doanh vệ dẫn đi bị rít, kinh lạc có lúc xơ rỗng, nên bất thông: bì phu không có huyết thắm nhuẫn, nên bát nhân. Đến như chứng hàn, do Dương khí ít, Ấm khí nhiều, giúp thêm cho bệnh, nên mới hàn, Đến như nhiệt, do Dương khí nhiều, Âm khí ít, bệnh khí thăng, đương gặp âm, nên mới thành nhiệt tý. Như nhiều hãn đầm đìa, đó là vì gặp thấp nhiều. Dương khí ít, Âm khí thịnh, hai khí cùng cảm nhau, nên hãn mới ra đầm đìa.
– Lại có chứng tý, không đau là vì sao?
– Tý mắc ở xương thì nặng, mắc vào mạch thì huyết đọng mà không chảy, mắc ở cân thì co vào mà không duỗi ra được, mắc ở thịt thì bất nhân, bì thì hàn... Gặp năm chứng đó nên không đau. Phàm bệnh tý, gặp hàn thì như kiến bò trong da, gặp nhiệt thì gân rã rời, không cử động được. (TRỞ LÊN, HÉT QUYỀN IV
Chương bốn mươi tư · Nuy Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Năm Tàng, gây nên chứng nuy, thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phế chủ về bì mao, Tâm chủ về huyết, Can chủ về cân mạc, Tỳ chủ về cơ nhục, Thận chủ về cốt tủy. Phế nhiệt thì lá phối khô, bì mao do đó hư nhược cấp bảch, gây nên chứng nuy bịch. Tâm khi nhiệt thì mạch ở dưới, quyết mà nghịch lên trên, do đó mạch ở dưới hư; vì hư sinh ra mạch nuy, ống chân rã rời không bước đi được. Can khí nhiệt thì Đởm ràn ra mà miệng đắng, cân mạc khô; vì khô nên cân cấp mà co rút, thành chứng cân nuy. Tỳ khí nhiệt thì Vị khô mà khát, cơ nhục bất nhân, thành chứng nhục nuy. Thận khí nhiệt nên “yêu, tích” không cất lên được, xương khô mà tủy vơi, thành chứng cốt nuy.
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết rõ nguyên nhân...
Xỳ Bá thưa rằng:
– Phế là một quan “trưởng” của các Tàng, nó như cái “lọng” che cho Tâm. Có sự gì bỏ mất, cầu không thể được, thì gây nên chứng Phế minh (kêu). Kêu thì Phế nhiệt mà Phế điệp khô đét đi... Nên mới nói: “Năm Tàng do “Phế nhiệt, diệp tiêu”, gây nên chứng nuy bịch (chân lỏng gân, không lê đi được.
BI ai quá độ thì bào mạch tuyệt. Bảo mạch tuyệt khiến cho Dương khí phát động ở bên trong, do đó Tâm hạ huyết băng, thành chứng tiểu ra huyết. Cho nên ở bản kỉnh nói: “Đại kinh không hư, gây nên chứng cơ tý, truyền làm chứng mạch nuy.
Nghĩ ngợi quá độ, không được toại nguyện, ý đâm ở bên ngoài, lại nhập phòng vô hạn, tông cần rã rời, thành chứng cân nuy và bạch dâm (tinh khí tự tiết ra). Cho nên Kử nói: “Chứng cân nuy sinh ra bởi Can, mà nguyên nhân là sự nhập phòng.
Vì yêm lưu ở nơi âm thấp, khiến cho thấp khí thấm thía ở trong cơ nhục, thành “tý” mà bất nhân, do đó gầy nên chứng nhục nuy.
Cho nên Kính nói:
“Nhục nuy gây nên bởi thấp.
Vị sự đi xa nhọc mệt, gập đại nhiệt mà khát; vì khát nên Dương khí bị suy sút ở bên trong, do đó nhiệt sẽ thừa cơ ký túc ở Thận. Thận là thủy Tàng. Giờ thủy không thắng được hỏa, thì xuống khô mà tủy vơi, nên chân không thể đi xuống đắt, pây nên chứng cốt nuy, Cho nên ở Kinh nói: “Chứng cốt nuy gây nên bởi đại nhiệt,
Hoàng Đế hỏi:
– Lấy gì để phân biệt?
Kỳ Bá thưa rằng:
:
– Phê nhiệt thi sắc mặt trắng bợt mà lông rụng. Tâm nhiệt thì sắc mặt đỏ mà lạc mạch ràn. Can nhiệt thì sắc mặt tái xanh mà móng tay khô. Tỷ nhiệt thì sắc mặt vàng mà thịt thường rung động. Thận nhiệt thi sắc mặt đen sạn mà răng se.
Hoàng Đế hãi:
– Vậy sao nói đến phương pháp trị chứng. Nay lại chuyên trách về Dương minh, là thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
Dương minh là cái biểu của năm Tàng, sáu Phủ, chủ về làm nhuận cho tông cân; Tông cân chủ về bó dàng ngoài xương, đẻ cho các khớp được hoạt lợi. Xung mạch là biểu của kinh mạch. Chủ thấm nhuần cho các khê, cốc (các bắp thịt lớn. nhỏ), cùng với Dương minh hợp vào tông cân. Âm, dương bao trùm tất cả chỗ hội họp của tông cân đề hội ở khí khái, mà Dương minh sẽ là trưởng, đều thuộc về Đái mạch, mà “lại" sang Đốc mạch. Cho nên hễ Dương minh bị hư thì Tông cãn bị lỏng ra, Đái mạch không dẫn tới nữa, cho nên chân “nuy” không dùng được.
– Điều trị thế nào?
– Trước phải bố vình, rồi thông đến Du, làm cho những hư thực được quân bình, những nghịch thuận được điều hòa, cân mạch, cốt, nhục đều theo đúng vào mùa và tháng... Thì bệnh khỏi,
Chú Giải
- Đây nói về phương pháp trị nuy. Cân, mạch, cốt, nhục đều theo về từng mùa mà có tháng mắc bệnh. Như Can mắc bệnh về mùa xuân là cần nuy, Tâm mắc bệnh về mùa hạ là mạch nuy, Tỳ mắc bệnh về tháng Chí âm là nhục nuy, Phế mắc bệnh về mùa thu là bì nuy, Thận mắc bệnh về mùa đông là cốt nuy... Giờ chuyên trách ở kinh Dương minh, lại phải lấy cả ở cái kính mắc bệnh... Giả như trị chứng cân nuy, phải hợp cả vị lẫn Can đề điều trị, và bỗ vinh huyệt, nội đình của Dương minh, vinh huyệt là hành gian của Can, Du huyệt Hăm cốc của Vị, Du huyệt Thái xung của Tỳ... Lại điều sự hư thực: hư thì bỗ mà thực thi tà; hòa sự thuận nghịch: bỏ thì nghịch thủ, tà thi thuận thủ v.v...
Chương bốn mươi lăm · Quyết Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh quyết (tay chân giá lạnh) chia ra hàn nhiệt, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Dương khí suy ở dưới thì thành chứng hản quyết, Âm khí suy ở dưới thì thành chứng nhiệt quyết,
Hoàng Đề hỏi:
– Về chứng nhiệt quyết, tức là dương quyết, vậy sao lại khởi từ túc Tâm (lòng bàn chân, thuộc âm?
Kỳ Bá thưa răng:
– Dương khí phát ra khởi từ ngoài năm đâu ngón chân. Phàm âm mạch hợp ở dưới chân mà tụ ở túc Tâm. Vì Dương khí thăng, nên túc Tầm nhiệt.
– Về chứng hàn quyết, tức là âm quyết, vậy sao lại khởi từ năm đầu ngón tay, rồi lan đến gối?
Ảm khí phát ra khởi từ phía trong năm ngón tay, hợp ở dưới gối, mà tụ ở trên gối. Vì Âm khí thắng, nên từ năm ngón tay đến trên gối hàn. Chứng hàn đó, không pháp sinh từ bên ngoài mà là từ bên trong.
Hoàng Đế hồi:
– Về chứng hàn quyết, đo Tàng nào bị khiếm khuyết mà gây nên?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tiền âm là nơi tụ họp của tông cân và là chỗ “hợp” của Thái âm, Dương minh. Về hai mùa xuân, hạ thì dương nhiều mà Âm khí ít; về hai mùa thu đông thì Âm khí thịnh mà Dương khí suy. Giờ người mắc bệnh đó, vì sức khỏe, về hai mùa thu đông làm lụng quá độ, khí ở dưới cố dẫn lên, không thê lại quay trở xuống... Do đó, tinh khí cũng bị ràn ra ở dưới. Cái tà âm bàn liền thừa cơ mà sẵn lên.
Phàm khí, đều phải nhờ ở Trung tiêu. Giờ Dương khí suy, không thể thấm nhuần ra kinh, lạc; Dương khí càng ngày sút dân, Âm khí cảng ngày thịnh lên... Vì vậy nên tay chân hàn.
Hoàng Đế hỏi:
– Về chứng nhiệt quyết, do Tàng nào khiếm khuyết mà gây nên?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Rượu uống vào Vị, thì lạc mạch “mãn” mà kinh mạch "hư”. Tỳ là một cơ quan Du chuyển tân dịch cho VỊ. Âm khí đã hư, thì Dương khí sẽ lắn vào, do đó Vị thành ra không hòa. Vì Vị không hòa, nền tinh khí bị kiệt, không thể thấm nuôi ra tứ chỉ... Vậy người mắc bệnh đó, tất do sự uống say, ăn nó mà nhập phòng, khí tụ ở Tỳ, không tán đi được. Tửu khí với cốc khí cùng xung đột nhau, nhiệt thịnh ở bên trong, cho nên khắp mình đều nhiệt, mà nước tiểu cũng đỏ. Ngẫm như: Rượu, khí của nó thịnh mà tật hăn, nó làm cho Thận khí hàng ngày suy sút, Dương khí hàng ngày tăng lên, vỉ vậy nên thủ túc mới nhiệt.
Hoàng Đề hỏi:
– Về chứng quyết, có khi khiến người phúc mãn, có khi khiến người đột nhiên bất trì nhân (không biết người, tức bất tỉnh...), có người đến nửa ngày, hoặc suốt ngảy, rồi mới trì nhân, là vì sao?
Kỳ Bá thua rằng:
- Âm khí thịnh ở trên thì dưới hư:
Vĩ dưới hư nên thành chứng phúc trướng mãn... Dương khí thịnh ở trên, thì khí ở dưới cũng theo lên, do đó tà khí cũng ngược lên; tà khí đã ngược lên thì Dương khí loạn; Dương khí loạn nên bất trí nhân.
Hoàng Đề hỗi:
– Xin cho biết chứng quyết của sáu kinh mạch như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chứng quyết thuộc kinh Cự dương thì đâu nhức và nặng, chân đi khó khăn, có khí chóng mặt mà ngã.
Chứng quyết của kinh Dương minh thì phát điên, chỉ muốn chạy ___ ra kêu to, phúc mãn không thể năm, mặt đỏ mà nóng, thấy bậy nói càn.
Chứng quyết của kinh Thiếu dương, bỗng dưng tai điếc, quai hàm sưng mà nhiệt, sườn đau, xương đầu gối không cử động được.
Chứng quyết của kinh Thái âm thì phúc mãn mà trướng vượt lên, đại tiện khó, không muốn ăn, ăn vào thì nôn, không năm được.
Chứng quyết của kinh Thiếu àm thì miệng khô, nước tiểu đỏ, phúc mãn và Tâm thống.
Chứng quyết của kinh Quyết âm thì Thiếu phúc sưng vả đau, phục trướng, tiêu tiện không lợi, hay nằm eo đầu gối, âm hành rụt lại hoặc sưng, trong bọng chân nỏng.
Thịnh thì nên tả, hư thì nên bổ. Không thịnh không hư, nên thích ở bản kinh.
Chứng quyết nghịch ở Thái âm, ống chân đau rút, Tâm thống dẫn xuống phúc. Nên trị nơi chủ bệnh (tức Tỳ, vì Tỷ chủ về khí ở kinh này.
Chứng quyết nghịch của Thiếu âm, hư mãn và ẩu nghịch. đi tả ra nước trong, nên trị nơi chủ bệnh của nó.
Chứng quyết nghịch của Quyết âm. vòng ngang lưng đau, hư mãn và tiêu tiện bị vít, nói mê lảm nhậm... nên trị nơi chủ bệnh.
Ba kính âm đêu nghịch. đại tiêu đều bị vít, khiến bệnh nhân tay chân giá lạnh, trong vòng ba ngày sẽ chết.
Chứng quyết nghịch của Thái dương, ngã lăn, âu huyệt, hay nục (đồ máu đăng mũi), nên trị ở nơi chủ bệnh.
Chứng quyết nghịch của Thiếu dương, các cơ quan không dễ dàng, khiến cho yêu đau không đi được, cô đau không ngoảnh được. Rồi phát ra chứng trường ung, hoặc phát kình, sẽ chết.
: Chứng quyết nghịch của Dương minh, suyễn và ho, mình nóng, hay kinh, nục âu huyết.
Chứng quyết nghịch của thủ Thái âm, hư, đầy mà ho, hay nôn ra nước đãi... Trị ở nơi chủ bệnh.
Chứng quyết nghịch của thủ Thiếu âm, Tâm thống rút lên cuống họng, mình nóng, không thê chữa.
Chứng quyết nghịch của thủ Thái dương, tai điếc, nước mắt chảy ra, cô không thể ngoảnh được, yêu không thể cúi ngửa được. Trị ở nơi chủ bệnh.
Chúng quyết nghịch của thủ Dương mính, phát chứng hầu tý, sưng trong cuỗng họng, hoặc thành chứng “kinh”. Trị ở nơi chủ bệnh,
Chú Giải
- "dưới" tức chỉ về chân (túc). Người có ba kinh dương và ba kinh âm. Khi của ba kinh dương suy ở dưỡi, thì Dương khi ít, Ám khí thịnh, nên thành chủng hàn quyết; khí của ba kinh âm tuy ở dưới, thì Âm khí suy, Dương khí thịnh, nên thành chứng nhiệt huyết. Dây nói về nguyên nhân sự hàn nhiệt của chứng quyết. t Từ đây trờ xuống lại nỏi về chứng khí quyết ở ba kinh âm, ba kinh dương. Về khí của thủ, túc Tam âm và Tam dương, do năm Tàng sáu Phủ sinh ra. Khí của Tảng Phủ nghịch ở bên trong, thì khi Âm Dương sẽ quyết ở bên ngoài. Cho nên dưới đây lại bàn về chứng khí quyết của 12 kinh. Cái khí của trung thô, chủ về việc thấm nhuân ra bốn bên, vì túc Thái âm khí quyết, nên ống chân bị co rút; thức ăn vào Vị, trọc khí dẫn lên Tâm; vì Tỳ khí nghịch không chuyên Du được tình khí, nên Tâm khí hư, mà đau rút xuống bụng. Dó là cái bệnh do Tỳ sinh ra. Nên phải trị ngay Tỳ khí trước. Ba kinh âm đều nghịch, thế là âm với dương chỉa rẽ hẳn rồi. Bao nhiều khí dương đều phát sinh từ âm, giờ ba kinh âm đều nghịch, tức là nguồn sinh khí đã tuyệt. Vì vậy nên tay chân giá lạnh mà trong ba ngày sẽ chết. Đó là quyết tại khí phận, nên mới chết chóng như vậy, nếu quyết tại kinh mạch, thì còn được đăng đai, không nên chóng chết như thế! # Thủ Dương minh là thủ của Phế, thủ Thiếu dương tức Tam tiêu Dương minh chủ về "ách", Phế chủ về "hầu"; hợp cả hỏa khí của Tam tiêu đều nghịch, nên mới thành chứng hầu tý và ách thũng. Dương minh là một kình có cái tính chất táo nhiệt, Tam tiêu thuộc về cái hóa long lôi, hỏa nhiệt đồng thời phát triển, nên mới phát sinh chứng kinh.
Chương bốn mươi sáu · Bệnh Năng Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Người mấc bệnh Vị quản ung, chẩn thế nào có thê biết được?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Chẩn bệnh đó, nên “hậu” ở Vị mạch. Mạch đó sẽ trầm, tế; trầm, tế là do khí nghịch. Nghịch thì mạch ở Nhân nghỉnh tắt phải rất thịnh, rất thịnh nên nhiệt.
Nhân nghinh là mạch của VỊ. Nếu nghịch mà thịnh thì đó là do nhiệt tụ ở Vị khẩu, mà không dẫn đi được, nên mới thành chứng ung ở Vị khẩu.
Hoàng Đề hỏi:
– Vì sao bệnh nhân không thê năm yên?
Kỳ Bá thua rằng:
– Vì Tàng bị thương, tỉnh không thể dẫn đi, quy tụ cả vào VỊ, nên không thể năm yên.
– Không thể năm ngửa được, là vì sao?
– Phê, như cái lọng che cho cả các Tàng. Phé khí thịnh nên mạch đại, mạch đại nên không thế năm ngừa. Đã bản rõ ở thiên Kỷ hằng âm dương.
– Có người mắc bệnh quyết, chân mạch bên hữu trầm mà khẩn, mạch bên tả phù mà trì... Vậy chủ bệnh ở đâu?
- Nếu chẩn về:
mùa đông. mạch bên hữu vốn trầm, khăn, đó là ứng với bồn mùa; mạch bên tả phù mà trì, đó là trái với bỗn mùa. Ở bên tả, nên chủ về bệnh ở Thận, cũng có quan hệ đến Phế và đau ở “yêu.
– VỊ sao?
– Vì mạch của kinh Thiếu âm suốt qua Thận, chăng lên Phế. Giờ chân được Phế mạch, đủ biết là Thận cũng mắc bệnh mà thành chứng đau ở “yêu.
– Có người mắc chứng cảnh ứng (mụn ở cổ), hoặc dùng đá, hoặc _ dùng châm và cứu, mà đều khỏi, vậy chính bệnh nó ở đâu?
– Đó, đanh tuy giống nhau, nhưng bệnh chứng lại có khác. Về khí tức của bệnh ung, nên dùng châm để khai trừ bỏ đi; nếu do khí nhiều và huyết tụ thì nên dùng đá đề tả... Vì vậy nên bệnh danh không khác mà trị pháp lại khác.
– Có người mắc bệnh “giận dữ, rồ dại”, nguyên nhân bởi đâu?
– Đó là sinh ra bởi khí dương...
– Khí đương, sao lại có cuẳng?
– Dương khí vì bị nén ép, không phấn phát lên được, mới thành chứng cuỗng nộ?”. Bệnh đó gọi là dương quyết.
– Diều trị băng phép nảo?
– Dương minh thì thường động; Cự dương, Thiếu dương không động. Giờ lại động mà đại, tật, nên mới thành bệnh. Vậy giờ chỉ giảm bớt ăn, sẽ khỏi. Phàm ăn, thì nhờ ở sự biến hóa của Thái âm mà trướng khí ờ Dương minh. Dương minh là một cơ quan vừa nhiều khí lại nhiều huyết, nếu lại cho thêm thức ăn vào thì dương càng thịnh mà cuỗng càng tăng. Vậy điều cần nhất là giảm bớt ăn, rồi cho uống nước “sinh thiết lạc" vì nó có cái năng lực hạ khí rất hay.
Hoàng Đế hỗi:
– Có người mắc bệnh mình nóng, rã rời, hãn ra như tắm, ố phong và thiểu khí... Đó là bệnh gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó gọi là tửu phong.
– Điều trị thế nào?
– Dùng trạch tả, truật, mỗi vị 10 phân, mi hàm thảo (tức vô tâm — thảo, hoặc vô phong thảo) năm phân, dùng ba nhứm tay, uống sau khi ăn cơm.
Như nói:
“mạch trầm mà tế...” tức là khí chẩn mạch tin vào tay chỉ như hình “châm”; lẫy tay miết mạch xuống, nếu Tỳ khí tụ ở Tỳ thì mạch sẽ “kiên”; nếu Thận khí dồn lên Can, Can dồn lên Tâm thì mạch sẽ *“đại,
Chú Giải
- Từ đây trở xuống bón thiên, đều nói về các bệnh Kỳ hằng. Đầu thiên gọi là "bệnh năng”, tức là nói về bệnh không nhân bốn mùa, sáu khí, mà cũng có thể làm cho Tàng Phủ và kinh mạch mắc bệnh. Về quyền này 1 thiên, từ thiên Nhiệt bệnh luận đến thiên Quyết luận, bàn về sự biến hóa cùa tật bệnh, mà đem bốn thiên Kỳ hăng nói tóm về cuối, cho biết ngoài sự biển hóa của tật bệnh lại còn có thứ bệnh gọi là "Kỳ hằng". Chẩn mạch chứng của bệnh Kỳ hăng, nên hợp xét với "bệnh năng”, ngõ hâu khỏi cái nhằm về "ngũ quá" và "tứ thất" (năm điều lỗ: và bốn sự sai). Bắt đầu nói chứng vị quản ung (mọc mụn ở cuống đạ dày), để tỏ cho biết rằng phàm vinh, vệ, khi, huyết... Dều do Dương minh sinh ra. Huyết khi nghẽn tặc, thì thành chứng ung thũng. Ty lệ với các chứng do "tứ thời, lục rấm" và "ngũ chí, thất tình" khác nhau rất xa.
- Vị mạch tức là Hữu quan mạch của thủ Thái âm. "Nhân nghinh" là động mạch ở hai bên kết hầu (chỗ lộ hâu ở cổ). Vì Vị khí nghịch, không tự dẫn dẫn đến được thủ Thái ầm, do đó Vị mạch hóa ra trằm, tế. Khí nghịch ở VỊ, khiến cho Nhân nghính thịnh... Tức là nhiệt sẽ tụ ở VỊ.
- Đây nói: Về Can khí nghịch lên, thì Dương khí bị nén mạnh xuống không tiết ra được; do đó không còn đủ sức để lưu hành, Can khí cũng nhân đó không được điều hòa, nên giận.
- Sứ thiết lạc tức là dùng sắt mài lấy nước cho uống. Thiết thuộc loài Kim, Kim khắc được Mộc, nên Can khí hạ xuống, mà chứng cuông nộ sẽ khỏi.
- Đoạn này nói qua về phương pháp chân mạch bệnh Kỳ hăng.
Chương bốn mươi bảy · Kỳ Bệnh Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Có người có thai, được chín tháng, bỗng dưng câm, là bệnh gì! Kỳ Bá thưa rằng: - Đó là do mạch của bào lạc bị nghẽn... - Vì sao? - Bào lạc buộc vào với mạch của thủ Thiêu âm suốt qua Thận chằng lên cuống lưỡi... Vì thế nên không nói được. - Điều trị thế nào? - Không cần điều trị, qua 10 tháng, thai sinh rồi sẽ lại nói được. Thích pháp nói: “Đừng làm tốn cho bất túc, đừng giúp ích cho hữu dư... Đợi khi thành bệnh đã, rồi sau sẽ điều trị...”. “Đừng làm tôn bất túc” là vì bệnh nhân đã gầy còm, không còn dùng châm, thạch vào đâu được nữa. “Đừng giúp ích cho hữu dư...” là vì trong bụng “có hình mà lại làm cho tiết ra, tức thì “tĩnh” cũng tiết ra theo, khiến cho bệnh tà được một mình chiếm cứ ở trong... Do đó, sẽ lại gây thêm bệnh. Hoàng Đề hồi: - Có người mắc bệnh dưới hiếp mãn, khí nghịch, tới hai ba năm vẫn không khỏi, đó là bệnh gì? Kỳ Bá thưa răng: - Bệnh đó gọi là “tức tích”. Nó không trở ngại Việc ăn, nhưng không thể cứu và thích. Phải dùng phép đạo dẫn rồi mới uống thuốc; chỉ một mình thuốc không chữa được,
Hoàng Đề hỏi:
– Có người mắc chứng thân thể, vế, đùi, bọng chân đều thũng, xung quanh rồn đau... Dó là bệnh gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó gọt là phục lương, tức là gốc của phong khí nó tràn ra ẳ ngoài đại tràng mà bám lên hoang. Gốc của hoang lại ở phía dưới rốn, vì thế nên đau ở xung quanh rốn. Đừng động đến nó. Nếu động đến nó sẽ gây nên thủy bệnh và niệu sắc (tiểu tiện bí, rít, không ra được.
Hoàng Đề hỏi:
– Có người Xích mạch sắc quá, cân cấp mà lại hiện cả lên sắc mặt... Đó là bệnh gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó gọi là “chân cân” (tức gân mắc bệnh). Bệnh nhân phúc bộ tất co rút, mặt hiện ra sắc trắng hoặc đen. Như vậy là bệnh nặng.
– Có người mắc chứng nhức đâu, vài nàm mới khỏi. Vì đâu mà sinh ra như vậy? Và gọi là bệnh gì?
– Người đó tất từng phạm phải đại hàn, bên trong sâu vào tới xương tủy; tủy lẫy não làm gốc. Vì não bị nghịch, nên thành chứng đầu thống và đau tới cả răng. Tên bệnh là quyết nghịch.
Hoàng Đề hỏi:
– Có người mắc bệnh, trong miệng cứ có vị ngọt luôn. tên là bệnh gì? Vì sao mắc phải?
Đó là Thổ khí ràn lên. Tên là Tỷ đản. Phàm năm vị ăn vào miệng chứa ở Vị, Tỳ vi Vị dẫn hành tinh khí. Bao tân dịch đều ở Tỳ, nên thành chứng khâu cam (ngọt ở miệng). Bệnh đó do ăn nhiều các thứ “phi mỹ” (béo, ngon) mà sinh ra. Phàm chất béo khiến người sinh chứng nội nhiệt; vị ngọt khiến người sinh chứng trung mãn. Đến khi khí đó ràn lên, sẽ chuyền thành chứng tiêu khát (vì nội nhiệt. Nên dùng cỏ Lan để điều trị, vì nó bài trừ được khí trầm uất (uất tích lâu ở trong.
– Có người mắc chứng, trong miệng có vị đăng, trích ở Dương lăng toàn... Tên là bệnh gì? Và vì sao mắc bệnh ấy?
– Bệnh đó tên là Đởm đản. Can là một cơ quan có cái nhiệm vụ như vị tướng quân, nhưng phải thủ quyết ở Đởm; yết hầu (cuống họng) lại là “ngoại sứ” của Can, mà cùng liên lạc với Đởm. Bệnh _ nhân tất thường có việc mưu lự không quyết, khiến Đởm hư, khí tràn lên, thành chứng khẩu khổ. Nên thích ở Đởm mạc Du. Về phương pháp điều trị, đã có ở thiên âm dương thập nhị quan trương sử.
(Án:
Thiên này, ở Tổ vấn và Linh khu đều không có. Có lẽ do một bộ cô kinh nảo khác mà giờ không còn.
Hoàng Đề hải:
– Có người mắc bệnh “long”, ngày đi tiểu tới vài mươi lần... Như thế là thuộc về bất túc. Minh nóng như than, cô với ức như bị ngăn cách, mạch ở Nhân nghỉnh táo thịnh, thở suyễn khí nghịch... Như thể là thuộc về hữu dư. Chẩn đến mạch ở Thái âm thì lại “vi, tế như sợi tóc... Như thế lại là bất túc. Vậy bệnh đó ở đâu và tên là gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh tại Thái âm, mà thịnh ở Vị, kiêm cả ở Phê, tên là quyết. Chết không chữa được”, Đó tức là thuộc về chứng “ngũ hữu dư, nhị bất túc.
– Ngũ hữu dư, nhị bất túc là gì?
– Năm bệnh khí thuộc hữu dư và hai bệnh khí thuộc bất túc, Giờ bên ngoài đã có năm hữu dư, bên trong lại có hai bất túc, biểu, lý âm dương đều đã đoạn tuyệt, còn sống làm sao được.
Hoàng Đế hỗi:
– Người mới lọt lòng đã mắc tật điền, vậy tên bệnh là gì? Và vì sao mà mắc?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó gọi là thai bệnh. Nguyên nhân do từ khi còn năm trong bụng mẹ, người mẹ bị điêu gì quá sợ hãi khí ngược lên mà không giáng xuống được, tỉnh với khí dồn ở làm một, nên đứa con mới phát chứng điên như vậy.
rủ
Hoàng Đề hỏi:
– Có người mặt “ụ” ra như bị thủy thũng, thiết vào mạch thì đại và khăn. Khắp mình không đau đớn, mình không gây đi, nhưng không ăn được, và chỉ ăn rất ít. Đó là bệnh gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh đó phát sinh tạt Thận, gọi là thận phong. Người mắc Thận phong, không ăn được, hay kinh (sợ), sau khi khỏi kinh, nễu Tâm khí rã rời thì sẽ chết,
Chú Giải
- Trên đây nói về chứng Phế tích. Phế chủ khí mà coi về việc hô hấp. Về chứng tích của Phê có tên là "tức bôn". Đầy gọt là "tích", tức là có ý dân dà chứa chất mà sinh ra, vì vậy nên tới hai, ba năm vẫn không khí. Về chứng tích của Can và Phê đều chủ về “hiệp hạ mãn". Nhưng tích ở Can thì ngại ăn, còn tích ở Phê thì không ngại ăn. f Đây nói về bệnh ở Thái âm và Vị, Phế. Dương minh!à một kinh táo nhiệt, theo về khí "trung kiến" thấp hóa của Thái âm. Giờ Thái âm bất túc thì VỊ khí nhiệt mà mạch Nhân nghỉnh sẽ thành táo thịnh. VỊ khí nghịch lên sẽ liên quan đên Phê, nên mới thành chứng suyên tức và khí nghịch. VỊ khí đã cường thịnh không thể phân tán được tinh khí ra ngoài, do đó Thái âm lại thành ra bất túc. Thái âm bất túc thì năm Tàng sáu Phủ không còn "thụ khí" vào đâu, nên mới thành quyết nghịch tử chứng.
- Dậy nói "hữu dư, bất túc" đều đủ gây nên bệnh. Ngũ hữu dư là: Mình nóng như than; 2) Cô và ức nghẽn cách; 3) Nhân nghinh táo thịnh; Suyễn tức; 5) Khí nghịch. Nhị bất túc là: 1) Bệnh long, ngày đi tiểu vài mươi lần; 2) Thái âm mạch vi tế như tóc. Dương minh chủ biểu, bên ngoài bị "ngũ hữu dư”, không thê hành khí ra Tam dương ở biểu; Thái âm chủ lý, bên trong bị nhị bất túc“ không thể hành khí tới Tam âm ở lý. Vậy người đó, biểu, lý, âm, dương đều đã đoạn tuyệt, còn sống sao được.
- Ấn: Trẻ con điên giản, phần nhiều đo khi còn ở trong bụng mẹ, người mẹ bị sợ hãi mà gây nên. Nhưng chứng điên là do khí nghịch. Vậy thì lúc người mẹ bị sợ mà khi nghịch, tức là đứa con ở trong thai cũng theo đó mà khí nghịch, lý này rất đúng. Người thai phụ cũng nên cân thận.
- Về chứng phong thủy, các khớp xương đều đau. Đây bệnh tại Thận, không do ngoại tả, nên mình không đau. Thủy khí dẫn ngược, nên mình không gẫy; phong mộc, thủy tà cùng lấn Thỏ khí nên không ăn được. Triệu Hoàng nói: Thiên có lúc dâm, người cũng có lục khí. Nhưng những bệnh kỳ hằng, phần nhiều không phát sinh bởi ngoại tà. Thủy là một vật "thắng" của Hòa. Không ăn được là do thủy tà tiền thẳng lên Trung tiêu. Hay sợ là do thủy khí bách ngược lên Tâm. Tâm vốn không bao giờ bị tà, sau khí kinh khỏi mà "Tâm khí nuy”, tức là Tâm bị thương rồi, nên mới là chứng chết.
Chương bốn mươi tám · Đạ Kỳ Luận Thiên
Kinh Văn
Phàm Can khí mãn, Thận khí mãn, Phế khí mãn, mạch tất sẽ đều “thực” và thành chứng thũng (tức phù thũng, bệnh ở bộ phận da.
Phế bị nghẽn, suyễn mà hai bên sườn (khư) mãn, năm thì kinh, không tiểu tiện được.
Thận bị nghẽn, từ Thiếu phúc đến dưới chân đều mãn (đây; bọng chân có bền nhỏ bên to, nếu bệnh biến sẽ thành thiên khôC.
Tâm mạch mãn và đại, phát thành chứng giản khiết và cân loan (co gân.
Can mạch tiểu và cấp, phát thành chứng giản khiết và cân loan?
Can mạch bỗng dưng bạo loạn, tất do có sự kinh hãi. Nếu mạch không đến mà ấm (như câm không nói ra được), không cần chữa, sẽ tự khỏi (khi nào mạch đến sẽ nói được.
Thận mạch tiểu và cấp, can mạch tiểu và cấp, Tâm mạch tiểu và cấp...
Không bật lên tay, đều là chứng giả (một chứng thuộc loại tích tụ.
Mạch của Can, Thận đều trằm, là chứng thạch thủy; nếu đều phù, sẽ là chứng phong thủy; nếu đều hư, sẽ chết; nếu đều tiểu và huyền, sẽ phát kinh (đoạn này nói về mạch của Can với Thận giỗng nhau. thì bệnh cũng không khác.
Mạch của Thận đại, cấp và trầm:
mạch của Can đại, cấp và trâm... đều thuộc bệnh sán (sán te là sán khí, đau rút ở bụng dưới và dịch hoàn, khác với “sán” ta thường dùng.
Mạch của Tâm bật lên tay, đoạt và cấp, là có chứng Tâm sán; mạch của Phê trầm và bật lên tay là có chứng Phế sán.
Tam dương mạch cấp là có chứng piả, Tam âm mạch cấp là có chứng sán.
Nhị âm mạch cấp là chứng giản quyết, Nhị dương mạch cấp là có chứng kinh.
Mạch của Tỳ bên ngoài hiện ra cô (cũng như bác, bật lên tay mà bên trong trầm, là chứng trường tiết, lâu sẽ tự khỏi.
Mạch của Can tiểu và hoãn, chứng trường tiết dễ trị (hoãn là nhiệt nhiều, tiểu là huyết khí đều ít. Đây, vì cái khí dương nhiệt, bách vào âm Tàng, khiến huyết khí của Can Tàng tiết xuống mà thành hư, nên mạch tiểu và hoãn. Nhưng Can vốn chủ về Tàng huyết, nên dù bị cái khí dương nhiệt, cũng còn dễ chữa.
Mạch của Thận tiêu, bật lên tay mà lại trầm, là chứng trường tiết và ta huyết. Nếu huyết ôn (ấm) mà mình nóng, sẽ chết,
Tâm và Can mắc chứng trường tiết cũng ra huyết, nhưng nếu hai Tàng cùng mắc bệnh, còn có thể chữa. Phàm mạch trầm, tiêu, sắc là chứng trường tiết; nếu mình nóng là chứng nguy; nóng luôn bảy ngảy sẽ chết,.ủa
Mạch của Vị trầm mà cô, lại sắc; nếu dây ra ngoài lại thấy cỗ đại... Mạch của Tâm tiểu kiên và cấp... Đều mắc chứng “cách” và thiên khô. Con trai sẽ bị ở bên tả, con gái ở bên hữu. Nếu không “Ấm” lưỡi uỗn đi uốn lại được, có thể chữa, ba mươi ngảy sẽ khỏi. Nếu thuận mà "ấm", ba năm sẽ khỏi; nếu tuổi chưa đây hai mươi thì ba năm sẽ chết.
Mạch đến mà bác, huyết nục, mình lại nóng, sẽ chết; nếu nục mà mạch câu và phù, thì là thường mạch, không ngại!?.
Mạch đến hoạt cấp như suyễn, gọi là bạo quyết, chứng này sẽ hôn mề không biết gì.
Mạch đến mà sác, khiến người bạo kinh, ba ngày sẽ khỏi?.
Mạch đến “phù hợp” (như làn sóng nôi hợp lại nhau, hình dung sự vô căn), phù hợp như đếm, mỗi tức từ 10 chỉ trở lên, đó là kinh khí bất túc. Nếu “vi hiện” (mới hơi thấy) mạch ấy, trong vòng 9, 1 ngày sẽ chết.
Mạch đến “bừng bừng” như lửa cháy, đó là Tâm khí bị đoạt. Tới mùa cỏ khô (tức mùa Thu) sẽ chết.
Mạch đến lơ lửng như chiếc lá rơi, đó là Can khí đã hư. Tới mùa lá rụng (tức mùa thu) sẽ chết.
Mạch đến vội vàng như “tỉnh khách” (khách đến hỏi thăm, tới cửa đi ngay), luồng mạch đầy lên tay mà cổ, đó là Thận khí bắt túc, tới mùa táo có hoa (tức Trường hạ) sẽ chết.
Mạch đến dấp dính như “nê hoàn” (viên bùn, tròn mà không hoạt), đó là vị tỉnh bất túc. Tới khi lá Du giáp rụng (xuân) sẽ chết.
Mạch đến vướng mắc như “hoàn cách”, đó là Đờm khí bắt túc. Tới mùa chín (cuỗi thu) sẽ chết.
Mạch đến như nắn đây tơ, đó là Bảo tỉnh bất túc. Bệnh nhân hay nói. Tới mùa sương xuống sẽ chết.
Mạch đến như dải tật (ép sơn, chảy tung toé ra cả xung quanh)... Nếu “vi hiện” ba mươi ngày sẽ chết.
Mạch đến như dũng toán (nước suối vọt lên), phù mà cổ ở trong da... Đó là Thái dương khí bất túc, tiêu bản đều hư. Tới mùa rau cửu có hoa (rau hẹ, tức mùa xuân) sẽ chết.
Mạch đến như đồi thó (đất lở, trông vẫn có, động đến thì lở xuống), án vào không được. Đó là cơ khí bất túc, mặt hiện sắc đen, tới mùa giây cát tốt (xuân) sẽ chết.
Mạch đến như huyền ung (tức hội áp, một cục thịt bạu xuống giữa cuống họng. Nó tròn mà mềm) án tay vào tẹt xuống mà lại “phù, đại” ngay, đó là Du khí của mười hai kinh bất túc. Tới mùa nước đóng thành băng (cuỗi đông) sẽ chết.
Mạch đến như yến đao (dao để ngừa lưỡi), nó là một mạch tượng để tay nhẹ thì tiểu và cấp, án hơi nặng thì lại kiên, đại và cấp... Đó là do khí uất, nhiệt của năm Tàng, dồn cả vào Thận. Bệnh nhân sẽ không thể ngồi lên được. Tới tiết Lập xuân sẽ chết.
Mạch đến như hoàn hoạt (trơn như viên đạn tròn), không dính tay, án vào không được (nó sẽ buột đi). Đó là khí của Đại trường bất túc. Tới mùa tảo diệp này ra (hạ) sẽ chết.
Mạch đến nhẹ nhàng như đóa hoa mới nở. Khiến người hay sợ, năm ngôi không yên, đi đứng thường nghe ngóng. Đó là Tiêu trường khí bất túc. Tới mùa cuối thu sẽ chết,
Chú Giải
- "Nghẽn" ở đây, là nói về Tàng khí mãn mà nghẽn ra ngoài kinh lạc. Phàm "mãn" ở khí thì "thũng” ở cơ nhục. Nghẽn ở kinh thì cứ theo kinh lạc đi đến đâu sẽ phát bệnh tại đấy. Phế chủ về việc hô hấp, mạch của nó do Phế hệ ngang ra dưới nách, cho nên suyễn mà "khư mãn". Can mạch vòng quanh Âm khí, lên Thiếu phúc, qua Can, chẳng vào Đởm, suốt lên cách rồi chẵng ra hiệp lặc, cho nên "lưỡng khư mãn” mà không tiểu tiện được. Vì Tàng khí úng mãn, nên lúc năm thì thần hồn không yên, cho nên phát chứng kinh. Thận mạch bắt đầu từ dưới chân, vòng xương khoai, qua bọng chân, lên Thận chẳng vào Bảng quang, vì thế nên từ dưới chân đến Thiếu phúc đều mãn. Thận chủ cốt mà "hàn thủy" (tức Bàng quang) chủ khí, vì thế nên bọng chân có bên lớn bên nhỏ v.v... Đây là nói về Tảng khí nghẽn ở kinh mạch, gây thành chứng bệnh như trên, so với chứng tả ở Tam tiêu, không thê tiểu tiện được và hư tà riêng ký túc ở hình thân mà thành thiên khô... Nguyễn nhân và chứng hậu không giống nhau.
- Tâm là hỏa Tàng, hỏa nhiệt thái qua, nên mạch đại mà thành chứng giản khiết (kinh sợ, co quấp) và cân loan. Can chủ cân mà lại chủ cả huyết. Mạch tiểu thì là hư, cấp thì là hàn. Vì Can Tàng hư hàn, không thể thấm nhuẫn ra cân, nên mới thành chứng "loan, khiết". Đây nói về bệnh ở cần, có khi vị Tâm khí hữu dư, lại có khi vì Can khí bất túc... Cùng với chứng phong làm thương cân mạch, không giống nhau,) Trường tiết mà ra huyết, tức là kiết ly (xích lỵ). Thận chủ về Tàng tinh, là cái gôc của tinh huyết. Vì khí dương nhiệt qưay xuông bách vào Thận, nên mới thành chứng trường tiết và ra huyết. Vì ra huyết thì âm huyết bị thương, nên mạch tiêu; nhiệt tà phạm vào Thận nên mạch trầm mà bác. Phàm âm dương cùng hòa thì sống, thiên hại (riêng bị hại về một bên nào thì chết. Tam dương là dương, Tam âm là âm, khí là dương, huyết là âm. Khí nhiệt của Tam dương bách vào âm huyết, huyết bị nhiệt làm thương, nền huyết hóa ôn. Như vậy mà mình lại nóng, đó là Tam dương thịnh mà khí của Tam âm đã tuyệt, nên chết.
- Tiết trên chia huyết khí làm âm dương; đây lại lấy cái khí Tam âm Tam dương để chia âm dương. Mạch tiểu, trầm và sắc... là do cái khí Tam âm bị đương nó bách thành thương tôn. Nếu mình lại nóng là cái chứng triệu Âm khí đã tuyệt. Hạn trong vòng bảy ngày, tức là cái thời kỳ Âm khí của sáu Tảng vừa hết.
- Đây là nói về bệnh kỳ hằng, phát sinh do âm dương không hòa, không đây đướng gì đến cái khí "ngoại dâm". Y giả phải nhận xét cho tỉnh tế. Nếu vì biêu tà mà phát nhiệt, mạch tất phải phù, hoặc hoạt và đại. Lúc bắt đầu phát bệnh, tất xương đau, đầu nhức, hoặc ỗ hản, suyễn cấp. Biểu chứng mới thịnh, lý chứng còn nhẹ... Đó là do trước ở biểu rồi mới vào đến lý. Ở đây, là do khí huyết của Tam dương dồn tất cả vào âm. Dương khí bị thương, nên mạch mới hiện ra tiểu, trầm và sắc. Ngay khi mới phát bệnh, lý chứng đã nặng ngay, hoặc cấm khảu, phúc thống, hoặc hạ ly nặng; nặng hơn nữa thì phát kinh, hoặc hôn trầm, hoặc ách Can, hầu tắc; mình dẫu nhiệt mà nhiệt nhẹ, chứng ngoài nhẹ mà chứng trong nặng... Dó là cái khí của Tam dương vụt đến như mưa giỏ, như sám sét... Phải kíp dùng các thứ thuộc "ức đương, dưỡng âm" đề cấp cứu. Nếu thấy mình chỉ hơi nóng, mà dùng một thứ "khinh tế" để biểu tán (phát tán ra ngoài biểu); thấy mạch tiêu mà dùng một thứ "hoãn phương” để điều hòa... Chỉ trong vòng ba ngày, quyết không sao cứu được nữa,
- Đây nói về vinh. vệ, khí. huyết do "hư nghịch" mà thành chứng thiên khô. Kinh mạch là một cơ quan lưu hành khí huyết và điều hòa âm dương, thắm nhuận cân cốt đề cho quan tiết được hoạt lợi. Vệ khí là một thứ đề làm cho ấm áp phận nhục, đầy đủ bì phu bền chặt tấu lý, thông lợi hỗ hấp. Vì vậy, vinh, vệ điều hòa thì cân cốt mạnh khỏe, cơ nhục kín chặt... Nếu huyết khí hư nghịch thì các cái đó mắt sự thấm nhuân mà thành chứng thiên khô. Khí của vinh, vệ, do Dương minh sinh ra; huyết mạch do Tâm tàng làm chủ. Dương minh là một cơ quan khí huyết đều nhiều, mạch của nỏ nên phù, đại; giờ mạch tràm mà cô lại kiêm cả sặc, tức là thiểu khí và vô huyết. Thể là huyết khí đã bị hư ở bên trong rồi. Đầy tay ra ngoài, bộ vị của vị đề "hậu" thân hình. Vậy mà mạch lại cô đại, đại tức là hư... Thể là khí huyết lại hư cả ở bền ngoài rồi. Vi vậy nên mới thành chứng cách và thiên khô; "cách” tức là cách mạc. phia trước liên với hung, bên cạnh liền với hiếp, phía sau liền với đốt xương sông thứ mười một. Đỏ là một cơ quan tất cả vinh. vệ, khí, huyết đều phải đi qua đề đạt ra thân thể? Giờ vinh. vệ bất túc, nên Cách cũng bị hư. Do đỏ về khoảng "hung, hiếp. tích, bối" mới thành ma tý bất nhân, hợp với chứng trên. gọi tát là "cách thiên khô.
- Tuổi chưa đầy hai mươi thì Tàng Phủ đương độ thịnh, huyết khí dương độ nhiêu... Mà lại mắc phải chứng suy bại ấy, tới ba năm thì bao khí huyết của các Tàng Phủ cũng đều bại hoại, nên mới chết. Trên kia nói 3 ngày và ba năm v.v... Đều tô ý là lâu mới khói.
- Nục huyết mà mạch bác, là nhiệt thịnh ở kinh, bách huyết vọng hành (đi càn trái đường), vì huyết thoát nên mình nóng, một chứng nguy hiểm. Câu là Tâm mạch, phù là Phế mạch. Tâm chủ huyết, Phế chủ phu, mà khai khiểu lên mũi. Tâm mạch đến thịnh, lắn lên Phế mà thành nục, đó là sự thường, không ngại.
- Về cái tà khí hữu hình dắn lên thì mạch đến như suyến; cái tả khí vô hình nghịch lên thì mạch đến sác tật. Tà bách lên Tâm hạ, nên phát chứng kinh. Nhưng Tâm là một cơ quan không "thụ tà", nên qua bốn ngày thì tà khí sẽ lui xuống, mà các chứng kính, quyết sẽ khỏi. '®'Đởm thuộc Giáp Tý, chủ về cái khí Nhất dương mới sinh. Đởm khí thăng lên, thì khí của mười một Tàng Phủ kia đều thăng lền. Trên đây nói như "hoàn cách" tức là như có vật chắn ngang, để hình dung Đờm khí hư không thăng lên được.
- Đây nói về mạch Xung nhầm. Mạch Xung nhâm khởi từ bảo trung, theo phúc đi lên... Nó là một cái bể của tinh huyết. Giờ tinh huyết bất túc, thi Xung nhâm còn bấu víu vào đâu nữa, Thiên này trước nói về bệnh trạng kỳ hăng, sau nói về mạch trạng kỳ hãng, để tỏ cho biết so với mạch chứng thường khác nhau rất xa,
Chương bốn mươi chín · Mạch Giải Thiên
Kinh Văn
Ở Thái dương mà “nói là”:
Yêu thũng, mông đau, là vì tháng giêng, kiến Dẫn. Dẫn thuộc Thái dương. Tháng giêng, Dương ra Ở trên, nhưng âm vẫn còn thịnh. Dương chưa có thê theo đúng thứ tự đề ra. Do đỏ, sinh ra chứng yêu thũng và mồng (tức hai mông đau.
Bệnh thiên hư mà bi (đi lệch), do tháng giêng Dương khí đã giải đồng, địa khí tiết ra được rồi. Vậy mà nói là: “Thiên hư” là vì khí mùa đông rét, khí bất túc nên sinh chứng như vậy.
Nói là:
“Cổ cứng, đau rút xuống lương...” là vì khí của Thái dương dẫn lên quá mạnh, rồi nghẽn lại ở đó.
Nói là:
*Nếu quá lắm sẽ phát cuồng, phát điên...” Đó là vì Dương khí bốc lên cả trên, mà Âm khí đành trơ trọi ở dưới. Dưới hư trên thực, nên mới sinh ra cuồng và điền như vậy.
Nói là:
“Mạch phù sẽ phát điếc...” đều chỉ về bệnh phát sinh tại khí.
Nói là:
''Dương khí vào trong sẽ thành ấm... Đó là nói Dương khí đã suy, mà âm cũng hư, nên thành chứng trạng như vậy.
Phàm những chứng bị “nội đoạt” mà quyết, gây nên âm và phi (tứ chỉ rã rời) đều bởi Thận hư. Khí của Thiếu âm Thận không dẫn đến, cũng gây nên chứng quyét.
Ở Thiếu dương mà nói là:
“Tâm, hiếp thông...” Đó là nơi khí của Thiếu dương thịnh. Sở đĩ thịnh vì nó là biểu của Tâm, Tới tháng chín, Dương khí hết mà Âm khí thịnh, nên phát sinh chứng tâm, hiếp thống.
Nói là:
“Không thê nào trở mình...” là vì Âm khí chủ về Tàng vật. Vật đã Tàng thì không thể động được, nên mới không thể trở mình.
Nói là:
“Quá lắm thi chỉ muốn chạy nhảy...” là vì về tháng chín, muôn vật đều hư, cỏ cây rụng héo, thì khí ở con người cũng lánh dương mà tới âm. Duy cái khí của Thiếu dương đương thịnh, dù có lọt vào ở bên dưới, nhưng vẫn có ý muốn bốc mạnh trở lên, nên mới thành chứng trạng như vậy.
Ở Dương minh mà nói là:
“Rờn rợn, run rét..." Bởi Dương minh thuộc Ngọ, tháng năm, là tháng một âm ở trong thịnh đương. Dương đương thịnh mà âm xen vào, nên mới thành chứng rờn rợn, rưn rét.
Nói là:
'“Bọng chân thũng, không tự do lại được” là vì tháng năm, một âm đã phát sinh ở trong thịnh đương mà dương cũng bắt đâu suy từ đó. Nhưng bởi một âm mới sinh cùng dương xung đột, gây thành chứng hậu như vậy.
Nói là:
“Thượng suyễn mà thành thủy thũng...” Đó là vì Âm khí đã hạ giáng mà lại rấn lên, lên thì cùng với tả khí ký túc ở khoảng Tàng, Phủ, vì vậy nên thủy thũng.
Nói là:
“Hung thống và thiểu khí...” Đó là vì thủy khí ký túc ö Tàng, Phủ. Thủy thuộc Âm khí. Âm khí xen vào trong, nên mới thành hung thống và thiểu khí,
Nói là:
*Quá lắm thì quyết, ghét người với hỏa, nghe tiếng “gõ (Mộc) thì rùng mình mà sợ...” Đó là vì Âm Khí với Dương khí cùng xung đột lẫn nhau, Thủy với ]Hỏa cùng phét, nên mới rùng mình mà sợ.
Nói là:
“Muốn đóng kín cửa mà ở một mình” là vì âm dương cùng xung đột nhau. Dương đã hết mà âm lại thịnh, nên mới muốn đóng cửa mà ở một mình.
Nói là:
“Bệnh đến thì muốn lên cao mà hát, cởi bỏ áo mà chạy...” Đỏ là vì âm dương lại tranh giành nhau rồi dồn cả ra dương phận ở bên ngoài, nên mới gây thành chứng trạng như vậy.
Nói là:
“Ký túc ở tôn lạc, thì sinh ra nhức đầu, ty nục và phúc thũng...” Đó là vì khí của Dương mỉnh dồn lên trên. Trên tức là thuộc về tôn lạc của Thái âm. Nên mới gây thành các chứng trạng như vậy.
_ Ở Thải âm, nói là:
“Sẽ phát bệnh trướng” vì Thái âm thuộc Tý, tháng mười một, khí của muôn vật đều thâu tàng vào trong, nên phát bệnh trưởng.
Nói là:
“Chạy lên Tâm thành chứng ợ...” Vì Âm khí thịnh dồn lên trên Dương minh; “lạc” của Dương minh lạc thuộc Tâm, nên thành chứng ợ.
Nói là:
“Ăn vào thì oe” là vi vật chứa ở bên trong đầy ràn quá mà sinh ra.
Nói là:
“Nếu được đại tiện hay trung tiện thì sẽ đễ chịu...” Vì tới tháng mười hai, Âm khí suy ở dưới Dương khí muốn tiết ra đằng trên, nên dưới cũng có tiết được ra mới đễ chịu,
Ở Thiếu âm, nỏi là:
“Sẽ phát yêu thống...” Vì Thiếu âm tức là Thận. Về tháng mười, Dương khí đều bị thương, nên mới yêu thống.
Nói là:
“Âu, khái, thượng khí vả suyễn” là vì Âm khí ở dưới, Dương khí ở trên. Dương khí phù lên trên, không nương tựa vảo đâu, nên phát chứng như vậy.
Nói là:
“Mọi việc đêu không thể làm, không thể đứng lâu, ngồi lâu; đứng lên thì mắt tờ mờ trông không tỏ...” Đó là vì muôn vật âm dương không định, chưa có chủ, khí thu mới đến, sương thu mới xuống, muôn vật túc sái, âm dương bị đoạt, nên mới thành các chứng như Vậy.
Nói là:
“Ít khí và hay nộ...” Đó là vì khí của Thiếu dương không thông đạt ra bên ngoài, do đó Dương khí không tiết ra được, Can khí cũng vì vậy mà không được thư xướng nên mới sinh ra hay nộ. Chứng đó gọi là tiên quyết.
Nói là:
“Thường sợ sệt như sắp bị người bắt...” Đó là vì: Dương khí bên trong ít đi, Âm khí bên ngoài lọt vào, hai khí cùng xung đột, nên mới thường sợ sệt.
Nói là:
“Ngữi mùi thức ăn thì ghét...” Đó là vì VỊ không có khí nền thành như vậy.
Nói là:
“Sắc mặt đen sạm” là vì khí bị đoạt ở bên trong, nên huyết sắc ở bên ngoài cũng biết đi mất.
Nói là:
“Khái thì lại có huyết...” Đó là vì Dương mạch bị thương. Dương khí chưa thịnh ở bộ phận trên mà mạch lại mãn. Mãn thì khái, mà thường khi lại ra cả đăng mũi.
Ở Quyết âm, mà nói là:
“Phát các chứng bệnh điên, sán; đàn bà thũng ở Thiếu phúc v.v...” Đó là vì Quyết âm thuộc Thìn. Tháng ba, Âm tà sinh ra ở trong dương, nên mới thành chứng điền, sán vả thũng ở Thiếu phúc..
Nói là:
“Sinh ra các chứng đôi, long, sán...” (Đều là tên các chứng khó tiểu tiện) là vì: Về tháng đó Âm khí thịnh, khiển cho mạch phát trướng không thông, nên sinh chứng như vậy.
Nói là:
“Quá lắm thì “ách Can” và “Nhiệt trung...” là vì: Âm dương cùng xung đột nhau, sinh ra nhiệt. Vì sinh ra nhiệt nên mới thành chứng Nhiệt trung và ách Can.
Chú Giải
- Thiên này bàn về chứng bệnh kỳ hằng, phàm sáu mươi ngày đầu. Vì khí của Tam âm, Tam dương đều chủ về 60 ngày làm đâu, sảu sáu: 36 ngày thành một năm. Âm dương sáu khí đều có thịnh suy, mà lại đều có thể gây bệnh cho kinh mạch. nên thiên này tiêu lên hai chữ "mạch giải” đề nói rõ mạch giải dây chuyên về chứng bệnh kỳ hằng, không giống với bệnh mạch kinh thường khác, Dâu mỗi đoạn, đều có hai chữ: "nói là”, chính vì những bệnh trạng đó đo một "cỗ kính" phát mỉnh ra, mà đây Kỳ Bá chỉ giải cho rõ thêm. Thái dương với các kinh dương khác đều chủ về khí, mà khi đỏ sinh ra ở trong "thủy” tại Bảng quang. Che nên lẫy khí Thải đương làm đầu năm. Tháng giếng, Dương khí... Tuy sinh xuất ở trên, mà cái khí âm hàn còn thịnh ở dưới Dương khí chưa thê theo thứ tự mà tiết ra được, nên mới sinh ra các chứng bệnh ở trên.
Chương năm mươi · Thích Yêu Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Xin cho biết phần cốt yếu của phép thích.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh có phù trầm, thích có nông sâu. Phải cho đúng nhẽ, đừng. có trái đạo. Thái quá thì nội thương. Bắt cập thì gây sự nghẽn tắc ở ngoài, tả khí sẽ do đó mà lần theo. Sâu nông không đúng, lại gây vạ lớn. Bên trong phạm vào năm Tăng, rồi sau sinh bệnh lớn.
Cho nên nói:
Có thứ bệnh ở hảo mao (trong lòng), tấu lý, có thứ bệnh ở bì phu, có thứ bệnh ở cơ nhục, có thứ bệnh ở mạch, có thứ bệnh ở cân, có thứ bệnh ở cốt, có thứ bệnh ở tủy.
Thích ở bì đừng làm thương đến nhục. Nếu thương đến nhục thì bên trong sẽ động vào tý. Động vào tý thì qua bảy mươi hai ngày, về bốn tháng cuối mùa, sẽ sinh ra bệnh phúc trướng, phiền, không muốn ăn,
Thích ở nhục đừng làm thương đến mạch. Nếu thương đến mạch thi trong sẽ động vào Tâm. Động vào Tâm thì mùa hạ phát bệnh Tâm thống.
Thích ờ mạch đừng làm thương đến cân. Nếu thương đến cân thì bên trong sẽ động vào Can. Động vào Can thì mùa xuân sẽ phát bệnh nhiệt và gân lỏng.
Thích ở cân đừng làm thương đến cốt. Nếu thương đến cốt thì bên trong sẽ động đến Thận. Động đến Thận thì mùa đông sẽ sinh bệnh trướng và yêu thống.
Thích ở cốt đừng làm thương đến tủy. Nếu thương đến tủy thì tiêu thước và đau nhức trong ống chân... Thân thê cũng rã rời mỏi mệt.
Chú Giải
- Tỳ vượng về những tháng cuỗi mùa, mỗi tháng 18 ngày. Bốn tháng thành 72 ngày. Gặp những ngảy đó sẽ phát bệnh.
Chương năm mươi mốt · Thích Tễ Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hôi:
– Xin cho biết rõ sự nhất định của phép thích nên nông, nên sâu thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thích ở cốt đừng làm thương đến cân; thích ở cân đừng làm thương đến nhục; thích ở nhục đừng làm thương đến mạch; thích ở mạch đừng làm thương đến bì; thích ở bì đừng làm thương đến nhục: thích ở nhục đừng làm thương đến cân; thích ở cân đừng làm thương đến cốt),
P..c - Xin cho biết rõ.
– “Thích ở cốt đừng làm thương đến cân...” là nói: nếu châm vừa đến nhục đã thôi ngay mà chưa vào đến cân. “Thích ở nhục đừng làm thương đến mạch” là nói: nếu châm vừa đến mạch đã thôi mà chưa vào đến nhục. '*“Thích ở mạch đừng làm thương đến bị” lả nói: Nếu châm vừa đến bì đã thôi, mà chưa vào đến mạch.
Như nói:
"Thích ở bì đừng làm thương đến nhục” là bệnh ở trong bì, châm cũng chí để vào đến trong bì, đừng phạm vào đến nhục.
Nói:
“Thích ở nhục đừng làm thương đến cân..." là vì hễ quá nhục thì sẽ tới cân ngay. Nói: “Thích ở cân đừng làm thương đến cốt...” là vì hễ quá cân thì sẽ tói cốt ngay. Đó tức là trái.
(Đoạn trên này nói về phép thích, cốt ở chừng mực, không nên bất cập hoặc thái quá.
Mạch đạt mà huyết ít, là đo mạch có phong khí, nước uống vào ít, huyết không có sự trợ ích.
Phàm thực, là do ở khí hút vào, hư là đo ở khí tiết ra. Khí thực là nhiệt, khí hư là hàn.
Nếu dùng châm để tả thực. thì tay tả làm rộng ở huyệt vừa châm. ra. Nếu dùng châm để bổ hư, thì tay tả làm vít ở huyệt vừa châm lại.
(Đoạn trên này nói về phép thích, cốt ở không nên bất cập hoặc thái quả.
Chú Giải
- Rến câu trên nói về: "Nên sâu thì đừng nông", ba câu dưới nói về: "Nên nông thì đừng sâu". Đó tức là "phải đúng lẽ, đừng có trái đạo.
- Và phép dùng châm, tay hữu cằm châm, tay tả "điểm huyệt" tức là lấy hai ngón tay nhúm lầy chỗ huyệt mà mình định châm lên; khi dùng châm để tà thực thì dùng tay tã làm cho rỗng thêm cái hỗng vừa châm, cho khí tiết ra. Nếu là bỗ hư thì vít ngay lại, cho khí khỏi tiết. Đó tức là trong khi bố tả, đê cho khí khai hợp cùng ứng như vậy.
Chương năm mươi hai · Thích Cấm Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
- Xin cho biết:
về pháp thích, có chứng cấm (ky) gì?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tàng có các chỗ yếu hại, phải xét cho kỹ, Can sinh ra ở bên tả, Phế sinh ra ở bên hữu. Tâm giữ bộ phận ở Biểu, Thận chủ trị ở lý. Tỳ là một cơ quan như chức sứ, VỊ là một cơ quan như nơi chợ. Phía trên Cách, Hoang, - trong có cha mẹ (tức âm dương). Bên cạnh đốt xương thứ bây, trong có Tiểu tâm”). Thuận theo thời lành, trái ngược thời dữ??, ra
Thích trúng Tâm, một ngày chết. Lúc mới phát động, là chứng ợ (ợ do Tầm; tức Tâm khí tuyệt.
– Thích trúng Can, năm ngày chết. Lúc mới phát động là nói luôn miệng.
– Thích trúng Thận, sáu ngày chết. Lúc mới phát động, là chứng xị (hắt hơi.
– Thích trúng Phế, ba ngày chết. Lúc mới phát động là chứng ho.
– Thích trúng Tỳ, mười ngày chết. Lúc mới phát động là chứng thôn (nuốt nước miếng). Tỳ chủ về Diên (nước miếng). Tỳ khí tuyệt, không thể thắm rưới ra bốn bên, nên sinh chứng như vậy.
Thích trũng Đởm, một ngày rưỡi chết. Lúc mới phát động, là chứng âu (oe.
– Thích trên phụ (xương khoai) trúng vào đại mạch, huyết ra không dứt, sẽ chết.
– Thích ở mặt, trúng Lưu mạch, bất hạnh sẽ thành chứng manh (tức thong manh, mắt không hỏng mà không trông thấy, vì mạch này chẵng lên mắt.
Thích ở đầu, trúng vào não bộ (huyệt của Đốc mạch) chạm vào não, sẽ chết.
. - Thích ở dưới lưỡi (huyệt Liêm tuyên), trúng vào mạch mà thái quá, huyết ra nhiều, sẽ ấm (tựa như câm, không nói được.
– Thích Bố lạc ở dưới chân, đã trủng mạch, mà huyết không ra, sẽ thành thũng.
– Thích ở Khích (tức Uý trung), trúng đại mạch - sẽ ngất đi, sắc mặt bợt.
– Thích ở Khi nhai, trúng mạch, huyết không ra, sẽ xưng ở hai huyệt Thử, Bộc giáp nhau.
– Thích ở tích (đường xương sống), trùng tuỷ sẽ thành chứng sù lưng.
– Thích ở trên vú, trúng Nhũ phòng, sẽ xưng - rồi loét ra.
– Thích ở huyệt Khuyết bồn, trúng Nội hãm, khí sẽ tiết ra, thành chứng xuyễn, khái nghịch.
– Thích huyệt Ngư phúc ở tay, mạch hãm vào trong, sẽ thành thùng.
– Đừng thích lúc quá say, khiến người khí loạn; dùng thích lúc quá giận, khiến người khí nghịch; đừng thích lúc quá nhọc, đừng thích lúc vừa ăn no, đừng thích lúc đương đói, đừng thích lúc đương khát, đừng thích lúc quá sợ.
– Thích âm cổ, trúng địa mạch, huyết ra không dứt, sẽ chết.
– Thích huyệt Khánh chủ nhân, hãm vào trong trúng mạch, sẽ thành chứng nội lậu (nước chảy từ trong tai ra), chứng điếc.
– Thích ở xương đầu gối, rỉ ra nước, sẽ thành chứng bá (thọt, chân cao chân thấp.
– Thích mạch Thái âm ở tay, ra huyết nhiều, chết ngay, - Thích ở Ứng, trúng huyệt Hãm trung, phạm vào Phế, sẽ thành chứng xuyễn, nghịch, - Thích ở khuỷu tay, không tả được tà, khí lại về theo sẽ không co ruồi được (khuỷu tay, tức huyệt Xích trạch thuộc Thủ thái âm.
– Thích ở phía dưới âm cỗ ba tắc mà nội hãm, khiến người thành chứng đi niệu (són đái.
– Thích ở dưới nách, khoảng Hiếp mà nội hãm, khiến người phát khái.
– Thích ở Thiếu phúc, trúng Bàng quang, nước tiêu ra rồi mà Thiếu phúc vẫn hư mãn.
– Thích ở bọng chân mà Nội hãm. sẽ thũng.
– = Thích ở mi mắt, mà hãm vào mạch Cốt trung, sẽ thành chứng lậu, hoặc thong manh.
– Thích ở trong các quan tiết (khớp xương) mà có nước ri ra, chân tay sẽ không co ruôi được,
Chú Giải
- nên cạnh đốt xương thứ bảy, tức là khoảng Cách du, "tiểu" là nói =ự nhõ nhặt. "Trong có tiêu lâm”, là nói: Tâm khí tiết ra khoảng đó, rất vị tế, không thể nghịch - thích. khiến Tâm khí bị thương. Bởi, bối là Dương, Tâm là dương ở trong Thái dương. Phảm khí của Tảng phủ đêu do Cách mà ra, chỉ có Tâm khí là dẫn lên ở Du.
- Khí của Tàng phủ đều từ trong Cách mà ra. Nếu nghịch thích Tâm khí, thời sẽ thương Tảm; nghịch thích Can khí thời sẽ thương Can..., Chứ không phải châm trúng hăn vào Tâm hay Can, mới là bị thương đâu. t Tâm là Thái dương ở trong Dương, Phế là Thiếu âm ở trong Dương, Can là Thiếu dương ở trong âm... Ba Tàng đỏ đều là Dương tảng, nên chết về những ngày 1, 3, 5, thuộc số lẻ. Thận là âm ở trong Thái âm, Tỳ là chỉ âm ở trong ầm, cho nên chết về những ngày 6 và 10, thuộc số chẵn, #® Mạch Thái âm ở cánh tay, tức là Phê mạch, Phế chủ, về thông hành vinh vệ âm dương. Cờ huyết ra nhiều, thời Doanh, Vệ không tiếp tục được nữa, nén mới chết ngay.
Chương năm mươi ba · Thích Chí Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết cái cốt yếu của hư, thực....
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí thực thời hình thực, khí hư thời hình hư, đó là lẽ thường. Trải lại thế sẽ sinh bệnh.
Cốc (thức ăn) thịnh thời khí thịnh, cốc hư thời khí hư, đó là lẽ thường. Trái lại thế sẽ sinh bệnh.
– Thế nào là trái?
– Khí hư mà thân nhiệt, thế là trái. Cốc nạp nhiều mà khí ít, thế là trái. Cốc không nạp mà khí nhiễu, thế là trái. Mạch thịnh mà huyết ít, thế là trái. Mạch ít mà huyết nhiễu, thế là trái.
– Khí thịnh mà thân hàn, gọi là thương hàn; khí hư mà thân nhiệt gọi là thương thử.
Cốc nạp vảo nhiều mà khí ít, sở dĩ có tình trạng như vậy, là do có sự thoát huyết, thấp khí lưu trệ ở bộ phận dưới. Cốc nạp vảo ít mà khí nhiều, đó là bởi tà tại Vị và Phế.
Mạch tiểu mà huyết nhiều, là do uống nước vào đều hoá thành nhiệt (huyết). Mạch dạt mà huyết ít, là do mạch có phong khí, nước uống vào ít, huyết không có sự trợ ích.
– Phàm thực, là do ở khí hút vào, hư là đo ở khí tiết ra. - Khí thực là nhiệt, khí hư là hản.
Nếu dùng châm để tả thực, thời tay tả làm rộng ở huyệt vừa châm ra. Nếu dùng châm để bỏ hư, thời tay tả làm vít ở huyệt vừa châm lại,
Chú Giải
- Về phép dùng châm, tay hữu cảm châm, tay tả "điểm huyệt" tức là lấy hai ngón tay nhím lấy chỗ huyệt — mà mình định châm lân; khi dùng châm để tả thực thời dùng tay tả làm cho rỗng thêm cái hông vừa châm, cho khí tiết ra. Nếu là bỗ hư thời vít ngay lại, cho khí khỏi tiết. Đó tức là trong khi bô tả, để cho khí khai hợp cùng ứng như vậy.
Thiên 54–62 · Châm Giải Thiên → Điều Kinh Luận Thiên
Chương năm mươi tư · Châm Giải Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết phép dùng cửu châm (chín thứ châm) và thế nào là hư thực
Kỳ Bá thưa rằng:
– “Khí hư thì bỗ cho thực”, tức là đợi cho khi nào khí đến dưới châm đã nóng mới thôi, vì khí thực thì nhiệt, “Khí mãn thì làm cho tiết", tức là đợi cho khi nào khí đến dưới châm lạnh mới thôi. Vì khí hư thì hàn. “Uất tích thì trừ đi", tức là dùng châm cho tiết bỏ ác huyết.
"Tà thăng thì làm cho nó hư đì”. vậy khi rút châm ra đừng bỏ vết châm lại để cho tà khí cứ theo đó mà tiết ra.
Như nói:
“Thong thả mà nhanh thì sẽ thực”, tức là lúc rút châm thì thong thả, nhưng sau khi châm rút ra hết rồi, kịp vít ngay vết châm lại. Như nói: "Nhanh mà thong thả thì sẽ hư”, tức là rút châm ra nhanh mà thong thả mới lấy tay vít chỗ châm lại.
Nói:
“Thực với hư" tức là nhận xem khí đến ở dưới châm lạnh hay ẩm thì biết là khí nhiều hay ít,
Khí ở con người hư hay thực, như có như không, phải yên tĩnh đề nhật xét, nếu vội vàng không thể sao biết được.
Bệnh có gốc ngọn, trị bệnh cũng phải có gốc ngọn. Có phân biệt được gốc ngọn, mới mong trị được bệnh.
Hư thì làm cho thực, thực thì làm cho hư, về phép bố tả, phải giữ cho dùng.
Cái cốt yếu của sự hư thực, đối với phép dùng cửa châm, rất là tỉnh vỉ huyền ảo, nhưng cũng theo cái lẽ đương nhiên thôi.
Trong khi hoặc bổ hoặc lá, thì sự khai hạp của khí cũng phản ứng theo (tức như trên đã nói). l
Phàm chín thứ châm, danh và hình đều không giống nhau, có thế mới đầy đủ được phương pháp bỗ và tả.
Thích vào thực, muốn hư, hãy lưu châm, chờ Am khí đến dưới:
châm nhiều rồi, sẽ rút châm.
Thích vào hư, muốn cho thực, chờ Dương khí đến dưới châm nhiều rồi, sẽ rút châm,
Như nói:
“Kinh khí đã đến, cần giữ đừng lỡ...”, tức là đừng để cho khí lại thay đổi trái khác, mới mong khỏi bệnh.
Như nói:
“Sâu nông ở chí...”, tức là đã biết rõ bệnh ở trong hay ngoài, đê dùng châm hoặc sâu hoặc nông cho đúng.
Như nói:
''Xa gần như một. tức là lúc thích sâu hay nông phải có nhất định.
Như nói:
“Tay như năm con hê”, tức là nói dùng châm phải vững vàng, không nên hấp tấp.:
Như nói:
“Thần không thể nào mọi vật...”, tức là bảo người dùng châm phải yên tĩnh để xem xét bệnh nhân, không nền để tâm vào việc khác.
Vậy lúc cẦm châm để châm cho bệnh nhân, phải đoan trang yên tĩnh, dùng mắt của mình trông vào mắt của bệnh nhân, khiến bệnh nhân chú ý vào mình, nhờ ở đó mà khí lưu hành được để dãi.
Bì (da) của người, ứng với trời; nhục của người ứng với đất; mạch của người ứng với người; cân của người ứng với thì (mùa: tiếng của người ứng với âm: dương của người hợp với khí và ứng với luật răng và mặt, mắt của người ứng với tính (sao); khí ra vào của người ứng với phong (gió); chín khiếu và ba trăm sáu mươi nhăm lạc ứng với đã (khu vực.
Cho nên châm số I để châm bì, châm số 2 để châm nhục, châm số 3 để châm mạch, châm số 4 để châm cân, châm số 5 để châm cốt, châm số 6 để điều âm dương, châm số 7 để ích tỉnh, châm số 8 để trừ phong, châm số 9 để thông chín khiếu và trừ 365 khí ở các tiết. Vì vậy, nên nói các châm đó đều có “*sở chủ.
Tâm, ý của con người ứng với tám gió (gió của tám phương; khí của con người ứng với trời; tóc, răng, tai, mắt và ngũ thanh của Con người ứng với năm âm, sáu luật; âm, dương, mạch và huyết khí của con người ứng với đất; Can và mục của con người ứng với số cửu (tức chín). Can khai khiếu lên mắt, nên hợp gọi là “can mục. Can thuộc Mộc, Mộc sinh ra bởi số 3. Ba nhân với ba tức là số chín.
Chú Giải
- Án: Ở dưới tiết này còn một tiết đếm được 123 chữ, theo bản chú giải của Vương Băng, Trương Ân Am và Mã Nguyên Đài đều công nhận là do bản chép rách nát, thiếu sót, nên lộn xộn không thành câu kệ gì... Đành khuyết bỏ không chủ giải. Nên đây dịch giả cũng thôi không dịch.
Chương năm mươi lăm · Trường Thích Tiết Luận Thiên
Kinh Văn
Thích gia không cần phải chân, chỉ nghe bệnh nhân nói, cũng có thê thấu được bệnh tình.
Bệnh tại đầu, nhức đầu, dùng “tàng châm” để thích. Thích tới cốt, bệnh khỏi, sẽ thôi. Phàm thích, đừng làm thương đến cốt nhục và bì. Bì là con đường để châm??),
Phàm trị về hàn nhiệt, phải dùng âm thích. Thích vào chính huyệt một châm, thích vào bàng huyệt bốn châm. Nếu bệnh nặng vả lâu, nên điều trị Đại Tàng. Phàm thích Đại Tàng, nên thích ở lưng mà cho gần tới Tàng. Bởi Du huyệt của Tàng ở lưng. Thích ở Du mà gần tới Tảng, thì Tàng khí với châm sẽ hợp nhau, mà chứng hàn nhiệt ở trong phúc sẽ bài trừ hết. Nhưng cái cốt yếu của phép thích, không nên đề cho huyết ra quá nhiều, chỉ phát châm nông cho huyết ra ít thôi.
Trị chứng ung thũng (mụn, sưng, nát), nên thích ngay trên ung. Trồng xem ung lớn hay nhỏ, để định sự thích sâu hay nông. Thích ung lớn, nên cho ra nhiều huyết, thích ung nhỏ, nên để nông châm. Phải giữ châm cho thật ngay, đừng đề phạm đến thịt lành. Thích vừa đúng chỗ có máu mủ thì thôi.
Bệnh tại Thiếu phúc, có vật uất tích. Nhận ở Thiếu phúc, chỗ nảo da “cồn dầy” lên thì thích. Lại thích ở hai bên đốt xương, Tân du sống thứ tư, thích ở hai bên yêu cốt, hai bên hiếp lặc... Để dẫn cho nhiệt khí ở trong phúc do dưới chầm mà tiết ra, ý xá, kinh môn.
Bệnh tại Thiếu phúc, phúc thống không đại, tiêu tiện được, gọi là sán. Thích ở Thiếu phúc, hai đùi, yêu và khỏa cốt... Thích để mũi châm lâu sẽ rút ra, nhiệt khí tiết ra hết, bệnh sẽ khỏi.
Bệnh tại cân, cân rút, khớp đau, không thể đi được, gọi là cân tý. Vì thế phải thích ở trên cân, thích ở khoảng phận nhục, nhưng không được để trúng vào xương... Cân đã thư, bệnh sẽ hết; cân đã nóng, bệnh sẽ khỏi và thôi không phải thích nữa.
Bệnh tại cơ phụ, cơ phụ đều đau, gọi là cơ tý. Bệnh này gây nên bởi hàn thấp, phải thích ở đại phận nhục, tiêu phận nhục. Châm nhiều huyệt và sâu, để cho khí nhiệt dẫn đến. Nhưng đừng làm thương đến cân cốt. Nếu thương đến cân cốt, sẽ biến thành chứng nan hoán (tay chân rã rời, bất toại bên tả, hoặc bên hữu), chờ bao giờ các phận nhục nhiệt đều, bệnh sẽ khỏi và thôi không phải châm,
Bệnh tại cốt, cốt nặng không thể cử động được. Cốt tủy toan thống, do hàn khí phạm vào, gọi là cốt tý. Phải thích sâu, đừng làm thương đến mạch và nhục. Vĩ con đường của nó phải đi qua đại, tiêu phận nhục. Khi não trong cốt nóng đều, bệnh khỏi, sẽ thôi không phải châm.
Có chứng bệnh, lúc mới, thường mỗi năm phát sinh một lần; nếu không chữa, dần dần đến mỗi tháng một lần, hoặc ba bốn lần... Gọi là bệnh điên, Thích ở các phận nhục, các mạch. Nếu không có chứng hản, thì dùng châm để làm cho điều hòa, bệnh khỏi sẽ thôi không phải châm.
Bệnh thuộc về phong vừa hàn, vừa nhiệt; nhiệt hãn toát ra, mỗi ngày vài lần. Trước hãy thích vào các phận lý, lạc mạch. Nếu hãn văn ra, mà vẫn cứ vừa hàn vừa nhiệt, thì ba ngày thích một lần; thích tới trăm ngày thì thôi,
Bệnh đại phong (tức lệ phong), các khớp xương nặng nẻ, râu, mày rụng. Vì vậy. thích ở cơ nhục, để cho hãn ra, quá một trăm ngày: thích ở cốt tuỷ, để cho hãn ra, một trăm ngày; tất cả trước sau hai trăm ngày, được râu và lông mày mọc lại, thì không châm nữa®,
Chú Giải
- “?Tàng tức là giấu kín. Giấu kín cái châm đi để hơi hỡ mũi châm.
- Ở đầu, bì nhục rất mỏng, rất dễ phạm vào xương. Cho nên, phải khéo thế nào: thích đến xương mà không chạm vào xương; thích nông ở ngoài bì mà lại không thương đến bì. Mà bì lại là con đường châm tất phải đi qua. Nông quá thì thương bì, sâu quá thì thương cốt, lơ lửng ở giữa khoảng sâu nông thì lại thương nhục... Vậy thích ở đâu mới lại là một điền kiện rất khó. Nếu đối với sự khó mà làm được không khó, thì đối với cái đễ lại cảng dễ... Thích gia có thể coi thường được sao? t Đương lúc bệnh phát mà hãn ra, đó là bởi tà với chính cùng xung đột nhau; nếu vì thích mà hãn ra, đó là vì làm cho có hăn, để tà theo hăn mà tiết ra.
- Đại phong hay lệ (tại) phong tức là chứng phong hủi. Nó đo cơ nhục mà thăng phạm vào cốt tủy, nên cốt tiết nặng nề. Vì nó ở bộ phận cơ nhục, mà nhăm đúng vào nơi huyết khí của hai mạch Xung, Nhâm, nên rầu và lông mày rụng. Vì tà, thoạt tiên phạm vào cơ nhục, nên thích ở cơ nhục trước, đê lẫy hãn, qua một trăm ngày rồi, mới thích vào bộ phận cốt tủy để lẫy hãn, lại thêm một trăm ngày nữa, cộng là hai trầm ngày, mới thôi không thích.
- Theo phép thích, "thích vào cốt, đừng làm thương đến tủy", giờ vì cai độc của "lại phong” nó vào quá sâu, nên thích vào tủy tới trăm ngày, mà không đến nỗi quá tiêu thước, đó tức là đúng với nghĩa câu: hữu cố, vô vẫn = có bệnh. bệnh sẽ chịu, không chết vậy.
Chương năm mươi sáu · Bì Bộ Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
_, - Tôi nghe bì (đa) có phận bộ, mạch có kính kỷ, cân có kết lạc, cốt có độ lượng... Chủ về bệnh đều có khác nhau. Vậy tà, hữu, trên, dưới và âm, dương ở đâu, sinh ra bệnh trước sau thế nào, xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
.- - Muốn biết bì bộ, phải dùng kinh mạch để ghi nhớ. Các kinh khác đều như vậy.
Dương lạc của Dương minh gọi là Hai phi. Trên dưới (tức Thủ, túc Dương mỉnh) cùng một phép xét nhận. Hễ thấy trong bộ phận, có “phù lạc” hiện lên, tức là lạc của Dương minh. Trông xem sắc của nó, nếu xanh nhiều là “thống”, đen nhiều là “tý”, hoàng và xích là nhiệt, trắng nhiều là hàn. Nếu năm sắc đều hiện là vừa hàn vừa nhiệt. Ở lạc mà thịnh (nhiều) sẽ dẫn vào kinh?. Dương chủ về bệnh ở ngoài, âm chủ về bệnh ở trong.
Dương lạc của Thiếu dương gọi là Khu trì. Trên dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phì lạc” hiện lên, tức là lạc của Thiếu dương. Lạc thịnh thì dẫn vào kinh. Cho nên ở dương thì chủ dẫn vào, ở âm thì chủ dẫn ra, để lại thấm vão trong. Các kinh khác đều như vậy.
Dương lạc của Thái dương gọi là Quan khu, trên dưới cùng một phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên tức là lạc của Thái dương. Lạc thịnh thì dẫn vào kinh.
Âm lạc của Thiếu âm gọi là Quan khu. Trên dưới cùng một — phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là lạc của Thiếu âm. Lạc thịnh thì dẫn vào kinh. Khi dẫn vào kinh, qua dương bộ để rót vào kinh; khi dẫn ra, đo âm bộ rót vào trong cốt,
Âm lạc của Tâm chủ gọi là Hạ kiên. Trên dưới cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có phù lạc hiện lên, tức là lạc của Tâm chủ. Lạc thịnh thì dẫn vào kinh. (“Trên” tức thủ Quyết âm Tâm chủ, “dưới” tức túc Quyết âm Can.
Âm lạc của Thái âm gọi là Quan trập. Trên dưới cùng phương pháp. Hễ thấy trong bộ phận có “phù lạc” hiện lên tức là lạc của Thái âm. Lạc thịnh thì dẫn vào kinh.
Phàm lạc mạch của mười hai kình, đều có hiện ra ở bì bộ.
Xem đó thì biết:
Trăm bệnh khi mới phát sinh đều trước từ bì mao. Tà trúng vào nó thì tấu lý mở ra. Tấu lý mở ra thì phạm vảo lạc mạch. Nếu cứ để nó ở đó mà không tà bỏ đi, thì nó sẽ truyền kinh. Vào kinh mà vẫn để vậy, thì nó lại truyền vào Phủ, và ký túc ở Trường, VỊ.
Tà khí mới phạm vảo bì mao, thì các chân lông đều “sẵn” cá lên, rồi tấu lý mở ra mà dẫn vào lạc. Khi vào lạc thì lạc mạch thịnh, sắc biến đi. Khi dẫn vào kinh, thì khí của Tàng Phủ bị hư mà lõm xuống. Nếu lưu ở khoảng cân cốt, hàn nhiều thì cân rút, cốt đau; nhiệt nhiều thì cân trùng, cốt tiêu, thịt sút, xương khoai nứt nẻ, lông tóc cứng thằng. các bại chứng đều phái sinh.
– Mười hai bộ của bì, phát sinh bệnh thể nào?
– Bì là bộ phận của mạch. Tà phạm vào bì thì tâu lý mở ra, do đó tà phạm vào lạc mạch; lại do lạc mạch phạm vào kinh mạch. Kinh mạch mãn thì phạm vào Tàng, Phủ. Vậy biết bì cũng có bộ phận, vì khi bất cập mới gây bệnh, nên bệnh lớn.
Chú Giải
- Luồng mạch đi thăng mà ở sâu gọi là kinh; luồng mạch nổi hiện lên ở trong da là lạc. Muốn biết phận bộ của bì, nên nhận ở lạc mạch là cái mình có thê trông thấy được để phân biệt. Nhưng vẫn phải lấy kinh mạch làm tiêu chuẩn. Bởi "lạc" chỉ là con đường "nhánh" của "kinh", như kinh mạch của Phế, dẫn đi ở khoảng Ngư tế, Thiên trạch, Nhu lặc, vậy ta cứ dò ở các nơi đó để tìm nhận lạc mạch của Phế... Mà cái "bì" ở bên ngoài nơi lạc mạch hiện lên đó, tức là bộ phận của Phế làm chủ. Ta trông sắc nó, nếu xanh nhiều là thuộc hàn, hoàng hoặc xích là thuộc nhiệt. Lạc hư thì dẫn vào kinh. Kinh “mãn” thời ký túc luôn vào Phế Tàng... Mười hai kinh kia đều như vậy.
- Phàm tà trúng vào con người, bắt đầu từ bì phu, rồi đến lạc mạch. Nếu cứ lưu ở đó, sẽ truyền vào kinh. Nên nhận xét cái sắc của phù lạc ở bì bộ, có thê biết được chứng hậu ra sao. Tà ở lạc đã thịnh mà không "tả" bỏ đi, nó sẽ dẫn vào kinh. Tà ở bộ phận Dương minh, sẽ phát sinh chứng hậu của Dương minh, tại các kinh kia cũng vậy.
- Đây nói về kinh lạc chia ra âm dương và nội ngoại. K?h nói: "Nội -__ có âm dương, "ngoại” cũng có âm dương. Về ngoại, bì phu là dương, cán cốt là âm. Cho nên hiện ra ở ngoải bì phu mà lạc, thuộc dương; mà chủ về bệnh ở bên ngoài. Chăng vào trong khoảng cân cốt là kình, thuộc âm, mà chủ về bệnh ở bên trong. Đoạn này lại nói về kinh khí từ trong mà dẫn ra ngoài. Năm Tàng trong hợp với năm hành, tức là âm dương của đất. Sáu kinh ngoài hợp với sáu khí, tức là âm dương của trời. Sáu khi của trời, hợp với năm hành của đất ở dưới; năm hành của đất, hợp lên với sáu khí của trời. Vì vậy, khí của sáu kỉnh ở ngoài, theo khí dương mà dẫn vào trong; khí của kình mạch ở trong, theo khí âm mà dẫn ra ngoài. Ra tới bì phu, lại do bì phầ mà dẫn vào cơ nhục cân, cốt để thắm nhuẫn vào mạc nguyên của Tàng Phủ, rôi lại suốt thăng vào Tàng, Phủ. Đó là sự tuần hoàn của kinh mạch.
- Đoạn này, nói về sự tuân hoàn của mạch khí, đo kinh dân ra, lại từ ngoài dẫn vào mà "rót" vào cốt. Các kinh đều thế. Trên đây nói về ba kinh ầm, mà Thiếu âm lại chủ về mùa đông và cốt, nên lại thuật lại cho rõ.
