← Thư Viện Sách

Toàn Thể Luận và Y Học Bổ Sung

Nguồn gốc và nguyên lý — cuốn sách hỏi “chúng ta đang nói về cái gì khi nói toàn thể?”

Tác giả
Vincent Di Stefano
Nguyên tác
Holism and Complementary Medicine: Origins and Principles
Nhà xuất bản
Allen & Unwin, Sydney, 2006
Bản số hóa
archive.org — bản trích lục

Sáu cuốn còn lại trong thư viện trả lời câu hỏi “cái gì hiệu quả”. Cuốn này trả lời câu hỏi khác, và câu hỏi ấy phải được trả lời trước: chúng ta đang nói về cái gì khi nói “toàn thể”?

Đọc bản dịch năm phần ↓

Một cuốn sách ít người biết, và vì sao nó quan trọng

Di Stefano là người hành nghề và giảng dạy y học tự nhiên ở Melbourne. Cuốn sách này không bán chạy và không được trích dẫn nhiều. Nhưng nó làm một việc mà gần như không ai làm: truy nguyên gốc rễ triết học của y học bổ sung — từ chủ nghĩa toàn thể (holism) của Jan Smuts, qua chủ nghĩa duy sinh (vitalism), đến cách các trường phái hiện đại tự định nghĩa mình.

Với một thư viện chỉ gồm những cuốn “có uy tín vì bằng chứng”, cuốn này là ngoại lệ có chủ ý. Nó không cung cấp bằng chứng lâm sàng nào. Nó cung cấp thứ mà mọi cuốn kia giả định là đã rõ: định nghĩa.

Hai trích đoạn làm nên toàn bộ cuốn sách

“Holism đưa ra một cái nhìn hệ thống về thực tại — thừa nhận cả tính tự chủ lẫn tính tương thuộc, và chấp nhận rằng vật chất, sự sống và tâm trí đều hàm chứa và là phần không tách rời của thế giới hiện tượng.” — Dẫn Nhập, bản dịch của TaichiNOW
“Thuật ngữ ‘y học bổ sung’ có thể được hiểu như một phi-định nghĩa: nó không định nghĩa mình bằng cái nó là, mà bằng cái nó đối lập hoặc bổ khuyết.” — Sđd., bản dịch của TaichiNOW

Câu thứ hai là một lời cảnh tỉnh, và nó áp dụng cho cả người tập Thái Cực. Khi ai đó nói “tôi theo y học tự nhiên”, họ thường đang định nghĩa mình trong tương quan với y học chính thống, chứ chưa định nghĩa được nội dung của mình. Một định nghĩa chỉ nói mình không phải cái gì thì sẽ mãi bị cái kia quyết định — kể cả khi cái kia sai.

Ba ý tưởng cốt lõi

1. Toàn thể không phải là “tổng các bộ phận”

Đây là điểm bị hiểu sai nhiều nhất. Holism — theo Smuts — nói rằng cái toàn thể có tính chất không quy về các thành phần: một sinh vật sống không phải là tập hợp cơ quan cộng lại, mà là một tổ chức có tính trồi. Nếu chỉ cần “xét cả cơ thể” thì ai cũng là người theo chủ nghĩa toàn thể; điều kiện thật khó hơn nhiều.

2. Duy sinh là tổ tiên, không phải bản án

Di Stefano truy nguồn gốc triết học của y học bổ sung về chủ nghĩa duy sinh — niềm tin rằng sự sống có một nguyên lý không quy được về vật lý. Ông không cổ vũ nó, cũng không bác bỏ nó. Ông chỉ ra rằng nó là tiền đề lịch sử mà ngành này thừa hưởng, và nhiều người hành nghề hôm nay vẫn giữ nó mà không biết mình đang giữ.

3. Ba trường phái hiện đại là con của cùng một cuộc tranh luận

Sách lần theo cách naturopathy, osteopathy và chiropractic — ba nhánh rất khác nhau về kỹ thuật — cùng rút ra từ một nguồn: phản ứng chống lại sự phân mảnh của y học thực nghiệm thế kỷ XIX. Hiểu điều này giúp trả lời câu hỏi vì sao ba trường phái ấy khó hội thoại với nhau: họ chia sẻ tiền đề nhưng khác nhau ở kết luận.

Về bản PDF này — một lưu ý cần thiết

Đây là bản trích lục, không phải toàn văn. Ấn bản số hóa trên archive.org là bản mẫu 85 trang của một cuốn sách 205 trang. Nó chứa trọn vẹn năm phần — Lời Giới Thiệu, Lời Tựa, Dẫn Nhập, Chương 4 và Chương 9 — nhưng thiếu hẳn chương 1–3 và 5–8. Năm phần ấy đã được dịch trọn vẹn ở mục Bản Dịch Năm Phần Hoàn Chỉnh bên dưới. Phần bình luận phía trên là chú giải định hướng của TaichiNOW, không phải quan điểm của tác giả.

Nếu cần toàn văn, hãy tìm bản in của Allen & Unwin (2006). Bản PDF dưới đây vẫn đủ để đọc phần triết học nền — phần quan trọng nhất của cuốn sách.