- Câu: "Khí dẫn vào kinh, qua đương bộ để rót vào kinh..." Đó là nói về tà khí từ ngoài dẫn vào. Câu: "Khi dẫn ra, do âm bộ rót vào trong cốt...
- Đó là nói về chính khí từ trong dẫn ra ngoài.
Chương năm mươi bảy · Kinh Lạc Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Lạc mạch hiện ra năm sắc khác nhau. Sở dĩ có sự không giống nhau đó, là vì sao?
Kỳ Bá thưa răng:
– Kinh có thường sắc, còn lạc thì biến dịch rất không thường.
– Thế nào là thường?
– Tâm đỏ, Phế trắng, Can xanh, Tỳ vàng, Thận đen. Đó là mạch sắc thường của các kinh.
– Âm dương của lạc, có ứng với kinh không?
– Sắc của âm lạc có ứng với kinh, sắc của dương lạc, biến đổi không thường, theo bốn mùa mà dẫn đi.
Hàn nhiêu thì “đọng rit”. Đọng rít thì hiện ra sắc xanh và đen; nhiệt nhiều thì “loãng chảy”); loãng chảy thì hiện ra sắc vàng vả đỏ. Nếu năm sắc cùng hiện ra một lúc, sẽ thành bệnh vừa hàn vừa nhiệt.
Chú Giải
- Đây nói về: Âm lạc ứng với kinh mạch mà thành năm sắc. Dương lạc theo bốn mùa mà thành năm sắc. Âm lạc tức là lạc của sáu âm kinh, ứng với kinh của năm Tảng, đều có thường sắc mà không biến đổi; Dương lạc tức là lạc của sáu dương kinh, theo với sắc của bốn mùa đẻ biến đổi... Đó đều là cái lẽ thường của bốn mùa năm hành, mà đều là vô bệnh. Nếu ở trong bốn mùa, mà lạc của năm Tàng thấy hiện ra xanh đen thì là hàn, vàng đỏ thi là nhiệt. Vương Tấn Phương nói: Dương là thiên khí, chủ về bên ngoài; âm là địa khí chủ về bên trong. Sáu Phủ là dương, ngoài ứng với khí Tam dương:
- năm Tảng là âm, trong hợp với năm hành của đất. Vì vậy, dương lạc theo bốn mùa của trời; nên sắc biến đỗi không thường, mà bên trong thời thông với năm Tàng. Năm Tàng ứng với năm hảnh, mà ngoài hợp với Tam dương. Đó là sự “hỗ tương” giao hợp với Tàng, Phủ, Âm, Dương.
- Ấn: "Đọng rít", nguyên Hán văn là “ngưng sắp". Còn "loãng chảy, nguyên Hán văn là cháo trạch. Dịch nghĩa như vậy, chỉ là "gượng”. Vậy về sau, xin cứ địch nguyên âm cho tiện.
Chương năm mươi tám · Khí Huyết Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Tôi nghe khí huyết có ba trăm sáu mươi nhăm huyệt để ứng với một năm. xin cho biết rõ ra làm sao? Kỳ Bá thưa rằng:
– Bối với Tâm cùng rút nhau vào mà đau, nên trị ở Thiên đột, Thập trùy với Thượng ký. Thượng kỷ tức là vị quản; Hạ kỷ tức là quan nguyên!.
Tà khí ở bối và hung, nó liên lạc với âm dương, tả hữu như vậy, phát sinh ra bệnh tiền hậu đau và rít, hung hiếp đau không thê thở, không thể nằm, khi ngược lên ngắn hơi và thiên thống. Mạch của nó =nhỉnh to ra", lệch sang, cầu mạch, chẳng qua hung, hiếp, rẽ vào tâm suốt lên cách, vòng lên vai, qua Thiên đột, lệch xuống dưới vai, hỗ giao ở dưới thập chùy (đết xương sống thứ mười.
Về Tùng cầu có 50 huyệt:
Mỗi Tàng có 5 huyệt, 5 lần 5 là 25 huyệt. Mỗi huyệt lại chia làm tả hữu 2 huyệt, nên mới thành 50 huyệt.
Phủ có 72 huyệt:
L) Sáu Phú, mỗi Phủ 6 huyệt, 6 lần 6 là 36. Mỗi huyệt lại chia làm tả hữu 2 huyệt, nên mới thành 72 huyệt.
Nhiệt du 59 huyệt(1):
1) Ở trên đâu có 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, thành 25 huyệt; Dại chữ. Ưng du, Khuyết bồn, Cết du, mỗi huyệt có 2, thành huyệt; Khi nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, mỗi huyệt có 2, thành huyệt; Vân môn, Ngu cốt, Ủy trung, Tủy không, mỗi huyệt có 2, thành huyệt; bên cạnh Du của năm Tàng, đều có 2 huyệt, thành 10 huyệt. Hợp cả lại thành 59 huyệt.
Thủy du 57 huyệt(1):
1) Trên xương “khu” 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt thành 25 huyệt;
trên Phục thô đều có 2 hàng, mỗi hàng có 5 huyệt, thành 20 huyệt; trên Khỏa đều có I hàng, mỗi hàng có 6 huyệt, thành 12 huyệt. Tổng cộng thành 57 huyệt. Trở lên cộng 59 huyệt.
Trên đầu 5 hàng, mỗi hàng 5 huyệt, thành 25 huyệt(:
1) Trên đây lại nói về huyệt của Nhiệt du một lần nữa. vì Nhiệt du tức cũng là khí huyết. Do ở nó “eó thể lấy khí, có thể tả nhiệt”, lại có thế khiến nhiệt tà theo khí mà tiết ra, cho nên dưới đây lại nói: “Nhiệt du tại khí huyết.
Hai bên Trung lữ đều có 5, thành 10 huyệt. Trên hai bên Đại trùy, đều có l, thành 2 huyệt. Phù bạch bên đồng tử mắt có 2 huyệt. Lưỡng bể áp hai huyệt. Độc ty 2 huyệt. Huyệt đa sở văn ở sau tai, huyệt. Hạng trung ương 1 huyệt. Châm cốt 2 huyệt. Thượng quan huyệt. Đại nghĩnh 2 huyệt. Hạ quan hai huyệt. 23 Thiên trụ 2 huyệt.
Cự hư, Thượng, Hạ liêm 4 huyệt. Khúc nha 2 huyệt. Thiên đột I huyệt. Thiên Phủ 2 huyệt. Thiên đũ 2 huyệt. Phù đột 2 huyệt. Thiên song 2 huyệt. Kiên giải 2 huyệt. Quan nguyên 1 huyệt. Ủy dương huyệt. Kiên trinh 1 huyệt. Âm môn 1 huyệt. Tế 1 huyệt. Hung dư 1 huyệt. Bối dụ 2 huyệt. Ưng du 12 huyệt. Phận phục 2 huyệt. Khỏa thượng hoành 2 huyệt. Âm, Dương kiều 4 huyệt.
Thủy du ở các phận nhục; nhiệt Du đại khí huyết; hàn nhiệt Du tại “lưỡng hài
Áp trung 2 huyệt.
Một huyệt đại cấm (cắm rất ngặt) 25 thích, ở dưới huyệt Thiên Phủ 5 tắc.
Hoàng Đế nói:
– Tôi đã được biết rõ khí huyết ở những nơi đâu, nhờ có cách dùng châm rất được đễ dàng. Nhưng còn tôn lạc và khê, cốc tương ứng như thế nào, xin cho biết...
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tôn lạc có 365 huyệt hội, cũng để ứng với một năm, vừa để thông vinh, vệ, có khi lại sinh những bệnh lạ lùng.
Nếu vinh, vệ bị ngừng đọng. Vệ tán, vình tràn, khí kiệt, huyệt nghẽn, thi bên ngoài sẽ phát hàn nhiệt, bên trong thỉ thành thiểu khi... Phải “tả” ngay đừng chậm, để cho vinh, vệ lại được giao thông. Vậy thấy sắc lạc hiện lên thì tả ngay, không cần phải xét đến “sở hội, ho.
Hoàng Đế hồi:
– Xin cho biết huyệt hội của khê, cốc thế nào?
Xỳ Bá thưa:
– Nơi đại hội của nhục gọi là cốc, nơi tiểu hội của nhục gọi là khê, ở trong khoảng phận nhục và nơi hội của khê cốc, là để hành vinh, vệ, để tụ hội đại khí.
Tà nhiều, khí nghẽn, mạch; nhiệt, nhục bại, vinh vệ không lưu hành được, sẽ phải hóa thành mủ; trong làm tiêu hao cốt tủy, ngoài làm nứt vỡ bọng chân... Rồi lưu hành mãi ở các khớp xương, sẽ cùng gây nên tật bệnh.
Hàn tích ở bên trong vinh, vệ không thuận, thịt nhăn, gân co, khuỷu tay không duỗi ra được. Bên trong thành chứng cốt tý, bên ngoài thành chứng bất nhâm. Gọi là “bất túc” đó là bởi khí đại hàn ngừng trệ ở khê, cốc mà gây nên.
Khê và cốc, 365 huyệt hội, cũng để ứng với một năm. Nếu khí vít tầm thường, chí tràn lan đi lại ở trong mạch, châm nhẹ có thể tới, thi phép châm cũng như các nơi khác. Vậy về mạch tôn lạc, cũng còn thứ khác hăn với kinh mạch. Nếu huyết thịnh cân phải tà bỏ đi, cũng cỏ 365 mạch, đều rót vào lạc, rồi lại truyền sang 12 lạc mạch, chứ không chỉ riêng có 14 mạch lạc mà thôi.
Chú Giải
- Trên đây nói Tâm, tức là bao quát cả Tâm hung. Bối thuộc dương, phúc thuộc âm, Đốc mạch vòng ở lưng, "tổng đốc" toàn thể khí dương ở thân hình; Nhâm mạch vòng ở phúc, "thỗng nhậm" toàn thể khí âm ở thân hình. Đoạn này chỉ nói về hai khí Âm Dương, đều thuộc về chuyên chủ của hai mạch Đốc, Nhâm, rồi mới nói đến khí của âm dương đều có huyệt riêng làm nơi phát nguyên cả.
- Đoạn này nỏi: Cái tả hàn nhiệt, đều do khí phận mà ra. Trăm bệnh khi mới phát sinh, đều phát sinh bởi phong, vũ, hản, thừ, Phong với thử là khí dương nhiệt của trời; vũ với thủy là khí âm hàn của đất. Cảm cái khí hàn nhiệt của trời đất, thì phát bệnh tại âm dương của con người. Vậy cải tà ở khí phận phải đo khí phận mà ra, nên thiên này gọi là Khí “huyệt luận. Đỏ là nói: Trở lên 365 độ, để ứng với cái khí số của chu thiên, đề mà "thủ khí" và "tả tà". "Các phận nhục", tức là đại, tiêu phận nhục và khí phận ở bì phu cơ tấu. "Khí huyệt” tức là nơi vinh, vệ, khí huyết "rót" cả vào đấy. "Lưỡng hài" và "Áp trung" hai huyệt, tức là huyệt Dương lăng toàn của túc Thiếu dương. Phàm khí của mười một Tàng, Phủ đều "thủ quyết" ở Đờm, vì Thiếu dương chủ về cái khí sơ sinh, Cho nền về khí hàn nhiệt, chuyên "lẫy" ở lưỡng hài và Áp trung... Đủ chứng tỏ răng: Dù ở Tàng, dù ở Phù, cái tà hàn nhiệt đều theo khí của Thiếu dương đẻ thăng giáng.
- Huyệt nảy tức là huyệt Ngũ lý thuộc thủ Dương minh Đại tràng kinh. Nếu thích ở huyệt này tới 25 thích, thì khí của năm Tảng sẽ kiệt mà chết, nên phải đại cắm. Tông cộng ba trăm sáu mươi lăm huyệt, đều là nơi dùng châm đẻ. thích(.
- Án: Từ huyệt Thiên đột, Thập trùy, Thượng ký, Quan nguyên... Đến Áp trung, cộng được 564 huyệt, mà tựu trung còn có nhiều chỗ trùng phúc, chắc vì lâu ngây sách vở rách nát thiếu sót nên mới thành nhự vậy. Nhưng cũng không biết kê cứu vào đâu để bỗ khuyết chỗ đó. Nên trên đây đành để là một đoạn khuyết nghi.
- Tần lạc bên ngoài thông với bì phu, bên trong liền với kinh mạch đề giao thông với vinh, vệ. Cho nền hễ tà phạm vảo, thì vỉnh, vệ ngưng đọng, không thể cùng lưu hành được với nhau, do đó khí bị kiệt mà huyết bị nghẽn. Tà khí ở bên ngoài thì phát hàn nhiệt; ở bên trong thì thành thiêu khí. Phải dùng châm tả ngay đi để cho vinh, vệ lại được giao thông. Vậy hễ thấy chỗ nảo huyết lưu sắc biến thì thích ngay, không cần phải hỏi huyệt hội của nó ở đâu nữa.
- Về nhục (thì có chia ra đại phận và tiểu phận. Dại phận như thịt ở cánh tay, bắp đùi, đều có giới hạn, tiểu phận như bên trong cơ nhục đều có văn lý (thớ, khe). Nhưng đường lối đù khác nhau ra vẫn cùng hội hợp với nhau. Vậy cái nơi đại phận, tức là cái nơi đại hội; mà nơi tiêu phận, tức là nơi tiêu hội; Trong khoảng "phận. hội" đó, cốt để giao thông cái khí của vinh, vệ. Nên mới gọi là khẽ, cốc. Đại khí tức!à Tông khi.
- Vĩnh khí phát sinh tự Trung tiêu do cái chất tính của thủy cốc chảy rần vào trong mạch, phân tán ra ngoải mạch, Cái thứ chuyên ở kinh, thi dẫn đi ở trong kinh toại (luồng mạch). Kinh toại lả đại lạc của vị, cùng một công đụng với các đại lạc của nãm Tảng sáu Phủ; Vậy vinh khí có một phân lưu hành ở trong mạch, cũng lại cỏ một phản lưu hành ngoài mạch, lại có một phần cùng với Tông khí phát sinh bởi Kinh toại của vĩ, rồi "rót" vào đại lạc của năm Tảng, đê dẫn ra ngoài khoảng Cơ tâu. Hai thứ khí đó vẫn cùng hội hợp, cho nên nói: “Đề hành vinh vệ, để hội đại khí...", Tiết trên nói về vinh khi ở trong mạch. cùng vệ khí giao thông ở khoảng tôn lạc, Tiết này nói về cải vinh khí phân tán, cùng với vệ khí, tông khí, đại hội ở ngoài phận nhục. Nghĩa là vệ khí thông vảo trong mạch và vinh khí dẫn hành ở ngoài mạch vậy.
- Dây là nói: ngoài 14 mạch lạc, còn 12 mạch lạc. Mười bến mạch lạc, tức là mạch của 12 Tàng, Phù và hai mạch Nhâm, Đốc. Cộng với 14 đại mạch. Còn 12 mạch lạc tức là chính kinh của 12 Tạng, Phủ. Vậy là 12 chính kinh, với 14 đại lạc cùng thông mà 14 đại lạc cùng 365 lạc cùng thông. Sự giao thông rất phức tạp, nếu không tính, không sao nhớ được.
Chương năm mươi chín · Khí Phủ Luận Thiên
Kinh Văn
Mạch khí của túc Thái dương phát ra 78 huyệt. Hai đầu lông mày, mỗi bên một huyệt. Từ khoảng tóc tới cổ, ba tắc rưỡi, bên cạnh có 5 huyệt, cùng cách nhau ba tắc.
Thây phù khí hiện lên ở trong bì (đa), có 5 hàng, mỗi hàng có huyệt. Năm lân năm, thành 25 huyệt. Hai bên đại cân ở cổ, mỗi bên có một huyệt; hai bên phong Phủ, mỗi bên có một huyệt. Từ hiệp bối trở xuống đến Cưu vĩ 21 tiết, khoảng đốt thứ 15, đều có một huyệt; Du của năm Tàng, mỗi Tàng đều có năm Du; Du của sảu Phủ, mỗi Phủ đều có sáu Du. Từ Ủy trung trở xuống đến cạnh Túc tiểu chỉ đều có sáu Du,
Mạch khí của túc Thiểu dương phát ra 62 huyệt. Trên hai góc đầu (giác), mỗi bên đều có hai huyệt; từ mắt thẳng lên phát tế, đều có năm huyệt; phía trước tai đều có một huyệt; phía sau tai đều có một huyệt, dưới Nhuệ phát đều có một huyệt; dưới Khách chủ nhân đều có một huyệt; chỗ lõm phía sau tai đều có một huyệt; ở Hạ quan, đều có một huyệt; dưới tai, phía sau Nha sa (quai hàm) đều có một huyệt; ở Khuyết bồn đều có một huyệt; ở dưới nách ba tắc, từ Hiệp đến Khư, tám khoảng, đều có một huyệt; bên cạnh Bễ khu đều có một huyệt; từ đầu gối đến ngón chân thứ hai đều có sáu Du.
Mạch khí của túc Dương minh phát ra 68 huyệt; đầu, trán và cạnh phát tế đêu có ba huyệt; hai bên Cầu cốt không đều có một huyệt; nơi cốt không của huyệt Đại nghinh đều có một huyệt; tại Nhân nghinh đều có một huyệt; tại Khuyết bần ngoài Cốt không đều có một huyệt: tại Ưng trung gian đều có một huyệt; bên ngoài Cưu vỹ phía dưới vú 3 tắc, giáp Vị oản đều có 5 huyệt. Giáp tê quãng ba tắc đều có ba huyệt; tại Khí nhai động mạch đều có một huyệt; tại trên Phục thổ đều có một; từ Tam lý trở xuống đến ngón chân giữa đều có tám Du.
Mạch khí của thủ Thái dương phát ra 36 huyệt. Phía trong đầu mặt đều có một huyệt; phía ngoài mắt đều có một huyệt; dưới Cầu cốt đều có một huyệt; trên vành tai đều có một huyệt; trong tai đều có một huyệt; tại huyệt Cự cốt đều có một huyệt; tại trên Khúc dịch đều có một huyệt; tại chỗ lõm trên Trụ cột, đều có một huyệt; tại Kiên giải, đều có một huyệt; dưới Kiên giải ba tắc, đều có một huyệt; trên Thiên song bốn tắc, đều có một huyệt; từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay út đều có sáu Du.
Mạch khí của thủ Dương minh phát ra 22 huyệt. Từ Ty không ngoại liêm đến trên cỗ đều có hai huyệt, tại Dại nghĩnh cốt không đều có một huyệt, tại nơi hội của Trụ cốt đều có một huyệt, tại nơi hội của Ngu cốt đều có một huyệt, từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay cái, đều có sáu Du.
Mạch khí của thủ Thiếu dương phát ra 32 huyệt. Dưới Cứu cốt đều có một huyệt, sau lông mày đều có một huyệt, trên “giác” đều có một huyệt, phía sau Hạ hoàn cốt đều có một huyệt, giữa cô, phía trước huyệt của túc Thái dương, đều có một huyệt; tại cạnh Phù đột đều có một huyệt; tại Kiên trinh, đều có một huyệt; dưới Kiên trinh khoảng dưới ba tắc đều có một huyệt; từ khuỷu trở xuống đến cuối ngón tay vô danh đều có sáu Du.
Mạch khí của Dốc mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng giữa cô đều có hai huyệt, sau Phát tế có tám huyệt, tại giữa mặt có ba huyệt, từ Đại trùy trở xuống đến Cầu vĩ và bên cạnh có 15 huyệt. Về phép kiểm nhận tích trùy (đốt xương sống), từ Đại trùy trở xuống đến Đề cốt, cộng 21 đốt, (trên Đại trùy có ba đốt nữa, cộng thành 24 đốt. Có người nói là ứng với 24 khí.
Mạch khí của Nhâm mạch phát ra 28 huyệt. Khoảng giữa hầu hai huyệt: tại Ung trung cốt, Hãm trung đều có một huyệt, tại dưới Cưu vĩ hai tắc, tại Vị oản 5 tấc; từ Vị oản trở xuống đến Hoành cốt một tắc rưỡi, linh một phân. Đó là Phúc mạch pháp vậy (phép chân mạch tại phúc bộ); tại Hạ ầm riêng có một huyệt, dưới mắt đều có một huyệt, dưới môi có một huyệt, tại “lợi” răng có một huyệt.
Mạch khí của Xung mạch phát ra 22 huyệt. Ngoài Cưu vĩ mỗi bên đều nửa tắc, đến khoảng rốn, cùng cách nhau một tắc, đêu có một huyệt. Từ bên cạnh rốn trở xuống, mỗi bên đều có 5 phân, đến Hoành cốt một tắc, có một huyệt. Đó là Phúc mạch pháp vậy.
Mạch của túc Thiếu âm phát ra ở dưới lưỡi. Cấp mạch ở mao trung Quyết âm đều có một huyệt.
Thủ Thiếu âm đều có một huyệt.
– Âm, Dương kiêu đều có một huyệt:
Mạch khí phát ra ở thủ, túc Ngư tế, cộng ba trăm sáu mươi lãm huyệt.
Chương sáu mươi · Cốt Không Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỗi rằng:
– Tôi nghe: Phong là một thứ bất đầu sinh ra trăm bệnh. Dùng châm để điều trị, nên như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Phong từ ngoài vào, khiến người rét run, hãn ra, đầu nhức, mình nặng, ô hàn. Nên trị tại Phong Phủ, làm cho âm dương điều hòa. Bắt túc thì bổ, hữu dư thì tả.
Đại phong phạm vào người, khiến cho gáy, cô đau, nên thích ở Phong Phủ. Huyệt Phong Phủ tại thượng trùy (Phong Phủ tức là huyệt của Đốc mạch.
Đại phong phạm vào người, hãn ra, cứu ở huyệt Y hy. Huyệt Y hy tại dưới bối, cách đường xương sống ba tắc, lấy tay áp mạnh vào, bảo bệnh nhân kêu to lên hai tiếng “Y hy”, huyệt sẽ bật lên ở dưới tay.
Nếu thấy giỏ mà ghê gió, thích ở đầu lông mày.
Nếu gáy đau không gỗi được, thích khoảng Hoành cết tại trên vai.
Nếu lưng đau như gãy xuống, dùng tay buông thõng xuống, ngang với đầu khuỷu tay, chiếu ra xương sống, sẽ cứu ở đấy.
Đau ở Diễu lạc, Quý hiếp, rút ra Thiếu phúc, vừa đau vừa trưởng, thích ở huyệt Y hy.
“Yêu” đau không thể cúi ngửa, đau rút xuống âm noãn, thích ở Bát giao.
Chứng thử lậu. phát hàn nhiệt, thích ở Hàn Phủ. Huyệt Hàn Phú tại gần huyệt Giải vinh ở đầu sối. Nếu muốn lấy huyệt Ủy trung tại sau gối (khuỷu. Kheo) thì bảo đứng “vái” (vì đứng vải thì ưỡn thăng kheo ra, đễ lấy huyệt); muốn lẫy ở Túc tâm thì bảo quy (Túc tầm tức là huyệt Dũng toàn. Quỳ thì chỉa hăn lòng bàn chân ra, thấy được huyệt ngay.
Nhâm mạch phát sinh từ phía dưới Trung cực lên tới Mao tế, vòng phúc lý, lên quan nguyên. đến Yết hầu. qua mép vòng lên mắt.
Xung mạch phát sinh từ Khí nhai, cùng với kinh Thiếu âm qua Tế dẫn lên, đến hung thì chia đi.
Nhâm mạch mắc bệnh, ở con trai bên trong kết thành bây chứng sán, ở con gái sinh chứng đại hạ và Giả tụ. Xung mạch mắc bệnh, khí nghịch và lý cấp. Dốc mạch mắc bệnh, xương sống cứng và đau như cây.
Đốc mạch phát sinh từ Thiếu phúc, ở khoảng giữa hạ cốt. Về con gái, buộc vào Định không (tức âm hộ), chỗ “không” đó, tức là góc của Niệu không. Lạc của nó, vòng Âm khí, hợp với Thoán gian; quanh ra Thoán hậu, chẳng xuống diễn, đến Thiếu âm với Cự đương. Vẻ Trung lạc hợp với Thiếu âm, dẫn lên phía sau về, xuất lên “ích rồi nối vào Thận. Cùng với mạch của kinh Thái dương khởi ở phía trong đầu mắt, lên trán, qua đỉnh đầu, chằng vào óc, rồi quanh xuống cô, vòng xuỐng vai, qua tích đến yêu, giáp với lữ và chăng vào Thận. Về con trai, theo hành (tức sinh thực khí) đến thoán, cũng phong con gái. Một đường do Thiếu phúc dẫn lên, qua giữa rốn, suốt tâm, tới hầu, lên mép, vòng môi rồi buộc lên phía dưới hai mắt. Bệnh phát sinh ở mạch này, từ Thiếu phúc xung lên Tâm mà đau, không đại tiêu được, đó gọi là xung sán; ở con gái thì không thụ thai. Nếu phát ở tiền, hậu âm thì sẽ là các chứng long (tiêu buốt). Trĩ. di nịch và ách Can. Đốc mạch phát bệnh, trị ở Đốc mạch, huyệt tại Cết thượng, quá lắm thì thích ở Tễ hạ Doanh.
Nếu thượng khí trở thành tiếng, trị ở giữa hâu, hoặc tại giữa Khuyết bồn. Nếu bệnh xung lên hàu, nên trị ở tiệm. Tiệm là nơi phân chỉ của Đốc mạch, ờ gần mép.
Đầu sối như bận bịu khó eo duỗi, nên trị ở “Kiền":
ngỗi mà đầu gối đau, nên trị ở “Cơ” (Kiền với Cơ tức là chỗ cơ quan, khớp xương). ứng mà thấy nóng ở trong xương, nên trị ở Hài gian. Đầu gối đau, đau suốt xuống ngón chân cái, nên trị ở Quắc trung. Ngồi mà đầu gói đau như vật gì bảm vào nên trị ở Quan. Dầu gối đau không thể co duỗi nên trị ở Bối nội. Dầu gối đau suốt xương ống như muốn gãy. trị ở Dương minh, Trung du đao. Nếu muốn trị sang nơi khác thì trị ở Cự đương, Thiêu âm Doanh. Ông chân đau nhức không thê đứng lâu, trị ở Duy của Thiếu dương, huyệt nảy tại trên Ngoại khỏa 3 tấc.
Trên Phụ CỐT, dưới Hoành cốt là Bễ. giáp Khoan là Cơ, tất giải là Hài quan, cái xương liền với gối là ' iên hải, trên Hài là Phụ, trên Phụ là Quắc, trên Quặc là Quan. x.ơng năm ngang phía sau đầu là Châm.
Thủy du có năm mươi bảy huyệt là:
Trên chân có năm hàng, mỗi hàng năm huyệt; trên Phục thổ có hai hàng, mỗi hàng năm huyệt: tả hữu mỗi bền đều cỏ một hàng, mỗi hàng năm huyệt; trên khỏa dêu có một hàng, mỗi hàng có sáu huyệt.
Huyệt Tủy không, tại sau não ba phân và tại dưới Í.ô tế, Nhuệ cốt. Một đường tại dưới Ngân cơ, một đường tại dưới Trung phục cốt phía sau cô, một đường tại nơi rông không ở Tích cốt; và tại trên phong Phú dưới nơi rỗng không ở Tích cốt, lại ở nơi rồng không tại dưới Cầu cốt. Vài huyệt Tủy không tại mặt gân mũi hoặc ở miệng. xuống gắn hai vai. Cốt không ở hai bắp tay, tại cạnh bắp tay. Ty côt không ở cạnh tý, cách khỏa bến tắc, ở vào khoảng giữa hai cốt không. Cốt không của về ở cạnh về, phía trên gối bốn tấc. Yêu tế cốt không tại phía động mạch áp chân lông. Cầu cốt không tại phía sau Bễ cốt. cách nhau bốn tắc. Biên cốt (thử xương đẹp, như xương mặt, không có Tủy không, không có địch tủy (thay đổi tủy) nhưng bên ngoải cũng có cân mạc và các chất thâm nhuân, một loại với các xương khác,
Về phép cứu chứng hàn nhiệt, trước cứu Đại trùy ở cô, tính theo tuổi là “tráng” (mỗi lượt gọi là mỗi tráng, như 10 tuổi thì 10 tráng v.v...). Rôi cửu đến Quyết cốt (tức Vĩ cùng, đều thuộc Đốc mạch, cũng tính “tráng” như trên. Trông xem chỗ lõm ở Bối du, đê cứu ở đó. Cứu ở đầu Hoa cốt trên ngoại khoa. Cứu ở chỗ khe ngón chân út với ngón vô danh giáp nhau. Cứu ở hãm mạch dưới bọng chân. Cứu ở phía sau ngoại khỏa. Án tay vào trên xương Khuyết bồn, thấy cứng và đau như mới có cái gân nỗi lên, nên cứn ngay ở đó. Cứu ở khoảng hăm cốt tại Ưng trung. Cứu ở dưới Thúc cốt tại bàn tay. Cứu ở dưới ba tắc huyệt Quan nguyệt tại dưới rốn. Cứu ở động mạch tại mao tế. Cứu ở dưới xương đầu gối ba tắc. Cứu ở động mạch thuộc túc Dương minh tại trên xương khoai. Cứu ở đỉnh đầu một tráng. Nơi chó cắn, cứu ba tráng; đó tức là lây phương pháp trị bệnh chó căn đề cứu.
Phàm nên cứu, tông cộng 29 huyệt. Lại có thể dùng phương pháp cứu thương thực đê cứu.
Nếu chưa khỏi, nên nhằm cái kinh của nó hướng về dương, thì nên luôn thích ở Du và cho uống thuốc thêm?.
Chú Giải
- Đây nói về bệnh thử lậu, vốn phát sinh từ khí âm của thủy Tàng, mà giao với khí dương của Tuất hỏa. Như dùng danh từ "thử (chuột) và danh từ "khuyên" (chó) là trỏ cái thủy tà Thiên Ất thuộc Tý, với cái hỏa tả của bảo lạc thuộc Tuất... Hai cái đó cùng hợp lại để gây nên tai vạ. "Nơi chó căn" tức là bọng chân. Cạnh bọng chân tức là nơi quản hạt của mạch kinh Thiểu đương. Phía trên Thiếu dương, tướng hòa làm chú. Khí của Thiếu dương hợp với bảo lạc mà thành hỏa. Nên mới ngay nơi đó để cứu. Lại xem như người bị chó căn, đôi khi cũng phát hàn nhiệt, như chứng thử lậu, đó tức thuộc vẻ "bất nội ngoại nhân". Khác hăn với chứng hàn nhiệt thuộc ngoại cảm nên không thể trị ngoài biểu. Nghệ Xung Chỉ nói: Có một chứng mọc mụn lên ở cô rồi sưng, đau, vỡ nát, nếu là chứng "lậu” do ngoại cảm thì dễ chữa. Nếu ở phía dưới cô, mọc lên súc sỉu như chuỗi tràng hạt, không sưng, không đau, gốc nó từ Tàng. Đến khi vỡ ra, thấy lộn có những mạch máu đỏ... Thuộc về chứng chết.
- Đây nói chứng thử lậu, nếu mọc choán ra đến ưng hầu, thì nên cứu theo bệnh thương thực. Về bệnh chứng thử lậu, nếu phát sinh ở cô, đó là nơi quân hạt của kinh mạch Thái dương và Thiếu dương. Nếu lại choản tới ưng ì hầu thì thuộc về quản hạt của kinh Dương minh, mà hành chứng Mã đao và Hiệp anh. Nên phải dùng phép cứu bệnh Thương thực đề cứu bệnh này.
- Bệnh thử lậu vốn phát sình từ âm Tàng, mà chứng trạng lại hiện ra ở cễ hoặc nách, thuộc địa hạt của Tam dương, nên phải cửu tất cả các huyệt thuộc địa hạt đó. Vậy mà vẫn không khỏi, đỏ là vì âm độc quá thịnh, nên lại phải tìm xem cải kinh của nó đi qua dương phận tại nơi nào, thì thích vào Du ở nơi đó cho tiết bỏ độc. Rồi lại phải dùng thuốc để trị thêm. Đó mới là hoản toàn vậy.
- Ở đâu nói chứng thử lậu, không khác về cận đại nói chứng "dịch hạch,
Chương sáu mươi mốt · Thủy Nhiệt Huyệt Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Thiếu âm sao lại chủ về Thận? Thận sao lại chủ về thủy?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thận, thuộc về Chí âm; Chí âm là nơi để chứa thủy, Phể thuộc về Thái âm. Thiếu âm mạch thuộc về mùa đông. Cho nên gốc nó ở Thận mà ngọn nó là Phế. Đều là những nơi chứa nước.
– Thận sao lại có thể tụ được thủy mà sinh ra bệnh?
– Thận là cửa của VỊ, vì “quan môn” không lợi nên mới tụ thủy và theo về cùng loải của nó?, - Làm quá sức nhọc mệt; thì Thận hãn toát ra. Thận hãn toát ra mà gặp gió, trong khỏng thể lọt vào Tảng Phủ; ngoài không thê vượt ra bì phu. Khách” ở Huyễn Phủ, dẫn đi ở trong bì, truyền làm chứng phủ thũng, gốc nó ở Thận, gọi là phong thủy, Huyền Phủ tức là lỗ hông cho hãn toát ra.
Hoàng Đế hôi:
– Thủy du năm mươi bảy nơi, nó chủ về ơi?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thận du năm mượi bảy huyệt. là nơi tụ của tích âm, thủy đo đó mà ra vào. Tại cầu thượng có 5 hàng, mỗi hàng có 5 huyệt, đều là Thận du. Cho nên, thuy dẫn xuống thành phù thũng., ở Đại phúc thành chứng thở suyễn. không thể nằm. Vì "tiểu, bản” đều mắc bệnh, nên mới có chứng “suyến thở" và "phù thũng”, do thủy khí Không Du chuyên mà gây nền,
Trên Phục thô có hai hàng, mỗi hàng năm huyệt. Đó là khí nhai của Thận, và là nơi giao kết tại chân của ba kinh âm.
: Trên “khỏa” đều có một hàng. mỗi hàng sáu huyệt. Đó là đường lối dẫn xuống của Thận mạch, gọi là Thái xung. Tất cả 57 huyệt đỏ đêu là âm lạc của Tàng. mà thủy “khách vào đó.
Hoàng Đề hói:
– Mùa xuân thích ở lạc mạch, phận nhục, là vì cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mùa xuân. hành Mộc mới bắt đầu thống trị, Can khí mới sinh. Can bấm thụ cái khí phong Mộc, nên "“cấp, tật” (kíp. chóng), Kinh mạch do Đông lệch phục Tàng ở sâu. giờ gặp xuân khí mới ra. nên khí còn ít. Vậy dùng châm. không thể vào sâu. đề lẫy ở kinh, mà chỉ lấy ''nông” ở nơi lạc mạch phận nhục.
– Mùa hạ thích ở thịnh kinh và phận tấu, là vì sao?
– Về mùa hạ. hành Hỏa mới trị thì Tâm khí mới sinh trường. Mạch còn non, khí còn yếu. Dương khí ữ ràn, nhiệt hun phận tâu. bên trong lân vào tới Kinh. Cho nên phải thích ở kinh phận tâu. Làm đứt hắn lỗi đi của tà ở ngoài bì phu vì là nó còn ở chỗ nông. Trên nói là "thịnh kinh”, vì dương đương thịnh ở đó.
– Mùa thu, thích ở kinh du, là vì sao?
– Vẻ mùa thu, hành Kim mới trị thì, Phể khí sắp thâu sái. Kim khí sắp phát triển, Dương khí ở nơi hợp, Âm khí mới sinh ra. Thấp khí nhiễm vào thân thể, Ấm khí chưa toàn thịnh, chưa thể vào sâu, cho nên thích ở Du đề tả Âm tà, thích ở Hợp để hư Dương tà. Dương khí mới suy, nên thính ở Hợp®', - Mùa đông, thích ở tỉnh, vinh là vì sao?
– Về mùa đông, hành Thủy mới trị thì Thận mới “bể" (đóng, như đóng cửa), Dương khí suy ít, Âm khí thịnh nhiễu. Cự dương phục trầm, dương mạch cũng lánh dương phận để quy phụ về bền trong. Cho nên thích ở tình để hạ khí âm nghịch xuống, thích ở vinh để làm cho Dương khí được đây đủ. Cho nên có câu răng: “Mùa đông thích ở tỉnh. vinh; mùa xuân không sinh chứng cừu nục” là vì lẽ đó,
Hoàng Đế hỏi:
– Phu Tử nói trị nhiệt bệnh 59 Du, là những gì? Xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Trên đầu năm hàng, mỗi hàng có năm huyệt để làm vượt bỏ nhiệt nghịch của chư dương. Đại chữ, Ưng du, Khuyết bồn, Bối du, tám huyệt đó (vì mỗi huyệt chia làm hai bên, mỗi bên một huyệt, mới thành tám), để tả bỏ nhiệt ở trong hung. Khí nhai, Tam lý, Cự hư, Thượng hạ liêm, tám huyệt đó (cũng như trên) để tả bỏ nhiệt ở trong vị. Vân môn, Ngu cốt. Ủy trung, Tủy không. tám huyệt đó (như trên đề tả bỏ nhiệt ở tứ chỉ.
Bên cạnh Du của năm Tàng đều có năm huyệt, 10 huyệt đó để tả bỏ nhiệt của năm Tàng. Phảm 59 huyệt trên đó, đều theo nhiệt ở tả hữu để tả.
– Người bị thương về khí hàn mà truyền thành bệnh nhiệt, là vì sao?
– Vì hàn quá thì sẽ thành nhiệt,
Chú Giải
- Thận chủ về Hạ tiêu, Bằng quang làm Phù, khai khiêu ra Nhị âm (tiền âm, hậu âm). Cho nên Thận khí hóa thì Nhị âm thông lợi; Thận khí không hóa thì Nhị âm bí vít. Nhị âm vít thì nước uống vào VỊ sẽ bị rằn... Cho nên trên đây nói: "Thận là cửa của VỊ". Cửa đóng thì khí bị dừng lại; khí dừng lại thì nước bị ủ; nước ử lại thì sẽ quá nhiễu; nước quả nhiều thì khí sẽ ngập tràn. Nên mới nói: "Quan môn không lợi, sẽ tụ thủy mà theo về cùng loài của nó.
- Vật gì nguyễn không có mà đến, gọi là khách, trái với chủ. Như phong khách ở bì phu, vì bì phu vốn không có phong, giờ phong từ ngoài mới nhập vào, nên gọi là khách. Trong Đông y dùng chữ “khách” đề giải thích bệnh rất nhiều, vì nó có ý nghĩa hay, nên đây giải nghĩa rõ, để sau đây dùng nguyên văn cho tiện.
- Trên đây nói về “tiêu, bản" đều mắc bệnh. Thận là bản mà Phê là tiêu. Tại Phế thì thành chứng thở suyễn, tại Thận thì thành chứng phủ thũng; Phể bị khí nghịch nên không thể năm. Bởi Thận du vòng qua Câu cốt mà đi trở xuống, lại vòng qua phúc mà trở lên trên Phế, giờ về thủy khí lưu ở kinh du, mới gây nên chứng hậu như vậy, phàm thứ huyết hữu hình thì lưu hành ở trong mạch, thứ khí vô hình thì lưu hành ở ngoài mạch. Vì vậy, cái thủy hữu hình cũng lưu hành ở khoảng khí phận vô hình, cái thủy khí vô hình lại lưu hành ở trong mạch hữu hình. Thuy theo kinh mà xuất hiện ở trên dưới, mà thủy khí cũng theo kinh mà lưu ở trong mạch, Cho nên, về chứng phù thũng ở Đại phúc, đó là do con đường "xuất, nhập, nội. ngoại" của thủy; còn thở suyên không thê năm, đó là đo "thủy khí nghịch lên ở trong mạch.
- Về phương pháp thích, có thích ở bì, nhục, cần, cốt sâu nông khác nhau. Bệnh có phù trầm nên thích có thiển, thâm. Bốn mùa cũng vậy, phải theo khí sâu nông để dùng châm sâu nông. Như trên đầy là thích ở nông.
- Về mùa thu muốn Vật đều "sái", cái khí thanh tú săn thăng viêm nhiệt, Dương khí mới "giáng" và lưu ở cái Phủ nó hợp. Còn cái Ám khí của Tàng mới sinh mà chưa thịnh. Về tiết Lập thu, Thái âm thấp Thổ chủ khí, cho nên thấp khí mới nhiễm vào thân thể, nhưng vì Âm khí chưa thịnh nên chưa có thể dùng châm để thích vào sâu. chỉ thích ở Du thượng đẻ tả bỏ cái thấp của Thái âm, thích ở Hợp đề làm "hư" bớt cái tà ờ dương Phủ.
- Trở lên nói về thích chứng phong thủy 57 Du, mà lại có sự phân biệt của bốn mùa.
- Ở đất là hành Thủy, ở trời là khí hàn; hàn cực thì sinh nhiệt. Vậy nhiệt sinh ra bởi hàn. Nên bài này một là: Thủy nhiệt huyệt luận.
Chương sáu mươi hai · Điều Kinh Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hồi:
– Ta nghe nói về phép thích '“hữu dư thì tà. bất túc thì bố”, vậy thế nào là hữu dư và bất túc?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Lưu dư có năm loại, bất túc có năm loại. Vậy Hoàng Đề muốn hỏi về loại nào?
– Xin cho biết câ.
– Thần. có hữu đư, có bất túc; huyết, có hữu dư, có bất túc; hình, có hữu đư, có bắt túc... Tất cả 10 loại đó, khí đều không giỗng nhau.
Hoàng Đề hói:
– Người có tỉnh, khí, tân dịch. tứ chí, cửu khiếu. năm Tàng, mười sáu bộ. ba trăm sắu mươi tiết... Bây giờ mới sinh ra trăm bệnh. Trăm bệnh sinh ra đều có hư thực. Giờ Phu Từ lại nói "hữu dư, bất túc” đều có năm, vậy lấy gì để sinh ra trăm bệnh?
– Đều sinh ra bởi năm Tàng. Nghĩ như: Tâm tảng thần, Phế tàng khí, Can tàng huyết, Tỳ tàng nhục. Thận tảng chí... Đề gây thành hình ấy. Chỉ khí thông với nhau, trong liền với cốt tủy, rồi sau mới thành được thân hình. Cái đường lối của năm Tàng, đều ra từ kinh toại, đề lưu hành khí huyết. Nếu khí huyết không điều hòa, trăm bệnh sẽ biển hóa sinh ra. Vậy về phương pháp điều trị, cần phải chú trọng về kinh toại.
– Thần, hữu dư và bắt túc, thì thế nào?
– Thân hữu dư thì cười không ngớt, bất túc thì bi (thương, buôn)t, - Bồ, tả như thế nào?
– Hữu dư thì tả bỏ huyết ở tiêu lạc, cho xuất huyết nhưng đừng thích sâu, e sẽ trúng vào Đại kinh. Như thế, thân khí sẽ quân bình. Thân bắt túc, thì trông cái hư lạc, án vào huyệt để cho khí đến, rồi thích vào lạc cho huyết được thông lợi. Đừng để cho xuất huyết, - đừng đề cho tiết khí, cốt làm cho thông hơi kinh mạch. Như thế, thần khí sẽ quân bình.
– “Thích vi? như thế nào? (tức thích lúc sơ cảm)...
– Trước hãy án ma vảo huyệt đừng rời tay, rồi sẽ dùng châm, nhưng đừng mạnh, khiến cho tà khí đi dịch tới chỗ bất túc, thần khí sẽ hỏi phục??, - Khí, hữu dư, bất túc như thế nào?
– Khí hữu đư thì suyễn, khái và thượng khí, bất túc thì khó thở và thiêu khí.
Huyết khí chưa dồn, năm Tàng an định, bì phu hơi mắc bệnh gọi là “bạch khí hội tiết.
– Bổ, tả như thế nào?
– Khí hữu dư thì tả ở Kinh toại, đừng làm thương đến kinh, đừng làm cho xuất huyết, đừng làm cho tiết khí. Bất túc thì bỗ ở Kinh toại, đừng để cho xuất khí (tức là tiết mất khí của Kinh toại.
– *Thích vi” như thế nào?
– Án ma đừng rời tay, cầm châm, trông kỹ để định nông sâu. Thích vừa đúng. kinh khí sẽ hôi phục. tà khí khỏi tán loạn; do đó, tả khí tiết cả ra bì mao tấu lý, chân lý lại được quay trở về phu biểu, mà bệnh sẽ khỏi. - Huyết, hữu dư. bất túc, như thể nào? - Hữu dư thì nộ; bất túc thì khủng. Huyết khí chữa dồn. năm Tàng an định; Tôn lạc nước ràn (nước tân dịch), thì kinh có lưu huyết. - Bồ, tả như thế? - Huyết hữu dư thì tả ở thịnh kinh, để xuất huyết. Nếu bắt túc thì trông như ở hư kinh, để châm trong mạch, ngâm lâu để trông; nếu - mạch nhanh quá thì xuất châm, đừng để cho huyết ra.
– Thích “lưu huyết” như thế nào?
– Trồng ở huyết lạc, thích cho xuất huyết; đừng để cho ác huyết được lọt vào kinh, đề gây nên bệnh.
– Hinh, hữu dư, bất túc như thế nào?
– Hình hữu dư thì phúc trướng, tiêu thủy không lợi; bất túc thì tứ chỉ không cử động được. Huyết khí chưa dồn, năm Tàng an định, cơ nhục nhu động (cồn lên, như sâu bò ở trong thịt), gọi là vi phong.
– Bồ, tả như thế nào?
– Tình hữu dư thì tả ở Dương kinh; bất túc thì bỗ ở Dương lạc.
và:
– “Thích ví" như thế nào - Thích ở khoảng phận nhục, đừng để trúng kinh. đừng làm thương lạc. Vệ khí hồi phục được, tà khí sẽ bị tan di.
– Chí, hữu dư, bất túc như thế nào? - Chí hữu dư thì phúc trướng, xôn tiết; bất túc thì quyết, - Huyết khí chưa dồn, năm Tàng an định, cốt tiết có động (vì bị phong phạm vào, nền động.
– Bồ. tà như thể nào - Chí hữu dư thi tả bô huyết ở huyệt Nhiên cân (tức là Nhiên cốc và Vinh huyệt thuộc túc Thiếu âm); bất túc thì bỗ huyệt lưu (tức kinh huyệt của túc Thiếu âm, - Thích từ lúc huyết khí chửa dồn như thế nào?
– Thích ngay ở chỗ “động” tại cốt tiết, nhưng đừng để trúng kinh, tà sẽ hư suy ngay.
Hoàng Đề hồi:
– Tôi đã được nghe cái hình về hư thực rồi. vậy xin cho biết vì đâu mà sinh ra?
Kỳ Bá thua:
– Huyết khí đã dồn, âm dương cùng xung đột nhau; khí loạn ở vệ, huyết nghịch ở kinh; huyết khí ở lia sẽ sinh ra một thực một hư,
Huyết dỗn vào âm, khí dồn vào dương, nên phát thành kinh cuồng.
[luyết dồn vào dương, khí dồn vào âm sẽ thành chứng Nhiệt trung”,
Huyết dồn lên trên, khí dồn xuống dưới sẽ thành chứng Tâm phiền. uất, hay nộ. Huyết dồn xuống dưới, khí dôn lên trên, tĩnh thần sẽ loạn mà hay quên.
– Huyết dồn vào âm, khí dỗn vào đương, thì như thế, Còn huyết khí ở lìa nhau thì thế nào là thực, thế nào là hư?
– Huyết khí là một thứ “hỷ ôn mà ố hàn”, Hàn thì ngừng trệ mà không lưu thông, ôn thì sẽ tiêu tan mà lưu thông. Vậy nên, nếu khí dồn vào sẽ thành huyết hư, huyết dồn vào sẽ thành khí hưt,
Hoàng Đề hỏi:
– Ở trong con người chỉ có khí với huyết mâ thôi. Giờ Phu Từ lại nói: “huyết đôn là hư, khí dồn lả hư...”, vậy là không có “thực” chăng?
Xỳ Bá thưa:
– “Hữu” thì là thực, “vô" thì là hư, cho nên khí dồn thì không có huyết, huyết dồn thì không có khi. Giờ huyết với khí cùng trái nhau._— nên đều là hư,. Lạc với tôn lạc đều chuyển Du vào kinh. Huyết với khí dôn thi sẽ là thực. Huyết cùng với khí dồn cả lên trên thì là đại quyết. Quyết thì bạo tử. Nếu khí trở lại thì sống, không trở lại thì chết.
Hoàng Đế hỏi:
– Thực, do đường nảo lại; hư, do đường nào đi?... Cái cốt yếu của hư thực thế nảo, xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Âm với dương đều có Du hội. Dương rót vào âm, ầm ràn ra ngoài. Âm dương quân bình, để nuôi thân hình, chín hậu như một, sẽ là bình nhân!?,
Phàm bệnh tà sinh ra hoặc sinh ra, hoặc sinh ra bởi âm, hoặc sinh ra bởi đương. Cái sinh ra bởi dương, phần nhiều đo phong, vũ, hàn, thử; cái sinh ra bởi âm, phân nhiễu do âm thực, cư xử và âm dương, hỷ, nộ.
– Phong, vũ làm thương đến con người, như thế nào?
– Phong, vũ làm thương con người, trước “khách” ở bì phu, truyền vào đến tôn mạch: Tôn mạch đây, lại truyền vào lạc mạch; Lạc mạch đầy, thì chuyên Du vào đại kinh mạch. Huyết khí với tà khí, cùng “khách” cả ở khoảng phận nhục và tấu lý, mạch nó kiên đại nên gọi là “thực”. Thực là một trạng thải bên ngoài kiên và sung mãn, không thể án tay vào. Án tay vào thì đau.
– Hàn, thấp làm thương đến con người, như thể nào?
– Hàn, thấp trúng vào người, bì phu bất nhân, cơ nhục kiên khân (răn, lăn), vinh huyết rít lại, vệ khí tan đi, cho nên mới thành hư. Hư là đo bị tích ở bền trong, khiến khí bất túc. Ấn tay vào thì lý khí có thê ứng ra mà làm cho ôn, nên đễ chịu mà không đau.
Âm sinh ra thực, như thế nào?
– Hỷ, nộ không tiết thì Âm khí nghịch lên, nghịch lên thì dưới hư; dưới hư thì Dương khí sẽ tấu tán, cho nên nói là “thực.
– Âm sinh ra hư, như thế nào?
– Hỷ thì khí giáng xuống, bi thì khí tiêu đi, tiêu thì mạch hư không, nhân uống ăn phải thức hàn, hàn khí tràn lan thì huyết sẽ rít lại, khí sẽ tiêu đi... Nên gọi là hư.
- Kinh nói:
“Dương hư thì ngoại hàn, âm hư thì nội nhiệt, dương thịnh thì ngoại nhiệt, âm thịnh thì nội hàn...” Tôi đã được nghe rồi. Vậy nguyên nhân nó bởi sao?
– Dương “thu” khí ở thượng tiêu, để làm “ôn” cho khoảng bì phu phận nhục. Giờ hàn khí phạm ở bên ngoài, thì thượng tiêu sẽ không thông. Thượng tiêu không thông, thì hàn khí riêng chiếm ở ngoài, cho nên thành chứng “hản tật” (rét run.
– Do việc gì khó nhọc mỏi mệt, hình khí suy ít; cốt khí không được thịnh, thượng tiêu không vận hành được cốc khí, Hạ tiêu không tiếp thu được tân dịch, do cái khí dương nhiệt của vị bị nghẽn không bố tán đi đâu được, sẽ hun dồn cả lên hung, mà thành chứng nội nhiệt.
– Dương hư sinh ngoại nhiệt, là thể nảo?
– Thượng tiêu không thông lợi thì bì phu chặt kín, tấu lý vít lấp, huyết Phủ không thông, vệ khí không thể tiết biệt được, nên mới thành chứng ngoại nhiệt.
– Âm thịnh sinh nội hàn, là thể nào?
– Quyết khi nghịch lên, hàn khí tích ở trong hung, mà không tả ra được. Không tả ra được thì ôn khí sẽ bị tan đi, chỉ còn có hàn khí một mình ở lại, huyết do đó mà đọng rít. Đọng thì mạch không thông. Nó sẽ biến thành thịnh, đại và sắc, cho nên trung hàn.
– Âm với dương, dồn vào nhau, huyết khí cũng dồn, bệnh tình sẽ đo đó mà gây nên. Nên thích thế nào?
– Thích bệnh này, nên lấy ở kinh toại, lấy huyết ở doanh, lẫy khí ở vệ... Lại phải dùng cả thân hình nữa, nhân bốn mùa mà thích hoặc nhiều hoặc ít. hoặc cao, hoặc thấp...
– Huyết khí đã dồn. bệnh hình đã thành, âm dương đã lệch (không quân bình), nên bỏ tả như thế nào?
– Muốn tả thực, chờ cho khí thịnh, sẽ “nạp” châm. Châm với khí cùng nạp (tức thích vào) để mở cửa cho tính khí lưu ở trong, rồi châm với nhiệt tà cũng rút ra; như thế, tinh khí sẽ không bị thương, mà tà khí cũng giáng xuống: đừng vít lỗ châm, cho bệnh rút ra, lại xoay chuyển mũi châm, cho đường lối thêm rộng, đó tức là phương pháp đại tả. Kíp dồn cho ra, đại khí (tức tà khí) mới ra.
– Bổ hư như thể nào?
– Tay cầm châm, chú ý vào châm. Chờ lúc bệnh nhân thở ra (hô sẽ nạp châm, chờ lúc bệnh nhân hút vào sẽ rút châm. Lúc nạp châm đừng xoay chuyên, khiến tinh khí không thể tiết ra được, chờ lúc chính khí đã thực sẽ kịp rút châm; lựa cho chính khí lọt vào, giữa lúc châm vừa rút ra thì nhiệt tà không thể lọt vào trong. Khí môn ở bên trong đã đóng thì tà khí sẽ phải bố tán ở bên ngoài, mà tinh khí sẽ còn giữ được mãi. Dưới chân khí động, đợi lúc đến nơi. khiến cái khí "thiễn cận” không tán thất ra bên ngoài, cái khí “thâm viễn” được giữ vên ở bên trong. Đó tức làm một phương pháp bổ chính mà lạ kiêm cả tán tà vậy.
Hoàng Đề hỏi:
– Phu Tử nói hư thực có mười loại, sinh ra bởi năm Tàng. Năm Tàng chỉ có năm mạch thôi. Ngẫm như mười hai kinh đều sinh ra bệnh, giờ Phu Tử chỉ nói riêng năm Tàng. Vậy mười hai kinh mạch kia đều “lạc” ba trăm sáu mươi nhăm tiết (khớp xương). Mỗi tiết có bệnh tật phải lây sang kinh mạch. Bệnh ở kinh mạch đều có hư thực, vậy lẽ đó thể nào
Kỳ Bá thưa rằng:
– Năm Tàng hợp với sáu Phủ cùng làm biểu, lý. Kinh mạch chỉ: tiết, đều sinh hư thực. Hễ bệnh ở nơi nào, sẽ theo ngay nơi đó để trị. Bệnh tại mạch điều trị ở huyết, bệnh tại huyết điều trị ở lạc, bệnh tại khí điều trị ở vệ, bệnh tại nhục điều trị ở phận nhục, bệnh tại cân điều trị ở cân, bệnh tại cốt điều trị ở cốt.
Đốt châm (đem châm đốt cho nóng) đẻ thích ngay vào nơi bệnh cấp, nếu bệnh tại cốt thì đốt châm cho nóng, “nhúng” vào nước thuốc rồi sẽ châm: châm rồi, lại dùng thuốc để “chườm" t,
VY
Bệnh đau. mà không biết đau ở đâu, nền thích ở trên lưỡng Kiêu. (Đau một cách lan man, không nhất định là nơi nào. Kiểu mạch khởi từ Túc khỏa.
Thân hình có nơi đau, mà xét ở chín “hậu” lại không có bệnh, thi dùng phép Mậu thích.
Đau ở bên tả mà mạch bên hữu mắc bệnh, dùng phép Cự thích để điều trị. Phải cần thận tính tế xét ở chín hậu, thì đối với phép châm sẽ được hoản toàn,
Chú Giải
- Tâm tàng mạch, mạch Tàng thần, Tâm ở chí là hỷ, ở thanh (tiếng) là cười. Cho nên hữu dư thì cười không ngớt, bất túc thì Kim khí lại thắng mà thành bì. êm đương luận nói: "Bí thắng nộ", Ngữ khí thiên nói: "Dồn lên Phế thì bi", vậy bí thuộc về chí. Ở đây, vì tâm thần bất túc, nên cái "sở bất thắng" lại thừa cơ mà lẫn tiếp, nên mới "bị.
- *ý đoạn này nói: Tà khách vảo thân hình, bắt đầu khởi từ hào mao, chưa vào tới kinh lạc, thì nên "thừa" lúc nó còn "vi" mà thích, nên án ma ở nơi bệnh đừng rời tay, nên châm thẳng ngay vào nơi bệnh mà đừng đây châm mạnh, khiến cho dỗn tà khí tới chỗ bất túc để thành suy giảm đi, tức thì chân khí sẽ hồi phục lại, không còn thiếu, do đó thần khí sẽ toàn mà khỏi bệnh. t Phé sắc bạch, khí của Phé tiết ra nên gọi là bạch khí, "hơi" là nói Phế khí mới bị.
- Trên đầy nói về huyết, tức là cái "sở chủ" của Can Tàng. Huyết của Can Tàng, gốc từ Xung mạch. Xung mạch phát sinh từ Bào trung. Cái nôi ra bên ngoài, theo phu dẫn lên, bố tán ra khoâng bì, phu, cơ, nhục. Đầy ra ngoài đa, làm ấm trong thịt, sinh ra hảo mao. Lúc nằm ngủ thì trở vê Can Tảng, thức thời theo vệ khí mà lưu hành ở ngoài mạch. “Tôn lạc nước ràn, là nói về thứ tân dịch ở Bảo trung. Cái tính địch của thủy cốc đây ràn vào trong, để phụng tâm thần; hóa đỏ mà thành huyết. Cho nên nói: "Thủy dẫn vào kinh, sẽ thành ra huyết...". Huyết ở kinh mạch, do kinh mà đến mạch, do mạch mà đến lạc, cái huyết ở ngoài mạch, do bì phụ mà chuyển thắm vào tôn lạc; do tôn lạc mà dẫn vào kinh đu. Vậy đó là huyết khí ở trong mạch và ngoài mạch, cùng giao thông với nhau vậy. Thịnh kinh, tức là Xung mạch, Xung mạch là cải biêu của kinh lạc. Cho nên gọi là "thịnh kinh". "Hư kinh” là ý nói "hư” mà không “thịnh”. Đẻ châm lâu, là đề chờ cho khí đến. "Mạch đại" là khí đến mà huyết đã hôi phục.
- Dương tức Dương minh. Dương mỉnh (Vị) với Thái âm làm biểu, lý. Bì phu là khí phận thuộc dương. Tỳ chủ về cơ nhục. nên phải theo đương đề bố tả. Tả thích ở kinh, là do từ trong mà dẫn ra ngoải, bồ thích ở lạc là do từ ngoài dẫn vào trong.
- Thận là quan môn của vị. Quan môn không thông lợi sẽ tụ thủy mà thành phúc trướng và xôn tiết. Thận là gốc của sinh khí, nếu bất túc sẽ thành chứng quyết nghịch mà lạnh.
- Đây nói về năm loại hữu dư bắt túc trên kia đều do huyết khí cùng dồn vào nhau mà sinh ra, cho nên khí dồn vào huyết, huyết dồn vào khí, đó là khí huyết cùng dồn vào với nhau. Doanh là Âm khí, huyết đo đó mà sinh ra; Vệ là Dương khí, hãn (mạnh tợn) hơn doanh khí. Âm huyết dồn vào Âm khí, thì khí loan ở vệ, mà cái huyết ly cư kia sẽ là thực, còn hư thì lại là khi, Dương khí dồn vào âm huyết, thì huyết nghịch ở kinh, mà cái khí ly cự kia sẽ là thực, còn hư thì lại là ở huyết. Đó hư thực sinh ra là như vậy.
- Đây nói về âm dương của huyết phận và khí phận. Khí phận ở ngoài mạch là dương, huyết phận ở trong mạch là âm. Ám huyết đầy ở ngoài, Dương khí rót vào trong, thế là âm dương quân bình. Nếu huyết dồn vào âm, thì âm sẽ thịnh mà huyết thực; Tâm chủ về huyết mạch cho nên âm thịnh thi kinh. Khí dồn vào dương thì dương thịnh mà khí thực, dương thịnh thì phát cuồng.
- Huyết dễn vào dương thì âm sẽ hư mà sinh chứng nội nhiệt; khí dồn vào âm thì Dương khí thịnh ở bên trong mà thành chứng Nhiệt trung.
- Triệu Hoàng hỏi: Huyết dồn vào âm thì khí cũng dồn vào dương. Cho nên nói: "Huyết khí ly cư", tựa như huyết khi đều là "thực", vậy mà trên đây lại nói: "Huyết dôn là khí hư, khí dồn là huyết hư...". Cả hai đều hư, là vì sao? Đáp: "Huyết dồn vào âm" là nói huyết dồn mà khí không dồn; huyết dồn vào âm thì âm thịnh mà hàn; hàn thì khí ở trong huyết, cũng rít mà không lưu hành được. Nói: "Khí dồn vào dương", là nói khí dồn mà huyết không dồn; huyết dồn vào dương thì đương thịnh mà nhiệt. Nhiệt thì cái huyết ở khí phận, cùng tiêu thước mà không còn nữa. Cho nên nói: "Khí dồn thì không có huyết, huyết dỗn thì không có khí. Đ Khí dồn vào huyết thì khi thịnh mà huyết ít, thế tức là "vô huyết. Huyết dồn vào khí, thì huyết thịnh mà khí it, thế tức là "vô khí". Chỉ vì khi huyết cùng trái nhau, nên mới gọi là hư. Đại lạc với tôn lạc đầu chuyên Du vào trong kinh mạch. Khí dồn vào huyết thì khí sẽ thực, huyết dồn vào khí thì huyết sẽ thực, cho nên mới gọi nó là "thực". Và, cùng một khí huyết đó, nếu chuyển dồn lên trên thì khí lên mà không xuống được, sẽ thành chứng đại quyết. Nếu bạo thì thường chết. May mà khí lại trở xuống được thì sẽ sống,
- Dụ, tức là nói về 365 Du huyệt, là nơi lưu trú của huyết mạch. Hội tức là 365 hội, thần khi Du hành đều ở đó, mà âm Dương khí huyết cũng đều Du hội cả ở đó. Dương khí ở ngoài mạch, theo tôn lạc mà rỏi vào trong âm; âm huyết ở bên trong, lại theo kinh du để đây ràn ở ngoài mạch. Như thế là âm dương điều hỏa, huyết khí lưu thông, do đó "ba bộ, chín hậu” của mạch, sẽ đêu đặn mà là người vô bệnh.
- Thần, chí, khí, huyết của năm Tàng sinh ra bời chất "tỉnh" của thủy cóc ở vị Phủ. Con đường của khi, huyết do Vị chuyên Du ra tức là Kinh toại. Kinh toại lại là Đại lạc của năm Tàng sáu Phủ. Cho nên phải lẫy ở Kinh toại điều hòa năm Tàng, Lẫy ở Kinh toại, tức là điều hòa cái "thân, lấy ở vình, vệ tức là điều hòa cải "khí". Rồi sau lại phải điều hòa cả thân hình. Nhân cái thời khí có thăng, giáng, phù, trầm mà dùng theo phương pháp nhiễu, ít, cao, thấp... Như trên kia nói: "Lây mặt trăng mọc, lặn lâm SỐ vĩ"... Đó tức là cái nghĩa nhiều ít, như: "mùa xuân Du ở cô gáy; mùa hạ Du ở hung, hiếp; mùa thu Du ở kiên, bối; mùa đồng Du ở yêu cô...". Đó tức là cái nghĩa cao thấp.
- "Đất châm", nguyên Hán văn là "phần châm” (chữ phân cũng có âm là phiên), tức như ngày nay Tây y lúc sắp "tiêm" đem đốt kim tiêm. Về phép này, chuyên đối với "cấp bệnh", mới phải dùng.
- Đau bên tả, thích bên hữu; đau bên hữu, thích bên tả, gọi là Mậu thích. VỀ phép này, dưới đây có một thiên chuyên nói về Mậu thích. Đây miễn giải.
- phép Cự thích cũng nói rõ ở thiên Mậu thích.
Thiên 63–67 · Mậu Thích Luận Thiên → Ngũ Vận Hành Đại Luận Thiên
Chương sáu mươi ba · Mậu Thích Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi:
– Ta nghe phép Mậu thích, chưa hiểu ra sao, xin cho biết rõ thế nào là Mậu thích?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tả khí “khách” ở thân hinh con người, trước tụ ở bì mao; lưu ở đó không tan đi, lại vào tụ ở Tôn mạch; lưu ở đó không tan đi, lại vào tự ở lạc mạch; lưu ở đó không tan đi, lại vào tụ ở kinh mạch; khi đó bên trong sẽ liền với năm Tàng, bố tán ra Trường vị, âm dương đều thịnh, năm Tàng sẽ thương. Đó là tả khí bắt đầu phạm ở bi mao, rồi cuối cùng vào tới năm Tàng. Như thế thì điều trị ở kinh.
Giờ tà khí khách ở bì mao, vào tụ ở tôn lạc lưu ở đó mà không tan đi, vít lắp không thông, không được truyên vào kinh, mà trôi ràn vào lạc, vì vậy mà gây nên bệnh.
Tà khí, “khách” ở đại lạc, nếu ở bền tả sẽ rót sang bên hữu, ở bên hữu sẽ rót sang bên tả. Trên dưới, tá hữu, cùng giao thông với kinh toại để bố tán ra tứ chỉ. Cái khí đó không ở chuyên nơi nào, mà cũng không vảo kinh du, nên gọi là Mậu thích.
Hoàng Đề hải:
– Xin cho biết, vì cớ sao phép Mậu thích lại bệnh ở tả thì thích bữu, bệnh ở hữu thì thích tà... Cùng với phép Cự thích, khác nhau thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tà khách ở kính, bên tả thịnh thì bên hữu mắc bệnh, bên hữu thịnh thì bên tả mắc bệnh. Nhưng cũng có khi di dịch. Bên tả đau chưa khỏi mà mạch bên hữu đã mắc bệnh, như thế, phải dùng phép Cự thích; nhưng phải thích cho trúng kinh mạch, chứ không phải lạc mạch. Cho nên bệnh ở lạc, cái sự đau cùng với kinh mạch khác nhau, nên gọi là Mậu thích,
Hoàng Đề hỏi:
– Về phép Mậu thích, nên như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tả khách ở lạc túc Thiếu âm, khiến người bỗng dưng Tâm thống, bạo trướng, hung và hiếp nghẽn đây, xét ra không có “tích, thích ở trước Nhiên cốt cho ra huyết; trong vòng như ăn xong bữa cơm, sẽ khỏi. Nếu không khỏi, bệnh bên tả thích bên hữu, bệnh bên hữu thích bên tả. Bệnh mới phát sinh, năm ngày sẽ khỏi.
Tà khách ở lạc thủ Thiếu dương khiến người hầu tý, thiệt quyền. miệng ráo. tâm phiền, ngoài cánh tay đau; tay không thể với lên đâu. Thích ở trên móng ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng chiếc là hẹ (cửu điệp) đều một “vĩ? (vết hoặc nốt). Hạng tráng niên khỏi ngay; người già một lát sẽ khỏi. Bệnh bên tả thích bên hữu; bệnh bên hữu thích bên tả. Bệnh mới phát, vài ngày khỏi.
Tà khách ở lạc túc Quyết âm, khiến người bỗng dưng sán thông, bạo thông, thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân cái, mỗi bên một vĩ, Bệnh nhân là con trai, khỏi ngày, là con gái một lát khỏi. Bệnh bên tả, thích bên hữu, bệnh bên hữu, thích bên tả.
Tà khách ở lạc túc Thái dương khiến người đầu và cổ đều đau. Thích ở chỗ thịt giáp móng ngón chân út, mỗi bên một “vĩ”. Bệnh bên tả thích bên hữu, bệnh bên hữu thích bên tà. Như xong một bữa ăn sẽ khôi.
Tà khách ở lạc thủ Dương minh khiến người khí mãn, trong hung suyễn và thở gấp, hiếp nghẽn, hung nhiệt, thích ở ngón tay giữa và ngón vô danh, cách chỗ móng bằng một lá hẹ nằm ngang, mỗi ngón một “phân”. Bệnh bên tả thích bên hữu, bệnh bên hữu thích bên tả. Như xong bữa ăn sẽ khỏi.
Tà khách ở khoảng tý trưởng (cánh tay, bản tay), không thể co lại được, thích ở sau khỏa (sau khuỷu tay), trước lẫy tay ấn vào, thấy đau bây giờ mới thích. Lẫy nguyệt (mặt trăng) mọc lặn làm số hạn. Trăng mọc ngày thứ nhất, thích một vĩ, ngày thứ hai (thích hai vĩ; ngày 15, 15 vĩ; ngày 16, 14 vĩ, rút ít đi dần.
Tà khách ở mạch túc Dương kiểu khiến người mắt đau, bắt đầu từ trong đầu mắt trước, thích ở dưới Ngoại khỏa nửa tắc đều 2 “vĩ, Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả. Một lát lâu như đi được mười dặm, sẽ khỏi.
Nếu bị ngã đau, ác huyết lưu ở bên trong, trong bụng đây, không đại tiểu được, trước nên cho uống “lợi dược” (thứ thuốc uống cho lợi đại tiểu). Bệnh đó, do bên trên thì thương đến mạch của Quyết âm, bên dưới thì thương đến lạc của Thiếu dương, thích ở dưới tức Nội khỏa. phía trước Nhiên cốt, để cho huyết ở mạch tiết ra. Lại thích ở động mạch trên mu bàn chân, vẫn không khỏi, lại thích ở trên Tam mao, đều một “vĩ”, thấy nhớm huyết, khỏi ngay. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tà. Nếu bệnh nhân hay bi, kinh, không vui, cũng thích như phương pháp trên.
Tà khách ở lạc của thủ Dương minh, khiến người tai điếc, thường không nghe tiếng gì. Thích ở ngón tay cái, ngón tay trỏ, chỗ cách móng tay bằng chiếc lá hẹ nằm ngang, đều một “vĩ”. Có thể nghe tiếng ngay. Nếu không khỏi, thích ở chỗ thịt và móng tay gIáp nhau, có thể nghe được ngay. Nếu bệnh nhân có lúc vẫn nghe được, thì không thể thích. Nếu trong tai ù ù như gió, cũng thích bấy nhiêu vĩ, Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở ta.
Phàm chứng tý, lúc ở chỗ này, lúc ở chỗ nọ, đi lại không có nơi nhất định. Nhận ở ngoài thịt, chỗ nào đau thì thích, lấy mặt trăng mọc làm hạn. Khi dùng châm. theo khí thịnh suy đề tính số “vĩ. Nếu châm quá số ngày, sẽ bị thoát khỉ; nếu không kịp sô ngày, tà khí sẽ không tả ra được; bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả; bềnh khỏi, thôi không thích nữa; vẫn chưa khỏi, lại thích đúng như phép. Theo mặt trăng khi mọc, ngày thử một một “vĩ”, ngày thứ hai hai “vĩ'... Rồi nhiều dần lên đến ngày thứ mười lăm thì mười lăm “Vĩ”, qua ngày mươi sáu thì mười Dổ: “VĨ”, rồi lại rút bớt dần.
Tà khách ở kinh mạch túc Dương mính kien người cừu nục (máu chảy ra đăng mũi), thích ở chỗ thịt giáp liền với móng hai ngón chân giữa và ngón vô đanh, đều một “vY. Bệnh bên tà thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả.
Tà khách ở lạc của túc Thiếu dương khiến người hiếp (lườn) đau không thể thở, khái mà hãn ra, thích ở chỗ thịt giáp liên với hai ngón chân vô danh và ngón chân út, đều một “phân”'. Về chứng ''không thể thở”, sẽ khỏi ngay, chứng hãn ra cũng chỉ ngay. Còn chứng khái, phải cho mặc áo ấm, và cho điều dưỡng thêm bằng thức ăn có tính ôn, một ngày sẽ khỏi. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả. Bệnh khỏi ngay. Nếu vẫn không khỏi, lại thích đúng như phép trước.
Tà khách ở lạc của túc Thiếu âm khiến người đau ở cuồng họng, không thể nuốt thức ăn. không vì cớ gì mà cũng hay nộ, khí dẫn ngược lên Bí môn, thích mạch Trung ương ở dưới chân Dũng tuyển 3 “vĩ”, tất cả sáu lần thích, khỏi ngay. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả. Cuống họng sưng, không nuốt được nước miếng. cũng có lúc không nhồ ra được, thích ở trước Nhiên cốt, cho xuất huyết, khỏi ngay. Bệnh ở tả thích bên hữu, bệnh ở hữu thích bến tả.
Tà khách ở lạc của túc Thái âm khiến người yêu thống, rút xuống, Thiếu phúc, đau ran cả sườn, không thê năm ngửa, thích giải huyệt khoảng yêu và cầu cốt, và trên hai “thăn” (thịt giáp xương sống) đó là yêu Du. Lấy mặt trăng mọc lặn làm số “vĩ” rút châm khỏi ngay. Bệnh bên tả thích ở hữu, bệnh bên hữu thích ở tả.
Tả khách ở lạc của túc Thái dương khiến người co rút, lưng gò, đau rút xuống hiếp. Thích từ cô trước, đếm từng đốt xương sống, vừa đếm nhanh, vừa án tay mạnh, gặp chỗ nào đau, thích ngay, ba “vĩ” khỏi ngay.
Tà khách ở lạc của túc Thiếu dương khiến người đau nhức ở Khu trung (tức hai huyệt Hoàn khiếu ở đủi), không thể cất đòi lên: được. Dùng “Hảo” (tên một thứ châm) để châm. Nếu bệnh hàn thì để châm lâu. Theo mặt trăng mọc lặn làm số vĩ, sẽ khỏi ngay.
Điều trị các kinh biệt, nếu chỗ tà khi đi qua mà không bệnh, thì dùng phép mậu thích.
Tai điếc, thích ở thủ Dương minh, không khỏi, nên thích ở Thông mạch. Mạch này ở phía trước tai.
Răng đau nhức, thích ở thủ Dương minh, không khỏi thích vào (cái mạch dẫn vào trong răng), ở khe răng, sẽ khỏi ngay.
Tà khách ở khoảng năm Tàng, khí phát bệnh, đau rút ở trong mạch, lúc đau, lúc đỡ. nhận kỹ bệnh, rồi dùng phép Mậu thích. Trông kỹ và thích ở mạch tại các đầu móng chân và móng tay, cho ra huyết. Cách ngày một lần thích. Thích một lần không khỏi thích năm làn.
Cái tà của thủ Dương minh do sự ''mậu truyền” (tức dẫn nhằm mà dẫn lên răng (thuộc túc Dương minh): răng và miệng giá lạnh và đau. Trồng mạch ở trên mu tay có huyết sắc hiện lên, thì thích bỏ đi, lại thích dưới móng ngón tay giữa thuộc về mạch của túc Dương minh, đều một “vĩ, khỏi ngay. Bệnh bên tả thích ở bên hữu. bệnh bên hữu thích ở bên tả.
Tà khách ở lại cã thủ, túc Thái âm, Thiếu âm và túc Dương minh. Năm lạc đó đều hội họp ở trong tai, trên chằng lên “tà giác”. Vì tà khách ở lạc nên năm lạc đều kiệt, khiến các mạch ở thân thê đều động, người đờ ra như “thây” không biết gì... Hoặc gọi là thi quyết, thích ở cạnh bên trong ngón chân cái, phía trên móng, cách móng bằng cái lá hẹ năm ngang, rồi thích ở Túc tâm; thích phía trên ngón chân giữa, đều một “vĩ”; sau lại thích cạnh bên trong ngón tay cát, cách móng tay bằng một cái lá hẹ năm ngang: sau lại thích đầu Nhuệ cốt thuộc Thủ tâm chủ Thiếu âm, đều một “*vĩ*, khỏi ngay; nêu không khỏi, gọt bỏ chỗ tóc ở tả giác. vuông bằng một tắc, đốt lẫy than, hòa vào một chén rượu ngon, cho uống. Người không biết uống cũng cô uống, khỏi ngay. Phàm cái số thích, trước phải nhận ở kinh mạch, án tay đò xem, xét rõ hư thực để điều trị. Nếu khí huyết không điều thích vào kinh mạch, nếu có nơi đau mà kinh mạch không mắc bệnh, dùng phép Mậu thích. Lại trông ở bì bộ của huyết lạc hiện lên, đều phải thích cả. Đó là phương pháp Mậu thích.
Chú Giải
- t Đây nói tà khí lần lượt mà vào tới kinh, thì nên theo kinh mạch để điều trị. Kinh mạch là "lý", những tia chế năm ngang gọi là lạc; ở lạc lại có cái tia chẽ ra nữa gọi là tôn lạc. Mạch. ở bên ngoài hiện ra kinh mạch tạt bì bộ, bên trong liền với Tàng Phủ. Tả khi khi mới "khách" vào thân hình, tắt trước tụ ở bì mao; lưu ở đó không tan đi sẽ truyền vào tôn lạc... Rồi do lạc mà đến kinh. "Âm dương đều thịnh" là nói về huyết khí của năm Tàng, hên ngoài đây chửa ở thân hình. Mười hai kinh mạch, về Tam âm thì thuộc Tàng lạc Phủ; về Tam dương thì thuộc Phủ lạc Tàng. Ở đây lại nói: “Trong liền năm Tàng, tán bố ra Trương, Vị...". Đó là vì: do năm hành của đất đề sinh ra năm Tàng của người. Về sáu khí Tam âm, Tam dương, cũng do năm hành sinh ra. Cho nên phàm bàn đến kinh mạch; lấy cái khí của năm Tảng, năm hành làm chủ, mà sáu Phủ sẽ là nơi "hợp.
- "Nấu" là sai nhằm, hoặc cũng là ràng buộc, tức là hình dung sự dau bên nọ thích bên kia. “Cự thích" tức là dùng trường châm đẻ thích. "Tà ở đại lạc, do tôn lạc rót vào, cho nên có thê thích nông ở lạc mạch, để lấp cái khi của đại lạc. Như tả ở kinh, phải dùng Cự thích, cho trúng thăng vào kinh, khác hãn với Lạc mạch. Kinh tức là mười hai kinh. Đó cũng là theo cái nghĩa âm dương cùng suốt, tả hữu cùng giao, vì thẻ nên: Tả bệnh thì hữu thịnh, hữu bệnh thì tà thịnh. Đến sự di dịch, thì như bệnh tại dương kinh mà đi vào âm kinh, bệnh tại âm kinh mà đi vào dương kinh... Cho nên, bệnh ở bên tả chưa khỏi, mà mạch ở bên hữu đã mắc bệnh... Tất phải dùng Cự thích. Nhưng phải cho trúng kinh, khác với Lạc mạch. ®) Trên đây nói về “biệt mạch" của 12 kinh - tức gọi là kinh biệt. Biệt mạch của 12 kinh này cũng đo dương chạy sang âm, do âm chạy sang dương. Cho nên điều trị nó, nên dùng phép Cự thích. Nếu tà khí ở cái nơi đi qua không phát bệnh, đó là tà thịnh mà bệnh lại phát ra ở bên hữu; hoặc tà thịnh ở bên hữu, mà bệnh lại phát ra ở bên tà... Hoặc tà ở kinh dương mà lại đi dịch sang kinh âm, tả ở kinh âm mà lại di dịch sang kinh dương... Vì vậy, nên bệnh ở bền tả lại phải thích ở bên hữu. Bệnh ở bên hữu lại phải thích ở bên tả. Án: Trở lên 12 kinh biệt, cũng đều lệ thuộc với năm Tàng... Cho nền dưới đây nói đến: "Tà khách ở khoảng năm Tàng" v.v...
Chương sáu mươi tư · Tứ Thời Thích Nghịch Tung Luận Thiên
Kinh Văn
Quyết âm hữu dư thì mắc bệnh âm tý; bất túc thì mắc bệnh nhiệt tý;
hoạt thì mắc bệnh hồ sán phong; sắc thì mắc bệnh Thiêu phúc tích khít,
Thiếu âm hữu dư mắc bệnh tý và Ân chuẩn (mọc nốt như sởi; bất túc, mắc chứng Phế tý. Hoạt thì mắc bệnh Phê phong sản: sắc thì mắc bệnh tích và tiểu ra huyết.
Thái âm hữu dư mắc bệnh nhục tý và hàn trung; bất túc thì mắc bệnh Tỳ tý: hoạt thì mắc bệnh tý, phong sán; sắc thì mắc bệnh tích, Tâm phục thường mãn.
Dương mính hữu dư mắc bệnh mạch tý, mình thường nóng; bất túc mắc bệnh Tâm tý; hoạt thì mắc bệnh Tâm phong sản; sắc thì mắc bệnh tích, thỉnh thoảng hay kinh.
Thái dương hữu dư mắc bệnh cốt tý, mình nặng; bất túc mắc bệnh Thận tý; hoạt thì mắc bệnh Thận phong sản; sắc thì mắc bệnh tích, thỉnh thoảng phát chứng điện.
Thiếu dương hữu dư mắc bệnh cân tý, hiếp mãn; bất túc, mắc bệnh cân tý; hoạt, thì mắc bệnh cân phong sán; sắc thì bệnh tích. thỉnh thoảng gân rút và đau mắt.
Áy cho nên:
Khí mùa xuân ở kinh mạch. khí mùa hạ ở tôn lạc; khí mùa Trường hạ ở cơ nhục; khí mùa thu ở bì phu, khí mùa đông ở trong cốt tủy.
Hoàng Đề hồi:
– Xin cho biết nguyên nhân ra làm sao?
Kỳ Bá thưa răng:
– Mùa xuân là thời kỳ khí trời mới mở ra, khí đất mới phát tiết, váng mỡ, giá tan, thủy lưu hành, kinh thông lợi. Cho nên khi người ở trong mạch. Mùa hạ, kinh đây, khí ràn vào tôn lạc để tiếp - nhận lấy huyết, bì phu đo đó được đầy đặc; mùa Trường hạ kinh lạc đều thịnh, do bên trong tiết vào cơ nhục; mùa thu, khí trời mới thâu liễm, tấu lý vít lấp, bì phu khô dăng: mừa đông che giấu huyết khí ở bên trong, bám liền vào cốt tủy, để lại giao thông với năm Tàng,
Vậy nên, tà khi thường theo khí huyết của con người ở bốn mùa đề thừa cơ vào “khách”. Nhưng đến sự biến hóa thì thật khó mà đo lường. Dù sao cũng phải thuận theo ở kinh khí để dùng phép thích, nếu tích trừ được tà khí, thì loạn khí sẽ không sinh ra được.
Hoàng Đế hỏi:
– Thích trái với bốn mùa, mà sinh loạn khí, bệnh trạng như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mùa xuân mà thích ở lạc mạch (xuân khí ở kinh mạch, mà thích lạc mạch, là trái), huyết khí sẽ rằn ra ngoài, khiến người thiêu khí; mùa xuân mà thích ở cơ nhục, huyết khí sẽ vòng đi ngược, khiến người thượng khí; mùa xuân mà thích ở cân cốt, huyết khí sẽ bám vào trong, khiến người phúc trướng.
Mùa hạ mà thích ở kinh mạch (mùa hạ huyết khí đã ra ngoài tôn lạc), huyết khí sẽ bị kiệt, khiến người rã rời; mùa hạ mà thích ở cơ nhục, huyết khí sẽ lôn vào trong, khiến người hay khủng: mùa hạ mà thích ở cân cốt, huyết khí sẽ nghịch lên, khiến người hay nộ. Mùa thu mà thích ở kinh mạch, huyết khi sẽ ngược lên, khiến người hay quên; mùa thu thích ở lạc mạch, khiến khí không dẫn được ra bên ngoài, khiến người nằm không muốn ra; mùa thu mà thích ở cân cốt, huyết khí sẽ tan rã ở bên trong, khiến người rét run. Mùa đông mà thích ở kinh mạch, huyết khí sẽ đều thoát, khiến người mắt trông không tỏ; mùa đông mà thích ở lạc mạch, khí bên trong sẽ tiết ra bền ngoải, lưu thành chứng đại tý; mùa đông mà thích ở cơ nhục, Dương khí sẽ kiệt tuyệt, khiến người hay quên. Phàm sự thích về bốn mùa đó, đều gây nên bệnh lớn, không thể theo. Vậy về phép thích, không biết kinh mạch của bốn mùa, bệnh sẽ sinh ra; nếp lấy thuận làm nghịch, chính khí sẽ loạn ở bên trong, tà khí và tinh khí sẽ cùng xung đột nhau. Vậy, tất phải xét rõ chín hậu, khiến cho chính khí không loạn, thì tinh khí mới không nghịch chuyên mà gây nên bệnh hoạn. Hoàng Đế nói:. - Thích vào năm Tàng, nếu trúng Tâm thì một ngày chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng “ợ”; trúng Can thì năm ngày chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng nói luôn miệng; trúng Phế thì ba ngày sẽ chết, khi mới phát bệnh sẽ là chứng ho; trùng Thận sáu ngày chết, khi mới phát sẽ là chứng hắt hơi và vươn vai; trúng Tỳ, mười ngày chết, khi tới phát sẽ là chứng thốn (nuốt nước miếng). Thích làm thương đến năm Tàng, tất phải chết, mà các bệnh lúc mới phát ra đều theo tính cách bản Tàng. Nhân đó có thê biết được là bao giờ chết”), '
Chú Giải
- Đây nói về sáu khí trong hợp với Tàng. Như nói: Quyết âm, Thiếu âm, Thái dương, Thiến đương... là nói về sáu khí gây nên bệnh. Như nói: bì, nhục, cần, cốt, mạch... là nói sáu khí lan tới khu vực ngoại hợp của năm Tàng. Như nói: Tâm, Can, Tỳ, Phế, Thận... là nói nhân sáu khí mà lan tới năm Tàng. Nói "hữu dư", tức là chỉ về những kinh nhiều khí, ít huyết; nói "bất túc", tức là chỉ về những kinh huyết khí đều ít; "hoạt" là nói Dương khí thịnh mà hơi có nhiệt; "sắc" là nói nhiều huyết ít khí, mà hơi có hàn; "tý" là nói về một chứng huyết khí vướng mắc ở khoảng bì, nhục, cân, cốt mà gây nên đau; Bệnh về khí gọi là sán, bệnh về huyết gọi là tịch. Bởi khí thịnh mà - sinh nhiệt, thi thành chứng sản thông; huyết nhiều mà đọng rít nên thành tích. Quyết âm là một nơi âm đã cực. Âm cực thì dương sẽ sinh, được cái khí "hỏa hóa” của "trung kiếm" là Thiếu dương, cho nên vừa hản vừa nhiệt. Quyết âm chủ về cái khí phong mộc phát sinh ở mùa xuân, nên ở thiên này nói đến Quyết âm trước.