Đọc cuốn này thế nào

Bản Dịch Năm Phần Hoàn Chỉnh

Phần dưới là bản dịch trọn vẹn năm phần hoàn chỉnh có trong bản số hóa: Lời Giới Thiệu, Lời Tựa, Dẫn Nhập, Chương 4 và Chương 9. Không một đoạn nào bị lược bỏ trong phạm vi năm phần ấy.

Đây không phải toàn văn cuốn sách. Bản số hóa là bản trích lục 85 trang của một cuốn sách 205 trang, nên chương 1–3 và chương 5–8 hoàn toàn không có trong nguồn — không thể dịch thứ không tồn tại. Năm phần còn lại thì nguyên vẹn. Muốn đọc đầy đủ, cần bản in của Allen & Unwin (2006).

Lời Giới Thiệu

Trong ba thập niên qua, y học bổ sung đã được đón nhận rộng rãi tại các nước phương Tây trên khắp thế giới. Người ta ước tính khoảng 60 phần trăm người Úc đang sử dụng y học bổ sung, và chi khoảng 2,3 tỷ đô la Úc cho các loại thuốc bổ sung cùng nhiều liệu pháp khác nhau. Tại Vương quốc Anh, ước tính khoảng 45 phần trăm người Anh sử dụng y học bổ sung, tương đương khoảng 15 triệu lượt khám mỗi năm. Và tại Hoa Kỳ, người ta ước tính mỗi năm có 34 tỷ đô la Mỹ được chi cho y học bổ sung.

Sự trỗi dậy của y học bổ sung tại các quốc gia phát triển cao quả thực là một hiện tượng đáng kinh ngạc. Khác với các dịch vụ y tế của y học sinh học (biomedicine) và dược phẩm, cả những cuộc tư vấn y học bổ sung lẫn các phương thuốc bổ sung thường không nhận được trợ cấp của chính phủ. Bất chấp sự bất bình đẳng ấy, người tiêu dùng vẫn sẵn lòng tự bỏ tiền túi để chi trả cho thuốc và dịch vụ y học bổ sung.

Từng bị coi là lang băm chỉ cách đây một thập niên, những người hành nghề y học bổ sung đã dần giành được uy tín như những thầy thuốc đảm nhận việc tiếp xúc đầu tiên với bệnh nhân. Sự đón nhận y học bổ sung trong cộng đồng lớn đến mức các khóa đào tạo y học bổ sung nay đã được triển khai ở cấp đại học. Tuy vậy, bất chấp sự phát triển đó, các công trình học thuật về y học bổ sung vẫn còn hạn chế.

Holism and Complementary Medicine ra đời nhằm khắc phục sự thiếu hụt này. Tác giả ở vào một vị thế thuận lợi để đưa ra những nhận định sâu sắc về thực hành y học bổ sung. Ông đã tham gia vào lĩnh vực giáo dục y học bổ sung, ở những chuyên ngành như y học tự nhiên (naturopathy) và y học thảo dược, từ đầu thập niên 1980. Gần đây hơn, ông đã tham gia thiết kế và giảng dạy các chương trình đại học và sau đại học về y học thảo dược phương Tây, về các khái niệm triết học của việc chữa lành, và về các phương pháp nghiên cứu định tính. Những góc nhìn được trình bày trong cuốn sách của ông được hình thành từ các cuộc phỏng vấn chuyên sâu với một số người hành nghề và giảng dạy y học bổ sung giàu kinh nghiệm. Chúng cũng chịu ảnh hưởng của ba thập niên hành nghề y học bổ sung trong cộng đồng.

Cuốn sách này được chia thành hai phần chính. Phần thứ nhất bàn về thực hành y học bổ sung hiện đại trong bối cảnh lịch sử. Phần thứ hai khảo sát y học bổ sung từ góc độ triết học y học. Người ta thường nói một cách khôn ngoan rằng muốn hiểu hiện tại thì phải hiểu quá khứ. Tác giả bắt đầu cuộc truy vấn lịch sử của mình từ thời Ai Cập, và cuốn hút người đọc bằng một sự so sánh sâu sắc giữa thực hành y học Ai Cập cổ đại với thực hành y học bổ sung ngày nay. Người đọc chẳng mấy chốc nhận ra rằng khái niệm tính toàn thể, vốn là nền tảng của thực hành y học bổ sung, không phải là một phát triển gần đây. Tác giả trình bày những lập luận lịch sử vững chắc để cho thấy cội rễ của triết học y học bổ sung gắn liền với thời cổ đại.

Các công trình của Empedocles, Hippocrates, Theophrastus, Galen và Paracelsus được khảo sát dưới ánh sáng của sự phát triển y học sinh học. Trái với quan điểm phổ biến, y học sinh học không phải là một hiện tượng tương đối mới, mà là di sản của một chuỗi biến cố lịch sử vốn đã tiến hóa, về cơ bản, quanh triết học.

Mối liên hệ giữa y học sinh học, triết học và khoa học được triển khai với độ sâu đáng kể. Dù y học sinh học tự nhìn nhận mình là đứng trên nền tảng của lý thuyết và tư tưởng khoa học, văn bản này cho thấy triết học đã ảnh hưởng và định hướng to lớn đến tiến trình của cuộc truy vấn khoa học qua nhiều thế kỷ như thế nào. Chính triết học ấy cũng đã định hình sự phát triển của thực hành y học bổ sung.