- Đây nói về túc Tam dương kinh. Kinh đó có hư có thực; mà mạch thi có sắc, mà mạch thì có hàn có sắc, mà sinh bệnh thì có hàn, có nhiệt, có nội, có ngoại. - Dương minh, tức là túc Dương minh vị kinh. VỊ là con của Tâm. Hữu dư thì mắc bệnh mạch tý, vì Tâm chủ về mạch, mà lại ở khu vực bán biểu. Bắt túc thì mắc bệnh tâm tý, vì Tâm chủ về lý. Nếu mạch hoạt thì có bệnh Tâm phong sán, tức thuộc về cái tả ngoại cảm. Nếu mạch sắc thì là bệnh tích, thỉnh thoảng lại phát kính, tức thuộc về cái tà nội thương. Bởi vì cái đường mạch của Tâm chủ, khởi từ trong hung, ra liền với Tâm bao, xuống cách, rồi lạc khắp Tam tiêu, nên mới sinh ra chứng bệnh như vậy. Thái dương, tức là túc Thái dương Bàng quang kinh. Bàng quang với Thận làm biểu lý. Hữu dư thì sinh bệnh cốt tý, mình nặng: vì Thận chủ về cốt; bất túc thì sinh bệnh Thận tý, vì Thận ở bên trong. Nếu mạch hoạt thì là chứng Thận phong sán, thuộc về cái tả ngoại cảm; nếu mạch sắc thì mắc bệnh tích, thỉnh thoảng lại phát điên, thuộc về cái tà nội thương. Đởm với Can, là biểu, lý. Hữu dư thì sinh bệnh cân tý, vì Can chủ về cân, bất túc thì sinh bệnh Can tý, vì Can ở về bên trong. Nếu mạch hoạt, thì phảt chứng Can phong sán, thuộc về cái tà ngoại cảm; nếu mạch sắc thì mắc bệnh tích, thỉnh thoảng gân rút và mắt đau, thuộc về cái tà nội thương, Bởi vì mạch của Can đi qua lên trán, cùng Đốc mạch hội hợp ở đỉnh đầu; mà biệt chỉ thì do Mục hệ chăng xuống quai hàm... Cho nên mới sinh ra chứng cần cấp và mục thống.
- Kinh mạch ở vào bộ phận lý, chẽ ra nằm ngang gọi là lạc; Lạc lạt có tỉa chẽ ra gọi là tôn lạc. Vậy huyết khí đo kinh mạch mà ngoài rản ra tôn lạc, lại do tôn lạc đề dày đặc ở bì phu, do bì phu mà ràn vào trong cơ nhục, lạt đo cơ nhục mà bám vào cốt tùy, thông với năm Tàng, Đó là mạch khí đã tán bố ra mạch ở ngoải, mà lại thông với năm Tàng ở bên trong. Ta lại nên biết, trời là dương, đất là âm, âm dương hợp nhau rồi mới sinh ra khí huyết. Thận chủ về thủy của Đông lệnh, mà là cái gốc sinh ra khí; Dương minh lại là cái Phủ đề sinh ra khí huyết. Cho nên nói: "Cốc vào đến Vị, đường mạch mới thông, thủy vảo tới kinh, mà huyết mới thành... Nhưng nhờ cái sinh khí _ ở trong Thận, Mậu, Quý hợp hóa, rồi mới sinh ra được cái chất tỉnh vỉ của thủy cốc đó... Cho nên khí trời mờ ra, khí đất phát tiết, váng vỡ giá tan, thủy lưu hành, kinh thông lợi. Cái Đông lệnh ở Thận Tàng, đã được nhờ cái khí xuân sinh, bấy giờ Nhân khí mới ở mạch. Vậy là khí ở con người thông với trời đó. Cho nên nói: Xuân sinh, hạ trưởng, thu thâu, đông Tàng... Đó là cải thường của khí, mà con người cũng ứng theo, nên người mới hợp với trời đất, là thế.
- Ở thiên Mậu thích, Vệ khi trước dẫn hành ở bì phu, trước đầy ra lạc mạch; Lạc mạch thịnh trước, nên Vệ khí mới bình, vinh khí mới mãn, mà kinh mạch cũng nhân đó mà rất thịnh. Đó là vệ khí thông vào trong mạch. Thiên này nói: Huyết khí từ kinh mà đến lạc, từ lạc mà đến bì, lại từ bì phu, cơ nhục mà trong bám vào cốt tủy, thông với năm Tàng, đó là vinh huyết dẫn hành ở ngoài mạch. Ta nên biết vinh dẫn đi ở trong mạch, vệ dẫn đi ở ngoài mạch... Đó là nói về kinh mạch ở toàn thân con người, Đến như sự "sinh, thủy, xuất, nhập” của huyết khí, vinh ở trong mạch, thấm ra ngoài mạch. đây tới da, ấm trong thịt, mọc hào mao... Rồi long vào tới mạc nguyễn mà thông với Tảng, Phủ; biểu, lý, thượng. hạ, không đâu là không đến... Y giả hiểu thầu được nguyễn lưu của huyết khí, mới có thê dò được đến chỗ gốc rễ của bệnh tà... Vậy néu kinh, mạch không thông, còn mong trị liệu sao được... k Tổng giái về (hiên này: Đây nói vê: thích trải bốn mùa, sẽ sinh tật bệnh. Mùa xuân nên thích ở kinh mạch, nếu lại thích lạc mạch, thế là đem cái nơi thích về mùa hạ đề thích về mùa xuân, thì huyết khí ràn ra ngoài, đại khí sẽ rút mất ở bên trong; nếu lại thích ở cơ nhục, thể là đem cải nơi thích của mùa Trường hạ, để thích về mùa xuân, thi huyết khí sẽ quay ngược, khiến người thành chứng khí thượng nghịch; nếu lại thích ở cần lạc, thế là đem cải nơi thích về mùa đông đẻ thích về mùa xuân, thì huyết khí sẽ bám vào trong mà bụng sẽ sinh bệnh trướng. Mùa hạ nên thích tôn lạc, nếu lại thích kinh mạch, thế là đem cải nơi thích về mùa xuân để thích mùa hạ, thì huyết sẽ đến kiệt, khiến người sinh ra rã rời mỏi mệt; nếu lại thích vào cơ nhục, thế là đem cái nơi thích về mùa Trường hạ đề thích về mùa hạ, thì huyết khí sẽ lùi vào trong, mà sinh ra tắm lòng khủng cụ; nếu lại thích vào cân cốt, thế là đem cái nơi thích về mùa đông, mà thích về mùa hạ, huyết khí sẽ thượng nghịch, mà gây nên chứng hay nộ. Mùa thu nên thích ở bì phu, nếu lại thích ở kinh mạch, thể là đem cái nơi thích về mùa xuân, dễ thích về mùa thu khí sẽ thượng nghịch mà gây nên chứng hay quên; nếu lại thích lạc mạch, thế là đem cái nơi thích vê mùa hạ mà thích về mùa thu thì khí không dẫn ra ngoài được, khiến người quá hư yếu, mà nằm không muốn cựa; nếu lại thích ở cân cốt, thế là đem cái nơi thích về mùa đông để thích về mùa thu, thì huyết khí sẽ tiêu tán ở bên trong, mà sinh chứng hản tật. Mùa đông nên thích ở cốt tủy, giờ lại thích ở kinh mạch, thế là đem cải nợi thích về mùa xuân đẻ thích về mùa đông, thì huyết khí đều thoát, mà khiến người mắt trông không tỏ; nếu lại thích ở lạc mạch, thế là đem cải nơi thích về mùa hạ đề thích về mùa đông, thì khi bên trong sẽ tiết ra bên ngoài, rồi lưu mà thành chứng tý; nếu lại thích cơ nhục, thế là đem cái nơi thích về mùa Trưởng hạ để thích vẻ mùa đông, Dương khí sẽ hao kiệt, mà khiến người thành chứng hay quên. Trở lên những sự dùng thích đó, đều là đại nghịch, thể nào cũng sinh bệnh hoạn, vậy người dùng thích phải xét rõ chính hậu mà thuận theo mạch lạc của bốn mùa mới được. ®) Thích trúng Tảng... Tức là nói làm thương đến cái khí của năm Tàng. Khí của năm Tàng bị thương, thì đi đến cõi chết rất dễ...
Chương sáu mươi lăm · Tiêu Bản Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh có tiều (ngọn), bản (gốc), thích ở nghịch, ở tùng (thuận, nghĩa đó như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về phương pháp thích, phải phân biệt âm dương, trước sau cùng ứng, nghịch tùng đều hợp, tiêu bản cùng thay đổi,
Cho nên nói răng:
Có khi ở tiêu mà cầu nó ở tiêu; có khi ở bản mà cầu nó ở bản; có khi ở bàn mà cầu nó ở tiêu, có khi ở tiêu mà câu nó ở bản.
Cho nên vẻ phương pháp điều trị, có khi lấy ở tiêu mà được, có khi lầy ở bản mà được, có khi nghịch thủ mà được, có khi tùng thủ mà được. Vậy nếu biết nghịch với tùng đó là chính pháp không còn gì hơn; biết được tiểu bản muôn làm muốn đúng, không biết tiêu bản, làm càn ra chỉ.. (
Nói về cái đạo âm dương, nghịch tùng vả tiêu bản... Mới nghe nhỏ, mà sau thật lớn, nói một điều mà biết được cái hại của trăm bệnh.
Ít mà là nhiều, nông mà là sâu, có thể nói một mà biết được trăm.
Do nông mà biết được sâu, xét gần mà biết được xa. Nói tiêu với bản, không nên tương phản,
Trị “phản” là nghịch, trị “đắc” là tùng”. Trước mắc bệnh mà sau nghịch, trị ở bản; trước nghịch mà sau mắc bệnh, trị ở bản”. Trước hàn mà sau sinh bệnh, trị ở bản; trước mắc bệnh mà sau sinh hản, trị ở bản”). Trước nhiệt mà sau mắc bệnh, trị ở bản!®: trước nhiệt mà sau tiết tả, trị ở bản; trước tiết tà mà sau thêm bệnh khác, trị ở bản; hãy điều hòa trước đã, rồi hãy trị bệnh khác”). Trước mắc bệnh mà sau sinh thêm chứng trung mãn, trị ở tiêu; trước trung mãn mà sau sinh chứng phiền Tâm, trị ở bản. Bởi ở trong thân thê con người, có khách khí, lại có đồng khí®). Tiểu, đại không lợi, trị ở tiểu; tiểu, đại lợi, trị ở bản. Bệnh phát sinh mà hữu dư, bản mà là tiêu, trước hãy trị bản, rồi mới trị tiêu; bệnh phát sinh mà bắt túc, tiêu mà là bản, trước hãy trị tiêu, rồi mới trị bản”), Cần thận xét xem “gian” hay “thậm”, lấy ý của mình để điều trị. Nếu “gian” thì tính hành, “thậm” thì độc hành. Tỷ như: trước tiêu, đại không lợi, mà rồi mới sinh bệnh khác, phải trị ở bản.
Bệnh có tương truyền, tỷ như tâm bệnh, trước Tâm thống qua một ngày thì phát chứng khái; qua ba ngày hiếp chí thông: qua năm ngày vÍt lấp không thông, thân đau mình nặng; qua ba ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về nửa đêm, mùa hạ chết về đúng trưat'?.
Bệnh ở Phế, suyễn khái, qua ba ngày mà hiếp chỉ mãn và thống, lại qua một ngày mà thân nặng mình đau, lại qua năm ngảy mà trướng, lại qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về lúc mặt trời lặn, mùa hạ chết về lúc mặt trời mọc”,
Bệnh ở Can, đâu váng mắt hoa, hiếp chí mãn, qua ba ngày, mình nặng, thân đau; qua năm ngày, sẽ phát trướng; lại qua ba ngảy, yêu, tích và Thiếu phúc đau, ống chân nhức; lại qua ba ngày không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về lúc mặt trời lặn, mùa hạ chết về sáng sớm.
Bệnh ở Ty, thân đau, mình nặng. Qua một ngày mà trướng; qua hai ngày, Thiếu phúc, yêu, tích đau, xương ống chân nhức; qua ba ngày, bối, lữ và cân thống, tiểu tiện bế; qua mười ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về lúc người đi ngủ yên, mùa hạ chết về lúc nửa buôi??.
Bệnh ở Thận, Thiếu phúc và yêu, tích thống, xương ống chân nhức, qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu tiện bễ; qua ba ngày, phúc trướng; qua ba ngày lưỡng hiếp chỉ thống; lại qua ba ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về lúc sáng rõ, mùa hạ chết về lúc tối đã lâu®',
Bệnh ở Vị, trướng mãn, qua năm ngày, Thiếu phúc và yêu, tích thống, xương ống chân nhức; qua ba ngày, bối, lữ, cân thống, tiểu tiện bế: qua năm ngày thân thê nặng nễ; qua sáu ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về nửa đêm, mùa hạ chết về xế chiều ”?.
Bệnh ở Bàng quang, tiểu tiện bế, qua năm ngày, Thiêu phúc trướng, yêu, tích thống, xương ống chân nhức; qua một ngày, phúc trướng, lại qua một ngày thân thể thông; lại qua hai ngày, không khỏi, sẽ chết. Mùa đông chết về gà gáy, mùa hạ chết về chiều tàt,
Các bệnh ở trên do sự “thăng, khắc” mà truyền đều có cái trường hợp chóng chết, đủ có phép thích cũng không sao cứu chữa dược. Hoặc tương truyền đến cách một Tàng, thi thôi, không truyền sang Tàng khác nữa, như thế mới có thể thích. Tỷ như: Tâm bệnh truyền Can, Can bệnh truyền Tỳ, đó là con đi lấn mẹ... Đến Can Tàng, Tỳ Tàng thì thôi, không lại do sự “thắng, khắc” để truyền sang Tầng khác. Như thể mới có thể dùng phép thích. Lại tỷ như: Tâm bệnh truyền Tỷ, Phế bệnh truyền Thận, đó là mẹ đi lắn con, nhờ được cái sinh khí của mẫu Tàng, còn là chứng không đến nỗi chết. Lại như Tâm bệnh truyện Thận, Phế bệnh truyền Tâm, Can Tàng truyền Phế v.v... Đó là do nơi “sở bất thắng” mà lại, bệnh nhẹ, cũng có thể dùng phép thích.
Chú Giải
- Trên đây nói âm dương, tức là sáu khí do ãm dương phân phối ra. Thiếu dương tiêu là dương mà bản là Tỏa; Thái ầm tiêu là âm mà bản là thấp; Thiếu âm tiêu là âm mà bản là nhiệt; Thái dương tiêu là dương mà bản lả hàn; Dương minh tiêu là dương mà bản là táo; Quyết âm tiêu là âm mà bản là phong; Thiếu dương, Thái âm theo về bản; Thiếu âm, Thái dương theo bản, theo tiêu. Dương minh, Quyết âm không theo tiêu, bản mà theo về “trung” (giữa). Theo bản thời sự "hóa" sinh ra bởi bản; theo tiêu, bản thì có cái hóa của tiêu, bản, theo về “trung” thì lấy "trung khí” làm hóa. "Trước sau cùng ứng" là nói về bệnh có trước sau; "Nghịch với tùng..." là nói có khi nghịch thủ mà được, có khi tùng thủ mà được v.v...
- “Có khí ở tiêu mà cầu nó ở tiêu...", Tỷ như bệnh ở sáu khí Tam âm, Tam dương, thì cứ cầu ngay ở trong sáu kinh đê trị tiêu. "Có khi ở bản mà câu nó ở bản...", tỳ như mắc phải cái tà khí "lục đâm" là phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa..., thì cứ cầu ngay ở trong sáu khí đó để trị bản. "Có khi ở bản mà lại cầu ở tiêu", tỷ như hàn làm thương đến kinh Thái dương, đó chính là bản bệnh của Thái dương, thế mà lại được cái "nhiệt hóa” của "tiêu dương, thì phải cầu ngay ở tiêu mà dùng lương được để trị cái tiêu nhiệt. "Có khi ở tiêu mà lại cầu ở bản". tỳ như bệnh ở kinh Thiễu âm, mà lại được cải bản nhiệt của quân hỏa, thì phải cầu ngay tới bản để tả bớt hỏa. Cho nên trăm bệnh phát sinh. có khi sinh ra tự bản, có khí sinh ra tự tiêu, có khí lấy ở bàn mà được, có khi lấy ờ tiêu mà được, có khi nghịch thủ mà được, lại có khi tùng thủ mà được... Những phương pháp đó, đại khái như: Bệnh hản thì làm cho nhiệt, bệnh nhiệt thì làm cho hàn, bệnh kết thì làm cho tán. bệnh tán thì làm cho thâu, bệnh lưu (tích) thì phải công (đánh phá), bệnh táo thì phải nhuận v.v... “Tùng thủ mà được...", tỷ như: Dùng hàn vi nhiệt, dùng nhiệt vì hàn, bệnh tắc lại dùng tắc, bệnh thông lại dùng thông v.v... Phải phục cái "sở chủ" của nó. mà thí hành trước ngay cái "sở nhân" của nó, lúc đầu niếng nhau, về sau sẽ khác, có thể phá tích, có thể tiêu kiên, khá khiến khí hòa, khá khiến tất khỏi...
- Tương phản mà trị gọi là "nghịch trị"; tương đắc mà trị gọi là "tùng trị"... Tương đặc như: Nhiệt với nhiệt tương đắc, hàn với hàn tương đặc “Nghịch” là nói về cái khí thắng khắc; "Trước mắc bệnh" là nói ở trong mình vốn đã săn có một chứng bệnh. “Trước nghịch, trước hàn, trước nhiệt...". Đó là nói về sáu khí của trời. "Trước mắc bệnh mà sau nghịch”, tỷ như: Trong thân người trước vốn có bệnh Tỳ thả, mà sau lại cảm phong tà, làm thương thêm cho Tỳ thổ... Thì nên trước hãy điều trị Tỳ thỏ, rồi sẽ trị đến phong tà. Lại như trước bị cảm phong tả của trời, nó khắc thương đến trung thô, khiến cho Tỳ Tảng mắc bệnh... Thì nên trước hãy điều trị bỏ phong tà, rồi sau mới điều trị đến Tỳ thổ v.v...
- “Trước hàn” là do cái khí "hàn đâm" (chữ dâm có ý như quá đáng) nó thắng, do thân người cảm nhiễm phải mà sinh bệnh. Vậy nên phải trị hàn tà trước. Nếu trước mắc bệnh mà sau mới sinh hàn. thì nên trị cải "bản bệnh ờ con người trước, mà rồi hàn khí sẽ tự giải.
- =Trước nhiệt” là do cải khí "nhiệt đâm” nó thăng, do thân người cảm nhiễm phải mà sinh bệnh. Vậy phải trị cái "bản nhiệt" trước. Nếu con người cảm nhiễm phải nó mà sinh chứng trung mãn. lại nên trị ngay chứng trung mãn. Bởi cái tả "lục đâm" bắt đầu làm thương sảu khí, nếu phát chứng trung mãn thi bệnh khí đã lọt vào trong, nên phải trị noay bên trong.
- Tiết rả là một chứng hậu sinh ra bởi thấp thể... "Còn bệnh khác..." Thi tỷ như: Thấp tả sở thắng dân sẽ mắc bệnh Tâm thống, tai điếc v.v... Nên điều trị chứng hư tiết trước, làm cho Tỳ thổ được điều hỏa đã, rồi mới điều trị bệnh khác, Cổ nhân yếu luận nói: "Phàm các chứng trướng, bụng lớn... đều thuộc vẻ nhiệt...", vậy như trước mắc bệnh nhiệt mà sau sinh chứng trung mãn, thi nên trước điều trị chứng trung mãn; như trước mắc bệnh trung mãn mà cái khí thấp nhiệt lấn lên trên Tâm, gây nên chứng tâm phiễn, thì cũng nên trị chứng trung mãn đã, mà sau chứng phiền tự khỏi. Như trước nhiệt mà sau sinh chứng trung mãn, đó là vì cảm cái khí "nhiệt đâm” của trời mà gây nên chứng trung mãn. Như trước mắc bệnh mà sau sinh chứng trung mãn, đó là cải khí nhiệt tự ở trong thần mình mà sinh ra chứng trung mãn. Cho nén nói: "Người có khách khi, có đông khí...". "Khách khí" tức là lục khí ở trời; "đồng khí" tức là ở trong thần con người cũng có lục khí ấy mà "tương đông" với tục khí của trời.
- Như trung măn mà đại tiểu không lợi, nên làm cho lợi đại tiểu trước; nếu tiểu đại đã lợi, thì lại trị trung mãn. Bởi tà khí lọt vào trong bụng, tẤt phải do đại tiểu mà tiết ra.
- "Hữu dư" là nói về tà khí, "bất túc" là nói về chính khí. Tà khí tức là “lục đâm”, chính khí tức là sáu khí của Tam ảm, Tam dương. Lực vị chị luận nói: *Ở trên Thiếu dương, hỏa khí chủ trị; ở trên Dương minh, táo khí chủ trị; ở trên Thái dương, hàn khí chủ trị; ở trên Quyết âm, phong khí chủ trị; ở trên Thiếu âm, nhiệt khí chủ trị; ở trên Thái âm, thấp khí chủ trị... Đó tức là bản, Ở dưới bản, tức lả tiểu của khí. Đó đều lấy phong, hàn, thử, thấp, táo. hỏa sáu khí làm bản, mà lấy sáu khí của Tam âm, Tam dương lảm tiêu. Cho nên nói: "Bệnh phát sinh là hữu dư..." Đó là chỉ về cái khí phong, hản, thứ, thấp, táo, hỏa... Nó hữu đư... Vậy nên trước phải làm cho tán bỏ tà khi. rồi mới điều lý đến âm dương. Nếu "bệnh phát sinh mà bát túc”, thì phải điều lý âm dương trước. rồi mới điều trị đến bản khí. Bởi tà khí thịnh thì thực, tĩnh khí đoạt thì hư. Vì vậy, nếu tả khí hữu dư thì trước hãy tán bỏ tà; tinh khí bất túc, thì trước hãy bẻ lấy chính... Đó là cái Cương lĩnh của tiêu, bản vậy, - Đây nói trong khoảng tiêu, bản, lại còn phải điều lý ở chỗ "gian “thậm”. Phàm tả sở đi phạm vào được tất phải do chính hư "gian" là chỉ về hai điểm "hữu dư, bất túc" của tà với chính. Nếu hai điểm ấy kiêm có cà, thì phải kiêm trị, tỷ như ở trong tán tà mà lại phải kiềm cả bỏ chính hoặc ở trong bỗ chính mà lại phải tấn cả tả. Đến như “thiên thậm" thì phải chuyển trị một mặt. Như tà khí "thậm" thì chuyên tán tà, chính hư "thậm" thì chuyên bồ chính. Đó là yếu đạo của phép trị liệu...
- Đây nói về cái thời kỷ chết do sự tương khắc của năm Tàng. Tỷ như tâm bệnh, vì Tàng chân thông vào Tâm nền bắt đầu thời Tâm thống; Hỏa lại tắn Kim, qua một ngày truyền tới Phế, nên phát chứng khái; lại qua ba ngày. tức là bốn ngày, Phế tà thăng Mộc, nên hiếp chỉ thống, vì Can mạch vòng lên hiếp lặc; lại qua năm ngày, tức cộng là chín ngày, Can tả thắng Thổ, cho nén vít lắp không thông, thân đau, mình nặng, đó là do Tỳ không vận hóa và Tỳ chủ về cơ nhục nên mới có chứng hậu như vậy; lại qua ba ngày nữa, tức cộng là 12 ngày, néu bệnh không khỏi thì sẽ chết. Nếu là mùa đông thì chết về nửa đêm, mùa hạ thì chết về đúng trưa, vì nửa đêm thuộc Thủy, mà nữa đêm về mùa đông thì Thủy càng thắng, dùng Thủy đó để khắc Hỏa, nên thế nào cũng chết; đúng trưa thuộc Hỏa, mà đúng trưa về mùa hạ thì Hỏa càng thắng... Nhân lúc đó Tâm hóa đã tuyệt, không còn tương ứng được, nên tất cũng phải chết.
- Rệnh phát ở Phế, qua ba ngày thì truyền sang Can, nên có chứng hiếp chi mãn và thông; lại qua một ngây truyền tới Tỳ, nên có chứng thần nặng mình đau; lại qua một ngày truyền tới Vị, nên có chứng trướng. Lại qua 10 ngảy nữa mà không khỏi thì chết. Mùa đông chết về lúc mặt trời lặn, vì lúc đó thuộc giờ Thân, Thân tuy thuộc Kim, nhưng Kim đã suy không thể còn văn hôi; mùa hạ chết về lúc mặt trời mọc, vì lúc đó thuộc giờ Dần. Mộc vượng Hòa sắp sinh, Phế khí đã tuyệt, không đợi đến có thật hỗa mà cũng chết.
- Bệnh ở Can, ba ngày tới Tỳ, lại qua năm ngày tới VỊ, lại qua ba ngày tới Thận... Sớm mùa hạ là khoảng giỡ Dân, Mão, lúc đó Mộc khí tuyệt không sinh ra được nữa; mùa đông, lúc mặt trời lặn về khoảng giờ Thân, Dậu... Vừa dịp Kim khí vượng nên Mộc khí tuyệt.
- Qua hai ngày, truyền tới VỊ; lại qua hai ngày, tới Thận; lại qua ba ngày tới Bàng quang... Mùa đông lúc người ngủ yên là giờ Hợi, tức là Thổ bại mà Thủy thắng; nửa buỗi thuộc giờ Dẫn, tức là Mộc vượng mà Thổ tuyệt.
- gệnh ở Thận, qua ba ngày. truyền tới Bảng quang; qua ba ngày tới
- lại qua ba ngảy tới Can... Lúc sáng rõ, thuộc giờ Thìn, tức là Thế Vượng mà bị Mộc tắc, tối đã lầu thuộc giờ Hợi. tức là Thủy tuyệt không còn thể sinh được nữa, f!2 Bệnh ở Vị qua năm ngày tới Thận, ba ngày nữa tới Bàng quang, nắm ngảy nữa tới Tỳ... Quá nửa đêm là thời kỳ Thỏ bại mà Thủy thắng: xế chiều là thời kỳ chủ trị của Dương mính, Thổ bị tuyệt không còn sinh được nữa. pỢ Đây cũng là một chứng phát sinh do Thủy tà truyền vào Tàng, Thủy ràn. Thô bại mà chết. Gà gáy thuộc giờ Sửu. tức là thời kỳ Thổ khắc Thủy; chiều tà thuộc giờ Thân, tức là thời kỳ Kim suy không sinh được Thủy.
Chương sáu mươi sáu · Thiên Nguyên Kỷ Đại Luận
Kinh Văn
Hoàng Đề hồi răng:
– Trời có năm hành, trị năm VỊ, đê sinh ra hàn, thử, táo, thập và phong', Người có năm Tàng, hóa sinh năm khí, để sinh ra hý. nộ, ưu, tư. khủng!”Ì. Trên Luận nói: Năm vận cùng nối, đều có chủ trị; cứ chọn một năm, “chu” mà lại băt dâu... Tôi đã hiệu lẽ đó rôi. Xin cho biết cái “hậu” của Tam âm, Tam dương, tương hợp như thế nào!!* Quỷ Du Khu vái tay, cúi đầu mà thưa răng: - Năm vận. âm dương là đạo của trời. Nó là cương kỷ của muôn vật, cha mẹ của biên hóa, gốc ngọn của sinh sát. và là cái “phủ” của một sự thần mỉnh đó,
Vật sinh ra gọi là hóa, vật đến cực gọi là biến; âm dương khôn lường gọi là thần; thần dụng vô phương gọi là thánh.
Cái công dụng của sự biến hóa, ở trời gọi là huyền", ở người gọi là đạo”, ở đất gọi là hóa. Do đó hóa sinh ra năm Vị”. Đạo sinh ra trị), Huyện sinh ra thân?, rủ Thần ở trời là phong, ở đất là Mộc; ở trời là nhiệt, ở đất là hỏa; ở trời là thấp, ở đất là Thô; ở trời là táo, ở đât là Kim; ở trời là hàn, ở đất là Thủy. Cho nên ở trời là khí, ở đât thành hình. Hình, khí cùng cảm, muôn vật do đó mà sỉnh rat.
Vậy nên, trời đất đó lả trên dưới của muôn vật, tà hữu đó là đường lối của âm dương”) Thủy, Hỏa đó là triệu chứng của khí Âm Dương?'®: Kim, Mộc đó là chung thủy của sự sinh thành'.
Khí có nhiều, ít; hình có thịnh, suy. Do sự trên dưới cùng cảm triệu. mà cái khí thái quá hay bât cập càng dược rõ rảng.
Hoàng Đế hỗi:
– Xin cho biết năm vận chủ thời, như thế nào?
Quỳ Du Khu thưa rằng:
– Năm khí vận hành, đều chọn cơ nhật”, không những chủ thời mà thôi, xin cho biết rõ...
- Thần xét trong Đại thủy Thiên nguyệt sách văn chép răng:
“Thái hư rộng thăm, gây nên hóa nguyện; muôn vật gây lúc đầu. năm vận chọn chu thiên?! khí tán ra chân linh, tông thông cả khôn nguyên”; chín sao treo sáng, bảy Diệu vòng quanh: răng âm, rằng dương: rằng nhu, răng cương”; u, hiển đã xếp hàn, thử, thị, trương”: sinh sinh, hóa hóa; phẩm vật phô bày”... Dạo lý đó, truyền tới thần, đã mười đời nay... Hoàng Đề hỏi: - Khí có nhiều ít, hình có thịnh suy, là thế nào? Quỷ Du Khu thưa rằng: - Khí của âm, dương, có kinh nhiều, có kinh ít, nên gọi là Tam âm, Tam dương. “Hình có thịnh suy” là nói về chủ trị của năm hành có thái quá và bất cập”. Cho nên lúc bất đầu: Do hữu dư mà ới, bất cập sẽ theo; do bất túc mà đi, hữu dư sẽ theo. Biết được nghĩnh (tức đi) và tùy (tức theo), thì cái khí thái quá hay bất cập có thể dự biết được. Ứng với trời là Thiên phù, ứng với năm là Tuế trị; “Tam hợp sẽ trị.
Hoàng Đề hôi:
– Trên dưới cùng cảm triệu, là nghĩa thể nảo?
Quỷ Du Khu thưa rằng:
– Hản, thử, táo, thấp, phong, hỏa... Thuộc về âm dương của trời. Tam àm, Tam dương, thượng phụng (như ứng theo) với nó. Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Thuộc về âm dương của đất, sinh, trưởng, hóa, thâu, Tàng ứng theo với nó,
Trời lấy khí dương để sinh, khí âm để trưởng? đất lẫy khí dương để sái (giảm bớt), khí âm để Tàng”?,
Trời có âm dương, đất cũng có âm dương, Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, hoá... Dó là âm dương của đất, chủ về sinh, trưởng hóa, thâu, Tàng. Cho nên trong dương có âm, trong âm có dương!”?.
Vì vậy, muốn biết âm dương của trời đất, ứng với khí của tròi, động mà không ngừng, cho nền cứ hết 5 nãm thì “hữu thiên”; ứng với khí của đất, tĩnh mà giữ VỊ, cho nên cứ hết sáu năm lại hoàn hội,
Động, tĩnh cùng triệu, trên dưới cùng Tâm, âm dương cùng thay đổi, sự biến hóa do đó mà sinh ra,
Hoàng Đế hỏi:
– Trên, dưới, chu, kỷ, có số nhất định chăng?
Quỷ Du Khu thưa rằng:
– Trời lấy số “sáu” làm tiết, đất lẫy số “năm” làm chế. Chu thiên khí thì cứ sâu năm là một lượt chung địa kỷ thì cứ 5 năm là một chu. Do đó. quân hỏa được sáng tỏ, tướng hỏa được yên ngôi??.
“Năm” với “sáu” cùng hợp, vậy nên cứ 720 khí làm một kỷ. Phàm 30 năm, cộng được 1440 khí. Tức 60 năm là một “chu”. Bất cập hay thái quá. đều do đó có thê thấy rõ được,
Hoàng Đế hôi:
– Theo lời nói của Phu Tử, trên rõ hết thiên khí, dưới rõ hết địa kỷ, thật là đây đú. Nhưng tôi muốn nhờ đó, trước để trị dân, rồi đến trị thân, khiến trăm họ hiểu biết, trên dưới cùng thân; đức trạch thắm nhuận, con cháu hết lo, truyền mãi về sau không bao giờ cùng... Vậy xin cho biết thêm...
Quỷ Du Khu nói:
– Cái định số của sự thái quá hay bất cập. rất là cơ vi. Nhưng khi tới có thê nhận thấy, khí đi có thể theo đõi. Vậy phải kính cần, không được coi thường, nếu trái lẽ đó, sẽ bị tai ương...
Hoàng Đề nói:
– Khéo nói về trước, tất hiểu sau; đã hiểu nơi sẵn, tất rõ chỗ xa. Chí số tế vi đến thế mà suy diễn không nhằm, thật là minh triết lắm rồi. Vậy xin Phu Tử giâng giải cho có điều lý, giản ước mà không thiểu, để dàng mà khó quên...
Quỷ Du Khu thưa:
– Tôi được nghe, về năm Giáp, Kỷ, Thổ vận làm chủ; về năm Ất, Canh, Kim vận làm chủ; về năm Bính, Tân, Thủy vận làm chủ; về năm Định. Nhẫm, Mộc vận làm chủ; về năm Mậu, Quý, Hỏa vận làm chủ...
– Hợp với Tam âm, Tam dương như thế nào?
– Về năm Tý, Ngọ, trên thấy Thiếu âm; về năm Sửu, Vị (Mùi trên thầy Thái âm; về năm Dẫn, Thân, trên thấy Thiếu dương: về năm Mão, Đậu trên thầy Dương minh; về năm Thìn, Tuất trên thấy Thái dương: về năm Ty, Hợi, trên thấy Quyết âm... Vậy Thiếu âm đó là Tiêu, mà Quyết âm đó là Chung (cuỗi cùng.
Ở trên Quyết âm, phong khí làm chủ; ở trên Thiếu âm, nhiệt khí làm chủ: ở trên Thái âm, thấp khí làm chủ; ở trên Thiếu dương, tướng hỏa làm chủ; ở trên Dương minh, táo khí làm chủ; ở trên Thái dương, hàn khí làm chủ. Đó tức là bản và gọi là “lục nguyền”.
Hoàng Đề nói:
– Đạo rất huyền ảo, bàn rất rõ ràng, xin ghi vào Ngọc bản, cất vào Kim quỹ và đặt tên là: Thiên Nguyên kỷ.
Chú Giải
- Năm hành của trời tức là năm khí: Đan là đỏ, kiểm là vàng, thương là xanh, tổ là trắng, huyện là đen. Năm VỊ, tức là vị của năm phương, mà cũng tức là năm hành của đất. Hản, thử, táo, thấp, phong, tức là sáu khí của trời. Ý đây nói: Năm khi của trời, hợp với sự phối hợp của mười Can, để hỏa sinh ra năm hành của đât; năm hành của đất lại sinh ra sáu khí của trời, 2) Năm Tàng, tức là do năm hành sinh ra. Khí của năm hành Tức là: phong, nhiệt, thấp. táo, hàn, Hỷ, nộ, ưu, tư, khủng là “thần chí” của năm Tàng. Noẩm như: Ở giờ là khí, ở đất thành hình, hình khí cùng cảm mà muôn vật hóa sinh. Con người nhờ năm hành của đất để gây nên thân hình. Do cái năm Tàng có hình để hóa sinh ra năm khí và năm chí... mà lại thông với thiên khi.
- «Trên luận", tức là nói những bải Lục tiết Tạng tượng v.v... Năm vận là: Năm Giáp, Kỷ thuộc về Thổ vận; năm Át, Canh thuộc về Kim vận; năm Bính, Tân thuộc về Thủy vận; năm Định, Nhâm thuộc về Mộc vận: năm Mậu, Quý thuộc về Hỏa vận. VỀ Tam âm, Tam dương thủ hai năm Tý, Ngọ, Thiếu âm làm chủ; hai năm Sửu, Mùi, Thái âm làm chủ; hai năm Dẫn, Thân, Thiếu dương làm chủ; hai năm Mão, Dậu, Dương minh làm chủ; hai năm Thìn, Tuất, Thái dương làm chủ; hai năm Ty, Hợi, Quyết âm làm chủ...
- Mười Can của trời, vận hóa năm hành của đất; năm hành của đắt, trinh lên sáu khí của Tam âm, Tam dương. Cho nên nói: "Năm vận và âm dương là đạo của trời đất". Đạo, tức là cái đạo hóa sinh, cương kỷ tức là cái cương kỷ của sự sinh, trường, hóa, thâu, Tàng.
- Vật sinh ra do ở "hóa", vật dễn cực do ở "biến". Biến, hóa cùng xen với nhau, thảnh bại do đó mà sinh ra. Ngữ thường chính luận nói: Khí bắt đầu mà sinh hóa, khí tan ra mà có hình; khí tán bố mà thịnh nhiều, khí cuối cùng mà tượng biến. Âm dương đó là đạo của trời đất. Trong âm có đương, trong đương có âm, không thể suy lường. Do đó phát triển ra bốn mùa, để hóa sinh muôn vật, còn khuôn thước nào có thể đo lường được. te Đạo trời u viễn, biến hóa vô cùng.
- Dạo cũng như đường lối. Phàm mọi sự, vật, nhật dụng, hết thảy dêu có cái lý tự nhiên của trời đất. Lý đó tức là đạo. f Hóa, tức hóa sinh muôn vật, đều do đất mới sinh ra sự biến hóa ấy.
- Năm Vị (Mùi), do năm hành sinh ra. Phàm muôn vật có tình có tính, hét thảy đều phải nhờ khí vị năm hành. lâu Người ta nếu đã theo đúng được cái lẽ tự nhiên của thiên lý, thời thị, âm, tà, chính tự nhiên phân biệt rõ ràng, mà thê dụng không hẻ thiếu sót, còn “trí” nào hơn nữa. Vị huyền viễn u thâm nên mới sinh ra thần. Thần tức tinh thần, thiêng liêng khôn lường. dị Phong, hàn, nhiệt, táo, thấp là âm dương của trời; Mộc, Hỏa, Thỏ, Kim, Thùy là âm dương của đất, cho nên nói: Ở trời là khí, ở đất thánh hình; hình khí tương cảm, mới hóa sinh ra muôn vật. Trời che, đãi chờ, muôn vật sinh ra ở khoảng đó.
- 1[ai khi Âm Dương, tả hữu vòng chuyển không ngừng, 84) Triệu chứng cũng như chứng nghiệm. Trời theo số một sình ra hành Thủy, đất theo số hai sinh ra hành Hỏa. Hóa là dương, Thủy là âm. Đây nói: Cái khí Âm Dương mắt không thê trồng thấy, nhưng đã có Thủy Hỏa để làm chứng nghiệm cho nó. Từ Chấn nói: Thủy hỏa tức là âm dương. Tiên thiên có thủy hóa, đến Hậu thiên mới có năm hành.
- Mộc chủ về tiết mùa xuân, khí nó sinh trường, mà sinh ra muôn vật; Kim chủ về tiết mùa thu, khí nó thâu liễm. mà thành muôn vật. Cho nên hai hành đó là sự thùy chứng của sự sinh thành. Tây Minh nói: Trên dưới, tả hữu là sáu hợp của trời đất; Thủy, Hỏa, Mộc, Kim là bốn mùa của âm dương.
- Ứ® Chu thời, tức là chủ về bốn mùa. Như Mộc vận chủ mùa xuân, hỏa vận chủ mùa hạ. Thổ vận chủ Trường hạ, Kim vận chủ thu, Thủy vận chủ đông v.v... C Cơ nhật là chọn ngày trong một năm. Cái khí của năm vận, đều lưu hành chọn một năm 365 ngày, hết vòng rôi lại bắt đầu.
- Đai thấy Thiên nguyên... là tên một thứ sách về đời Thượng cễ. Hóa nguyên: Bắt đầu của sự biến hóa, tức là nguồn gốc của tạo hóa. Năm vận tức là Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy. Chọn chu thiên: Nhật nguyệt đi được một độ, các vận sẽ chủ được một năm. "Chu thiên” một vòng của bầu trời. Bầu trời chia làm 365 độ và 14 của độ. Muôn vật đều nhờ nguyên thùy mà sinh ra năm hành, quanh năm vận chuyên không lúc nào ngừng... Dịch nói: "Lớn thay khôn nguyên, muôn vật nhờ lúc bắt đầu...
- Chân linh tức là người với loài vật, Tông thông khón nguyên: Khôn nguyên tức là dát. Đất ở trong bầu trời. trời bọc ngoài trái đất. Dịch nói: "Rất mực thay khôn nguyễn, muôn vật nhờ sinh ra.
- Chín sao là: Thiên bỗng, Thiên nhuế, Thiên xung, Thiên phụ, Thiên cảm, Thiên tâm, Thiền nhậm, Thiên trụ; chín sao này treo ánh sảng ở bảu trời, Ứng với phân đã của chín châu. Thất điệu là: nhật, nguyệt và ngũ tình (tức Mộc, Hỏa, Thủy, Kim, Thỏ), ngu thư gọi là thất chính.
- Dịch nói: Lập nên đạo trời là âm với đương, lập nên đạo đất là nhu (mềm) với cương (cứng. bu Dương chủ về ban ngây, âm chủ về ban đêm; "u, hiển" tức chỉ về âm dương, hàn (rẻ), thừ (năng); “thí, trương” buông, trùng, dương lên, tức cũng như văng lai (ổi, lại.
- Do sự hóa sinh mà phẩm vật đều phô bảy rõ rệt.
- Thái dương, Thiếu dương, Thiếu âm... Vận hành Tiên thiên mà chủ về hữu dư; Dương minh, Thải âm, Quyết âm, vận hành Hậu thiên mà chủ về bất túc. Đó là khí nhiều ít của Tam âm, Tam dương. "Hình" tức là nói về sự “hữu tình" của năm hành. Chủ trị của năm hành đều có thái quá bất cập, tức là nói về sự “chủ tuế" của năm vận. Tỷ như: Các năm Nhâm, mà Mộc _ vận thái quá, thì các năm Định, Mộc vận sẽ bất cập; các năm Tuất mà Hỏa vận thải quá, thì các năm Quý, Hỏa vận sẽ bất cập: các năm Giáp mà Thổ vận thái quá, thì các năm Kỷ, Thô vận sẽ bất cập; các năm Canh mà Kim vận thái quá, thì các năm Át, Kim vận sẽ bất cập; các năm Bính mà Thủy vận thái quá, thì các năm Tân, Thùy vận sẽ bắt cập.
- “Lúc bắt đầu"... Tức là nói: Thiên Can bắt đầu ở Giáp, địa chỉ bắt đầu ở Tý. Tỷ như: Năm Giáp mà Thổ vận thái quả, thì năm Át Kim vận bất túc sẽ nối theo năm Tỷ mà Thiểu âm hữu dư, thì năm Sửu Thái âm bất túc sẽ nối theo... Vậy: “Hữu dư mà đi, bất túc sẽ theo" là nghĩa đó. Lại tỷ như: Năm Át mà Kim vận bất cập, thì năm Bính thủy vận hữu dư sẽ nối theo; năm Sửu mà Thái âm bắt túc, thì năm Dân Thiếu dương hữu dư lại nỗi theo. Vậy "bát túc mà đi, hữu dư nối theo" là nghĩa đó. c Trong khoảng sáu mươi năm, lại có Thiên phù, Tuế hội, Tam hợp đề chủ tuế, đỏ tức là năm “bịnh khí", không có thái quá và bất cập. Về Thiên phù, như: Thuộc năm Thô vận, trên thấy Thái âm; thuộc năm Hòa vận, trên thấy Thiếu dương, Thiếu âm; thuộc năm Kim vận, trên thầy Dương minh; thuộc năm Mộc vận, trên thấy Quyết âm; thuộc năm Thủy vận, trên thấy Thái dương... Đó là cái khí cùa năm vận, cùng với cái khí Tư thiên cùng hợp, cho nên gọi là "thiên phù tuế hội". Lại như: Mộc vận mà lắm Mão, Hỏa vận mà lâm Ngọ, Thô vận mà lâm tú quy, Kim vận mà lâm Dậu. Thủy vận mà lâm Ty... Đó là địa chỉ chủ tuế. cùng với chủ tuế của năm vận và cái Khí của năm hành, vừa cùng pặp gỡ, cho nên gọi là Tuế hợp, “Tam hợp” là nói về khí của Tư thiên, khí của năm vận và khí của chủ tuế, ba thử Ấy cùng hợp với nhau. Lại có tên là: Thái ất Thiên phù. đều thuộc về năm "binh Khí", không có thái quá và bát cập. tỳ Hàn, thử, táo, thấp. phong, hỏa là sáu khí của trời; ở trên Thái dương, hàn khí làm chủ; ở trên Thiếu âm. nhiệt khí làm chủ; ở trên Dương minh, táo khí lam chủ; ở trên Thái âm. thầp khí làm chu; ở trên Quyết âm, phong khí làm chủ; ở trên Thiếu dương, Hòa khí làm chủ... Dó là Tam âm, Tam dương thượng phụng với sáu khí của trời. Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Hỏa... Đó là năm hành của đất. Tại mùa xuân chủ về hành Mộc và chủ về sự sinh; tại mùa hạ chủ về hành Hỏa và chủ về việc trưởng (làm cho lớn; tại mùa Trường hạ chủ về hành Thô và chủ về sự hóa; tại mùa thu chủ về hành Kim và chủ về sự thâu; tại rùa đông chủ về hành Thủy và chủ về việc Tàng. Đó là lấy sự "sinh, trưởng, hóa, thâu, Tàng" để ứng theo ở dưới. Bởi năm khi của trời, vận hóa năm hảnh của đất; năm hành của đất, lại biến thành sáu khí của trời... Thế là: "Trên dưới cùng cảm triệu" mà cái khí Tam âm, Tam dương là một thứ mà cả trời đất đều có. Nghệ Trọng Tuyên nói: Mộc, Hỏa, Hỏa là Tam dương cúa đất; Kim, Thủy, Thể là Tam âm cúa đất.
- "Nhị chí khí” là quân hỏa, "tam chi khí" là tướng hỏa. Đất cũng có đủ cái khí Tam âm, Tam dương, nên mới chia rõ: Mộc, Hòa, Thô, Kim, Thủy. Hỏa lả âm dương của đất.
- Nửa năm trở về trước, thiên khí làm chủ, vậy xuân hạ lại là âm dương của trời đất, cho nên trời lấy "đương đề sinh, âm để trưởng”; nửa năm trở về sau, địa khí làm chủ, vậy thu đông lại là âm dương của đất, cho nên đất lấy "đương dẻ sái, âm để Tàng". Trương Ngọc Sư nói: Cái khí Tư thiên làm chủ nừa năm về trước, cái khí tại toàn làm chủ nửa năm về sau. Cho nên nói: "Nừa năm về trước khí trời làm chủ, nửa năm về sau khí đất làm chủ”. Nhưng cái khí Tư thiên, bắt đầu từ bên hữu của trái đất; cái khí Tại toàn, gốc từ bên hữu của bầu trời. Khi của trời đát, lấn cùng cảm triệu, mà cùng chủ trị một năm... Lại không riêng gì thiên khí chủ trị nửa năm về trước, đại khí chủ trị nửa năm về sau mà thôi.
- Đoạn này nói rõ cái nghĩa: "Đất cũng có cái khí Tam dương, Tam âm" như thế nào. Phong, hản, thử, thấp, táo, hỏa... Tam âm, Tam dương thượng phụng với nó. Đó là âm dương của trời. Mộc, Hỏa, Thỏ, Kim, Thuy, Hòa... Sinh, trưởng, hóa, thâu, Tàng, ứng theo ở dưới; đó là âm dương của đất. Trời vốn là dương, mà trời cũng có cái khí Tam âm, Tam dương, thế là trong đương có ấm; đất vốn là âm, mà đất cũng có cái khí Tam âm, Tam dương, thế là trong âm có dương.
- mỨng với khí trời...", "khí trời" ở đây tức là cái khí: Dan, Kiềm, Thương, Tố, Huyền. "Động mà không ngừng", tức là nói, cứ hết 5 năm thi “hữu thiên" (vòng xoay về bên hữu), từ Giáp đến Át, từ Át đến Bính, từ Bính đến Dinh, từ Đình đến Mậu. Cái khí của năm vận đã chọn (hết), lại khởi bắt đầu vận trước. "Ứng với khí đất", tức là nói vẻ cái khí Mộc, Hỏa, Thố, Kim, Thủy, Hỏa. "Tĩnh mà giữ vị, sắu cơ rà hoàn hội..." Tức là nói: Từ Tý đến Sửu, từ Sửu đến Dân v.v... Cứ sáu năm đã đủ một "chu", lại chủ về nãm Ngọ mà bắt đầu khởi từ Thiếu âm.
- "Đông tĩnh cùng triệu..." là nói cái khí của trời đất cùng cảm triệu. “Trên dưới cùng làm” là nói năm khí của trời coi xuống năm hành của đất; cải khí Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Hóa của đất, sánh lên với sáu khí của trời... Vậy thế là: Trời số ngũ, đất số lục, trời số lục, đất số ngũ... Âm dương xen trộn lẫn nhau mà sinh ra sự biến hóa, cứ 30 năm là một "ky" và 60 năm là một “chu”. Lại xét năm khí của trời, qua vào khu vực 10 Can, đề vận hóa năm hành của đất. Đó là trời số năm mà đất cũng số năm. Mộc, Hỏa, Thô, Kim, Hỏa của đất, chía làm chủ cái bản vị của 12 chỉ, như: Tý, Ngọ thuộc Thiếu âm, quân hỏa tư thiên; Sửu, VỊ (Mùi) Thái âm, thấp thổ Tư thiên; Dân, Thân Thiếu dương, tướng hỏa tư thiên; Mão, Dậu Dương minh, táo kim tư thiên Thìn, Tuất Thái dương, hàn thủy tư thiên; Tý, Hợi Quyết âm, phong mộc tư thiên... Đó là đất số "lục", trời cũng sô "lục". "Hoàn hội: Vòng quanh rồi lại gặp, cũng như tuân hoàn.
- Trên, dưới, chu, kỷ" là nói: Can trời, chỉ đất. Năm với sáu cùng hợp, 30 năm là một "kỷ", 60 năm là một "chu". Trời lấy số “sáu” làm tiết... Tức là lây cái khí của Tam âm, Tam dương làm tiết độ; "lấy số "năm" làm chế" tức là lấy cái bản vị của năm hành làm chế độ. "Chu thiên khí" tức là: Tý thuộc Thiếu ám, quân hỏa tư thiên; Sửu thuộc Thái âm, thâp Thả tư thiên v.v... Cứ sáu "cơ" là dãy đủ (bị) một vòng của Tam âm, Tam dương. "Chung địa kỷ tức là; Giáp chủ Thỏ vận, Át chủ Kim vận, Bính chủ Thủy vận v.v,.. Cử năm là một chu của năm vận. Quân hỏa được sáng tỏ ở trời, tướng hỏa được yên ngôi ở đất... vì: Đất lấy "nhất hỏa" mà thành được năm hảnh, trời lấy "Tam hỏa" mà thành được sáu khi. Ngọc Sư nói: Mười hai chỉ của đất, trên ứng với khí Tư thiên; mười Can của trời, dưới hợp với năm hành của đit, $3 Mười lãm ngảy là một khí; năm vận, sáu khí cùng hợp để chủ một năm. cộng tắt cả 24 khí. Vậy 720 khí là một kỷ. "Kỹ" là một tiểu hội. Bởi lấy “năm sáu" làm ba mươi, mà "sáu năm" cũng là ba mươi, nên lẫy 30 làm một "hội", Từ Giáp Tý mà cuỗi cùng ở Quý Hợi, cộng 60 năm là một “chu. Vậy thái quá hay bất cập, do đó có thế biết được.
Chương sáu mươi bảy · Ngũ Vận Hành Đại Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế ngồi ở nhà minh đường, mới bắt đầu chỉnh lại thiên cương, rộng xem tám phương (cực), suy xét năm thường”), Mời Thiên sư (Kỳ Bá) mà hỏi rằng:
– Tôi nghe Phu Từ cho biết cái số về “ngũ vận”, chỉ có cái nghĩa là năm khí chủ về các năm mà thôi. Giờ Quỷ Du Khu lại nói với tôi rằng: “Thổ chủ về Giáp, Kỷ; Kim chủ về Át, Canh; Thủy chủ về Bính, Tân; Mộc chủ về Dinh, Nhâm; Hỏa chủ về Mậu, Quý... Và ở trên Tý, Ngọ, Thiếu âm làm chủ; ở trên Sửu, Mùi, Thái âm làm chủ; ở trên Dân, Thân, Thiếu dương làm chủ; ở trên Mão, Dậu, Dương minh làm chủ; ở trên Thìn, Tuất, Thái dương làm chủ; ở trên Ty, Hợi, Quyết âm làm chủ... So với âm dương của năm vận, sáu khí không hợp, là sao vậy?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quỷ Du Khu nói như vậy là hiệu cái đạo âm dương của trời đất đó. Phảm về số” mà có thể đếm được, là cái khí Âm Dương ở trong con người. Nhưng chỉ có thể đếm được cái “sở hợp” mà thôi. Đến như âm dương của trời đất, đếm có thể được mười, mà suy ra có thể thành trăm; đếm có thế được nghìn, mà suy ra có thê thành vạn... Vậy không thể nào lấy “số” đề suy mà chỉ có thê lấy “hình tượng” đê vỀ.
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết lúc đầu ra làm sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
- Thần xem ở Thái thủy Thiên nguyên sách có chép rằng:
Cái khí của Đan thiên, qua ở Mậu phận thuộc sao Ngưu, Nữ; cái khí của Kiền thiên, qua ở Kỷ phận, thuộc sao Tâm, Vỹ; cải khí Thương thiên, qua ở các sao Nguy, Thất, Liễu, Quy; cái khi của Tế thiên, qua ở các sao Tất; cái khí ở Huyền thiên, qua ở các sao Trương, Dực, Lâu, Vị... Như nói về Mậu, Ký phận, tức là khoảng sao Khuê, Bích, Giác, Chân, mà là cửa ngõ của trời đất. Tóm lại, bắt đầu của sự biến hóa, đạo do đó mà sinh ra, cần phải hiểu biết lắm mới được,
Hoàng Đế hỏi:
- Luận nói:
Trời đất là trên dưới của muôn vật, tả hữu là đạo lộ (đường lỗi) của âm dương, xin cho biết rõ nghĩa đó ra sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Luận nói về trên dưới, là trên dưới của từng năm, vả âm dương ở về nơi nào,
Nói về tả hữu:
Phàm trên thấy Quyết âm, thì bên tả là Thiếu âm, bên hữu là Thái dưong: thấy Thiếu âm, thì bên tả là Thái âm, bên hữu là Quyết âm; thấy Thái âm, thì bên tà là Thiếu dương, bên hữu là Thiếu âm; thấy Thiếu dương thì bên tả là Dương minh, bên hữu là Thái âm; thấy Dương minh, thì bên tả là Thái dương, bên hữu là Thiếu dương: thấy Thái dương, thì bên tả là Quyết âm, bên hữu là Dương minh... Đó là ngoảnh mặt về phương Bắc đề định rõ ngôi mà nói, rủ
Hoàng Đề hỏi:
– Thể nào là dưới?
Kỳ Bá thưa răng:
– Quyết âm ở trên thì Thiếu dương ở dưới, tả là Dương minh, hữu là Thái âm; Thiếu âm ở trên thì Dương minh ở dưới, tà là Thái dương, hữu là Thiếu dương; Thái âm ở trên thì Thái dương ở dưới, tả là Quyết âm, hữu là Dương minh; Thiếu dương ở trên thì Quyết âm ở dưới, tả là Thiếu ảm, hữu là Thiếu dương: Dương minh ở trên thì Thiếu âm ở dưới, tả là Thái âm, hữu là Quyết âm; Thái dương ở trên thì Thái âm ở dưới, tả là Thiếu dương, hữu là Thiếu âm... Đó tức là cái ngoảnh mặt về phương Nam để ấn định bộ Vị, còn sự nhận thấy là do người hướng về Bắc để xem vậy!?,. Trên dưới cùng gặp, hàn thử cùng lâm (tới); khi tương đắc thì hòa, không tương đắc thì bệnh. ẳ Hoàng Đế hỏi: - Khí không tương đắc mà bệnh. là thế nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Đó là vì lẫy dưới để lâm lên trên, không đúng với địa vị, nên sinh bệnh. - Động tĩnh như thế nào? - Ở trên thì hữu hành (đi vòng sang bên hữu), ở dưới thì tả hành... Tả hữu đi hết một “chu”, còn dư, thì lại hội. -ủa, Hoàng Đế hỏi: - Tôi nghe Quỷ Du Khu nói: “Ứng với đất thì tĩnh”, giờ Phu Tử lại nói: *Ở dưới thì tả hành...” vậy thế là nghĩa sao? Kỳ Bá thưa rằng: - Trời, đất, động, tĩnh, năm hành thiên, phục. Tuy đời trước của Quý Du Khu cũng chỉ biết được động tượng của trời mà thôi. Còn về “tĩnh hình” của đất thì vẫn chưa rõ, Cái công dụng của sự biến hỏa, trời bảy ra tượng, đất gây nên hình, “thất diệu" kinh vĩ ở khoản Thái hư, ngũ hành chương mỉnh ở trên mặt đất. Đát, cốt để chở mọi hình loại đã sinh thành; Thái hư, cốt để bày cái tinh khí hiển hiện ở trên trời. Sự động của hình với tỉnh, cũng như gốc rễ đối với cảnh lá. Ngừa lên xem tượng, dù xa cũng có thê biết được,
Hoàng Đế hỏi:
– Đất, ở về phần dưới, phải không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đất sở đĩ ở dưới người, chính vì nó ở trong khoảng Thái hư đó.
– Có nương tựa vào đâu không?
– Chỉ do “đại khí” mang lên đó thời?,
Nhờ khí táo để làm cho Can (khô), nhờ khí thử để làm cho __ chưng (như nung, nâu, hấp), nhờ khí phong để làm cho động, nhờ khí thấp để làm cho nhuận, nhờ khí Hỏa để làm cho kiên (cứng, rắn lại, nhờ khí Hỏa để làm cho ôn, cho nên khí phong hàn ở dưới, khí táo nhiệt ở trên, khí thấp ở khoảng giữa... Sáu khí đó dụ hành khắp ở trên và dưới, do đó mới thành được sự sinh hóa,
Cho nên khí táo thăng thì đất “can”, khí thử thắng thì đất nhiệt, khí phong thắng thì đất động, khí thấp thắng thì đất lầy (nê), khí hàn thắng thì đất nứt (lạt), khí Hỏa thắng thì đất có (rắn bền?
Hoàng Đế nói:
– Khí của trời đất, lẫy gì để “bậu” được?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí của trời đắt, và cái biến chuyển của thắng phục, không hình ra ở “chân” (tức chân mạch). Mạch pháp nói răng: "Sự biến của trời đất, không thể chân ở mạch...” tức là nghĩa đó?
Hoàng Đề hỏi:
– Gián khí như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng - Tùy cái “sở tại” của khí, phải dự kỳ ở hai bên tả hữu.
Hoàng Đề hỏi:
– Dự kỳ như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Theo với khí thì hòa, trái với khí thì bệnh“ ”. Không đúng với địa vị cũng sinh bệnh!®; thay đổi mất địa vị cũng bệnh: bỏ mất cái địa vị nên giữ thì nguy”?; Xích với thôn trái nhau thì chết”; Âm: dương giao nhau cũng chết. trước hãy lập lẫy năm, để biết là khí pì và tả hữu tương ứng như thế nào, rồi sau mới có thê nói được đến tử, sinh. nghịch, thuận.
.ủa
Hoàng Đề hải:
– Hàn, thử, thấp, táo, phong, hỏa... hợp với người như thế nào? Dối với muôn vật, sao mà hóa sinh được?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đông phương sinh ra phong. phong sinh hành Mộc, Mộc sinh ra vị toan (chua), toan sinh ra Can, Can sinh ra cân, cần sinh ra Tâm! nó ở trời là huyện, ở người là đạo, Ở đất là hóa. do hóa mà sinh ra năm Vị. Dạo sinh ra trí, huyền sinh ra thần, hóa sinh ra khí. Thần, ở trời là phong, Ở đất là Mộc, ở thể là cân, ở khí là nhu (mềm mại), ở Tàng là Can.
Tính của nó là huyện (ấm áp):
đức của nó là hòa; công dụng của nó là động; sắc của nó là thương (xanh): về sự hóa của nó là vinh (tươi tốt). Thuộc về trùng là giếng có mao (lông), chính của nó là tán (sơ tán), bệnh của nó là tuyên phát, sự biến của nó là tôi lạp (bẻ gãy; tai sành của nó là vẫn (rơi rụng), Vị của nó là toan, chí của nó là nộ.
Do nộ sẽ làm thương Can, nhờ “bí” sẽ thăng nộ, phong làm thương Can; táo sẽ thăng phong, toan làm thương cân, tân sẽ thắng toan, Nam phương sinh nhiệt, nhiệt sinh ra hành Hỏa, Hỏa sinh ra vị khổ, khổ sinh ra Tâm, Tâm sinh ra huyết, huyết sỉnh ra Tỳ. Nó ở trời là nhiệt, ở đất là Hỏa, ở thể là mạch, ở khí là tức (hơi thở), ở Tàng là Tâm. Tính cúa nó là thử (nắng, nóng), đức của nó là hiền (tỏ tường, rõ ràng), công dụng của nó là táo (nóng nảy, vội vàng), sắc của nó là xích (đỏ), hóa của nó là mậu (tốt, về mùa hạ cây cỏ rậm rạp). Thuộc loại trùng là loài ví (lông cánh), chính của nó là minh (sáng), lệnh của nó là uất chưng (nung nấu, nóng bức), biến của nó là viêm thước (bốc cháy), tai sảnh của nó là phân, bính (đốt; viêm thước, phân, bính đều là hình dưng cái khí cực nhiệU, vị của nó là khổ, chí của nó là hỷ. Hỷ làm thương Tâm, khủng sẽ thăng được hỷ; nhiệt làm thương khí, hàn sẽ thắng được nhiệt; khổ làm thương khí, hàn sẽ thăng được khô.
Trung ương sinh ra thấp, thấp sinh ra hành Thể, Thổ sinh ra Vị cam, cam sinh ra Tỳ, Tỳ sinh ra nhục, nhục sinh ra Phế, Nó ở trời là thấp, ở đất là Thổ, ở thể là nhục, ở khi là xung (đây), ở Tàng là Tỳ, Tính của nó là tĩnh, đức của nó là nhu (âm ướt), công dụng của nó là hóa, sắc của nó là hoàng (vàng), hóa của nó là doanh (đây, cũng như xung), về trùng thuộc loại khỏa (loài trùng có nhiều chất thịt, do đất sinh ra), chính của nó là yên tĩnh, lệnh của nó là mây mưa; biến của nó là chú (ẫm ướt quá); tai sảnh của nó là râm hội (lở nát, khi thấp nhiều quá)... Vị của nó là cam, chí của nó là tư (nghĩ, nhớ). Tư làm thương Tỳ, nộ sẽ thắng được tư; thấp làm thương nhục, phong sẽ thăng được thấp; cam làm thương Tỳ, toan sẽ thắng được cam.
Tây phương sinh ra táo, táo sinh ra hành Kim, Kim sinh ra tân, tân sinh ra Phế, Phể sinh ra bì mao, bì mao sinh ra Thận. Ở trời là táo, ở đát là Kim, ở thể là bì mao, ở khí là thành, ở Tảng là Phế. Tính của nó là lương (mát), đức của nó là thanh (trong trẻo), công dụng của nó là trắng, hóa của nó là liễm (thâu, liễm lại). Thuộc về trùng là loài giới (loài có vỏ cứng bên ngoải như trai, sÒ), chính của nó là kinh (củng cáp), lệch của nó là vụ lộ (mủ, móc), biến của nó là túc Sát, tại sảnh của nó là úa rụng. Vị của nó là tân, chí của nó là ưu. Ưu làm thương Phế, hỷ sẽ thăng ưu; nhiệt làm thương bì mao, hàn sẽ thắng nhiệt; tân và thương bì mao, khô sẽ thăng tân??,
Bắc phương sinh hàn, hàn sinh ra hành Thủy, Thủy sinh ra vị hàm, hàm sinh ra Thận, Thận sinh ra cốt tủy, tủy sinh ra Can (cứng. Ỡ trời là hàn, ở đất là Thuỷ, ở thể là cốt (xương); ở khí là kiên (cứng), ở Tàng là Thận. Tính của nó là lâm (rét, run), đức của nó là hản, công dụng của nó là (...? nguyên bản khuyết một chữ), sắc của nó là hắc (đen), tà của nó là túc (nghiêm ngặt). Về trùng thuộc loại lân (oải có váy), chính của nó là tĩnh (yên lặng), lệnh của nó là) (...? nguyền bản khuyết một chữ), nó biến là ngưng lật (rét buốt), tai sánh -_ của nó là băng hộc (mưa đá). Vị của nó là hàm, chí của nó đều có chủ trị về từng mùa. Nhưng nếu khí “phong lập” mà lại không phải Xuân lệnh. khi nhiệt lập mà không phải hạ lệnh, khi thấp lập ma không phải Trường hạ lệnh; khi táo lập mà không phải Thu lệnh, khí hàn lập mà không phải Đông lệnh v.v... Đó đều là “lập” không phải VỊ, sẽ là cái tà “thắng phục”, vậy... nếu phong lập đúng Xuân lệnh, nhiệt lập đúng Hạ lệnh, thấp lập đúng Trường hạ lệnh, Táo lập đúng Thu lệnh, Hàn lập đúng Dồng lệnh... Đó đều đúng với ngôi của mình, và là sự chính của Bản khí. Vậy phải trước “lập lẫy vận”, rồi sau mới biết thế nào là đúng vị hay không đúng vị. Khí tương đắc và không tương đắc v.v... Theo Vương Băng thời chú giải răng: “Mộc ở Hoà vị. Hoà Thổ vị. Thổ ở Kim vị. Kim ở Thuỷ vị, Thuỷ ở Mộc vị. Mộc ở quân vị v.v... Như thế tuy là tương đắc, nhưng rút lại vẫn lả "con lấn ở cái ngôi của cha mẹ”, kẻ dưới lăng người trên, cũng là tiêu nghịch. Nếu Mệ: ở Kim thổ vị, Hoả ở Kim thuỷ vị.: Thổ ở Thuỷ mộc vị. Kim ở Hỏa mộc vị. Thuy ở Hoả thổ vị v.v... Như thế là không tương đặc. sẽ mắc bệnh nặng. Vậy trước phải lập vận khí và cái khí tư thiên. thời khí ở nơi nảo, tương đắc hay không, mới có thể biết được. Vẻ chủ tuế cũng là nói về cái khí của năm phương trên kia, đều trị về chính lệnh của mỗi năm. Tuế khí hữu dư, thời nỏ sẽ chế được *“sở thắng", mà “võ” cái “sở bất thắng”. Tỉ như: cái khí của Tuế mộc trị chính mà hữu dư thời nó chế Thỏ khí, mà sự hoá của khí thấp sẽ bị giảm ít: nó lại “võ” Kim khí, mà cái hoá của phong sẽ đại phát triển. Nếu là bất cập, thời cái “Kỷ sở bất thắng" nó sẽ “võ” mà lẫn lên, cái “ký sở thắng” nó sẽ khinh mà “võ” theo. Tỉ như cái khí của Tuế mộc trị chính mà bắt cập, thời Kim khí thắng, nó sẽ “võ” mà rấn lên, sự hoá của khí táo sẽ do đó mà tán bố. Đến như: “Võ lại thụ tà v.v...”. Tỉ như: Kim “vỡ” Mộc mà bắt cập, rôi theo mà lắn lên. Thời Mộc dối với Hoả, sẽ báo phục cái sự thăng đó mà “võ” lại, té ra Kim lại thù tà. Kim đã thụ từ, thời cái Mộc bắt cập kia không còn sợ gì nữa, sẽ lại được xênh xang thư xướng.
Từ đoạn “Đông phương sinh phong”... trở xuống, phần nhiều đã có ở thiên Kim quỹ chân ngôn luận, Âm dương ứng tượng đại luận. Nền không giải nghĩa từng câu, e thêm sự trùng phức.
(TRỞ LÊN HÊT QUYÉN THỨ VI
Chú Giải
- Âm dương ở trong con người, sinh ra bởi số "5", về khí thì có "3". Do "ba” mà thành trời, đo "ba" mà thành đất, do "ba“ mà thành người. Ba nhân với ba thành chín, chín chĩa làm chín "rã", chín "rã" hợp với chín Tàng để Ứng VỚI cải tiết "sáu, sáu" của trời. Đó là âm dương của trời, với trời đất cùng hợp... Mà cái số "hợp" đỏ có thê đếm được. Lấy "hình tượng đề ví... Tức như ở tiết dưới nói: Đan thiên, Kiền thiên v.v...
- Đây nói về sự hóa vận của năm hành, bất đầu phát sinh từ thiên tượng ở năm phương. Đan, sắc xích, là khí của hỏa. Ngưu, Nữ ở "độ" quý; qua Mậu phận thuộc Ngưu, Nữ. Do đó. Mậu với Quý hợp mà hóa Hỏa. Kiền sắc vàng. là khí của đất. Tâm, Vỹ ở độ Giáp; qua Kỷ phận thuộc Tâm, Vỹ... Do đó, Giáp với Ký hợp mà hóa Thổ. Thương, sắc xanh, là khí của Mộc; Nguy, Thất ở độ Nhâm, Liễu. Quỷ qua độ Định... Do đó, Dinh với Nhâm hợp mà hóa Mộc. Tố sắc, trắng là khí của Kim; Can Đê ở độ Ất, Mão Tất ở độ Canh... Do đó Ất Canh hợp mà hóa Kim. Huyễn, sắc đen, là khí của thủy, Trương, Dực ở độ Bính; Lân, VỊ ở độ tần... Do đó, Bính, Tân hợp mà hóa Thủy; Mậu, Kỷ ở trung cung, là cửa ngõ của trời đất. Đông áp kinh nói: Sáu Mậu là Thiên môn, sáu Ky là Địa hộ, ờ về địa phận các sao Khuê, Bích, Giác, Chân. Khuê, Bích ở phương Càn, Giác, Chân ở phương Tốn. Đó là sự bắt đầu của năm khí hóa ra năm hành... Đạo của trời đất rất huyền điệu, ta nên suy xét. Ngọc Sư nói: Nhận ở trời, qua một lân khí sắc mơ màng ân hiện, nên ta chỉ trồng thấy những sắc: đan, kiên, thương, tố, huyền... Đến ờ đất thì đã thành ra cái hình của năm hành, nên mới thấy rõ là: thanh, hoàng,. xích, bạch, hắc...
- Ở dây, lại nói về sự trên, dưới, tả, hữu của sáu khí. Tư thiên ở trên, Tại toàn ở dưới, muôn vật hóa sinh ở khoảng giữa, nên trời đất mới là "trên dưới của muôn vật". Tá hữu tức là "gián khỉ", gián khí để "ký bộ" (ghi từng bộ), nên là đường lối của âm dương. Từ Chân Công nói: "Ngũ với lục cùng hợp lại mới thành một năm. Nên ở trong thiên Muốn ván lại bản cả lục khí. Đây nói về Tư thiên, Tại toàn ở trên dưới. Như năm Tý, Ngọ, Thiếu ầm ở trên thì Dương minh ở dưới. Năm Sửu, VỊ (MùU, Thái âm ở trên thì Thái dương ở dưới, Năm Dần, Thân, Thiếu dương ở trên thì Quyết âm ở dưới. Năm Mão, Dậu, Dương minh ở trên thì Thiếu âm ở dưới. Năm Thìn, Tuất, Thái dương ở trên thị Thái âm ở dưới. Năm Ty, Hợi, Quyết ầm ở trên thì Thiếu dương ở dưới. Đó là sự trên dưới của Tam âm, Tam dương.
- Đây nói về sự phân biệt tả hữu: Đông là tả, Tây là hữu. Như thấy Quyết âm ở trên, thì Thiểu âm ở bên tả, Thái dương ở bên hữu; thấy Thiếu âm ở trên, thì hát âm ở bên tả, Quyết âm ở bên hữu; thấy Thai âm ở trên, thì Thiếu dương ở bên tả, Thiếu âm ở bên hữu; thấy Thiếu dương ở trên, thì Dương minh ở bên tả. Thái âm ở bền hữu; thấy Dương minh ở trên, thì Thải dương ở bên tả, Thiểu dương ở bên hữu; thấy Thái dương ở trên, thì Quyết am ở bên tả, Dương minh ở bên hữu. Sỡ đi có sự nhận xét như trên đây, vì để đỗ tượng ngoành mặt về phương Nam. còn mình thì hướng về phương Bắc để xem. Do dó để nhận trên dưới và tả hữu, cũng vì thế, nên trên mới nói Đông là tả, Tây là hữu v.v... ®) Đây nói về phân biệt tà hữu ở dưới. Như năm Ty, Hợi, Quyết âm ở trên thì Thiếu dương ở dưới, mà Dương minh thì ở tả của Thiếu dương, Thái âm thì ở hữu của Thiếu dương v.v... Kim Tây Minh nói: Phàm tả hay hữu của trên với dưới đều lấy Đông làm tả, Tây làm hữu, cho nên "điện Nam, diện Bắc" để xem. Nếu chỉ “Nam điện" đề xem, như khí ở dưới mà "tả hành" thì khí ở trên sẽ "hữu chuyển"... Cho nên dưới đây có nói: "Ở trên thì hữu hành, ở dưới thì tâ hành. “Tương lâm”: là nói về sáu khí đưa tới (đi đến, xen lên, xen vào. Dây, tông kết tiết trên, nói về: cái khí Tư thiên, Tại toàn, thì trên dưới cùng gặp nhau; mà cái khí của tả hữu "gián khí", thì do bốn mùa để "gia lâm. Như cái khí của Thải đương hàn thủy, “gia lâm" về nữa năm trước, thì cái khí thử nhiệt của Thiếu âm, Thiếu dương, sẽ "gia lâm" về nửa năm sau, chị nói hai khí hàn thử, mà tất cả sáu khí đều có thể suy ra biết được.
- Đây nói về sáu khí gia lâm, cùng với sáu khi chủ về mùa, có khi tương đắc và có khi không tương đắc. Tương đắc như: Cái khí của Thiếu âm quân hỏa, với cái khí của Thiếu dương tướng hỏa cùng hợp, đó là quân thần tương đắc, vì quân vị ở trên mà thần vị ở dưới, Vậy, quân hỏa “gia lâm" lên trên tướng hỏa là dúng nếu tướng hỏa lại "lấn lên”, lên trên quân hỏa, thế là Dương khí sụt xuống. “Thượng” không giữ được đúng địa vị nữa. Sự thuận nghịch của sáu khí, sinh ra bệnh hay không sinh bệnh, cũng theo một tỉ lệ như vậy.
- Động, tĩnh là cái đạo của trời đất, ở trên thì Tư thiên, ở dưới thì nhiễu địa. Như năm Tý, Thiếu âm ở trên, thi Dương minh sẽ ở dưới. Chu thiên 365 ngày, thì ở phần trên hữu hành từ Thái âm, mà ơ dưới thì tả hành từ Thải dương. Trên, dưới, tả, hữu, vừa chủ sáu năm Tư thiên, còn thừa Ngọ. Vị (Mùi). Thân, Dậu, Tuất, Hợi sáu năm nữa, lại "hoàn chuyên" mà "phục hồi”. Tiết trên nói về điện Nam, điện Bắc... Đều lấy tả ở Đông mà hữu ở Tây. Đây lấy đồ tượng không chia Nam, Bắc để xem. thì ở dưới đều tà hành, mà ở trên đều hữu hành. Trời đất động tĩnh, là nói về cái khí Tư thiên, Tại toàn, "nhiễu địa (vòng quanh trời đất) để hoán chuyên, "Ngũ hành thiên phục”, là nói: Năm vận cùng nối nhau, hết chu rồi lại bắt đầu. la Đây nói về đất ở trong bảu trời, bầu trời bọc ở ngoài trời đất, Vì thể nên thiên khí "hữu toàn" ở trên. mà địa khí tả chuyên ở dưới, Cóng dụng của sự biến hóa, tức là nói về sự vận động của âm dương. Thất diệu là nhật, nguyệt và ngũ tỉnh, “Tinh” tức là "tỉnh thủy" do Thiên ất sinh ra. “Sự động của hình với tính..." tức là nói: Cái khí Tại toàn ở dưới đất toàn chuyền, cũng như gốc rễ không động mà cảnh lá động dao, nhưng căn khí lại cùng với cành lá cùng thông. Vậy ngửa trông thiên tượng thấy nhật nguyệt và ngũ tỉnh "nhiễu địa" đề "hữu toàn", thì đạo dù sâu xa, cũng có thê biết.
- Đây nói: Đất ở trong khoảng thái hư, không phải nương tựa vào đâu, chỉ đo đại khí "mang" lên đây mà thôi.
- Theo Thiên văn chí về Hỗn thiên nghỉ giải về trời đất, có chép: "Hinh trạng của giời tựa như trứng chìm. Đất ở bên trong, trời bọc bên ngoài cũng như lòng trăng trứng bao bọc lấy lòng đỏ ở trong. Vì tròn như viên đạn, nên gọi là "hồn thiên". Vậy, một nửa trời treo ở trên đất, một nửa ằ trời bọc phía dưới đất. Cái nửa bầu trời ở phía trên đất mà ta trông thấy đó, có 182 độ và hơn nửa độ; còn ở dưới đất cũng vậy. Bắc cực nhoi lên trên 3 độ; Nam cực chìm xuống phía dưới đất cũng 36 độ v.v...”. Xem đó thì thuyết của Hôn thiên, cũng thoát thai từ Tổ vấn mà ra.
- Đây nói về sáu khí “du hành" ở khoảng trời, đất trên dưới. Phong, hản, thử. thấp, táo, hỏa, đó là cái khí vô hình ở trời. "Can, chưng, động, nhuận, kiên, thân", đó là cái triệu chứng bảy ra trên đất. Vĩ bâu trời bọc ở ngoải trái đất, vì vậy ở trên Tư thiên, ở dưới Tại toàn và ở trong trái đất, ngoài tám cõi, trong sáu hợp, không đâu là không đến. Hàn thủy ớ dưới, mà phong do trong “địa thùy” sinh ra, nên mới nói: "Phong hàn ở dưới". Táo là cái khí của Càn kim, nhiệt là cái Hỏa của Thái dương, cho nên nói "táo nhiệt ở trên”. Thổ, địa vị ở trung ương, cho nên nói "thấp, khí ở giữa". Hỏa là Nguyên dương ở trong Thái cực, tức là Dương khí của trời, cho nên du hành ở khoảng trên dưới. Dịch nói: “Nhật nguyệt vận hành, một hàn một thứ”. Do sự "vãng lai của hai khí hản thử, khiến sáu thứ khí kia đều lọt vào trong đất, làm cho cái đất hữu hình, tiếp thụ cái hư khí vô hình để hỏa sinh ra muôn vật.
- Đây tổng két lại tiết trên nói sáu thứ khí đu hành vào trong đất.
- "Khí của trời đất”, tức là nói về năm vận và sáu khí, "thăng, phục” là nói về "râm thăng", và "uất phục". Đây nói: Do sự biễn của "khí, vận" khiến dân phát sinh bệnh tật, không thể dùng phép “chân, hậu" mà có thể biết được. Bởi năm, có sáu khí Tư thiên, có năm vận chủ tuế, lại có sự “Gia lâm" của gián khí, và chủ khí của bốn mùa. Con người sống trong khoảng “khí giao” của trời đất. hễ gặp một khí không hòa, sẽ pây nên tật bệnh. Vậy cái khí của trời đất và bốn mùa gây nên tật bệnh đó, không thể dùng phép chân mạch mà phân biệt được hòa hay không hòa.
- Bình Mạch Thiên nói: "Mắc bệnh phục khí, phải lấy ý để hậu (nghe); giờ ở trong tháng; "phục" (ân nấp) có phục khí; nhưng nếu trước cũng có phục khí, thời hãy chân mạch”... Bởi cái khí của trời đất, một khí "râm thắng", thời cái khí "sở bất thắng" sẽ bị uất phục. Người cảm nhiễm phải nó mà gây nên bệnh, cái khí đó cũng phục ở trong mà không hình ra mạch, chỉ có thể dùng ý đề "hậu". Hậu ở trong tháng này, có thứ khí nảo bát hòa, thời sẽ biết được người mắc bệnh là do phục khí ấy. Nếu do phục có "uất khí" mà nó lại phát ra khiến người mắc bệnh, thì mới hiện ra mạch. Cho nên trên nói: "Ví phỏng trước có phục khí, sẽ nền xem mạch". Về chứng nói trên đây, so với các chứng do cảm phải phong, hàn, thử, thấp... mà sinh bệnh không giống nhau.
- gián khí" tức là nói về sự "gia lâm" của sáu khí. Vì ở trên có tả hữu, dưới cũng có tả hữu, mà xen ở vào khoảng đó cộng có sáu khí, nên gọi là "gián khí" (cái khí đi xen vào). Nó, cứ hãng năm, gia lâm vào trong bốn mùa, đều "chủ" 60 ngày, nên mới nói: "Gián khí để kỷ bộ”, bộ: sáu mươi ngày linh 87 khắc rưỡi là một bộ. Lục Vị chỉ luận nói: "Ồ trên Thiên khu, Thiên khí làm chủ, ở dưới Thiên khu, Địa khí làm chủ...". Lại nói: "Gia" ấy là địa khí, "trung" ấy là thiên khí. Bởi do cái khí ở dưới tả chuyển, cải khí ở trên hữu toàn. Về mùa đông làm chủ 60 ngày để cho trọn một năm. Cho nên nói: “Theo cái khí ở trên ở dưới nó ở nơi nào, đề dự kỳ sự toàn chuyên tà hay hữu. Tỷ như: năm Tý, Thiếu âm ở trên, thì Dương mỉnh sẽ ở dưới; Thiếu âm ở trên, thì Quyết âm ở tả mà Thái âm ở hữu. Dương minh sẽ ở dưới thì Thái dương ở tả mà Thiếu dương ở hữu. Bởi do đất tả chuyên mà làm chủ về sơ khí. Cho nên lấy Thái dương làm chủ về tháng giêng, ngày Sóc, giờ Dàn, khắc thứ nhất làm bát đầu, thứ đến Quyết âm, thứ đến Thiếu âm, để tư (coi) cái khí của trời. Hết ba khí đó để làm chủ về nửa năm về trước. Thứ đến Thái âm, đến Thiếu dương, đến Dương minh... Lấy cái khi Tại toàn, làm trọn sáu khí và chủ về nửa năm về sau. Dều gia lâm 60 ngày đề cho hết một năm. Sáu khí hoàn chuyền đều như vậy. Từ Niên nói: Cái khí Tư thiên bắt đầu từ đất mà cuối cùng ở trời; cái khí Tại toản bắt đầu từ trời mà cuối cùng ở đất. Đó là sự thăng giảng và vượng tướng của trời đất.
- "Gián khí" tức là cái khách khí gia lâm; mà ở trong một năm, lại còn có sáu khí chủ thời. Như chủ theo với khách thì hòa, chủ trái với khách thì sẽ sinh bệnh. Như năm Tý, Ngọ, cải khí, lúc bắt đầu, thuộc về Thái dương hàn thủy gia lâm, chú khí là Quyết âm phong mộc, nếu hàn thắng được phong là "tùng" (thuận, theo), phong thắng được hàn là nghịch... Cho nên Kính nói: "Chủ thăng nghịch, khách thẳng tùng...". Sáu khí đều như vậy.
- "Không đúng với địa vị..." Tức như ở trên: "lẫy ở dưới mà làm ở trên” v.v...
- Như “sơ chỉ khí" thuộc Thái dương hàn thủy gia lâm mà lại nhiệt, "tam chỉ khí" thuộc Thiếu âm quân hỏa gia lâm mà lại hàn... Cái khí của "bán vị" thay đổi lẫn lộn như vậy, đó là sự trái ngược của khí. Nên mới phát __ sinh tật bệnh. Sáu khí đều như vậy.
- “Thất thủ..." Tức là bỏ mất cái vị cần phải giữ của mình. Như năm Sưu, Ty, Thái âm Tư thiên, thì cái khách khí "sơ” sẽ chủ khí, lại kiêm chủ cả Quyết âm phong mộc. Vậy mà cái khí "thanh túc" nó thừa cái "sở bất thắng“ để lắn hiếp, thế là Kim bị thất thủ cái bản vị của mình rồi. Đến cái khí về số "ngũ" thuộc về Dương minh thu Kim chủ khí, mà bản vị lại hư, cát "tử khí" (khí của con) của phong mộc phục thù, hỏa nhiệt hun lên Kim, thì chứng hận sẽ rất nguy. Vậy câu nói: "Võ phản thụ tà”, chính là nghĩa đó. Ngọc Sư nói: Kim không bỏ mất bản vị, thì Kim khí không hư. Kim khí không hư, thì sẽ có cái thủy khí do nó sinh ra để chế hỏa... Nếu “thất thủ thì cả hai mẹ con đều hư, nên mới lả bệnh nguy.
- Những năm thuộc về Nam chính, Bắc chính, có chía ra "Thến không ứng" và "Xích không ứng". Nếu nên không ứng mà lại ứng, thế là "xích, thốn tương phản.
- Những năm thuộc về Nam chính, Bắc chính, có sự "bất ứng của tả, hữu, Xích, Thôn. Bởi tả là dương, hữu là âm, Thến là dương, Xích là âm... Nếu âm dương đều cùng ứng, sẽ chết.
- Đây nói tổng kết về sự gia lâm của sáu khí. Trước lập lấy cái năm chủ khí, đề suy biết cái khí Tư thiên, Tại toàn, thì cái gián khí nó ứng hiện ở tả hữu, hoặc thuận, hoặc nghịch thế nào, đều có thể biết và quyết đoán được là chết hay sống.
- Năm phương sinh ra năm khí của trời; năm khí sinh ra năm hành của đất. Năm hành lại sinh ra năm VỊ; đo năm VỊ mà sinh ra năm Tàng, Năm Tàng lại sinh ra năm thẻ tương hợp ở bên ngoài... Xem đó thì biết con người nhờ trời đát và "khí, vị" của năm phương mà sinh ra.
- Đây nói về sự biến hóa khôn lường của âm dương nó vận hành ở khoảng trời, đất và người. Làm “huyền”, làm "đạo", làm "hóa", làm cái năm hành có hình, và năm thê, năm Tàng... Đèu là sự Thần minh diệu dụng không thể cùng cực. Nhu (mềm) là cái khí của phong mộc.
- *Tịnh" ở đây là nói về cái tính của năm hành. Đức, chính, biến v.v... đều là hình dung cái sự phát triển và công năng của phong mộc. Trời có năm hành, ngự "năm Vị" để sinh ra hàn, thử, táo, thấp, phong: người có năm Tàng hóa năm khí để sinh ra hỷ, nộ, ưu, tư, khủng. Vậy là người nhờ năm Vị, năm khí đề sinh, thể mà lại bị thương bởi năm khí, năm chí, cũng như nước có thê chớ được thuyên, mà lại có khi làm đăm thuyền vậy. Phàm những chữ: "Vinh", "tán", "tuyền phát”, "tôi lạp” v.V... Đều do chữ phong mộc ở trên mà dùng đề hình dung cho có vẻ mầu mỡ linh động. Đó là một thê tài riêng của Hán văn.
- Án: Ở mùa xuân thì nói: "Phong làm thương Can", ở mùa hạ thì nói: "nhiệt làm thương khí", ờ Trường hạ thì nói: "Thấp làm thương nhục", ở mùa đồng thì nói: "Hàn làm thương huyết", đó là nói cái bản khí của bỗn mùa tự thương. Riêng ở mùa thu thì nói: "Nhiệt làm thương bì mao..." Đó là bị cái khí sở thắng nó làm thương. Đó là có ý nói: Năm Tàng có khi bị thương do bản khí của bốn mùa, nhưng cũng có khi bị thương đo cái khí "sở thắng, đem cái sự không giống của một Tàng nêu ra, có thể suy ra cả năm Tàng. Ngọc Sư nói: Thu nỗi theo cái khí nóng của mùa hạ, biển viêm thước làm thanh lương (mát mẻ). Nếu cải khí viêm nhiệt vẫn chưa hết, thì sẽ bị nó làm hạt mà sinh bệnh.