Tác giả so sánh và đối chiếu thực hành y học sinh học với thực hành y học bổ sung. Nhìn từ một góc độ, những khác biệt là rõ rệt, và đó là cách nhiều người nhìn nhận y học sinh học cùng y học bổ sung. Nhưng từ một góc độ khác, lại có những nét tương đồng đáng ngạc nhiên. Tác giả dựa vào những câu chuyện do chính những người hành nghề và giảng dạy y học bổ sung thuật lại để làm nổi bật những vấn đề ấy.

Holism and Complementary Medicine là cuốn sách rất đáng giới thiệu cho bất kỳ ai quan tâm đến sự phát triển lịch sử và triết học của y học bổ sung. Đây là một công trình học thuật có giá trị ứng dụng như nhau đối với sinh viên đại học, học viên sau đại học, giới học giả, người hành nghề và người tiêu dùng y học bổ sung.

Raymond Khoury
Biên tập viên, Journal of the Australian Traditional Medicine Society
Tháng 7 năm 2005

Lời Tựa

Có lần, một thanh niên đến gần Mahatma Gandhi khi ông đang đi dạo dọc bờ sông. Người thanh niên cúi đầu kính cẩn rồi cất lời: “Thế giới này còn biết bao việc phải làm. Biết bao nghèo khổ, biết bao đau thương. Có những hư hại cần tu bổ, có những bất công cần chỉnh đốn, và có những nỗi đau cần chữa lành. Vậy thì một người có thể giúp được gì đây?” Gandhi hướng mắt người thanh niên về phía vô số viên sỏi phủ kín hai bờ sông và nói: “Hãy tìm viên sỏi tròn nhất, nhẵn nhất, đẹp nhất mà anh có thể tìm được và cầm nó trong tay. Rồi chọn một chỗ trên khúc sông đang chảy trước mặt, ngắm thật kỹ, và ném viên sỏi về phía đó chính xác hết mức có thể. Khi viên sỏi chạm mặt nước, việc của anh đã xong. Những gợn sóng sẽ làm nốt phần còn lại.”

Holism and Complementary Medicine có thể được ví như một viên sỏi nhỏ ném vào dòng chảy của một truyền thống đã cũ như chính câu chuyện của loài người: truyền thống chữa lành. Khi đối diện với đại dương mênh mông những trang viết về y học và chữa lành, cùng cơn lũ bài báo vẫn thường xuyên tràn qua độc giả của vô số tạp chí dành cho y học trên khắp thế giới, người ta hẳn phải tự hỏi: còn điều gì nữa để nói?

Dòng sông không bao giờ đứng yên. Nó chảy miệt mài, len qua những chướng ngại và đón nhận những nhánh suối mang nước đi qua những vòng tuần hoàn bất tận. Tuy thành phần và hình dáng của nó thường xuyên thay đổi, cội nguồn của nó vẫn không đổi. Mọi dòng sông rốt cuộc đều bắt nguồn từ những miền thượng nguồn xa xôi, nơi tụ lại những giọt mưa rơi. Y học cũng vậy. Tuy hình thức và phương pháp của nó có thể thay đổi tùy nơi tùy lúc, nó vẫn luôn kéo nước từ một mạch nguồn vĩnh cửu: ý chí xoa dịu nỗi khổ đau của con người do bệnh tật gây ra.

Ngày nay, giới y khoa ở thế giới phương Tây đang trải qua một sự chuyển dịch tinh tế trong cách tiếp cận chữa lành. Đang diễn ra một cuộc đánh giá lại trên diện rộng đối với những cách thức mà y học chịu ảnh hưởng từ các quan niệm về sức khỏe và bệnh tật bắt nguồn từ những phương pháp và thế giới quan khác với những gì y học khoa học đã phát triển trong suốt thế kỷ qua. Tình thế này nảy sinh từ một nhận thức ngày càng rõ rằng lối đi của y học khoa học, dù mạnh mẽ và ấn tượng hơn mọi thứ từng có trước đây, vẫn mang những giới hạn của chính nó. Nhận thức ấy đã được đẩy nhanh đáng kể nhờ những thành tựu của các phương thức y học bổ sung, vốn có cách tiếp cận chữa lành thường khác biệt rõ rệt so với y học chính thống phương Tây.

Holism and Complementary Medicine khảo sát những nguyên lý nền tảng nằm bên dưới nhiều cách tiếp cận ấy. Người viết hy vọng cuốn sách này sẽ hữu ích không chỉ cho những người hành nghề và sinh viên của các ngành nghệ thuật chữa lành nói chung, mà còn cho tất cả những ai quan tâm đến bản chất của việc chữa lành và những nguyên lý của y đạo đã dẫn dắt sứ mệnh của y học qua suốt chiều dài lịch sử.