Thiên 68–71 · Lục Vị Chỉ Đạ Luận Thiên → Ngũ Thường Chính Đại Luận Thiên
Chương sáu mươi tám · Lục Vị Chỉ Đạ Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Xa thăm thay cái đạo của trời! Như đón mây nỗi, như trông vực sâu. Vực sâu còn có thê đo lường, mây nỗi ai biết đâu là cùng cực! Phu Từ thường nói: “Phải tuân đạo trời”, lòng tôi ghi nhớ. Nhưng cái nguyền lý như thế nào, xin cho biết rõ...
Kỳ Bá thưa rằng:
– Muốn rõ thiên đạo, cần phải biết cái sự tuân tự của trời và sự thịnh suy của thì bệnh.
– Xin cho biết cái tiết “lục lục” của đạo trời, và sự thịnh suy như thế nào?
– Trên dưới có “Vị”, tả hữu có “kỷ”. Cho nên bên hữu Thiếu dương, Dương minh chủ trị; bên hữu Dương minh, Thái dương chủ trị; bên hữu Thái dương, Quyết âm chủ trị; bên hữu Thái âm, Thiếu dương chủ trị; đó tức bảo là ' “Tiêu” của khí đo Nam diện mà xem. Cho nền nói: "Nhận sự tuân tự của trời, để biết cái thời bệnh thịnh suy” vậy theo sự vận hành của nhật nguyệt, để định cái VỊ của hai khí, chính nam diện để xem... Tức là nghĩa đót, - Ở trên Thiếu dương, Hỏa khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy
Quyết âm. Ở trên Dương minh, táo khí chủ trị, khoảng “trung” (giữa sẽ thấy Thái âm. Ở trên Thái dương, hản khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thiếu âm. Ở trên Quyết âm, phong khí chủ trị, ở khoảng “trung sẽ thấy Thiếu dương. Ở trên Thiếu âm, nhiệt khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Thái dương. Ở trên Thái âm, thấp khí chủ trị, khoảng “trung” sẽ thấy Dương minh. Ây bảo là “bản” đó. Ở dưới bản, tức là “trung” mà sẽ thấy, dưới chỗ “thấy” đó, tức là tiêu của khí?
Bản, tiêu không giống, khí ứng khác tượng, Hoàng Đế hỏi:
– Về khí, có khi nên đến mà đến, có khi nên đến mà không đến, có khi đến mà thái quả, là thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nên đến mà đến là hòa; nên đến mà không đến, là “lai khí” bất cập; chửa nên đến mà đã đến là “tai khí” hữu đư'?.
Hoàng Đế hỏi:
– Nên đến mà không đến, chửa nên đến mà đã đến. Như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Đúng (ứng) là thuận, trái là nghịch; nghịch thi sinh biến, biến thì bệnh.
– Thế nảo là đúng?
– Xét ở vật loại sinh ra biết là đứng; xét ờ khí mạch, biết là đúng!,
Hoàng Đề hỏi:
– Địa lý ứng với sáu tiết, khí vị như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bên hữu Hiến minh, là Vị của quân Hòa. Bên hữu quần Hỏa. lui một bộ, thì tướng Hỏa chủ trị; lại đi một bộ, thì Thổ khí chủ trị;
lại đi một bộ, thì Kim khí chủ trị; lại đi một bộ, thì Thủy khí chủ trị: lại đi một bộ, thì Mộc khí chủ trị; lại đi một bộ, thì quân Hỏa chủ trị.
Ở dưới tướng Hỏa, Thủy khí “thừa” theo (thừa có nghĩa như thừa phụng, tuân theo); ở dưới Thủy vị, Thổ khi thừa theo; ở dưởi Thô vị, phong khí thừa theo; ở dưới phong Vị, Kim khi thừa theo; ở dưới Kim vị, Hỏa khí thừa theo; ở dưới quân Hỏa, âm tính thừa theo.
Tại sao vậy?
Vi “cang thì hại, thừa sẽ chế lại". Có “chế” thì mới sinh hóa. Bên ngoài bảy ra thịnh suy, hại thì thành bại loạn, sinh hóa bệnh lớn,
Hoàng Đề hỏi:
– Thịnh, suy như thể nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Không đúng với Vị là “tà”, đúng với Vị là “chính”. Tà thì biến nhiều, chính thì chỉ “vi (nhỏ nhẹ) thôi, - Thể nào là đúng với Vị?
– Mộc vận mà lâm Mão, Hóa vận mà lâm Ngọ, Thổ vận mà lâm Tứ quý, Kim vận mà lâm Dậu, Thủy vận mà lâm Tý. Dó tức là tuế hội và là bính khí (thứ khí điều hòa....
– Thế nào là không đúng với Vị?
– Vì là tuế không hội (hội tức hợp)!,
Hoàng Đế hỏi:
– Về năm Thổ vận, trên thấy Thái âm; về năm Hòa vận, trên thấy
Thiếu dương, Thiếu âm; về năm Kim vận trên thấy Dương minh; vẻ năm Mộc vận, trên thấy Quyết âm; về năm Thủy vận, trên thấy Thái dương... Là vi sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đỏ là cải khí Tư thiên cùng với cái khí năm vận, cùng hợp, nên ở Thiên nguyên sách gọi là Thiên phù,
Hoàng Đề hỏi:
– Thiên phù với Tuế hội như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Như vậy gọi là Thái ất Thiên phù...?, - Quý, tiện như thế nào?
– Thiên phù như chấp pháp; tuế hội như hành lệnh. Thái ất Thiền phù như quý nhân', - Tà “trủng” vào như thế nào?
– Trúng vào chấp pháp thì bệnh chóng mà nguy, trúng vảo hành lệnh thì bệnh từ từ mà chậm. trúng vào quý nhân thì bạo bệnh mà chết!, - Vị thay đối, thì như thế nảo?
– Quân ở vào Vị thân thi thuận, thần ở vào Vị quân thì nghịch; nghịch thì bệnh gần mà hại chóng, thuận thì bệnh xa mà nhẹ... Đó là sự thuận nghịch của hai Hỏa...
Hoàng Đế hỏi:
– Xin cho biết thế nào là bộ?
Kỳ Bá thưa răng:
– Mỗi một bộ, tính được 60 độ, có lẻ. Cho nên cứ 24 bộ, sẽ chứa được “doanh” (đầy, đủ) một trăm khắc mà thảnh một ngày thừa(!,
Hoàng Đề hỏi:
– Sáu khí ứng với sự biển của năm hãnh, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vệ có chung. thủy; khí có sơ, trung, thượng, hạ... Không phong nhau, nên **xét” cũng phải khác '?.
– Phải xét như thế nào?
– Thiên khí bắt đầu từ Giáp, địa khí bất đầu từ Tý. Tý với Giáp cùng hợp, gọi là “tuế lập”. Phải “hậu” ở thời, khí mới có thê dự biết được. ba
Hoàng Đề hỏi:
– Sáu khí ở trong một năm trước, sau, sớm, muộn như thể nào?
Kỳ Bá thua rằng:
– Về năm Giáp Tý “sơ chỉ khí”, số của trời bắt đầu từ thủy hạ (nước nhỏ giọt xuống) một khắc, cuỗi cùng 87 khắc rưỡi; “nhị chỉ khí bắt đầu từ 87 khắc 6 phân, cuối cùng ở 75 khắc; “tam chỉ khí” bắt đầu từ 76 khắc, cuối cùng là 62 khắc rưỡi; “tứ chi khí” bắt đầu từ 62 khắc 6 phân, cuối cùng là 50 khắc; “ngũ chỉ khí” bắt đầu từ 50 khắc, cuối cùng là 37 khắc rưỡi; “lục chỉ khí" bắt đầu từ 37 khắc 6 phân, cuối cùng là 25 khắc... Đó, là “sơ lục” tính theo cái số của trời vậy!.
Về năm Át Sửu, “sơ chỉ khí" thiên số bắt đầu từ 26 khắc, cuối cùng lã 12 khắc rưỡi; “nhị chỉ khí” bắt đầu từ 12 khắc 6 phân, cuỗi cùng là thủy hạ 100 khắc; “tam chỉ khí" bắt đầu từ một khắc, cuỗi cùng là 87 khắc rưỡi; “tử chỉ khí” bắt đầu từ 87 khắc 6 phân, cuối cùng là 75 khắc: "ngũ chỉ khí” bắt đầu từ 76 khắc, cuỗi cùng là 6 khắc rưỡi: “lục chi khí bắt đầu từ 62 khắc cuối cùng là 50 khắc. Đó gọi là “lục nhị”. tính theo số của trời vậy”*,
Năm Bính Dần, "sơ chỉ khí" bắt đầu từ 51 khắc, cuối cùng là 3 khắc rưỡi; "nhị chỉ khí" bắt đầu từ 37 khắc 6 phân, cuối củng là 2 khắc; "tam chỉ khí" bắt đầu từ 26 khắc, cuối cùng là 12 khắc rưỡi; "tứ chỉ khí” bắt đầu từ 12 khắc 6 phân, cuối cùng là thủy hạ 100 khắc; "ngũ chỉ khí” bắt đầu từ một khắc, cuối cùng là 87 khắc rưỡi; "lực chỉ khí” bắt đầu từ 7 khắc 6 phân rưỡi, cuối cùng là 75 khắc. Đó là khí thứ ba ở trong sáu khí, tính theo số của trời vậy??, - _, Năm Đỉnh Mão, “sơ chỉ khí” bắt đầu từ 76 khắc, cuối cùng là 6 khắc rưỡi; “nhị chỉ khí” bắt đầu từ 62 khắc 6 phân, cuối cùng là 5 khắc; "tam chỉ khí bắt đầu từ 51 khắc, cuối cùng là 37 khắc rưỡi, “tứ chí khí” bất đầu từ 37 khắc 6 phân cuối cùng là 25 khắc; “ngũ chỉ khí” bắt đầu từ 26 khắc, cuối là 12 khắc rưỡi; “lục chỉ khí” bắt đầu từ 12 khắc 6 phân, cuối cùng là thủy hạ 100 khắc. Đó là khí thứ tư ở trong sáu khí, tính theo số của trời vậy“, Đến năm sau là năm Mậu Thìn, “sơ chỉ khí” lại bất đầu khắc thứ nhất. Cứ như thế mãi, hết vòng lại bắt đầu.
Hoàng Đề hãi:
– Xin cho biết “tuế hậu” như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nhật đi một vòng, thiên khí bắt đầu từ khắc thứ một. Nhật đi hai vòng, thiên khí bắt đầu từ 26 khắc, Nhật đi ba vòng, thiên khí bắt đầu từ 51 khắc. Nhật đi bốn vòng, thiên khí bắt đầu từ 76 khắc. Nhật đi năm vòng, thiên khí lại bắt đầu từ khắc thứ một. Đó gọi là một kỷ,
Vậy nên, về những năm Dần, Ngọ, Tuất, khí hội giống nhau;
những năm Mão, Vị (Mù. Hợi, khí hội giỗng nhau; những năm Thìn, Thân, Tý, khí hội giống nhau; những năm Ty, Dậu, Sửu, khí hội phong nhau. Cứ như thế, cuỗi cùng mà lại bất đầu,
Hoàng Đề hõi:
– Xin cho biết công dụng thế nào?
Xỳ Bá thưa rằng:
– Nói về trời, phải cầu ở bản; nói về đất, phải cầu ở vị, nói về người, phải cầu ở khí giao”.
– Thể nảo là khí giao?
– Cải vị trên dưới, khí giao ở giữa, tức là nơi ở của người. Cho nên nói: Ở trên Thiên khu, thiên khí làm chủ; ở dưới thiên khu, địa khí làm chủ; trong khoảng khí giao, thì người theo đó, muôn vật cũng theo đó.
– Thế nảo là sơ và trung?
– Sơ, phàm 30 độ có lẻ. Trung khí cũng như vậy.
– Sơ, trung đề làm gì?
– Là cốt để chia rẽ trời và đất.
– Xin cho biết rõ.
– Sơ, thuộc về địa khí. Trung, thuộc về cả trời và đất.
Hoàng Đề hồi:
– Hàn với thấp cùng ngộ hợp, táo với nhiệt cùng pia lâm, phong với Hỏa cũng cùng chủ tuế, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí có thăng, phục. Thắng, phục gây nên, có đức, có hóa, có dụng, có biến... Nếu biến thì tà khí sẽ phạm đến...
– Sao lại bảo là tà - Vật sinh ra bắt đầu ở sự hóa; vật đến cực đều đo ở sự biến, Biến hóa cùng dồn nhau, thành với bại đều do ở đó.
Cho nên khí có vãng, phục; đụng có chì, tốc. Nhờ bốn điều kiện đó, mới sinh ra sự biến, hóa, mà phong cũng do đó mà sinh ra.
Hoàng Đề hỏi:
– Chì, tốc với vãng, phục; phong do đó mà sinh ra - phàm sự biến hóa, đều bởi thịnh suy mà gây nên. Vậy còn sự “thành, bại” ấn nắp ở bên trong, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phàm có sự thành hay bại, đẻu do ở động. Nếu động không ngừng, sẽ sinh ra sự biến hóa.
Hoàng Đế hỏi:
– Có kỳ hạn nào không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Không sinh, không, hóa, sẽ là kỳ hạn của sự tĩnh vậy.
– Có Khi não không sinh hóa chăng?
– Nếu bỏ mất sự đi ra đi vào, thì còn chi là cái công dụng mở đóng của cảnh cửa; nếu bó mắt sự thăng giáng không ngừng của âm dương, thì còn chỉ là sự sản xuất của muôn loài, muôn vật... Vậy, cái khí thăng giáng, xuất, nhập, không một lúc nào những. Nhưng hóa cũng có nhớn nhỏ, mà kỳ cũng có xa gần. Bốn điều đó thường phải có luôn. Nếu không sẽ sinh ra tai hại. Cho nền có câu nói: “Vô hình thi vô hại”. Thật là rất đúng!,
Chú Giải
- “Lục lục” tức là Tam âm, Tam dương của Tư thiên, "thượng hợp (hợp lên trên) với sáu khí của trời. "Trên dưới có ngôi”, tức như: Thiếu âm ở trên thì Dương minh ở dưới, Thái âm ở trên thì Thái dương ở dưới, Thiểu dương ở trên thì Quyết âm ở dưới. Quyết âm ở trên thì Thiếu dương ở dưới: Thải đương ở trên thì Thái ãm ờ dưới; Dương minh ở trên thì Thiếu âm ở dưới... Sảu "cơ” hoán chuyên, mà đều có cải định vị trên dưới. "Tả hữu có ký", như: Thiếu âm ở trên thì Quyết âm ở tả, Thái âm ở hữu; Thái âm ở trên thì Thiếu âm ở tả, Thiểu dương ở hữu; Thiếu dương ở trên thì Thái âm ở tà, Thái dương ở trên thì Dương minh ở tá, Quyết âm ở hữu; Quyết âm ở trên thì Thái dương ở tả, Thiểu âm ở hữu... Đều theo cái khí ở trên, mà tả hữu đều có định kỷ. Cho nên: Thiểu dương ở hữu thì Dương mỉnh chủ trị; Dương minh ở hữu, thì Thải âm chủ trị v.v... Bởi do âm dương ở hữu VỊ, chuyển thiên ở trên để chủ về Tàng. "Khí của tiêu" tức là cái khí ta thấy ở phản trên. Ví Thiên khí hữu toàn, nên ta nam diện đề xem và nhận định sự tuần tự, hoàn chuyên đó.
- ) Đây nói Tam âm, Tam dương có sự "hóa" của sáu khi, có "bản, tiêu đo trên dưới, lại có "tiêu, bản” do "trung kiên”. Phong, hàn, thư, thấp, táo, hỏa... là âm dương của trời. Tam âm, Tam dương "thượng phụng” nó. Cho nên lấy khi trời làm bản mà ở trên, mà lây cái khí của Tam âm, Tam dương là tiều mà thấy ở dưới. Đây nói 6 khí của Tam âm, Tam dương dù trên dưới củng ứng. mà cái "danh" thì không phong nhau. Thiếu âm. tiêu là âm mà bản là nhiệt, Thái dương tiêu là dương mà bản là hàn, đó là "tiêu, bản” không giống nhau. Thiếu âm, Thái dương theo bản lại theo tiểu: Thái âm, Thiếu dương theo bản; Dương minh, Quyết ãm không theo tiêu, bản, mà theo ở Trung, Cho nên cũng có khi theo bản mà nên, có khi theo tiêu mà nên, lại có Khi theo tiêu. bản mà nên. Đó là "khí ứng khắc tượng.
- Đây nói về sự Chủ tuế của Tam âm. Tam dương, đều có thái quá và bất cập khác nhau. "Nên đến mà đến...". Đó là cái năm bình khí. không có thải quá và bất cập, khí của bốn mùa, đúng kỳ mà đến, đỏ tức là nhờ ở sự hòa bình của khí. Nếu mùa xuân nên ôn mà còn hàn, mùa hạ nên nhiệt mà còn ôn... Dó là nền đến mà không đến, tức là "lai khí" bất cập. Nếu chưa đến mùa xuân mà đã ôn, chưa đến mùa hạ mà đã nhiệt, đó là chưa nên đến mà đến, tức là "lai khí" hữu dư.
- Về cái năm bắt cập, nên đến mà Không đến; vẻ cái năm hữu dư, nên chưa đến mà đã đến... Như thể là "đúng", la thuận. Nếu cái năm bất cập, lại chưa nên đến mà đã đến; cái năm hữu dư, lại nên đến mà không đến. Như thể là trái, là nghịch.
- loại sinh ra biết là đúng...". Như cái năm Quyết âm Tư thiên, loái mao trùng thì tĩnh, loài vũ trùng thì đực (sinh nở); năm Thiếu âm Tư thiên, cỏ cây sớm tốt; năm Thái âm Tư thiên, muôn vật đều tốt (vinh)... Đó là các loài sinh vật đúng với các tiết hậu tư thiên. "Xét ở khí mạch biết là đúng...”. Như Thái âm Tư thiên, hàn khắp thái hư, Dương khí không phát triển; Dương minh Tư thiên, Dương khí chuyền lệnh, nóng bức khắp nơi; Thái âm Tư thiên, Ám khí chuyên chính, Dương khí rút lui...: Lại như: Quyết Âm khí đến, mạch ứng ra huyền; Thiếu Âm khí đến, mạch ứng ra câu; Thái âm khí đến, mạch ứng ra trằm; Thiếu dương khí đến, mạch đại mà phủ; Dương minh khí đến, mạch đoản mà sắc; Thái dương khí đến, mạch đại mà trường v.v... Đều là sự “đúng” của khí và mạch.
- Giải thêm về Tiêu bản và Trung kiến. Phảm hỏa, táo, phong, hàn, nhiệt, thấp v.v... là cái khí chủ trị, đều bảo là cái "bản" của 6 khí. Còn cái khí "trung kiến", nó lại là "trung khí" ở trong 6 khí. Gồm cả cái "tiêu" của khí trên kia mà nói, thì bản ở trên, tiểu ở dưới, trung khí ở vào khoảng giữa của Tiêu, bàn. Cho nên nói: "Ở dưới bản, là sự "kiến" của trung: ở dưới sự "kiến", là tiêu của khi, Về "trung khí", ở dương đều có, cũng như chồng vợ phối hợp. cũng siữ gìn lẫn nhau. Mà Tàng Phủ và kinh mạch ở con người, cũng đều tương ứng như vậy. Cho nên bản tiêu của kinh Thiếu dương, mà "trung kiến" là Quyết âm; bản tiêu của kinh Quyết âm mà "trung kiến" là Thiếu dương, đều "lẫn" đo "trung khí" để cùng giữ gìn nhau, vậy thì Dờm, Tam tiêu ở Thiếu dương kinh, cũng "lạc với Can và Tâm bào; mà Can, Tâm bảo ở Quyết âm kinh cũng "lạc" với Đởm và Tam tiêu để lẫn cùng giao thông với nhau. Bản, Tiêu của Dương minh mà "trung kiến" là Thái âm; bản tiêu của Thái âm mà trung kiến là Dương mỉnh. Đều lẫn do "trung khí để cùng giữ gìn nhau. Vậy thì Vị và Đại trường ở Dương minh cũng "lạc với Tỳ và Phế; mà Tỳ Phế ở Thái âm kinh "lạc" với Vị và Đại trường để cùng giao thông với nhau. Bản tiêu của Thái dương mà trung kiến là Thiếu âm; bản tiêu của Thiếu âm mà trung kiến là Thái dương, đều "lẫn" do trung khí để cùng giữ gìn nhau. Vậy thì Bàng quang, Tiểu trường ở Thái dương kinh cũng “lạc” Tâm với Thận; Thận với Tâm ở Thiếu âm kinh cũng "lạc Bằng quang và Tiểu trường... để cùng giao thông với nhau. "Bản tiểu không giống. khí ứng khác tượng..." Tức là hai khí của Thái dương và Thiếu âm. Vì: Ở trên Thái dương, hàn khí chủ trị, thế là tiêu đương mà bản hàn không giống nhau: Ở trên Thiểu ãm nhiệt khí chủ trị, thế là tiêu âm, bản nhiệt không giống nhau...
- “Khí vị", là nói về cái bộ Vị chủ trị của 6 khí. Hiển mình (nghĩa đen là tô sáng, hình dung từ) tức là Dân, Dần tiết hậu Lập xuân, tức là "sơ chi khí (Cái khí băt đâu của Một năm, cùng của sảu kinh). Bên hữu Hiển minh, là Vị của quân Hỏa, tức là “nhị chỉ khí”. Lui lại một bộ, tức là do bên hữu mà lui chuyên. Bên hữu quân hỏa, là vị của Thiếu dương tướng Hỏa, chủ về "tam chi khí”. Lại đi một bộ, tức là đời sang một Vị, thuộc Thải âm thấp Thổ chủ về "tứ chỉ khí". Lại đi một bộ, thuộc Dương minh táo Kim, chủ về "ngũ chỉ khí". Lại đi một bộ, thuộc Thái dương hản thủy, chủ về "lục chỉ khí". Lại đi một bộ, thuộc về Quyết âm phong mộc, chủ về "sơ chỉ khí". Lại đi một bộ, thuộc về Thiếu âm quân hỏa làm chủ, thế là đã "chu" mà lại bắt đầu.
- Tiết trên, nói về 6 khi tương sinh để chủ thời; tiết này nói về 6 khí "thừa chế" để sinh hỏa. Bởi ở trong năm hành có "sinh", có "hóa", có "chế, có "khắc". Nếu không có "thừa chế” mà “cang cực” (găng quá) thì làm hại, có "chế khắc" thì sẽ có sinh hóa. Âm tỉnh tức là tỉnh thủy do Thiên ất sinh ra. Tỷ như, ở dưới bản vị là Dương mính táo Kim, Thái dương hân thủy. Do cái khí của mẹ con để thừa theo. Nếu khí của mẹ "chế" lại, thì khí của con sẽ sinh hóa ra Mộc. Lại như ở dưới Kim vị là hai thử Hỏa quân, tưởng và Thái âm thấp Thổ. Do cái khí của mẹ con đề thừa theo; khí của mẹ khặc lại, thì khí của con sẽ sinh hóa ra Kim. Ở dưới Thỏ vị là Quyết âm phong mộc, và hai Hỏa quân, tướng. Do cái khí của mẹ con đề thừa theo Mộc, chế sang Thô thì Hỏa khí sẽ sinh hóa. Còn các khí kỉa cũng vậy. Đó là "chế thời sinh hóa". Lại như: Hỏa Cang mà không có thủy đề thừa theo, thì lửa nóng nung Kim, mà cải "nguồn sinh của Thủy sẽ bị tuyệt". Không có Thủy để chế Hòa, thì Hỏa lại càng Cang. Lại như, Thủy cang mà không có Thô đề thừa theo. thì Thủy tràn, Hỏa tắt, mà cái mẫu khí của Thổ sẽ bị diệt. Không có Thô để chế Thủy, thị Thủy lại càng Cang... Vì vậy, “cang" là "tặc hại" của năm hành. Nếu bị hại thì bao cái khí “sinh, hóa, thừa, chế" sẽ đều bại loạn, mà sẽ gây nên bệnh nhớn. "Ngoài bày thịnh suy", tức là nói: Ở bẻn ngoài phô bày cái khí chủ tuế, có thịnh có suy; nếu cái khí chủ tuế với cái khí chủ thời, đều cùng Cang cực, thì lại càng bại nhiều.
- “hông đúng với vị" là nói: Khí lại hữu dư thì chế cái "kỷ sở thắng, mà "võ" cái mình "sở bất thắng". Đó là tuế khí thịnh. Nếu khí lại bất cập, thì cải minh "sở bất thắng”, sẽ "võ" mà lấn lên; mà cái "kỷ sở thẳng" sẽ khinh mà "võ" lại, Đó là tuế khí SUy, Nếu “hư" dễu không giữ bản vị mà cứ "thừa, võ" lấn nhau, thì tà tích sẽ sinh ra ở bên trong. Đúng với Vị là cái năm bình khí, không có sự "thừa. võ" do thái quá và bát cập, mà đều đứng với bàn vị đó là "chính" của khí, Nếu "tả" thì biến nhiều, mà "chính" thì biến it.
- Mão, tức Dinh Mão; Ngọ, tức Mậu Ngọ; Tứ quý tức Giáp Thìn, Giáp Tuất, Kỷ Sửu, Kỷ Vị; Dậu tức Át Dậu; Tý tức Bính Tý. Lấy sự hóa vận của thiên Can cùng với sự chủ tuế của địa chỉ cùng hợp, nên gọi là Tuế hội. Tức là năm binh khí. Nếu không phái là năm Tuế hội, thì sẽ có sự thái quá bắt cập cùng "thừa” nhau. Thế là không đúng vị.
- É “Trên thấy", là nói về cái khí Tư thiên thấy ở trên tuế vận. Về năm Thổ vận, trẻn thầy Thái âm, tức là hai năm Kỷ Sửu và Kỷ VỊ; về năm Hỏa vận, trên thầy Thiếu dương, tức là hai năm Mậu Dân và Mậu Thân; lại trên thầy Thiếu âm, là hai năm Mậu Ty, Mậu Ngọ; về năm Kim vận, trên thấy Dương minh, tức là hai năm Ất Mão và Át Dậu; về năm Mộc vận, trên thấy Quyết âm, tức là hai năm Đinh Ty và Đính Hợi; về năm Thủy vận, trên thấy Thái dương, tức là hai năm Bính Thìn và Bính Tuất. Dỏ lả cái khí Tư thiên với cải khí năm vận cùng hợp nhau. nên gọi Thiên phù (chữ phù là cái đấu, cái Ấn, có nghĩa bóng là hợp nhau. in như nhau. Ta có thành ngữ: phù hợp.
- Như Thiên phù với Tuế hội cùng họp, thì gọi là Thái ất Thiên phù. Đỏ là bốn năm Mậu Ngọ, Ký Sửu, Ký VỊ, Át Dậu... Do cái khí của Tư thiên, cái khí của ngũ vận, và cái khí của chủ tuế tương hợp, nền cũng gọi là tam hợp.
- Vương Băng nói: Chấp pháp cũng như tế tưởng, hành lệnh cũng như Phương Bá, quý nhân cũng như quân vương (đây dêu là hình dụng về công năng.
- Vương Băng nói: Vị chấp pháp là chuẩn thăng của các quan chức, vậy mà lại làm sự càn bậy, nên bệnh phát sinh chóng mà nguy; Phương bá tuy to nhưng không có cái quyền chấp pháp, nên không chóng bị hại, mà dù mắc bệnh cũng còn "tự trì" được; Quy nhân thì không có cái nghĩa bị lăng phạm. nên nếu mắc bệnh thì bạo từ.
- Địa lý ứng với sáu tiết, đó lâ do ở 6 khí chủ thời, là một cái Vị không hệ thay đỏi. Nhưng lại còn có 6 khí "gia lâm", theo Tư thiên, Tại toàn để hoàn chuyển về sáu "cơ". Cho nên mới nói đến sự "thay đổi của Vị”. Tỷ như: Thiểu âm quãn hỏa, gia lâm lên trên Thiếu âm tướng Hỏa, thế là quân ở vào Vị của thân, thì thuận. Nếu Thiếu dương tướng Hỏa, gia lâm lên trên Thiến âm quân Hỏa, thế là thần ở vào VỊ của quân, thì nghịch. Đó là sự thuận nghịch của hai Hỏa. Theo đó mà suy ra, thì bốn khí kia cũng có cái sự phân biệt là mẹ, con. Nếu mẹ ở trên con thì thuận, con ở trên mẹ là nghịch. Cũng cùng một nghĩa.
- Đây nói về sự gia lâm của 6 khí. Vì mỗi một khí đều chủ 60 ngây linh 87 khắc rưỡi. Cho nên là "60 độ mà có lẻ". Tính trong bốn năm, cộng được 24 bộ, mà mỗi bộ "khí doanh" 7 khắc rưỡi. Vậy "tích, doanh” (chứa đày, đủ) 200 khắc. Lẫy 2000 khắc, chia vào khí của bốn năm, "đoanh" 10 khắc, đo đó mới thừa một ngày.
- Đây nói về 6 khí gia lâm, cùng với cái khí chủ thời tương ứng, mà đều có sự không giông nhau. Về năm hành, như: Quyết âm phong Mộc, chủ về sơ khí; quân hỏa, tướng hỏa chủ về nhị khi, tam khí; Thái âm thấp Thổ, chủ về tứ khí; Dương minh táo Kim chủ vẻ ngũ khí; Thái dương hản Thủy, chủ về lục khí... Đó là năm hành chủ thời, giữ cái địa vị nhất định mà không hề thay đổi. Nếu cái sảu khí gia lâm ứng với năm hành chủ thời, thì lại thay đổi không giống nhau nữa, “Vị có chưng thủy", là nói về sáu khí chủ thời, bắt đầu từ Quyết âm, cuỗi cùng là Thái dương, có cái bản vị nhất định. "Khí có sơ, trung”, là nói về sáu khí gia lâm, bắt đầu đo "sơ khí" của đất, mà cuối cùng là trung khí của trời. "Trên dưới không giống nhau", là nói về: khách khí gia lâm ở trên, chủ khí làm chủ ờ dưới, sự tương ứng đều phong nhau, nên về sự tìm xét cũng phải khác.
- Thiên số (tức số của trời), lấy cái số ngày của một năm, ứng với chu thiên 365 độ và một phần tư của độ. Cái “sơ chỉ khí" bắt đầu từ tháng Dần (giêng), ngày sóc, bất đầu giờ Tý, thủy hạ một khắc, đến cuối cùng là 6 ngày linh 87 khắc rười. Hết sáu khí, cộng được 360 ngày, lĩnh 526 khắc. Vậy là 365 ngày linh 25 khắc. Đó là sáu khí bắt đầu (tức sơ lục), ứng theo khí của trời.
- Năm Át Sửu, "sơ chỉ khí", bắt đầu từ năm Giáp Tý ngày thứ 26, linh 26 khắc, cuối cùng ở 12 khắc rưỡi thuộc ngày thứ 61. Tính được 6 ngày linh 81 khắc rưỡi. Sáu khí cộng tính 365 ngày linh 25 khắc. Đó tức là "khí thứ hai ở trong sáu khí", để ứng với số của trời. Năm Bính Dần, "sơ chí khí", bắt đầu từ hai năm trước 731 ngảy, linh 50 khắc; "chung chỉ khí" cuỗi cùng ở ngày thử 1916 linh 75 khắc. Vậy giờ - tính 365 ngày linh 25 khắc, tức là sáu khí ở năm thử ba vậy.
- Năm Định Mão, "sơ chí khí", bất đầu từ ngày 1916 lĩnh 75 khắc; cuối cùng là ngày thứ 1461, thủy hạ 100 khắc. Vậy là mỗi năm đều là 36 ngày linh 25 khắc. Bốn năm cộng được 1461 ngày, lại tích đoanh 100 khắc mà thành được một ngày thừa. Mỗi năm tính được sáu ngày "sóc hư” năm ngày “khí đoanh”, và lính 25 khắc. Tính những ngày "khí đoanh, sóc hư trong vòng 20 năm, sẽ tích được thừa 225 ngày. Vì vậy ba năm thì một lần nhuận, năm năm thì hai lân nhuận. Trong vòng 19 năm có bảy lần nhuận, lại còn thừa ba ngày có lẽ nữa.
- Tiết trên nói về "Ký bộ” của sáu khí; đây lại nói về cái khí trong một năm đề ứng với cái số chu thiên. Chu thiên 365 độ và một phản tư của độ; nhật, một ngày vòng quanh trái đất một vòng, lại quá ra một độ. Mỗi năm "ký" 365 độ linh 25 khắc. Vậy là nhật đi một năm, một chu thiên mà lại bắt đầu đi đến “chu" (vòng) thứ hai. Bốn năm cộng tiết doanh được 100 khắc đề làm một kỷ.
- Đây nói về thiên số với địa chi hội đồng. Nên mới bốn năm là một kỷ. Những năm Dân, Ngọ, Tuất đều chủ về nhật đi ba chu, mà khí trời bắt đầu từ 51 khắc. Những năm Mão, Vị, Hợi, đều chủ về Nhật đi bốn chu, thiên khí bắt đầu từ 76 khác; những năm Thin, Thân, Tý đều chủ về nhật đi bốn chu, thiên khí bắt đầu từ một khắc; Những năm Ty, Dậu, Sửu đều chủ về nhật đi hai chu, thiên số bắt đầu từ 26 khắc. Bốn lần "hội” mà địa chỉ đã chu, cuối cùng rồi lại bắt đầu.
- “Ở trên thiên khu” là nói: bầu trời bọc trái đất, mà trái đất ở trong bầu trời. Người với muôn vật cùng sinh ra ở khoảng "hai khí cùng giao với nhau” của trời đất. Người và vật nhờ đó mà sinh trưởng, trắng lão...
- Nửa năm về trước, khí trời làm chủ, mà cái "sơ khí" của Tư thiên, lại bắt đầu từ bên tà của đất; nửa năm vẻ sau, địa khí làm chủ, mà cái "sơ khi của Tại toàn, lại bắt đâu từ bên hữu của trời. Đó là trên dưới cùng giao. Mà ở trong một khi, lại có chia ra “sơ” và "trung", và có lẽ nữa, đều chủ 3 ngày, lĩnh 43 khắc 7 phân 5 ly. Đất chủ về sơ khí, trời chủ về trung khí; vậy là ở trong một khí mà cũng có sự giao hội của trời đất, âm dương. Cho nên nói rằng: "Trong âm có đương, trong dương có âm. Trương Ngọc Sư nói: Cái khí Tư thiên, Tại toàn, đều bất đầu từ sơ khí của đất, mà cuối cùng ở trung khí của người. Cho nên trên nói: "Sơ là địa khí". Lại như: Cái khí Tư thiên, bắt đầu từ bên tả của đất, thế là ở trong đất mà cũng có trời; cái khí Tại toàn, bãt đầu từ bên hữu của trời, thế là ở trong trời lại có đất. Đều là cái diệu dụng của khí giao.
- Thiên khí chủ về giáng nhưng do thăng mà lại giáng. Thế là cái khí giáng đó, do ở đất mà thăng lên; địa khí chú về thăng, nhưng do giáng mà rồi thăng, thế là cái khí thăng lên, đo tự trời giáng xuống. Khí trời trản trên đất, khí đất bốc lên trời. Cái khí của trên trời dưới đất, cùng cảm chiệu lẫn nhau, nhần thăng mà giáng, nhân giáng mà thăng. Thăng, giáng không: ngừng, sinh ra biển hóa.
- Cây nắm không biết ngày hội ngày sóc, ve sầu không biết mùa xuân, mùa thu. Đó là một sự hóa nhỏ; cây Linh Xuân, lẫy nghìn năm làm xuân, nghìn năm làm thu. Đỏ là một sự hóa lớn. Khí của trời đất, đương động, âm tĩnh; ngày động, đêm tĩnh... Đó là cái kỳ hạn gân; lại như trời mở ra từ hội Tý, đất mở ra từ hội Sửu. Trời đất khai tịch, động mà không ngừng, đến Tuất, Hợi thì trời đất lại hỗn đồng, tĩnh mà không động... Đó là cái kỳ hạn xa. "Vô hình thì vô hại", là nói: Nếu có thê lọt ra ngoài vòng trời đất, trút sạch bỏ hình hài nhơ nhớp... Có như thế mới có thể vô hại. Lão Tử nói: "Ta sở đĩ vướng có đạt hoạn, vì ta có thán. Đến khi ta đã không có thán nữa thì ta còn lo lắng gì...". Cũng một ý với câu ở đây.
Chương sáu mươi chín · Khí Giao Biến Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Năm vận thay đổi để chủ về năm, trên ứng với “thiên cơ” (cơ là năm); hàn thử nói nhau; chân tà cùng gặp. Nội ngoại phân ly; sáu kinh thay đồi, năm khi lần lượt, thái quá và bất cập, chuyên thắng và kiểm tỉnh... Xin cho biết rõ nguyên ủy ra làm sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cần phải hiểu rõ khí và Vị. Vị ở trên trời là thiên văn; Vị ở dưới đất là địa lý: suốt với sự biến hóa của nhân khi, là nhân sự (việc của người. lợp với trên là thiên văn, địa lý, nhãn sự). Cho nên thái quá là đến trước thiên thời, bất cập là đến sau thiên thời. Do sự biến hóa đó, mà con người cũng ứng theo,
Hoàng Đề hỏi:
– Sự hóa của năm vận, thái quá như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tuế thuộc Mộc mà thái quá, thì phong khí sẽ tràn lan; do đó, nó sẽ chế thắng Thổ khí, người sẽ ứng theo đó mà mắc bệnh ở Tỳ. Xôn tiết, ăn sút, thân thể nặng nề. phiền Oan, trường mình, phúc chỉ mãn; ở trên thì ứng với Tuế tinh,
Nếu bệnh nặng thì thưởng thường hay nộ, hoa mắt, chóng mặt, thuộc về chứng trạng ở đầu??,
Hóa khí không thi hành được chính lệnh, sinh khí một mình phát triển, khiến cho mây khói tung bay, cỏ cây khôn lặng... Gây nên các chứng hiếp thống và thổ nhiều. Nếu mạch ở xung dương mà tuyệt sẽ chết, không thê chữa. Trên ứng với sao Thái bạch, rủ Tuế thuộc Hỏa mà thái quá, thì khí nóng tràn lan, khiến Kim Phế thụ tả, con người cũng phải ứng theo mà phát bệnh ngược (sốt rét, ÚI), thiểu khí, khái, suyễn, huyết giật, huyết tiết, chú bạ, ách táo (cuống họng ráo), tai điếc, trung nhiệt (nóng ở trong bụng); vai vả tưng nhiệt; trên ứng với sao Huỳnh hoặc,
Nếu quá lẫm thì trong hung đau, hiếp chỉ mãn và đau ức, vai, cánh tay đều đau, mình nóng, xương đau, rồi biến thành tắm râm”?,
Cái khí thâu liễm không lưu hành, cái khí sinh trưởng riêng phát triển mưa nhiều, sương xuống, trên ứng với thần linh,
Nếu thượng lâm Thiếu âm, Thiếu dương, thi lửa bốc nóng, suối nước cạn, mọi vật khô khan??,
Bệnh lại phát ra thiềm vong, cuông tâu, suyễn, khái, thở thành tiếng; bách xuống thành huyết tiết; tiết tá không dứt; mạch Thái uyên tuyệt, sẽ chết, không thê chữa. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc,
Tuế Thổ thuộc thái quá, thì mưa nhiều, khí âm thấp tràn lan.
Con người cũng ứng theo, khiến Thận thủy bị tà, gây nên phúc thông, lãnh quyết, ý buôn bã không được vui, thân thể nặng nề, phiền oan. Trên ứng với Trấn tinh? ,
Quá lắm thì thành ra cơ nhục nhão, chân yếu không tự cử động được (nuy); dưới chân đau; ăn uống kém sút, phúc mãn; tứ chỉ rã rời, biến sinh giữa khí đắc Vị??.
Tàng khí bị phục, hóa khí làm chủ, sông nước tràn ngập, đầm khô có cá; mưa gió tơi bời, thối đất nát cỏ; cá tép lên cạn; phúc mãn, đường tiết; trường minh (bụng sôi), tả nhiều; nếu Thái khẽ mạch tuyệt sẽ chết, không thê chữa. Trên ứng với Tuế tinh!,
Tuế Kim thuộc thái quá, táo khí lưu hành, đo đó Mộc sẽ thụ tà. Con người cũng ứng theo mà lưỡng hiếp và Thiếu phúc đau, mắt đỏ và đau; tai không nghe tiếng: khí túc sái càng lắm, khiến thân thế nặng nẻ và phiên oan; hung đau rút sang lưng: hai hiếp mãn và đau rút xuống Thiếu phúc, trên ứng với sao Thái bạch,
Quá lắm thì khái, suyễn và nghịch khí, kiên và bối đau; cầu âm (xương khu), cỗ (về), tất (gối), bễ (đùi), hảnh (ống chân) đêu mắc bệnh, trên ứng với sao Huỳnh hoặc.
Thâm khí mạnh quá, sinh khí bị nhục, cỏ cây xơ xác vàng rụng; gây thêm bệnh bạo thống ở hai hiếp, không thê trở mỉnh, khái nghịch, quá lắm thì huyết ràn. Thái xung mạch tuyệt, chết, không thể chữa. Trên ứng với sao Thái bạch.
Tuế Thủy thuộc thái quá, thì hàn khí lưu hành, tà sẽ làm hại Tâm hỏa. Con người cũng ứng theo mà mắc bệnh thân nhiệt, phiền Tâm, táo và quý; âm quyết cả trên dưới; trung hàn; thiềm vọng, Tâm thông. Hàn khí đến sớm, trên ứng với Thân tinh(?,
Quá lăm thì phúc đại, hĩnh thũng (xương ống chân sưng); suyễn, khái; khí nằm hãn ra, phét gió. Mưa to đến mây mù đen đặc. Trên ứng với Chân tinh,
Thượng lâm Thái dương, mưa đá, thỉnh thoảng tuyết sương giáng xuống: thấp khí làm biến mọi vật; bệnh lại sinh ra phúc mãn; trường minh, dường tiết; ăn không tiêu, khát, hay chóng mặt. Thần môn mạch tuyệt, sẽ chết. không thê chữa. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc '?'.
Hoàng Đề hồi:
: - Về các năm bát cập. thì như thế nào?
Kỳ Bá trưa rằng:
– Tuế Mộc bất cập thì táo khí sẽ đại hành. Con người cũng ứng theo đó mà mắc bệnh trung thanh (lạnh ở bên trong). Khư hiếp đau, Thiếu phúc đau, trường mình, đường tiết, thường có lương vũ. Trên ứng với sao Thái bạch,
Nếu thượng lâm Dương minh, thì sinh khí sẽ mất sự phát triển; trên ứng với Thái bạch và Chấn tinh,
Nếu “phục” thì nóng bức bội thường, sẽ phát các chứng hàn, nhiệt, sương, dương. phí, chân, ung, tòa v.v... Trên ửng VỚI sao Huỳnh hoặc,
Bạch lộ giáng sớm, khí thầu sái lưu hành; Tỳ thổ thụ tà. “xích khí" hóa sau, Tâm khí vãn trị, trên thăng Phế kim “bạch khí” sẽ bị khuất. Do đó phát chứng **cừu” và khái,
Tuế Hỏa bất cập. hàn khí đại hành, cái chính lệnh sinh trương không thể thỉ dụng. Con người cũng ứng theo đó mà mắc bệnh hung trung thống, hiếp chỉ mãn, lưỡng hiếp thống; ưng, bối, kiên, bể, hai cảnh tay đau; uất mạo, mông muội, Tâm thông, bạo âm (bỗng dưng miệng không nói được); phúc đại, dưới hiếp và yêu, bối Cùng rút mà đau quá lãm thì co vào không duỗi ra được. Trên ứng với sao Huỳnh hoặc.
“Phục” thì khí bốc mù mịt, thường có mưa to, hặc khí thụt xuống (hắc khí là thủy); người mắc bệnh đại tiện phân sống, phúc mãn, ăn uống không được: hàn trung (lạnh bên trong), sôi bụng: tả mạnh, bụng đau; bạo loạn (co gân) và nuy tý; chân đi không vững. Trên ứng với Chắn tính vả Thân tinh, Tuế Thỏ bất cập phong khí sẽ đại hành, Hóa khí không thi hành được chính lệnh... Con người cũng ứng theo mà sình chứng sôn tiết, Hoặc loạn, cân cốt dao động (gân xương lay động, co giật), cơ nhục nhuận (cùng ở trong thịt), toan (nhức âm ỉ), hay nộ; Tàng khí làm việc, người mắc chứng hàn trung trên ứng với Tuế tình, Chấn tinh, “Phục” thì cái chính lệnh thâu liễm gắt gao khiến người hung, hiếp bạo thống, rút xuống Thiếu phúc; hay thở dài, khi khách vào Tỳ, ăn uống kém sút mà không biết ngon?.
“Thượng lâm” Quyết âm; Tàng khí không hiệu dụng được bạch khí do đó không phục, dân được yên toàn,
Tuế Kim bất cập, viêm hỏa sẽ lưu hành, sinh khí do đó dụng được trưởng khi để chuyên thắng, con người cũng ứng theo đó mà phát bệnh, đau ở kiến bối, đầu cử muốn quy xuống, hay hắt hơi, đại tiện ra huyết, khí thâu liễm mãi về sau mới phát triển. Trên ứng với sao Thái bạch(”?,
Nếu “phục” thì mưa lạnh trút xuống, sương tuyết làm hại vật, âm quyết vả cách đương, dương lại bốc lên, đầu và não bộ đau, xuất lên đỉnh đầu (buốt óc), phát nhiệt, lại thêm chứng lở miệng, quá lắm thì Tâm thống,
Tuế Thúy bất cập, thấp khí sẽ đại hành; trường khí đo đó đắc dụng. hóa của Thổ lại hóa ra nhanh chóng,
Con người cũng ứng theo mà phát bệnh phúc mãn Thận trọng, nhu tiết (đi thảo); hàn thương (mụn) chỉ vỡ ra nước trong: yêu vả cô (đùi) đều đau; đùi, về buồn bực; túc nuy giá lạnh, dưới chân đau, quá lắm thì mu chân sưng lên. Tàng khí không thi hành được chính lệnh, Thận khí không giữ được quân bình, trên ứng với Thần tinh,
Thượng lâm Thái âm thì có đại hàn luôn. Người sẽ mắc phải hàn tật. quá lắm thì phúc mãn, phù thũng trên ứng với Chẵn tinh??, “Phục” thi gió to kéo đến, cây cối đỗ gẫy, sắc mặt thường biến, gân xương đều đau, thịt rùng và co rút, mắt trông tờ mờ, khí dồn lên cách, Tâm phúc đều đau. Trên ứng với Tuế tình,
Hoàng Đề hỏi:
– Xin cho biết sự thắng phục của bốn mùa như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
- Mộc bất cập:
Mùa xuân có cái cảnh ấm áp êm đềm, thì mùa thu sẽ có cái lệnh móc sương mát mẻ. Nếu mùa xuân gặp cái khí thảm thê, tàn tặc, thì mùa hạ sẽ có cái cảnh nưng nấu oi ả... Tai sảnh sẽ phát từ phương Đông; ở Tàng con người sẽ là Can, Nếu bệnh phát ở bên trong sẽ tại khư hiếp, ở bên ngoài sẽ tại quan tiết,
Hỏa bất cập:
Mùa hạ có cái đức hóa sáng tỏ. rõ ràng, thì mùa đông sẽ có cái lệnh sương hàn lạnh lẽo. Mùa hạ nếu lại có cái khí đìu hiu rét mướt, thì không chừng sẽ xảy ra mưa to tầm tă... Tai sành sẽ phát từ phương Nam; ở Tàng con người sẽ là Tâm. Bệnh phát, bên trong sẽ ở ưng, hiếp, bên ngoài sẽ ở kinh, lạc,
Thổ bất cập:
Tứ duy (tức Thổ) có cái đức hóa mây mái thấm nhuẫn. thì mùa xuân sẽ có cái chính lệnh gió lay là lướt. Nếu tức duy có sự biến, gãy cành, trốc gốc, thì mùa thu sẽ có sự phục hiu hắt mưa dầm... Tai sảnh xây ra ở tứ duy; ở Tảng là Tỳ. Bệnh phát bên trong thì ở Tâm phúc, bên ngoài thì ở cơ nhục và tứ chi?,
Kim bất cập:
Mùa hạ có cái lệnh nẵng nỏ, mưa nhuằn, thì mùa đông có cái ứng sương sa, gió rét. Nếu mùa hạ có sự biến, tan đá chảy vàng, thì mùa thu sẽ có sự phục sương băng, mưa đá... Tai sánh xảy ra ở phương Tây; ở Tàng con người là Phế. Bệnh phát ở bền trong ưng, hiếp, kiên, bối, ở bên ngoài là bì mao.
Thủy bất cập:
Tứ duy có cái sự hóa mưa nhuằn thấm thía, thì bất thời sẽ có sự ứng gió hòa nảy nở. Tứ duy có cái sự biển mưa đầm tầm tã, thì bất thời sẽ có sự phục gió bão sương mù... Tai sảnh xảy ra ở phương Bắc; ở Tàng con người là Thận. Bệnh phát, ở bên trong yêu, tích cốt, tủy, ở bên ngoài là khê, cốc xuyển (xương óng), tất (xương gỗi.
Đại phàm, cái chính lệnh của năm vận, cũng như cán cân. Quá cao thì hạ thấp bớt xuống, quá thấp thì nâng cho cao lên... Nếu hóa thì ứng, nếu biến thì phục. Đó là cái lý trưởng, sinh, thành, hóa, thâu, Tàng, và là cái bình thường của khí. Nếu trái với lẽ thường đó, thì cái khí của trời đất và bốn mùa, sẽ bị vít lắp,
Cho nên nói:
Sự động tĩnh của trời đất, thần minh làm cương kỷ; sự vãng phục của âm dương, hàn thử làm chứng triệu. Tức là lẽ đó??. rửa,
Hoàng Đề nói rằng:
– Phu Tử nói về sự biến của năm khí và sự ứng của bốn mùa, thật đã rõ ràng. Nhưng mỗi khi khí biến động, phát tác không có thường hội, thốt nhiên mà tai hại đến... Có thê dự kỳ được không?
Kị' Bá thưa rằng:
– Sự biến động của trời đất, vốn không có nhất định, nhưng do đức. hóa, chính lệnh. Nên tai biến không giỗng nhau... Có thê nhập xét được.
– Vậy là nghĩa sao?
– Đông phương sinh ra phong; phong sinh ra Mộc; đức của nó là êm hòa; hoá của nó là sinh tươi; chính của nó là mở mang; lệnh của nó là phong; sự biến của nó là gió mạnh; tai hại của nó là rơi rụng (Vì ở trên có nói: Đúc, chính, lệnh, biến, tai... Nên ở mùa nào cũng giải đủ sáu điều kiện ấy. Dó cũng là một thê tài của văn cô.
Nam phương sinh nhiệt; nhiệt sinh ra Hòa; đức của nó là sáng tỏ; hóa của nó là rậm tốt (mùa hạ cây cỏ rậm tốt); chính của nó là mình điệu (cũng như sáng tỏ, đều là cái tính chất của hỏa); bệnh của nó là nhiệt; sự biến của nó lả tiêu thước; tai hại của nó là đốt cháy.
Trung ương sinh ra thấp; thấp sinh ra Thổ; đức của nó là âm ướt; hóa của nó là đầy đủ; chính của nó là an tĩnh; lệnh của nó là nhiệt: sự biến của nó là sậu chú (mưa to như trút nước); tai hại của nó là lâm hội (mưa dầm nát đất, thối cỏ.
Tây phương sinh táo; táo sinh ra Kim; đức của nó là thanh khiết (trong tréo, sạch sẽ); hóa của nó là thâu liễm (hanh hái thâu liễm; chính của nó là kính thiết (cứng cỏ); lệnh của nó là táo; biến của nó là túc sái; tai hại của nó là thương vẫn (vàng úa, rơi rụng.
Bắc phương sinh ra hàn; hàn sinh ra Thủy:
đức của nó là lạnh lẽo; hóa của nó là yên lặng: chính của nó là ngưng túc (đóng lại, giá lạnh; bệnh của nó là hàn; sự biến của nó là lẫm lạt (rét run): tai hại của nó là bằng bộc sương tuyết (băng: nước răn lại như đá; bộc: mưa đá.
Vậy ta chỉ xét ở sự “động” đó, cũng có đủ “đức, hóa, chính, bệnh, biến, tai...” Muôn vật đều theo, mà người cũng không ra khỏi phạm vi đó,
Hoàng Đế nói:
- Phu Từ nói:
Về tuế, “hậu” ở thải quá và bắt cập, mà trên ứng với ngũ tính. Giờ như: Đức, hóa, chính, lệnh, tai, sảnh, biến, dịch... không phải là sự có thường. Nếu thốt nhiên mà động, đối với ngũ tỉnh, có biến dịch không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Theo thiên vận đề thi hành, nên không có vọng, động. Hết thảy đều có ứng. Nếu thốt nhiên mà động là sự giao biến của khí. Cũng có khi không ứng. Cho nên có câu nói: “Chi ứng vớt sự thường, không ứng với sự thôt nhiên”. Tức là nghĩa đó%,
Hoàng Đế hỏi:
– Sự ứng như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đêu theo về khí hóa“. Cho nên tuế vận thái quá, thì úy tỉnh thất sắc và lây tới cả mẹ nó. Nếu bắt cập thì sắc cũng kiêm cả “sở bất thắng,
Hoàng Đế hỏi:
– Sự động, tĩnh, tôn, ích của đức, hóa, chính, lệnh, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Dức, hóa, chính, lệnh, tai biến, không thể xen lẫn vào nhau Thắng, phục. thịnh, suy không thê làm cho thêm hơn), Vãng, lai, đại, tiêu, không thể bỏ lỡ, Cái hiệu dụng về sự thăng giáng, không thể nào không có“, Đêu do ở sự động mà báo phục đó thời,
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh sinh ra như thể nào? Kỳ Bá thưa rằng: - Khí tương thăng thì hòa, không tương thăng thì bệnh; lại cảm thêm tà khí, thì nặng,
Chú Giải
- Thiên cơ tức là 365 ngày ứng với 365 độ của Chu thiên. Chân, tức là đức hóa hay; tà, tức là biến dịch hại. Nội ngoại tức là biêu, lý; sáu kinh tức là Tam âm, Tam dương. Năm khí tức là khí của năm Tàng. Chuyên thắng tức là cái nấm thái quả bất cập, cái khí đã thăng thì thăng mãi; kiểm tính tức là hai khí cùng dồn lại.
- "Khí, Vị" tức là sáu khí và năm vận, đều có cái định vị về việc tư thiên, kỷ địa, chủ tế, chủ thời. Người ở trong khoảng khí giao cửa trời đất, theo sự biến hóa của âm dương và bón mùa đỏ là nhân sự. Cho nên vận khí mà thái quá, là đo cái khí của bốn mùa, trước mùa mà đến; còn bất cập, là sau mùa mới đến, sự biến hóa của bốn mùa như vậy, người cũng ứng theo, không ra được ngoài phạm vI.
- Xôn tiết, trường minh. phúc mãn v.v... Đêu là các chứng hậu của Tỷ thô, Tỳ chủ về cơ nhục và tử chỉ, cho nên thân thê nặng nè. Phiên oan là buồn bực. khó chịu. Vì Thỏ bị thương không chế được Thủy, khiến Thủy khí ngược phạm lên Tâm, nên hóa như vậy. Trên ứng với Tuế tinh tức là Mộc tỉnh, vì Mộc vận chủ tuế mà thái quả, nền Tuể tĩnh sẽ sáng tỏ hơn mọi năm. CỦ Vi Quyết âm với Đốc mạch đều tụ hội ở đầu, nên phát bệnh ở đầu.
- "Hóa khí" tức là cái khí căn bản của mọi sự sinh hóa, tức là Thô khí. VI phong Mộc thái quả. khiến Thổ khí không còn phát triển được chính lệnh của mình. Duy cỏ sinh khí là phong Mộc một mình hoành hành. Phong thăng thì động, nên cảy không yên lặng, mây khí tung bay. Người cũng ứng theo đó, mà sinh ra cải chứng hiếp thông và thê v.v... Xung dương là mạch của VỊ. VI Mộc râm (phạm) khiến cho Thô khỉ bị tuyệt, nên mới là chứng bệnh không thê chữa. Thái bạch tức là Kim tỉnh. Bởi tuế vận thái quá thì úy tĩnh thất sác mà lầy tới cả mẹ. Như Mộc vận thái quá, thì Chân tính thất sắc, vì sao thuộc Hỏa là Huỳnh hoặc cũng không còn ánh sáng. Cho nền Thái bạch lại được hiện ra đẻ thăng lại nơi ốc. Đó là sự "thừa, chế" lẫn nhau. đúng với lẽ tự nhiên vậy.
- Hòa thăng thì khắc Kim, cho nên Phế kim thụ tả. Hải ngược, một chưng do thư, nhiệt phát sinh. Tráng hỏa làm hại khí, nên thiếu khí; Phể bị Hỏa nhiệt, nên suyễn, khái Phé là nơi tụ hội của các mạch; dương mạch bị thương, nên huyết ràn lên trên; âm mạch bị thương, nên huyết tiết xuống dưới (do đại, tiêu). Phế là ngọn nguồn sinh ra Thủy, vậy cuống họng ráo là do Hỏa nhiệt hun lên Phế; Thận khai khiếu lên tai, vì thủy nguyên kiệt, khiến Thận hư mà sinh tai điếc; Trung nhiệt là bởi khí nhiệt phạm vảo trong; kiên bối nhiệt, vì đó là Phế du. Hình hoặc là Hỏa tinh. Hỏa khí thẳng nên trên ứng vào nó. Tất nó sẽ sáng tô hơn lên, vì là hòa vận thái quá. Đó chính lá vận niên thuộc các năm Mậu. Ở trong ưng, hung, là nơi cung thành của quân chủ. Bối thuộc dương. Tâm là Thái dương ở trong dương. Cho nên trong hưng vả lưng, vai, cảnh tay đều đau. Thủ Thiếu âm Tâm mạch dẫn ra ở dưới hiếp, qua cảnh tay tới khuỷu rồi tới bàn tay... Vì thế nên hiếp chỉ mãn và đau, cánh lay đau. Mình nóng, xương đau là vì Hỏa "can” mà Thủy cũng bị thương. Tâm râm là một chứng mụn lờ phát sinh bởi Hỏa. Kim Quỹ nói: "Chứng tắm râm phát sinh từ xung quanh miệng rồi lây ra tứ chỉ thì có thể chữa; nếu từ tứ chỉ rồi mới lây vào tới xung quanh miệng, thì không thể chữa.
- Đây nói về Kim khí uất mà thủy khí phục. Thần tinh tức là Thủy tỉnh, Gặp trường hợp đó, Thủy tỉnh sẽ sáng tỏ.
- - Thượng lầm” tức là cải khí Tư thiên, "lâm” lên tuế vận, tức là một năm thuộc về Thiên phù. Về năm Mậu Tý. Mậu Ngọ, mà thượng lâm Thiếu âm; về năm Mậu Đần, Mậu Thân, mà thượng lâm Thiếu dương. Tư thiên với tuế vận cùng hợp, hỏa Khí càng Can, nên suối nước cạn mà muôn vật khô khan,
- Các dương niên chủ về thải quá, cho nền chỉ có những năm Mậu Tỷ, Mậu Ngọ. Mậu Dàn, Mậu Thân và Bính Thìn, Bính Tuất là mới có tư thiên thượng lãm với tuế vận cùng hợp. Còn các năm thuộc về Mộc, Kim. Thể thì không có thượng lâm, “- Dùng chữ “bệnh lại phát ra” v.v... là vì Hỏa Cang cực mà lại "tự thương”, nên mới phát các chứng như sau: Thiềm vọng: nói mê làm nhắm; cuồng tâu tức rồ dại, chạy nhặng... Dó đều là biến chửng của bệnh nhiệt cực. Suyễn, khái và thở thành tiếng... Đều đo Hỏa bốc lên hun vào Phế kim. Tâm chủ huyết, mạch dẫn xuống quá độ, thì thành ra chứng, tiết huyết, hoặc tiết mãi không đứt. Thái uyên là Du huyệt của Phế kim. Hòa Cang cực làm cho Phế bị tuyệt, nên chết, không thê chữa. Ở đất là hành Thổ, ở trời là khí thấp. Cho nên Tuế thô thái quá thì mưa và khí ẳm ướt tràn lan. Lực nguyên chính kỳ luận nói: "Thái àm khí đến thành mây mưa". Bởi cái khí thấp thỗ thăng lên, mà thành ra mây mưa. Đại, tiêu phúc đau, do bệnh ở Thận Tàng, Thổ thắng mà Thủy bị thương. Thận là nguồn gốc của sinh khí, Thận khí bị tà, nên tay chân quyết lãnh. ì Thận Tàng chí, chí không được thư xướng nên không vui. Thận là gôc của khí huyết, Thận bị thương nên thân thể nặng nề mà phiền oan. Tuế thê thải quá, nên trên ứng với Chắn tỉnh thêm sảng. Chẩn tinh tức Thổ tinh, Thỏ vận thái quá, tức là các năm thuộc vẻ Giáp.
- Cơ nhục vả tứ chỉ do Tỳ làm chủ. Vì Tỳ khi không chuyên Du được. nên thành chứng ẩm. và chứng đờm. Vì “râm thắng quá lầm” khiến cho bản vị lại bị hư, mà tự thương. Nên về những ngày từ 1 trở đi thuộc về tứ quý, chính là thời kỳ Thổ khí đắc VỊ, lại gây nên tật bệnh.
- tàng khí" tức là Thủy khí; hóa khí tức là Thổ khí. Thổ thắng thờ chế Thủy, vì vậy Tàng khí bị phục... "Sông nước trản..." là vì thấp râm thái quá. "Mưa gió tơi bời..." đó là do Thủy khí lại phục. Phúc mãn dường tiết v.v... Dều thuộc về chứng Tỳ hư. Thái khê tức là mạch của Thận: Tả nhiều. là do Thể bại, nên Thủy bị trút xuống. Tức là Thận tuyệt nên không thể chữa. Tuế tĩnh tất sẽ sáng hơn. tức là Mộc lại bị lờ theo.
- VI táo khí tràn lan, khiển Can mắc bệnh, đau Ở hiến, cũng là bệnh Can; Can khai khiểu lên mắt, nên mặt đau; Can hư nên tai không nghe tiếng. Phiền oan là do Can khí không được thư xướng, Bản kinh nói: "Thận hư, Tỳ hư, Can hư, đều khiến thân thể nặng nề và phiên oan. Thái bạch là Kim tính, Kim khí thăng, nên trên ứng với sao Thái bạch, sẽ sáng tó hơn trước. Kim vận thái quá, thuộc các năm về Canh.
- =Tức sái quá lắm" đó là đo Kim khí tự hư mà Hỏa khí lại phục, suyễn, khái, nghịch khí... Đều là kinh của Phế. Phé đu ở kiến bối. nên kiên bối đau. Câu âm, cổ, tất v.v... Dó là bởi Kim khí hư mà lây tới cải nơi sinh ra nó là Thủy tàng. Kim râm thái quá, thì lại bỏ hư cải bản vị của mình. Kim hư không thế sinh được Thủy, do đó, Hỏa không còn sợ gì nữa, liền thừa cơ đề phục thù.
- Thâu khí tức là Kim khí; sinh khí tức là Mộc khí. Thâu quả mạnh, khiến sinh khí bị phục, nên khiến cỏ cây úa rụng... Đau ở huyệt mà không thể trở mình, thuộc bệnh về Can, Đờm. Mạch của Can suốt lên Phé, nên gây chứng khái nghịch; Can chủ Tàng huyết; Can bệnh, nên huyết ràn; Thái xung tức là Du mạch của Can: Trương Ngọc Sư nói: Tuế mộc thát quá, không có Kim khí báo phục, thì nói răng: “Sinh khi độc trỊ", tức là một mình chủ về khí của năm, Thuộc về Tuế kim thái quá, đến thu mà lại thăng, cho nên: "Thâu khí mạnh..."; ở về mùa thu, đông, cái sinh khí của xuân dương đã tới, cho nên nói: "Sinh khí hạ v.v...". Đều nên nhận kỹ.
- Vì thủy vận thái quá. chân khí trằn lan, cho nên tà làm hại Tâm hỏa; vì hàn khí dân lên, dồn Tâm khí bếc nóng ra ngoài, cho nên mình nóng, Tâm phiền. Tâm quý là đo thủy khí lãng phạm lên Tâm. "Táo" là do Hỏa khí không giao với âm. Am khí quả lạnh, nên Tâm nghịch cả trên và dưới, “Trung hàn” là đo Tam tiêu Hỏa suy; Tâm thần không yên nền thiêm vọng: Hản chủ về Đông lệnh, đây vì hàn khí tràn lan, nên hàn khí sớm đến; Thần tĩnh tức là Thủy tỉnh. Thủy vận thái quá, tức là các năm thuộc về Bính. Thìn. mà Đây nói về thủy râm quá gây nên "tự thương”, tức là cái lề "mãn chiêu tốn". Vị Thận mắc bệnh, nên phúc đại, hĩnh thũng; suyễn, khái năm ra hãn và ghê giỏ v.v... Đều do Thủy tà tràn ngập, Thô không chế được, nên mới gầy nên các chứng đó. Khí của Thái dương, sinh ra ở trong Thủy, mà làm chủ ở phu biểu. Thủy ràn thì nguồn kiệt, không còn gì giúp cho Dương khí ở biểu, khiến biểu dương hư, nên hãn ra mà ghê gió...
- "Thượng lâm Thái dương" là nói về khí hàn Thủy tư thiên. gia lâm ở trên, tức là hai năm Bính Thìn và Bính Tuất, và cũng tức là năm thuộc về Thiên phù. Vi hản với Thủy đều thịnh, nên sương huyết thường xuống: vì mưa xuống, nên Thỏ bị thấp mà mọi vật đều biển, do đó mới sinh ra các chứng phúc mãn. trường minh v.v... Đều là cải chứng Thủy rản mà Thổ bại. Tỳ thô không chuyển dụ được tân dịch, nên thành chứng khát; vì thấp khí bốc lên nhiều nên hoa mắt, chóng mặt: Thân môn tức là Tâm mạch. Thùy khí rất mạnh nên Huỳnh hoặc thất sắc, mà Thân tỉnh càng tỏ.
- Tuế Mộc bắt cập, thì cái mình "sờ bát thăng" sẽ “võ" mà lấn lên. Vì vậy năm chủ Mộc bắt cập, thì táo khí của Kìm sẽ đại thành. Vì cái khí thanh lương phạm vào trong, nên bên trong lạnh. “Khư hiếp đau” v.v... Đêu thuộc về bệnh của Can mộc; thức ăn vào Vị tán bố tinh khí lên Can, rồi hành khí ra cân; Can hư nghịch mà lại kiêm trung lãnh, cho nên trường mỉnh và trường tiết, Kim khí thanh lương nên thường có lương vũ; Kim khí thắng, nền trên ứng với sao Thái bạch.
- Dương minh táo Kim lâm lên trên tư thiên, tức thuộc về hai năm Dinh Mão và Đinh Dậu. Tức gọi là năm Thiên hình. Tuế mộc bất cập mà lại thượng lâm Kim khí, vì vậy chủ khí của Mộc bị mắt chính lệnh.
- Các âm niên chủ về bất cập, cho nên chỉ có những năm Đinh Mão, Định Đậu, và Kỳ Ty, Kỷ Hợi, Tân Sửu, Tân Mùi... Còn các năm Quý, các năm Ất, đều không có sự hợp thắng của Tiên thiên.
- (2) "Phục" là do mẫu uất mà từ phục. Phảm các chứng hàn, nhiệt, sương, dương (tức lở láy, mụn nhọt v.v...) Đều thuộc về thử bệnh.
- Đây lại nói về cái khí "thượng lâm Dương minh", Kim khí dụng sự, nên đến khoảng mùa hạ, mùa thu giao nhau, bạch lộ giáng sớm và cái khi thâu sắc phát triển. Bởi về năm bắt cập, thì cái khí "sở thắng" sẽ đi cản, mà lại tự bỏ hư Vị của mình, cho nên các "phục khí" (khí báo thủ) có thể thắng lại được. Giờ, cái khí Dương minh thượng lâm vốn đã thắng, Kim khí thịnh, thì cái từ khí của Kim lại thăng được Hôa; tử của Mộc muốn báo phục lại, mà tử của Kim lại thắng lại được, vì vậy "xích khi mới hậu hỏa". Dương minh táo khí Tư thiên, thì Thiếu âm quân Hỏa, chủ về "chung chỉ khí", cho nên xích khí hóa sau, mà bạch khỉ (tức Phể) bị khuắt.
- Vì tuế hỏa bất cập, hàn lại thắng hơn, nên hàn khí đại hành, mà cái chính lệnh sinh trưởng không thể phát triển. Phàm các bệnh hung trung thống v.v... Dêu đo Dương khí không phát triển được mà sinh ra "uất mạo, mộng muội” tức là một chứng khí uất lên chóng mặt, và hoa cả mắt trông không rõ... Đỏ là do thấp khí gây nên; hàn Thủy phạm lên Tâm, nên Tâm thống; Tâm chủ vẻ nói, Tâm mắc bệnh nên bạo ấm (bỗng dưng như câm; Thái dương chủ về khí của chư dương, gốc nó sinh ra từ trong hàn Thùy; vì hàn râm thái quả khiến sinh dương tự hư... "Co vào mà không duỗi ra được", là bệnh tại cân. Thái dương chủ về cân. Dương khí hư không thắm nhuân cho cân được, nên sinh bệnh như vậy.
- "Phục" tức là Thổ khí phục. Cái khí thấp Thỏ, uất bốc lên trên, nên thường có mưa to... Hãc khí tức thủy khí, vi Thổ khí đã phục, nên thủy khi phải thụt xuống. "Đại tiện sống phân" v.v... thuộc về chứng hàn thấp. Bởi thủy khí thái thậm, mà thấp Thỏ lại báo phục, nền mới sinh các bệnh trên.
- Thỏ vận bất cập, thì Mộc nó lại thắng, cho nên phong khí mới đại hành, mà hóa khí của Thổ không còn sao thí hành được chính lệnh của mình nữa. Phảm các chứng bệnh xôn tiết, hoắc loạn v.v... Đều là cái bệnh Mộc khắc Thổ mà sinh ra: “Gân xương lay động", là một chứng hậu do Quyết âm Thiếu dương gây nên. Thỏ khí bất cập, thì Mộc không còn gì chế lại được. Cho nên Tàng khí phạm vào người. Người mắc chứng hàn trung (lạnh bụng) là bởi Thủy hàn phạm lên, mà Hỏa thỗ bị suy yếu.
- phục* đây là do Thổ yếu, Mộc cang, Kim nó mới báo phục trờ lại, nên chính lệnh mới gắt gao... Phảm bệnh hung, hiếp v.v... đều bởi Can mộc gây nên. Thở đài, là bởi Mộc uất, thì Đởm khí không được thư, nên phải thở dài cho hả. Khí khách vào Tỳ, tức là Thủy sâm Thõ. Vì Thỏ vận bất cập mà Tàng khí dụng sự, cho nên Kim dù báo phục, mà tử khí cũng đi theo. Thủy khi thắng, nên ăn uống kém sút v.v...
- Thượng lâm Quyết âm tức thuộc về hai năm Ký Ty và Kỷ Hợi, Quyết âm ở trên thì Thiếu dương ở dưới. Vì thế nên Tàng khí không còn hiệu dụng. Đó là bởi từ nửa năm về sau, nhờ được cái Hỏa của Thiếu dương, nên dù Đông lệnh cũng không thể hàn. Tuế vận ở Mộc, dù không chăm ở đức, nhưng gặp Quyết âm Tư thiên. Mộc khí không hư, nên bạch khí (Kim) không báo phục.
- Thắng khí ở nửa năm về trước, "phục khí" ở nửa năm về sau. Về mùa thu, đồng, Mộc khí đã binh, Kim khí không phục, nên dân mới được an toàn vô sự. Ta nên biết: Vì thăng khí vọng hành, lại tự bỏ hư bản vị, rồi cả tử, mẫu đều hư, cho nên "phục khí” mới có thể thừa cơ để báo phục. Nếu bản khí không hư, thì từ khí cũng thực, "phục khí" cũng phải sợ tử của nó mà không dám báo phục nữa.
- Kim vận bát cập, thì cái thắng được nó là Hỏa khí sẽ tự do lưu hành, Kim không chế được Thủy, thì cái sinh khí của Mộc lại lợi dụng cát khí sinh trưởng của Hỏa đề chuyên thắng, cái khí táo thước do đó thịnh hành. Những bệnh phát sinh ra đó, đều bởi Phế khí không thâu liễm được mà gây nên, 38) Kim nhược, Hỏa Can, Thủy sẽ báo phục. Nên mưa lạnh mới trút đến, Quyết nghịch là một khí ngược lên và chân tay giả lạnh; “Cách đương" tức là dồn cả khí dương lẻn trên. VỀ mùa thu, đông, Dương khí nên thâu tàng tại âm Tàng, nhân hàn khí quyết nghịch, và dồn đương lên trên. khiến cho dương "lại" đi ngược lên. Nên mới phát các chứng thuộc đầu óc như vậy; Vì hàn khí của Thủy lấn lên, khiến Tâm hỏa bốc ra ngoài, nên con người mới mắc bệnh mụn lở ở miệng và ở Tâm thống...
- Tuế thủy bất cập, thì Thổ sẽ thăng, cho nên thấp khí đại hành. Thủy nhược không chế được Hỏa cho nên Hỏa lại đắc dụng, Hòa với Thổ hợp hóa, cho nên cái khí của Thô lại thi hành được chóng, nên thừ vũ (mưa, năng nóng) đến luôn. Các bệnh trên đây đều do Thận âm bị thương mà sinh ra. Lử:h khu nói: "Dương khí hữu dư, vĩnh khí không lưu hành, sẽ phát chứng ung (mụn), âm dương không thông, hản nhiệt cùng chọi, sẽ hóa làm nung (mủ). Lại nói: Hàn tà khách ở trong kinh, lạc, không trở lại được, thi thành chứng mụn sưng; ở đây là hàn độc, mà không cỏ nhiệt hóa, nền phát các chứng yêu cỗ thống v.v..." đều do Thận khí không được quân bình mà gây nền,
- Về khí Tư thiên, thượng lâm Thái âm, tức là hai năm Tân Sửu và Tân Mùi. Thái âm thấp thê Tư thiên, thì Thái dương hàn thủy Tại toàn, Vì thế nên thường có đại hàn. Vĩ thường có đại hàn, Dương khí không phát triển được ở trên; hàn thủy Tại toàn, cho nên dân mới mắc bệnh ở dưới. Các bệnh phát ra ở trên, đều đo thấp râm thái quá, Tỳ thô bị thương mà gầy nên.
- Thủy nhược, Thổ thắng, Mộc lại báo phục, nên mới có gió to nỗi lên. Dương minh táo Kim, chủ ở diện bộ, nên sắc mặt thường biến. Dương minh chủ làm nhuận cho tông cân, mà bao các cân đều thuộc về cốt; vì cái khí trung Thỏ cùa Dương minh bị thương, nên cân cốt mới đều đau. Mắt không tỏ, vì phong thắng làm thương đến huyết mà sinh ra. Phong khí lọt vào trong cách, ở khoảng trên thì sinh Tâm thống, ở khoảng dưới thì sinh đau ở phúc.
- Trong một năm có sự thắng phục của tuế vận, có sự thắng phục của bốn mùa. Mộc bất cập thì Kim sẽ thăng. Như mùa xuân cỏ cảnh âm áp thì mùa thu sẽ có cảnh mát mẻ... Dó là đều giữ đúng cái bản vị của bốn mùa, không có thăng mà cũng không có phục... Tức là khí hòa. Nếu mùa xuân mà thảm thê, thì mùa hạ sẽ oi ả. Do đó tai sảnh sẽ phát sinh từ Đồng phương, ở Tàng của con người là Can, mà bệnh thì phát ở khư hiếp, tức thuộc phạm vi của Can; bên ngoài thì ở quan tiết (các khớp xương), vì Can chủ vẻ cân. Các mùa kia đều theo một công lệ như vậy. Ngọc Sư nói: "Bất cập" là nói về tuế vận bất cập. Tuế vận bất cập, nên phải có thắng có phục. Nếu được thì khi hòa không còn có thắng phục nữa.
- Thùy không thắng Hỏa, nên Hỏa được sáng tô. Không có thắng thì không có phục, nên mùa đông mới được phát triển cái chính lệnh rét mướt...
- "Mây mái thắm nhuân” là đức hóa của Thỏ; gió lay là lướt, là chính lệnh của Mộc. Đỏ thuộc về khí hòa, không có sự thắng phục, nếu "gãy cảnh, trốc gốc" là Mộc râm thắng Thõ; "hiu hắt mưa đầm..." là sự báo phục lại của thu Kim. Thô vượng ở bến mùa, nên gọi là “tứ duy”. Tâm ở vào khoảng Vị quản, "phúc" là thành quách của Tỳ. Tứ duy lại là chính Vị của các phương Càn, Khôn, Cấn, Tốn; Đông, Tây, Nam, Bắc và Thủy, Hóa, Mộc, Kim.
- Cái chính lệnh của năm vận âm dương, cũng như cán cân. Cao mà quá, tất phải có cái sức gì đề nén bớt xuống, vì là thái quá; thấp mà quá, tất phải có cái sức gì để nâng đỡ lên, vì là bất cập, Nếu đức hóa, thỉ bốn mùa sẽ ứng theo; nếu biến dịch, thì tùy thời sẽ có sự báo phục. Đó là cái lý sinh, trưởng, hóa, thâu, tàng và là thường khí của bỗn mùa.
- Ứng với khí trời, động mà không ngừng ứng với khí đất, tĩnh mà giữ Vị. Thân minh, tức là chỉ về “thất triệu” (7 sao). Đây tiếp đoạn trên để nói: Thịnh, suy, thắng, phục, tức là động tĩnh của trời đất; sinh, trưởng, hóa, thâu, tàng tức là vãng phục, của âm dương. Sự động tĩnh không trông thấy, có thần minh làm cương kỳ, thì có thể nhật xét; âm dương không thể lường, nhưng có triệu chứng của hản thử thì có thể biết. Đó là cái đạo âm dương của trời đât.
- Doạn này nói về cái khí của năm vận, bốn mùa. Có sự thường của đức hóa, có sự biến của tai sảnh, phải xét ở sự "động", mới có thê biết được. Vậy, về năm thái quá, thì có sự "râm thắng"; về năm bát cập, thì có sự "thăng, phục”. Đó là sự thưởng của tuế vận, có thể dự biết được, Nhưng cái khí của năm vận, phát sinh bởi năm phương; cái khí của năm phương, lại hợp với bốn mùa. Ở tuế vận, dù có cái sự biến râm, thăng, uất, phục; ở bốn mùa, lại có cái hòa của đức, hóa, chính, lệnh. Củng tuế vận không chung một "hậu", cho nên cân phải xét ở sự động của khí. Vậy, đức, hóa, chính, lệnh, biến, tai... Muôn vật theo đó mà hoặc thành, hoặc bại; con người theo đó mà hoặc mạnh khỏe hoặc ốm đau... Như thế thì cũng khó lòng mà biết trước được.
- Đây nói về ngũ tỉnh chỉ ứng với tuế vận, chứ không thể ứng với sự "thốt biến" của thời khí.
- Khí hóa tức là khí của năm vận. Tỷ như: Giáp, Kỷ vận hóa Thỏ; Át, Canh vận hóa Kim; Bính, Tân vận hóa Thủy; Đinh, Nhâm vận hóa Mộc; Mậu, Quý vận hóa lỏa v.v... Năm dương niên chủ về thái quá; năm âm niên chủ về bát cập. Mà đều ứng lên với năm hành của trời.
- Đây, nói về tuế vận thái quá, thì cái ngôi sao chủ về năm không yên giữ ở "đệ" của mình, mà xâm võ cái "sở bất thắng", vì thế nên úy tỉnh thất sắc (Úy tỉnh tức là cái ngôi sao khắc lại mình mà mình phải sợ). Tỷ như tuế Mộc thái quá, thì Tuế tinh sẽ lấn cái "sở bất thắng" là Thổ, mà Trấn tinh sẽ thất sắc, Như: Tuế thổ, thái quá, thì Chắn tính sẽ lấn cái "sở bắt thắng" là thủy, mà Thần tinh sẽ thất sắc. Bởi mẹ của úy tính, tức là con của thăng tinh. Đó là do Cang thời hai mà không thể sinh hóa được "từ khí”. Nếu là năm bắt cập, thì cái ngôi sao "sở bất thắng" cũng tự tỏ sắc ra. Tỷ như tuế Mộc bắt cập, thì cái ngôi sao "sở thắng" là Thái bạch thêm phần sáng tỏ; mà cái Thổ khí "sở bất thắng" cũng không sợ gì Chắn tỉnh, cũng tự sáng tỏ hơn lên... Năm vận đều như thể cả.
- Vương Băng nói: Trời đất động tĩnh, âm dương đi lại, lấy đức báo hóa, lẫy hóa báo hóa... Chính lệnh, tai sảnh cũng đều như vậy, không thể thêm bớt.
- Vương Băng nói: Thăng thịnh thời phục lại thắng, thăng vi thời phục lại vi, không thể nhiều hơn lên được.
- Thái quá gọi tà đại niên, bất cập gọi là tiểu niên, hữu dư mà vãng, bất túc sẽ theo; bất tủc mà vãng, hữu dư sẽ theo. Bỏ lỡ sao được.
- "Hiệu dụng" tức là cái hiệu dụng của âm, đương. Khí Âm Dương của trời đát, thăng rồi thì giáng, giáng rồi thì thăng... Hàn đi thì thử lại, thử đi thì hàn lại. Không có sao được.
- Sự văng lai của thắng phục, sự thăng giáng của âm dương. Đều theo ở sự động của khí mà phục trở lại.
- "Khí" tức là cái khí biến dịch (thay đỗi.
- Lục tiết Tàng tượng nói: "Biến đến thì bệnh; "sờ thắng" thì "vị (nhỏ, nhẹ); "sở bất thắng" thì bệnh; nhân đó lại cảm phải tà khí thì sẽ chết... cho nên không phải mùa thì vi, đúng phải mùa thì nặng...". Đó là nói mùa xuân biến thành cái khí Trường hạ; Trường hạ biến làm đông khí; đông khí biến làm khí hạ nhiệt; hạ biến làm thu khí; thu biến làm xuân khí; Đó là bảo: được cái thắng của ngũ hành tức là thời khí thắng biến khí, nền mới là hòa bình. Như tuế Mộc bất cập, tuế Kim thái quá, mùa xuân lại biến thành túc sái. Lại như tuế Hỏa bất cập, tuế Thủy thái quá, mùa hạ mà lại hàn khí lưu hành... Thế là thời khí với biến khí không tương thắng, nên mới sinh bệnh. Cho nên không phải cái thời "sở thắng" thì vi, đúng là cải thời "sở thắng" thời năng. Lại cảm thêm tả khí, tức là tà khí ở suốt cả bốn mùa.
Chương bảy mươi + Chương bảy mươi mốt · Ngũ Thường Chính Đại Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Thái hư rộng thăm, năm vận xoay vần; suy thịnh không giống. tổn ích cùng theo. Xin cho biết thế nào là binh khí? Vì sao mà có tên?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mộc gọi là Phu hòa; Hỏa gợi là Thăng minh; Thổ gọi là Bị hóa; Kim gọi là Thâm binh; Thủy gọi là Tĩnh thuận.
– Bất cập thời gọi là gì?
– Mộc gọi là Ủy hòa; Hỏa gọi Phục minh; Thô gọi là Ty giam; Kim gọi là Tùng cách; Thủy gọi là Hạc lưu.
– Thái quá thời gọi là gì?
– Mộc gọi là Phát sinh; Hỏa gọi là Hách hy; Thổ gọi là Đôn phụ; Kim gọi là Kiên thành; Thủy gọi là Lưu diễn).
Hoàng Đế hỏi:
– Xin cho biết các chứng hậu phát sinh do ba khí trên đó như thế não?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về năm Phu hòa, lệnh của nó là phong; Tàng của nó là Can; nó sơ thanh (tức Kim); nó khai khiếu lên mắt, nó nuôi ở cân. Nếu bệnh, sẽ lý cấp, chỉ mãn; Vị của nỏ thuộc toan.
VỀ năm Thăng minh, lệnh của nó là nhiệt; Tàng của nỏ là Tâm:
Tâm sợ hàn (Thủy); nó chủ vẻ lưỡi, nó nuôi ở huyết; nếu bệnh, sẽ nhuận khiết (tức thịt rùng, vả rút gân), Vị của nó thuộc khô.
Về năm Bị hóa, lệnh của nó là thấp; Tảng của nó là Ty; Tỳ sợ phong (tức phong Mộc); nỏ chủ về miệng, nó nuôi về nhục. Nếu bệnh, sẽ thành chứng bĩ; VỊ của nó thuộc cam.
Về năm Thẩm bình, lệnh của nó là táo; Tàng của nó là Phế:
Phế sợ nhiệt; nó chủ về mũi, nó nuôi ở bỉ mao. Nếu bệnh, sẽ phát khái (ho); VỊ của nó thuộc tân.
Về năm Tĩnh thuận, lệnh của nó là bàn; Tàng của nó là Thận, Thận sợ thấp (Thổ), nó chủ về hai đường âm (tiễn, hậu âm). Nếu bệnh, sẽ thành chứng quyết; Vị của nó thuộc Tân.
Cho nên, sinh mà chớ sái, trưởng mà chớ phạt hóa mà chớ chế, thâu mà chở hại, Tàng mà chứ ức (nén xuống). Như thế gọi là bình khí).,
Về năm Ủy hòa, tức là Mộc vận bắt cập. Do đó, cái khí “sở thắng”, nó sẽ thăng được sinh khí, Kim khí đã thẳng thời Mộc không thể phát triển được chính lệnh của mình. Do đó Thô không còn úy ky gì nữa. Mộc suy thời Hỏa khí cũng không thể thịnh;
Phàm bệnh hay phát sinh tại Can Tảng.
Về năm Phục minh, tức là Hòa vận bắt cập; Hỏa vận bắt cập, nên cái khí của Thủy tàng lại được tự do tán bố; Kim cũng không còn phải sợ, cho nên thâu khí được tự chủ chính lệnh. Do đó, Thỏ khí cũng không được thịnh, và bệnh hay phát sinh tại Tâm tàng.
Về năm Ty giam, tức là năm Thổ vận bắt cập. Vì Thỏ bắt cập, nên Mộc nó thắng lại được, khiến hóa khí không còn thi triển được chính lệnh. Cũng do đỏ mà thâu khí phải bình. Mộc với Hỏa đã được hoành hành nên mưa gió có luôn. Mà bệnh thời hay phát sinh tại Tỳ Tàng.
Về năm Tùng cách. tức là năm Kim vận bất cập. Vì Kim bất cập, nền Mộc không còn sợ hãi. Bệnh hay phát sỉnh tại Phế Tàng.
Về năm Hạc lun, tức là năm Thủy vận bất cập. Vì Thủy bát cập, nên Dương khí lại thăng mà được tự do phát triển; cũng đo đó mà hóa lệnh của Thỗ cũng được xương thịnh, và Hỏa không còn ủy ky, nên khí dương nhiệt mới có thê tràn lan bốn cõi. Bệnh hay phát sinh tại Thận Tàng.
' Xem dó thời biết:
Thừa sự nguy mà tiến hành không phải mời mà tự đến. Nếu bạo ngược không có đức, thời tai hại tới ngay. Nhỏ thời báo phục nhỏ, nặng thì báo phục nặng, đó là cái thường của khi.
Về năm phát sinh, tức là tuế Mộc thái quá. VỊ của nó toan, cam, tân; nó tượng về mùa xuân; Kinh của nó là túc Thiếu dương, Quyết âm; Tàng của nó là Can và Tỳ: bệnh của nó là nộ, khí nghịch và Thô lợi. Nếu không chủ ở đức, thời Kim khí lại phục, tà sẽ thương Can.
Về năm Hách hy, tức là tuế Hỏa thái quá. Vị của nó là khổ, tần, hàm; nó tượng về mùa hạ. Kinh của nó là thủ Thiếu âm, Thái dương, Thủ Quyết âm Thiếu dương; Tàng của nó là Tâm với Phế; bệnh cúa nó là tiêu (hay cười), ngược, lở láy, cuông vọng vả mắt đỏ. Nếu chính lệch bao lạt, Tàng khí sẽ lại phục, tà sẽ thương Tâm.
Về năm Đôn phụ, tức là tuế Thổ thái qưá. Vị của nó là cam, hàn. toan; nó tượng về mùa Trường hạ; kinh của nó là túc Thái âm, Dương minh; Tàng của nó là Tỳ và Thận; bệnh của nó là phúc mãn, tứ chí rã rời, giờ nhớn thôi đến. tà sẽ thương Tỳ.
Vẻ năm Kiên thành, tức là tuế Kim thái quá. VỊ của nó là tân, toan, Khô; tượng của nó là mùa thu; kinh của nó là thủ Thái âm, Dương minh; Tàng của nó là Phế và Can; bệnh của nó là suyễn, khát, khó thở, không thể năm ngửa. Nếu khí nóng quá nhiều, tà sẽ thương Phế.
Về năm Lưu diễn, tức là năm thủy vận thái quả. Vị của nó là hàm, khổ, cam; tượng cửa nó là mùa đông: kinh của nỏ là túc Thiếu âm; Thái dương; Tàng của nó là Thận và tâm bệnh của nó là trướng (bụng to vượt lên). Nếu trưởng khí (hỏa) không hóa được, tà sẽ thương Thận.
Cho nền nói:
Nếu đức không giữ được thường, thời “sở thắng sẽ lại phục; nếu chính lệnh giữ được thường, thì “sở thắng” cùng hóa.
Tức là nghĩa đó,
Hoàng Đề hỏi:
– Trời bắt túc ở Tây Bắc, tả hàn mà hữu lương (mát) đất bất mãn ở Đông Nam, hữu nhiệt mà tả ôn... là vì cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đỏ là do cái khí Âm Dương, cái lý cao hạ và cái khác của Thái, Thiếu mà sinh ra#,
Đông Nam thuộc dương. Dương thời tỉnh giáng xuống ở dưới, cho nên hữu nhiệt mà tả ôn, Tây Bắc thuộc âm. Âm thời tỉnh phụng lên trên, cho nên tả hàn mà hữu lương. Vì vậy, đất có cao thấp, khí có ôn lương. Ở nơi cao thời khí hàn, ở nơi thấp thi khí nhiệt.
Cho nên, đến ở nơi hản lương thì có bệnh trướng, đến ở nơi ôn nhiệt thì hay có bệnh lở. Hạ đi, thời trướng khỏi, hăn đới, thời lở khỏi. Đó là cát lẽ thường mở đóng của tâu lý, vả sự khác nhau của Thái, Thiếu!',
Hoàng Đề hỏi:
– Đối với sự thọ, yếu như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nơi nào được âm tính thượng phụng thời người thọ, nơi nào bị dương tỉnh giáng xuống thì người yêu?.
– Về bệnh, nên trị liệu thể nảo?
– Thuộc về khí của Tây Bắc, thời tán đi mà làm cho hàn; thuộc về khí của Đông Nam, thời thâu lại mà làm cho ôn, liệu trị khác nhau vậy,
Cho nên nói:
Khí hàn, khí lương... liệu trị băng hàn lương, lại dùng thêm phép tâm vào nước... Khí ôn, khí nhiệt... liệu trị bằng ôn nhiệt, phải làm cho nguyên đương mạnh đề cỗ thủ ở bên trong... Miễn sao cho khí hòa đồng, mới có thể yên. Nếu “giả” thì làm trái lại,
Hoàng Đề hồi:
– Cùng là khí trong một châu, mà sinh, hóa, thọ, yêu, không giống nhau, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cái lý cao thấp, do địa thế mà gãy nên. Ở nơi tùng cao (cao vọt, như cao nguyên, hoặc rừng núi) thì Âm khí chủ trị; ở nơi ô hạ (đất trũng, thấp, như miền giáp bẻ, đồng chiêm v.v...) thời Dương khí chủ trị. Dương thắng thời khí đến trước thiên thời (Hậu thiên). Đó là cái lẽ thường của đạo lý, vả là cái đạo của sự sinh hóa,
Hoàng Đế hỏi:
– Cùng có thọ, yêu khác nhau chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ở nơi cao thời khí thọ; ở nơi thấp thời khí yêu. Đất vì lớn nhỏ mà khác nhau. Nhỏ thì khác nhỏ, lớn thì khác lớn,
Cho nên về phép trị bệnh, phải hiểu rõ thiên đạo, địa lý, âm dương canh thăng, khí đến tiên hậu, người được thọ yêu, và cái kỳ hạn của sự sinh hóa... Mới có thê biết được hình khí của con người,
Hoàng Đề hỏi rằng:
– Có năm không vì “vận” và “phương” mà sinh bệnh. Tàng khí cũng có khí không ứng, không dụng là thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó lả do sự “chế” của thiên khí mà khí của con người cũng theo!”...
– Xin cho hiểu rõ...
– Thiếu dương Tư thiên thời Hỏa khí “hạ lâm”, Phế khí theo lên... Do đó, phát ra các chứng khái (ho), xì (hất hơi), cừu nực (đỏ máu ra đăng mũi); Ty chất (mũi ngạt, hoặc mọc mụn trong mũi): khâu thương (lở ở miệng); hàn nhiệt, phù thũng (sưng phù ở chân)... Tâm thống và vị quản thông, quyết nghịch, trong cách không thông... Bệnh phát rất chóng', P.
Dương minh Tư thiên, táo khí hạ lâm, Can khí ứng lên theo; Thổ sẽ bị tai sảnh; bệnh phát ra hiếp thống mắt đỏ: rưn rẫy, cân nuy, không đứng được lâu'?,
Khí bạo nhiệt đưa đến; Thổ bị thử khí nung nấu, Dương khí uất phát, tiểu tiện biến sắc; hàn nhiệt như chứng ngược, quá lắm thì Tâm thống!??.
Thái dương Tư thiên thời hàn, hạ lâm, Tâm khí ứng lên theo; Kim sẽ bị tai sảnh; bệnh phát ra Tâm nhiệt, phiên, ách Can, hay khát, đau ở sống mũi và hắt hơi, hay bí, hay vươn vai. Vì nhiệt khi vọng hảnh, nên hay quên. Quá lắm thì phát Tâm thông,
Thô sẽ âm ướt. Thấp khí làm biến cả mọi vật, pây nên chứng thủy âm, trung mãn, không ăn được, bì tý, nhục a; cân mạch không lợi, quá lắm thời sưng thũng và hậu ung (mọc mụn ở phía sau)t,
Quyết âm Tư thiên, phong khí hạ lâm, Tỳ khí ứng lên theo. Bệnh phát sinh các chứng: thân thể nặng, cơ nhục nhão nát, ăn kém, miệng không biết ngon, phong râm ở trên, nên thêm các chứng mắt hoa, tai ù?”. Hỏa tràn lan khí nóng, nên đất cũng biến thành khí thử.
Thiếu âm Tư thiên, nhiệt khí hạ lâm, Phế khí ứng lên theo. Bệnh sẽ phát: Suyễn, âu, hàn, nhiệt, xị. đau xương sống mũi, đồ máu cam, mũi ngạt; khí nóng bức tràn lan, quá lãm thì phát lở láy, mụn nhọt.
Đất bị khí “táo”, khiến người hiếp thống và hay thở dài,
Thái âm Tư thiên thời thấp khí hạ lâm, Thận khí ứng lên theo. Bệnh phát ra trong hung không thông thông lợi, âm nuy. Thận khí quá suy, Dương khí không thê phát triển. Nếu gặp Đông lệnh, sẽ gây thêm chứng yêu chùy (xương sống) đau, không thê trở mình, hoặc quyết nghịch.
Đất sẽ “tàng” khí âm, gây chứng Tâm hạ lũ thống, Thiếu phức thống, kém ăn. Thừa lên Kim thời thôi. Nếu Thủy tăng, Vị sẽ biến ra hàm. Dùng phép hành Thủy, sẽ khỏi?,
Hoàng Đế hỏi:
– Hãng năm, có các loài vật không sinh dục, vận chủ không toàn, đo khí gì gây nên?
Kỳ Bả thưa rằng:
– Bởi sáu khí, năm loại, cùng thăng, chế lẫn nhau. Được khí tương đồng thời thịnh, gặp khí tương dị thời suy, đó là lẽ thường trong đạo, sinh hóa của trời đât, không có gì khác la.
Cho nên, khí chủ có sở chế, tuế lập có sở sinh. Địa khí thời chế về “thắng kỷ”, thiên khí thời chế về “kỷ thắng.
Hoàng Đề hỏi:
– Khí thủy bắt đầu mà sinh hóa, khí tán mà có hình, khí bố (tán bó) thời phôn dục (rậm, tốt), khí chung (cuỗi cùng) thời tượng... Cái nguyên lý chỉ như một. Nhưng năm VỊ sinh ra, sinh hóa có hậu, bạc, thành thục có nhiễu, ít, chung thủy không giống nhau, là vỉ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Do địa khí chế ngự đó. Phàm vật không có thiên khí thời không sinh, không có địa khí thời không trưởng,
P:
A
Hoàng Đề nói:
– Xin cho biết chỉ tiết ra làm sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Hàn, nhiệt, táo, thấp, sự hóa không giống nhau, cho nên Thiếu dương Tại toàn, khí hàn độc không sinh ra. Vị nỏ tân; vệ liệu trị, dùng các vị khổ toan, ra
Dương minh Tại toàn thời thấp độc không sinh ra. Vị nó toan, khí nó thấp. Chủ trị của nó lả tân, khô, cam,
Thái dương Tại toàn thời nhiệt độc không sinh ra. Vị nó khổ. Chủ trị của nó là đạm và hàm,
Quyết âm Tại toàn thì thanh độc không sinh ra. Vị nó cam. Chủ trị của nó là toan và khổ, khí nó chuyên, vị nó chính,
Thiếu âm Tại toản thời hàn độc không sinh ra. Vị nó tân, chủ trị của nó là tân, khổ, cam®?,
Thái âm Tại toàn thời táo độc không sinh ra. VỊ nó hàn, khí nó nhiệt, chủ trị của nó là cam hàn??,
Hóa thuân thời hàm giữ gìn, khí chuyên thời tân hóa mà điều trị.
Cho nên:
muốn dùng “bổ” ở trên dưới, thời phải dùng phép thuận; muốn dùng "trị" ở trên dưới, thì phải dùng phép nghịch. Nhận xem hàn. nhiệt, thịnh, suy ở đâu đề điều hỏa. Cho nên nói “Thượng thủ, hạ thủ. nội thủ, ngoại thủ. để cầu nơi hữu quá (có lỗi, tức có bệnh); lại xét bệnh nhân có thể thăng được độc thời dùng hậu dược (vị thuốc khí vị nùng hậu); không thăng được độc thời dùng bạc được (vị thuốc khí vị đạm bạc,
Nếu bệnh khí tương phản, thời bệnh ở trên, trị ở dưới, bệnh ở dưới, trị ở trên, bệnh ở trung (giữa) trị ở bên cạnh” '.
Trị bệnh nhiệt băng vị hàn, dùng “ôn” cho dẫn hành; trị hàn bằng vị nhiệt, dùng “lương” cho dẫn hành; trị ôn bằng vị thanh, dùng “lãnh” cho dẫn hành; trị thanh băng vị ôn, dùng “nhiệt" cho dẫn hành, cho nên hoặc tiêu, hoặc tước, hoặc thô, hoặc hạ, hoặc bô, hoặc tả... Bệnh lâu, bệnh mới cùng một phương pháp.
r”a
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh ở trong mà không thực, không kiên, không tụ, không tán... Thế là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Không có tích thời cầu ở Tảng; hư thời bố; dùng thuốc để trừ đi, dùng ăn để giúp theo; dùng phép tâm vào nước để lẫy hãn... Miễn Sao trong ngoài đều hòa, bệnh sẽ được hết,
Hoàng Đề hỏi:
– Thuốc có thử có chất độc, có thứ không có chất độc. Về việc uống, có quy chế nhất định không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh có lâu, mới; phương có lớn, nhỏ; thuốc có chất độc hay không chất độc; về phương pháp dùng, vốn có quy chế thường. Vị thuốc có chất đại độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, giảm bới được sáu phân thì thôi, đừng dùng nữa. Vị thuốc có chất độc thường dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, bớt được bảy phần thời thỏi đừng dùng nữa. Vị thuốc có chất tiểu độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phân, bớt được tám phân thì thôi đừng dùng nữa. Vị thuốc không có chất độc, dùng để trị bệnh, bệnh mười phần, bớt được chín phần, thì thôi, đừng dùng nữa. Cơm gạo, cá, thịt, các thức quả, các thức rau... dùng làm thức ăn cho bổ đưỡng thêm, bệnh hết thời thôi, không nên nhiều quá, e làm thương đến chính khí. Nếu bệnh vẫn chưa khỏi, lại dùng thuốc theo như phương pháp trên.
Phải trước xét nhận ở tuế khí, đừng làm hại đến khí hòa, đừng đã thịnh lại giúp cho thịnh thêm, đừng đã hư lại làm cho hư thêm... Khiến người mắc tai vạ, đừng chuốc lấy tà, đừng làm mắt chất chính, khiến người bị yêu vòng,
Hoàng Đề hỏi:
– Có người mắc bệnh lâu ngày, khí đã thuận mà vẫn không khỏe, bệnh hết mà người vẫn gây... Như thế là thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Không thể thay khí hóa, không thể trái bốn mùa. Giờ kinh lạc đã thông, huyết khí đã thuận chỉ nên làm cho hồi phục lại cái Tàng nảo bắt túc, cho được điều hòa như nhau; bể dưỡng thêm, điêu hòa thêm yên lặng, để đợi thời, giữ khí cho cần thận, đừng để sai lệch... Như thê, sinh khí sẽ được lâu dài và thân hình sẽ được mạnh khỏe#2).,
Chú Giải
- Đây nói về bình khí của năm vận, đều có tên riêng. Mộc khi được bình thời có thể tản bố cái khí dương hòa để sinh muôn vật, nên gọi là phu hòa, tỉnh Hôa bốc lên, có đức sáng tỏ; Thổ chủ về sinh hóa muôn vật, mà lan khắp bốn phương; Kim chù túc sái, nhưng được hòa bình thời không làm cân; thể chất của Thủy thanh tĩnh mà nhu thuận. Những chữ đặt tên trên đây đều hình dung cái năng lực, cái tỉnh tốt của năm vận, tức năm hảnh.
- Cả về danh từ của thái quá và bắt cập dưới đây cũng vậy, đều là hình dung cái sự kém sút hoặc quá đáng của các năm, chủ về các hành đó.
- Ý đoạn trên này, nói: Vê năm Mộc vận được sinh khí, mà không có khí túc sái của Kim; về năm Hỏa vận được trưởng khí, mà không có khí khắc phạt của Thủy; về năm Thổ vận được hóa khi, mà không có cải khí thắng của Mộc; về năm Kim vận được thâu khí (cái khí thâu liễm), mà không có sự tặc bại của Hòa; vẻ năm Thủy vận được Tàng khí (cái khí thu cất, kín đáo), mà không có sự át ức của Thô. Như thế là năm bình khí.
- Đây nói tông quát lại cả đoạn trên. Ý nói: Phàm năm vận mà bất cập, thì cái khí "sở thắng" sẽ thừa nguy mà đến... Chỉ còn có "râm thắng" mà thôi, không còn chút gì là "bòa, tường" nữa. Do đó, con nó mới lại phục thù, gầy thêm tai hại v.v...
- Đây tông kết lại đoạn trên. Nếu cậy mạnh mà không giữ được đức thường, thời cái khí "sở thắng" nó lại báo phục; tức là cái nghĩa "đã võ" mà lại thu tà, vì nó không còn phải kiêng sợ gì nữa. Nếu chỉnh lệnh hòa bình đều giữ được lẽ thường, thi cái khí "sở thắng" sẽ đồng hóa với mình, còn lo gỉ sinh bệnh. Trời có âm dương, đất có âm dương. Cho nên bàn về năm vận của trời mà lại nói về bỗn phương của đất... Tả hàn, hữu lương, tả nhiệt, hữu ôn v.v... Đó là theo về quải tượng của Hậu thiên. Bởi về Quải của Hậu thiên, Ly ở Nam, Khảm ở Bắc, Chấn ở Đông, Đoài ở Tây. Vì trời đất khai tịch rồi mới có bốn phương.
- Trên đây nói khí Âm Dương, tức là nói về khí hản nhiệt của bỗn phương: cao, hạ... tức là nói về đất có nơi cao, nơi thấp; thái, thiếu, tức chỉ về tử tượng. Nhân khí tượng của bốn phương bao giờ cũng khác nhau. f Trên đây nói chữ "tính", tức là tỉnh Thủy đo Thái ất sinh ra. Thiên khí bao bọc ở dưới. Tỉnh khí thông suốt lên trời. Cho nên âm dương ứng tượng nói: "Giời có tính, đất có hình...". Bởi trời là dương mà tính là âm. Âm tỉnh giảng xuống dưới, thì Dương khí thăng lên trên. Vị vậy, hữu nhiệt mà tả ôn; âm tình phụng lên trên, thời Dương khí Tảng ở dưới; cho nền tả hàn mà hữu lương. Tây Bắc lả nơi cao. Đông Nam thời khí hãm (trũng, xuống) cho nên nơi cao thì khí hàn, nơi thấp khí nhiệt.
- Đây lại nói về tinh khí do bên trong mà cũng có hạ, thượng, thăng, giáng. Con người nếu sinh ra ở phương hàn lương, Am khí phụng lên trên, thì Dương khí }àng xuống dưới, cho nên hay có sự bệnh trướng. Nếu ở vào địa phương ôn nhiệt, Âm khí không giáng, thời Dương khí thăng lên, cho nên hay có bệnh mụn lờ. Vậy, dùng phép “hạ" thời âm tỉnh giảng xuống. mà Dương khí tự thăng lên, bệnh trướng sẽ khỏi; dùng phép "hãn" thì âm dịch thắng lên mà Dương khí tự giáng xuống, chứng lở sẽ khỏi. Đó là tinh khí ra vào ở khoảng cơ tấu, trên, dưới, thăng. giáng, một mở, một đóng đều là cái lẽ thường tự nhiên. Con người sinh ra ở trong khoảng khỉ giao của trời đất, có sự hà nhiệt của bốn phương khác nhau, ta phải theo khí đó mà Liệu trị cho điều hòa, thì tật bệnh sẽ không bởi đâu mà sinh ra được.
- Cái nơi được âm tính thượng phụng, thời nguyên khí cố àng (bền bì và kín đáo), cho nên người ở đây phần nhiều thọ; cái nơi bị dương tỉnh giáng xuống, thì nguyên dương ngoại tiết (tiết ra ngoài), cho nên người ở đây phần nhiều yếu. Trên đây nói "âm tỉnh" vả "dương tính” v.v... ta nên biết: Đất có "tỉnh" mà trời cũng có "tỉnh". Nhưng ở đất thì gọi là âm mà ờ trời thì gọi là dương. Chỉ khác nhau có thể thôi. É Tây Bắc khí hàn, hàn giữ bền ở bên ngoài. thì nhiệt bị uất ở bên trong, cho nên phải làm tan bỏ cải hàn ở bên nguài, mà làm cho mát khí nhiệt ở bên trong. Đông Nam khí nhiệt thì Dương khí tiết ra bên ngoài, khí ở trong hư hàn, cho nên phải thâu liễm lẫy khí Nguyên dương, mà làm ôn lại sự lạnh Ở trong. Vỉ vậy, nên mới nói: bệnh dù giống nhau mà phép liệu trị lại khác.
- Khí ở Tây Bắc hàn lương, thì người ở đấy khí dương nhiệt bị át uất vào trong, cho nên phải dùng hàn lương để trị liệu... Dùng nước để tâm cho ra hăn, tức làm tấu lý mở ra, để Dương khí được thông xướng. Khí ở phương Đông Nam ôn nhiệt, thị tảu lý của con người mờ rộng... Dương khí sẽ tiết ra nhiều: chơ nên phải dùng ôn nhiệt để liệu trị, làm cho Nguyên dương thêm nành, để có thủ ở bên trong. Đó là mở ra thì đóng lại, đóng lại thì mở ra: thuộc về cái khí thăng trưởng. thì thâu liễm mà bế Tàng lại, thuộc về cái khí thâu tàng thì thăng để mà phát tán đi. Miễn sao cho khí được hòa động và quân bình mới là hoàn thiện. Nếu người ở phương Tây Bắc mắc phải hàn tả hiện ra chứng trạng giả nhiệt, lại nên dùng ôn nhiệt để liệu trị; Nếu người ở phương Đông Nam, mắc phải nhiệt tà mà hiện ra chứng trạng giả hàn, lại nên dùng hàn lương để liệu trị. Đó câu "giả, giá, phải chỉ", là nghĩa thế.
- Đây lại nói về khí của một phương, mà cũng có âm dương, hàn, nhiệt không giống nhau. Như ở những rơi núi đổi, gò đồng thì nhiều khí âm hản; ở nơi thấp trùng băng phăng thì nhiều khí dương nhiệt. Về phân dương thăng, thời cái khí của bốn mùa, trước thiên thời mà đến (như chữa đến xuân mà đã ôn v.v...): về phân âm thăng, thì cái khí của bốn mùa, sau thiên thời mới đến (như đã sang xuân mà vẫn hàn). Phàm hàn, thử, vãng lai, đều do đất mà gây nên. Đó là sự phân biệt về địa lý cao hạ và hậu bạc, và là lẽ thường của âm dương. "Cái đạo sinh hóa”, tức là nói về cái khí sinh, trưởng, hóa, thâu, Tàng. Dương khí chủ trị, thời khí nhiều sinh trưởng: Âm khí chủ trị. thời khí nhiều thâu tàng.
- Ở nơi cao, khí ở đó thãu tàng, nên phân nhiều thọ: ở nơi thấp, khí ở đó phát việt, nền phần nhiều yêu. Khí của một châu có lớn, nhỏ khác nhau. Nên thọ yêu cũng khác nhau.
- Thiên đạo tức là sự hóa, vận của trời; địa lý tức là bồn phương của đất. Am, đương thay đổi nhau dễ thắng: năm vận, sảu khí có thái quá và bất cập, lại có thấp thăng uất phục... Kì hạn sinh hóa... tức là nói về sự sinh hóa của Khí... Cũng như trên kia thường nói "sinh Khi, hóa Khí” v.v..
- Tàng Khí... tức là khí của năm Tàng. “Không trên, không dụng” tức là không ứng với sự hiệu dụng cúa năm vận. Đó là vị cái Khí Lư thiên chế (trị) như vậy, mà khí của con người cũng hóa theo.
- “Tư thiên lên...” là nhân cái khí Tư thiên hạ lãm. no xợ sự “thắng thế nên phải theo. Bởi cái khi của năm vận, gốc ở tong mà vận ra bên ngoài; cái khí Tư thiên vị (định vị) ở trên mà làm vương coi chính những hệnh khái, sị v.v... đều là bệnh của Phé... Khẩu thương, hàn nhiệt v.v... đều là chứng Hỏa nhiệt, Đó là vận khí của Kim mà lại theo Hỏa hóa. Nên mới chứng hậu như vậy.
- Linh khu nói: Bệnh đo Quyết âm Tâm bao lạc sinh ra, Tâm thống, phiền Tâm (trong lòng buồn bực), vị quản thống (đau cuống dạ dày) v.v... Đó là do Mộc khắc Thổ mà gây nên. Thổ, bộ Vị ở trung ương, trung cách không thông thời trên dưới quyết nghịch. Phong khí nhanh chóng nên mắc bệnh cũng nhanh chóng.
- Cái thể của năm hành ở dưới đất, mà công dụng theo với thiên khí ở trên. Mộc theo thiên khí để hóa, nên trở xuống lảm tai sảnh cho Thổ. Các: bệnh phát sinh như hiếp thống v.v... Dều là bệnh thuộc Can.
- Dương mỉnh Tư thiên thì Thiếu âm quân hỏa Tại toản, cho nên đại nhiệt đến mà Thỏ bị thứ khi nung nấu. Vì dương nhiệt quá nên tiểu tiện biến sắc, và hàn nhiệt như ngược. Tức có nghĩa như: "Mùa hạ bị thương về thử khí thì mùa thu sẽ biến thành hài, ngược". Tâm thống, tức là Tâm hóa nung nấu ở trong.
- Hàn khí hạ lâm, Tàng khí lên theo; tính Hòa bốc lên, tính Thủy dẫn xuống. "Tâm phiền v.v..." đều là những chứng do hỏa bốc lên ra sinh ra. Phẻ, là cái lọng che của Tâm... Phàm những chứng "đau ở sống mũi v.v... đều đo hỏa nhiệt hưn lên Kim mà sinh ra. Hỏa là dương, Thủy là âm, “hay vươn vai” tức là đo một đăng thì Dương khí dẫn lên, một đẳng thì Âm: khí dẫn xuống. Hai bên giăng co nhau mà sinh ra. "Hay quên" là do hàn khí báo phục, khiến thân khí bị thương mà gây nên.
- Thái dương Tư thiên thì Thái âm thấp Thể Tại toản, cho nên "thổ khí âm ướt". Về năm Thìn, Tuất, Thái dương Tư thiên thì khách khí của hàn Thủy đa lâm lên trên "tam chỉ khí". Vì vậy nền thấp khí mới làm biến mọi loài sinh vật. Các chứng "thủy âm v.v..." đều đo Thủy thấp gây nên Thái dương hàn thủy chủ khí, mà kinh mạch lại vòng ở lưng, nên mới sinh ra chứng hậu ung.
- Các chứng "thân thê nặng và mắt hoa" v.v... đều thuộc về Tỷ và Can.
- Quyết âm phong mộc Tư thiên, thì Thiếu dương tướng hỏa Tại toàn. Mộc với Hỏa tương sinh, nên Hỏa mới tràn lan khí nóng và đất cũng biến thành khí thừ.
- Thiếu âm Tư thiên thì Dương minh táo Kim Tại toàn, cho nên đất bị khí táo. Hiếp thống v.v.., Đều thuận về bệnh của Can, Đởm.
- Thấp khí tức là sự biến của thấp Thô. "Trung hung không thông lợi..." là đo Thủy khí từ dưới lấn lên. "Âm nuy", là do Thận khí suy ở dưới. Dương khí sinh ra ở Thận âm mà vận dụng ra phu biếu. Vì Thận khí đại suy nên Dương khí không thể phát triển; do đó mới sinh ra tay chân quyết nghịch. Dương về Đông lệnh, Thận tàng, chủ khí, mà lại "yêu chùy đau v,v...", Vì Thận khí theo cả lên trên, mà bỏ hư ở phía dưới, nên mới thành chứng trạng như vậy.
- Thái âm Tư thiên thì Thái dương hàn thủy Tại toàn. Cho nên đất mới "tàng" khí âm. "Tâm hạ bĩ v.v..." đó là bởi cái khí Thủy, Hỏa ở trên dưới không giao hợp được với nhau mà sinh ra. “Thiếu phúc thống", là đo Thận mắc bệnh ở bộ phận dưới; "kém ăn..." là do thủy lắn lên Thổ mà gây nên. Thận là gốc, Phế là ngọn. Đều là hai cơ quan tích thủy. "Lắn lên Kim thì thôi”, tức là Thủy khí lần lên Phế thì thôi. Tâm khi thông lên lưỡi. Tâm hỏa thì phân biệt được năm Vị. “Thúy tăng, vị sẽ hàm”... tức là Thủy lại lấn lên Tâm. Bởi Thủy khí thái quá, mà sây nên bệnh. Cho nên dùng phép "hành thủy" thì bệnh sẽ khỏi!. Trở lên trên là nói về cái khí của năm vận, nhân khí của trời chế lại; mà cái khí của năm Tàng năm hành lại theo đó mà “thượng đông thiên hóa. Trương Giới Tân nói: Năm hành đều có cái chế. Mỗi khi cái "chế khí nó xâm tới, thì cái "thụ chế" tất phải ứng theo. Đó là "Kim theo Hỏa hóa; Táo quá lắm thì phong tất ứng theo. Dó là "Mộc theo Kim hóa“. Phong quá lắm thì bụi đất lầm trời, đó là "Thổ theo Mộc hóa". Thấp quá lắm thì mưa tuôn tầm tã, đó tức là "Thủy theo Thổ hóa". Khí âm hàn quá lãm thì sắm chớp tiếp theo... đó là Hỏa theo Thủy hóa. Cho nên D/ch nói: "Mây theo rồng, gió theo hồ...". Vì, rồng bầm thụ Đông phương Mộc khí, cho nên mây mới theo; hỗ bẩm thụ Tây phương Kim khí, cho nên giỏ mới theo. Đó là cái lý "thừa, chế" cùng theo nhau, ta phải thấu hiểu cho tình mới được.
- Đây nói về cái khí của năm vận, chủ về sinh hóa ra muôn vật, mà bị cái Tại toàn đề "chế" lại, không phải trời đất không sinh trưởng đâu. "Khí thủy (bắt đầu) mà sinh hỏa..." tức là được có sinh khí. "Khí tán v.v." tức là được có trưởng khí. "Khí bố v.v," tức là được có hóa khí; "khí chưng v.v. tức là cảm cái khí thâu tàng, vật cực và biến thành. Đó là cái khí của năm vận, chủ về sinh, hóa, thâu, tàng... từ lúc bắt đầu đến lúc cuối cùng, cái nguyên lý cũng chỉ như một. "Địa khí chế ngự" v.v. tức là nói về sâu khí Tại toàn. Khí của trời đất trên đây nói, tức là nói về cái khí Âm Dương hản thừ, Nền mới nói: không có thiên khí thì không sinh. không có địa khí thì không trưởng.
- Hàn, nhiệt, táo, thấp v.v... là sáu khí Tư thiến, Tại toàn, nó với năm vận không cùng sự hóa. Vì vậy, cái sở chủ về "sinh, hỏa, phòn, dục" của năm vận, nhân khí đất để "chế" lại, nên mới có nhiều, ít, hậu, bạc khác nhau. Thiếu dương tướng hỏa Tại toàn, cho nên những loài "hàn độc không sinh ra, vì là hản với nhiệt không đồng hóa. Tỷ như về năm Tân TỊ, Tân Hợt, hàn thủy hóa vận, gập Thiếu dương Tại toàn nhờ có địa khí chế lại, khiến cho các loài hàn độc không sính ra được... Đó là đo địa khí chế thắng được "hóa vận". Vẻ năm sắc, năm vị, đều do năm vận làm chủ. Như Thiếu dương Tư thiên thì "sắc trắng hiện ra"... thế là "sắc" theo thiên chế (tức là do Tư thiên chế lại). Thiếu dương Tại toàn "Vị nó tận", thế là Vị theo "địa chế". Thiếu dương Tại toản thì Quyết âm Tư thiên, nên phải dùng các vị khổ toan làm chủ trị.
- Dương minh táo Kim Tại toàn, cho nên các vật loại tháp độc không sinh ra được. Toan, lả vị của Mộc. Như pặp những năm Nhâm Tý, Nhâm Ngọ mà Dương minh Tại toản địa khí chế lại, mà cái Mộc vận lại theo địa hóa, cho nền vị nó chủ toan. Dương minh không theo tiêu, bản mà theo cái sự hóa của (rung kiến là Thái âm thấp Thỏ, cho nên khí nó chủ về thắp, mà cái vị sở chủ là tân, cam. Cam cũng do theo Thỗ mà hóa mà sình ra.
- Thái dương, hàn thủy Tại toàn, cho nên những loài nhiệt độc không sinh ra, bởi là nó không đồng hóa. Như về năm Quý Sửu, Quý Vị, Hóa chủ về hóa vận, Hỏa sợ Thủy chế, mà Hỏa vị lại nhờ theo địa khí, cho nên Vị của nó "khô, đạm" phụ với "cam", thành cái vị sở chủ là đạm và hàm.
- Quyết âm Tại toàn, thì thanh (tức lạnh) độc không sinh ra. Thô sợ Mộc chế, cho nên Vị nó cam, mà cái Vị sở chủ là toan và khả, Quyết âm không theo tiêu bản, mà theo sự Hỏa hóa của Thiếu dương trưng kiến; mà cái khí vị Tại toàn lại theo cái “sở chủ" của trung kiến là khô nhiệt, cho nên khí của nó chuyên mà vị của nó chính.
- Thiếu ảm quân hóa Tại toàn, cho nên hàn độc không sinh ra. Kim SỢ Hỏa chế, nên Vị của nó là tân, Thiếu âm ở dưới thì Dương mính ở trên. Ở trên Dương minh, táo khí chủ trị, mà "trung kiến" là Thái âm Dương minh. Theo cái khí Hỏa của trung kiến thấp Thổ, cho nên cái vị sở chủ của nó là tân, khổ, cam. Tức là kiềm cả thô vị do trung kiến.
- Thái âm thấp Thô Tại toàn, cho nền những vật loại táo độc không. sinh ra. Thủy sợ Thổ chế, nên Vị của nó hàm. Thái âm ở dưới thì Thái dương ở trên, cho nên khí của nó nhiệt. Đó là bởi Thái dương tùng cả bản lẫn tiêu, Vị theo địa hỏa, mà khí theo thiên hóa. Nên cái VỊ sở chủ của nó là cam và hàm.
- Dậy lại nói rõ thêm: Cái hoá khí do năm VỊ sinh ra, lại nhân "thắng, chế" mà hòa theo. "Hóa thuần v.v..." là nói về Dương khí theo cái hóa của trung kiến thấp Thô. Táo với tháp cùng hợp, nên sự hóa "thuần nhất". Kim theo Thổ hóa, cho nên cái "vị hàm kía” phải cỗ thủ một nơi, không đám trản lan, chính là sợ sự chế của Thái âm đó. "Khí chuyên..." là nói về Quyết âm theo cái chủ khi của Thiếu dương trung kiến... Cho nên cái vị tân của nó, Cùng Với các vị cam, toan, khô đều chủ trị. Bởi tân bị hỏa chế, nên cũng phải theo hỏa hóa. Phàm, hàn, nhiệt, táo, thấp v.v... đẻu thuộc về sấu khí Tại toàn. Toan, khô, cam, tân, hàm... Nó là năm Vị của năm vận. Lấy cái sự "hóa thuần” của táo với thấp. thì cái Vị "hàm" kia đành phải cỗ thú; vì cái khí của tướng hỏa chuyên, nên “tân” cũng đành phải hóa theo. Đó là vì địa khí chế lại, nên Vị cũng theo về khí hóa.
- “Trên, dưới" ở đây là nói về Tư thiên và Tại toàn, Như Thiếu dương Tại toàn thì Quyết âm Tư thiên. Nên dùng những vị khổ, toan để bố; tức là để giúp cho cái khí ở trên dưới. Như cái khí Tư thiên, bị "phong râm sở thắng..." Thi lấy vị tản, lương dẻ bình trị; bị "nhiệt rầm sở thắng..." thì lấy vị hàm, hàn đề bình trị. Như mọi thử khí Tại toàn, mà hàn rẫm ở trong, thì điều trì băng vị cam, nhiệt; hỏa râm ở trong, thì điều trị băng vị hàm, lãnh. Đỏ tức là đối với khí râm thắng, thì lại nên dùng phép "phản nghịch" để điều trị. Lại phải xét xem hản, nhiệt, thịnh, suy ở nơi nào đẻ điều trị. Như thịnh thi trị mà suy thì bô, thì cái khi trên dưới sẽ được điều hoà. Cái khí Tư thiên, Tại toàn thăng, giáng ở trên dưới; các khí năm vận ra vào ở trong ngoài. Phải xem xét nơi nảo có bệnh đề liệu trị. Nếu bệnh nhân có thê thăng được độc thì dùng hậu được, không thì dùng bạc dược. Đó là phương pháp liệu trị tuế vận, Từ Chấn Công nói: Có thể dùng những vị đại hàn để trị chứng nhiệt râm, dùng những vị đại nhiệt đề trị chứng hàn râm... Như thế tức là "thẳng được độc.
- “Khí tương phản v.v...” là nói về cái bệnh khí do trên, dưới, trong, ngoài phát sinh, tương phản nhan. Vậy về phép trị cũng phải dùng phép tương phản. Như "bệnh ở trên thì trị ở dưới..." vì khí nghẽn lên trên, nên cân phải giáng xuống: "bệnh ở dưới mà trị ở trên" vì khí trệ ở dưới, cần phải làm cho thăng lên; "bệnh ở giữa mà trị ở bên cạnh..." vì bệnh dù phát sinh ở trong, nhưng kinh mạch lại dẫn đi ở tả hữu, thì hoặc cứu hoặc thích, hoặc úy, hoặc án... đều phải thi hành ở ngoài cạnh. Không những thể, bệnh thuộc nhiệt, cần phải liệu trị bằng hản được, nhưng nếu dùng hản ngay thì tất trái ngược với bệnh, vậy phải mượn vị "ôn" để cho dẫn đi trước đã, bệnh thuộc hàn cân phải liệu trị bằng nhiệt dược. Nhưng nếu dùng nhiệt ngay thì tất trái ngược với bệnh, vậy phải mượn vị "lương" để cho dẫn đi trước đã; bệnh thuộc ôn, cần phải liệu trị bằng thanh dược. Nhưng nếu dùng thanh ngay thì tất trái ngược với bệnh, vậy phải mượn vị "lãnh" để cho dẫn đi trước đã; bệnh thuộc thanh, cần phải liệu trị bằng ôn được. Nhưng nếu dùng ôn ngay, thì tất trái ngược với bệnh, vậy phải mượn vị "nhiệt" để cho dẫn đi trước đã... Không những thế mà thôi. Phàm muốn dùng các phương pháp tiêu, tước, thổ, hạ, bổ, tả v.v... đầu phải lượng sự thuận nghịch đề thị hành, chứ không vì bệnh mắc đã lâu nay hay là mới mắc, mà thay đổi phương pháp.
- Đây nói bệnh gây nên bởi khí của năm vận và phương pháp liệu trị nó. Thực, kiên, tụ, tán... thuộc về bệnh trạng "cầu ở Tảng..." như: về năm Phu hòa, thuộc Can Tàng, sẽ bệnh lý cập chi mãn v.v... Về năm BỊ hóa, thuộc Tỳ Tàng, sẽ mắc bệnh bĩ v.v... Bởi cái khí của năm vận, trong hợp với năm Tàng, Vậy nêu không phải là bệnh tích, thì phải cầu ở Tàng, Tàng khí hư thì bỗ, trước dùng thuốc đễ trục tà, rồi dùng các thực phẩm đẻ dưỡng chính (khi). "Tâm nước", phép này đã có giải ở trên,) Phàm dùng thuốc, nếu quá thì sẽ sinh ra "thiên thẳng", vậy dù là thuốc bỏ, dù là không có chát độc, cũng chỉ dùng tới khi bệnh bớt chín phần thì thôi không dùng nữa.
- Tuế có sáu khí, phải trước biết sáu khí đó Ứng với mạch của con người như thế nào. Tỷ như: Thái âm ở vào thời kỳ nào thì mạch trầm; Thiếu âm ở vào thời ky nào thì mạch câu; Quyết âm ở thời kỳ nào thì mạch huyền; Thái dương ở vào thời kỳ nào thì mạch đại mà trường; Dương minh ở vào thời kỳ nào thì mạch đoản mà sặc; Thiếu dương ở vào thời kỳ nào thì mạch đại mà phù... Vậy sáu mạch đồ thuộc về thiên hòa, Nếu không biết vậy mà cho là hàn nhiệt, dùng thuốc để công hàn khiến cho nhiệt mạch không biến mà bệnh nhiệt đã sinh ra; hoặc dùng thuốc để chế nhiệt khiến cho hàn, mạch không biến mà hản tật nỗi dậy... Cho nên phàm dùng thuốc đê trị bệnh, phải trước biết tuế khí, đừng làm hại thiên hòa, là lẽ đó. Lại nên biết bệnh có hư thực. Như là khí đã thực mà lại dùng thuốc bô, thế tức là "thịnh thịnh"; như chính khí đã dùng hư mà lại dùng thuốc tá, thế tức là "hư hư. Ó' Đây nói thân hình con người cũng phải nhờ sự tư dưỡng của khí vận. Ở con người, nếu thân đi thì "cơ" nghỉ, khí ngừng thì hóa tuyệt; vậy "thần, khí" phải chủ ý điều dưỡng. Nhưng thân khí như chủ nhân, hình hải là khí vũ... Hình với thần đều được hoàn toàn mới có thê sống trọn tuôi trời, Như vậy thì "hình” cũng cần phải điều đưỡng. "Hóa" tức là "khi hỏa” của năm vận; "bốn mùa" tức là nói về cải khí làm chủ của bốn mùa. Tỷ như: VỀ năm Phu hòa, Tảng của nó là Can, nó nuôi cân; về năm Thăng minh, Tàng của nó là Tâm. nó dưỡng Huyết; về năm Bị hóa, Tàng của nó là Tỳ nó nuôi Nhục; về năm Thảm bình, Tàng của nó là Phé, nó nuôi Bì mao; về năm Tỉnh thuận Tàng của nó là Thận, nó nuôi Cốt tỷ... Vậy thì bì, nhục, cần, cột của hình, đều nhờ sự tư dưỡng của hóa vận, ta không thể thay được. Lại như: Khí mùa xuân nuôi cân, khí mùa hạ nuôi huyết mạch, khí mùa Trường hạ nuôi cơ nhục, khí mùa thu nuôi bì mao, khí mùa đông nuôi cốt tủy... Vậy bỉ. nhục, cân, cốt của con người. đều phải đo sự tư dưỡng của bốn mùa, ta không thê trái được. Mạch lạc là con đường cho khí huyết lưu hành. mà vinh âm. dương huyết thì là thần khí, nếu kinh lạc-đã thông, huyết khí đã thuận, thì sẽ làm cho hồi phục lại sự bất túc của thàn khí, tự nhiên được mạnh khỏe như thường.
Thiên 72–73 · Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận Thiên
Chương bảy mươi hai + Chương bảy mươi ba · Lục Nguyên Chính Kỷ Đại Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đế hỏi rằng:
– Sáu sự hóa, sảu sự biến, thắng với phục, râm với trị cùng những vị cam, khổ, tân. hàm, toan, đạm có nên trước sau như thế nào, tôi đã biết rồi,
Duy sự hóa của năm vận, hoặc thuận năm khi, hoặc trải thiên khí. hoặc thuận thiên khí mà trái địa khí, hoặc thuận địa khí mà trái thiên khí, hoặc tương đắc, hoặc không tương đắc... Tôi chưa hiễu được rõ ràng. Giờ muốn suốt “kỷ” của trời, thuận “lý” của đất. cho vận được hỏa, cho hóa được điêu, khiến trên dưới hợp dức, không cùng sai bực, trời đất thăng giáng. đều được thích nghi, năm vận tuyên hành, không trái với chính, điều với chính vị thuận nghịch thể nào? Xin cho biết rõ...!, rủ
Kỳ Bá thưa rằng:
- Trước phải lập lây "niên", để cho rõ là thuộc khí nảo:
cái số vận hành của Kim, Mộc. Thủy, Hỏa, Thổ: cái hóa về sự lâm ngự của Hàn, Thử, Táo, Thấp. Phong, Hỏa... Như thế thời thiên dạo có thể thấy, dân khí có thể đều. âm dương quyên thư, gần mà không nhầm. Vậy xin lần lượt nói rỡ.
Hoàng Đề hỏi:
– Chính của Thái dương như thế nào?
Kỳ' Bá thưa rằng:
– Đỏ thuộc về những năm Thìn, Tuất... Thái dương Tư thiên, Thái ãm Tại toàn. Phàm lại chính của những năm Thái dương Từ thiên tà hiếp do khí hóa vận hành Tư thiên (khí đến trước khi mùa chưa đến..., Thiên khí nghiêm túc (hanh hải). địa khí yên lặng, hàn Khí tràn ngập thái hư, Dương khí Không thí hành được chính lệnh. Thủy với Thô hợp đức. Trên ứng lên Thân tính và Chân tình, về loài cốc (thóc), sắc vàng. Lệnh của nó thư từ (thong thả), hàn chính phát triển nhiều, nơi trầm là không đương điểm (hơi nóng của khí dương), nên hỏa phát phải đợi thời, khí của Thiếu dương chủ trì vẻ khoảng giữa, mưa nhuẫn không ngót. rồi lại qua về Thái âm... Mây về Bắc cực, thấp hóa lan, nhuẫn thấm muôn vật. hàn khắp ở trên. sẫm động ở dưới, khí của hàn thấp. cùng giao với nhau. Do đó. dân sinh bệnh hàn thấp, cơ nhục nhão nát. túc nữa không cử động được. đại tiện tiết tá và huyết giật (trăn.
“Sơ chỉ Khí”, khí đất thay đổi. khí sẽ đại ôn (ấm nhiều); loài cỏ sớm tốt: dân mắc dịch lệ, ôn bệnh phát sinh, mình nóng, đầu nhức, nôn ọc, ngoài đa mụn lở, “Nhị chỉ khí”, đại lương (mát nhiều) lại đến: loài cỏ sặp lạnh; Hôa khí bị chèn; dân phát bệnh khí uÂt. trung mãn. Khí hàn mới bắt đầu (rét) ”?.
“Tam chỉ khí”. chính của thiên khí tán bố. hản khí tràn lan: thường mưa nhiêu. Dân mắc bệnh hàn mà lại Nhiệt trung (nóng ở bên trong), các ung thư phát sinh ở bộ phận dưới, Tâm nhiệt và sầu muộn (bực, nhọc, mê mắn). không kịp chữa sẽ chết, “Tứ chỉ khí", phong với thấp giao tranh, phong hóa làm rõ, bấy giờ mới trưởng, mới hóa, mới thành... Dân mắc bệnh đại nhiệt, ít khí, cơ nhục nhão nát, túc nuy, tiết tả hoặc trắng hoặc đỏ.
“Ngũ chi khí”, khí dương lại hóa; loài thảo mới trưởng, mới hỏa, mới thành; dân bệnh mới được thư (dễ chịu)?, “Chứng chỉ khí” địa khí chính ngồi, thấp lệnh lưu hành; khí âm thái hư, khói bụi tràn đồng ruộng; dân mới bị rét lạnh (buồn bã), giờ rét đã đến. Nếu trái thế, các loài có thai dựng sẽ không thành.
Cho nên thuộc về năm Thái dương Tư thiên, nên dùng vị khổ để làm cho “táo”, làm cho ôn,
Phải “chiết” bỏ cái khí làm nên uất và giúp thêm cho cái hóa nguyên của nó!'”. Đè nén cái vận khí, giúp đỡ cát “bất thắng”, đừng đề cho nó quá bạo mà sinh ra bệnh tật,
Ăn tuế cốc đề bảo toàn lấy chân nguyên, tránh hư tà để cho vên chính khí$,
Chước lượng cái khí nó đồng hay đị, hoặc dùng nhiều, hoặc dùng ít để chế lại. Nếu “cùng” hàn thấp thì dùng táo, nhiệt để hóa: nêu “khắc” hàn thấp thì dùng táo thấp để hóa. Vậy “cùng” thì dùng nhiều, “khác” thì dùng ít,
Muỗn dùng hàn, phải cách xa cái thời kỳ hản; muốn dùng nhiệt, phải cách xa cái thời kỳ nhiệt, muốn dùng ôn phải cách xa cái thời kỳ ôn; muôn dùng lượng phải cách xa cái thời kỳ lương. VỀ sự ăn cũng cùng một phương pháp. Nếu giả thì làm trái lại, không đúng thẻ thì mắc bệnh, đó tức là phải giữ đúng “thời” (mùa) vậy,
Hoàng Đề hôi:
– Chính của những năm thuộc Dương minh như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thuộc về những năm Mão, Dậu... Dương minh táo Kim tư thiên; Thiếu giác hóa vận; Thiếu âm quân hỏa Tại toàn.
Phàm cái chính của những năm Dương minh Tư thiên, khí hóa, vận hành đều Hậu thiên”. Thiên khí kính cấp, địa khí quang minh?#. Dương khí chuyên phát huy chính lệnh của mình, nên khí viêm thử tràn lan, mọi vật táo và kiên“, Thuần phong mới trị phong táo nặng vận, tràn khí giao. nhiều dương, ít âm, mây theo mưa xuống, thấp hóa mới sinh, táo cực rồi nhuận”, Vệ loài cốc, sắc nó trăng và đỏ,
Kim với hỏa hợp đức, trên ứng với Thái bạch, Huỳnh hoặc, chính của nó thao thiết; lệnh của nó cường: loài chập trùng mới hiện, nước chảy không thành băng. Dân sinh bệnh khái, ách tắc (nghẽn ở ' cuống họng); chứng hàn nhiệt bạo phát, run rây và long bề (tiểu tiện vít hoặc buốt.
“Thanh” trước rồi mới “kinh”, loại mao trùng sẽ chết; “nhiệt rôi mới bạo”, loài giới trùng sẽ hại.
Khi nó phát ra táo (vội vàng, sấp bách); sự thắng phục phát sinh, rất là rối loạn; cái khí thanh, nhiệt, đứng vững ở thời kỳ khí giao!.
“Sơ chí khí", khí đất mới đổi“? âm mới ngừng, khí mới túc (nghiêm, lạnh), nước mới thành băng, hàn võ mới hóa. Sẽ phát ra bệnh nhiệt trưởng, mà mặt phù thũng, hay ngủ, cầu (đau ở sống mũi, nục (huyết ra đăng mũi), xị (hắt hơi), khiếm (vươn vai), âu (oe), tiểu tiện vàng và đỏ, quá lắm thì lâm (do tiểu nhỏ giọt.
“Nhị, chỉ khí", khí dương mới tán bố, dân mới dễ chịu, mọi vật mới sinh ra và tốt, lệ khí mới đến, dân hay bạo tử, “Tam chỉ khí”, thiên chính mới tán bố, lương khí (khí mát) mới lưu hành, táo với nhiệt giao hợp. Tảo cực mà nhuận, dẫn sẽ mac bệnh hàn, nhiệt?
“Tứ chí khí", mưa lạnh xuống; bệnh bỗng dưng ngất đi, run tây, nói mề, ít khí, cuống họng khô, Khát đồi uống, mà Tâm thống, ung thũng (mụn sưng), thương dương (lở láy), hàn ngược (sốt rét), cốt nuy và tiện huyết, “Ngũ chị khí”, xuân lệnh lại lưu hành, loài thảo lại tốt tươi, dân khí hòat”?, "Chung chỉ khí”, Dương khí tán bố, khí hậu lại ôn. chập trùng hiện ra, nước không thành băng, dân mới an khang. Nếu biến tai sảnh, sẽ là bệnh ôn!,
Cho nên, nên ăn tuế cốc cho yên chính khí, nên ăn “gián cốc” để trừ tà khí”; nên dùng các vị hàm. vị khổ, vị tân; dùng các phép thanh, phép hãn, phép tán”. Làm cho yên vận khí, đừng để thụ tà”””; nên chiết bỏ uất khí mà giúp cho hóa nguyên*: dùng các khí hàn. nhiệt, khinh, trọng, mà chế hoặc ít, hoặc nhiêu. Nếu động nhiệt thì nhiều thiên hóa, đồng thanh thì nhiều địa hóa.
Dùng lương, nên xa thời kỳ lương; dùng nhiệt nên xa thời kỳ nhiệt; dùng hàn nên xa thời kỷ hàn; dùng ôn nên xa thời kỳ ôn... Việc ăn, nên cùng một phương pháp. Có “giả” thời trái lại, đó là đạo chính, Nếu trái phương pháp đó, sẽ làm loạn kinh của trời đất, và rỗi cái "kỷ” của âm dương,
Hoàng Đề hỏi:
– Chính lệnh của Thiếu dương như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Thuộc về những năm Dần, Thân... Thiếu dương tướng hòa Tư thiên, Thái giác hóa vận, Quyết âm phong mộc Tại toàn.
Phàm cái chính của những năm Thiếu dương Tư thiên khí hóa, vận hành tiên thiên, Thiên khí chính”, địa khí nhiều (rối loạn.
Phong sẽ nôi to, cây đỏ, cát bay:
khí viêm hỏa mới lưu hành, mưa sẽ thưởng xuống”Š' Hỏa với Mộc cùng đức, trên ứng với Huỳnh hoặc, Tuế tính. Về loài cốc sẽ hiện sắc đan (đỏ), thương (xanh): chính của nó nghiêm. lệnh của nó nhiều,
Cho nên phong với nhiệt cùng tán bố. mây khỏi tung bay. Thái âm tràn lan, thường gặp khí lạnh, mưa gió dồn dập, Dân mắc bệnh hàn trung, ngoài mọc lở mụn. trong sinh tiết mãn. Cho nên thánh nhân gặp những năm đó, hòa mà không tranh. Sự vãng phục phát sinh, dân mắc bệnh hàn nhiệt. ngược tiết, tùng (diếc, mĩnh (mắt mờ), âu Thô. trên mặt đau và sưng, sắc biến!', l “Sơ chí khí”, địa khí thay đổi, phong thắng nên mọi vật động giao; khí hàn rút đi, khí âm sẽ đến; cỏ cây sớm tốt; hàn tới không phạm bót; bệnh ôn sẽ phát sinh; bệnh khí dồn lên trên, huyết trằn, mãi đỏ; khai nghịch. đầu nhức, huyết băng, hiếp mãn, phu tâu, mụn lở. “Nhị chỉ khí", Hỏa lại uất, bụi trắng tung bay, mây theo mưa xuống, phong không thăng được thấp... Dân được an khang. Nếu gặp tai sảnh, sẽ phát bệnh nhiệt uất lên trên, khải nghịch. âu thỏ, ở trong, hung, hiếp không lợi, đầu rức, mình nóng, mê man, mụn mủ, "Tam chi khí", khí của Tư thiên tán bố, khí viêm thử đến khí của Thiếu dương lâm ở trên. mưa sẽ trằn. Dân mắc bệnh Nhiệt trung. thũng, manh (mắt mờ), huyết ràn. mụn mủ; khát, âu, nục, khát, xị, khiếm, hầu tý, mắt đỏ, hay bạo từ. “Tứ chỉ khí", khí mát đến; khí viêm thử “gián hóa"; bạch lộ xuống, dân khí hòa bình; nếu phát bệnh sẽ phúc mãn, mình nặng. “Chung chỉ khí”, địa khí chỉnh, phong mới đến, muôn vật lại sinh trưởng. sương mù lưu hành: dàn mắc bệnh “quan bé". bất cảm (đi tiểu luôn), Tâm thông: Dương khí không về Tảng nền phát khái*'. Nếu bởt vận khi, giúp cho cái “sở bất thắng”; phải chết bỏ uât. trước lấy hóa nguyễn. Nhờ đó bạo vận không sinh ra, bệnh độc không phát sinh. Vậy năm đó, nên dùng các vị hàm, vị tân, vị toan; nên dùng phép thâm, tiếp tích, pháp phát,
Nhân xem khí hàn hay ôn, để điều trị tật bệnh; nều “đồng” phong nhiệt thì dùng nhiều hàn hóa, “*đị” phong nhiệt thì dùng ít hàn hóa#?,
Dùng nhiệt. nên xa thời kỳ nhiệt; dùng ôn, nên xa thời kỳ ôn; dùng hàn, nên xa thời kỳ hàn; dùng lương nên xa thời kỳ lương: về việc ăn. cũng cùng một phương pháp, đó là đạo chính. Có giả, thì trái lại. Nếu làm trái phương pháp đó, sẽ là nguyên nhân gây nên bệnh, ' Hoàng Đế hỏi:
– Chính, lệnh của Thái âm như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thuộc về những năm Sửu, Mùi Thái âm thấp Thô Tư thiên; Thiếu giác hóa vận. Thái dương hàn thủy Tại toàn,
Phàm cái chính của những năm Thái âm Tư thiên, khí hóa vận hành đều Hậu thiên (sau thiên thời mới đến, tức là bất cập); Âm khí chuyên chính, Dương khí rút lui; gió lớn thường nỗi; khí trời giáng xuống, khí đất bốc lên: đồng ruộng khói tỏa, bụi trắng tung bay; mây về phương Nam, thường tuôn mưa lạnh, mọi vật trưởng thành về mùa Trường hạ; do đó, dân mắc bệnh hàn thấp, phúc hãn, mình phù, thân thũng, bĩ nghịch, hàn quyết, câu cấp (tay chân co rút); thấp với hàn hợp đức, nên “vàng đen” tối tăm, lưu hành ở trong khí giao, trên ứng với Trấn tinh, Thần minh, chính nó là nghiêm ngặt, bệnh nó vên lặng. Về loài cốc, sắc kiểm huyền (vàng, đen,
Cho nên:
âm “ngừng” ở trên, hàn tích ở dưới; thủy hàn thăng hỏa, thì biến thành băng bộc (nước cứng, mưa đá), dương quang không thê phát triển, cái khí túc sái sẽ lưu hành,
Cho nên:
hữu dư nên ở nơi cao. bất cập nên ở nơi thấp; hữu đư nên sớm. bất cập nên muộn: đó là đo địa lợi và khí hòa. Dãn khí cũng theo đó, “Sở chi khí, địa khí thay đổi; hàn mới đi, xuân khí chính; phong mới đến. sinh khí tán bố, muôn vật tươi tốt, dân khí thỏa thuê, - phong với thấp cùng sát với nhau, mưa tới muộn; dân mắc bệnh huyết giật, cân lạc, câu cường (co rụt, cứng đờ), quan tiết (các khớp xuống) không lợi, mình nặng, cần nuy (rã rời.
“Nhị chi khí” đại Hỏa mới thịnh, mọi vật nhờ sự sinh hóa; dân mới hòa. Chứng ôn lệ lưu hành nhiều, xa, gần đều mắc; khí thấp bốc lên, thường có mưa to.
“Tam chỉ khí”, thiện chính tán bố; khí thấp giáng xuống, khí đất bốc lên. Thường có mưa, khí lạnh nối theo. Cảm về khí hàn thấp đó, nên dân mắc bệnh mình nặng, hung phúc mãn, hoặc trướng!, “Tự chí khí”, úy Hỏa mới tới, hơi nóng nung nấu, khí đất bốc l lên, khí trời bĩ cách, sớm chiều gió lạnh, cỏ cây khói tỏa, thấp hóa không tan; do đó móc trắng đêm xa đề thành thu lệnh. Dân mắc bệnh tấu lý nhiệt huyết bạo giật, ngược, Tâm phúc mãn, nhiệt trướng, quá lăm thì phù thũng.
“Ngũ chỉ khí”, cái bệnh âm thảm đã lưu hành, móc rơi, sương xuống, cỏ cây úa rụng; khí hàn buốt da, nên phải phòng bị cân mật, dân sẽ mắc những bệnh ở ngoài cơ tấu, “Chung chỉ khí”, khi hàn đại cử, khí thấp đại hóa, sương mới tích, âm mới ngưng, nước rắn thành băng, khí dương quang không thể phát triển. Vì cảm phải khí hàn, nên mắc bệnh quan tiết, yêu chùy thống.
Phải chiết bỏ uất khí, mà lẫy ở hóa nguyên, giúp cho tuế khí, đừng để tà thăng(6.
Trong năm, nên dùng vị khổ để làm cho táo, làm cho ôn; quá lắm thì dùng phép cho nó “phát” ra, cho nó “tiết” ra. Nếu không phát, không tiết, thì thấp khí sẽ ràn ra ngoài, thịt thối, da nứt, khiến thuỷ huyết đều chảy, phải giúp cho dương hỏa, để ngăn khí hản; theo khí dị đồng, để định khí nhiều hay ít; nếu đông hàn thì dùng nhiệt hóa. đồng thấp thì dùng táo hóa; đị thời dùng ít, đồng thời dùng nhiều.,
Dùng lương nên xa thời kỳ lương, dùng hàn nên xa thời kỳ hàn.
– dùng ôn nên xa thời kỳ ôn, dùng nhiệt nên xa thời kỳ nhiệt. Về ăn cũng cùng một phương pháp. Có giả thời dùng trái lại, đó là chính đạo. Nếu trái phương pháp đó sẽ gây nên bệnh.
Hoàng Đề hỏi:
– Chính lệnh của Thiếu âm như thế nào? Kỳ Bá thưa rằng:
– Thuộc về những năm Tý và Ngọ, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên, Thái sắc hóa vận, Dương minh táo Kim Tại toàn. Phàm chính lệnh của những năm Thiếu âm Tư thiên, khí hóa vận hành đêu Tiên thiên, địa khí nghiêm túc, thiên khí quang minh, thử. nhiệt lại thêm táo, mây theo mưa xuống; khí thấp hóa sẽ lưu hành, mưa nhuần thường xuống. Kim với Hỏa hợp đức, trên ứng với Huỳnh hoặc, Thái bạch. Chính của nó sáng sủa, lệnh của nó nghiêm thiết, về loài cốc, sắc đan bạch (đỏ và trăng). Thủy, Hỏa, hàn, nhiệt, cùng lẫn lộn ở trong khí giao?,
Nhiệt bệnh phát sinh ở bộ phận trên, thanh bệnh phát sinh ở bộ phận dưới; hàn nhiệt rồi loạn, giao tranh ở bền trong. Dân phát bệnh suyễn, huyết giật huyết tiết, cầu, xị, mục xích (mặt đỏ), Tý dương (toét ở đuôi mất); hàn quyết vào Vị, Tâm thống, yêu thống, phúc đại (bụng to. cũng như trướng), ách Can (cuông họng khô), thũng thượng (sưng ở các bộ phận trên.
“Sơ chỉ khí”, địa khí thay đổi; khí táo sắp hết, khí hàn bắt đầu; các loài chập trùng lại ân nắp; nước mới thành băng: sương lại xuống, gió mới thôi; Dương khí bị uất. Dân phải kín đáo, giữ gìn các quan tiết; yêu chùy (xương sống chỗ ngang thất lưng) đau; khí viên thử sắp tràn lan, trong ngoài mọc mụn lở, “Nhị chỉ khí”, Dương khí tán bố, phong mới lưu hành, xuân khí mới chính, muôn vật đêu tốt; hàn khí thỉnh thoảng đến, dân mới hòa; dân phát bệnh lâm; mãt mờ, mắt đỏ; khí uất lên trên mà nhiệt.
"Tam chỉ khí”, thiên chính tán bố, đại Hỏa lưu hành, mọi loài nảy nở; hàn khí thinh thoảng đến. Dân mắc bệnh khí quyết, Tâm thống; hàn nhiệt thay đổi; khái suyễn, mắt đỏ'5, “Tứ chỉ khí”, khí phục thử đến, thường có mưa lớn; hàn nhiệt đều đến. Dân mắc bệnh hàn nhiệt, ách Can, hoàng đản, câu, nục và âm!?, “Ngũ chỉ khí”, sợ Hỏa lâm, thử lại đến; đương mới hóa, muôn vật mới sinh, mới lớn và tốt; dân an khang, nếu có tai sảnh, sẽ là bệnh ôn 6, “Chung chi khí”, táo lệnh lưu hành, dư Hòa cách trở ở bên trong, thũng ở bộ phận trên; khái, suyễn, quá lắm thì huyết giật. Hàn khí phát sinh luôn, do đó sương mù tỏa. Bệnh phát sinh ở trong bị phu, tấu lý, hợp với dưới hiếp, liền xuống Thiếu phúc mà sinh hàn trung, do địa khí sắp đôi vậy,
Phải nén bớt vận khí, giúp các tuế trắng, chiết bỏ cái uất phát, trước lẫy ở hóa nguyên. Đừng đề cho bạo quá mà sinh bệnh,
Án tuế cốc đề bảo toàn chân khí, ăn gián cốc để trừ bỏ hư tà.
Trong năm, nên dùng vị hàm để làm cho nhuyễn và điều trị ờ bộ phận trên; quá lắm thi dùng vị khổ làm cho phát ra, dùng vị toan để cho thâu lại. mà làm cho yên bộ phận dưới. Quá lãm thì dùng vị khổ để làm cho tiết,
Nên chước lượng sự đồng, dị, mà dùng nhiều, ít. Nếu đồng thiên khí thì dùng hàn thanh để hóa, đồng địa khí thì dùng ôn nhiệt để hóa,
Dùng nhiệt, nên xa thời kỳ nhiệt; dùng lương, nên xa thời kỳ lương; dùng ôn nên xa thời kỳ ôn; dùng hàn nên xa thời kỳ hàn. Về việc ăn, cũng cùng một phương pháp. Có giả, thì trái lại; đó là đạo chính. Nếu trái phương pháp đó sẽ gây nên tật bệnh.
Hoàng Đế hỏi:
– Chính lệnh của Quyết âm như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thuộc về những năm Tị, Hợi, Quyết âm phong mộc Tư thiên, Thiếu giác hóa vận; Thiếu dương tướng hỏa Tại toàn. Phảm chính lệnh của những năm Quyết âm Tư thiên, khí hóa, vận hành đều Hậu thiên. Các năm đều đồng với chính tuế, khí hóa, vận hành đều đồng với Tư thiên,
Thiên khi nhiễu, địa khí chính; phong sinh ở nơi cao xa, khí viêm nhiệt nối theo; mây theo mưa xuống, khí thấp hỏa sẽ lưu hành; phong với Hỏa cùng đức, trên ứng với Tuế tinh, Hình hoặc. Chính nó nhiễu, lệnh nó chóng, về loài cốc sắc thương (xanh xám) và đen, phong, táo, hỏa, nhiệt, thắng phục đổi thay; chập trùng bỏ ra, nước không thành băng. Nhiệt bệnh phát sinh ở dưới, phong bệnh phát sinh ở trên, phong táo thắng phục lưu hành ở khoảng giữa!, “Sơ chỉ khí”, khí hàn mới túc (gay gắt, buốt), sái khí vừa mới đến, dân bệnh ở phía dưới, bên hữu Tại toàn của Thiếu dương, “Nhị chi khí”, hàn không dứt, nước tuyết thành băng, sái khí mới phát triển, sương mới xuống, cỏ bị khô đét ở trên, đòi phen hàn võ, dương lại hóa ở dưới, đân mắc bệnh nhiệt ở trong 7, “Tam chỉ khí”, thiên chính bố tán, thường có gió to, dân mắc bệnh thường chảy nước mắt, ù tai, chóng mặt, “Tứ chi khí, các khí phục thử, thấp nhiệt cùng giao tranh ở phía trên bên tả Quyết âm Tư thiên; dân mắc bệnh hoàng đản và phù thũng “Ngũ chí khí", khí táo thấp thay nhau thắng, Khí trầm âm tán bó, dao hàn cắt đa, đòi phen mưa gió, "Chung chỉ khí”, uý Hỏa tư lệnh, khí dương biến hóa, chập trùng bò ra, nước không thành băng, địa khí phát tiết mạnh, loài cỏ nảy mọc, con người dễ chịu. Nếu gặp khí biến, sẽ mắc bệnh ôn lệ,
Phải chiết bỏ bớt khí uất, giúp thêm hóa nguyên, đỡ cho vận khí, đừng đề tà thắng,
Trong năm, nên dùng vị tân để điều trị bộ phận trên, dùng vị hàm đẻ điều trị bộ phận dưới, cái khí úy hỏa đừng phạm càn vào nốt.
Dùng ôn, nên xa thời kỳ ôn, dùng nhiệt nên xa thời kỳ nhiệt, dùng lương nên xa thời kỳ lương. dùng hản nên xa thời kỳ hàn. Về việc ăn, cũng cùng một phương pháp. Có giả, thì trái lại, đó là đạo chính. Nếu trái phương pháp đó, sẽ gây tật bệnh.
Hoàng Đề hỏi:
– Phu Từ nói đã rất rõ, nhưng lấy gì để tỏ về sự tương ứng...?
Kỳ Bả thưa rằng:
– Phàm sáu khí, lúc đi có thứ tự, lúc ngừng có vị trí. Cho nên thường lẫy tháng piêng, ngày sóc (mông một), sảng rõ, nhận xem; biết dược vị trí, thì sẽ biết được ở đâu rồi#,
Vận hữu dư, nó đến trước; vận bất cập, nó đến sau. Đó là cái đạo của trời và là lẽ thường của khí. Nếu vận không hữu dư, không bất túc, tức là chính tuế, vì nó đến đúng với mùa.,
Hoàng Đề hói:
– Cái khí thắng phục, đã có nhất định rồi. Còn cái sự tai sảnh xảy đến, lấy gì để dự biết được?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nếu không phải khí hóa, thì tức là tai sảnh,
Hoàng Đế hải:
– Cái số của trời đất, chung thủy như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bắt đầu của số, khởi ở trên mà chung (cuối cùng) ở dưới. Nửa nãm về trước, thiên khí làm chủ; nửa năm về sau, khí đất làm chủ. Trong lúc trên dưới giao hỗ. thi khí giao làm chủ. Như thế là hết về tuế kỷ. Cho nên nói rõ dược vị trí thì “khí, nguyệt” có thế biết được(,
Hoàng Đế hỏi:
– Tôi coi việc đó, đến lúc thi hành, lại thấy có chỗ không hợp là vì sao?
X) Bá thưa rằng:
– Khí dụng có nhiều ít, hóa hiệp có thịnh suy. Thịnh, suy, nhiều, ít... cũng đều chung một sự biến hóa của trời đất. Tỷ như: Phong ôn, đông hóa với mùa xuân: nhiệt huân, hôn hỏa, đồng hóa với mùa hạ; thắng với phục, đông, táo, thanh. yên (khói) lộ (móc), đồng hóa với mùa thu; mây, mưa, tôi, tăm, đồng hóa với mùa Trường hạ; khí lạnh, sương, tuyết băng... đồng hóa với mùa đông. Đó là sự hóa do năm vận, sáu khí trời đất và sự thường về thịnh suy thay đổi...
Hoàng Đề hỏi:
– Năm vận, vận hành mà đồng thiên hóa, gọi là Thiên phù, tôi đã biết rồi. Còn đồng địa hòa, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá mà đồng thiên hóa, có ba vận; bất cập mà đồng thiên hóa cũng có ba vận. Thái quả mà đồng địa hóa có ba vận; bất cập mà đồng địa hóa cũng có ba vận. Vậy tất cả cộng có hai mươi bến năm. Tỷ như: Những năm Giáp Thìn, Giáp Tuất, dưới Thái cung gia Thái âm: những năm Nhâm Dần, Nhâm Thân, dưới Thái giác gia Quyết âm; những năm Canh Tý, Canh Ngọ, dưới Thái thương gia Dương minh. Như thế là ba vận (đó là thải quá ba vận, hợp với sáu khí. cộng sấu năm). Những năm Quý Tỵ, Quý Hợi dưới Thiếu chủy pia Thiếu dương; những năm Tân Sửu, Tân Mùi dưới Thiếu vũ gia Thái dương; những năm Quý Mão, Quý Dậu dưới Thiếu chủy gia Thiếu âm. Như thể là ba vận (đó là bất cập mà đồng địa hóa ba vận, hợp với sáu Khí cộng sáu năm). Những năm Mậu Tý, Mậu Ngọ trên Thải chủy lâm Thiếu âm, những năm Mậu Dân, Mậu Thân trên Thái chủy lâm Thiếu dương: những năm Bính Thìn, Bính Tuất trên Thải vũ lâm Thái dương. Như thể là ba vận (đó là thái quá mà đồng thiên hóa ba vận, hợp với sáu Khí. cộng sáu nãm). Những năm Đinh Tỵ, Đinh Hợi trên Thiếu giác lâm Quyết âm; những năm Át Mão, Át Dậu trên Thiếu dương lâm Dương minh; những năm Kỷ Sửu, Kỷ Mùi trên Thiếu cung lâm Thái âm... Như thế là ba vận (đó là bất cập mà dồng thiên hóa ba vận, hợp với sáu khí, cộng sáu năm). Ngoài hai mươi bốn năm ấy, thì không có gia và lâm nữa (chỉ 24 năm ây là có thượng, hạ, gia, lâm, còn 36 năm khác thì không có.
Hoàng Đế hỏi:
– “Gia” như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá mà gia đồng với Thiên phù, bất cập mà gia đồng với Tuế hội#,
Hoàng Đề hỏi:
- *Lâm”:
như thể nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thái quá. bất cập, đều có Thiên phù, mà biến hành có nhiều ít: bệnh hình có nhẹ nặng; sống chết có sớm, muộn khác nhau!?,
Hoàng Đề hải:
- Phu Từ nói:
Dùng hàn xa hàn, dùng nhiệt xa nhiệt, tôi chưa hiệu rõ. Xin cho biết thế nào là "xa?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Dùng nhiệt đừng phạm nhiệt, dùng hàn đừng phạm hàn. Thuận thì hòa, trái thì bệnh. Vậy phải kính sợ mà lánh xa. Đó tức “thời khởi theo sáu Vị vậy,
Hoàng Đề hỏi:
– Ôn, lương như thể nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Tư khí là nhiệt, dùng nhiệt đừng phạm; tư khí là hàn, dùng hàn đừng phạm; tư khí là lương, dùng lương đừng phạm; tư khí là ôn.
dùng ôn đừng phạm; gián khí đồng với chủ khí, đừng phạm; đị với chủ khí thời có thể tiều phạm (hơi phạm). Đó là “tứ úy” (bốn đều sợ, phải xét cho kỹ,
Hoàng Đề hôi:
– Phạm thi như thế nào?
Xỳ Bá thưa rằng:
– Thiên khí trái thời (mùa) thì có thể theo thời; nếu thắng được chủ, thì có thể phạm. Lấy quân bình làm giới hạn, mà không thể quá.
Đó là bảo tà khí “phản thắng?
Cho nên nói:
Đừng mất thiên tín, đừng trái khí nghĩ; đừng đỡ cải thăng, đừng giúp cải nhục. Thế là chính trị,
Hoàng Đế hỏi:
– Năm vận khi lưu hành, cái ký của chủ tuế, có thường số không?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tôi xin theo thứ tự, nói dưới đây:
Những năm Giáp Tý, Giáp Ngọ. Ở trên, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên; ở giữa, thái cung Thổ vận; ở dưới Dương minh táo Kim Tại toàn. Nhiệt hóa hai”, võ hóa năm ”®), táo hóa bốn”, đó là những ngảy chính hóa”, Về hóa, ở trên thời hàm, hàn”: ở giữa thời khổ, nhiệt;: ở dưới thời toan nhiệt ””", Đó là những thích nghĩ về dược và thực!,
Những năm Ảt Sửu, Át Vị “mùi”. Ở trên, Thái âm thấp Thô Tư thiên; ở giữa, Thiêu dương Kim vận; ở dưới, Thái dương hàn thủy Tại toàn. Nhiệt hóa, hàn hóa, thắng phục đồng (nhiệt thăng, hàn phục). Đó là tà khí hóa nhật!?”, Thấp hóa năm”””, thanh hóa bến? hàn hóa sáu”? đó tức là chính hóa'“?. Về hóa, ở trên thì khổ, nhiệt!®: ở giữa thì toàn, hòat''?: ở dưới thì cam nhiệt ”), Đó là thích nghí của dược phẩm và thực vịt,
Những năm Bính Dần, Bính Thân. Õ trên, Thiệu dương tướng hóa Tư thiên; ở giữa, Thái vũ thủy vận; ở dưới, Quyết âm phong mộc Tại toàn.
Hỏa hóa hai '*Ì hàn hóa sáu:
”'. phong hóa ba “, đó tức là chính hóa nhật"!®, Vẻ hóa, ở trên thì hảm. hàn!®: ở giữa thì hàm, ôn”; ở dưới thì tân, ôn®#'. Đó là thích nghỉ của thực vị và dược phẩm,
Những năm Dinh Mão, Định Dậu. Ổ trên, Dương minh táo Kim Tư thiên; ở giữa, Thiếu giác một vận: ở dưới, Thiếu âm quẫn hỏa Tại toàn.
Thanh hóa, nhiệt hóa, thắng với phục động. Đó là là hóa nhật!??, Táo hóa sáu?? phong hóa ba”, nhiệt hóa bảy”), đó tức là chính hóa nhật!?Đ, Về hóa, ở trên thì khổ và hơi ôn *””; ở giữa thì tân và hòat!*®: ở dưới thì hàm và hàn”! ”). Đó là thích nghỉ về thực vị và được phâm.
Những năm Mậu Thìn. Mậu Tuất. Ở trên, Thải dương hàn thủy Tư thiên; ở giữa, Thái chủy hỏa vận; ở dưới, Thái âm thấp Thô Tại toàn.
Hàn hóa sáu?”?, nhiệt hóa bất®®' thấp hóa năm”?*' đó tức là chính hóa nhật'”' Về hóa, ở trên thì Thổ và ôn; ở giữa thì cam và hỏa; ở dưới thì cam và ôn. Đó là thích nghĩ của thực vị và dược phẩm.
Những năm Kỳ Ty, Ký Hợi. Ở trên, Quyết âm phong mộc Tư thiên; ở giữa, Thiêu cung Thô vận; ở dưới, Thiếu dương tướng hỏa Tại toàn. Phong hóa, thanh hóa, thăng và phục đồng, đó tức là khí hóa. Phong hóa ba??”, thấp hóa năm?) hỏa hóa bảy”? Đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thì tân và lương: ở giữa thì cam và hỏa; ở dưới thì hàm và hàn. Đó là thích nghí về thực vị và dược phẩm.
Những năm Canh Ngọ. Canh Tý. Ở trên, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên; ở giữa Thái thương Kim vận; ở dưới, Dương minh táo Kim Tại toàn. Nhiệt hóa bảy!!”?', thanh hóa chín””Š), táo hóa chín*? đó là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thì hàm và hàn; ở giữa thì tân và ôn; ở dưới thì toan và ôn. Đó là thích nghĩ về thực vị và dược phẩm,
Những năm Tân VỊ, Tân Sửu. Ở trên, Thái âm thập Thổ Tu thiên; ở giữa Thiêu vũ thủy vận; ở dưới Thái dương hàn thủy Tại toàn. Võ hóa, phong hóa. thăng và phục, đồng, đó tức tà khí hóa nhật Ý, Thổ hóa năm!!*”, hàn hóa một”, đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên thì khô và nhiệt; ở giữa thì khổ và hòa; ở dưới thì khổ và nhiệt. Đó là thích nghỉ về thực vị và dược phẩm.
Những năm Nhâm Thân, Nhâm Dân. Ở trên, Thiêu dương tướng hỏa Tư thiên; ở giữa, Thái giác Mộc vận: ở dưới. Quyết âm phong mộc Tại toản. Hỏa hóa hai“, phong hóa tám”, đó tức là chính hóa nhật. Về hóa, ở trên là hàm và hàn; ở giữa là toan và hòa; ở dưới là tân và lương. Đó là thích nghị của*hực vị và dược phâm.
Những năm Quý Dậu, Quý Mão. Ở trên, Dương minh táo Kim Tư thiên; ở giữa, Thiều chủy hỏa vận; ở dưới, Thiêu âm quân hỏa Tại toàn. Hàn hóa. võ hóa, thắng và phục, đông, đỏ tức là tà khí hóa nhật. Táo hóa chín“? nhiệt hóa hai“# đó tức là chính hóa nhật. Về hóa. ở trên thì tiểu ôn; ở giữa thì hàm và ôn; ở dưới thì hàm và hàn. Đó là thích nghi về thực vị và được phâm. Những nãm Giáp Tuất, Giáp Thìn. Ở trên, Thái dương hàn thủy Tư thiên; ở giữa, Thái cung chủ vận; ở dưới, Thái âm thấp Thỏ Tại toàn. Hàn hóa sáu®®, thấp hóa năm?'', đó tức là chính hóa nhật. Vẻ hóa, ở trên thì khổ và nhiệt; ở giữa thời khổ và ôn; ở dưới cũng khổ và ôn. Đó là thích nghỉ và thực vị dược phẩm.
Những nãm Át Hợi, Ất Ty. Ở trên, Quyết âm phong mộc Tư thiên; ở giữa Thiểu đương Kim vận: ở dưới, Thiêu đương tướng hỏa Tại toàn.
Nhiệt hóa, hàn hóa, thăng và phục, đồng, đó là tà khí hóa nhật. Phong hóa tám, thanh hóa bốn" *®, hỏa hóa hai"”””, đó là cái thời độ về chính hoá. Về hoá, ở trên thời tân và lương; ở giữa thời toan và hòa: ở dưới thời hàm và hàn. Dó là thích nghi về thực vị và dược phẩm.
na,
Những năm lính Tý. Bính Ngọ. Ở trên, Thiếu âm quần hỏa Tư thiên: ở giữa, Thái vũ thủy vận: ở dưới, Dương minh táo Kim Tại toàn, Nhiệt hóa hai!“ hàn hóa sáu“*?, thanh hóa bốn“?? đó là chính hóa độ. Vẻ hóa, ở trên thì hàm và hàn; ở gia thì hàm vả nhiệt: ở dưới thì toan và ôn. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm.
Những năm Đinh Sửu, Đinh Mùi (Mùi). Ở trên, Thái âm thấp Thỏ Tư thiên; ở giữa, Thái giác Mộc vận; ở dưới Thái dương hàn thủy Tại toàn. Thanh hóa, nhiệt hóa, thắng và phục, đông!'Š” đó tức là hóa độ của tà khí. Thổ hóa năm???) phong hóa bat?) hàn hóa một! đó là chính hỏa độ.
Vẻ hóa. ở trên thì khổ và ôn; ở giữa thì tân và ôn; ở dưới thì cam và nhiệt. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm.
Những năm Mậu Dẫn, Mậu Thân. Ở trên, Thiếu dương tướng hỏa Tư thiên; ở giữa, Thái chủy hỏa vận; ở dưới, Quyết âm phong mộc Tại toàn.
Hỏa hóa bảy“ ”), phong hóa ba?”®, đó là chính hóa độ. Về hóa, ỡ trên thì hàm và hàn; ở giữa thì cam và hòa; ở dưới thì tân vả lương.
Những năm Kỷ Mão, Kỷ Dậu. Ở trên, Dương minh táo Kim Tư thiên; ở giữa, Thiếu cung Thỏ vận; ở dưới Thiếu âm quân hỏa Tại toàn.
Phong hóa, thanh hóa, thắng và phục, đồng"? đó là hóa độ của tả khí. Thanh hóa chín” võ hóa năm Ÿ®, nhiệt hóa bảy”? đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì khô và tiểu ôn; ở giữa thì cam và hòa; ở dưới thị hằm và hàn. Đó là thích nghỉ về thực vị vả được phâm.
Pu
Những năm Canh Thìn, Canh Tuất. Ở trên. Thái dương hàn thủy Tư thiên: ở giữa Thái dương Kim vận; ở dưới, Thái âm thấp Thô Tại toàn.
Hàn hóa một“) thanh hóa chín!" võ hóa năm?®) đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì khổ và nhiệt: ở giữa thì tân và ôn; ở dưới thì cam và nhiệt. Đó là thích nghỉ về thực vị và dược phẩm.
Những năm Tân Ty, Tân Hợi. Ở trên, Quyết âm phong mộc Tư thiên; ở giữa, Thiếu vũ thủy vận; ở dưới. Thiếu dương tướng hòa Tại toản.
Võ hóa, phong hóa thắng và phục, đồng, đó là hóa độ của tà khi. Phong hóa ba!” hàn hóa một, hỏa hóa bất®”' đó tà chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì tân và lương; ở giữa thì khô và hòa: ở dưới thì hàm và hàn.
Những năm Nhâm Ngọ, Nhâm Tý. Ở trên, Thiếu âm quân hỏa Tư thiên; ở giữa, Thái giác Mộc vận: ở dưới, Dương minh táo Kim Tại toàn.
Nhiệt hóa hai“), phong hóa tám”, thanh hóa bốn”)! đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì hàm và hàn: ở giữa thì toan và lương; ở dưởi thì toan và ôn. Đó là thích nghỉ về thực vị và dược phẩm.
ha
Những năm Quý Vị (Mùi), Quý Sửu. Ở trên, Thái âm thấp Thổ Tư thiên; ở giữa, Thiêu chủy hỏa vận; ở dưới, Thái dương hàn thủy
Tại toàn.
Hàn hóa, võ hóa, thăng và phục, đồng, đó là hóa độ của tà khi.
Võ năm”, hóa hóa hai!” hàn hóa một“7, đó là hóa độ của chính khí. Về hóa, trên thì khổ và ôn; ở giữa thì hàm và ôn; ở dưới thì cam và nhiệt. Đó là thích nghỉ về thực vị và dược phẩm.
Những năm Giáp Thân, Giáp Dân. Ở trên Thiếu dương tướng hỏa Tư thiên: ở giữa Thái cung Thổ vận; ở dưới Quyết âm phong mộc Tại toàn.
Hỏa hóa hai”, võ hóa năm?) phong hóa tám”*, đó là chính hóa độ. Vệ hóa, ở trên thì hàm và hàn; ở giữa thì hàm và hòa; ở dưới thì tân và lương. Đỏ là thích nghỉ về thực vị và dược phâm.
Những năm Át Dậu, Át Mão. Ở trên, Dương minh táo Kim Tư thiên; ờ giữa Thiếu dương Kim vận: ở dưới Thiếu âm quân hỏa Tại toàn.
Nhiệt hóa, hàn hóa, thăng vả phục đồng, đó là hóa độ của tà khi. Táo hóa bốn! ””, thanh hóa bốn”?®, nhiệt hóa hai”? đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì khổ và tiểu ôn; ở giữa thì khổ và hòa: ở dưới thì hàm và hàn. Đó là thích nghĩ vẻ thực vị và dược phẩm.
Những năm Bính Tuất, Bính Thìn. Ở trên Thái dương hàn thủy Tư thiên; ở giữa, Thái vũ thủy vận; ở dưới, Thái âm thấp Thổ Tại toản.
Hàn hóa sáu'””', võ hóa năm”? đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì khỗ vả nhiệt; ở giữa thì hàm và ôn; ở dưới thì cam và nhiệt. Đó là thích nghĩ về thực vị và dược phẩm.
Những năm Đinh Ty, Đinh Hợi, Ở trên, Quyết âm phong mộc Tư thiên: ở giữa thiểu giác Mộc vận; ở dưới, Thiếu dương tướng hỏa Tại toàn.
Thanh hóa. Nhiệt hóa, thắng và phục, đông, đó là hóa độ của tà khí. Phong hóa ba!””), Hỏa hóa bảy,, đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì tân và lương; ở giữa thì tân và hòa; ở dưới thì hàm và hàn. Đó là thích nghi vẽ thực vị và được phâm. Những năm Mậu Tý, Mậu Ngọ. Ở trên, Thiêu âm quân hỏa Tư thiên; ở giữa, Thát chủy hỏa vận; ở dưới, Dương minh táo Kim Tại toàn. Nhiệt hóa bảy!'””), thanh hóa chín”*?, đó là chính hóa độ. Vẻ hóa; ở trên thì hàm và hàn: ở giữa thì cam và hản; ở dưới thì toan và ôn.
Những năm Kỷ Sửu, Kỷ Vị (Mùi). Ở trên, Thải âm thập Thổ Tư thiên; ở giữa, Thiêu cùng Thô vận; ở dưới, Thái dương hàn thủy Tạt toàn.