Cuốn sách này đặt nền trên ảnh hưởng và cảm hứng của rất nhiều thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè, những người trong ba thập kỷ qua đã dành cho tôi sự dẫn dắt và đồng hành trên con đường tìm về những nguồn mạch bền bỉ của tuệ giác và chữa lành, vốn luôn là một phần trong câu chuyện của y học.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng đối với một số bạn hữu và đồng nghiệp đã rộng lòng dành thời gian và tâm sức để góp ý cho các chương khác nhau của công trình này. Gửi Peter Ferigno ở Đại học Victoria, người có trí tuệ nhanh nhạy và khó nắm bắt một cách kỳ diệu, đã luôn đưa tôi trở lại với từng cái cây giữa khu rừng. Gửi người bạn lâu năm Paul Hertzog ở Đại học Monash, người đã giúp tôi hiểu rộng hơn về sự chân thành và lòng trắc ẩn vẫn vận hành, dù thường khuất khỏi tầm mắt, bên trong dự án y sinh học. Gửi Raymond Khoury ở Hiệp hội Y học Cổ truyền Úc, người anh em cùng chiến tuyến của tôi, người đã dành cho tôi sự ủng hộ không lay chuyển qua nhiều công trình trong hai thập kỷ qua; lòng tận tụy và sự bền bỉ của anh đối với các sự nghiệp của y học thảo dược và y học toàn thể tại Úc rồi đây sẽ ngày càng được nhận rõ hơn. Gửi người anh em đồng đạo Paul Orrock ở Đại học Southern Cross, người mà tôi đã có niềm vui và vinh hạnh lớn được cùng làm việc, và những suy ngẫm sáng rõ của anh đã góp phần tinh chỉnh một số chương. Gửi Bogusha Paks, đồng nghiệp cũ của tôi ở Đại học Victoria, người có những cảm nhận châu Âu đã nhiều lần thử thách chính những giả định của tôi. Gửi Buzz Robertson, người đã giúp tôi theo kịp thời cuộc trong thế giới y văn luôn biến đổi. Gửi Jenie Stroh ở Trường Y học Tự nhiên Southern, người đã đưa ra những suy ngẫm sắc sảo và mang tính xây dựng về Chương 5. Và gửi người bạn lâu năm, cũng là người thầy lúc này lúc khác của tôi, Shuddha Sarma, người mà từ thuở đầu đã giới thiệu cho tôi sức mạnh và ảnh hưởng của các hệ thống y học cổ đại và phương Đông cùng những cách nhận biết của chúng.

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cả Annie Gillison và Melanie Guile, những người đã đưa con mắt tinh tường của mình soi rọi toàn bộ bản thảo. Và cũng xin cảm ơn Rob Campbell, người có những cuộc trò chuyện sôi nổi trong những lần chúng tôi đi dạo trong rừng đã góp phần định hình hiểu biết của tôi về sự chữa lành sâu xa hơn mà tất cả chúng ta đều hướng tới.

Lời cảm ơn đặc biệt nhất xin dành cho những người trả lời phỏng vấn không nêu tên, những người đã rộng lòng dành thời gian và sự khôn ngoan của mình trong những cuộc trao đổi ban đầu, qua đó làm sáng tỏ nhiều vấn đề được nêu lên trong Phần II của Holism and Complementary Medicine. Vì lý do đạo đức, những người trả lời phỏng vấn của tôi buộc phải giữ kín danh tính. Những trích dẫn in nghiêng được dùng xuyên suốt Phần II đều được tuyển chọn cẩn thận từ các bản ghi phỏng vấn thu được qua một nghiên cứu định tính tiến hành tại Đại học Victoria trong khoảng thời gian từ 1996 đến 1998. Nghiên cứu này đã được chấp thuận trên cơ sở cam kết tôn trọng sự ẩn danh của những người tham gia.

Người ta đã nói rằng: “Qua việc dạy, ta sẽ được dạy”. Khi xác nhận chân lý của câu nói ấy, tôi mãi mãi biết ơn nghị lực, sự kiên nhẫn và nguồn cảm hứng của những sinh viên đã tham dự các lớp học khác nhau của tôi trong suốt hai mươi lăm năm giảng dạy tích cực vừa qua.

Công trình này có lẽ đã không bao giờ thành hình, nếu không có tầm nhìn, sự khích lệ và ủng hộ của những người phụ nữ tuyệt vời ở Allen & Unwin. Xin cảm ơn nhà xuất bản của tôi, Elizabeth Weiss, người đã lặng lẽ dẫn dắt tiến trình; cảm ơn Emma Cant và Emma Sorensen, những người đã kiên nhẫn chăm chút cho việc hoàn thiện các bản thảo đầu tiên; cảm ơn Jeanmarie Morosin, người đã điều phối việc sản xuất cuốn sách này với kỹ năng và sự cần mẫn; và cảm ơn Jessica Post, người đã làm việc phía sau hậu trường để bảo đảm tiến trình luôn vững bước về phía trước.

Nhưng lòng biết ơn sâu nhất của tôi thuộc về gia đình yêu dấu, những người đã chịu đựng những thái quá của tôi và tha thứ cho những lần tôi vắng nhà thường kéo dài trong quãng thời gian hình thành nên cuốn sách này. Gửi Gill yêu dấu của tôi, người đã luôn giữ cho ngọn lửa của trái tim và của tổ ấm cháy sáng trong suốt quãng thời gian tôi miệt mài luận giải này. Và gửi các con của chúng tôi, Nico, Gina, Luca và Sofia, những đứa trẻ đã chịu đựng những lúc tôi nổi nóng với lòng bao dung và khiếu hài hước vô hạn. Tình yêu của cha mãi ở bên các con.