Phong hóa, thanh hóa, thăng và phục, đông, đó là hóa độ của tà khí. Thổ hóa năm? hàn hóa một?) đó là chính hóa độ. Về hóa. ở trên thì khô nhiệt; ở giữa thì cam và hòa; ở dưới thì cam và nhiệt. Đó là thích nghi về thực vụ và được phâm.
Những năm Canh Dân, Canh Thân. Ở trên. Thiêu dương tướng hỏa Tư thiên; ở giữa, Thái thương Kim vận; ở dưới. Quyết âm phong mộc Tại toàn.
Hóa hóa bảy?#®, thanh hóa chín?” phong hóa bat”), đó là chính hóa độ. Về hóa, ở trên thì hàm và hàn: ở giữa thì tân và ôn; ở dưới thi tân và lương. Đó là thích nghị về thực vị và dược phâm.
Ki,
Những năm Tân Mão, Tân Dậu. Ở trên, Dương minh táo Kim Tư thiên; ở giữa Thiêu vũ thủy vận; ở dưới Thiêu âm quân hỏa Tại toàn. Võ hóa, phong hóa, thăng và phục, đồng, đó là hóa độ của tà khí. thanh hóa chín!” nhiệt hóa bây”? hàn hóa một 9? đó lả chính hóa độ. Vẻ hóa, ở trên khô và tiêu ôn; ở giữa khô và hòa; ở dưới hàm và hản. Đó là thích nghi về thực vị và dược phẩm.
Những năm Nhâm Thìn, Nhâm Tuất. Ở trên, Thái dương hàn thủy Tư thiên; ở giữa Thái giác Mộc vận; ở dưới Thái âm thấp Thổ ì Tại toàn. Hần hóa sáu!'””,. phong hóa tám? võ hóa năm ”*) đó là chính hóa độ. Vẻ hóa, ở trên thì khô và ôn; ở giữa thì toan và hòa; ở dưới thì cam và ôn. Đỏ là thích nghi vê thực vị và dược phẩm. na Những năm Quý Tỵ, Quý Hợi. Ỡ trên, Quyết âm phong Mộc Tư thiên: ở giữa. Thái giác hỏa vận; ở dưới, Thiểu dương tướng hỏa Tại toàn, Hàn hóa, võ hóa, thăng vá phục. đóng, đó là hóa độ của tà khí. Phong hóa ở tám ””” hòa hóa hai”Ê'. đó là chính hóa độ. Về hóa. ở trên tân và lương; ở giữa hàm và hòa; ở dưới hàm và hàn, Dó là thích về thực vị và dược phẩm, Trở lên là những “ký” có định kỳ, thăng và phục, chính và hỏa. đều có thương sô. phải xét cho kỹ. Cho nên, nêu biết được cốt yếu, chi nói một điều đã đủ: không biết được cốt yêu, sẽ lưu tán không biết đến đâu là cùng! '?,
Hoàng Đề hỏi:
– Khí của năm vận, có báo phục tuế khí chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Uất cực sẽ phát, đợi thời mà sinh...
– Xin cho biết rõ như thế nào?
– Cái khí năm thường (tức là vận), vì có thái quá, bắt cập, nên sự phát ra có khác. Thái quá thì bạo, bất cập thì từ. Bạo thì bệnh nặng, từ thì bệnh đứng (vững không nặng lắm) 9, - Thái quá với bất cập, số nó như thế nào?
– Thái quá thì theo số “thành”, bất cập thì theo số “sinh”. Thỏ thì thường là “sinh”®!,
Hoàng Đề hỏi:
– Phát ra như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thể uất phát ra, sắm vang hang núi, khí giao dồn dập; bụi tối vàng đen, hóa thành khí trắng, tràn khắp cao sâu; gió thôi cát bay, nước sóng đầy ràn... mưa tuôn tầm tã... Thời kỳ đó, mới sinh, mới hóa, mới trường, mới thành. Sẽ phát các chứng bệnh: tầm phúc trướng (bụng to vượt), trường minh (sôi bụng), đại tiện luôn (tức kiết lỵ), quá lắm thì Tâm thông. dây sưng ở hiếp; âu, thổ, hoặc loạn; đình âm (nước nghẽn ở hung ức), chú hạ (tiết tả), chân sưng, mình nặng. Mây theo mưa xuống, giáng ủng chiêu đương (giáng che Phủ ánh mặt trời buổi sớm); núi trằm khói tỏa. Khi mới phát đo ở bắn khí. Mây vắt ngang trời, lúc không lúc có... Đó là tiên triệu??,
Kim uất phát ra, trời đất trong sáng, gió mát, khí lạnh; hơi may hiu hắt. cỏ cây khói tỏa; táo khí lưu hành; sương sa, mọc xuống, sái khí phát sinh. Ở con người sinh ra các bệnh: khải nghịch; Tâm. hiếp mãn, dẫn xuống Thiểu phúc, hay bạo thống không thể trở mình: ách Can, sắc mặt sạm xĩnh. Đất nút, sương nhiều. Về khí “ngũ”, hễ thấy: đềm rơi móc lạnh, tiêng gió vi vụ, đó là tiên triệu.
Thuỷ uât phát ra, Dương khí rút lui, Âm khí trỗi dậy:
Gió bắc như gào, mặt sông nước đóng: từng không mù mịt, mặt đất tiêu điều...
Con người trong thời kỳ đó, sẽ phát sinh các chứng bệnh:
hàn khác (khí hàn phạm vào), Tâm thống. yêu chùy thông, quân tiết không lợi, co duỗi khó khăn, hay quyết nghịch, bĩ kiên (bí đại tiêu và bụng cứng), phúc mãn... Khí đó phát ra ở nơi trước sau “hai hỏa”. Hễ thầy, từng không đen tôi, sắc người đen, vàng... đó là tiên triệu,
Mộc uât phát ra, thái hư mù mịt, mây khói tung bay, gió thổi ào ảo, cây rung, nhà chuyên.... Do biên của Mộc, khiến con người mắc bệnh; vị quản thông, đau ngang hai hiếp; cách, yết không thông, uông ăn khó khăn; quá lãm thì tai ù, mất hoa, trông ra không tỏ, thường khi chết ngất... Khí nó không nhất định, đường dải cỏ lướt, cây cao bóng rảm, núi cao thông ngậm, rừng sâu hỗ sâm... đó là tiên triệu!,
Hỏa uât phát ra, từng không u ám, che lấp vừng ô; viêm hỏa lưu hành, đại thử thoảng đến... Thập hóa về san, cho nên dân mắc bệnh thiêu khí, thương, dương, ung, thũng, hiệp, phúc, hung, bỗi,nặt, mắt, tứ chi... đều sưng trướng; lại thêm ân nghịch, khiết, túng: cốt thông, chú hạ (tả), ôn ngược; phúc trung, bạo thống, huyết giật (huyết tràn, như thổ huyệt hoặc tiện huyết v.v...), lưu chủ (trong mình sưng lên từng quẳng); tỉnh, dịch ít mắt đỏ. Tâm nhiệt, quả lăm thì mâu muộn, úc nùng (trong lòng buôn bực. rộn rực) hay bao tử; về khí cuối cùng biển ra đại ôn, chân lông đẫm ướt. Khí đó “tứ động”. Phục thì tĩnh. Dương cực quay lại âm, thấp bệnh sẽ hóa. Núi sông băng tuyết, trầm sâu hơn âm, đó là tiên triệu,
Có cái ứng của uất, rồi mới có báo... Phải nhận ở lúc cực, rôi mới có phát. Mộc phát, không có thời kỳ nhất định, vì là Thủy theo Hỏa vậy?
Kỹ xét ở thời, bệnh có thể dự biết. Nếu lỡ với thời trái với tuế năm khí không lưu hành, khiến cho cái chính lệnh sinh, hóa, thâu, Tàng cũng không được đúng với lẽ thường,
Hoàng Đề hồi:
- Thủy phát mà bộc, tuyết (mưa đá và tuyết):
Thỗ phát mà phiêu, sậu (vỡ, lở); Mộc phát mà hủy, chiết (đô, gãy); Kim phát mà thanh minh (trong sáng); Hỏa phát mà huân, muội (nóng bức, tối tăm)... Khí nào gây nên thế?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí có nhiều, ít, phát có ví “nhỏ”, thậm (quá), '*vi” là đúng với khi, “thậm” là kiêm cả dưới. Kiêm cả dưới, là do nhân ở khí mà biết,
Hoàng Đế hỏi:
– Năm khí phát ra, không đúng với vị, là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vì chính lệnh có chỗ sai suyễn...
– Chỗ sai suyễn đó, có nhất định không?
– Nếu chậm lại sau, đều ba mươi độ có lẻ...t!,
Hoàng Đề hỏi:
– Khí đến mà hoặc trước hoặc sau là vì sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vận thái quá thì đến trước, nếu bất cập thì đến sau, đó là thường hậu.
– Đúng thời mà đến, như thế nào?
– Không thái quá, không bắt cập, là đến đúng với thời (mùa), trái vậy sẽ là tai sảnh.
– Khí, có khí không phải thời mà hóa, là thế nào?
– Thái quá ấy đúng với thời, bất cập ấy theo với “kỷ thắng.
– Khí của bốn mùa, lúc đến có sớm có muộn, có cao có thấp, có tả có hữu... Hậu nó như thế nào?
– Hành có nghịch thuận, đến có chậm chóng, cho nên thải quá thì hóa Tiên thiên, bất cập thì hóa Hậu thiên... - Sự lưu hành như thế nào?
– Xuân khí đi về phương Tây, hạ khí đi về phương Bắc, thu khí đi về phương Đông, đông khí đi Về phương Nam... Cho nên, xuân khí bắt đâu từ dưới, thu khí bắt đầu từ trên, hạ khí bắt đầu ở giữa, đông khí bắt đầu ớ ngọn (tiêu). Xuân khí bắt đầu đi từ bên tả, thu khí bắt đầu đi từ bên hữu, đông khí bắt đầu đi từ phía sau, hạ khí bắt đầu đi từ phía trước... Đó là sự thường vẻ chính hóa của bốn mùa. Cho nên ở nơi chí (rất) cao, đông khí thường có luôn, ở nơi chí hạ, xuân khí thường ở luôn... Phải suy xét cho tỉnh tường mới được!,
Hoàng Đề hỏi:
– Sự ứng hiện của năm vận, sáu khí... và sự chính của lục hóa, các kỷ của lục biến... như thể nào?
Kỳ Bá thua răng:
– Sáu khí có chính kỷ, có hóa. có biến, có thăng, có phục. có dụng, có bệnh. "hậu" đều không giống nhau, Đế muốn biết về đường nào?
Hoàng Đề nói:
– Xin Phu Tử cho biết cả...
Kỳ Bá thưa rằng:
- Phàm, khi khi dẫn đến:
Quyết âm đến là hòa bình, Thiếu âm đến là huyện hòa (âm áp), Thái âm đến là khảm nhục (nóng bức, Thiếu dương đến là viêm thử, Dương minh đến là thanh kính (mát mẻ, cứng cáp, tức là Kim khi), Thái dương đến là hàn phần (rét lạnh). Đó là sự thương của thời hóa!?,
Quyết âm đến nơi là phong Phủ, là môn khải (mở mang); Thiếu âm đến nơi là hỏa Phủ, là thư vinh (thư thái, tươi tốt); Thái âm đến nơi là võ Phủ, là viền doanh (đầy đủ); Thiếu âm đến nơi là nhiệt Phủ, là hành xuất (đường lối của khí dẫn ra); Dương minh đến nơi là tư sái Phủ, Canh thương (thay đổi, cỏ cây tới mùa thu thì sắc xanh thay đối); Thái dương đến nơi là hàn Phủ, là quy Tàng... Đó là đường lối thường của sự tư hóa.
Quyết âm đến nơi là sinh nở, là gió lay; Thiếu âm đến nơi lả tươi tốt, là hình hiện; Thái âm đến nơi là hóa, là mây mưa, Thiếu âm đến nơi là trưởng đưỡng, là tốt tươi; Dương mính đến nơi là thâu liễm, là sương móc; Thái dương đến nơi là quy Tàng, là kín đáo.
Quyết âm đến nơi, trước là phong sinh, sau là túc sai; Thiếu âm đến nơi, trước là nhiệt sinh, sau là âm hàn; Thiếu âm đến nơi, trước là thấp sinh, sau là chú võ (mưa gió, xuống); Thiếu dương đến nơi, trước là hỏa sinh, sau là oi bức; Dương minh đến nơi, trước là táo sinh, sau là thanh lương; Thái dương đến nơi, trước là hàn sinh, sau là ôn hòa... Đó là sự thường của đức hóa...
Quyết âm đến nơi là mao hóa (hóa sinh loài có lông); Thiếu âm đến nơi là vũ hóa (hóa sinh loài có cánh); Thái âm đến nơi là quả hóa (hóa sinh loài thú và người); Thiếu dương đến nơi là vũ hóa (cũng loài có cánh); Dương minh đến nơi là giới hóa (hóa sinh loài có vỏ như trai ốc); Thái dương đến nơi là lân hóa (loải có vấy như cá.... Đó là sự thường của đức hóa.
Quyết âm đến nơi là sinh hóa (sinh sôi nẫy nở); Thiếu âm đến nơi là vinh hóa (tươi tốt); Thái âm đến nơi là nhu hóa (hóa ra khí âm ướt; Thiếu dương đến nơi là mậu hóa (rậm tốt); Dương minh đến nơi là kiên hóa (cứng bên); Thái dương đến nơi là Tàng hóa... Đó là sự thường của truyền bố chính lệnh.
Quyết âm đến nơi là phiêu nộ, là mát nhiều; Thiếu âm đến nơi là đại huyền, hàn (rất ấm và rét); Thái âm đến nơi là sắm sét, mưa tO, gió lớn; Thiêu dương đến nơi là gió to, bốc cháy đọng sương... Dương ' minh đến nơi là cỏ cây lá rụng, hoặc ôn; Thái dương đến nơi là hàn tuyết, băng, bộc, bạch ai (bụi trắng). Đó là trạng thái thường của khí biến“,
Quyết âm đến nơi là nhiễu động, là nghỉnh, tùy (đi lại, hình dung cơn gió); Thiêu âm đến nơi là cao minh diễm (ngọn lửa sáng và cao), là sưng thũng; Thái âm đến nơi Íà trầm âm, là bạch ai (bụi trắng), là hối, huyến (tối tăm, ám áp); Thiếu âm đến nơi là quang hiển (sáng, tỏ), là đồng vân (mây do nước bếc lên), là huân (ắm áp: Dương minh đến nơi là yên ai (khói, bụi), là sương móc, là kính thiết (hanh hái), là thê minh (hiu hắt, quạnh quế); Thái dương đến nơi là Cương cô (cứng bèn), là kiên mang (giá lạnh...). Đó là lệnh thường của sáu khí, thi hành ra bến mùa.
Quyết âm đến nơi là lý cấp; Thiếu âm đến nơi là dương chẩn, thân nhiệt; Thái âm đến nơi là tích âm, là bĩ cách; Thiếu dương đến nơi là sị, âu, là thương dương (lở láy); Dương minh đến nơi là phù hư, Thái dương đến nơi là eo dưỗi không lợi; Đó là những bệnh thường về mùa xuân!,
Quyết âm đến nơi, gây nên chứng chỉ thống (đau ở hung và hiếp: Thiếu âm đến nơi, sây nên chứng kinh, ố hàn, run rây. nói mê (sảng; Thái âm đến nơi gây nên chứng súc mãn (như xúc huyết và đầy; Thiếu dương đến nơi, gây nên chứng kỉnh táo, mâu, muội, bạo bệnh; Dương minh đến nơi, gây nên chứng cầu (đau ở sống mũi) và các chứng đau ở xương khu, đâu ốc, dùi, xương ống chân; Thái dương đến nơi, gây nên chứng yêu thống. Đó là bệnh thường của mùa hạ.
Quyết âm đến nơi, gây nẻn chứng liễu lệ (bị lệch bóng đái không tiểu tiện được); Thiếu âm đến nơi, pây nên chứng hay thương, nói cản, huyết ra đăng mũi hoặc ở mặt; Thái âm đến nơi gây nên chứng chung mãn, hoắc loạn, thổ, tả, Thiếu dương đến nơi, oầy nên chứng hầu tý, nhĩ minh (ù tai), âu thổ; Dương minh đến “nơi, gây nên chứng hiếp thống, thuân yết (rộp da); Thái dương đến nơi, gây nên chứng tâm hãn (ngủ ra mô hôi) và kinh. Đó là bệnh thường của mùa thu.
Quyết đến nơi, gây nên chứng hiếp thống, âu và tiết:
Thiếu âm đến nơi, gây nên chứng nói nhiều và hay cười; Thái âm đến nơi, sây nên chứng phù thũng: Thiếu dương đến nơi. gây nền chứng bạo chú (tả mạch), khiết túng vào bạo tử; Dương minh đến nơi, pây nên chứng cùu, xị; Thái dương đến nơi. gây chứng lưu tiết. tiểu tiện bất cắm... Dó là những chứng thường về mùa đông”!,
Phàm 12 biến bệnh trên đây, đều là lẫy đức để báo đức, lẫy hóa đê báo hóa, lẫy chính để báo chính, lấy lệnh đề báo lệnh... Khí cao thời cao, khí thấp thời thấp, khí sau thời sau, khí trước thời trước, khí trong thời trong, khí ngoài thời ngoài... Đều có thường vị.
Cho nên phong thăng thời động, Hỏa thắng thời thũng, táo thắng thời Can (khô), hản thăng thời phù. thấp thắng thời nhu tiết... quá lắm thời Thủy bế, phù thũng; tùy khí ở đâu, sẽ biết biến ở đấy.
Hoàng Đề nói:
– Xin cho biết công đụng ra làm sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Công dụng của khí, đều theo về “bất thắng” mà làm hóa. Cho nên Thái âm võ hóa, truyền sang Thái dương: Thái dương hàn hóa, truyền sang Thiếu âm; Thiếu âm nhiệt hóa, truyền sang Dương minh; Dương minh táo hóa, truyền sang Quyết âm; Quyết âm phong hóa, truyền sang Thái âm... Đều nhân nó ở đâu để mà nghiệm xét,
Hoàng Đề hỏi:
– Tự đúng được bản vị, như thế nào?
' Kỳ Bá thưa rằng:
– Giữ được đúng bản vị, đó là thường hóa.
– Xin cho biết ờ đâu?
– Xét vị của nó về tháng nào, phương nảo, thởi có thể biết được?!?,
Hoàng Đề hỏi:
– Khí của sáu vị, doanh, hư như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Đó là đo thái (quá), thiếu (tức bất cập), khác nhau. Khí “thái” đến, thong thả mà là thường, khí “thiểu” đến, cấp tốc mà là vong (mất, chết.
Hoàng Đề hỏi:
– Khí của trời đất, doanh, hư như thế nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thiên khí bắt túc, địa khí sẽ theo, địa khí bắt túc, thiên khí sẽ theo. Vận ở khoảng giữa mà thường đến trước. Ghét cái bất thắng, theo về cái đồng hóa, theo vận về thuận mà sinh ra bệnh. Cho nên. trên thăng thời thiên khí giáng mà xuống, dưới thăng thời địa khí đổi mà lên, do nhiều, ít mà phân vị có sai lệch. *“V” thời sai nhỏ, “thắng thời sai lớn, quá lắm thời ngôi đổi, khí giao. “Đổi” thời đại biến sinh ra mà gây nền tật bệnh. Đại yếu nói: “thậm kỷ năm phần, vị kỷ bảy phân... Sự sai lệch có thể biết được”C!,
Hoàng Đề hỏi:
- Luận nói:
“Nhiệt, đừng phạm nhiệt; hàn, đừng phạm hản”. Tôi muốn không lánh xa hàn, không lánh xa nhiệt... thời như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phát biểu, không phải lánh xa nhiệt; công lý, không phải lánh xa hàn...
Hoàng Đế hỏi:
– Không phát biểu, không công lý, mà phạm hàn, phạm nhiệt, thời như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Hàn. nhiệt phạm vào bên trong, bệnh sẽ nặng thêm...
– Xin cho biết bệnh như thế nào?
– Chưa có bệnh thời sẽ sinh ra, đã có bệnh thời nặng thêm.
– Sinh ra như thế nào?
– Không lánh xa nhiệt, thời bệnh nhiệt.đến; không lánh xa hàn. thời bệnh hàn đến. Bệnh hàn đến; thời những chứng: kiên. bĩ, phúc mãn. thông cấp và hạ lợi v.v... sẽ sinh ra. Bệnh nhiệt đến thời những chứng: thô, hạ. hoắc loạn, ung thư, thương dương, mâu muộn, chú hạ, khiết túng, thũng trướng. âu, cừu, nục, đầu thống, cốt tiết biến, huyết giật, huyết tiết, lâm bí v.v... sẽ sinh ra.
Hoàng Đề hỏi:
– Phương pháp trị liệu như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thuộc về bốn mùa thời thuận theo. Nếu phạm, thòi dùng cái “thăng” để trí,
Pa Hoàng Đề hối:
– Đàn bà trọng thân (tức có thai) dùng vỊ có chất độc, như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Nếu có bệnh thời không hại, nhưng cũng đừng quá dùng mới thật không hại. Tỷ như những chứng đại tích, đại tu, thời cần phải phạm. Nhưng bệnh bớt quá nửa thời thôi. Nếu dùng quả sẽ chết,
Hoàng Đề hỏi:
– Nêu uát quá, thời liệu trị thê nào?
kỳ Bá thưa răng:
– Mộc uất thời đạt nó ra, Hỏa uất thời phát nó ra, Thổ uất thời đoạt (dẹp) bót đi, Kim uất thời thiết bỏ đi, Thủy uất thời chiết nó xuống... Phải điều hỏa cái khí, quá thời dùng nó để chiết đi... Chiết, cũng tức lả tả (như dùng toan đề tả Can, dùng tân để tả Phẻ, dùng hản để tả Thận v.v....
Hoàng Đề hỏi:
– Về phương pháp giả tả, như thê nào?
kỳ Bá thưa răng:
– Có giả tá cái khí, thời cũng không cắm, tức là do chủ khí bất túc, thời khách khí thăng vậy!“.
Chú Giải
- tÔ ngu sự hóa” tức là nói về Tư thiên, Tại toàn, đều có sự hóa sáu khí; “Sáu sự biến” là nói về sự biến của thăng và chế. "Thắng với phục" là nói vẻ khí của năm vận đêu cỏ sự thẳng phục về các khí chủ tuế, do dỏ sự chủ trị không được toàn. Đến như năm VỊ. sinh hóa có hậu bạc, thành thục có nhiều ít, trước sau đều cỏ chế. có thăng, có sinh. có thành khác nhau v.v... 2 mãn vận" tức là nói về hóa vận của năm hành. Hóa vận đó, hoặc theo về năm khí, như: những năm gọi là Phu hòa, Thăng minh. Tĩnh thuận. Thâm bình v.v... Những năm đó đều thuộc về năm vận hỏa bình, với sáu khí không có sự gì tương phạm. “Hoặc trải thiên khí"... tỷ như những năm Bính Tý, Bính Ngọ, Tư thiên thuộc về Hòa vận mà lại thi hành Thủy vận: những năm Giáp Thìn, Giáp Tuất Tư thiên thuộc về Thủy vận, mà lại thi hành Thỗ vận v.v... "Hoặc thuận thiên khí, hoặc thuận địa khí". Đỏ là nói về thải quá mà thuận, thiên khí có ba vận; bất cập mà đồng địa hỏa cũng có ba vận; thái quả mà đồng địa hóa có ba vận, bất cập mà đông địa hóa cũng có ba vận... Tất cả hai mươi bỗn năm đó, với thiên khí tương phù, với địa khí tương hợp. "Hoặc nghịch thiên khí, hoặc nghịch địa khí v.v...” là nói về: trừ những năm Thiên phù, Tuế hội, mà cùng với cái khí Tư thiên, Tại toàn Không tương hợp. "Hoặc tương đặc hoặc không tương đắc..." là nói về cái khí của bốn mùa như phong, ôn, hóa đồng với xuân; nhiệt. huân (nóng bức), hóa đồng với hạ; thanh lộ (xương mọc) hóa đồng với Thu; mây mưa hóa đông với Trường hạ; băng tuyết hóa đồng với đông v.v... Đỏ là khách khí với thời khí tương đắc với nhau. Như: Chủ khí bất túc, khách khí lại thăng được, thể là khách khí với thời khí không tương đắc với nhau. "Xuất ký của trời v.v...", tức là khiến cái khí Tư thiên, Tại toản, trên dưới quân bình với nhau... "Trời đất thăng giáng v.v." là nói về: đã thăng mà giáng, đã giáng lại thăng... Cái khí của trời đất thay đổi như vậy. không hề sai lệch. - VỀ năm vận sáu khí phải có sự của đức. hóa, chính. lệnh; nhưng lại cũng có sự biến dịch về râm, thăng, uất, phục. Giờ muốn cho khí vận hòa bình, cần phải dùng năm Vị để hoặc chiết (bẻ xuống), hoặc tư (giúp), hoặc ích (thêm lên, hoặc ức (nén xuống). Cho nên mới nói là "điều với chính Vị" v.v. “Trước phải lập lấy niên v.v." tức là nói về phải nhận định cái năm đó là thuộc về thiên Can hay địa chỉ v.v. "Số vận hành" là nói về năm vận cùng nỗi nhau, cứ chọn năm rỗi chu mà lại bắt đâu; "Ngự hóa v.v." là nói về sáu khí có sự thượng lâm của Tư thiên, có sự hạ ngự cúa Tại toàn, và có chủ khí của bốn mùa, có khách khí gia lâm v.v... # Đây nỏi tóm cả sự chủ tuế và chủ thời của sáu khí. Chủ tuế thuộc về Tư thiên, Tại toàn; chủ thời thuộc về chủ khí, khách khí; sáu khí, đì đều có chia bộ. mà cái khí Tư thiên lại chủ của một năm, cho nên nói: “Phàm cải chính của những năm Thái dương Tư thiên v.v", Tý, Ngọ, Dàn, Thân, Thìn, Tuất, v.v... là sáu năm thuộc dương, khí chủ về thái quả; Sửu, Vị, Mão, Dậu, Tỵ, Hợi là sáu năm thuộc Âm khí chủ về bất cập. Phảm cái khí chủ tuế chủ thởi thuộc về năm thái quá, đều trước thiên thời mà đến; thuộc về năm bát cập, đều sau thiên thời mà đến. Cho nên nói: "Vận thái quá đến trước, vận bất cập đến sau". Vì Thái dương hàn thủy Tư thiên, nên thiên khí nghiêm túc. Thái âm thấp thổ Tại toàn, nên địa khí vên tĩnh. Vị "hàn khi tràn ngập thái hư”, nên Dương khí không phát triển được chính lệnh, Vì “Thủy Thỗ hợp đức", nên trên ứng với Thản tỉnh, Trấn tinh. Về "loài cốc chủ về sắc đen vàng”, vì nó cảm cái khí Tư thiên, Tại toàn, nên đã tới kỳ thành; "Trâm không đương điễm..." là nói về sinh dương ở trong âm, bị cái khí hàn Thủy nó chèn nén. Bởi cái "Nhị chỉ khí" là Thiếu âm quân Hỏa chủ khí, nhân "hàn chính phát nhiều" nên phải đợi thời mới có thể phát. Đợi thời, đến "Ngũ chỉ khi" thuộc Thiếu âm về gián khí tư lệnh mới lại phát. Đó là nói về cái chủ khí của bốn mùa bị khí tư thiên nó thắng "Thiếu dương chủ trị ở khoảng giữa v.v.", là nói về Thiếu dương tướng hỏa, chủ về "Tam chỉ khí” mà lại bị hàn thủy gia lâm, vì đó nên "mưa nhuẫn sẽ ngớt". Đó là chủ khí của bốn mùa, mà lại bị cái khách khí gia lâm nó thắng. Nửa năm về trước, thiên khí làm chủ; nửa năm về sau, địa khí làm chủ. Mà ba cái khí gia lâm, lại chủ về hản thủy, “Tứ chỉ khí" thuộc Thái ầm, vì vậy cái khí hản Thủy, đến "tam khí" thì ngừng, sẽ giao với "tứ khí" của Thái âm. Thái âm đến đâu, sẽ thành mây mưa. "Mây vẻ Bặc cực v.v." là nói về cái Tại toàn, vận hóa lên trên, “Nhuần thắm muôn vật v.v." là nói khí thấp thổ trản khắp ở dưới. "Hàn khắp ở trên v.v." là nói về cái Thái dương hàn Thủy đóng ở trên; "Sấm động ở dưới v.v." là nói về Hỏa khí của Thiếu âm, lại ở bên hữu Thái âm, đến "ngũ khí" mà mới phát. "Dân sinh v.v," đều đo cái khí hàn Thuy mà gây nên. ®' Từ đây trở xuống, chia bản cái gián khí gia lâm. Gián khí để ký bộ (ghi từng bộ); mà "sơ khí" bắt đầu từ Thiếu dương. "Khi đất thay đổi v.v. là nói về: cái "chung khí" Tại toàn từ năm trước, mà giao với cái "sơ khí Tư thiên năm nay. “Chung khí” năm trước là Thiếu âm quân hỏa, "sơ khí năm nay là Thiếu dương tướng hỏa. Hai thứ Hỏa cùng giao nhau cho nên khí "dại ôn”; "loài cỏ sớm tốt..." là vì trưởng khí thịnh (trường khí là có khi sinh trưởng, tức là khí của Hỏa, khí của mùa hạ...); mới giao tới mùa xuân mà đã đại ôn, nền dân phát sinh các bệnh lệ và ôn bệnh v.v. S' "Nhị chí khí" tức là Dương minh táo Kim gia tâm, cho nên "đại lương" (rất mát, Kim khí thuộc thu nên mát) "lại đến". Vì hóa viêm nhiệt làm thanh lương, nên mới nói lả "lại đến"... "Loài cỏ gặp lạnh v.v." là nói về hàn khí ờ dưới: "trung với hạ" có khí hản lương, nên cái Hỏa khí thượng lâm mới bị chèn nén... Bởi cái gián khí Tư thiên, bao giờ cũng từ đưởi giao lên trên. "Mắc bệnh khí uất và trung mãn v.v." là vì Dương khí bị át ức ở bên trong. "Khí hàn mới bắt đầu v.v." là nói về cái hàn khí Tư thiên, từ "nhị chỉ khí” mới bắt đầu. Thế là cái khí Tư thiên lại bị Gián khí nó thắng vậy.
- Cái khí Tư thiên hàn Thủy gia lâm lên "Tam khí", cho nên bấy giờ "thiên khí mới tắn bê v,v,", Mùa hạ nên nhiệt mà lại bị hàn khí gia lâm, nên dân mới mắc bệnh hàn mà bên trong lại nhiệt. Các chứng ung thư, mẫu muộn v.v... đều đo Hỏa uất mà sinh ra, nếu không kịp chữa, sẽ như mình tự đốt mình mà chết.
- ® Cái khí gia lâm là Quyết âm phong Mộc; cái "tử chỉ chủ khí" lại là Thái âm thấp Thổ. Vì vậy nên phong với thấp mới giao tranh. "Phong hóa làm vũ (mưa) v.v." là cái khi gia lâm theo thời mà hóa; về khoảng mùa hạ, mùa thu giao nhau, thấp Thô chủ khí. cho nên "mới trường, mới hóa, mới thành". Đó là vì mùa hạ thì chủ về việc sinh trưởng, mùa thu thì chù việc thâu thành, mà mùa Trường hạ thì chủ về việc hóa sinh vậy. "Dân mắc bệnh đại nhiệt v.v." đều là những bệnh thuộc về phong nhiệt. "Nhục nuy, túc nuy v.v." là những chứng thuộc về khi của thấp Thổ; "Tiết tả v.v.” là một chứng do thấp với nhiệt cùng nung nấu mà sinh ra. Ó Nhị chỉ khí” là Thiếu dương quân Hỏa, bị cái khí hàn lương nó gia lâm, mãi tới "neũ khí" mới lại chủ trị nên mới nói: “khí dương lại hóa"... tức là những biến tượng "trảm lầy không dương diễm v.v.". Vì Hỏa khí lại hóa nên loài thảo mới “trưởng”. Cái khí thấp Thổ, chủ nửa năm về sau, cho nên mới "hóa"; cái "Ngũ chỉ chủ khí” thuộc Dương minh táo Kim, cho nên mới "thành"; Hỏa uất thì phát tiết ra. nên đân mới để chịu.
- Cái khí Tại toàn, lâm lên "chung khí", cho nên địa khí chính ngôi mà thấp lệnh thí hành. "Khí âm hàn tràn ngập thái hư v.v." là nói về cái khí Thái âm vận lên ờ trên. "Khói bụi khắp đông ruộng v.v." là nói về cải hóa của thấp Thỏ phân tắn ở bên dưới. "Dân mới buôn bã v.v." là nói về cái khí âm thấp lưu bành ở khoảng giữa (trung). "Giỏ rét đã đến v.v." là Thô bị phong Mộc nó thẳng. nên các loài thai dựng mới không thành. Tức là cải tà khí trải mùa. lại thắng được cái khí chủ thời vậy. thổ là Vị của Hỏa; Hỏa có thể làm ấm được hàn; khổ có thể làm thăng được thấp. Vậy, nhảm thuộc về năm Thái dương Tư thiên. là đo hàn thấp chủ khí, cho nên, nên dùng vị táo đẻ thăng thấp; dùng vị ôn để thăng hàn. Đó tức là bảo: "điều hòa với chính Vị, khiến cho trên dưới hợp đức” vậy.
- “Hóa nguyên v.v.” là nói về; năm vận là cải nguồn sinh ra sáu khi; "chiết" tức là bẻ bỏ, dẹp xuống. Phàm những cái khí làm nên chứng uát, thì chiết bỏ đi. Tỷ như về năm Thái chủy (năm Mậu), Thái dương Tư thiên, thì Hỏa vận sẽ bị uất. Về năm Thái vũ (năm Bính), Thái âm Tại toàn, thì Thủy vận sẽ bị uất. Cho nên phải dùng phép (táo) để chiết bỏ cái Thổ khí của Thái âm, dùng phép "ôn" đề chiết bỏ cái hàn khí của Thái dương. Tất cả sáu khí, cùng theo một nghĩa như vậy.
- Phàm những năm thuộc về Thái dương Tư thiên, vận khí đều thuộc thải quả, cho nên phải nén bỏ cái khí "râm thăng”. mà nâng đỡ cái "sở bất thắng" lên. Như về năm Thái giác (năm Nhâm), phong Mộc "râm thăng” thì Thỏ sẽ bị chết. Vậy phải chèn bỏ cái thăng của phong Mộc xuống, mà nàng đỡ cái bất thẳng là Thổ lên, Lại như về năm Thái chủy (năm Mậu), Hỏa vận thái quá, thì Kim khí sẽ bị chế. Vậy phải chèn bớt bỏ cái thái quá của Hỏa, tà nâng dỡ cái bất thắng của Kim lên. Đó tức là: "làm cho hòa cái vận, điều cải hóa, đừng để quá bạo, khiển dân sinh bệnh v.v,". Về dưới đây, các năm thuộc Thiếu dương, Thiếu ám... cũng một nghĩa như vậy. tÈÙ “Tuế cốc..." tức là thứ lúa sản xuất giữa năm ấy... Như trên nói sắc lủa "huyền, kiềm...” ăn nó để giữ cho hoàn toàn cái khí nguyên chân của trời đất. "Hư tả..." tức là cái gián khí phải thắng. Như cái năm Thái dương Tư thiên, "sơ chỉ khí" là Thiếu dương tướng hỏa, mà khí hàn lại thăng được. Vậy là hàn tà đã râm thắng được sơ khí đó. "Nhị chỉ khí" là Dương mỉnh táo Kim, mà nhiệt lại thắng được. Vậy là nhiệt tà đã dám chế được nhị khí đó. "Tứ chỉ khí” là Quyết âm phong mộc mà thanh lại thắng được. Vậy là táo tà đã chế thắng tứ khí đó. "Ngũ chỉ khí" là Thiếu âm quân hỏa, mà hàn lại thắng được. Vậy là hản tả đã chế thăng được neũ khí đó. Đỏ gọi là "tứ úy” (bốn cái sợ), phải xét cho cẩn thận.
- Đây nói về cái khí của năm vận, với cái khí Tư thiên, Tại toàn, đều có đòng (cùng) dị (khác) (hai chữ này dùng nguyên âm cho tiện), mà cái khi vị nhiều. ít cùng đều cỏ "sở chủ”. "Đông hàn, thấp v.v." tức là nói về những năm Thải vũ (Bính), Thái cùng (Giáp) chủ vận. thế là với cái khí hàn thấp của Tư thiên, Tại toàn tương dồng, nên phải dùng nhiều vị táo, nhiệt đề chế hóa. tức là dùng táo để chế thấp, mà nhiệt để hóa hàn. Lại như những nãm Thái chủy (Mậu) Thái sắc (Nhâm), Thái vũ (Thủy) chủ vận, thế là với cái khí hàn thấp đều dị, lại chỉ nền ít dùng cát khí táo thấp để làm cho hóa. Tức là dùng khí thấp để nhuận lại cái khí táo nhiệt; dùng táo để chế cái tà của phong mộc. Đồng thời khí thịnh nên phải dùng nhiều; đị thời khí cô (trơ trọi một mình) nên phải dùng ít.
- Đây nói về cái khí Tư thiên, Tại toàn và gián khí Gia lâm, đều có sự thích nghi vẻ hàn, nhiệt, ôn, lương, mà lại cân không nên phạm. Như Thái dương Tư thiên, nên dùng nhiệt đề làm cho ôn; mà "sơ chỉ khí" lại là Thiểu đương tướng hỏa dụng sự, vậy cần phải lánh xa cái nhiệt của Thiếu dương đã, rôi sau mới được dùng đến nhiệt. Lại như Thiếu âm Tại toàn, lẽ nên dùng hàn để làm cho "thanh" đi, mà “tử chí khí” lại gặp Thái dương hàn thủy dụng sự, vậy cần phải lánh xa cái hàn của Thái dương đã, rồi sau mới được dùng đến hàn. "Ôn với lương" củng một nghĩa như vậy. "Nếu giả thì làm trái lại v.v." là nói về nếu tà khí phân thăng, thì lại không cần phải theo đúng cái nguyên tắc "xa hàn, xa nhiệt nữa. Như: Thái dương hàn thủy Tư thiên, "sơ chỉ khí" là Thiếu dương tướng hôa, thế mà thiên khí lại hàn; như thế thì cử dùng nhiệt ngay, mà không cần phải lánh xa thời kỳ nhiệt của Thiếu dương nữa. Như Thiếu âm quân hỏa Tại toàn. "tứ chỉ khí" là Thái dương hàn thủy, thế mà thiên khí lại nhiệt. Như thế thì cử dùng hàn ngay mà không cân phải lánh xa cái thời kỳ hàn của Thái dương nữa. Dó tức bảo là "thiên khí trái với thời, thì cử dựa theo thời" vậy. khó Mão, Dậu chủ về tuế ván bất cập, nên phàm Tư thiên, Tại toàn, chủ khí, khách khí, dều sau thiên thời mới đến.
- Dương minh Tư thiên thì Thiếu âm Tại toản. Vì Kim lệnh ở trên. nên thiên khí kính cấp (cứng gấp, hanh hái, se khô...); vì quần hòa ở dưới, nên khí đất quang minh (sáng sủa,
- Dương minh ở trên, quân hỏa ở dưới, nên dương nhiệt thịnh mà mọi vật táo kiền (khô ráo và cứng rắn.
- Cái "sơ Khí" chủ thời là Quyết âm phong mộc. Phàm thuộc về những năm thải quả, khách khí thịnh nên phần nhiều theo về khách; những năm bất cập, khách khí nhược nên kiêm theo chủ khí, vậy nên "thuần phong mới trị", tức là theo cái hóa của "sơ Khí" là phong mộc vậy. Dương minh táo Kim Tư thiên, Quyết ám phong mộc chủ khí, cho nên “phong táo ngang cùng vận”. Ngang. tức là cái khí chủ khách, cùng đọc ngang với nhau, “tràn tới khí giao v.v.", Khí giao, tức là một thứ khí "chung" (cuối, hết), ở nửa năm về trước, mà giao với nửa năm về sau. Chú và khách của "nhị khí” là hai thứ hỏa quản, tướng; chủ và khách của "tam khí" là Dương minh, Thiếu dương, cho nên nhiêu dương Ít âm. “Mây theo mưa xuống v.v." là nói về cái thấp khí của thấp Thổ bốc lên làm mây, khi trời giáng xuống mà thành mưa. Bởi "tử chỉ khí” do Thái âm thắp Thổ chủ khí, Thái dương hàn Thủy gia lâm, nên mới nói: “mây theo mưa xuống, thấp hóa sinh ra v,v.". Tảo kim Tư thiên. cuối cùng (chung) là "tam chỉ khí" mà giao với "tứ khí” là hản Thủy thấp Thỗ, vì thế nên táo cực mà lại nhuận, “ Do càm cái khí Tư thiên, Tại toàn mà thành thục, tức là tuế cốc. Quang minh, thanh. thiệt là cái chính của Kim; cấp bạo là cái lệnh của Hỏa. Vì quân hỏa Tại toàn, nên loài chập trùng không ân nắp và nước chảy không thành băng... "Cuống họng nghẽn v.v." đều là những chứng bệnh cam khí táo nhiệt mà sinh ra.
- Trước thanh (mát mẻ) mà rồi mới "kính" (cứng rắn)... là nói về cái khí Tư thiên thịnh về nửa năm về trước; "trước nhiệt rồi mới bạo v.v." lả nói về cải khí Tại toàn, nên về nửa năm về sau. "Loài mao trùng chết v.v. là nói về cái sự "thắng, chế" của Tư thiên. Tại toàn mà chết. Cho nên cậu: "Đều có thăng, đều có chế, đều có sinh thành, đều có thăng chế v.v.” là nói vẻ cái thăng của năm vận. có thê chế được sáu khí; mà cái thắng Của sáu khí, lại có thể chế được năm vận. Nếu bị chế thì không còn sinh, dục và có khi chết nữa là khác. Nhưng ở thiên này, chỉ về đoạn nói vẻ kinh Dương minh mới ghi bốn cảu đó, mà các đoạn ở các kinh khác thì không... Đó là muốn cho kẻ hậu học biết vận khí lẫn cùng chế thăng, rồi tỉ loại mà Sự ra các kinh khác vậy, '“® Cái Khí của Dương minh và Thiếu âm đều chủ về sự "táo", cho nên phát ra chứng tảo (như tảo cấp, phiên táo v.v...). Như Hòa thăng Kim, nếu ở nửa năm về trước, thì Thủy sẽ báo phục Hỏa ở nửa năm về sau... Vì Vậy sự "thắng và phục” phát sinh. mà cái khí của tuế thì đo đó thành ra đại loạn. “Khí giao” tức là cải khí Tư thiên, Tại toàn trên dưới cùng giao với nhau. CÔ Khí đất đối v.v.” là nói về: chung khí Tại toàn từ năm trước, đổi giao với cái "sơ khí" của năm nay. (Mấy đoạn về sau cùng một nghĩa như vậy). Cái khách khí về tuế sơ những năm Mão. Dậu là Thái âm thấp Thỏ, cho nên "âm ngừng” mà “võ hóa", Âm ngừng ở ngoài thì đương uất ở trong, cho nên dân mới mắc các bệnh nhiệt trướng... Mặt phù thũng, hay ngủ v.v... là những bệnh gây nên bởi thấp Thõ. "Cầu nục v.v." là những bệnh đo khí của phong mộc gây nên.
- Chú và khách của “nhị chỉ khí", là hai thứ hỏa quân, tướng. Dương khí đã được tán bỗ, nên dân mới dễ chịu; mọi vật được sinh trưởng và tốt tươi. "Dịch lệ đến, dân hay bạo tử v.v." là do hai Hỏa cùng giao nhau mà thần lại lân lên trên quân vị mà gây nên.
- Cái Kim khí Tư thiên gia lâm, cho nên “thiên chính bế". "Tam chỉ chủ khí" là Thiếu dương tướng hòa, cho nên táo với nhiệt giao hợp. "Tam chi chung khí" mà giao với hàn Thủy thấp Thô của tứ khí, cho nên táo cực ' mà sỉnh thấp; táo, thấp, thủy, hỏa, bốn khí đó cùng giao với nhau, nên dân mặc chứng hản, nhiệt.
- Về gia lâm của "Tử chỉ khí..." khách khi là Thái dương hàn thủy, chủ khí là Thái âm thấp Thỗ, cho nên hàn võ xuỗng. Nửa năm trở về sau, do Thiếu âm quân hỏa chủ khí, lại bị khí hàn thấp nó tương gia (cùng lấn lên, cho nên đân mắc các chứng run rây, nói mê v.v. đều bởi hản thủy ngưng ở bên ngoài, Hỏa uất ở bên trong mà sinh ra.
- Quyết âm phong mộc gia lâm lên ngũ khí, cho nên xuân lệnh lại lưu hành... Loài cỏ được sinh khí nên lại tốt tươi; cái uất của Thiếu âm nhờ ở Mộc khí mà thư xướng, điều đạt, cho nên đân khí hòa. f Cái khí của Thiếu âm quân hỏa, gia lâm lên Chung khí, cho nên cải Dương khí Tại toàn, được đễ thư xướng tán bố, mà cái tiết hậu mùa đông trở lại ôn noãn. Cho nên loài chập trùng (loài sâu nằm kín trong hang, trong õ) không ấn nắp, mà nước không thành băng. Địa khí được thư xướng, cho nên đân mới an khang. Nếu có tai sảnh xảy ra sẽ là bệnh ôn, tức là Đông ôn. Bệnh này với thương hàn khác nhau rất xa.
- =Tuế cốc" tức là một thứ lúa cảm thụ khí Tư thiên, Tại toàn mà sinh ra. "Giản cốc" tức là một thứ lúa cảm cái gián khí của trời đất mà sinh ra.
- Nên dùng vị hàn, để thanh cái nhiệt của quân hỏa; nên dùng vị tân, đề nhuần cái tảo của Dương minh; nên dùng vị khổ để tiết bỏ cái Hỏa uất ở trong. Dùng phép phát hãn đê giải bỏ cái hàn ở ngoài biểu; dùng phép thanh đẻ tiêu giải cái tả lọt vào trong; dùng phép tán để giải bỏ cái khí Đông ôn.
- Vì vận khí bất cập nên phải lâm cho yên, đừng đề tà thắng.
- Chiết bỏ cái khí Tư thiên, Tại toàn để giúp cho cái hóa nguyên của năm vận.
- Dùng hàn đề làm cho thanh cái hỏa nhiệt Tại toàn; dùng nhiệt để chế cái tảo Kim Tư thiên. Nếu "đồng" thì dùng nhiều; nếu "dị" thì dùng ít. Vậy phải xét sự khinh trọng của hàn nhiệt, để chế hoặc nhiều hoặc ít. Như: Những vận thuộc vẻ Thiếu chủy, Thiếu giác, cùng với các nhiệt của Thiếu âm. nên lấy nhiều cái khí thanh lương do thiên hóa đề chế lại; những vận thuộc về Thiếu dương, Thiếu cung, Thiếu vĩ... cùng một cái thanh của Dương minh, _ nên lấy nhiều cái khí hỏa nhiệt do địa hóa để chế lại. (Thiên hóa tức là khí thanh lương của táo Kim; địa hóa tức là khí hỏa nhiệt Tại toàn.
- #5) Cái khí thanh lương của Dương minh Tư thiên, lẽ tất nhiên là nên dùng ôn nhiệt rồi. Nếu "Nhị chi khí" lại là hai thứ hỏa quân, tướng, thì lại phải cách xa thời kỳ đó 60 ngày, mới có thê dùng ôn nhiệt; cái khí Thiếu âm quân hỏa Tại toản, lẽ tất nhiên là nên dùng hàn lương rồi. Nếu chủ khách của "tứ chỉ khí" lại là hàn thủy, thấp thô... thì lại phải xa thời kỳ đó 60 ngảy, mới có thể dùng hàn lương... “Có giả v.v." là nói về cái khí hàn, nhiệt, ôn, lương của bốn mùa, không phải là Tư thiên, Tại toản, với cái chính khí của Gián khí, lại cần phải "trái ngược lại" để điều trị. Đó là cái phương pháp làm cho điêu hòa thiên, địa, âm, dương vậy. Nếu làm trái phương pháp đó, sẽ làm loạn mất sự kinh thường của Tư thiên, Tại toàn và rỗi mất "kỳ bộ" của âm dương, gián khí...
- Những năm Dần, Thân chủ về thái quá. Sảu khí đều trước thiên thời mà đến.
- “Thiên khí chính", là nói về: Thiếu dương Tư thiên. mà khí hóa lại lưu hành ở trong khoảng "khí giao"; bởi vì “Nhị âm, Tam dương" ở dưới, cho nên dẫu chủ về Tư thiên. mà khí dẫn xuống ở khoảng giữa (trung). Tiết dưới "Quyết âm Tư thiên", mà ghi là “địa khí chính"... Đó là nói cải khí Thiếu dương Tại toàn, mà cũng lưu hành ở khoảng trung, vì Thiếu dương là “trung kiên" của Quyết âm, nên mới như vậy.
- Quyết âm Tại toàn, nên địa khí nhiễu (nhiễu, tức là nhiễm loạn, do sự hành động của phong) cây đõ, cát bay v.v. Do sự hành động của phong và hỏa. Khí của Quyết âm, thượng hành để theo sự hóa của Thiếu dương, nên “mưa thường xuống". Bởi hai khí của Thiếu dương lưu hành đến đâu là sinh ra hỏa: đo hỏa sinh ra oI bức; do oi bức sinh ra mưa, đỏ là lẽ thường của đức hóa.
- 49) nghiệm” là chính của hỏa, “nhiễu” là lệnh của phong.
- "Phong nhiệt cùng tán bố v.v," là đo cái khí của Thiếu dương Quyết âm, cùng tham hợp với nhau, để cùng tán bố vảo trong khí giao... "Mây khói tung bay v.v." là đo địa khí bốc lên; “Thái âm tràn lan v.v." tức là bởi sự oi bức nâu nung, rồi biến thành mưa.
- Cái khí phong nhiệt ở ngoài, thì cái khí hàn thấp ở trong, vì thế nên bên ngoài thi sinh mụn lở, mà bên:rong thì sinh chứng hàn trung tiết, mãn. Thánh nhân gặp trường hợp đó biết làm cho điều hòa hai khi hàn nhiệt, không để cho trong ngoài giao tranh. "Vãng phục" tức là ra vào. Như khí ở trong ngoài đồng thì vãng: phục thì sẽ phát sinh ra chứng ngược hàn, nhiệt; các chứng tiết tùng, âu, thô... là đo cái khí phong nhiệt lắn ở bên trong; "mặt sưng và sắc biến v.v." là đo cái khí hàn thấp phạm ở bên ngoài.
- suy chỉ gián khí" là Thiễu âm quân hỏa, chủ khí là Quyết âm phong mộc. Vì vậy nên phong mới động giao, khí âm và có cây sinh trường v.v. Thiếu dương Tư thiên mà lại gặp quân hỏa chủ khí, cho nên dù có thời khí là "hản" đưa đến, mà cũng không thể giảm bớt được sức ôn nhiệt của "nhị hỏa". Các chứng "huyết giật v.v." Đều do phong hỏa gây nên.
- “Nhị chỉ khách khí" là Thái âm thấp thô, vì thế nên cái hỏa khí của Tư thiên lại bị uất. "Bụi bay v.v." đều do cái hòa của chủ khí là thấp thô gây nên. Quyết âm phong khí dù theo Thiếu dương, mà cũng không thể thăng được khí "võ thấp"; vì phong hỏa khí thịnh, lại được cái khí âm thấp để hòa hợp thêm vào, cho nên dẫn dù an khang, mà tai sảnh thời sẽ phát ra các chứng nhiệt uất v.v.
- Cái khí Tư thiên, thượng lâm lên Tam khí, cho nên "thiên chính mới tắn bỗ"; cái khí chủ thời, cũng thuộc Thiếu dương, cho nền viên hỏa đến, Vì Thái âm hoành lưu nên “mưu sẽ tràn". Dân bệnh. Nhiệt trung v.v... đều do cảm cái khí phong hỏa mà sinh ra.
- Gián khí gia lâm, lại là cái khí thanh hương của Dương minh, cho nên khí mát đến, bạch lô xuống: cái hỏa của Thiếu dương, cùng với cải khí phong nhiệt, cùng giao nhau ở trong khí giao, cho nên “viêm, thử giản hóa (khí viêm, khí thử cùng biến hóa xen lẫn nhau). Phong nhiệt chủ tuế, mà lại #ặp thanh lương như vậy, nên dân khí hòa bình. Còn bệnh mãn v.v. là do cảm cái khí thấp Thô của chủ hời mà sinh ra.
- “Ngũ chỉ gián khí" là Thái dương hàn thủy, cho nên "dương nhiệt rút lui mà khí hàn đưa lại". Vì khoảng hai mùa thu, đêng giao nhau, mà thị hành cái chính sách bế Tàng của Đông lệnh, cho nên "khí môn mới đóng, (tức là siữ kín cái thân thể). Giữ gìn kín đáo để lánh hàn tà. Phàm gọi là thánh nhân quân tử v.v, là có ý tỏ ra rằng: Các bực kiến thức biết theo thời để điều dưỡng, cho khí trong mình được hòa, dù có gặp thời tiết độc dữ cũng không sinh tật bệnh.
- Quyết âm phong mộc chủ về “chung khí", cho nên phong mới đến (tức là thời kỳ đó hay có gió to). "Địa khí chính v.v." là bởi Quyết âm đo trung kiến cái hóa của Thiếu dương mà nên; muôn vật gặp được "sinh khí" mà lại sinh trưởng, địa khí không thăng lên, nên mây khói mới lưu hảnh. Do đái thời kỳ bế Tàng mà lại thi hành cái lệnh phát sinh, cho nên phát các chứng quan bế v.v. (Quan bễ nghĩa đen là đóng cửa, nói về một chứng bệnh bị nghẽn tắc ở vị quản, ăn vào lại thô ra...); "Tâm thống" là đo Thận khí phạm ngược lên Tâm mà sinh ra. Phế chủ khí mà Thận là cái gốc sinh khí, cho nên Thận là gốc mà Phế là ngọn. Dương khí đến mùa đông thì về "tàng" (ấn nắp) ở Thận Tàng, giờ khí đó lại ngược phạm lên Phế, nên thành bệnh khái (ho.
- Vận khí thái quá nên cân phải nén xuống, "sở bất thắng", như năm Nhâm, Giác (thái giác) vận thái quá thì Thả khí bất thắng: năm Mậu hỏa vận thái quá, thi Kim khí bất thăng: cho nên phải nén bớt cát thái quá, đề giúp thêm cho cái "sở bất thắng”. "Chiết bỏ cái uất khí v.v." Như những năm Canh Dân, Canh Thân, Thiếu dương Tư thiên, thì Thương vận (tức là Kim) sẽ bị uất; những năm Giáp Dẫn, Giáp Thân, Quyết âm Tại toàn, thì cung vận (tức là Thổ sẽ bị uất. Vậy nên chiết bỏ cái khí gây nên uất, Trước lây ở cái hóa nguyên của hai vận, chiết bỏ cái thái quá, để giúp thêm cho cái "sở bất thắng", nên "bạo vận" không thể sinh ra mà bệnh độc cũng không khởi lên được. "Bạo..." tức là nói về cái vận khí của những năm Thái cung, Thái dương chủ về thái quá, mà lại bị uất, nên phát ra quá bạo và gây thành bệnh nặng.
- Ở trên: Thái dương Tư thiên, Thái âm Tại toàn, thì nói trước "dùng hàn nên xa thời kỳ hàn v,v."; đến Thiếu dương Tư thiên, Quyết âm Tại toàn, thì nói trước: "dùng nhiệt xa thời kỳ nhiệt v.v.". Đó là nói về phàm được, thực thuộc về tuế vận hàn hay nhiệt, nên xa lánh cái khí Tư thiên, Tại toàn đó.
- Thái âm Tư thiên, hàn thủy Tại toàn, cho nên Âm khí chuyên chinh, mà Dương khí rút lui. Thổ lệnh bất cập, phong lại thắng được, cái khí hàn thấp của trời đất hỗ giao với nhau nền đồng ruộng khói tỏa, bụi trắng tung bay... "Dân bệnh v.v." đều cảm cái khí hàn thấp mà gây nên.
- Thấp khí của Thái âm ngưng ở trên, hàn khí của Thái dương tích ở dưới. Hàn Thủy thắng Hóa, nên mới gây nên băng, bộc. Dương khí ở trên, bị âm ngưng nó thăng, nền cái khí túc sái mới lưu hành.
- Đây nói vẻ thổ địa của năm phương đều có cao, thấp, hậu, bạc khác nhau. Cho nên tuế khí hữu dư thì thổ địa nên cao, hậu; tuế khí bất cập thì thổ địa nên t hạ (thấp thũng). Bởi cái khí thải quá thì nên hoãn, cái khí bất cập thì nên trước; địa thô cao hậu thì khí tiết ra hoãn; thô địa tí hạ thì khí dễ thăng lên; khí hữu dư thì nền đến chậm, khí bắt cập thì nên đến sớm... Đó là “địa lợi có cao hạ, khí đến có sớm muộn, mà dân khí cũng theo đó" vậy.
- Chủ, khách của "sơ" đều là phong khí. Vậy nên địa khí của nãm trước thay đối, cái hàn của Đông lệnh mới thay đổi; mà xuân khí chính, gió mới tới, muôn vật mới tốt tươi v.v. Các chứng bệnh huyết giật... đều đo khí của phong thấp gây nền.
- Chủ, khách của "nhỉ..." là hai thứ hỏa quân, tướng, cho nên hỏa mới thịnh. Vì Hỏa Thổ hợp đức, nên vật loại mới sinh hóa v.v.
- Cặi khí Tư thiên "lâm" lên tam khí, mà khí hàn thấp thì "lâm" ở khí giao.
- “Tự chỉ khách khí", là Thiếu dương tướng hỏa; hàn thùy Tại toàn, cho nên sợ Hỏa nó gia lâm; "tứ chỉ chủ khí" là Thái âm thấp thổ: thấp với nhiệt cùng hợp, thì hơi nóng nung nấu mà khí đất bốc lên; cái khí âm thấp với Hỏa khí không tương hợp, nên thiên khí bĩ cách; thấp hỏa không lưu hành được xuống dưới, nên bạch lộ âm bố mà thành thu lệnh. Các chứng bệnh phát sinh v.v. đều do ba khí hàn, thấp, nhiệt lẫn lộn dồn đến mà sinh ra.
- Chủ khách của "Ngũ..." đều là cái khí thanh lương của Dương minh, cho nên tiết hậu hản lãnh.
- Chủ khách của "Chung..." là khí hàn thủy Tại toàn, cho nên hàn khí đại cử (rét nhiều); cái khí hàn thấp, trên dưới cùng giao, nên thấp khí đại hóa...
- Tuế vận bất cập, nên phải giúp thêm; "Tà khí" tức là cái khí mình "sở bất thắng. Khô là Vị của Hỏa, cho nên có thê táo được thắp và ôn được hàn.
- Về những năm thái quá, khí, vận đều trước thiên thời mà đến. Táo kim Tại toản, nên địa khí nghiêm khắc; quân hỏa Tư thiên, nên thiên khí quang minh. Chung khí của năm trước là Thiếu dương tướng hỏa; sơ khí của năm nay là Thái dương hàn thủy, vậy là hàn giao với thử; mà những khí Thúy, Hỏa, hàn, nhiệt, cùng lẫn lộn ở trong khí giao, nên mới bắt đầu sinh ra tật bệnh. s ®*' Các chứng khái, suyễn, thũng thượng v.v... đó là nhiệt bệnh sinh ra ở bộ phận trên; các chứng huyết tiết v.v... đó là thanh (cũng như lãnh hoặc hàn) bệnh sinh ra ở bộ phận dưới; các chứng vào Vị, Tâm thống v.v... là đo hàn nhiệt giao tranh ở bên trong.
- Sơ chỉ khí là Thái dương hàn thủy, cho nên cái khi táo nhiệt ở năm trước sắp hết, mà mới bắt đầu hàn và chập trùng lại ân nắp, băng sương lại kết... Sơ chí khí là Quyết âm phong mộc, cho nên "phong mới đến”: cái khí R dương xuân đã bị uất, mà dân lại kín đáo; Thái dương chủ cân, mà là Phủ của Thận, nén quan tiết và yêu chùy thông. Thời kỳ đó, giao tiếp với hai khí quân hỏa, cho nên "viêm, thừ đến.
- Nhị chí chủ khí, hợp với Tư thiên quân hỏa, mà khách khí lại là Quyết âm phong mộc, cho nên "dương khí tán bố" và thường có giỏ.
- Tam chỉ chủ khí là quân hỏa, tướng hỏa, cho nên thiên chính bế tán, và đại hỏa lưu hành... Hàn khí ờ dưới thỉnh thoảng đến, nên đân mắc bệnh khí quyết, Tâm thống. Hàn khí phạm lên Phế, nên khái và suyễn... Và bạch quân hỏa bốc lên, nên mặt đỏ.
- “Tự chỉ chủ khí" là thấp thể chủ khí; hàn khí thấp nhiệt giao với nhau nên nỏng bức đến và thường có mưa lớn. Các chứng ách Can, Hoàng đản v.v. đều do khí thấp nhiệt gây nên.
- Ty nữa năm về sau, và cái chủ của khi "ngũ" đều thuộc Dương minh tư lệnh. Giỏ bị Thiếu âm tướng hỏa gia lâm, nên úy (sơ); vì úy khí thượng lâm, cho nên "thử" lại đến, dương mới hóa v.V...
- Chung khí là Dương minh tư lệnh, cho nên táo lệnh lưu hành; cái dư nhiệt của khí giao cách trở ở trong, nền mới thành các chứng khái, suyễn v.v... Hàn thủy chủ thời, cho nên hàn khí đến luôn, hợp ở ngoài bì tấu mà sinh bệnh. Địa chỉ bắt đầu từ Tý, mà sáu khí đối với Tý, Ngọ đã hét, sắp đổi để bàn giao sang năm vị... Cho nên nói: "Địa khí sắp thay đổi.
- Vận khí thái quá, nên cẩn phải nén bớt, để giúp cho cái sở thắng của tuê khí.
- Hạn đo thùy hóa, nên có cái năng lực làm nhuyễn (mềm) được các chất kiên (cứng). dùng để điêu hóa cái quân hỏa ở trên; quá lắm thì dùng vị khổ để phát bỏ hòa uất: Kim khí chủ thâu, cho nên cần dùng vị toan cho thâu để yên bộ phận dưới; quá lắm thì dùng vị khổ cho tiết bỏ bớt khí táo.
- Đằng cái nhiệt khí Tư thiên, thì nên dùng hàn thanh; đông cái thanh lương Tại toàn, thì nền dùng ôn, nhiệt.
- Đây nói về Quyết âm, Thiếu dương tiêu, bản cùng hợp với nhau. Thiếu dương Tư thiên thì thiên khí chính; Thiếu dương Tại toàn thì địa khí chính. Nói Quyết âm cùng với các chính tuế của Thiểu dương. Như Quyết âm Tại toàn, thì cải khí của Quyết âm sẽ cùng với cải vận của Thiếu dương cũng lưu hành; Quyết âm Tư thiên, thời cái khí của Thiếu dương sẽ cùng với cái vận của Quyết âm Tư thiên cùng lưu hành. Cho nên nói: "Phong sinh ra ở nơi cao xa. khí viêm nhiệt nói theo...". Bởi Quyết âm Thiếu dương tiêu, bản cùng hợp, mà Quyết âm lại không theo khí hóa của Thiếu dương. Trong sáu khí, chỉ có hai khí này là tương hợp.
- Vị tính của phong lay động, nên "thiên khí nhiễu"; khí của Thiếu dương vận hành ở trong, nên "địa khí chính” phong khí ở trên trời, nên nói: "Phong sinh ở nơi cao xa” Khí của Thiếu dương trở nên cùng hợp với Quyết âm, nên "viêm nhiệt nối theo" v.v. "Mây theo mưa xuống v.v." là nói theo về sự thăng chế của phong với hỏa; phong với hỏa cùng theo về chính tuế, nên nói là “hợp đúc"; "phục, thắng đổi thay v.v." là nói về khí viêm nhiệt theo lên ở trên, mà lại cùng xen vào ở trong khí giao. "Chập trùng bò ra v.v." là nói về tướng hỏa Tại toàn. Cảm phong khí thì bệnh sinh ở trên, cảm nhiệt khí thì bệnh sinh ở dưới; phong, táo thắng phục cùng lấn nhau, thì hình hiện ra ở trong khí giao,
- Trên đây nói; "Sinh ở trên", "sinh ở dưới" và "sinh ở giữa...” Mà không có đến bệnh. Đó là nói cái khí phong hỏa tràn lan ở trên dưới mà lại hỗ giao ở giữa. Viềm nhiệt theo lên trên, tức là con theo mẹ. "Thăng phục dỗi thay v.v." là nói về cái khí của Quyết ám lại quay về "chính". Cho nên Quyết âm Tại toàn thì địa khí chính. Giờ Quyết âm Tư thiên mà thiên khí cùng chính, nên mới nói là: "Đẳng với các chính tuế.
- Sơ chỉ khí lá Dương minh thanh Kim tư lệnh, cho nên khí hàn mới nghiêm túc mà sải khí mới đến...
- Nhị chí khi là Thái dương hàn thủy, vì vậy nên hàn không dứt. mà sương mới xuống. Nhị chỉ chủ khí là Thiếu âm quân hỏa, mà hàn thủy gia lâm lên trên, cho nên cỏ "đét" ở trên mà đương lại hóa ở dưới. Dân mắc bệnh "trung nhiệt” là vì cái khí quân hỏa, bị khí hàn nó làm "uất" lại ở bên trong mà sinh ra.
- Tam chỉ khí là phong khí của Tư thiên chủ lệnh, nên “thiên chính bố tán...". Dân mắc bệnh "tai ù v.v.", là đo phong bệnh phát sinh ở bộ phận trên.
- Tử chỉ khách khí là Thiếu âm quân hỏa; chủ khí là Thái âm thấp Thổ, vì vậy nên khi nhục thử với thấp nhiệt cùng xen nhau... “Giao tranh ở bên phía trên bên tả v.v..." là nói về Thiếu âm ở bên tả Tư thiên Quyết âm.
- Cái gián khi Tư thiên của Quyết âm, bắt đầu từ Dương minh ở dưới, mà giao lên Thái dương; cái gián khí Tại toàn của Thiếu dương, bắt đầu từ Thiếu âm ở trên, mà giao với Thái âm... Cho nên nói: "Dân mắc bệnh hàn ở phía bên hữm v.v." Tức là nói đo dưới mà lên trên; nói: "Giao tranh ở phía trên bên tả v.v." Tức là đo trên mà xuống dưới.
- Ngũ chỉ khách khí là Thái âm thắp thổ, chủ khí là Dương minh táo Kim, vì vậy nên hai khí táo và thấp thay nhau để "thắng"... Chung chỉ chủ khí là Thái dương hàn thủy, mà tướng hỏa gia lâm ở trên, cho nên "ủy hỏa tư lệnh"; khách thắng chủ, nên Dương khí đại hóa v.v. Cái khí Thiếu dương Tại toàn rất phát triển, loài cây cỏ càm cái khí sinh trưởng mà nảy nở; loài người cảm cái khi ấm áp mà dễ chịu... Về bệnh, mắc bệnh ôn lệ, tức sau gợi là Đông ôn.
- "Hóa nguyên” tức là năm vận. Vì năm vận chính là nguồn sinh hóa của sáu khí... Như về vận Thiếu cung, Quyết âm Tư thiên, thì Thổ khí sẽ bị uất. Về vận Thiếu dương, Thiếu dương Tại toàn, thì Kim khí sẽ bị uất. Cho nên phải chiết bỏ bớt cái khí gây nên uất, để giúp cho hóa nguyên của năm vận. Trở lên, sáu khí tương đồng, tuế vận đều bất cập, cho nên phải nâng đỡ cái vận khí, khiến cái tà "sở bắt thắng" sẽ thắng được... Trở lên tam khí bất cập đều tương đông.
- Tân theo Kim hóa, để điều hòa cải thắng của phong mộc, hàm theo thủy hóa, đề điều hòa cái râm của hỏa nhiệt. Quyết âm không theo tiêu bản, theo cái "hỏa hóa" của Thiếu dương "trung kiến". Thế là trong suốt một năm, đều hỏa tư lệnh. Cho nên cẩn phải sợ cái khí của Hỏa, đừng phạm càn vao no, 83) Đây nói về cái khí Tư thiên, Tại toàn, sáu năm hoàn chuyển, đều có định vị. "Đi có thứ tự" như: Bên hữu Thiếu dương, Dương mính chủ trị; bền hữu Dương minh, Thái dương chủ trị, v.v, Sáu khí chọn một năm, mà sáu năm lại cùng hoàn chuyên. "Ngừng có định vị" là: trên dưới có Vị, tà hữu có kỷ,... Mỗi khí đều chủ sáu mươi ngày có lẻ... "Lấy tháng giêng v.v." là nói về lây Dân làm đầu năm, sóc làm đầu tháng, Dân lại là ngày đầu, để bắt đầu tính về "sơ khí". Đã biết được cái định vị của Tư thiên, Tại toàn tức là đã biết được sáu khí ở đâu rồi.
- màn" tức là hóa vận của sáu khí, như những năm Tí, Ngọ, Dân, Thân, Thìn, Tuất v.v... Sáu khí chủ về hữu dư; cái khí chủ tuế chủ thời, đều trước thiên thời mà đến. "Chính tuế" là nói về cái “kỷ của tuế hội", không thái quá, bất cập, khí ứng đúng với mùa.
- "Không phải khí hóa v.v." Tức lả không phải sự hóa đo vận khi, Tỷ như năm Đinh Mão, Định Dậu, vận của nó là phong, thanh, nhiệt, Phong là khí hóa của Thiếu giác; còn thanh nhiệt là cái khí tiềm phục... Như thể, là không phải khí hóa mà là tai sảnh, (8) "Số của trời đất v.v." chữ "giờ" ở đây là nói về Tư thiên; chữ "đất" ở đây là nói về Tại toàn. "Số bắt đầu khởi từ trên..." là nói: số bãt đầu từ số "một" và khởi từ "thiên nhất", “Chung ở dưới..." là nói về: thiên số bắt đầu từ "một", mà cuối cùng ở "địa lục". "Nửa năm về trước, nửa năm về sau v.v." là nói về cái khí của trời đất, trên dưới đều có định vị. "Khí giao" là nói về cái khí của trời đất trên dưới cùng giao với nhau. "VỊ" tức là cái vị Tư thiên, Tại toàn và tả hữu gián khí; "khí, nguyệt” là nói về mỗi khí đầu làm chú trong một thời gian là hai tháng.
- Đây nói về năm vận, sáu khí, có cái sự thịnh suy, đồng hóa, nên có sự bất hợp, "không hợp với số”, tức là không hợp với cái số của sáu khí. "Khí dụng có nhiêu ít v,v." là nói về cái công dụng của sáu khí có hữu dư và bất túc. “Hóa trị có thịnh suy v.v." là nói về cái hóa của năm vận có thái quá và bất cập. "Phong ôn v.v." là nói về Quyết âm với gia vận đồng hóa. "Thắng với phục v.v." là nói về thắng khí với phục khí, cùng với sáu khí tương đồng. Tỷ như thanh Kim thắng Giác Mộc, cái "thắng khi" lại tức đồng với Dương minh; Viêm hỏa phục thu Kim, cái "phục khí" lại tức là đồng với Thiếu âm. Thiếu dương. Đỏ là sự biến hóa thay đổi do năm vận, sáu khí của trời đất, và cái lẽ thường thịnh suy, nên có khi không hợp. Như khí xuân ôn nhiều, hợp với sự thịnh của xuản hóa, thể là khí với vận đồng sự hóa; như sự ít của sảu khí, hợp với sự thịnh của năm vận; sự suy của năm vận, hợp với sự nhiều của sáu khí... Thế là sự thịnh suy thay đổi có khi không hợp.
- Đây nói thái mà quá đồng địa hóa thời với thiên phù tương đồng: bất cập mà đồng địa hóa thời với tuế hội tương đồng. Ở dưới mà đè lên trên gọi là "gia": ờ trên mà trông xuống dưới gọi lả lâm.
- Nói về: Trong 12 năm thái quá và bất cập đều gọi là Thiên phù, Nhưng tựu trung có biến thành nhiều ít khác nhau. Nhiều, ít tức là sự biến của thái quá và bất cập. Thái quá thì chóng (bạo), bất cập thì chậm (từ. Chóng thì bệnh nặng. chậm thì bệnh nhẹ.
- Đấy nói tông quát trong một năm, có sáu vị ứng (đúng) thời mà khởi. Mỗi vị đều làm chủ 60 ngày linh 87 khắc rưỡi; đều có đủ bến khí hản, nhiệt, ôn, lương... Dều nên xa lánh mà đừng phạm. Như "sơ chỉ khí" thiên khí còn hàn. lẽ nên dùng nhiệt; nhưng "thời" đó gặp Thiểu đương tướng hỏa tư lệnh, lại nên xa lánh một vị đó mà đừng phạm. Như "nhị chỉ khí" thiên khí đã ôn. lẽ nên dùng lương; nhưng "thời" đó pặp Thải dương hàn thủy tư lệnh, lại nên xa lánh một vị đó mà đừng phạm. Phảm sáu khí trong một năm đều như vậy. là Đây chưa nói vệ Tư thiên, Tại toản, với gián khí đều không nên phạm. Như Thiếu âm ở trên, tư khí là nhiệt (chữ tư (ty) là coi, chủ trương, mà muốn dùng nhiệt, thì lại nên xa lánh cải nhiệt của Thiểu âm đó mà đừng phạm. Lại như: Dương minh Tại toản, tư khí là lương, mà muốn dùng lương, thì lại nên xa lánh cái lương của Dương minh đó mà đừng phạm. Các khí khác đêu theo một nguyên tắc như vậy, Lại như gián khí với cái chủ khí của Tư thiên, Tại toàn tương đồng, thì không thể phạm; với chủ khí "dị" thi có thể tiếu phạm. Giả như: Thiếu dương Tư thiên, sơ khí là Thiếu âm quân hỏa. thế là với cải khí Tư thiên tương đông. thì đừng phạm cái nhiệt của nó. Lại như Thiếu âm Tại toàn. mà “tư chì khí" là Thải đương hàn thủy. thể là với chủ khí tương dị. có thễ dùng một ít nhiệt mà tiểu phạm vào nó... Vậy dõ là hàn, nhiệt, ôn lương "tứ ủy", phải xét cẫn thận.
- "Thiên khí trái thởi", như tư khí là nhiệt, mà thiên khí lại lương, thể thì nên theo thời mà dùng ôn; như tư khí là nhiệt, mà khí hàn lại thắng, thế thi lại có thể dùng nhiệt, mà phạm cái nhiệt của chủ khí. Nhưng chì lây khí bình quân làm giới hạn. mà không thể quá dụng. làm thương dễn nguyên chân của tư khi.
- thiên tín" tức là sự "na đúng" của thiên khí, mình đừng có nhậm lẫn mà phạm đến nó; "khí nghỉ" tức là sáu khí đều có cải “sở nghĩ" của nó, ta không nên làm trái nó. Nếu có thẳng khí, thì nên chiết bớt nó đi. dừng đỡ thêm nó lên (như tục ngữ: Nói giáo cho giác), đến như phục khí (cải khí báo phục, khác với chữ phục là tiểm phục), lại nên nén xuống, đừng giúp thêm lên. Chí trị, cũng như thịnh trị, tức là an toàn.
- Chương này với chương trên, đại nghĩa hơi giống nhau. Chương trên lấy Thái dương bắt đầu, để chia thứ tự sáu khí của Tam âm, Tam dương, lẫy giác vận làm "sơ", rôi chia Giác. Chủy, Cung, Thương, Vũ là năm âm. nên niên tuế có chỗ không đều nhau. Nên ở đây. lẫy thiên Can bắt đầu từ Giáp, địa chỉ bắt đầu từ Tý, từ Giáp Tý đến Quý Tỵ, 30 năm làm một kỷ; lại từ Giáp Ngọ đến Quý Hợi, 60 năm làm một chu. Như thể thì tuế vận mới thuận.
- Thiên theo số “nhất'“ sinh ra Thùy, địa theo số “lục” đề hợp thành; địa theo số "nhị" sinh ra Hỏa, thiên theo số "thất" dễ hợp thành; thiển theo số "tam" để sinh ra Mộc, địa theo số "bát" để hợp thành; địa theo SỐ “tử" đẻ sinh ra Kìm, thiên theo số "cửu" để hợp thành; thiên theo số "neũ" đề sinh ra Thổ. địa theo số "thấp" để hợp thành. Thiên Can bắt đầu từ Giáp, địa chỉ bất đâu từ Tý. Cho nên về "số" bắt đâu từ cái "sinh" ra.
- Hóa vận ở vào giữa. Thái quả thì theo vẻ số "thành", bất cập thì theo số về "sinh". Võ do Thô hóa; Thô thường là "sinh”, nên về số là "năm.
- Thuộc về những năm Kỷ Mão, Kỷ Dậu, "Ký" chủ bất cập, nên số chủ về "sinh.
- Không cỏ một sự tà hóa của thắng phục, nên gọi là chính hỏa. "Ngày", vì mỗi vận tỏm chủ một ngày, mà năm vận lại lấy giác vận-làm “sơ”; vũ, võ là cuối, đều chủ 72 ngày có lẻ.
- Đây nói về những thực vị, dược phâm do Tư thiên nên dùng. Bởi về năm thải quá Thô thắng Thủy, cho nên dùng vị hàn đề giúp Thủy.
- Đây nói về những thực vị dược phẩm. trong thời kỳ Thỗ vận nên dùng.
- Đây nói về những thực vị dược phẩm, trong thời kỳ Tại toàn nên dùng.
- #Trên" chỉ về Tư thiên, "dưới" chỉ về Tại toàn, "giữa" chỉ về hóa vận. Vì quân hỏa Tư thiên, cho nên phải dùng hảm hàn để chế hóa; Thái âm thấp thô vận hóa ở giữa, cho nền, nên dùng khô để táo thấp, dùng nhiệt để ồn âm; Dương minh thanh lương Tại toàn, cho nên dùng vị toan để giúp sự thầu, dùng vị nhiệt để ôn bệnh lương... Dó là sự thích nghi của thức ăn và thuốc uống. Dưới đây cũng theo một nghĩa như vậy,
- Về vận bất cập, có thắng, phục. Kìm vận bắt cập thì hỏa nhiệt thắng được. Con của Kim là hàn Thủy lại để phục. Có cái tà khí thắng và phục, cho nên gọi là "tà hóa". Còn về "nhật", là nói cái thắng khí thắng cái 7 ngày của nó sở chủ; mà cái phục khí thì phục 72 ngày nó sở tư, #4) Ất chủ bất cập nên số theo về "sinh.
- Ất vận bắt cập, thì Tư thiên, Tại toàn của những năm Sửu, Vị cũng chủ về bất cập, tức là khí và vận giỗng nhau.
- Vận bất cập, nền số theo về “sinh". Các năm bất cập đều khác nhau theo một nguyễn tắc như vậy.
- Tức là những năm Canh Thìn, Canh Tuất chủ về thái quá, nên số theo vẻ "thành.
- Thấp hóa "ngũ", thanh "tứ", hàn hóa "lục, đều chủ về chính hóa, không có tà khí thắng và phục, khi của năm vận, lại đều chia chủ 72 ngày, cái khi của Tư thiên, Tại toàn đều chủ 60 ngảy có lẻ.
- Đây nói về những thực vị, dược phẩm do Tư thiên nên dùng.
- Đây nói về những thực vị, dược phẩm Kim vận nên dùng.
- Đây nói về những thực vị, dược phẩm Tại toàn nên dùng.
- Kim khí chủ thâu, vậy nên dùng vị toan đề thâu lại. “Hóa”, là nói về cái khí của năm vận, dẫu đều chủ một năm, mà trong mỗi năm, lại có riêng năm vận sinh, trưởng, hóa, thâu, Tàng. Lại nên dùng năm Vị để điều hòa. Cam là vị của Thổ, có thể chế được hàn thủy.
- Hỏa lâm ở trên, thủy theo chế lại, cho nên chủ về bắt cập.
- Vận thái quá, cho nên số theo về "thành". Các năm Thái quá đều theo một nguyên tặc như vậy.
- Tực là những năm Tân Ty, Tân Hợi. Ty, Hợi chủ về bất cập, nên số theo về "sinh,
- Không phải thắng, không phải phục, tức là cái ngây sở hóa của chính khi.
- Đây nỏi về những thực vị, dược phẩm, Tư thiên nên dùng.
- Đây nói về những thực vị, dược phẩm, thùy vận nên dùng. liệu Đây nói về những thực vị, dược phẩm, Tại toàn nên dùng.
- Thùy vận chủ về hàm, mà lấy vị hàm để giủp thêm. Cái hóa vận sau đây, phần nhiều dùng những Vị đề hòa, giúp. Tức là theo nguyên tắc "chiết bớt uất khí, giúp thêm hóa nguyên" vậy. 4 Về năm Ủy hòa, Thượng thương với chính thương tương đông, cho nên chủ về số "thành". Bởi Mộc vận bất cập, Kim khí thắng được, giờ lại táo hỏa lâm ở trên, thì Kim khí lại càng thịnh.
- Đây nói về Mộc vận bất cập, nên chủ về sỐ "sinh, 22) Đây tức là những năm Nhâm Tý, Nhâm Ngọ. Tý, Ngọ chủ vẻ thái quá, niên số theo về "thành, 33) Đây tức là cái ngày sở hóa của chính khí.
- Đây tức là những thực vị, dược phẩm do Tư thiên nên dùng.
- Đây tức là những thực vị, được phâm, những năm Mộc vận nên dùng.
- Dây tức là những thực vị, dược phẩm do Tại toàn nên dùng.
- Thìn, Tuất chủ về thái quá, nên số theo về "thành.
- Đây nói về Hòa vận, Mậu Thìn đối hóa theo số (7), Mậu Tuất chính hóa theo số (.
- Tức là những năm Quý Sửu, Quý Vị (Mùi). Sửu và Vị chủ về bất cập, cho nên theo về số "sinh.
- Tực là những ngày hóa của chính khí.
- Nhân thắng mà phục. Cái ngày tà khí sở hóa.
- Tỷ, Hợi chủ về bắt cập, nên theo về số "sinh.
- Đây nói là Thổ vận.
- Tực là những năm Mậu Dẫn, Mậu Thân, đều chủ về thái quá nên theo về số "thành.
- Tý, Ngọ chủ về thái quá, cho nên theo về số “thành.
- Kim vận thái quá. Kim vận về năm Canh Ngọ, cũng theo số vẻ số "sinh” của chính hóa, chủ thanh hóa “tứ”; năm Canh Tỷ cũng theo đối hóa thành số, chủ về thanh hóa "cửu.
- Tực là những năm Ất Mão, Át Dậu.
- Nhân thắng mà phục, đó là cái ngày tà khí sở hóa.
- Sừm, Vị (Mùi) chủ về bất cập, nên theo về số "sinh.
- Ở hóa vận chủ về bất cập. nên theo về số “sinh. Ở Tại toàn. thuộc về những năm Binh Thìn, Bính Tuất. Thìn, Tuất thuộc về thủy của Thái dương, hợp với hỏa vận của Bính mới sinh, nên theo số "một.
- Những năm Nhâm Thân, Nhầm Dần là đòng Thiên phù, cho nên theo về "sinh" số. Ở trung vận, chủ giác hỏa thải quá, cho nên số theo về “thành”; ở Tại toàn. tức là những năm Dinh Ty, Định Hợi.
- Thìn, Tuất chủ về thái quá, nên theo về số "thành.
- Thỏ thắng, mà không thắng Thủy, đó là năm thuộc về tuế hội, tức là khí bình. Nên không có thắng và phục.
- Sửu, Mùi chủ về bất cập, nên số theo về "sinh, 33) Về năm Tùng cách, Thượng giác với chính giác đồng, nên số chủ về "thành". Bởi Kim vận bất cập. sinh khi thuộc dương, mà lại trên lầm với Tư thiên, thì khí sẽ rất thịnh, bu Đây nói về Kim vận, Ất Hợi, thanh hỏa, bốn; Ất Ty, thanh hóa, chín.
- Tức là Canh Dần, Canh Thân.
- Ở đây. nên chủ về số "thành", có lẽ sách cỗ bị khuyết.
- Ta tự ở trên, Thủy theo chế lại, cho nên chủ bất cập.
- Đây nói về Thủy vận thái quá, nên theo về số "thành.
- Tức là những năm Tân Mão, Tân Dậu. Mão, Dậu chủ về bất cập, nên số theo về "sinh, 3” Thanh thì thắng mà nhiệt thì phục.
- Sửu, Mùi chủ bất cập, nên theo số "sinh.
- Đây là Mộc vận bất cập.
- Tức là những năm Nhấm Thìn và Nhâm Tuất, Cái thủy của Thìn, Tuất hợp với hành thủy mà mới sinh. cho nên theo số “một” (nhất.
- Cái Thủy do "thiên nhất" sinh ra, gọi là "thiên quý”. Nhưng cái Thủy của Thái dương, chí hợp với hóa khí của Bính, mà không hợp với Tân. Quý. Bởi Tân với Bính đã hợp, và Nhâm với Quý đã hợp rồi. Nghê Trọng Tuyền nói: Hàn thủy Tại toàn, Thô chế ở trên, cho nên chủ bất cập.
- Dần, Thân, Thái chủy... Đều chủ về Hỏa vận thái quá, nên theo số "thành". Án: Đây nói về Tư thiên và nói rõ về Thiên phù. Tư thiên với vận hợp, cho nên chỉ nói "Hỏa hóa thất", vì đó tức là vận khí của Thái chủy. Nếu là cái khí của Thiếu dương Tư thiên, thì Mậu Dần hỏa hóa hai. Mậu Thân hòa hóa bảy... Tức là những năm Quý Tỵ, Quý Hợi. Ty, Hợi chủ về bất cập, nên theo về số "sinh". Mộc thì thắng mà Kim thì phục. CÉ*? Kim bất cập mà Thô vận sinh ra. Cho nền khi thịnh. Đ$? Dây nói về Thổ vận. Tức là những năm Giáp Tý, Giáp Ngọ. Tý, Ngọ chủ về thải quá. nền theo số "thành. 8 Thả chế Thủy, nên chủ bất cập. Kim vận thái quả nên theo số "thành". Tức là những năm Át Sửu. Ất Mùi. Sửu, Vị chủ về bất cập, nên theo về số "sinh", Tỵ, Hợi chủ bắt cập, nên theo về số "sinh. 063! Thủy vận bất cập, nền cũng theo về số "sình. 55% Tực là những năm Bính Dần, Bính Thân. Dần và Thân chủ về thái quá, cho nên thuộc về số "thành". Bị Nhâm thủy nó chế, cho nên chủ bất cập. (16?) Thủy vận thái quả, nên theo về số "thành. Tức là những năm Đinh Mão, Đinh Dậu. Mão, Dậu chủ bất cập, nên theo về số "sinh, 6) Sửu, Mùi chủ bất cập. nên theo về số "sinh. 8! Hòa vận bất cập, nên cũng theo về số "sinh, 1 Tức là những năm Mậu Thìn, Mậu Tuất. Thủy bị Thổ chế, nên chủ về bất cập. 2? Dẫn, Thân chủ thái quá, nên theo về số "thành. Đây nhằm. nghỉ có khuyết văn. 73) Dây là Thô vận, nên theo về SỐ "sinh. LÝ”) Tức là những năm Kỷ Tỵ, Kỷ Hợi. Thượng giác với chính giác đồng, nên chủ về số "thành, Ủ? Mão. Dậu chủ về bất cập, nên theo về số "sinh. 2%) Kim vận bất cập. nền theo về số "sinh. tỨẺ Tức là những năm Canh Tý, Canh Ngọ. Đồng với Thiên phù nên thèo về số "sinh.! 3) Thái vũ chủ thái quá, cho nên theo số "thành". Đây là vận với Tư Tư thiên đều là thủy vận, cho nên chỉ nói "hàn hóa lục”, Hàn hóa lục là vận hóa của Thái vũ. Nếu là hóa của Thái dương Tư thiên thì Bính Tuất hàn hóa nhất, Bính Thìn hàn hóa lục.