VDS, tháng Tư 2005

Dẫn Nhập — Sự Hình Thành Một Nền Y Học Mới

Phần lớn hiệu quả của những người làm nghề y, và phần lớn sự chấp nhận mà họ được cộng đồng dành cho, không phải là kết quả của năng lực khoa học của họ, mà là kết quả của sự tận tâm chăm sóc, của uy tín và sự khôn ngoan mà người ta gán cho họ, của việc họ được nhận diện như những người nắm giữ tri thức thâm uyên, và có lẽ trên hết, của sự sẵn lòng nhận lấy (dù điều này có thể căng thẳng và khó chịu đến đâu) trách nhiệm xoa dịu nỗi đau buồn và trao đi sự chăm sóc ngay cả khi mọi nguồn lực kỹ thuật đã cạn kiệt. Đó là những kỹ năng y học truyền thống, và nằm ngay tại tâm điểm của công cuộc chữa lành.

— G. Allen German, 1987

Đau khổ là một phần của câu chuyện con người. Mỗi chúng ta đều phải đối diện với thực tại của sinh, bệnh và tử. Mỗi nền văn hoá đều sản sinh ra những người đảm nhận công việc đón nhận sự sống mới, giúp những ai đang chịu đựng bệnh tật và tàn tật lấy lại sức khoẻ, và ở những tầng bậc tinh tế hơn, trao cho trải nghiệm đau khổ cùng những giới hạn mà nó có thể mang lại một ý nghĩa.

Ý hướng chữa lành đã mang nhiều hình thức khác nhau trong suốt lịch sử. Nó đã được cất lên trong những lời cầu nguyện và khấn nguyện của vô số thế hệ tư tế và pháp sư. Nó đã được mang vác bởi những người đàn ông và đàn bà đã tìm kiếm những chất có sẵn trong tự nhiên cũng như những chất do trí tuệ con người tạo ra, nhằm giúp xoa dịu nỗi đau của bệnh tật và thúc đẩy sự hồi phục sức khoẻ. Nó vẫn tiếp tục được biểu hiện nơi kỹ năng và sự chính xác của những vị phẫu thuật gia tận tuỵ, những người ngày ngày thực hành nghệ thuật của mình.

Y học khoa học đương đại, còn được gọi là y học sinh học (biomedicine) hay y học phương Tây, là một biểu hiện độc đáo của ý chí chữa lành. Nó được thực hành trên khắp thế giới, được nhiều chính phủ hỗ trợ thông qua việc tài trợ các chương trình đào tạo và cung cấp nguồn lực, và được phục vụ bởi những công nghệ cực kỳ mạnh mẽ. Những người thực hành y học phương Tây phần lớn đã cắt đứt dây liên hệ với cội nguồn lịch sử của chính mình. Khác với các đồng nghiệp phương Đông, các bác sĩ phương Tây nhìn chung đã gác lại cả những hiểu biết triết học lẫn những phương pháp trị liệu của tiền nhân.

Việc giảng dạy cũng như việc thực hành y học ngày nay đã trở nên được chuẩn hoá cao độ trên khắp thế giới phát triển. Khung chương trình của các chương trình y khoa tại các trường đại học và trường y gần như giống hệt nhau. Mỗi sinh viên y khoa tốt nghiệp đều bước ra từ quá trình đào tạo với một khối kiến thức bách khoa về cơ thể và các bệnh tật của nó. Những kỳ thực tập trong hệ thống bệnh viện đô thị bảo đảm rằng các bác sĩ trẻ hiểu tường tận các công nghệ chẩn đoán, hiểu tác dụng và cách dùng của các dược phẩm, và thông thạo hoàn toàn các thủ thuật ngoại khoa thường được dùng trong điều trị chấn thương và bệnh tật. Hệ quả là việc thực hành y học ở thế giới phương Tây đã trở nên hết sức đồng nhất. Một chẩn đoán nào đó nhiều khả năng sẽ dẫn đến một đơn thuốc hay một thủ thuật tương tự, bất kể người ta đến gặp bác sĩ ở Sydney, London, New York hay Brussels.

Nhưng nay người ta ngày càng hiểu rằng y học khoa học chỉ đại diện cho một cách tiếp cận chữa lành, dẫu đó là một cách tiếp cận mạnh mẽ và độc đáo. Trong suốt lịch sử ngắn ngủi của mình, nó đã được thực hành song song với những cách khác nhằm duy trì sức khoẻ và đối phó với bệnh tật, cho dù những cách ấy có thể đã bị xem là ngoại vi và phần lớn không liên quan đến hệ thống y học khoa học đang chiếm ưu thế.

Một diễn biến văn hoá đáng ngạc nhiên đã mở ra trong những thập niên gần đây. Những người hành nghề độc lập theo các cách tiếp cận như y học tự nhiên (naturopathy), vi lượng đồng căn, nắn chỉnh cột sống (chiropractic) và châm cứu trên khắp thế giới phương Tây đã thu hút được sự tín nhiệm của đông đảo người dân. Những người thực hành y học khoa học thường bị bất ngờ khi biết rằng chính các bệnh nhân của mình đang sử dụng những cách tiếp cận chữa lành bổ sung.

Hai thập niên trước, nhà nhân học y học Arthur Kleinman đã đặt những quân bài — theo cách ông nhìn nhận — lên mặt bàn:

Mối quan tâm hiện nay đối với y học toàn thể và các hệ thống chữa lành thay thế có lẽ được giải thích thoả đáng nhất như một phong trào dân tuý bắt nguồn từ lịch sử, và có lẽ cơ sở y học nhìn nhận nó một cách đúng đắn là phản nghề nghiệp. Phong trào này là ánh lập loè cuối cùng của một ngọn nến sắp tắt, hay là biểu hiện của một sự định hướng lại lớn lao trong cách thức chăm sóc sức khoẻ sẽ được cung ứng trong xã hội chúng ta — đó là câu hỏi mà lịch sử của những năm 1980 và 1990 sẽ trả lời.

— Arthur Kleinman

Trong khoảng thời gian ngắn kể từ khi Kleinman đưa ra quan điểm của mình, ánh lập loè ấy đã trở thành một ngọn lửa mạnh mẽ, nay soi sáng con đường của y học bước vào thiên niên kỷ mới.

Dựng bối cảnh

Vào cuối thế kỷ mười chín và những thập niên đầu của thế kỷ hai mươi, giáo dục y khoa đã trải qua một cuộc chuyển biến sâu sắc. Việc đào tạo bác sĩ không còn dựa trên hệ thống học nghề nữa, mà được thiết lập vững chắc trong các chương trình dựa trên khoa học, giảng dạy trong môi trường đại học. Nhờ đó, cả người dạy lẫn người học đều có được điều kiện tiếp cận các cơ sở nghiên cứu và các bệnh viện giảng dạy, nơi bệnh nhân có mặt với số lượng rất lớn. Sự ủng hộ của các chính phủ phương Tây đã được huy động cho dự án này, vì dự án vốn đặt trên nền tảng của khoa học sinh học và được dẫn dắt bởi một giới y khoa tổ chức chặt chẽ. Những truyền thống y học trước đó như y học thảo dược và vệ sinh học (hygienism), cùng những kẻ đến sau như vi lượng đồng căn, Khoa học Cơ Đốc (Christian Science) và nắn chỉnh cột sống, dần dần mất đi cả sự ưu ái lẫn sự hậu thuẫn của các thể chế. Tuy vậy, chúng vẫn tiếp tục được thực hành một cách lặng lẽ bởi một nhóm nhỏ những con người bền gan, những người sẵn lòng chịu đựng sự cô lập gắn với địa vị phi chuyên nghiệp và không liên kết của mình.

Ngoài những cuộc công kích thỉnh thoảng được phát động bởi những người bảo vệ quyết liệt hơn cho vị thế bá chủ của y học, những người định kỳ lên nắm quyền trong các hiệp hội y khoa lớn, thì trong phần lớn nửa đầu thế kỷ hai mươi đã đạt được một trạng thái cùng tồn tại tương đối ôn hoà và yên bình. Nền hoà bình ấy đôi khi bị thử thách bởi một số người trong hàng ngũ những kẻ bị gạt ra ngoài, những người lên tiếng quá mạnh mẽ hoặc quá gay gắt chống lại giới chuyên môn đang chiếm ưu thế. Những ai hành nghề bên ngoài dòng chính bị gọi là lang băm trong trường hợp xấu nhất, nhưng thường xuyên hơn là những người hành nghề ngoại vi, không chính thống hoặc không có bằng cấp chính quy.

Mọi thứ thay đổi mạnh mẽ trong những năm 1960. Mạng lưới những người chữa lành và hành nghề trước đây vốn mơ hồ, khó nắm bắt và đã làm việc một cách kín đáo trong cộng đồng của mình, nay bắt đầu được nhận diện như những người chữa lành "thay thế" và ngày càng được nhiều người tìm đến. Thuật ngữ toàn thể (holistic) ngày càng được dùng để mô tả những cách tiếp cận chữa lành như vậy. Bản thân thuật ngữ không mới, nhưng nó chỉ về một ý tưởng đã được phát biểu lần đầu khoảng bốn thập niên trước đó, và từ ấy đến nay đã từ từ định hình.

Chủ nghĩa toàn thể

Jan Christian Smuts đặt ra thuật ngữ holism vào năm 1925. Ông dùng nó để mô tả một lập trường triết học hướng tới việc thấu hiểu các hệ thống trọn vẹn, thay vì những sự kiện hay hiện tượng riêng lẻ. Trong vòng hai năm, thuật ngữ mới này đã xuất hiện trong Encyclopaedia Britannica và được mô tả ở đó như "một cách nhìn bổ sung và tương hỗ với cách nhìn của khoa học".

Bản thân Smuts là một nhân vật bí ẩn và đầy mâu thuẫn. Sinh năm 1870 tại Thuộc địa Cape của Anh (về sau trở thành Nam Phi), ông học luật tại Cambridge rồi trở về nơi sinh và bước vào cuộc đời chính trị. Ông phục vụ trong Chiến tranh Boer và tỏ ra là một nhà chiến lược quân sự tài ba, đạt cấp bậc Tướng. Ông hai lần giữ chức Thủ tướng Nam Phi và có ảnh hưởng trong việc hình thành cả Hội Quốc Liên lẫn, về sau, Liên Hợp Quốc. Không lâu sau khi cuốn sách Holism and Evolution của ông xuất bản năm 1925, ông được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Nam Phi vì Sự tiến bộ Khoa học. Năm 1930, ông nhận vai trò chủ tịch Royal College of Science tại Vương quốc Anh.