- Những năm Tân Sửu, Tân Mùi. Sửu, Mùi chủ bất cập, cho nên theo số "sinh". Kỷ Hợi, Thiếu giác đều chủ về Mộc vận bất cập, cho nên theo về số "sinh, #1 Tức là những năm Nhâm Dần, Nhám Thân. Dần, Thân chủ về thái quá. cho nên theo về số "thành.
- Tý, Ngọ, Thái chủy, đều chủ về thái quá, cho nên theo về số "thành.
- Những năm Quý Mão, Quý Dậu. Về kỷ phục minh, thượng thương: với chính thương đồng, cho nên chủ về số "thành". Bởi trưởng khí không tuyên đạt ra được, thâu khí tự giữ chính quyền, mà lại với Mão Dậu cùng hợp, Kim khí sẽ thịnh, nên theo số "chín.
- Sửu, Vị, Thiếu cung đều chủ bắt cập, nên theo về số "sinh, #) Tực là những năm Giáp Thìn, Giáp Tuất, Thể thịnh thì Thủy suy, nên chủ bất cập.
- Dần, Thân chủ thái quá, cho nên theo số "thành, $2 Kim vận thái quá, nên cũng theo số "thành.
- Tực là những năm Át Ty, Ất Hợi. Ty, Hợi chủ bắt cập, nên theo số "sinh, #Ẻ) Hóa của khí thanh lương, Thiếu vũ với Thiếu thương đồng, Cho nên theo số "thành". Bởi Tàng lệnh không phát triển, hóa khí sẽ thịnh. Thổ thịnh, thì Kim sinh, do đó Kim khí sẽ thịnh.
- Thùy vận bất cập, nên theo số "sinh, 03 Tực là những năm Bính Ty, Bính Ngọ. Ty, Ngọ chủ về thái quá, cho nên theo số "thành.
- Thìn, Tuất chủ về thái quá, nên theo số "thành.
- Mộc vận thái quá, nên cũng theo số “thành.
- Tức là những năm Đinh Sửu, Đinh Vị (Mùi). Sửu, Vị chứ bất cập, nên theo số "sinh,
- Thiên Can cuỗi cùng ở Quý, địa chỉ cuối cùng ở Hợi, cho nên theo số "thành.
- Ở hóa vận chủ thiếu chủy, cho nên theo số "hai. Ỡ Tại toàn là Mậu Dần, Mậu Thân, Tuế chủ Thiên phù, nên theo số "sinh, #2 Những "kỷ" định kỳ, tức những thiên Can bắt đầu từ Giáp, địa chỉ bắt đầu từ Tý. Tý với Giáp cùng hợp, 30 năm là một "kỷ"; 60 năm là một "chu". Thắng với phục là những năm bất cập; chính với hóa là những năm "kỷ" thái quá. Đều có cái số kinh thường không thể thay đổi. "Cốt yếu" tức Là sự thịnh suy của âm, đương.
- Đây bàn hóa của năm vận, bị cái "thắng, chế" của Tư thiên và Tại toàn. Uất cực thì phát, để báo phục lại tuế khí, cho nên nói "chiết bỏ uất khí, giúp cho hóa nguyên”. Đó là do tuế khí nó thắng chế được hóa vận, cần phải lấy cái vị sở thắng để chiết bớt nỏ xuống, mà đừng để cho nó uất mà báo phục nữa. Như những năm Đính Mão, Đỉnh Dậu, Thái thương Mộc vận mà thượng lâm Dương minh, thì Mộc khi sẽ bị uất. Những năm Mậu Thìn, Mậu Tuất, Thái chủy hỏa vận mà thượng lâm Thái dương (hàn thủy), thì Hỏa khí sẽ bị uất. Những năm Kỷ Ty, Kỷ Hợi, Thiếu cung Thô vận, mà trên lâm Quyết âm, thì Thổ khí sẽ bị uất. Những năm Canh Tý, Canh Ngọ, Thái dương Kim vận, mà trên lâm Thiếu âm thì Kim khí sẽ bị uất. Những năm Tân Sửu, Tân Vị, Thiếu vũ thủy vận mà trên lâm Thái âm, thi Thủy khí sẽ bị uất, Những năm Canh Dân, Canh Thân, Thái dương Kim vận, mà tướng hỏa Tư thiên thì Kim khí sẽ bị uất. Lại như những năm Át Ty, Át Hợi, Thiền đương Kim vận mà tướng hỏa Tại toàn, thì Kim khí sẽ bị uất; những năm Nhâm Tý, Nhầm Ngọ, Thái giác Mộc vận mà Dương minh Tại toàn, thì Mộc khí sẽ bị uất; những năm Quý Sửu, Quý Vị, Thiểu thủy hỏa vận mà Thái dương Tại toàn, thì Hỏa khí sẽ bị uất; những năm Giáp Dẫn, Giáp Thân, Thái cung Thổ vận mà Quyết âm Tại toản, thì Thổ khi sẽ bị uất; những năm Át Mão, Ất Dậu, Thiếu dương Kim vận mà quản hôa Tại toản thì Kim khí sẽ bị uất; những năm Bính Thìn, Bính Tuất, Thái vũ thủy vận mà Thái âm Tại toàn thì Kim khí sẽ bị uất... Phàm trong mười hai vận đó, có thái, có thiếu, đều bị cái uất của Tư thiên và Tại toàn mà bảo phục... Cho nên nói: "Thái quá thì bạo, bắt cập thì từ....
- Cai vận của năm thái quá bị uất, nó phát ra bạo; cái vận của năm bất cập bị uất, nó phát ra từ... sự khác nhau ở đó, 2 Cái khí "sở sinh" thì "vị" (nhỏ, bé), cho nên chủ về bất cập; cái khí "dĩ thành” (đã thành, nên) thịnh, cho nên chủ thái quá. Thiên theo số "nhất sinh ra hành Thủy, địa theo số "lục" để hợp thành lại; địa theo số "nhị" sinh ta hành Hỏa, thiên theo số "thất" để hợp thanh lại; thiên theo số "tam" đẻ sinh ra hành Mộc, địa theo số "bát" để hợp thành lại, địa theo số "tử" để sinh ra hành Kim, thiên theo số "cửu" đề hợp thành lại; thiên theo số "ngũ" để sinh ra hành Thỏ, địa theo số "thập" để hợp thành lại... Cái khí của năm hành, cảm vẻ "thiên sinh, địa thành” và “địa sinh, thiên thành”. Những điểm có thê nhận biết rành mạch. "Thô thường lả số sinh”, vì vị trí của Thổ ở trung ương, cảm thiên Can mà mới hóa... Mà khí của trời đất đều gốc ở "năm" mà cuối ở "chín"... Đó tức là cái số của Lạc thư. Cho nên nói: Ở khoảng trời đất, không tránh khỏi số "ngũ" (thiên số ngũ, địa số ngũ), mà người cũng Ứng theo đó. Vương Long Khê nói: Năm hành có "khí" lại có "chất" đều phải nhờ ở Thô. Như "thiên nhất sinh Thủy", đó lả cái khí của Thủy, "nhất" được "ngũ mà thành "lục", bẩy giờ cái "chất" của Thủy mới thành. Nghệ Trọng Tuyên nói: Thô vị trí ở trung ương, số là “ngũ” hợp với cái "sinh số" của trời "ngữ" được "ngũ" mà thành "thận". Vậy cái số của trời đất chăng qua chỉ ở trong "Ngũ.
- Đây nói về sự phát tiết do Thổ uất. có những biến tượng hiện ra ở trong khoảng trời đất núi sông; có những triệu chửng phát sinh ra khắp cây cỏ cồn trùng; lại có những tai sảnh sinh ra ở con người, có những sự thay đổi của khí hàn nhiệt... Chỉ xem cái lúc “phát" mà đã có thể biết được cái sự “phục” của nó ra làm sao... Sâm, là khí của Hỏa; "tam chí khi" chủ về Hỏa, "tứ chỉ khí" chủ về Thô. Cho nên sắm vang phát ra ở bên dưới Thỏ. Hỏa với Thô hợp đức, mà phát ra ở trong khoảng tam khí, tứ khí hỗ giao với nhau. "Khí trắng” tức là Kim khí; tức là Thổ được thư xướng mà Kim hóa ra vậy. Các chứng hậu "Tâm, phúc trướng v.v..." đều do cảm Thể khí mà sinh ra,
- Ở đây nói về "năm sự uất phát ra...” cùng với thiên khí giao, nói về "uất phục" không giống. Ở cuối thiên khí giao, cũng tựa với chương trên nói: "Thanh. nhiệt thăng và phục đông”. Vận của nó là phong, thanh và nhiệt. Bởi nhần cái vận chủ tuế, không kịp cái khí “sở thắng", nó thăng rồi, mà "tử khí" lại vì mẫu (me) phục thù... Đó là điểm “tự tương thắng vả phục" của vặn khí. Ở chương nảy nói về "phục tuế", tức như ở đoạn trên nói: "Chiết bỏ khí uất, giúp cho hóa nguyên...". Bởi khí của năm vận ở vào khoảng giữa, trên bị cái thắng của Tư thiên, dưới bị cái chế của Tại toàn, không chia gi thái quá và bất cập, đều phải bị cái "uất mà lại phát”. Cho nền phàm những cái phát ra, tức là cái bản khí "sở uất", chứ không phải là “con vì mẹ báo phục”. Vị vậy "phục khí" với "dân bệnh" đều có điêm không giống nhau. Học giả phải phân biệt cho rõ mới được.
- "Sáng sửa", là cái lệnh của Kim; "gió mát, khí lạnh" là cái khí của Kim, Đó là do cái Kim khí bị uất mà lại phá, chính lệnh lại phát triên thi hành. Khái nghịch v.v... Dều là bệnh của Phế. Về "khí ngũ v.v..." là nói: Phát ra bởi "ngũ chì khí.... Đoạn trên đây nói về mọi hiện tượng phát ra do Kim uất, có khí hóa, có dân bệnh, có thời hậu, có tiên triệu... Về những năm Át, Canh hoặc thái quá mà không chăm ở đức; hoặc thuộc năm bất cập, mà Hỏa thắng, Thủy thắng v.v... thì sẽ uất. Mà uất thì sẽ phát ra các hiện tượng, chứng trạng, biến huyễn như trên, Yêu chùy thuộc về Phủ của Thận; quan tiết v.v... Do bệnh ở cần, “quyết nghịch v.v... Do Dương khí Tàng xuống dưới, khiến cho "trung hàn mà gây nên, "Hai hỏa", tức là quân hỏa chủ "nhị chỉ khí" và tướng hỏa chủ "tam chỉ khí". Khí đó phát ra ở trước sau hai vị quân hỏa và tướng hỏa.
- Các chứng vị quản thông v.v... Bởi Mộc thăng, Thổ bị thương mà sinh ra... "Đau ngang hai hiếp v.v.” là những bệnh phong khí gây nên.
- Vị Hỏa bị uất, nên vừng ô cũng bị ân khuất. Các chứng thương, đương, ung, thũng v.v... đều do hỏa nhiệt thịnh, tinh huyết bị thương mà gây nên "thiểu khi", tức là Hòa làm hại khi. "Mâu muộn" là bệnh ở Phê khi. Hỏa thịnh, tính bị thương, nên hay bạo từ. "Khí cuối..." là nói về: mỗi khí chía chủ 60 ngày, lĩnh 87 khắc rưỡi. Như về cuối "tam khí", mà đại ôn, sắp phát với "tứ chị khí”. "Động cực thì tĩnh, đương cực lại âm v.v..." tức là nói về: Thiếu âm đến đâu là nhiệt bắt đầu sinh mà cuỗi là hàn... Bởi Thiếu âm theo "bán" theo "tiêu". "Thấp lệnh mới hóa mới thành" v.v... Đó là bởi Thiếu dương đến đâu là Hóa bắt đầu sinh, mà cuối cùng là oi bức. "Dương cực lại âm, núi sông băng tuyết v.v... Đó là nói về uất cực. Phong khí lưu hành suốt bốn mùa, nên Mộc phát không có thời kỳ nhất định. Thùy phát ra ở trước và sau hai hỏa quân, tướng, cho nên trên đây nỏi: “Thủy theo Hỏa”...
- Xét ở thời, bệnh có thể dự biết, cũng có thể dự để điều trị. "Lỡ thời”, tức là bò lỡ cái thời "sờ chủ" của ngũ âm, lục khí; “Trái với tuế v.v... tức là trái với tuế khí Tư thiên và Tại toàn...
- Đây nói về cái uất của năm vận, bị sự thăng chế của sáu khi.
- Lục vi chí đại luận nói: Bên hữu Hiên minh là Vị của quân hỏa; bên hữu quân hỏa, Lui đi một bộ, tướng hỏa chủ trị; lại đi một bộ, Thổ khí chủ trị; lại đi một bộ, Kim khí chủ trị; lại đi một bộ, Thủy khí chủ trị; lại đi một bộ, Mộc khí chỉ trị; lại đi một bộ, quân hỏa chủ trị; phía dưới tưởng hỏa, Thủy khí chủ trị; phía dưới Thủy vị, Thô khí "thừa" theo; phía dưới Thô vị, phong khí thừa theo; phía dưới phong vị, Kim khí thừa theo; phía dưới Kim vị, Thủy khí thừa theo; phía dưới quân hỏa, âm tính thừa theo. Đó là sáu khí Ộ đều có định vị, đều có "thừa, chế" ở phía dưới. Cho nên nói: "Xét cả ở phía dưới, mà có thê biết..." tức là xét về sự "thừa chế" của sáu khí ở dưới, thì sẽ thấy: "thủy phát là bộc tuyết, thổ phát là phiều sậu v.v. đều có thể biết được. "Khí có nhiều ít v.v." là nói về cái khí của năm vận có thái quá và bất cập. "Đúng với khí v.v." tức là đúng cái thời kỳ của bản khí mà tự phát; "kiêm cả dưới v.v." tức như: đương "thủy phái” mà lại kiêm cả "phiêu sậu" của Thủy; "Thỏ, phát" mà lại kiêm cả "bộc tuyết của Thủy"; "Mộc phát" mà lại kiểm cá "thanh mình” của Kim; "Kim phát” mà lại kiêm cả "huần, muột của Hỏa v.v... Ở đây, phân biệt về sự "phục" là đo sự uất của sáu khí, chứ không phải là trường hợp tư tương thắng và phục của năm vận.
- »Vi* tức là cái thời "sở chủ" của năm vận. Nói về năm vận phát ra, không đúng với "VỊ" mà phát, đó là vì cái chính lệnh lưu hành không được đúng. Như thủy vị về mùa đông, mà lúc phát lại ở trước hai "Hỏa" là tháng giêng, tháng hai: Thỏ vị về mùa Trường hạ, mà lúc phát ra lại ở vào thời kỳ "tứ khí" là tháng bảy, tháng tắm; Kim vị về mùa thu mà lúc phát ra lại ở vào thời kỳ "ngũ khí" là tháng chín, tháng mười; Hỏa vị ở về mùa hạ, mà lúc phát ra lại ở vào thời kỳ "tứ khí” là tháng bảy, tháng tám v.v... đều phát chậm lại: lĩnh 30 ngày. Vì uất cực rồi mới phát, nên mới cách bản vị như vậy.
- Đây nói về sáu khí của chủ thời, có thái quá bất cập khác nhau. Sáu khí, mỗi khi đều chủ linh 60 ngày. Như cái khí thanh túc lưu hành ở mùa xuân, cái khí viêm nhiệt lưu hành ở mùa thu, cát khí ngưng hàn lưu hành ở mùa hạ, cái khí chưng nhục lưu hành ở mùa đâng... Đó là không phải thời mà hóa. Bởi thải quá, là đúng với thời mà đều "tư" cái khí ôn, lương, hản, nhiệt; bất cập là về "kỷ thắng" tức là theo về cái khí "thắng kỷ", và là cái hóa không phải thời. Chương trên, nói về sự chủ tuế của năm vận, sáu khí mà cỏ thịnh, suy; đây lại nói về sự chủ thời của năm vận, sáu khí mà cũng có thải quá bất cập.
- Đây nói về khí của bốn mùa có thái quá và bất cập. "Sớm muộn” tức là nói về đến trước, đến sau. Thuận thời như: xuân khí đi về bên Tây, hạ khí đi về bên Bắc, thu khí đi về bền Đông, đông khí đi về bên Nam... Nghịch là phản thuận làm nghịch. Xuân khí phát sinh ở phương Đông, nên từ phương Đông mà đi về phương Tây; Hạ khí phát sinh ở phương Nam, nên từ phương Nam mà đi về phương Bắc; Thu khi phát sinh từ phương Tây, nên từ phương Tây đi về phương Bắc... Đỏ là bốn mùa ứng với bốn phương. Cho nên xuân khí từ dưới mà sinh, thu khí từ trên mà xuống: cái khí hạ hỏa Từ giữa mà tán bố ra bốn phương: cái khí Đông Tàng, từ Biểu mà trở về Nội Phủ. Bên tả là Đồng, bên hữu là Tây, đăng trước là Ly, đẳng sau là Khảm... Đó lả cái khí bốn mủa có cao, thấp, tả, hữu... từ phía dưới mà lên trên, từ bên trong mà ra ngoài...
- Ở chương trước, nói về "sơ chỉ khí, nhị chỉ khí v.v." chỉ bàn về khách khí gia lâm, do sáu năm hoàn chuyển đều có Mộc mùa xuân, Hỏa mùa hạ, Kim mùa thu, Thủy mùa đông... Đều chủ về linh 72 ngày. Lại có "sơ khí" là Quyết âm, “nhị khí" là Thiếu âm, "tam khí" là Thiếu dương, "tứ khí” là Thái âm, "ngũ khí" là Dương minh, "lục khí" là Thái dương... Đều chủ 60 ngày linh 87 khắc rưỡi... Đó là cái khí bốn mùa không thể thay đỗi nó; có cái chính, lệnh, hàn, nhiệt, ôn, lương và sinh, trưởng, thâu, tàng... Nên gọi là "thương.
- khi đến v.v." tức là nói về bốn mùa có cái khí của năm vận sau khí dẫn đến. Thiếu âm tuy chủ quân hỏa mà bản hàn, nên ở vào chỗ giao tiếp của hản với nhiệt, đê chủ vẻ khí ôn hòa. Ở tiết này, lấy Quyết âm phong mộc chú xuân; Thiếu dương viêm thử chủ hạ; Dương minh thanh lương chủ thu; Thái dương hản thủy chủ đông... Đó là khí hóa thường của bến mùa. Cho nên lại lấy Thái âm chuyên xếp lên trước Thiếu dương, vì là Thô khí chia vượng ở tứ quý, nên trước bắt đầu từ xuân, hạ.
- “phiêu nộ” (tung bay, giận dữ) hình dung biến thái của phong: "Mát nhiều..." tức là Kim khí "thừa" theo; "đại huyền” là âm nhiều, tức là sức quá độ của Hỏa, "hàn” tức là âm tình "thừa” theo; "sấm sét mưa to v.v." là trạng thái biến chuyển của thấp thỏ, đến "cực độ” thì phong khí "thừa" theo... Trở lên là nói về: "Cực thì biến, biến thì hại, rồi do "thừa" theo "chế lại.
- "Lý cấp" là một chứng khí nghịch nghẽn lên. Quyết âm chủ về mùa xuân, xuân khí bắt đầu từ dưới mà dẫn lên trên, nên thành chứng "lý cấp. Dương minh chủ vẻ mùa thu, thu khí bắt đầu từ trên, nên thành chứng phù hư; Hỏa sinh ra, ở Mộc phong, với Hỏa cùng quạt dồn, nên mới thành các chứng lở láy và mình nóng; Thổ vị trí ở trung ương mà chia vượng ra tứ quý, cho nên ở bỗn mùa gây thành các chứng bị, tích, và trung mãn; Thái dương chủ về cân, bị phong khí nó phạm, cho nên mắc míu mà thành co duỗi không lợi.:
- Tâm chủ về nói; hỷ là Tâm chí. Quân hỏa bị cái hàn thủy của Đông: lệnh nó bách, thì Tâm khí hóa thực mà thành chứng nói lại cười v.v... Trở lên, các bệnh thuộc về bốn mùa, có khí phát sinh bởi sáu khí, có khi phát sinh bởi bốn mùa... Học giả nên lấy ý mà suy thời nghĩa lý tự rõ. Đây là nói về vận sáu khí của bốn mùa, có đức, có hỏa, có chính, có lệnh, có biến, có bệnh...
- "Nhân ở đâu đề nhận xét v.v...", như khí của Thái âm ở về Trường hạ, khí của Thái dương ở về mùa đông, khí của Thiếu âm ở về mùa hạ, khí của Dương minh ở về mùa thu, khí của Quyết âm ở về mùa xuân... Lại như đông có nhiệt hóa, đề nghiệm cái thăng của Thái âm; mùa hạ có hàn hóa, đề nghiệm cái thắng của Thái dương v.v...
- Đúng với bản vị, như Quyết âm bản vị ở tháng giêng, tháng hai v.v... "Phương", như về năm Quyết âm chủ tuế khí, thì Thái âm tự đặc ở Tây, Bắc; Thái dương tự đặc ở Đông Nam; Thiếu ảm tự đặc ở Tây, Nam; Thiếu dương tự đặc ở chính Bắc v.v...
- Đây nói về sáu khí chủ thời, cũng có chia ra trời đất doanh, hư, mà trên dưới cùng thăng. Nửa năm về trước, khí trời làm chủ; nửa năm về sau khí đất làm chủ. Vận ở vào khoảng giữa trời và đất, thường đến trước cái khí của trời đất đề gây nên sự "thắng". Cho nên nói: "Theo vận vệ thuân để sinh ra bệnh v,v." Tức là nói cái khí của trời đất, theo với vận khí mà "bi, thử" tương thăng lẫn nhau. "Khí giao v.v." là nói về tam khí, tứ khi giao hỗ với nhau. Như "thiên khí bất túc, địa khí sẽ theo". Thời cái "tứ chỉ Thổ khí trước giao hỗ với "tam khí" là Hỏa; như "địa khí" bất túc, thiên khí sẽ theo..." Thì cái "tam chỉ Hỏa khí, trước giao hỗ với tứ khí là Thô v.v." Đó là: hỏa, thô, tử, mẫu tương hợp, gọi là "về với đồng hóa..." Tức là thăng mà "vị" "nhỏ" vậy. "Vi thời tiêu sai..." "Tiêu sai" ở "ký” của “thiên”, vẫn chiêm bày phản, mà ba phân thì chiếm ở "địa", Ở "kỷ" của "địa", vẫn chiếm bảy phần, mà ba phần thì ở hỗ giao với "thiên". Đó là trên dưới khí giao, không sinh ra bệnh. "Ghét cái bất thẳng..." là phét cái khí mình bát thắng. Thái dương hàn hóa, truyền sang Thái âm; Dương minh táo hóa, truyền sang Quyết âm. Đó là dưới thăng thời địa khí đổi mà lên Quyết âm phong hóa, truyền sang Thái âm; Thiếu âm hóa hóa, truyền sang Dương minh... Đó là trên thăng thi thiên khí giáng mà xuống... tức là thăng một trinh đồ "thậm. "Thậm" thời đại sai: "Đại sai" thì ở "ký" của thiên chiếm năm phần, còn năm phân thì giảng thăng xuống dưới; ở "ký" của địa chiếm năm phần; còn năm phân lại đỏi lên trên... Cho nên nói: "Thậm" thời vị đôi, khí giao. "Đôi thì đại biến sinh ra, mà bệnh gây nên. "Vị đôi" là việt qua cái vi của tam khí. tứ khí, mà sơ khí, nhị khi thì lại đi sang ngũ vị, lục vị; ngũ khí, lục khí lại đi sang sơ vị, nhị vị... Đó là cái khí "sở bất thắng” nó thẳng lại được.
- Chương này, nói sáu khí chủ thời, cũng có hàn, nhiệt, ôn, lương, khác nhau. Những vị tân cam nó có cái tính chất phát tán thuộc dương. Cho nên có khi gặp chứng bệnh nên phát tán, thì phải xa lánh nhiệt; do đó, ngay mùa xuân cũng phải lánh xa nhiệt rồi. Những vị toan khỏ, nó có cải tính chất dũng tiết, thuộc ãm. Nếu gặp chứng cần phải công lý, thì dù phải lánh xa hàn, mà lại không phải càn lánh xa hàn...
- Đặn bà khi mới kết thai được một tháng đến hai tháng, là nhờ sự tư dường của Mộc khí; tháng thứ ba, thử tư... chủ về Hỏa khí; thắng thứ năm, thứ sáu... chủ về Thổ khí; tháng thứ bây, thứ tám chủ về Kim khí... tháng thứ chín, thử mưởi chủ về Thủy khí. Đến thời kỳ Thái dương là năm hành đã đầy đủ, do đó âm, dương, thủy, hỏa chia đều mà thành thân hình. Nhưng trước khi chưa sinh, cái khí của năm hành đều có thịnh, có hư, có thắng. có uất, nên dùng những vị có khí vị hàn, nhiệt, ôn, lương đề theo thuận nghịch mà điều trị. Ví phỏng có bệnh mà muốn không lánh xa hàn, hoặc nhiệt... Mã cũng không hại gì đến thai khí. (Nguyên văn chữ Hán câu nà;; là: "hữu cố, vô vẫn: điệc vô vẫn đã..."). Nếu phạm quả thì sẽ chết. Xem đó thì "hàn. nhiệt. ôn. hương” gọi là: "tứ úy”, phải tình tế và cân thận lắm mới được. Án: Thai mới được bảy tháng mà sinh, phản nhiều nuôi được mà cũng thọ. là vì: thắng thứ bảy thuộc vẻ Phế Tàng tư dưỡng. Phé thuộc thiên mà chủ khí, chủ huyết. Thiên theo số "nhất" sinh ra hành thủy, cảm cái khí của trời đất mà sinh ra, cho nên nuôi được. Tháng thứ 9, thứ 10 thuộc về sở chủ của Thiếu âm, Thái dương, đều cảm được cả cái khí của âm dương, thủy, hỏa mà sinh. Nhưng nếu là tháng thứ "tám" thì thuộc về Dương minh Đại trường chủ khí, vì cảm cái Phủ khí của Dương minh mà sinh, nên ít khi sống được.
- Đầy nói về trị bệnh có phép “giả tá” (tạm mượn), vì chủ khí bất túc mà khách khí thăng. Trên kia, trị về các chính bệnh Tư thiên, có những phương pháp “dùng ôn” xa ôn, dùng lương xa lương, dùng hàn, dùng nhiệt v.v... Đó là chính pháp trị bệnh. Ở trong có ngụ cái phương pháp: "Có giả, thời trái lại v.v," Thì tức là dùng hản, nhiệt, ôn, lương... Mà có thể cứ phạm.
- Như ở trên: "Không lánh xa nhiệt, không lánh xa hàn v.v." Vì là phát biểu, công ly mà tả khí còn ở đó. Nến dùng phép "phản thường", thì dù nội thương cũng có thê “phản thường". Vậy! Hoảng Đề mới hỏi lại. Kỳ Bá nói: Mỗi năm sáu khí, tự có một khí làm chủ, mà lại có khách khí nó gia lâm. Duy chủ khí bất túc, mà khách khí lại thắng, thì giả tá cái khí hàn, nhiệt, ôn, lương, để giúp đỡ chủ khí mà ứng với khách khi... Cho nên __ đù phạm mà cũng không phải cẤm ky.
Thiên 74 · Chí Chân Yếu Đại Luận Thiên
Chương bảy mươi tư · Chí Chân Yếu Đại Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề hỏi:
– Năm khí giao hợp, doanh hư thay đổi... Lẽ đỏ, tôi được biết rôi. Còn sáu khi chỉa trị, Tư thiên, Tại toàn, khí đến như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quyết âm Tư thiên, hóa của nó là phong; Thiếu âm Tư thiên, hóa của nó là nhiệt; Thái âm Tư thiên, hóa của nó là thấp; Thiếu dương Tư thiên, hóa của là hỏa; Dương minh Tư thiên, hóa của nỏ là táo; Thái dương Tư thiên, hóa của nó là hàn... Lẫy cát Tàng VỊ sáu khí nó lâm, mà nhận định bệnh đanh... (tức là thiên khí ở trên lâm xuống, mà dưới hợp với Tàng Vị của con người, tùy theo sáu khí nó phạm vào Tàng nào, để ấn định tên bệnh.
– Địa hóa (tức Tại toàn) như thế nào?
– Cùng “hậu” như Tư thiên, gián khí cũng vậy.
– Gián khí như thế nào?
– “Tư” ở tả, hữu gọi là gián khí.
– Lấy gì để phân biệt là khác?
– Chủ tuế thời kỷ tuế, gián khí thời kỷ bột,
Hoàng Đề hỏi:
– Tuế chủ như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quyết âm Tư thiên là phong hóa, Tại toàn là toan hóa, tư khí là thương hóa (hóa màu xanh). gián khí là động hóa. Thiếu ãm Tư thiên là nhiệt hóa, Tại toàn là khổ hóa, không tư về khí hóa, tư khí là chước hóa (hóa sự cháy nóng). Thái âm Tư thiên là thấp hóa, Tại toàn là cam hóa, tư khí là kiêm hòa, gián khí là nhu hóa, Thiếu dương Tư thiên là hỏa hóa. Tại toàn là khô hóa, tư khí là đan hoá (hóa sắc đỏ), gián khí là mịnh hóa (hóa sự sảng tỏ). Dương minh Tà thiên là táo hóa, Tại toàn là tân hóa. tự khí là tổ hóa, gián khí là thanh hóa. Thái dương Tư thiên là hàn hóa, Tại toàn là hản hóa, tư khí là huyền hóa, gián khí là Tàng hóa... Cho nền muốn trị bệnh phải biết rõ sáu khí, chia trị năm Vị, năm Sắc sinh ra thể nào, năm Tàng nên như thể nào... Mới có thể nói được lẽ doanh. hư và cái nguyên nhân sinh ra bệnh hoạn.
Hoàng Đế hỏi:
– Quyết âm Tại toàn mà toan hóa, tôi đã hiêu rôi. Còn sự phát triển của phong hóa, như thể nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Phong phát sinh ra ở đất. đó tức là “bản”. Các khí khác đêu như vậy. Bản (gốc) ở trời tức là thiên khí. bân ở đất tức là địa khí. Trời với đất hợp khí, sáu tiết phân chia, muôn vật do đó mà hóa sinh. Cho nên nói: “Cần hậu khí nghi, vô thất bệnh kỳ”, tức là lẽ đó.
Hoàng Đề hãi:
– Chủ bệnh như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Tư thế, bị vật”, thời không sót nữa.
– Trước tuế mà bị vật, như thế nào?
– Đó là chuyên tính của trời đất.
– Tư tuế như thế nào?
– Tư khí để nhận chủ tuế. đo đó lại xét cả hữu dư và bắt túc.
– Nếu không tư tuế, bị vận, thì sao?
– Vì khi nó tán, chất tuy đồng mà hực Khác nhau. Khí vị có hậu bạc, tính dụng có táo tĩnh: trị, bảo có nhiều ít, lực hóa có thiển. thâm... Vì vậy nên phải tư tuế bị vật.
Hoàng Đề hỏi:
– Tuế chủ làm hại cho Tàng, như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Xét cái “sở bất thắng” của nó, thời rõ được yếu điểm như thế nào 2 - Trị liệu như thể nào?
– Ở trên mà “râm” xuống dưới, thời lẫy cái “sở thắng” để làm cho yên, do bên ngoài mà “râm” vào trong, thời lây cái “sở thắng đề điều trị.
Hoàng Đế hỏi:
– Bình khí như thê nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Nhận xét kỹ âm dương ở đâu đê điều trị, lây quân bình làm giới hạn, Chính thời chính trị, phản thời phản trị....
Hoàng Đề hỏi:
– Phu Tử nói xét về sự hỗ lao âm dương để điều trị. Luận nói: “Nhân nghinh với Thốn khẩu tương ứng, không sai như dây mặc, gọi là “bình”, vậy âm dương sở tại và Thôn khẩu như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nhân năm thuộc về Nam chính hay Bắc chính, thời sẽ biết được,
Về năm Bắc chính, Thiểu âm Tại toàn Thốn khẩu không ứng, Quyết âm Tại toàn, thời bên “hữu” không ứng, Thái âm Tại toản thời bên “tã” không ứng. Về năm Nam chính, Thiếu âm Tư thiên thời Thến khâu không ứng. Quyết âm Tư thiên thời bên hữu không ứng, Thái âm Tư thiên thời bên tả không ứng, Phàm những “không ửng” “phản chân” thời sẽ thấy,
Hoàng Đề hồi:
– Xích hậu như thế nào?
Kỳ Bả thưa rằng:
- Về năm Bắc chính, Tam âm ở dưới, thời Thốn không ứng:
Tam âm ở trên, thời Xích không ứng. Về năm Nam chính, Tam âm Tư thiên, thời Thốn không ứng, Tam âm Tại toàn, thời xích không ứng. Tả, hữu đều như vậy. Cho nên nói: Biết được cốt yếu, chỉ một lời cũng đủ, không biết được cốt yếu, sẽ lưu tán vô cũng',
Hoàng Đề hồi:
– Khí của trời đất, do nội tâm mà sinh ra bệnh như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Những năm Quyết âm Tại toàn, bị phong râm nó thắng, thời địa khí u ám, cỏ cây sớm tốt. Dân mắc bệnh ghê ghê sợ rét, hay v.rơn vai, Tâm thống, chỉ mãn, lưỡng hiếp lý cấp (đau rút hai bên sườn, uống ăn không chịu, cách yết không thông, ăn vảo thì nôn, phúc trường hay ợ, được hậu (đại tiện) với khí (trung tiện), thời trong bụng nhẹ ngay như bớt. Thân thể đều nặng.
Những năm Thiếu âm Tại toàn, bị nhiệt râm nó thẳng, nơi tối lại sáng. Dân mắc bệnh trong bụng thường sôi (kêu réo), khí xông lên hung, thở suyễn, không thể đứng lâu, hàn, nhiệt, bì phu thống, mắt mờ, răng đau, quai hàm sưng. Ô hàn, phát nhiệt, như ngược, trong Thiếu phúc đau, bụng lớn (vì nhiệt ở Trung tiêu nên bụng lớn.
Những năm Thái âm Tại toàn, bị thấp râm nó thăng, gần xa tăm tối; dân mắc bệnh ẩm, tích, Tâm thống, tai điếc; bừng bừng nóng nây, ách thũng, hầu tý, âm bệnh, ra huyết; thiếu phúc thống và thũng, không tiểu tiện được, khí bốc đầu nhức, mắt như mờ, cô như gãy, lưng đau, đùi duỗi không thê co, bọng chân đau nhức như bị nứt.
Những năm Thiếu dương Tại toàn bị hỏa râm nó thăng, hàn nhiệt thay đổi đến... Dân mắc bệnh chú tiết xích hoặc bạch (tức kiết ly); Thiếu phúc thống, niệu xích, quá lắm thời tiện huyết. Thiếu âm cùng hậu!?.
Những năm Dương minh Tại toản, bị táo rầm nó thăng, đân mắc bệnh hay ẩu (oe) ra vị đăng, hay thở dài; Tâm, Hiếp thống, không thể trở minh, quá lắm thời họng khô, mặt nhờn, da dẻ khô rộp, ngoải chân lại nhiệt.
Những năm Thái dương Tại toàn, bị hàn râm nó thăng, dân mắc bệnh đau ở Thiếu dương, rút xuống Dịch hoàn, suốt ra yêu tích; xung lên thành Tâm thống, ra huyết, họng dau, quai hàm sưng.
Hoàng Đề hỏi:
– Điều trị như thế nào?
– Cái khí trong thời kỳ Tại toản, bị phong râm vào bên trong, nên trị bằng vị tân và lương, tá băng vị khổ và cam, dùng vị cam làm cho hoãn lại, dùng vị tân làm cho tán đi.
BỊ nhiệt râm vào bền trong, nên trị băng vị hàm và hàn, tá bằng vị khổ và cam. dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát đi Ý?.
Bị thấp râm vào bên trong, nên trị bằng vị khổ vả nhiệt, tá băng vị toan và dạm, dùng vị khổ làm cho táo lại, dùng vị đạm làm cho tiết đi..
Bị hỏa râm vào bên trong, nên trị băng vị hàn và lãnh. tá băng VỊ khổ vả tân, dùng vị toan để thầu lại. dùng vị khổ để phát đị.
BỊ táo râm vào bên trong, nên trị băng khổ và ôn, tá băng vị cam và tân, dùng vị khổ để hạ xuống, lỊ hàn rầm vào bên trong, nên trị băng vị cam và nhiệt, tá bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để tả đi, dùng vị tân đề nhuận thêm, dùng vị khổ để làm cho kiên lại,
Hoàng Đế hôi:
– Thiên khí biến như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quyết âm Tư thiên, bị phong râm nó thắng... l)ăn mắc bệnh vị quản giữa Tâm mà đau; rút lên hai hiếp, cách yết không thông, uống ăn không xuống, lưỡi cứng đờ. ăn vào thời âu; lãnh tiết, phúc trướng, đường tiết (dại tiện nát); già (hòn nổi lại tan); đường thủy vít. Bệnh vốn ở Tỳ xung đương mạch tuyệt, chết không thể chữa.
Thiểu âm Tư thiên, bị nhiệt râm nó thắng. Dân mắc bệnh trong hung phiên nhiệt, ách Can, hữu hiếp mãn, bì phu thông, phát hàn nhiệt, khái và suyễn, thóa huyết (nhồ ra huyết), huyết tiết, cừu, nục, xị, âu, tiểu tiện. sắc biến. Quá lãm thời thương dương, phù thũng: Kiên (vai bối (lưng). tý nhú (cánh tay), và trong khuyết bồn đều đau. Tâm thống, Phế trướng, bụng lớn và mãn hoặc, bụng trướng mà khái và suyễn. Gốc bệnh ở Phế, mạch ở Xích trạch tuyệt, chết, không thê chữa.
Thái âm Tư thiên, bị thấp râm nó thắng, dân mắc bệnh:
phù thũng, cốt thông, âm tý, án tay vào không được, yếu, tích, đầu hạng thông: thỉnh thoảng hoa mặt: dại tiện khó, Âm khí không phát triển. đói mà không muốn ăn; khái. thỏa thời thấy có cả huyết. trong bụng nghe bào hao... Bệnh ở gốc Thận, mạch ở Thái khê tuyệt, thời chết không thể chữa.
Thiếu dương Tư thiên, bị Hỏa và râm nó thắng... Dân mắc bệnh đầu thống, phát nhiệt, ố hàn mà ngược. Nhiệt phát ra bì phu, bì dau; sắc biến ra vàng hoặc đỏ, gây nên chứng thủy. mình, mặt phù, thũng: bụng đầy vượt, phải ngửa lên mà thờ, kiết lỵ đỏ hoặc trắng: mụn lở, ho, nhỗ ra huyết; phiền Tâm, trong hung nhiệt, quá lãm thỏi cừu, nục. Bệnh gốc ở Phể, mạch ở huyệt Thiên Phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được.
Dương minh Tư thiên. bị táo râm nó thắng... Dân mắc bệnh tả khư hiếp đau, khí hàn tràn lan, càm thành bệnh ngược; khái, trong bụng sôi; tiết tả, như phân cò; Tâm huyết bạo thống, không thê trở mình; ách Can, mặt nhờn, yêu thống. Dàn ông đồi sán, đàn bà Thiểu phúc đau; mặt mờ và toét. lở láy. Bệnh gốc ở Can, mạch ở Thái xung tuyệt, sẽ chết, không thể chữa.
Thái dương Tư thiên, bị hàn rầm nó thắng. Dân mắc bệnh huyết biển ở trong, phát thành ung đương (mụn, lở), quyết, Tâm thống. âu huyết, huyết tiết, cừu. nục, hay bị (thương, cảm); thính thoảng chóng mặt, ngã ngất, hung, phúc, mãn, lòng bản tay nóng, khuỷu tay co lại; nách sưng, trong lòng lạnh lẽo, khó chịu: hung hiếp, vị quản đều không yên, mặt đỏ, mắt vàng, hay ợ, họng khô. Quá lãm thời sắc mặt đen sạm, khát, muốn uống nước. lệnh ốc ở Tâm, mạch ở huyệt Thần môn tuyệt, sẽ chết, không thê chữa.
Đó chính là:
chỉ xét ở động khí, thời sẽ biết được năm Tàng ra sao.
Hoàng Đế hải:
– Diễu trị như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Về khí Tư thiên, bị phong râm nó thắng, bình băng vị tân và lương, tá băng vị khổ và cam; dùng vị cam để làm cho hoãn; dùng vị toan để làm cho tảt.
Bị nhiệt râm nó thắng, bình băng vị hàm và hàn, tá bảng vị khổ và cam, dùng vị cam; để làm cho thâu lại.
Bị thấp râm nó thắng, bình bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân; dùng vị khổ để làm cho táo, dùng vị đạm đề làm cho tiết; thấp ở bộ phận trên, quá lắm mà nhiệt, trị bằng vị khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, đê cho hãn ra, thời thời,
Bị hỏa râm nó thắng, bình bằng vị toan và lãnh, tá băng vị khổ và cam, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát ra, lại dùng vị toan để cho phục lại. Cùng một phương pháp trị chứng nhiệt râm(??, Bị táo râm nó thăng, bình băng vị khổ và ôn, tá băng vị toan và tân, dùng vị khổ đề hạ xuống,
Bị hàn râm nó thắng bình bằng vị tân và nhiệt, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị hàm để tà?
Hoàng Đề hỏi:
– Tà khí phản thăng, điều trị như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phong tư ở đất, thanh lại thắng nó, trị bằng toan và ôn, tá bằng khô và cam, dùng vị tân để bình.
Nhiệt tư ở đất, hàn lại thăng nó, trị bằng cam và nhiệt, tá bằng khô và tân, dùng vị hàn để bình.
Thấp tư ở đất, nhiệt lại thắng nó; trị bằng vị khổ và lãnh:
tá băng vị hàm và cam, dùng vị khổ để bình.
Hỏa tư ở đất, nhiệt lại thăng nó, trị bằng vị cam và nhiệt. tà bằng vị khổ vả tân, dùng vị hàm để binh.
Táo tư ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị bình và hản, tá bằng vị khê và cam, dùng vị tân để bình, lây hòa làm lợi.
Hàn tư ở đất, nhiệt lại thăng nó, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị cam tân, dùng vị khổ để bình,
Hoàng Đề hỏi:
– Tà khí lại thắng khí Tư thiên, thời trị liệu như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phong hóa ở trời, thanh lại thắng nó, trị bằng vị toan và ôn, tả bằng vị cam và khô.
Nhiệt hóa ở trời, hàn lại thắng nó, trị bằng vị cam và ôn, tá bằng vị khổ, toan và tân.
Thấp hóa ở trời, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị khổ và hàm, tá bằng vị khổ vả toan.
Hỏa hóa ở trời, hàn lại thắng nó, trị bằng vị cam và nhiệt, tá băng bị khô và tân.
Táo hóa ở trời, nhiệt lại thăng nó, trị băng vị tân và hàn, tá băng vị khổ và cam.
Hàn hóa ở trời, nhiệt lại thắng nó. Trị bằng vị hàm và lãnh, tá băng vị khổ, và tân(,
Hoàng Đề hỏi:
– Sáu khí tương thắng như thế nào?
- Thắng của Quyết âm, sinh ra các chứng:
Tai ù, đầu váng, trong bụng rộn rực như muốn thổ. Vị cách như hàn, khí dồn vào khư và hiếp mà thành nhiệt, tiểu tiện vàng và đỏ; vị quản thống, dồn lên hai hiếp: trường mỉnh, xôn, tiết; kiết lỵ đỏ hoặc trăng, quả lắm thời âu thổ, cách yết không thông,
Thắng của Thiểu âm, Tâm hạ nhiệt, hay đói, dưới rốn rộn rực, khí dẫn lên Tam tiêu, ấu nghịch, táo phiền, phúc mãn và thống, đường tiết, tiểu tiện đỏ.
Thăng của Thái âm, Hỏa khí uất ở bên trong mụn lở suốt từ trong ra ngoài. Bệnh ở khư hiếp, quá lắm thời Tâm hồng nhiệt cách lên thành đầu thống, hầu tý, hạng cường. Nếu khí âm thấp lại thắng ở nửa năm về sau thời, thấp khí uất ở bên trong, hàn khí bách xuống Hạ tiêu, đau suốt từ đỉnh đầu đến khoảng lông mày, vị mãn; Thiếu phúc mãn, sông lưng và ngang lưng đều cứng: bên trong khó chịu, hay kiết ly; dưới chân âm, đầu nặng, ống chân và chân sưng thũng. Chứng âm phát ra ở bên trong, phù thũng từ dưới lên trên?, Thắng của Thiếu dương, nhiệt “khách” ở Vị phiền Tâm, Tâm thống, mắt đỏ, muốn âu; âu ra nước chua, hay đói, tai đau, nước tiêu đỏ, hay sợ, thiểm ngữ, bao nhiệt, tiêu thước, Thiếu phúc thông.
Thăng của Dương minh, khí lạnh phát ra ở trong tà như hiếp đau, đường tiết, trong là ách tắc (nghẽn ở cổ), ngoài là đồi sán. Trong bụng khó chịu, ách tắc mà khái.
Thắng của Thái dương, sinh ra chứng hải ngược, hàn quyết vào Vị, Tâm thống, âm hành lở mụn, đau xuống bên háng, huyết mạch đọng rít, hoặc thành chứng huyét tiết (tả ra huyết), bì phu sưng đau, phúc mãn, ăn kém, nhiệt lại bốc lên, đầu, cổ, thông đính, não bộ đều đau, mắt như mờ đi, hàn vào Hạ tiêu, gầy nên chứng nhu tả (đại tiện nát.
Hoàng Đề hỏi:
– Điều trị như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thăng của Quyết âm, trị băng vị cam và thanh, tả băng vị khổ và tân; dùng vị toan để tà.
Thắng của Thiếu âm, trị bằng vị tân và hàn, tá bằng vị khổ và hảm, dùng vị cam để tả.
Thăng của Thái âm, trị bằng vị hàm vả nhiệt, tá bằng vị tân và cam, dùng vị khổ để tả.
Thắng của Thiếu dương, trị bằng vị tân và hàn, tá băng vị cam và hàm, dùng vị cam để tà.
Thắng của Dương minh, trị bằng Vị toan và ôn, tá bằng vị tân và cam, dùng vị khổ để tiết.
Thăng của Thái dương, trị bằng vị cam và nhiệt, tả bằng vị tân và toan, dùng vị hàm để tả,
Hoàng Đề hõi:
– Sáu kỷ phục lại, như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Sự “phục” của Quyết âm, sinh ra chứng Thiếu phúc kiển và mãn, lý cấp bạo thông: Quyết âm thông, hãn phát, ẩu thỗ; muốn ăn mà không nuốt vào được, nuốt vào lại thô ra. Gân, xương choáng váng, thanh quyết, quá lắm thời vào Ty, thành chứng thực tý, mà thô. Mạch ở Xung dương tuyệt, sẽ chết, không của được”?,
Phục của Thiếu âm, nóng nảy phát sinh ở bên trong, phiền táo, cừu, sị, Thiêu phúc giảo thống (đau như thất), ách táo “phân chú” có lúc ngừng; khí động ở tả, dẫn lên bẻn hữu; khái, bì phu đau; uất mạo không biết, ghê ghê rét run, thiềm vọng, hàn rồi lại nhiệt, khát mà muôn uống; thiểu khí, cốt nuy, Tiểu trường không thông, ngoài là phù thũng, nhiệt khí đại hành, sinh ra các chứng phất, chân, thương dương, ung thư, tỏa, trĩ v.v... quá lắm thời phạm vào Phê, khái mà ty uyên (trong mũi nước đặc chảy ra quanh năm, mùi hồi thối). Mach ở Thiên Phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được.
Phục của Thái âm, sinh ra mình nặng, bụng đây, uống ăn không tiêu, Âm khí thượng quyết, trong bụng khó chịu; chứng âm phát sinh ở trong, thành chứng khái và suyễn có tiếng, đỉnh đầu đau và nặng, càng thêm chạo khiết (tay chân vật vã, co quắp) nôn ọe li bì, im lặng, thổ ra nước trong. Quá lăm thời vào Thận, khiến tả vô độ. Mạch Thái khê tuyệt, thời chết, không thê chữat”?.
Phục của Thiếu dương, sinh ra các chứng kinh, khiết, khải, nục, Tâm nhiệt, phiền táo, tiện xác, ghê gió; quyết khí dẫn lên, mặt nhờn như bắt bụi; mi mắt hay giật, hỏa khí phát ở bên trong dẫn lên thành chứng lờ nát trong miệng, âu nghịch, huyết giật, huyết tiết, rồi phát ra chứng ngược, ô hàn run rây. Hàn cực lại nhiệt, gây nên ách lạc khô rảo, khát muốn uống nước lã, sắc mặt biến ra vàng và đỏ, thiếu khí, mạch nuy, hóa làm chứng thủy, gây thảnh thủy thũng. Quá lắm thời vào Phé, khái và đại tiện ra huyết. Xích trạch tuyệt, thời chết, không thê chữa được!”?.
Phục của Dương minh, sẽ sinh ra các bệnh:
đau ở khư hiếp khí về bên tả, hay thở dải, quá lắm thời Tâm thống, bĩ mãn, phúc trưởng mà tiết tả, nôn ra nước đăng, khái uế, phiền Tâm, bệnh ở trong cách, đầu nhức; quá lắm thời vào Can, sinh ra chứng kinh hãi, co gân. Mạch ở Thái xung tuyệt, sẽ không chữa được,
Phục của Thái dương, quyết khí dẫn lên, Tâm và Vị sinh hản; Hung cách không lợi, Tâm thống, bĩ, mãn, đầu thống, hay bị, có khi ngã ngất, ăn sút, yêu chùy đau, co duỗi không tiện, đau ở Thiếu phúc, rút xuống dịch hoàn, lây lên cả yêu, tích, xung lên Tâm, nhỗ ra nước trong, hay ọe hay ợ, quá lắm thời vào Tâm, hay quên, hay bỉ. Mạch ở Thầu môn tuyệt, sẽ chết, không thể chữa, ồn, Hoàng Đề hỏi: - Phương pháp điêu trị như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Phục của Quyết âm, trị bằng vị toan và hàn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị toan để làm cho tả, đừng vị cam đề làm cho hoãn.
Phục của Thiếu âm, trị bằng vị hàm và hàn, tá băng vị khổ và tân, dùng vị cam đề làm cho tả, dùng vị toan để làm cho thâu, dùng vị khổ để làm cho phát, dùng vị hàm để làm cho nhuyễn.
Phục của Thái âm, trị bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ đề làm cho tả, làm cho táo, làm cho tiết.
Phục của Thiếu dương, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị khổ. và tân, dùng vị hàm để làm cho nhuyễn; dùng vị toan đề làm cho thâu, dùng vị tân và khô đề làm cho phát. Phát không lánh xa nhiệt, không phạm ôn, lương... Phục ở Thiếu âm cũng một phương pháp điều trị.
Phục của Dương minh, trị bằng vị tân và ôn; tá bằng vị khổ và cam, dùng vị khổ để làm cho tiết, làm cho hạ, dùng vị toan để bổ.
Phục của Thái dương, trị băng vị hàm và nhiệt, tá băng vị cam và tân, dùng vị khổ để làm cho kiên,
Phàm trị về cái khí thăng và phục, hàn thời làm cho nhiệt, nhiệt thời làm cho hàn, ôn thời làm cho thanh, thanh thời làm cho ôn, tấn thời thâu lại, uất thời tán đi, táo thời làm cho nhuận, cấp thời làm cho hoãn, kiên thời làm cho nhuyễn, nhuế (mềm) thời làm cho kiên, suy thời bổ thêm vào, cương thời tả bớt đi... Phải làm cho chính khí được vên, phải thanh, phải tĩnh... Thời bệnh khí giảm đi, rút về bản Vị, đó là đại thể của phương pháp điều trị.
Hoàng Đề hỏi:
– Khí chia về trên, dưới như thế nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Từ nửa minh trở lên, có ba khí, thuộc về bộ phận của trời, thiên khí làm chủ, từ nửa mình trở xuống, có ba khí thuộc về bộ phận của đất, địa khí làm chủ. Lấy danh để đặt tên cho khí, lấy khí để nhận biết thuộc xứ nào, rồi sẽ nói đến bệnh. “Bán” (nửa), tức là chí về Thiên khu,
Cho nên ở trên thắng mà ở dưới cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về “địa” để đặt tên; ở dưới thăng mà ở trên cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về “thiên” để đặt tên,
Như nói là “thăng” đến, tức là “báo khí” khuất phụ mà chửa phát; nói “phục” đến, thời không cần, vì trời đất mà khác danh, cũng đều coi như phục khí ở đâu để lập thành trị pháp#?,
Hoàng Đế hỏi:
– Sự động của thắng và phục, thời có thường chăng? Khí cỏ nhất định chăng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thời có thường Vị mà khí không có nhất định, - Xin cho biết rõ ngành ngọn ra làm sao?
– Sơ khí, cuỗi cùng về tam khi, thiên khí làm chủ đó là là thường của thắng khí, tứ khí cuối cùng có chung khí, đỏ là lẽ thường của phục khí. Có thắng thời có phục, không thời không, ra*a
Hoàng Đế hỏi:
– Phục rồi mà lại thắng, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Thắng đến thời phục, không có số thường. Hễ suy thời ngừng lại thôi. Phục rôi mà thắng, không phục thời hại, vì đó sẽ hại sự sống, - Phục mà lại mắc bệnh như thế nào?
– Vi ở không phải Vị, mà bất tương đắc nên sinh bệnh. Đại phục cái thắng, thời chủ lại thắng, cho nên mới lại phát bệnh. Đó tức là thuộc về những khí Hỏa, táo và nhiệt,
Hoàng Đề hối:
– Điểu trị như thế nào?
- Phàm khí nó thắng:
Vì thời theo, thậm thời chế.
Về khí nó phục:
Hòa thời bình, bạo thời đoạt. Đều theo thắng khí làm cho yên sự khuất phục. Không cần phải hỏi đến số, lấy “bình” làm giới hạn. Đó là đạo chính?
Hoàng Đề hỏi:
– Khí thắng và phục của chủ khách như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí của khách, chủ, chỉ có thắng mà không có phục ”?.
– Nghịch, thuận như thế nào?
– Chủ thăng là nghịch, khách thắng là thuận, đó là theo đạo trời ”.
Hoàng Đề hồi:
– Sinh bệnh như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quyết âm Tư thiên, khách thắng thời tai ù, chóng mặt, quá lắm thời khái. Chủ thăng thì hung, hiếp đau, lưỡi cứng khỏ nói.
F.
Thiếu âm Tư thiên, khách thời cửu, xị, gáy và cô cứng đời; kiên và bối nóng khó chịu; đầy nhức thiêu khí, phát nhiệt, tai điếc, mắt mờ, quá lăm thời phù thũng, huyết giật, thương dương, khái và suyễn. Chủ thăng Tâm nhiệt, phiền táo, quá lãm thời hiếp thống, chỉ mãn,
Thái âm Tư thiên, khách thăng thời đầu và mặt phù thững, thở hút khí suyễn; chù thắng thời hung phúc mãn, ăn rồi thời trong bụng khó chịu.
Thiếu dương Tư thiên, khách thắng thời đơn, chẩn phát ra bên ngoài; thương, dương âu nghịch; hầu tý, đầu nhức, ách thũng (cuống họng sưng), tai điếc, huyết ràn, hoặc sinh khiết, túng. Chủ thắng thời hung mãn, khát, khái ngửa lên mới thở được. Quá lắm thời xuất huyết, tay nóng,
Dương minh Tự thiên; cái khí thanh túc có thừa ở bên trong, do đó sinh ra chứng khái và nục, họng nghẽn, trong Tâm cách nhiệt, khái không đứt. Nếu tự xuất huyết, sẽ chết.
Thái dương Tư thiên, khách thẳng thời trong hung không lợi, mũi chảy nước trong, cảm hàn thời khái. Chủ thắng thời trong họng có tiếng khò khè...
Quyết âm Tại toản, khách thăng thời các khớp xương lớn không lợi, hoặc thành các chứng kính cường, câu khiết, việc cử động khó khăn, chủ thắng thời gân xương rã rời, yêu và phúc thỉnh thoảng đau.
Thiếu âm Tại toản, khách thắng thời yêu thống:
cấu, cổ, bế, suyễn, hành đều nóng âm ỷ và đau, hoặc phủ thũng không thể đứng lâu, nước tiêu sắc biến. Chủ thắng thời quyết khí dẫn lên, Tâm thống, phát nhiệt, các chứng “ty” đều phát sinh, phát ra ở khư, hiếp, mồ hôi ra nhiều, tay chân quyết nghịch.
Thái âm Tại toàn, khách thắng thời túc nuy, hạ trọng, đại, tiểu tiết ra luôn, thấp khách ở Hạ tiêu, sỉnh ra chứng nhu tả và sưng ở tiền âm. Chủ thăng thời hàn khí nghịch, mãn, uống ăn không được, quả lắm thành chứng sán.
Thiếu dương Tại toàn, khách thắng thời yêu phúc thống mà lại ổ hàn. Quá lắm. tiểu tiện ra nước trăng. Chủ thăng thời nhiệt lại bốc lên, mà khách vào Tâm, Tâm thống phát nhiệt, nghẽn tắc mà âu. Về Thiếu âm cũng một chứng hậu.
Dương minh Tại toàn, khách thắng thời thanh khí động ở dưới, Thiếu phúc kiên mãn và tả luôn. Chủ thắng thời yêu nặng, bụng đau; Thiếu phúc sinh hàn, đại tiện nát và sống phân. Hàn quyết ở trường, xung lên trong hưng; quá lắm thời suyễn, không thể đứng lâu.
Thái dương Tại toàn, ở trong hàn khí lại có thừa, thời yêu, cầu thống, co duỗi không lợi, đau nhức ở trong xương đùi, gối, ông chân, bàn chân v.v...
Hoàng Đế hỏi:
– Điều trị như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Ở cao thời nén xuống. ở dưới thời nâng lên, hữu dư thời chiết đi, bất túc thời bổ thêm; tá bằng cái sở lợi, hòa băng cái sở nghi. Phải làm cho yên chủ và khách, thích nghi hàn và ôn. Đồng thời dùng nghịch, dị thường dùng tùng.
Hoàng Đế hồi:
– Trị nhiệt băng hàn, trị hàn bằng nhiệt. Khí tương đắc thời nghịch trị, bất tương đắc thời tùng trị... Lễ đó tôi biết rồi. Còn về chính vị thời như sao?
Kỳ Bá thưa răng:
– Chủ của Mộc vị, dùng toan đề tả, dùng tân đề bố,
Chủ của Hỏa vị, dùng cam để tả, dùng hàm dể bố,
Chủ của Thỏ vị, dùng khổ đề tà, dùng cam để bố,
Chủ của Kim vị, dùng tân để tả, dùng toan dễ bổ,
Khách của Quyết âm, dùng tân để bỏ, dùng vị toan để tả, dùng vị cam để hoãn.
Khách của Thiếu âm, dùng vị hàm để bổ, dùng vị cam để tả, dùng vị toan đề thâu.
Khách của Thái âm, dùng vị cam để bỏ, dùng vị khổ để tả, dùng vị cam đề hoãn.
Khách của Thiếu dương, dùng vị hàm để bổ, dùng vị cam để tả, dùng vị hàm để nhuyễn.
Khách của Dương mỉnh, dùng vị toan để bổ, dùng vị tân để tả, dàng vị khổ đề tiết.
_ Khách của Thái dương, dùng vị toan để bổ, dùng vị hàm để tả, dùng vị khổ đề làm cho kiên, dùng vị tân để làm cho nhuận, và do đó để mở mang tấu lý, gây nên tân dịch và thông khí vậy.
Hoàng Đề hồi:
– Phân ra Tam âm, Tam dương, là vì cớ sao?
Kỳ Bá thưa răng:
– Bởi vì khí có nhiều, ít, nên công đụng khác nhau?
– Sao lại gọi là Dương minh?
– Đó là vì lưỡng dương hợp mỉnh??, - Sao lại gọi là Quyết âm?
– Đó là vì lưỡng âm giao tận”?,
Hoàng Đế hỏi:
- Khí có nhiều, ít; bệnh có thịnh, suy; trị có hoăn cấp:
phương có đại, tiểu... Xin cho biết cái nguyên tắc như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí có cao thấp, bệnh có xa gần, chứng có trong ngoài, trị có nhẹ nặng... Cho nên trị cần vừa đúng đến bệnh thì thôi.
Về đại yếu, quân một, thần ba, là cái chế của cơ phương:
quân hai, thân bốn, là cái chế của ngẫu phương: quân hai, thần ba, là cái chế của cơ phương; quân hai, thần sáu, là cái chế của ngẫu phương. Cho nên nói: Trị bệnh gần thời dùng cơ phương, trị bệnh xa thời dùng ngẫu phương. Muốn hãn, không nên dùng cơ; muốn hạ không nên dùng ngẫu. Bỗ bộ phận trên, trị bộ phận trên, chế băng hoãn phương: bố bộ phận đưởi, trị bộ phận dưới, chế băng cấp phương. Cấp thời khí vị hậu, hoãn thời khí vị bạc. Cốt đứng đến bệnh thời thôi.
Bệnh ở xa, nên do khoảng giữa dùng các khí vị giúp thêm vào. Vừa uống, vừa ăn, nhưng đừng vượt ra ngoài chế độ. Vậy nên, cái phương pháp làm cho khí trở lại hòa bình, bệnh ở pân thời dùng ngẫu phương, nhưng chỉ dùng băng phương nhỏ; bệnh ở xa thời dùng cơ phương, nhưng lại dùng bằng phương lớn (Vị ít nhưng cân lạng nhiều). Phương “đại” thời số vị thuốc ít, phương “tiêu” thời số vị thuốc nhiều. Nhiều thời số vị thuốc dùng gấp chín, ít thời số vị thuốc dùng gấp hai.
Dùng cơ phương mà không khỏi thời thêm ngẫu vảo đó gọi là trùng phương; dùng ngẫu mà không khỏi thời phản tá để trị bệnh.... Tức là theo cái nguyên tắc dùng hàn, nhiệt, ôn, lương để lại theo với bệnh,
Hoàng Đề hồi:
– = Bệnh phát sinh ở bản, tôi đã biết rồi. Còn phát sinh ở Tiêu (ngọn), thời trị liệu thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Bệnh trái với bản, nhận thấy là bệnh của tiêu, trị trái với bản, nhận thấy được phương thuốc để trị tiêu,
Hoàng Đế hôi:
– Thăng của sáu khí, lấy gì để nghe biết được?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nhận ở cái lúc khí nó mới đến. Thanh khí tới nhiều, biết được là táo sẽ thắng. Phong Mộc bị tả, Can bệnh sẽ phát sinh.
Hàn khí tới nhiều, biết được là Thủy sẽ thắng. Hỏa nhiệt bị tà, Tâm bệnh sẽ phát sinh.
Thấp khí tới nhiều, biết được là Thổ sẽ thắng. Hàn thủy bị tà, Thận bệnh sẽ phát sinh.
Phong khí tới nhiều, biết được là Mộc sẽ thắng. Thấp thổ bị tả. Tỳ bệnh sẽ phát sinh. Đó là do cảm nhiễm phải tà khí mà sinh ra tật bệnh,
Gặp phải năm hư, thời tà “thậm”, trái mất sự hòa của mùa, thời tà cũng “thậm”, gặp phải “nguyệt không” tà cũng “thậm”, “trùng cảm phải tà thời bệnh nguy. Nếu có thắng khi, thời tất phải “lai phục”,
Hoàng Đề hồi:
– Mạch như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Quyết âm đến nơi, thời mạch huyền; Thiểu âm đến nơi thời mạch câu; Thái âm đến nơi, thì mạch trầm; Thiếu dương đến nơi, thời mạch phù; Dương minh đến nơi, thời mạch đoản mà sắc; Thái dương đến nơi, thời mạch đại mà trường?
Đến mà hòa thời bình, đến mà quá thời bệnh, đến mà “trái” cũng bệnh, đến mà không đến cũng bệnh, âm dương thay đổi thời nguy!,
Hoàng Đề hỏi:
– Sáu khí tiêu bản, phát sinh không giống nhau, như thể nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí có khi theo bản, có khi theo tiêu, cũng có khi không theo về tiêu vả bản. Tỷ như: Thiếu dương, Thái âm theo bản; Thiếu âm, Thái dương theo bản theo tiêu; Dương minh, Quyết âm không theo tiều và bản, mà theo về trung. Cho nên theo bản thời hóa sinh ra tự bản, theo tiêu và bản thời có cái hóa của tiêu và bản, theo về trung thời lấy trung khí làm hóa.
Hoàng Đế hỏi:
– Mạch thuận mà bệnh trái, thời chẵn như thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Mạch đến mà thuận, án vào không cô (bật mạnh lên tay), các dương mạnh đêu như vậy.
Hoàng Đề hôi:
– Các âm bệnh mà trái, thời mạch như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Mạch đến mà thuận, án tay vào mà cổ, thế là quá mà thịnh,
Áy cho nền, trăm bệnh gây nên, có bệnh sinh ra tự bản, có bệnh sinh ra tự tiêu, có bệnh sinh ra tự trung khí. Có khi lấy ở bản mà được, có khi lấy ở tiêu, bản mà được; có khi lấy ở trung khí mà được, có khi lẫy ở tiêu, bản mà được, có khi nghịch thủ mà được; có khi thuận thủ mà được. Dùng nghịch trị, chính là thuận; nếu dùng thuận, tức là nghịch. Cho nên biết tiêu với bản, dùng sẽ không sai, biết rõ thuận nghịch, trị không còn lỡ. Trải lại, không thê nói là biết chân.
Nghĩ như cái đạo tiêu và bản, yếu mà bác, tiểu mà đại, có thê nói “một mà biết được cái hại của trăm bệnh. Nói tiêu với bản, dễ mà đừng làm tốn; xét bản với tiêu, khí có thể khiến cho quân điều; biết rõ thắng và phục, có thê làm khuôn phép cho muôn dân... Như vậy thời đạo trời sẽ suy biết hết được(6,
Hoàng Đề hỏi:
– Sự biến của thắng với phục, sớm muộn như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Như cái “sở thắng”, “thắng” đến thời khỏi bệnh, bệnh khỏi rồi mà còn khó chịu, tức là cái “phục” đã đương này mầm. Nghĩ như cái — “sờ phục” thăng hết thời phát sinh, dược vị sẽ lại tăng. Thắng có vi với thậm, phúc có nhiều với ít. Thăng hòa thời hòa, thăng hư thời hư... Đó là lẽ thường của trời,
Hoàng Đế hỏi:
– Thăng và phục phát sinh, động không đúng vị, hoặc sau thời mới đến, là cớ làm sao?
X) Bá thưa rằng:
– Vì cái chủ khí, với thịnh suy của hóa, khác nhau hản, thử, ôn, lương, cai dụng của thịnh suy, gây nên ở bốn duy. Cho nên dương nó động, bắt đầu là ôn, mà thịnh về thử, âm nó động, bắt đầu là thành, mà thịnh về hàn. Xuân, hạ, thu, đông, đều có sai lệch. Cho nên nói: Khí noãn của mùa xuân kia, sẽ gây nên khí thử của mùa hạ; khí “phẫn” của mùa thu kia, sẽ gây nên khí “nộ” của mùa đông. Cần xét bốn duy, xích hậu đều theo, “chung” có thể thấy, “thủy” có thể hay...
– Sai lệch có số nhất định không?
– Trước sau, đều ba mươi đốt.
Hoàng Đề hỏi:
– Mạch ứng như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
- Sai cùng chính pháp, đợi thời mà đi”, Mạch yếu nói:
Xuân không trằm, hạ không huyễn. Đông không sắc, thu không sác... Gọi là “tức tắc”'®, Trầm quá là bệnh, huyền quá là bệnh, sắc quá là bệnh, sác quá là bệnh, tham kiến là bệnh, phục kiến là bệnh, chửa nên ởi mà đi là bệnh, đã nên đi mà chửa đi là bệnh... Nếu “phản” sẽ chết. Cho nên nói: Khí nó cũng thủ tư (gìn giữ, trông coi) như “quyên, hành” không thê sai lầm. Phàm khí của âm dương, thanh tĩnh thời việc sinh hóa phát triển. Chính là nghĩa đó.
Hoàng Đề hôi:
– Phân với chí như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Khí chí (đến) gọi là chí, khí phân (chia) gọi là phân. Chí thời khí “đồng”, phân thời khí “đị”. Đó là chính kỷ của trời đất,
Hoàng Đề hỏi:
- Phu Tử nói:
Hai mùa xuân thu, khí bắt đầu từ trước; hai mùa đông, hạ, khí bắt đầu từ sau. Lẽ đó tôi đã biết rồi. Nhưng sáu khí vãng, phục, chủ tuế không thường. Vậy bổ, tả như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Trên dưới sở chủ, theo cái thuận lợi, dùng theo chính. vị, đó là điều cốt yếu. Tả, hữu cùng một phương pháp. Chủ yếu là: Chủ về Thiếu dương, trước dùng vị cam, sau dùng vị hàm; chủ về Dương minh, trước dùng vị tân, sau dùng vị toạn; chủ về Thái dương, trước dùng VỊ toan, sau dùng vị khổ; chủ về Quyết âm, trước dùng vị toan, sau dùng vị tân; chủ về Thiếu âm, trước dùng vị cam, sau dùng vị hàm; chủ về Thái âm, trước dùng vị khổ, sau dùng vị cam... Tá bằng cải sở lợi, tư (giúp) bằng cái sở sinh, như thế gọi là đắc khí,
Hoàng Đề hỏi:
– Trăm bệnh sỉnh ra, đều bởi phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, nó hóa ra biến. Kinh nói thịnh thời tả đi, hư thời bố vào... Tôi muốn được giải thích rõ rệt, truyền về đời sau... Xin Phu Tử truyền cho.
Kỳ Bá thưa rằng:
– Xét rõ bệnh cơ đừng lỡ khí nghi... Đó là một điều cốt yêu”?, Đại phàm: Các chứng hàn thâu dẫn (co rút) đều thuộc về Thận; các chứng khí phẫn uất đều thuộc về Phế; các chứng thấp sinh ra thũng mãn đều thuộc về Tỷ; các chứng nhiệt sinh ra mâu muộn, khiết túng đều thuộc về Hỏa; các chứng đau ngứa, lở láy đêu thuộc về Tâm; các chứng quyết gây nên cố, tiết đều thuộc về bộ phận dưới; các chứng nuy vả suyễn, âu đều thuộc về bộ phận trên””): các chứng cấm khẩu, run rây, như mất tinh thần đều thuộc về Hỏa; các chứng kinh hạng cường (cô cứng đờ) thuộc về thấp; các chứng nghịch xung lên đều thuộc về Hỏa; các chứng trưởng, bụng to vượt đều thuộc về nhiệt; các chứng táo cuông đại đều thuộc về Hỏa; các chứng bạo cường trực (người năm ngay thăng đờ” đều thuộc về phong; các chứng trong bụng réo thành tiếng, vỗ vảo như trống, đêu thuộc về nhiệt; các chứng xương đau, nhức nhối âm ỉ, kinh hãi, đều thuộc về Hỏa; các chứng chuyền (bào) phản lệ (tức là chứng lệch bóng đái), nước tiểu đục, lâm, đêu thuộc về nhiệt; các chứng thủy dịch, trong vắt, lạnh lẽo, đều thuộc về hản; các chứng nôn oẹ, thể ra nước chua: bạo chú, hạ bách (dồn gấp xuống, tức kiết lỵ) đều thuộc về nhiệt. Cho nên nói: Cần giữ bệnh cơ, đều “tư” về liên thuộc với nó; có, thời cầu ở có: không, thời cầu ở không; thịnh, trách ở thịnh: hư, trách ở hư. Phải được ở thắng của năm Tàng, sơ thông khí huyết cho được điều đạt, để đưa đến mực hòa bình... Đó là chính đạo??,
Hoàng Đề hồi:
– Cái công dụng về âm dương của năm Vị như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
- Vị tân và cam, nó có cái năng lực phát tán, thuộc về dương:
Vị toan và khô, nó có cái năng lực dũng tiết (làm cho thổ vọt lên, hoặc hạ xuống), thuộc về âm; vị hảm, có cái năng lực dũng tiết, thuộc về âm; vị đạm, có cái năng lực thấm tiết, thuộc về dương. Sáu vị đó, hoặc thâu, hoặc tán, hoặc hoãn, hoặc cấp, hoặc tảo, hoặc nhuận, hoặc nhuyễn, hoặc kiên... Nhận thấy lợi về đâu thời theo đó mà thi hãnh, ' miễn cho khí được bình.
Hoàng Đề hồi:
– Không chuyền về một việc điều khi... Nhưng dược vị có thứ có độc, có thứ không độc, nên dùng thứ nào trước, thứ nào sau... Xin cho biết rõ.
Kỳ Bá thưa răng:
– Dù có độc, dù không có độc, chỉ chú ý về cái năng lực trị bệnh làm chủ, do đó mà chế tễ cho lớn nhỏ vừa độ...
– Xỉn cho biết “chế” thế nào?
– Quân một, thần hai, là chế nhỏ; quân một, thần ba, tá năm, là chế hạng trung: quân một, thần ba, tá chín, là chế hạng đại.
Bệnh hàn thời trị băng nhiệt, bệnh nhiệt thời trị băng hàn; bệnh vị thời dùng phép nghịch, bệnh thậm thời dùng phép tùng, bệnh kiên thời tước (như đẽo, xén) đi; là khách thời trừ đi; lao thời dùng phép để ôn, kết thời dùng phép để tán, lưu thời dùng phép để công, táo thời dùng phép để nhuận (như cũng thể); cấp thời làm cho hoãn tán thời làm cho thâu, tôn thời làm cho ích, giật thời làm cho hành, kinh thời làm cho bình... Hoặc làm cho thượng (dẫn lên), hoặc làm cho hạ (dẫn xuống), hoặc ma (xoa bóp), hoặc dục (tắm, ngâm), hoặc bách (dồn vào), hoặc hiếp (cướp bỏ bệnh đi, một phương pháp mãnh liệt, hoặc khái, hoặc phát. Đều làm cho đúng “mực” thì thôi.
Hoàng Đề hỏi:
– Thế nảo là nghịch, tùng?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Nghịch là chính trị, tùng là phản trị. Theo ít, theo nhiều, cốt xem ở lúc làm việc ra làm sao?
Hoàng Đề hôi:
– Phản trị là thế nào?
Kỳ Bá thưa răng:
– Dùng nhiệt vi hàn; dùng hàn vi nhiệt; dùng tắc vi tắc, dùng thông vi thông. Phải phục cái sở chủ, mà trước cái sở nhân. Lúc bắt đầu thời đồng, khí về sau thời dị, có thể làm cho phá chứng tích, cỏ thể làm cho vỡ chứng răn; có thê khiến cho khí hòa, có thế khiến cho bệnh khỏi,
Hoàng Đế hỏi:
– Khí điều mà được, như thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Hoặc nghịch, hoặc trùng, hoặc trùng mà nghịch, hoặc nghịch mà trùng... Sơ thông cho khí được điều hòa, đó là đạo chính.
Hoàng Đề hỏi:
– Bệnh phát sinh, trong ngoài như thế nảo?
Kỳ Bá thưa rằng:
Ộ - Bệnh từ trong phát ra ngoài, thời phải điều trị ở bên trong: bệnh từ ngoài phạm vào trong, thời điều trị ở bên ngoài. Từ bên trong phát ra bền ngoài, mà thịnh ở bên ngoài, trước điều trị bên trong, rồi sau điều trị bên ngoài; từ bên ngoài phạm vào bên trong, mà thịnh ở bên trong, trước điều trị bên ngoài, rồi sau điều trị bên trong. Nếu trong ngoài không liên lạc với nhau, thời trị chủ bệnh.
Hoàng Đế hỏi:
– Về chứng hỏa nhiệt, lại ố hàn, phát nhiệt, có cái trạng thái như ngược. Hoặc mỗi ngày phát một lần, hoặc cách vải ngày lại phát, đó là cớ sao?
Kỳ Bá thua răng:
– Đó là do cái khí thắng phụ, cái thời hội ngộ, có nhiều ít khác nhau. Âm khí nhiều mà Dương khí ít, thời cái ngày phát bệnh xa. Dương khí nhiều mà Âm khí ít, thời cái ngày phát bệnh gần. Đó là do thắng với phục cùng xen nhau và cái tiết thứ của sự thịnh suy nó phát ra như vậy. Về chứng ngược cũng cùng một nguyên tắc,
Hoàng Đề hỗi:
- Luận nói:
Trị hàn bằng nhiệt, trị nhiệt băng hàn... Vậy mà có khí chính là bệnh nhiệt, dùng hàn để trị mà vẫn nhiệt, có khí chính là bệnh hàn, dùng nhiệt đề trị mà vẫn hàn... Hai trường hợp đó đêu là tân bệnh mới phát, vậy điều trị thế nào?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Cách chứng dùng hàn đề trị mà vẫn nhiệt, nên bô ở phân âm, các chứng dùng nhiệt để trị mà vẫn hàn, nên bô ở phân dương... Đó tức là câu với dùng loài để điều trị,
Hoàng Đế hỏi:
– Uống thuốc hản mà lại nhiệt, uống thuốc nhiệt mà lại hàn, là cớ sao?
Kỳ Bá thưa rằng:
– Vì trị cải vượng khí, nên mới “trái lại” như vậy.
– Không trị cái vượng khí mà cũng thế, là vì sao?
– Đó là không xét ở sự liên thuộc của năm vị. Phàm năm VỊ vào Vị, nó đều dẫn đến cái cơ quan mà nó ưa thích (hỷ). Toan trước vào Can, khổ trước vào Tâm, cam trước vào Tỳ, tân trước vào Phé, hàm trước vào Thận. ''Lâu mà tăng khí”, đó là lẽ thường của vật hóa. Khí tăng mà cứ đề lâu mãi, đó là cái nguyên do ốm và chét...,
Hoàng Đề hỏi:
– Phương chế có chia ra quân và thần là vì sao?
Kỳ Bá thưa răng:
Cái VỊ chủ trị vào bệnh, thì là quân; VỊ nào tá quân thời là thần; giúp việc với thần gọi là sứ chứ không phải theo cái nghĩa thượng, trưng, hạ là ba phẩm đâu.
Hoàng Đề hỏi:
– Chia ra ba phẩm là thế nảo? Kỳ Bá thưa rằng: - Chỉ là tỏ ra thiện ác khác nhau đấy thôi#,
Hoàng Đề hỗi:
– Bệnh chia trong ngoài, như thế nào?
Kỳ Ba thưa rằng:
– Về phương pháp điều khí, cần phải phân biệt âm, dương. Định rõ bệnh đo trong hay do ngoài, mà giữ cho đúng địa vị của nó. Bệnh ví thời dùng phép để điều hòa; bệnh hơn lên một chút thời dùng phép để bình trị; nêu thịnh thời phải đoạt nó đi, hoặc phát hãn, hoặc công hạ v.v... Đến như các chứng hàn, nhiệt, ôn, lương thời dùng hản trị nhiệt, dùng nhiệt trị hản... Dều theo về liên loại của nó mà làm cho trừ giảm bệnh tà... Miễn sao giữ đúng nguyên tắc, vạn cử, vạn toàn, tự nhiên thọ mệnh dược lâu đài, mà đối với y đạo cũng không cỏ gì khuyết hám nữa.
(HÉT QUYẾN XIV
Chú Giải
- Đây nói về sáu khí Tư thiên, mà vòng quanh ở dưới đất, cho nên coi về việc Tư thiên cùng một phương pháp nhận xét (Đồng hậu), theo tả hữu là hoàn chuyển, Nên vẻ gián khí cũng vậy. Duy cái khí Tư thiên, Tại toàn, thời kỳ tuế (phi chép từng năm), giản khí thời kỷ bộ (ghi chép từng bộ) là không giỗng nhau. f Đây nói về sự Tư thiên, Tại toàn của sáu khí, với sự phân trị của hóa vận và gián khí, đều có thịnh có hư, mà gây thành tật bệnh cho con người. Người trị bệnh, hoặc theo tuế khí, hoặc theo vận khí, lấy cái năm Vị, năm sắc do thiên địa sinh ra, mà hợp với sự thích nghi của năm Tàng... Có như ẳ thế, mới có thể nói được sự doanh hư của năm vận, sáu hóa, và cái nguyên nhân sinh ra tật bệnh.
- Cận thận để "hậu" (nghe) cái sự thích nghỉ của sáu khí, đừng để lỡ mất cái nguyên sinh ra bệnh của năm hành.
- Xét về khí vận từng năm, đề tích trữ phòng bị những dược vị điều trị về năm ây. t Trên đây nói "chủ bệnh", tức là nói về các dược vật chủ trị về các chứng bệnh năm ấy. Như gặp năm Thiếu âm, Thiếu dương tư tuế, thì nên thâu trữ những dược vị có tính chất nhiệt như Phụ Tứ, khương, quế v.v... Dương minh táo Kim tư tuế thì nên thâu trữ những dược vị có tính chất táo như thương truật, tang bì v.v. Quyết âm phong mộc chủ tuế thì nên thâu trữ những phong dược như Phòng phong, Khương hoạt v.v. Các năm khác đều theo một nguyên tắc như vậy. Vì các vị đó, đều bẩm thụ cái “chuyên tỉnh của trời đất. "Tư khí" tức là "trị" cái khí của năm vận. Năm vận dù với chủ tuế tương đồng nhưng lại có thái quá, bất cập khác nhau. VỀ năm thái quá thì vật lực hậu; về năm bất cập thì vật lực bạc. Nếu lại là những vật ở vào các năm khí vận tư tuế, thì khí tán mà lực bạc, cho nên hình chất dù đông mà năng lực có khác. "Trị bảo có nhiều, ít v.v." là nói về các dược vị dùng đề trị bệnh và bảo chân (tức là bảo toàn chân nguyên, tức là bổ) hoặc nên dùng nhiều, hoặc nên dùng ít, không giống nhau.
- Từ đời trung cỗ về sau, không thị hành được cái phương pháp "tư tuế, bị vật", nên phải dùng phép bảo chế để thay cho cái khí lực tự nhiễn của trời đất. Như chế Phụ Tử thì gọi là “bào chế" tức nướng chín. Còn thương truật, tang bì v.v. Thì gọi là "sao", đó là lấy hỏa để giúp hóa, lẫy táo đề giúp táo. Cận thế, có ké chế Phụ Từ, bó vào nước luộc kỹ, sọi là "tư chế", chế Tang bì thì tâm mật sao gọi là "nhuận táo"... Thế có khác gì dùng chìm ưng, chó săn mà đem chặt bỏ móng và nanh của nó, còn mong gì nó bắt thỏ, bắt cầy được nữa dư?
- Đây nói về cái khí của năm vận, bị sự "thẳng, chế" của Tư thiên, Tại toàn. Năm Tàng bên trong thuộc với năm hành, bên ngoài hợp với năm vận; khí của năm vận, bị cái khí “thắng chế" nó phạm, thì bệnh sẽ sinh ra năm Tàng mà làm hại. Như thiếu thương Kim vận, mà gặp "hai hỏa" Tư thiên, Thiếu cung Thô vận, mà gặp Quyết âm Tại toàn... Đó đều là vận khí "sở bất thắng", mà bị "thăng khí" nó "chăng chế". Cho nên nhân ở cái "sở bắt thắng", thì cái cốt yếu của "tuế chủ Tàng hai" sẽ biết được.
- "Trên râm xuống dưới v.v." là nói về cái khí Tư thiên nó tràn lẫn cái vận khí ở dưới; nên lấy cái "sở thắng" để dẹp cho yên. Tỷ như: Thiếu dương Kim vận, mà hỏa nhiệt lâm ở trên, nên "binh” băng ví hàm, hàn; "t bằng vị khổ, cam. "Do bên ngoài râm vào trong v.v," là nói về cái khí Tại toàn, nó tràn lấn năm vận ở bên trong, nên lây cải "sở thắng" đề điều trị. Như Thiếu cung Thố vận, mà phong mộc lấn xuống. Nên dùng vị tân, lương đề điều trị lại, dùng vị khố, cam để làm tá.
- "Bình khí" tức là cái năm không có trên, dưới, thẳng, chế và vận khí hòa bình. Phàm những năm thuộc về Giáp, Bính, Tuất, Canh, Nhâm là dương vận; những năm thuộc về Át, Đinh, Ty, Tân, Quý là âm vận. Hai vận về âm, dương đó, có thái quá, bất cập khác nhau nên phải "xét rõ ầm dương ở đầu” đề điều trị "chính trị"... Như về năm thái quá, nên nén bớt cái thắng khí mà nâng đỡ cái "bất thăng", “phản trị”, là như cái vận bất cập, bị cái khí "sở bất thắng" nó "phản thắng". Vậy phải "phản tá" đề diều trị.
- Trên đây nói: Nam, Bắc... Tức là một dấu hiệu, một danh tử riêng về âm, dương. Ở trong năm vận, Mậu, Quý hóa hỏa, nên lẫy những năm thuộc về Mậu, Quý... Gọi là Nam chính, còn những năm Giáp, Át, Bính, Định,, Ky, Canh, Tân, Nhâm... Gọi là Bắc chính. Chính lệnh cửa năm vận có Nam có Bắc; khí của Thiếu âm, có âm có dương. Vì vậy nên theo đó mà lên xuống, "Thôn. Xích", là nói về bộ Vị của huyết mạch... Huyết là một "chất lỏng" ở Trung tiêu trần lan xuống bộ phận dưới thì là sinh; phụng "thần của Tâm hỏa đỏ mà thành huyết... Cho nên mạch phát sình từ túc Thiếu âm Thận. mà chủ ở thủ Thiếu âm Tâm. Vì vậy, chân âm dương ở Thốn, Xích, có thê biết được trên dưới của Thiếu âm.
- phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa... là khí Âm Dương của trời; Tam âm, Tam dương ứng lên nó, để tư về sáu khí chủ tuế, Mộc, Hỏa, Thỏ, Kim, thủy, hỏa là âm dương của đất, để tư về sự hóa vận của năm hành. Hóa vận cử hết năm năm thì hữu thiên, mà ở trong năm hành lại có hai "hỏa”, cho nên quần hỏa không “tư” về khí hóa. Nhưng dù không chủ vận, mà đã có cái vị trí nhất định. Ở trên Thiếu âm quân hỏa làm chủ, thể là Thiếu âm bản ở âm mà chủ về dương. Vì vậy, cái năm thuộc về Nam chính ở về phần dương, mà cái năm thuộc về Bắc chính ở về phản âm. Tư thiên ở Nam, Tại toàn ở Bắc, đó lại định vị của trời đất. Y giả ngoành mặt về phương Nam đề chân mạch, thì "thôn" là dương mà ở phía Nam, "Xích" là âm mà ở phía Bắc. Về năm Bắc chính, Thiếu âm Tại toàn thì theo âm mà ở phía Bắc, vì vậy Thốn khẩu không ứng. Về năm Nam chính, Thiếu âm Tư thiên thì đổi với âm mà ở về dương, vì vậy Thôn khẩu cũng không ửng. "Không ứng" là luồng mạch nhỏ mà hiện rõ lên tay người chân. Đó là nói về âm dương, Nam Bắc của Xích, Thến, về năm Bắc chính, Quyết âm Tại toàn, thì Thiếu âm ở tả, cho nên bền hữu không ứng; Thái âm Tại toàn thì Thiếu âm ở bên hữu, cho nên bên tâ không ứng. Về năm Nam chính, Quyết âm Tư thiên thì Thiếu âm ở bên tả, cho nên bên hữu không ứng; Thái âm Tư thiên thì Thiếu ' âm ở bên hữu, cho nên bên tả không. Đó là nói về tả hữu của Nhân nghỉnh và Thốn khẩu. "Phân kỳ chẩn" tức là đổi y giả ngoảnh về Nam hoặc về Bắc để chân. Giờ đem bản đồ để ở trên bàn, đề Tư thiên về Nam, thì Tại toản ở về Bắc. Về năm Bắc chính, y giả trông về Bắc để chân; về năm Nam chính, y giả trông về Nam để chắn, thì tả, hữu không ứng sẽ nhận thây ngay. “Biết cốt yếu..." Ở đây, là nói về: Biết Thiếu âm nó không tư về khí hỏa, theo âm dương mà hoặc ở trên, hoặc ở dưới v.V... Chư Vệ Công hỏi: Giả như những năm Giáp Ty, Giáp Ngọ, quân hỏa Tư thiên mà Thốn khẩu không ứng, thế là cái kinh Thiếu âm Tư thiên lại không ứng với mạch ư? Đáp: Cái "đạo" của năm vận, sáu khí: năm vận ngoài hợp với năm hành, trong hợp với năm Tàng. Cái khí của năm Tàng hiện ra sáu bệ mạch, mà rồi mới hợp với sáu khí. Thể là có cảm với cái khí của năm vận, mà rồi mới hiện ra Thốn, Xích. Cho nên có câu nói: "Khi của trời đất, đừng chân ờ mạch”, tức là nói: Sáu khí Tư thiên, Tại toàn không hiện ra mạch vậy.
- Hóa của Thiếu âm phát sinh từ trong Thủy; Hỏa của Thiếu dương phát sinh từ trong đất. Cũng đều có sự phân chia âm, dương, hàn, nhiệt. Nền dùng hậu. Tức là cùng tất cả các biến dịch, chứng hậu. lo Phong là Mộc khí, Kim có thê thăng được nỏ; nên trị bằng vị tân và lương. Nếu quả tân, lại e hảm hại khí, nên dùng vị khổ và cam làm tá. Vì Thổ thăng được tần mà cam thì ích khí. Tính của Mộc cấp, nên dùng vị cam lảm cho hoãn (chậm) lại; vì phong tả thắng, nên dùng vị tân đề làm cho tán đi. C Nhiệt là khí của hỏa, Thủy có thể thắng được nó, cho nên dùng những vị hàm và hàn để điều trị, mà dùng vị khổ và cam làm tá. Cam thăng được hàm, dùng đề phòng sự "quá đáng" của hàm; vị khổ có thể tiết, cốt đẻ trừ bỏ cái thực của nhiệt. Toàn là vị của Mộc, Hỏa sinh ra bởi Mộc. Dùng vị toan đề thâu lại, tức là thâu cho Hòa trở về gốc. Nhiệt uất ở trong mà không giải được, nên dùng vị khổ đề phát ra.
- Thấp là khí của âm Thổ, cho nên phải dùng vị khổ và nhiệt đề điều trị, vì khô thắng được thấp, mà nhiệt để hòa âm. Toan theo Mộc hóa, nên tá bằng vị toan và đạm; dùng vị khổ đề làm cho táo, vì khổ theo hỏa hóa; dùng vị đạm đề làm cho tiết, vì vị đạm có cái tính chất thấm tiết, thuộc về dương.
- Vì Hóa râm, nên trị bằng vị hảm và lãnh. Khổ hay tiết, tân hay tán, nên dùng khô vả tân làm tà...
- Táo là cái khí thanh lương của Kim, cho nên dùng khô và ôn đẻ điều trị. Táo thì khí kết ở trong, cho nên tá bằng tân, cam để phát tán, và dùng vị khổ đẻ hạ.
- Hàn là Thùy khí, Thổ thắng được Thúy, nhiệt thắng được hàn, cho nên dùng cam vả nhiệt để điều trị.
- Án: Về khí Tại toàn, nói: "Nhiệt râm ở trong v.v..." Và nói "trị bằng v.v."; về khí Tư thiên thì nói: “Nó thắng v.v..." Nói: "Bình v.v.". Bởi thiên khí ở ngoài mà địa khí ở trong, cho nên nỏi răng "trị", Trị là trị ở bên trong mà khiến cho dồn ra bên ngoải. Còn nói rằng: "bình", là bình ở bên trên để cho dồn xưống dưới. Vì vậy ở Tại toàn thì nói: "Dùng vị tân để làm cho tán...", ở Tư thiên thì nói: "Dùng vị toan để tả....
- Ở đây, cũng giống với trị pháp ở Tại toàn... chỉ thiếu một câu "dùng vị khổ để cho phát ra...". Bởi từ dưới dẫn lên trên, mà lại râm vào bên trong, nên cân phải theo mà phát tán ra ngoài.
- Thấp là thấp khí của Thổ. Vậy ở bộ phận trên nhiệt quá, cũng nên dùng tân ôn đề phát tán, cho có mò hôi ra mới thôi.
- Hỏa của Thiếu dương là địa hỏa. Nếu "bình" mà chữa được là do nhiệt rầm ở bên trong. Cho nên phải dùng vị khổ để phát ra. Đó chính là cái nguyên khí của Tam tiêu, cho nên lại dùng vị toan đề thâu lại, không đề cho phát tán quá. Đến như cái nhiệt Thiếu âm, là do cái Hỏa của Quân chủ râm quả, thì trong ngoài cùng hợp, cũng nên dùng vị khổ làm cho phát ra.
- Khổ và ôn thăng được thanh Kim; tân có thê nhuận được táo; táo thì tất sinh ra chứng nội kết, cho nên dùng vị toan và khô đề làm tiết ra.
- Bị râm vào bên trong, thì sẽ liên can đến Tàng khí, cho nên ở trên nói: "dùng vị tân làm cho nhuận, dùng vị khổ đề làm cho kiên...". Vì đó là bị thăng ở bên ngoài, chỉ nên "bình" và "tả" mà thôi.
- "Lại thăng v.v..." Tức là nói về cái khí bất chính lại thắng cải khí Tại toàn, chủ tuế. Vậy lại phải dùng những vị có cái khí vị thắng được tà đề bình và trị lại. Đây nói về sáu khí Tư thiên, tà khí lại thắng, nên dùng những vị có cái khí và vị thăng được nó đề bình, trị. êm Đây nói về cái khí Tam âm, Tam dương chủ tuế, bị râm thắng mà sinh bệnh, thì nên lấy những vị có cái khí vị thăng lại được để bình nó.
- Khí âm thấp râm ở bên ngoài, thì Hỏa khí uất ở bên trong nên các chửng mụn lở mới phát ra từ bên trong. Cái khí thấp nhiệt lưu tản ở bên ngoài, thì lây đến phong mộc, nên mới bệnh ở khư hiếp; "quá lắm thi Tâm thống..." là lại đo Mộc truyền sang Hỏa... Đó là do cái khí của Thái âm, nhân hỏa thô cùng hợp mà “râm"” ở nửa năm về trước.
- Phàm trị các “thắng khí", nếu hàn thì làm cho nhiệt, nhiệt thì làm cho hàn; ôn thì làm cho thanh, thanh thì làm cho ôn; tần thì thẫu lại; thâu thì tân đi: táo thì làm cho nhuận; cấp thì làm cho hoãn; kiên làm cho nhuyễn; suy thì bỗ thêm; cường thì tả đi... Cốt làm an chính khí, thì bệnh khí sẽ suy. Đó là đại thể của trị pháp.
- “Phục”, là nói về cái khí Tam âm, Tam dương, bị cái khí "sở thắng nó thăng chế, uất cực mà phục (lại) phát. Thiếu phúc kiên mãn v.v, đó là do khí của Quyết âm uất mà muốn phát. Về chứng "quyết Tâm thống", mặt tái mét như sắp chết. suốt ngày không nghe tiếng thở mạnh. Đỏ là do khí của Quyết âm phạm lên Tâm. "Hãn phát" là do cái khí dương phong nhiệt lẫn vào âm mà sinh ra. "Áu thô v.v." là Mộc râm mà Thổ bỊ bại. "Gân xương choáng váng v.v." là đo phong khí thịnh; "thanh quyết" là do chứng phong râm ở trên, âm nghịch ở dưới; "thực tý" tức là chứng cuỗng họng vít và đau. Xung đương là động mạch của Vị. Mạch này tuyệt là do phong khí thịnh mà Thô khí tuyệt,
- Sự thắng phục của sáu khí, khác với năm vận. Những năm bắt cập về năm vận, có thăng khí, mà từ khí vì mẹ phục thù. Còn thắng phục của sáu khí, không chia thái quá và bất cập. Có thăng thì có phục, không thăng thì không phục, thắng nhiều thì phục nhiêu, thăng ít thì phục it mà cái khí: đến phục, tức là cái bản khí bị uất mà lại phát, không phải là con phục thủ cho mẹ nữa. Cho nền trên đây nói “phục của Quyết âm, phục của Thiếu âm v.v...“ khác với thuyết ở thiên khí giao biến luận.
- Thiếu phúc giảo thống, là đo Âm khí của Thiếu âm phát sinh ở dưới. "Ách táo" là do hỏa nhiệt phạm Kim, âm hàn ở phúc thời "chú, tiết". Dược cái khi hỏa nhiệt, thì chứng "chú" ngừng; Thiếu âm tiêu và bản đều phát nên "chú" với "tiết" phân mà cũng có lúc ngừng. "Khí động ở tả", là đo cái khí quân hỏa phát sinh ở trong Thủy bên tả Thận; "dân lên bên hữu", là do Phê với Thận trên dưới cùng giao, Thận là bản mà Phế là mạt. Hỏa râm lên Phế, nên phát khái mà ngoài da đau; “Tâm thống" là đo Hỏa khí tự thương: "Uất mạo không biết gì..." là do cái khí hàn nhiệt làm rối loạn ở bộ phận trên... Hàn rỗi mà lại nhiệt... là do cái khí âm hàn của Thiếu âm theo "hỏa hóa" mà thành nhiệt. Vì vậy, nên khát mà muốn uống nước. "Ợ" là do khí cùa Tiểu trường không thông, nghịch khí chạy lên Tầm mà sinh ra...
- Về Khí ẩm thấp nhiều, nên mình nặng, bụng đây. "L bì, ĩm lặng... bệnh nhân chỉ muốn nằm một mình, đo âm dương xung đột mà gây nên. Thái âm tức là Tam âm; âm biến mà lắn lên dương, thì dương muốn hết mà âm càng thịnh nên mới thổ ra nước trong. "Vào Thận" tức lả phạm xuống hân thủy của Dồng lệnh. Thận khai khiếu ra "hai âm", nên "khiến tả vô đệ. Thái âm ở trung thỗ mà vượng ra tứ quý, vì vậy "thắng khí" của nó sẽ thắng cả ở bốn mùa. "Phục khí" ở vào nửa năm về sau, cho nên chỉ phạm lên Thu kim của Phẻ, vị và Thận thủy của Đông lệnh,
- Hỏa của Thiếu dương lại phát sinh về mùa thu, đông nên sinh các chứng trạng: kinh, nhiệt v.v. là đo nhiệt phạm lên Tâm phế; “Tiện sác, phê gió" là do hạ khiếu đều nhiệt: "Miệng lở nát”... là do nhiệt thịnh ở thượng tiêu. Phát ra ở Trung tiêu thì sinh các chứng âu, nghịch. phát ra ở Hạ tiêu thì sinh các chứng huyết giật, huyết tiết.
- "Khí về bên tả", là Kim phạm vào Mộc. "Tầm thống, bĩ mãn v.v. tức là Hỏa phạm Thô vị; "hay thở dài nôn ra nước đăng" là đo Mộc bị Kim hại, khiến cho "phủ" (tức Đởm) cũng mắc bệnh. Bệnh phát sinh ở khư hiếp, đều nhức v.v, tức là bệnh tại kinh khí của Can. Nếu vào Can, tức là phạm cả Tàng... Tà phạm vào Tảng thì nửa sống nửa chết. Vì tà tuy phạm vào Tảng, mà chân khí của Tàng không bị thương thì sống. Nếu Thải xung mạch tuyệt, là chân nguyên bị thương rồi, nên phải chết.
- "O yết khí dẫn lên v.v." đó là cái uất nghịch dẫn lên, mà muốn phục lại cái khí từ nừa năm về trước. "Thỉnh thoảng ngã ngất v.v." là quyết khỉ từ dưới đi lên trung, rồi do trung mà lên thượng. "Ấn kém” là do Thủy phạm lên Thổ; "yêu chủy lại đau, co duỗi không tiện" là do Thủy râm mà "lại" tư thương. "Nhô ra nước trong" là bệnh từ VỊ mà phạm lần Tâm... Đó cũng là báo phục cái Mộc, Hỏa, Thô từ nửa năm về trước. Vương Từ luật nói: Ba khí Mộc, Hòa, Thổ, mẹ con cùng hợp, để thăng cái khí nửa năm trở về sau, vì vậy, lại phát đề báo cá lại. Tốn Công hỏi: Thái ảm Thiếu dương có những chứng hậu do thủy hỏa đều phát, vậy sao cái phục của Thiếu âm chỉ có hàn khí, mà cái phục của Thái dương lại không có Dương nhiệt tư
- Thiếu âm bản là Hỏa. Thái dương bản là hàn cái khí báo phục phát ra ở nửa năm về sau... lúc đỏ thuộc thời tiết "lương, hàn”, nên cho Thiếu âm có hàn mà Thái dương không có nhiệt, là theo thời mà hóa Vậy.
- Ở chương trên nói: "Phát biêu không phải lánh xa nhiệt, công lý không phải lánh xa hàn...". Nhưng nếu cái Hòa của Thiếu dương, Thiếu âm uất mà không giải, thì nên không cần lánh xa nhiệt mà phát tán nó đi. Nhưng không nên phạm đến ôn lương. Bởi "tử chỉ khỉ" nên lương, "tam chỉ khí" nên ôn. Bao giờ hết cải "tam chỉ khí" mới có thể dùng nhiệt. Vậy thì khi tất phải theo cho đúng. Phục của Dương minh mà dùng vị khổ để làm cho tiết, làm cho hạ v.v. Tức là nói thấm tiết bớt bỏ tiêu tiện và hạ bỏ đại tiện, ở Đây nói về bộ phận trên và dưới của con người, để ứng với trời và đất ở trên và dưới. Như: nửa năm về trước, khí trời làm chủ, tức là thuộc về Quyết âm phong mộc, Thiếu âm quân hỏa, Thiếu dương tướng hóa. Nừa năm về sau, địa khí làm chủ, tức là thuộc về Thái âm thấp Thổ, Dương minh táo Kim, Thái dương hàn thủy. Ở con người, cái khí Quyết âm phong mộc, cùng Đốc mạch hội họp ở đỉnh đâu, như thế là Mộc khí ở lền trên Hỏa khí. Ở dưới quân hỏa. Bao lạc tướng hòa chủ khí, thế là cả ba khí Mộc, Hỏa, và Hỏa ở nủa mình trở về trên, Tỳ thỗ ở phía trên Dương minh, Phế kim; Dương minh ở trên Thái dương Bàng quang... Thế là cả ba khí Thỏ, Kim, Hỏa ở vẻ nửa mình thuộc bộ phận dưới. Lẫy cái đanh Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy... để đặt tên ba khí ở bộ phận trên và ba khi về bộ phận dưới. Lấy ba cái khí thuộc về bộ phận trên dưới đó, để ấn định cái "nôi" ở trời hoặc ở đật, mà phân biệt cái bệnh thuộc về Tam ầm Tam dương, thì cái khí thăng và phục có thê biết được. "Bán" là nửa, tức là chỗ "nửa", chỗ đó gọi là Thiên khu, ở cạnh rỗn hai tắc, tức là huyệt danh của Dương minh. Tức lả do nơi đó đề chia đôi cái thân hình của con người. Sở dĩ pợi là "khu", tức lả cái nơi toàn chuyên của các khí đo trên dưới hỗ giao với nhau.
- Đây nói về thắng khí ở trên và dưới. Như nửa mình trở lên Mộc khí thăng, mà nửa mình trở xuống ba khí Thổ, Kim, Thủy đều mắc bệnh, thì lấy "địa" đề đặt tên; tức là nói bệnh thuộc về bộ phận địa. Như Thổ, Kim, Thủy thuộc về nửa mình trở xuống mà thắng, mà hai khí Mộc, Hỏa thuộc về nửa mình trở lên mắc bệnh, thì lấy "thiên" để đặt tên; tức là nói bệnh thuộc về bộ phận thiên. Bởi vì lấy bộ phận trên dưới con người đề ứng với trên dưới của trời đất, cho nên lấy thiên, địa để đặt tên. vả Đây nói về phục khí ở trên và dưới. Như "thắng" đến, thì cái khi báo phục, khuất phục ở bản vị mà chưa phát. "Phục" đến, thì dùng phép trị phục khí đề trị. không cần phải lấy "thiên, địa" để đặt tên, Như cái phục của Quyết âm Thiếu âm, Thiếu dương. Khí đó phát ra ở cái thời kỳ tứ khí ngũ khí; phục của Dương minh, Thải dương, mà khí đó lại theo về sơ khí, nhị khí là Mộc, Hỏa... Cho nên không cần phải lấy Mộc, Hỏa ở về nửa năm về trước, mà dùng những đanh từ thuộc về "thiên" để đặt tên; và Kim, Thủy chủ vẻ nữa năm về sau, cũng không cần phải dùng những đanh từ thuộc về "địa" để đặt tên. Chỉ coi như phục khi, để dùng phương pháp điều trị.
- Mộc. Hòa, Thổ, Kim, Thủy, bốn mùa có định vị, mà cái khí thắng và phục, không theo các bản vị sở chủ mà phát, cho nên khí không có nhất định. Bởi vì sáu khí đều chủ về một năm; cái khí chủ tuế thắng thì xuân sắp đến mà phát ngay; thế là cái khí Thái âm, Dương minh và Thái dương đều phát câ ra ở xuân và hạ. Như cái phục của sáu khí, là do uất mà rồi mới phát, cho nên phát ở nửa năm về sau. Thế là cái phục của Quyết âm, Thiếu âm, Thiếu dương đều phát ra cá ở thu và đông. Cho nên nói: “Sơ khí cuối cùng ở tam khí, thiên khí làm chủ; đó là lẽ thường của thăng khí. Tứ khí hết ở chung khí, địa khí làm chủ; đó là lẽ thường của phục khí. Có thắng thì có phục, không thi không...". Vĩ vậy cái khi thăng và phục không theo cái thương vị của bốn mùa, mà không thê lấy làm nhất định.
- "Phục mà lại bệnh v.v..." Như Hỏa khí phục mà lấn lên Kim vị, Kim khí phục mà lấn lên Hỏa vị... Đó đều là không phải vị, tức là bất tương đắc. Vì thế nên đại phục các thắng, thì chủ sẽ thăng, cho nên lại mắc bệnh. Như Hòa khí dại phục, mà lẫn tới Dương minh, thị cái chủ khí của năm vị sẽ thắng; như Kim khí đại phục mà lần tới Thiếu âm, thì cải chủ khí của hai vị sẽ thắng, cho nên phục khí lại mắc bệnh. Đó tức là ba khí hỏa, nhiệt và táo. Các khí khác đều như vậy. é Vi thời tùy..." Tức là thuận khí để điều hòa; “thậm thời chế...” Tức là chế cái minh úy "hòa thời bình” là làm cho bình cái vị tà; “bạo thời đoạt tức là tả bỏ cái cường thịnh. Chỉ theo cái thăng khí để trị, thì cái khí khuất phục tự yên. Nhưng không cân phải hỏi nó thăng và phục loanh quanh như thế nào, chỉ lẫy khi bình làm giới hạn.
- Đây luận về sự thắng và phục cửa chủ khí, khách khí.
- Thiên trên nói về "sơ chi khí, nhị chí khí..." là cái "khách khí, gia lâm", gây nên bệnh hoạn cho con người. Sau bàn: "Quyết âm đến đâu là hòa bình v.v." Đó là nói về chủ khí có những trường hợp "đức, hóa, biến, bệnh”. Về chương này lại bàn về chủ khí, khách khí. có sự thuận nghịch về “bì thử tương thắng"... Xem đó thì về bảy thiên nói về tuế vận có chỗ tựa như trùng phức, mà nghĩa thật khác nhau, học giả nên nhận cho kỹ.
- Khách khí là Tư thiên, Tại toàn, tả hữu gián khí, với sáu khí ở trời. Trời bọc ở ngoài đất, do toản hạ mà sáu khí toàn chuyên, đó là đạo trời. Chủ khí lả cái định vị của năm phương và bốn mùa, đó là đạo đát. Khôn thuận theo trời, vì vậy chủ thẳng là nghịch, khách thăng là thuận. là đạo trời, “3 Sơ khí của Thiếu âm Tư thiên là Thái dương hản thủy, "nhị chỉ khí là Quyết âm phong mộc, "tam chỉ khí" là Thiếu âm quân hỏa... Các chứng cữu, xị v.v... là do khí của Quyết âm thắng. Các chứng đầu cứng đờ v.v... là do khí của Thái dương hàn thủy thắng. Các chứng thiểu khí, phát nhiệt v.v... là do khí của quân hỏa thắng. Chủ khí của "sơ" là Quyết âm phong mộc; “nhị chỉ khí” là quân hỏa; "tam chỉ khí" là tướng hỏa... "chủ thăng thì Tâm nhiệt v.v... là khí của hai hoà quân tướng thắng; “quá lắm thời huyết thống v.v..." là do sơ khí của Quyết âm thắng. Bởi quân hỏa tư tuế, cho nên hỏa thăng trước, quá lắm thì mới lây tới Quyết âm.
- Thiếu dương Tư thiên, sơ khí, tam khí là hai hỏa quân, tướng: "Nhị khí" là Thái âm thấp thổ. Hai hỏa quần tưởng đều dẫn ra tay, nên tay nóng.
- "Cao thời..." là nói về chủ khí nghịch lên ở bộ phận trên; "Thấp thời..." là nói về khách khí phạm vào bộ phận dưới. "Hữu đư” là nói về thăng khí; "Bắt túc..." là cái khí bất thắng nó gây nên bệnh. "Tả bằng cái sở lợi...” tức là theo cái sở dục của nó. Như Can muốn tán, kịp ăn vị tân để làm chơ tán. Vị vậy, thắng của Quyết âm, tá bảng vị khổ và tân. Tâm muốn nhuyễn, kịp ăn vị hàm để làm cho nhuyễn. Vì vậy, thắng của Thiếu âm, tá băng vị khổ và hảm v.v... “Hòa bằng cái sở nghi...” là nhận theo sự thích nghí của năm vị đề thi hành phương pháp liệu trị. Như Quyết âm sắc xanh nền ăn vị cam, Thiếu âm sắc đỏ nên ăn vị toan, Thái âm sắc vàng rên ăn vị hàm, Dương minh sắc trăng nên ăn vị khỏ. Thái dương sắc đen nên ăn VỊ đen... "Yên chủ khách..." Tức là khiến cho đều giữ bản vị của mình... “Thích nghi sự hản, ôn..." Tức là trị hàn bằng nhiệt, trị nhiệt bằng hàn, trị ôn bằng lương, trị lương bằng ôn... "Đồng thời nghịch..." là nói: như gặp cái khí tương đắc, thì nền nghịch trị, Tỷ như chủ khách tư hỏa tả, thì nên trị bằng vị hàm và hàn. Như cùng tư hản thủy, thì nên trị bằng tần và nhiệt... Về các vị ôn, lương cũng vậy. “DỊ thời tùng..." là nói như gặp cái khí không tương đắc, nên dùng phép “tùng trị..." Như hàn thủy Tư thiên,!âm lên trên hai Hỏa chủ khí, khách mà thắng thì nên theo cái nhiệt của hai Hóa để trị hàn; chủ mà thăng, thì nên theo cái hàn của Tư thiên để trị nhiệt... Cai Khí khác đều như vậy. Đó là cái phép "bình trị dị giả.
- "Chủ của Mộc vị, tức là cái vị Quyết âm làm chủ. Dó là cái dịnh vị của bốn mùa không thể thay đỗi, cho nên gọi là "Vị". Như chưa đến cái thời ky nó lắm chủ, mà cái khí dương xuân đến trước, thế là khí thịnh, Nên dùng vị toan để tả. Như nên đến mà chưa đến, thể là khí suy. Nên dùng vị tân để bỏ. Bởi tính của Mộc thăng (bốc lên). Toan thì phản với tính ấy mà thâu lại, cho nên gọi là "tả"; tân thì giúp cho cái khí phát sinh, nên gọi là bê.
- Nhị chỉ khí là cái khí của quân hỏa làm chủ; Tam chỉ khí là cái vị của tướng hỏa là chủ. Như chưa đến tháng ba mà cái khí huyện nhiệt đã đến trước; chưa đến tháng năm mà cái khí viêm nhiệt đã đến trước... Thể là "lai khí" hữu dư. Nên dùng vị cam để tả. Dỏ tức là theo con để tiết bỏ khí của mẹ. Lại như nên đến mà chưa đến, đó là khí bất cập. Nên dùng vị hàm để bô. Đó là lẫy thủy đề giúp hỏa.!Hỏa làm chủ.
- Đây là về "Ngũ chí khí". Như chưa đến mùa thu mà cái khí thanh túc đã đến, đó là khí thịnh, nên dùng vị tân đề tả, vì tân thường hay tán; như đã đến mùa thu mát mà khí thử nhiệt vẫn còn, đó là khí bất cập, nên dùng vị toan để bô, vì toan thì hay thâu.
- Đây là về "Chung chỉ khí". Như chưa đến mùa đông mà thiên khí nghiêm hàn, sương sa mọc xuống. Thể là khí thịnh nên dùng vị hàm để tả. Bởi hàm cỏ cái năng lực tiết hạ nên theo cùng loài đề tả. Như mùa đông đã đến mà thiên khí còn ôn, đó là khí bất cập, nên dùng vị khổ đề bô. Bởi vị khổ âm hàn, mà "viêm thượng tác khổ" (lừa bốc lên thành vị khổ) giúp cải vị cho "tiêu, bản" của Thái dương... Đó tức là dùng chính vị để điều hòa, lẫy khí quân bình làm giới hạn. Dừng để cho bỗn mùa có cái khí bất bình để gây bệnh hoạn cho dân.
- Là nói về âm, đương có Thái, có Thiếu, thì khí có thịnh có suy, mà việc trị liệu cũng có nặng, nhẹ khác nhau. Ở trong âm, đương, có Thái dương, Thiếu dương; có Thái âm, Thiếu âm, thì khí có nhiều ít mà công dụng khác nhau. Vương Tử Luật nói: Tam âm, Tam dương, có thử nhiều khí, ít huyết; lại có thứ nhiều huyết. ít khí; lại có thứ huyết khí đều nhiêu, vì vậy dùng thuốc cũng phải khác nhau.
- Ở” Âm dương hệ nhật nguyệt nói: Dần, tức là khí sinh dương về tháng giêng. Chủ về kinh Thiếu dương ở tà túc; giờ Vị (Mùi) thuộc về tháng sáu. chủ về Thiếu dương ở hữu túc. Mão, thuộc về tháng hai, chủ về Thái dương, ở tả túc; Ngọ, thuộc về tháng năm, chủ về Thái dương ở hữu túc; Thìn thuộc về tháng ba, chủ về Dương minh ở tả túc; Ty, thuộc về tháng tư, chủ về Dương minh ở hữu túc... Ở đỏ, hai "đương" hợp cả ở trước, nên gọi là Dương minh. Š#' Tiên luận nói: Thân, thuộc về sinh âm của tháng bảy, chủ về Thiểu âm ở hữu túc; Sửu, thuộc tháng 12, chủ về Thiếu âm ở tả túc. Dậu, thuộc tháng, chủ về Thái âm ở hữu túc; Ty, thuộc tháng 11, chủ về Thái âm ở tả túc; Tuất, thuộc tháng 9, chủ về Quyết âm ở hữu túc; Hợi, thuộc tháng 10, chủ về Quyết âm ở tà túc... Ở đó hai âm giao tận (đến hết, cuối), nên gọi là Quyết âm. Quyết âm chủ về âm tận, mà Thiếu dương thì mới nảy mâm, khí hãy còn non nớt cho nên là Thiếu dương ở trong âm nên "thiểu khi, 5) Đây lại nói rõ thêm: Khí vị do từ "trung" (tức Vị) mà dẫn đi trên và dưới. Vì có bệnh ở xa ở gần khác nhau, nên phải cả “thuốc” và “ăn” đều dùng và đặt ra chế độ cho thích nghị. Như bệnh ở trên mà xa với "trung (tức vị), nên ăn trước mà dùng thuốc sau; bệnh ở dưới mà xa với "trung, niên trước uống thuốc mà sau ăn. Dùng sự ăn hoặc sau hoặc trước đề cho được lực đễ dàng đạt đi trên và dưới...
- Trùng phương tức là cả cơ, ngẫu đều dùng. "Phân tá đề trị bênh... Tức là xuân bệnh mà dùng ôn được, hạ bệnh mà dùng nhiệt được, thu bệnh mà dùng lương dược, Đông bệnh mà dùng hàn dược... Thuận cải khí hàn, nhiệt, ôn, lương của bốn mùa, mà "lại theo" đó để trị bệnh,
- Đây nói về Tam âm, Tam dương, chia ra có bản và tiên. Bệnh sinh ra ở bản, tức là sinh ra bởi phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa. Bệnh sinh ra ở tiêu, tức là sinh ra bởi cái khí của Tam âm Tam dương. Như Thái dương là đứng đầu các kinh dương, mà gốc ở hàn thủy; Thiếu âm là Thái âm ở trong âm, mà gốc là quân hỏa; Dương minh là cái khi dương thịnh, mà gốc ở thanh túc; Quyết âm chủ về âm cực mà gốc ở khí dương của phong mộc. Đó là ở trong âm dương, lại có tiêu. bản không giếng nhau. "Bệnh trái với bản... Như bệnh hàn mà lại được nhiệt hóa của Thái dương; bệnh nhiệt mà lại thấy khí ám hàn của Thiếu âm; bệnh ở Dương phận, mà lại thấy cải trạng thái hư hàn thanh túc; Bệnh ở âm phận, mà lại thấy cái khí hỏa nhiệt do trung kiến... Đó tức lả: “bệnh trái với bản lại nhận thây được bệnh rủa tiêu...". "Trị trái với bản v.v," như bệnh vốn hàn mà hóa nhiệt, thì lại dùng lương được để trị nhiệt. Như bệnh vốn nhiệt mà hóa hản, thì lại dùng nhiệt được đề trị hản; lại như bệnh ở Dương mính mà hóa hư lãnh, thì nên ôn bồ trung khí; như bệnh ở Quyết âm mà thấy hỏa nhiệt, thì lại nên ngược trị lên Thiếu dương... Như thế. tức là: "trị trái với bản, lại được dược phương để trị tiêu...” Thiếu dương, Thiếu âm, tiêu và bản tương đồng đều theo dương nhiệt, âm thấp mà điều trị.
- Phong, Hàn, Nhiệt, Thấp, Táo là năm khí ở bốn mùa tại trời; Mộc, Hỏa, Thổ, Kim, Thủy là năm hành ở bốn mùa tại đất. Năm khí sẽ thắng năm hành; năm hành lâm bệnh năm Tàng. Vậy là năm Tàng ngoài hợp với năm hành; mà năm hành thị trình lên năm khí.
- “Năm hư...” Tức là cái năm khí chủ tuế bất cập. Như Mộc vận bắt cập thì thanh khí nó thăng; Kim vận bất cập thì nhiệt khí nó thắng; Thủy vận bắt cập, thì thấp khi nó thắng... Đó là tuế vận bất cập, mà cái thắng khí của bốn mùa lại theo mà "võ" thêm. "Trái mắt sự hòa v.v.” Cũng là cái khí của bốn mùa suy. Như xuân khí bất túc, thì thu khí nó thắng: hạ khí bắt túc, thì đông khí nó thăng; khi của Trường hạ bất túc, thì xuân khí nó thắng: thu khí bất túc, thì hạ khí nó thắng: đông khí bất túc, thì cái Trường hạ nó thăng. "Nguyệt không..." Tức là nguyệt khuyết không. Vòng mặt trằng rỗng, tức là mặt trăng từ 20 trở đi, chỉ còn trông thầy cái vành trăng. "Trùng cảm với ta..." Như gặp phải năm hư, mất hòa của thời và gặp nguyệt không... gọi là "tam hư", thế mà lại cảm phải tả... thì bệnh sẽ nguy. “Có thăng khí thì tất lại phục..." Như mùa xuân có cái thắng khí thảm thê tàn tặc, thì mùa hạ sẽ có cái phục nóng bức như đốt cháy v.v... Đó là cái "thắng" của bỗn mùa đều phải có "phục.
- Đây nói về sảu khí Ứng với sáu mạch. Quyết âm chủ về Mộc, nên mạch huyền; Thiếu âm chủ về Hỏa, nên mạch câu; Thái âm chù về Thô, nên mạch trầm; Thiếu dương chủ về Hỏa, nên mạch phì; Dương minh chủ về Kim, nên mạch đoản mà sắc; Thái dương chủ về Thủy nên mạch đại mà trường. Tốn Công hỏi: Thải đương chủ về Thủy của Đông lệnh, thì mạch nên trầm, giờ lại nói đại và trường... Có lẽ trái với thời khí chăng? Đáp: Nói mạch trầm, tức là mạch của Thận Tàng. Thái dương là Cự dương. Trên hợp với cái khí Tư thiên, dưới hợp với cái thủy Tại toản. Cho nên đại với trường, tức là tò cái hinh tượng suốt trên và dưới... Ó Dây nói về những mạch huyền, đoản, câu, trường, đoản... Nên Ứng với sáu khí mà đến. Như mạch đến mà hòa, thì là người vô bệnh. Lại như Tam âm chủ thời mà được đương mạch; Tam dương chủ thời mà được âm mạch... Đó là "âm dương thay đổi..." bệnh sẽ nguy.
- Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, sáu khí là bản; Tam âm, Tam dương là tiêu. Cải Thô âm thắp, mà tiêu thấy khí âm của Thái âm; cái hỏa của sơ dương, mà tiêu thấy khí dương của Thiếu dương. Thế là âm dương của tiêu, theo bản mà hóa sinh. Cho nên Thái âm, Thiếu dương theo bản. "Bản" của Thiếu âm nhiệt, mà "tiêu" lại thấy khí âm của Thiếu âm; "bản" của Thái dương hàn, mà "tiểu" lại thấy khí dương của Thái dương. Trong âm có dương, trong đương có âm, có cái hóa thủy, hỏa, hàn, nhiệt. Cho nên Thiếu âm, Thái dương, theo bản theo tiêu. Ở trên Dương minh, táo khí chủ trị, mà "trung kiến" Thái âm; ở trên Quyết âm, phong khí chủ trị, mà "trung kiến Thiếu dương. Bởi Dương minh "tư" về thu lệnh của bốn mùa, mà Thái âm chủ về khí thanh thu ở trong bỗn khí. Quyết âm ở vào cái vị trí hai âm đều hết, mà "Nhất dương" mới sinh. Vì vậy nên Dương minh Quyết âm theo về hóa của trung kiến.
- Đây nói về mạch và bệnh có tiêu, bản. "Mạch thuận” tức là dương bệnh mà hiện dương mạch, âm bệnh mà hiện âm mạch. Tỷ như: Bệnh ở Thái dương, Dương minh, mạch đến mà phù, thế là mạch thuận. Nếu bệnh lại âm hàn, như bệnh của Thái dương, theo bản hóa; bệnh của Dương minh, theo âm hóa của Trung kiên. Cho nên mạch tuy phù mà án tay vào không "cô". Như bệnh ở Thiếu âm, Quyết âm, mạch đến mà trâm, đó là mạch thuận. Nếu bệnh lại hiện ra dương nhiệt, thể là bệnh của Thiếu âm theo tiêu hóa, bệnh của Quyết âm theo hỏa hỏa của trung kiến. Cho nên mạch dẫu tràm mà ấn tay vào lại "cổ" nhiều. Thế là mạch có sự hỏa của âm dương, mà bệnh thì có theo về tiêu và bản.
- Trăm bệnh sinh ra, không vượt ra ngoài sự hóa của sáu khí. Như cảm phải phong, hàn, thử, thấp, táo, hoa... mà sinh ra bệnh, tức là bệnh sinh ra bởi sáu khí của trời. Sáu khí của trời, gây nên bệnh ở người, mà trong thân con người, lại có cái hóa của sáu khi. Như chứng trúng phong thuộc về Dương tà của trời. Phạm vào cơ biểu của con người thì sinh ra các chứng phát nhiệt, khái, xỊ; tại gân xương thì thành chứng câu loan; tại trưởng, vị thì thành chứng hạ ly, xôn tiết; hoặc thành chứng táo kiết, bế long; hoặc trực trúng vào trong thì thành chứng hoắc loạn, âu nghịch; hoặc là quyết lãnh âm hàn. Đó là khí hóa của biểu, lý, âm, dương. Như cảm vào khí dương nhiệt của con người, thì thành bệnh nhiệt, cảm vào khí âm hàn của con người, thì thành bệnh hàn; cảm vào khí thủy thấp của con người, thì thanh đâm, suyễn, cảm vào tảo khí của con người, thì thành chứng tiện nan. Như trúng vào Phủ, thì bạo hóa mà "vụt" không biết gì; trúng vào Tàng thời lưỡi rụt mà nói ra không được, miệng xỉ bọt đãi... Lại như thương hàn, thuộc về Âm tả của trời; hoặc trúng vào âm, hoặc trúng vào dương: có khi trúng vào đương mà bệnh lại hàn; có khi trủng vào âm mà bệnh lại nhiệt. Thể là trong con người, trong âm có dương, trong dương có âm và có cả khí hóa của tiêu, bản, âm, dương vậy, '® Nói cái đạo tiều và bản, dù là yếu ước, mà thật là quảng bác; dù là vi tiểu, mà thật là hoằng đại... Chỉ nói một mà có thể biết được trăm, chính là do biết cái đạo tiêu và bản vậy.
- Chương này nói về: nhật, nguyệt vận hành, hết hàn thì thử; khí của bốn mùa, đo vi mà thịnh, lại do thịnh mà vi; từ chính mà ra duy, lại từ duy mà về chính, hàn với ôn thay đổi, lương với thử khí giao: cái khi thắng phục, có thịnh có suy, theo thời mà đến sau đến trước, nên có sự sớm muộn khác nhau. "Dương nó động, bắt đâu là ôn v.v." thế là do "vị" mà tới "thậm"; như xuân mà mạch trầm, hạ mà mạch huyền, thu mà mạch sác, đông mà mạch sắc... Thế là đi khí của đông còn giao sang xuân, dư khí của xuân còn giao sang hạ, dư khí của hạ còn giao sang thu, dư khí của thu còn giao sang đông... Thể là do thịnh mà tới vi. "Chỉnh" là chính phương của xuân, hạ, thu, đông; "Duy" là thời kỳ giao nhau của xuân và hạ, của hạ và thu, của thu và đông... Khí của bốn mùa, do duy mà tới chính, lại do chính mà tới duy. Hàn, nhiệt, thử, lương, các khí đó đều hỗ giao luân chuyên với nhau mà không ngừng. Đến như: "Thắng đến bệnh khói v.v." Đó là nói về phục khí đã nảy nở ra từ lúc còn thăng khí. Như mùa xuân có cái thắng thô thảm tàn tặc, đó là Kim khí thắng Mộc. Đến mùa hạ có cái phục khí nóng nực như đối... Đó là Hỏa khí nó phục Kim. Nhưng cái Hỏa khí đó đã nảy mắm ngay từ thời kỳ "bệnh khỏi mà khó chịu". Thế là phục khí nó đã sớm phát ở bản vị từ ba mươi độ. Cái khí sở phục. đợi "thắng" hết mới thật khỏi, đến cái bàn vị sở chủ về mùa viêm hạ mới "thậm" (quá, nhiêu nặng). Thế là thăng khí đến sớm mà phục khí cũng đến sớm vậy. Vì vậy, thăng khí thậm thì phục khí nhiều; thắng khí vì thời phục khí ít; thắng khí hòa bình thì phục khí cũng hòa bình, thăng khí hư suy, thì phục khí cũng hư suy. Đỏ là lẽ thường cúa thiên đạo. Nếu sự phát sinh của thắng và phục, không đúng với bản vị, sau thì mới đến, đó là khí thắng và phục muộn. Phàm khí sinh ra, sinh ra ngay từ khi khí giao trước, như hạ khí sỉnh ra ở cuối xuân. Khí nó hóa lại hóa về sau khi khí giao, như xuân khí còn lưu hành mãi tới tháng mạnh hạ. Cái khí thắng phục có thịnh suy, vì vậy có sớm muộn khác nhau. Bởi khí mà thịnh, thì nó sẽ thắng về trước bản vị sở sinh ba mươi độ; nếu là Suy, nó sẽ lui về sau bản vị sở hóa ba mươi độ. Như Kim khí suy mà thắng về khoảng xuân hạ giao nhau, thì phục khí cũng suy, mà phục về khoảng hạ thu giao nhau. Thể là sự thịnh suy của thắng và phục, theo khí giao của bốn mùa mà hoặc đến trước, hoặc đến sau.
- “Chính” là chính vị của bốn mùa. Về mạch, đã có chính pháp của bốn mùa, mà trước sau cũng gia; "Đợi thời mà đi..." tức là đợi hết ba mươi độ mới thôi. Như mạch trầm ở mùa xuân, thế là còn thuộc cái khí giao của mùa đông. vậy phải qua hết 30 ngày về tháng piêng, khi đó xuân khí mới một trình tư lệnh.
- “Tự đặc" tức là khí của bốn mùa bị vít lấp.
- Khí của bốn mùa. thịnh về thời kỳ chủ vị, mà "vi" ở lúc mới sinh, "suy" ở lúc giao hóa, vì vậy nên "thậm" thì mắc bệnh. “Tham kiến..." tức như xuân sơ mà mạch trầm và huyền đều thấy; Hạ sơ mà huyện và sắc đều thấy v.v. “Phục kiến" là đã đi rồi mà lại thấy. "Chứa nên đi mà đã đi tức là chưa đủ 30 độ mà đã đi; "nên đi mà chưa đi", thế là đã qua 30 ngày, mà vẫn không đi. “Phản” là nói bến mùa mà lại (phân) thấy cái mạch tặc hại, “cho nền nói v.v...” tức là nói về khí của bốn mùa, "thủ" ở bản vị, "tư ở khí giao, như quyền hành không thê sai lệch, "sinh hóa" tức là sinh ra trước mà hóa ở sau.
- "Khí chí" tức như La chí, Đông chí. "Khí phân" tức như Xuân phần, Thu phân. Nói về thời kỳ "hai chí", đều thuộc về cái khí hàn, thừ, âm, dương; về thời kỳ khí phân, thì có khí ôn, lương không giống nhau.
- "Khí của thu, bất đầu từ trước” là nói xuân ở về trước nửa năm về trước, thu ở về trước nửa năm về sau... "Khí của hạ đông, ở về sau hai khí..." Đó là nói về chủ khí của bến mùa. Sáu khí vãng phục, chủ tế!:hông thường đó là nói vê khách khí gia lâm; sáu nãm hoàn chuyên không có thường vị. Chương này nói về chủ khí của bốn mùa, trước sau giao thông, được cái khí thanh tĩnh. Nếu bị khách thắng nó nhiễu động, thì lại không thê theo thứ tự, mà tật bệnh sẽ sinh. Vì vậy, trên dưới sở chủ, với tá hữu gián khí, nên theo cái lợi của nó mà dùng chính vị đề điều trị. Đại yếu nên trước tả mà sau bổ, thế là tá cải sở lợi và tư cái sở sinh cho chủ khí. Thế tức là được cái khí của bốn mùa, sinh hóa mà giao thông vậy.
- "Các chứng có, tiết v.v..." tức là nói các chứng do từ trên mà xuống dưới; "các chứng nuy, suyễn v.v..." tức là nói về các chứng do từ dưới mà lên trên. Dương khi ờ trên mà nghịch xuống thì là chứng quyết hành; Âm khí ở dưới, phạm lên trên thì thành chứng nuy, tý; thủy dịch ở bên trên dẫn xuống thì thành chứng cỗ, tiết; chất thủy dịch ở dưới dẫn ngược lên thì thành chứng suyễn và âu. Đây là nói về cái khí của năm Tàng, phát hiện ra ngoài hình và khi.
- Đây nói về bệnh cơ phát ra, đều có thuộc với năm Tàng, năm hành.
- "Có, cầu ở có..." là nói về cái khí hữu đư của năm Tàng: "không, cầu ở không..." là nói về năm Tàng tinh khí bất túc; thịnh thời trách là thái thậm, hư thời trách là hư ví... Như hỏa nhiệt thải quá thì trách là vỗ thủy v.v... Vậy phải làm cho tinh khí của năm Tàng đều "thắng", rồi sau mới sơ thông khí huyết cho được điều đạt, khiến cho khi ca năm Tảng trở lại hòa bình. Như thế mới đáng là thần công. "Bệnh cơ": nguyên chữ cơ nghĩa đen là máy. Vậy bệnh cơ tức là nói sự biến chuyển:ủa bệnh chứng nhanh như máy. "Khí nghỉ” là nói về cái của năm Tài, năm Hành đều có cái "Sở nghi" của nó.
- ..- Dùng tắc ví tắc v.v." Như các chứng nồn oe, thô ra nước chua... là do nhiệt tà kiên tích ở trong, mà nghẽn tắc lên trên, liền theo đó mà làm cho nó thượng đũng (vọt lên, tức là lại cho thổ thêm)... Đó tức là dùng tặc vi tắc, mà có thể phá được tích. Lại như chứng bạo chú, hạ bách, cũng là do nhiệt tà kiến tích ở trong, mà thông tiết xuống dưới, liền theo đó mà làm cho hạ tiết (dùng thuốc hạ cho tả xuống). Đó tức là "dùng thông vi thông, mà có thể làm cho vỡ được rần, Phải đẹp hăn bò cái chủ bệnh, mà trước từ cái nó sở nhân (nguyên nhân bởi đâu mà sinh bệnh), thì có thế khiến cho khí hòa, mà bệnh sẽ khỏi.
- »ní điều hòa mà được", tức là biết "được" cái đạo "nghịch, tùng, mà làm cho nó điều hòa. Như khí nó "tùng" về thượng hạ, thì nên "Nghịch lại: nếu "nghịch với thượng hạ, thì nên "tùng" đi. Bởi Dương khí ở trên, Âm khí ở dưới, như thế là "khí tùng" (tức thuận). Dương khí hành trở xuống, Âm khí hành trở lên, thế là "khí nghịch". Như thế thì khí thế nào cũng phải tùng, mà lại không thê không nghịch. Vì vậy, nếu khí nó tùng, thì ta nghịch mà tùng; nếu khí nghịch, thì ta tùng mà nghịch. Khiến cho khí Âm Dương, trên dưới điều hòa. Thế là phương pháp điều khí.
- "Hòa nhiệt" là nhân hôa nhiệt mà gây nền bệnh. Như câu "hỏa nhiệt thương khí", đó là nói bệnh ở khí mà không phải ở kinh. "Lại ỗ hản phát nhiệt v.v..." là do âm, dương, nội ngoại cùng lẫn phạm lẫn nhau. Như dương ở ngoải, âm ra đề lắn, thì sinh ố hàn; âm ở trong, dương vào để lấn, thì sinh phát nhiệt. "Hoặc mỗi ngày phát một lần v.v..." đó là cái khí thắng phục của âm dương và cải thời hội ngộ có nhiều ít khác nhau. Như Âm khi nhiều mà Dương khí ít, thì cái khí hỏa nhiệt lưu ở âm phận lâu, cho nên bệnh phát xa ngày. Nếu Dương khí nhiều mà Âm khí ít, thì nhiệt theo Dương khí, mà thường thịnh ở bên ngoài, cho nên bệnh phát ngay gản.
- P' Dùng hàn dược mà không hàn, đó là vì Chân âm bất túc; dùng nhiệt dược không nhiệt, đó là vì Chân dương bất túc. Vậy phải bổ âm và bỏ dương. Dùng hàn trị nhiệt, dùng nhiệt trị hàn, đó là phương pháp bình trị. Bồ âm đẻ thắng nhiệt, bỗ dương đề thắng hản, đó là phương pháp phản tá.
- Đây nói về khí, vị, không thể "thiên dụng" (dùng chuyên một thứ. Bốn mùa có cái khí hàn, nhiệt, ôn, lương; năm Tàng có cái vị toan, khổ, tân, hàm. Phải nên sử dụng cho điều hòa, Nếu chuyên dụng, sẽ có cái hại thiên thắng. Vậy nếu thiên dụng vẻ hản, thì cái hàn khí của đông bệnh sẽ vượng, nên dù uống nhiệt mà vẫn hàn. Thiền dựng về nhiệt, thì cái nhiệt khí của hạ bệnh sẽ vượng, nên dù uống hàn mà vẫn nhiệt. Đó là dùng khí quá thiên mà không hóa. Lại như thiên dụng vi khổ, thì vị khổ dẫn vào Tâm, do đó Hỏa khí sẽ thịnh; thiên dụng vị hàm, thì vị hàm dẫn vào Thận, do đó Thủy khí sẽ thịnh. Đó là dùng vị thiên mà không hòa. Phàm vật có năm vị, do năm vị hóa năm khí, Vị dùng lâu thì tăng khí; khí tăng thì sẽ có cái hại âm dương thiên thịnh, hoặc thiên tuyệt. Từ Đông Bình nói: Vị dùng lâu thì tăng khi... Vậy cái khí hàn nhiệt, cũng không thể thiên dụng.
- Đây nói về chế phương, lấy vị chủ bệnh làm quân v.v... Khác với Thân nông bản thảo, Lý Đông Viên cũng nói: Những vị chủ bệnh ìả quân dược. Tỷ như: trị chứng phong, dùng phòng phong làm quân; trị nhiệt ở thượng tiêu, hoàng cầm làm quân; trị nhiệt ở Trung tiêu, hoàng liên làm quân; trị thấp, phòng kỳ làm quân; trị hàn, phụ tử làm quân v.v... Rồi nhận xem kiêm kiến những chứng gì, thì dùng các vị thuộc về chứng ấy làm tả, SỨ...
- Thà nông Bản thảo cộng có 360 vị. Chia thượng phẩm 120 vị làm quân, chủ về bỗ dưỡng thân thể, để ứng "thiên ”, toản vị vô độc, có thể dùng lâu ăn lâu được. Trung phẩm 120 vị làm thân, chủ về dưỡng tính, để ứng "nhán", có vị độc, có vị không, dùng nên châm chước để trị bệnh và bỏ hư. Hạ phâm 120 vị làm tá, phần nhiệt có chất độc, để ứng “địa", chuyền để khu trừ hàn nhiệt, phá tỉch, công kiến...
Thiên 75–81 · Trú Chí Giáo Luận Thiên → Giải Tinh Vi Luận Thiên
Chương bảy mươi lăm · Trú Chí Giáo Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề ngồi ở minh đường, gọi Lôi Công mà bảo rằng:
– Phàm nói “am dương độc chí..." tức là cả Tam dương đẻn “dồn” làm một lúc. Nó đến dồn nhĩ mưa gió, nên ở trên trời sinh điên tật, ở dưới thời sinh lậu tiết.
Nó đến, bên ngoài không thế dự kỳ, bên trong không liên lạc, không đúng với điều lý của mạch, nên không thể băng ở mạch kinh để chân đoán.
Vậy, Tam dương, nó là chí dương, nó đến dồn, sẽ phát chứng kinh; chín khiếu đều lắp. Dương khí tràn lan, cuống họng khô nghẽn;
nó dồn vảo âm, thời Âm khí lên xuống không còn nhất định, sẽ gây nên chứng trường tiết,
Chú Giải
- »Dãc chí" là nói cả Tam dương mà dôn đến thành "Nhất dương” ở trời, phong khí là dương, vũ thủy là âm. Tam dương dồn đến, thì Dương khí bốc lên, thì sinh bệnh ở đầu; dẫn xuống thì thành lậu tiết (như đi tả, kiết ly '#) “Chín khiếu" là nơi Thủy khí dồn rót vào đó. Giờ Thùy khí ở chín khiếu đều kiệt, mà Dương khí rản vào trong khiếu, nên bị vít lấn. Phế thuộc thiên mà chú khí, với Thận Thủy trên dưới giao thông. Giờ dương độc thịnh mà chất nước kiệt, cho nên miệng và cuống họng đều khô ráo...
Chương bảy mươi sáu · Thị Thung Dung Luận Thiên
Kinh Văn
Lôi Công hỏi răng:
– Can hư, Thận hư, Ty hư... đều khiến con người thân thể nặng nề khó chịu. Nên dùng độc dược, thích và cứu hoặc dùng biêm thách, hoặc dùng thanh dịch v.v... Vậy mà có khi khỏi, có khi không khỏi, là vì sao?
Hoàng Đế đạy rằng:
– Tỳ mạch hư mà phù, tựa Phế; Thận mạch tiểu và phù tựa Tỳ; Can mạch cấp và trầm tựa Thận... Đó đều là những mạch chứng mà y giả đễ nhầm. Chỉ có “thung dung” nhận kỹ, mới có thê biết được. Đến như ba Tàng Thô, Mộc, Thủy cùng ở bộ phận dưới, có gì mà không phân biệt được?.
rủ
Lôi Công hỏi rằng:
– Mạch phù mà huyền, án vảo răn như thạch (đá) xìn cho biết đó là bệnh gì?
Hoàng Đề đạy rằng:
– Mạch phù mà huyền, đó là bởi Thận bất túc; trầm mà thạch, lả đo Thận khí bị ngừng mắc ở bên trong; bệnh nhân khiếp nhược, thiêu khí... là do thủy đạo không thông lợi, khiến cho hình khí bị tiều thước; khái thấu và phiền oan, lả do Thận khí nghịch lên. Đó là khí ở một người, và bệnh chỉ phạm vào một Tàng.
Lôi Công hỏi rằng:
– Giờ đây có người, tứ chi rã rời, suyễn, khái, huyết tiết... Ngũ này nhận là thương Phể, thiết mạch thấy phù, đại mà khẩn... Ngu không dám chữa. Thô công dũng biêm thạch mà khỏi bớt; lại làm cho xuất huyết, huyết ra được mà mình thấy nhẹ nhảng... Vậy là bệnh gì
Hoàng Đề dạy răng:
– Mạch phù, đại và hư là do Tỳ khí tuyệt ở bên ngoài, bỏ vị Phủ, trở ra kinh của Dương mính. Vì hai Hỏa không thê thắng được ba Thủy, vì vậy nên mạch loạn mà không thường. Tứ chỉ rã rời là đo tinh khí của Tỳ không đạt ra tới tử chỉ; suyễn và khái, là đo Thủy khí dỗn lên Dương minh; huyết tuyết, là do mạch cáp, huyết không dẫn hành được. Như đoán là thương Phế, thời nhằm lắm.
Nếu là thủy tà thương Phế thời do Tỳ khí không giữ; Vị khí không thanh; kinh khí không sai khiến được; chân Tàng hoại quyết, kinh mạch bàng tuyệt, năm Tàng lậu tiết, không nục thời âu. Vậy đối với chứng hậu trên kia, khác hắn.
Chú Giải
- Phù mà hoãn là mạch của Tỳ; phù mà đoản là mạch của Phế; tiểu phù mà hoạt là mạch của Tâm; cấp khẩn mà tật là mạch của Can; bác phù mà hoạt là mạch của Thận. Đó là chính mạch của năm Tàng, Giờ Ty mạch hư phù tựa Phế v.v. Đều là những mạch chứng rắc rối, dễ nhằm. Phải thung dung nhận xét mới hiểu được. Đến như Tỳ hợp Thô, Can hợp Mộc, Thận hợp Thủy. Ba hành Thỏ, Mộc, Thủy đã cùng hợp thì dù có bản hư, cũng là đẻ hiểu...
Chương bảy mươi bảy · Sở Ngũ Quá Luận Thiên
Kinh Văn
Chương bảy mươi bảy SỞ NGŨ QUÁ LUẬN THIÊN KINH VĂN Hoàng Đề nói rằng:
– Phàm trước khi chân mạch, nên hỏi có phải là trước quý mà sau hèn? Nếu vậy, thời dù không trúng tà, bệnh đo trong sinh ra. Bệnh đó gọi là thoát doanh. Nếu trước giàu mà sau nghèo... Bệnh đó gọi là Thất tinh. Năm khí lưu niên, bệnh nó dồn lại. Y công chẩn bệnh, không biết bệnh danh. Đó là một lỗi.
Phàm muốn chân bệnh, phải hỏi sự uống, ăn, cư xử, bạo lạc hay bạo khổ, trước sướng sau khổ, những trường hợp đó đều làm thương tinh khí; tinh khí kiệt tuyệt, khiến cho hình thể rã rời. Bạo nộ thời thương âm, bạo hỷ thời thương đương, quyết khí thượng hành, mạch mãn thời hình khứ. Ngự v chân bệnh, không biết như vậy. Đó là hai lỗi.
Phàm chân bệnh, phải biết so sánh những bệnh kỳ hằng, biết được là giỏi. Bệnh đó không biết, sao được là biết chắn. Đó là ba lỗi.
Chân bệnh phải chú ý vào “tam thường” (tức là tình, khí, thẳn. Vậy phải hỏi trước quý sau tiện? Hoặc mới bị thất thế. bị nguy nan? Nếu bị những trường hợp như vậy, thời tính thần sẽ bị thương; dù không phạm phải tả khí, cũng tất sinh ra bì tiêu, cân khuất, khó lòng sinh tổn. giả không xét ở chỗ đỏ mà chữa liều, đó là bến!:
Phảm chân bệnh lại phải biết khí huyết suy vượng nu thể nào.
Như người đương giàu có mà bị sa sút, thời thần hồn bị thương. Vì đó, chủ của Tâm là mạch, chủ của Can là cân, như bị cắt đứt... Vậy phải tìm ở nguyên nhân chứng hậu đề điều trị. Nếu bỏ lỡ, đó là năm lỗi. Cho nên nói rằng: Thánh nhân trị bệnh, phải biết rõ lẽ âm dương của trời đất, sự kinh kỷ của bốn mùa... Rồi do đó mà hoặc dùng châm. cứu, biêm thạch và độc dược; lại phải biết rõ bản thủy của bệnh mà tham xét với “bát chính, cửu hậu...” Thời bệnh không còn đâu xót được nữat,
Chú Giải
- "Bát chính" tức là tám khí thuộc về bốn mùa. "Cửu hậu" tức là “chín hậu mạch" thuộc ba bộ Xích, Quan, Thốn,
Chương bảy mươi tám · Chưng Tứ Thất Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề đạy Lôi Công rằng:
– Kinh mạch mười hai, lạc mạch ba trăm sáu mươi lầm... Những cái đó, phần nhiều mọi người điều hiểu và các y giả cũng đều biết tuân theo. Nhưng sở dĩ trị liệu vẫn không được mười vẹn mười, chỉ vì tinh thần không chuyên, chí ý không vững, khiến cho trong ngoài lẫn lộn, mới gây nên tai vạ.
Vậy, nếu chân mà không biết cái lý nghịch thuận của âm dương, đó là một điều lỗi.
Chưa hiểu thấu những nghĩa sâu xa của thầy dạy, mà đã dùng liễu biêm thạch, châm cứu... Khiến cho mang hận vẻ sau. Đó là hai điều lỗi.
Không xét rõ là sang hay hèn, giàu hay nghèo, thân thể ấm hay lạnh, uống ăn đủ hay thiếu, tính người dũng hay khiếp... Các điều đó đều có thể là nguyên nhân của bệnh cả. Thế mà y giả lại không biết, đó là ba điều lỗi.
Chân bệnh không biết hỏi đến các nguyên nhân như vừa thuật trên, chỉ nhắm mắt án tay ngay vào Thốn khẩu, rồi nói hươu nói vượn. đối người, đối mình. Đó là bốn điều lỗi.
Hỡi ơi! Đạo trời sâu xa, ngành ngọn bao la, gân như gan tắc, lớn đến hải hà, nếu không học hỏi, làm thầy được à?
Chương bảy mươi chín · Âm Dương Loạn Luận Thiên
Kinh Văn
Hoàng Đề nói rằng:
– Tam dương là “kinh” Nhị dương là duy, Nhất dương là du bộ. Nhân đó biết chung thủy của năm Tàng, Tam dương là biểu, Nhị âm là lý, Nhất âm là chí tuyệt (cuối cùng), hợp với hối sóc, sẽ đầy đủ cái chính tý về sự sinh trưởng, Hoàng Đề hỏi: - Về Tam dương, Thái dương là kinh. Tam dương mạch đến thủ Thái âm, huyền, phù mà không trầm. Phàm gọi là Nhị dương, tức là Dương minh. Mạch đến thủ Thái âm huyền mà trầm, cấp, không cổ, vì nhiệt phát bệnh, sẽ chết. Nhất dương là Thiếu dương. Mạch đến thủ Thái âm, trên liền với Nhân nghinh, huyển, cấp không dứt... Đó là bệnh ở Thiểu dương. Chuyển về âm thì chết,
Tam âm là một cơ quan chủ của sáu kinh. Nó giao với Thái dương. nếu mạch phụ, (cổ). không phù thể là không liên lạc được với Tâm và Thận.
Nhị âm đến Phế, khí sẽ về Bàng quang, ngoài liên với Tỳ, Vị®,
Nhất âm đên một mình, kính tuyệt, khí phù không “cô” và câu mà hoạt?.
Sáu mạch đó, lúc là âm, lúc là dương, thay đối giao hỗ với nhau, thông với năm Tàng, hợp với âm dương, đến trước là chủ, đến sau là khách.
Nhị dương, Nhất âm, chủ bệnh, không thắng, Nhất âm, mạch nhuyễn mà động, chín khiếu đêu trầm,
Tam dương, Nhất âm; Thái dương mạch thăng, Nhất âm không thể ngăn, bên trong làm rối loạn năm Tàng, bên ngoài hiện ra chứng kinh, hãi,
Nhị âm, Nhị dương, bệnh ở Phế. Thiếu âm mạch trầm, thắng Phế, thương Tỳ, ngoài thương tứ chỉ.
Nhị dương đều đến, bệnh ở Thận, chửi mắng đi liều, điên tật và cuỗng, rò
Nhị âm, Nhất dương, bệnh sinh ra bởi Thận. Âm khí dẫn lên phía dưới Tâm quản; không khiếu vít lắp không thông, tử chỉ rã rời '
Nhất âm, Nhất dương mạch đại, thế là Âm khí đến Tâm, trên dưới không thường, ra vào không biết, cỗ họng khô ráo. Bệnh tại Tỳ thô?
Nhị dương, Tam âm, đều có cả Chí âm. Âm không tới được với dương, dương không tới được với âm. Âm, dương đều tuyệt, phù là huyệt giả, trầm là ung nùng.
Âm dương đều thịnh, dưới tới âm dương, trên từ tô rõ, dưới tới tờ mờ, chân quyết sống chết, hợp với đầu năm(,
Chú Giải
- Tam dương là đạo cúa trời. Ở trời nó là chí dương, ứng với bốn mùa, có cái công dụng về việc "khai", ở hai mùa xuân và hạ, về việc "hạp" ở hai mùa thu và đông và việc "khu" (tức khu chuyển) cho khí hàn thử vãng lai. Hợp với thân thể con người, thì, Thái dương, chủ "khai" mà là kinh, Dương minh chủ "hạp" mà là duy, Thiếu dương chủ “khu" mà là Du bộ. Do đó mà biết được sự "chung, thủy" của năm Tàng. Đó là nhân bốn mùa của trời để ứng với Can mộc chủ về đầu năm và Thận thì chủ về cuối năm.
- Tam dương tức là Thái dương, nó là cái khí Chí dương mà chủ về biểu, Nhị âm tức là Thiếu âm, nó là cái khí Chí âm mà chủ về lý; Nhất âm tức là Quyết âm: Quyết âm là Thiếu dương ở trong âm, nó là một cơ quan giao tiếp "âm tận, dương sinh”, nên mới nói là "chí tuyệt". Coi đó cũng như hai ngày "hối" và "sóc" giao nhau có chứa cái điệu lý là dương sinh ra ở âm và âm dương tương trưởng.
- Đây nói khí của Thái dương tại biểu mà hợp với trời, tại trên mà ứng lên Thôn khẩu, với thù Thái âm, Thiếu âm tương hợp. Thủ Thái âm tức là Phế; Phế chủ biểu mà chủ cả về thiên; Tâm là khí dương quần hỏa, ứng với khí Thái dương của nhật, phát sinh từ trong nước; Phế chủ khí mà phát nguyên từ Thận... Vì vậy, mạch của Tam dương dẫn tới thủ Thái âm, thì âm dương cùng hợp, đều do âm mà "khu chuyển" ra dương, Huyền là mạch của khu. Phù mà không trằm là đo Thái dương, Thái âm chủ về "khai.
- Dương minh chủ về "hạp", đến thủ Thái âm; Huyền mà trầm, cấp không cô v.v. Đó là cái cơ quan "khai" của Thái dương lại phải theo cái "hạp” của Dương minh, nên mới không thể cổ động cho được ra ngoài. Vì vậy, gặp khí nhiệt, khiến cho Dương minh Thái âm phát bệnh thì đều chết. Đó là bởi: khí của Thái âm chủ khai mà lại trằm, thể là thiên khí không vận hành được rồi. Dương mỉnh chủ về Kim khí thanh lương, lại bị khí nhiệt "sở thương" (nó làm hại), nên đều là chứng chết. Trên đây là nói về khí của Dương minh không tương hợp với thiên khí, cũng không tương hợp cà với Thái dương.
- Thiếu dương chủ khu. "Khu" là một cơ quan do âm để ra dương, lại do dương đề vào âm, trong ngoài ra vào, không lúc nào ngừng. Như mạch đến thủ Thái âm, trên liền với Nhân nghinh, Huyền cấp không ngừng, thế là Thiếu dương chỉ theo cái "khai" của Thái dương mà không thê "khu chuyền” đẻ lại vào. Thể là Thiếu dương bị Thái âm nó gây nên bệnh. Nếu chuyển ở âm mà không thể “khu chuyên” ra dương, thể là khí của Thiếu dương bị tuyệt ở trong.
- Nhị âm tức là Thiếu âm. Thiếu âm chủ thủy. Nhị âm đến Phá, tức là Phế với Thận tương hợp. Vì vậy nên khí về Bàng quang mà thông đạt tới cả Ty, VỊ.
- Nhất âm tức là Quyết âm. Quyết âm là sinh dương ở trong âm. "Kinh nguyệt” tức là âm mạch thực ở trong; “khí phù" tức là cái khí sinh dương phù ra ngoài; "không cô" là vì Quyết âm chủ "hạp", “không câu" là vì Quyết âm chủ vẻ tướng hòa mà không phải Tâm hỏa. "Hoạt" tức là triệu chứng của âm dương kinh khí trong ngoài ra vào cùng va chạm với nhau.
- Đây nói về Vị với Can gây nên bệnh. Can thắng mà Vị bại. Vị kinh chủ bệnh, mà Can lại để "vỡ", thì Mộc khắc được Thỏ, tức là Vị không thắng được Can. Về mạch, nên nhuyễn mà động, Nhuyễn là bệnh tại Vị mà Vị khí chứa tuyệt. Động là Mộc khí vượng mà đương lúc tới "võ" Thỏ. Vì vậy. VỊ khí không chuyền thì chín khiếu đều trầm trệ không thông, đó là chủ bại mà khách thăng.
- Tạm đương tức là túc Thái âm Bảng quang, Nhất âm tức là túc Quyết âm Can. Bàng quang chủ bệnh, mà Can lại để "võ", lúc đó, Bàng quang là biêu, Can là lý, Bàng quang tà thịnh, đã có cái tình thế từ biểu lọt vào lý, Can không thể ngăn cản, khiến cho trong thời rối loạn năm Tàng, ngoài thời hiện chứng kinh hãi... Đó là một hiện trạng Bảng quang thẳng mà Can bại.
- Đây nói Tâm với Dại trường sinh bệnh, Tâm thắng mà Đại trường bại; Thận với VỊ sinh bệnh, Vị thắng mà Thận bại. Nhị âm; ở thủ thì là Thiếu âm tâm, ở túc thì là Thiếu âm Thận. Nhị dương, ở thủ thì là Dương minh Đại trường, ở túc thì là Dương minh vị. Về Tâm với Đại trường: Tâm có bệnh mà Dại trường lần theo, thì là Kim tới "võ" Hỏa, Hòa sẽ khắc được Kim, nên mới là bệnh ở Phế, vì Phể với Đại trường là biêu, lý, mạch của thủ Thiếu âm Tâm huyền hồng, mà giờ mắc bệnh, thì hư mà trầm. Nó đã thắng Phế, lại làm thương Tỳ, bởi Tỳ là con của hỏa, mẹ hư thì con bị thương. Tỷ chủ về tứ chỉ. Tỳ bị thương thì tứ chỉ cũng bị thương, Thế là chủ thăng mà khách thua. Vẻ Thận với Vị: Thận kinh mắc bệnh, và Vị Tàng lấn theo, thì bệnh sẽ đều tăng. Nhưng Thổ khắc được Thủy, bệnh tình rút lại vẫn quay về Thận, Thủy sẽ do đó mà bị suy, Hỏa sẽ thừa thế mà thêm thịnh... Các chứng mắng chửi điên cuông sẽ đồng thời phát sinh. Điện tật là do Hỏa bốc lên; cuồng là do âm không thăng được dương...
- CÔ Nhị âm tức là túc Thiếu âm Thận kinh; Nhất dương tức là thù Thiếu dương Tam tiêu. Thận với Tam tiêu sinh bệnh, thì Thận thuộc Thủy, Tam tiêu thuộc Hỏa. Tam tiêu với Tâm bạo lạc làm biểu, lý, bệnh phát sinh đo Thận mạch, mà cái khí Thiếu âm dẫn lên phía dưới Tâm quản, thể là thùy tới "võ" Hỏa. Bởi Thận mạch suốt lên Can, cách vào trong Phế, còn chẽ nhánh do trong Phế, chăng vào Tâm, và rót vào trong hung. Nhưng Âm khí dẫn lên, Vị không thể chế, Trường, Vị, không khiếu đều bị vit lắp không thông. Mã Thận mạch vòng xuống chân, mạch của Tam tiêu thì dẫn ra tay, nên ti chi rã rời...
- Nhất âm tức là túc Quyết âm Can kinh. Nhất dương tức là túc Thiếu dương Đởm kinh. “Đại" là một thử mạch dương động mà bỗng lại ngừng. Can Đởm mắc bệnh, mạch sẽ nên đại, cải khí của Quyết âm tắt phải dẫn lên Tâm, vì Tâm là con của Mộc. Nhưng cái khí của Can, Dớm, trên lên đến đâu, dưới xuống tới yêu và túc, ở giữa thì là hiếp và phúc, cho nên bệnh phát trên dưới không thường. Đến như miệng không biết sự vào ra (tức bắt trí VỊ), là do Tỳ bệnh gây nên.
- Nhị dương tức là túc Dương minh Vị; Tam âm tức là thủ Thái ám Phế. Nhưng Tỷ cũng thuộc về túc Thái âm nên mới nói "có cả Chí âm (Ty). Ba kinh VỊ, Tỳ, Phế mắc bệnh, thì về âm kinh, không thể ra để hòa với dương; về dương kinh, không thể vào để hòa với âm, khiến cho hai khí Ám Dương. đều bị trở tuyệt. Vi vậy, đương không vào được với âm thì mạch phù; phù thì bên trong có chứng huyết giả. Âm không ra được với dương thì mạch trầm, trằm thì bên ngoài sinh ra các chứng ung nùng. Chửa đến âm dương đều thịnh, thì về con trai, phát bệnh dưới tới sản môn... Về cen gái, dưới cũng tới âm đạo. Dẻu là bệnh lớn. Mà trên từ nơi tỏ rõ, dưới tới chỗ tờ mờ... Đều do âm dương ly tuyệt gây nên. Muốn quyết sống chết, hợp với đầu năm v.v... Như Giáp Dân là tháng giêng, thì Át Mão là tháng hai v.v... Chết về tháng nào, có thể do hợp với kinh mà tính.
Chương tám mươi · Phương Thịnh Suy Luận Thiên
Kinh Văn
Lôi Công hỏi rằng:
– Về khí nhiều ít, thế nảo là nghịch? Thế nào là tùng?
Hoàng Đề dạy rằng:
– Dương theo tà, âm theo hữu lão theo trên, thiếu theo dưới. Vì vậy, xuân hạ theo về dương thời sống, theo về thu đông thời chết. Trái lại, thời theo vê thu đông là sống, Vì vậy, khí dù nhiều ít mà nghịch, đều thành chứng quyết,
Chứng quyết thuộc Thiếu âm, khiến người mộng càn quá lãm thời mê.
Phế khí hư thời khiến người mộng thấy bạch vật (các vật trắng, thuộc loài kim), thấy chém người máu chảy, nếu đắc thời, thời mộng thấy binh chiến??,
Thận khí hư thời khiến người mộng thấy thuyền và người bị đắm đuối; nếu đắc thời, thời mộng năm trong nước, như bị sợ hãi.
Can khí hư thời mộng thấy cỏ cây nảy nở; nếu đắc thời, thời mộng tựa dưới gốc cây không dám đứng dậy.
Tâm khí hư mộng thấy đi cửu đám cháy; nếu đắc thời, thời mộng thấy lửa sáng rực trời.
Tỷ khí hư thời mộng thầy uống ăn không đủ; nếu đắc thời, thời mộng đặp tường, lợp nhà.
Đó là thuộc về năm Tàng khí hư, Dương khí hữu dư, Âm khí bắt túc. Vậy hợp với năm chân, điều với âm dương, để xét về kỉnh mạch,
Vì vậy, chân có đại phương (phép lớn). Ngồi đứng có thường, ra vào có lối, để giúp ích cho thần minh; phải rất thanh tĩnh, xem suốt trên dưới, coI ở bát chính, xét năm trung bộ, án mạch động tĩnh; theo riết để nhân về hoạt, sắc, hản, ôn; đạo có xét rõ mới được dài lâu. Và tới được cõi mười vẹn cả mười (thập toàn,
Chú Giải
- Khí mà thuộc dương, thì ở bên tả là thuận; khí mà thuộc âm, thì ở bên hữu là thuận, người già ăn kẻm, nên ở trên là thuận; người thiểu dục nhiều, nên ở dưởi là thuận. Vì vậy, về xuân hạ, hoặc bệnh hoặc mạch, theo về dương lả sống: nếu lại âm bệnh, ãm mạch như thu đông thi sẽ chết. Trái lại thi thu đông theo về âm thi sống. Nếu lại dương bệnh dương mạch vào xuân hạ thì chết. Vì vậy khí ở con người không cứ gì nhiêu ít, nếu nghịch thì sẽ thành chứng quyết. = Dây nói về Âm khí bất túc thì sinh ra chứng nhiệt quyết, mà lẫy "vọng mộng" của năm Tàng làm chứng nghiệm. Năm Tàng thuộc về âm. Am khí hư thì hình ra "vong mộng”. Như Phé khi hư thì mộng thấy bạch vật, vì Phế thuộc Kim, Kim sắc trắng, thầy người bị chém, lả cái công lụng của Kim, Nếu gặp mùa thu đông mà Kim vượng giúp Phế, thì Phế chưa suy lắm, sẽ mộng thấy "binh chiến" đó là vì Tàng khí thực. Thận thuộc Thủy, nên mộng thây sự "đăm đuối". Nếu gặp mùa đông mà Thủy đến giúp Thận, thì Thận chưa suy lắm. thì mộng thấy nằm ở trong nước; sở dĩ "như bị sợ hãi” là do Tàng khí không yên mà sinh ra. Can chủ Mộc, nên mộng thấy có cây nảy mọc, đó là vì cùng một loài. Nếu gặp mùa xuân, mà Mộc lại giúp Can; thì Can chưa suy lãm, thì mộng thấy tựa dưới gốc cây; sở dĩ không dám đứng dậy. cũng là do Tàng khí không yên. Tâm thuộc Hỏa, nên mộng thầy chạy chữa đám cháy..Nêu, pặp mùa hạ, thì Hỏa tới giúp Tâm. Tâm chưa suy lắm, nên mộng thấy lửa sáng rực trời. Đó cũng vì Tàng khí thực mà không yên. Tỷ thuộc Thổ, nên mộng thấy uống, ăn không đủ; nếu gặp về tử quý, mà Thô tới giúp Tỳ, Tỳ chưa suy lắm, nên mộng thấy đắp tường, lợp nhà... Đó đều do năm Tàng khí hư, Dương khí hữu dư, Âm khí bất túc, sở đĩ có mộng hiện như vậy và gây thành chứng quyết. ®) Đây nói về Hình khí nên tương đắc, không nên tương thất, mới được là thập toàn. Nhưng hình là hữu hình, mà khí là vô hình. Về khí, cần phải do ở mạch để nghiệm. Vì vậy, hình nhược khí hư thì chết. Vì cả hai đều là bát túc, cũng chết bởi hình lấy mạch làm chủ. Nếu mạch khí hữu dư mà hình khí bất túc, thì huyết khí đã đủ, thần khí sẽ xung, chãc có cơ sống được. Vì vậy chân có đại pháp. Phàm làm y công, tự mình ngôi dậy phải có thường, ra vào phải có lối, khiến cho thần mính thư xướng. thanh tĩnh vững vàng... Vậy sau mới án đến mạch của bệnh nhân, động, tĩnh, hoạt, săc, hàn, ôn, đại tiểu... đều rõ ràng không sai, thế mới là thập toản.
Chương tám mươi mốt · Giải Tinh Vi Luận Thiên
Kinh Văn
Lôi Công hỏi rằng:
– Khốc (khóc thành tiếng), khấp (khóc ngằm) mà lệ (nước mắt không ra hoặc ra mà ít “thế” (nước mũi) là vì sao?
Hoàng Đề dạy rằng:
– Tâm là chuyên tỉnh của năm Tàng. Nó khai khiếu lên mắt, hiện ra sắc là phần tươi tốt của Tâm. Vì vậy, phảm người có đức, thời khí hoà hiện ra mắt; có việc lo buổn, thời râu rĩ tô ra sắc.
Vĩ vậy, bí ai thời “khấp hạ” (khóc có lệ rơi). Khấp hạ là do Thủy sinh. Thủy do tông mạch; tích thủy tức là Chí âm. Chí âm là tỉnh của Thận. Sở dĩ lệ không rơi, là do tỉnh nó cũng giằng co, nên Thủy không xuất được(,
Nghĩ như:
tỉnh của Thủy là chí, tỉnh của Hỏa là thần; Thủy Hỏa tương câm, thần chí đều bi, do đó Thủy mới từ trong mắt chảy ra. Cho nên “ngan” có nói “tâm bị”, gọi là “chí bi”. Vì chí với Tâm tinh, đều dồn lên mắt.
Vị vậy, đều bi, thời thần khí truyền vào Tâm tỉnh, nên không truyên lên chí, mà chí độc bỉ, cho nên khắp mà lệ ra, “Thế” phát sinh ra tự não (óc). Não thuộc âm; Tủy, là một chất làm cho đây ở trong xương. Não thấm (rích) ra thành Phế. Chí là chủ của xương. Vì vậy, thủy chảy mà thế theo, là nó theo về đồng loại.
“Thế” với “khấp” (tức lệ) ví như anh với em, nếu mạch “cấp thời đều chết, nếu sống thời đều sống. Nếu chí mà sớm bị, thời “thế và “khắp” sẽ đồng thời đằm đìa?,
Lôi Công hồi rằng:
– Có người khốc khắp mà 'lệ” không ra; có khí “lệ? ra mà ít “thế”, là vì sao?
Hoàng Đề dạy rằng:
_ - Khấp mà lệ không ra, là do khốc mà không thật bi. Không khắp là đo thần không bị; thẦn không bỉ thời chí không bi. Âm dương cũng giằng co nhau, khấp (lệ) sao ra một mình được. Dại phàm, về chí mà bi, thời uất uất khí xung âm, xung âm thời chí rời khỏi mắt; chí đã rời thời thần không giữ tỉnh. Tĩnh thần rời khỏi mắt, thời “thế và khấp” đồng thời ra, rủ, - Va, gã (Lôi Công) không nhớ ở Kinh (Linh khu) dạy ư? Phàm chứng quyết, thời mắt không còn trông thấy. Vì người mắc chứng quyết, thời Dương khí dồn lên trên, Âm khí dồn xuống dưới. Dương khí dôn lên trên thời hỏa sáng một mình; Âm khí dồn xuống dưới thời chân lạnh và bụng trướng, xem đó thời biết “một thủy” không thăng được “năm hỏa”, cho nên thành mục mạnh.
Vì vậy, ra gió thời lệ rơi. Bởi gió nó thổi vào mắt khiến cho Dương khí không giữ với tỉnh, một mình đương hỏa thiêu vào mắt, nên mới lệ roi,
Muốn so sánh, thời như:
hỏa mạnh sinh phong sẽ biến thành mưa... âu cùng một loài vậy?,
Chú Giải
- Bị ai động đến Tâm chí, cho nên "khấp hạ” mà Thủy sinh ra. Tính của Thận Tang, Thủy do tông mạch mà trên thông lên Tâm, ngoài rớt ra mắt, cho nên nói: "Mắt là nơi tụ hội của tông mạch”. Nếu chí không bị, thì tính bị “giằng" ở dưới, khiến cho Thủy không thế dẫn lên. Đây có ý nói tỉnh thủy ở dưới, phải có động đến Thận chí, rồi mới có thê dẫn lên.
- Đây nói thần sinh ra ở tỉnh, chỉ sinh ra ở Tâm; Trong Ly có hư, trong Khảm có mãn, đó là Thủy Hỏa trên dưới hỗ giao với nhau. Linh khu nói: "Cái sở sinh nó lại gọi là tỉnh; hai tính cùng xen nhau gọi là thần...". Vậy là thần khí sinh ra bởi Tâm. Cho nên nói: "Đều bị, thì thần khí truyền lên ì Tâm, thế là nói: cái thần khí ở Tâm tàng, vốn sinh ra tự Thận Tảng. Lại nói; Tâm có cái "sờ ức"? sọi là ý, ý có "sở tôn") gọi là chí. Vậy thế là chính cũng sinh ra bởi Tâm. Cho nền nói: "tỉnh, trên không truyên với chí..." tức lả nói tỉnh không truyền với chí, mà chí "độc bi” ở trên, nên mới khấp xuất.
- Sở ức: Cái điều gì hoặc nghĩ tới, nhớ tới.
- Sở tồn: Nhớ ở trong bụng. Trong bụng lúc nào cũng nghĩ đến, t% Thế với khấp đều phát sinh từ Thận. Vậy tử mạch của Thận hiện ra, "cấp" như gõ vào đã, thì sẽ đều chết. Nếu là sông, thi đồng thời đều chảy ra.
- Dây lại nói rõ thêm "khấp” phát ra từ thần rồi đến chí, mà "Thế" thì phát ra từ chí rồi mới đến thần. Cho nên thần không bi thì chí không bỉ, mà tỉnh không ra. Chí động thì thần không "thú", mà thế, khấp đều ra. Vậy là thần "thủ" thì chí yên, chí động thì thần động. “Âm dương cùng giãng co, là nói về thần chí của thủy hỏa, chủ trì ở trong thì tính không tiết ra. “Uất uất xung âm", đó là nói về chí xung lên trên não. Ở con người, mục hệ trên nỗi với não, cho nên chí lên xung âm thì chí rời đi, mà chạy ra mắt; chí đã rời đi thì thần không "độc thủ" được tỉnh. khiến cho tinh thần đều rời đi _ chạy ra cả mắt, do đó mới thành thể khẩn đâm đìa. kẻ Quyết là một chứng thủy hỏa không tương lao mà tương nghị:h. Tỉnh khí của cốt là đồng từ. Tinh khí của Thận không thông lên mặt, nền mắt không trông thấy. Tâm là Thái dương ở trong dương. mà là chuyên tinh của năm Tàng cho nên dương dồn lên trên, không được Âm khí để điều hòa, thi Hòa sẽ sắng một mình ở trên; Thận là thủy Tàng nhận chứa tính của năm Tảng; âm mạch họp ở dưới chân mà tụ ở Túc tâm. Cho nên âm dồn xuống dưới, không được Dương khí đẻ điều hòa, thì chân lạnh và bụng trưởng, "một thủy" tức là thủy của Thái dương. theo khí mà vận hành ra ngoài phu biểu... Thủy với hỏa của Thiếu âm, để ứng với nhật nguyệt của trời, đều cùng hội họp mà không thể rời. Vi vậy âm dương quyết nghịch, thì con mắt bị thong manh (còn đồng từ mà không trông thấy. Gió tức là Dương khí của trời. Dương khí của con người tức là thân khí. Hỏa khí, cũng là Dương khí ở con người. Thần khí trong giữ với tỉnh, Dương khí ngoài thông với mắt. Gặp gió thì khí theo gió động, mà thân không giữ tỉnh. Đến nỗi tỉnh thân đều rời bỏ mắt, nên lệ mới chảy ra. "Hòa mạnh sinh phong v.v." là nói khí sinh ra bởi thần, thân sình ra bởi tỉnh, tỉnh lại theo thần khí mà vận hành. Nghĩ như: nhật nguyệt, tỉnh, thủy của trời, theo trời mà vận hành chăng nghỉ. Tỉnh thần của con người cũng theo khí mà hoàn chuyển không ngừng. Hai mắt của con người ứng với nhật nguyệt của trời để mà ngày đêm khai hạp.
- Bản kinh 81 thiên, bàn về y đạo, theo cái số sở dụng của "thiên, địa, nhân”, là "tam, lục, cửu". Bởi người sinh ra ở trong khoảng khí giao của trời đất, thông với đạo của trời, ứng với lý của đất; đất ở bên dưới người, đại khí cư lên, không nương tựa vào đâu... Đó là trời bọc ở ngoài đất, mà vận hành không lúc nào ngừng. Số bắt đầu ở "nhất", mà thành ở "tam", mà gấp đôi sẽ thành "lục” (6); tam mà sấp ba. sẽ thành "cửu" (9), Đó là cái số do từ "vô cực" mà sinh ra Thiên Địa Âm Dương vậy. Thánh nhân vần xoay trời đất, năm giữ âm dương: thở hút tỉnh khi, độc lập giữ thân; tự nuôi được tỉnh, khí, thần để sánh với trời; lại hút tinh, khí, thần của trời để tự nuôi... Tới được cái cõi không còn phải sinh, không còn phải hóa, với đạo cùng hợp, siêu ra ngoài vòng trời đất, lại trở về võ cực. mà không còn biết đến đâu là cùng. Vị vậy, soạn thuật mây vạn lời nói, mà bảy thiên cuối lại chuyền bàn về Thiên đạo, để ứng với cái số “cửu cửu" (81), nói rõ "Tinh, Khí, Thần, ngõ hầu trở lại Thiên chân. Mong cho thiên hạ muôn đời, thoát khỏi vòng tật ách, cùng tới cõi trường sinh... Kẻ sĩ học đạo, há không nên đêm ngày sử đụng và nghiên cứu bộ TÔ vấn này đê cho đạt được đức hiếu sinh của Hoàng Dề hay sao?
- QUYÊN THỨ X