Smuts nhiều lần nhấn mạnh rằng khái niệm tự do là một bộ phận không thể tách rời của bất kỳ sự thấu hiểu nào về chủ nghĩa toàn thể. Vậy mà ông lại giữ những quan điểm phân ly và phân biệt chủng tộc mạnh mẽ về quyền của người da đen trong việc quản trị Nam Phi, ít nhất là trong những năm đầu ông nắm giữ chức vụ chính trị. Smuts cũng đã từng tranh cãi gay gắt với Mahatma Gandhi về quyền của những người lao động Ấn Độ tại Nam Phi.

Tuy những mối quan tâm buổi đầu của Smuts xoay quanh văn học, các tác phẩm kinh điển và triết học, ông lại bị cuốn hút mạnh mẽ về một hình dung mới về thực tại đang bắt đầu nảy sinh từ các lĩnh vực vật lý và toán học vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Ông tìm cách phản bác quan điểm cơ giới và quyết định luận về sự sống, vốn ngày càng chi phối thế giới quan khoa học đang hình thành, bằng việc khẳng định lại vai trò đồng tâm của tâm trí và sự sống trong công cuộc sáng tạo. Đối với Smuts, chỉ nghiên cứu vật chất thì không đủ để hiểu thoả đáng về thế giới. Nền vật lý mới đã mở ra một thế giới trong đó vật chất và năng lượng có thể hoán đổi cho nhau, và trong đó không gian cùng thời gian không còn là những thực thể tách rời. Qua việc khảo sát các "cái toàn thể", Smuts đưa ra một viễn tượng rộng hơn và bao quát hơn về bản tính của thực tại so với viễn tượng mà khoa học quy giản mang lại.

Tác phẩm lớn của Smuts, Holism and Evolution, ra đời rồi qua đi mà phần lớn không được chú ý. Nhưng thuật ngữ "holism" đã chạm đúng một dây đàn mạnh mẽ, và dây đàn ấy đã từ từ dâng lên thành một hợp xướng trong những thập niên sau đó. Ngày nay, chủ nghĩa toàn thể đã trở thành tên gọi cho một lập trường triết học thừa nhận tính nhất thể cốt yếu của công cuộc sáng tạo. Nó mang theo cách hiểu mang tính cộng hưởng rằng các cái toàn thể thì lớn hơn tổng các phần của chúng.

Chủ nghĩa toàn thể cũng thừa nhận rằng các phần của bất kỳ hiện tượng nào cũng có thể tự chúng là những hệ thống trọn vẹn. Một phân tử DNA tự nó là một hệ thống trọn vẹn, cũng như tế bào riêng lẻ mang DNA ấy. Các cơ quan, được cấu thành từ vô số tế bào riêng lẻ, mỗi cái đều là một hệ thống nhất thể. Và sinh thể được cấu thành từ nhiều hệ cơ quan khác nhau tự nó là một cái toàn thể thống nhất. Vượt lên trên điều đó, bản thân sinh thể và môi trường mà nó nằm trong đó tự chúng là một thể thống nhất liên kết với nhau.

Vì thế, triết lý của chủ nghĩa toàn thể có thể được xem là bổ sung cho triết lý của chủ nghĩa quy giản, vốn cho rằng các hiện tượng có thể được hiểu qua việc phân tích những thành phần riêng lẻ của chúng. Chủ nghĩa toàn thể đưa ra một cách nhìn hệ thống về thực tại, thừa nhận cả tính tự chủ lẫn tính tuỳ thuộc lẫn nhau, và chấp nhận rằng vật chất, sự sống và tâm trí đều hàm ẩn trong và là phần không thể tách rời của thế giới hiện tượng. Chính theo nghĩa này mà thuật ngữ holism được dùng trong Holism and Complementary Medicine.

Ngôn từ và nhãn gọi

Một thuật ngữ khác được dùng nhất quán trong suốt văn bản này là y học bổ sung. Khác với thuật ngữ biomedicine — vốn nhận diện sắc bén tính chất của y học đương đại bằng cách nêu rõ mối quan hệ nền tảng của nó với các khoa học sinh học — thuật ngữ y học bổ sung có thể được hiểu nhiều hơn như một sự phi-định nghĩa, ở chỗ nó tự định nghĩa không phải bằng cái nó là, mà bằng cái nó đối lập hoặc bổ sung. Trong phạm vi tác phẩm này, y học bổ sung sẽ được dùng như một thuật ngữ chung để mô tả một số cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ đã được xác định rõ ràng, với những khung đào tạo, nền triết lý và phong cách thực hành khác với của y học sinh học. Dẫu có nhiều phương thức chữa lành có thể nằm trong định nghĩa này, thuật ngữ sẽ được dùng một cách cụ thể trong suốt văn bản để mô tả những ngành mang tính chính quy hoá hơn là châm cứu và y học cổ truyền Trung Quốc, y học tự nhiên, vi lượng đồng căn, y học thảo dược phương Tây và nắn xương, vì đây là những phương thức cụ thể mà cuộc khảo cứu này đặt nền trên.

Thuật ngữ nắn xương (osteopathy) được dùng trong văn bản này cần được hiểu theo cách dùng phổ biến ở bối cảnh Úc và Anh, nơi — khác với Hoa Kỳ — thuật ngữ này chỉ cả một triết lý lẫn một phương pháp điều trị bắt nguồn từ công trình của Andrew Taylor Still, người đã phát triển và quảng bá nó như một hệ thống chăm sóc sức khoẻ toàn diện trong những thập niên cuối của thế kỷ mười chín.

Cái từng được biết đến phổ biến như y học thay thế trong những năm 1960 và 1970, kể từ đó, đã trải qua những lần định nghĩa lại dần dần trên các châu lục khác nhau. Phần lớn diễn ngôn liên quan đến y học phi dòng chính trong những năm 1970 và đầu những năm 1980 xoay quanh thuật ngữ y học thay thế. Tuy nhiên, tại Vương quốc Anh trong những năm 1980, thuật ngữ y học bổ sung ngày càng được dùng rộng rãi, có thể vì lý do chính trị, bởi "thay thế" có lẽ đã bị xem là quá mức đối lập và mang hàm ý loại trừ đối với y học sinh học. Ở Bắc Mỹ, dường như một sự thoả hiệp kỳ lạ đã được xác lập qua việc dùng thuật ngữ y học bổ sung và thay thế (complementary and alternative medicine, CAM). Việc dùng từ viết tắt CAM đã dẫn đến chỗ gộp chung lại những gì trên thực tế là vô số cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ khác với y học sinh học. Những cách tiếp cận ấy trải từ các hệ thống y học bản địa, bao gồm y học người da đỏ châu Mỹ, y học cổ truyền Trung Quốc và Ayurveda, đến các hệ thống mang tính tự nhiên như y học tự nhiên và nắn chỉnh cột sống, và cũng có thể mở rộng đến y học rung động, xoa bóp và y học yoga.

Gần đây hơn, từ bên trong y học sinh học đã nảy sinh một phong trào công khai thừa nhận tính hữu ích của nhiều cách tiếp cận chữa lành và chăm sóc sức khoẻ như vậy, và nhìn chung ủng hộ việc đưa chúng vào một nền tảng thực hành được mở rộng. Ở Úc và Hoa Kỳ, diễn biến này được biết đến với tên gọi y học tích hợp (integrative medicine), trong khi ở Vương quốc Anh nó thường được gọi là integrated medicine.

Trong một cuộc chuyển biến xã hội đáng chú ý vẫn đang tiếp tục mở ra, những gì từng bị xem là những cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ ngoại vi và phần lớn không đáng kể nay lại bất ngờ giành được sự hậu thuẫn ngày càng tăng về văn hoá và lập pháp. Cuộc chuyển biến này diễn ra đồng thời với việc nền tảng triết học của y học sinh học được mở rộng một cách rõ rệt, và với sự chấp nhận ngày càng tăng ở mọi cấp độ đối với những cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ khác với y học sinh học.

Những nhận thức đang thay đổi

Mối quan hệ giữa y học sinh học và những đối thủ phi dòng chính của nó đã thay đổi đáng kể trong những thập niên gần đây. Trong những năm 1970, sự trỗi dậy của cái khi ấy được gọi là y học thay thế bị nhìn bằng con mắt nghi ngờ và thù địch, và thường xuyên bị lên án trên các bài xã luận của những tạp chí y học uyên bác. Trong những năm 1980, những lời chỉ trích trước đó dường như dần dịu đi khi một thái độ hoãn lại phán xét và thẩm định thận trọng bắt đầu hình thành. Trong những năm 1990, một sự dịch chuyển rõ rệt đã diễn ra trong những ranh giới vốn cứng nhắc trước đây, khi nhiều người trong giới y học sinh học ngày càng quan tâm đến đóng góp khả dĩ của những cách tiếp cận ấy đối với sức khoẻ của bệnh nhân nói chung.

Các ngành y học tự nhiên, nắn chỉnh cột sống, nắn xương và y học cổ truyền Trung Quốc nay đã được chính thức hợp pháp hoá ở nhiều nước phương Tây thông qua việc đăng ký và cấp phép của chính phủ, và thông qua việc được đưa vào các chương trình đại học do chính phủ tài trợ. Thực tế này gợi lên một số câu hỏi. Vì sao uy tín văn hoá mà y học sinh học đã khó nhọc giành được trong suốt thế kỷ hai mươi lại bị xói mòn một cách rõ rệt? Phải chăng có những vấn đề ẩn khuất trong việc thực hành y học khoa học mà chính giới chuyên môn không nhìn thấy? Vì sao nhiều người đến vậy lại chọn sử dụng những phương pháp được cho là chưa được chứng minh của y học bổ sung? Và ở một tầng bậc khác, người ta có thể hỏi liệu trong y học bổ sung có những hiểu biết chung nào khác biệt đáng kể so với những hiểu biết của y học sinh học hay không.

Y học bổ sung rõ ràng mang đến một điều gì đó rất khác với những gì y học khoa học cung cấp. Tuy vậy, bản chất của sự khác biệt ấy vẫn còn khó nắm bắt. Một số yếu tố đã được nhận diện một cách dè dặt trong các tài liệu. Chúng bao gồm: một phong cách khác trong cuộc gặp lâm sàng, đặc trưng bởi những buổi thăm khám dài hơn và một quan hệ ít trang trọng hơn giữa người chữa lành và bệnh nhân; những viễn tượng về bản chất của sức khoẻ và bệnh tật có thể phù hợp hơn với quan điểm và hiểu biết của chính bệnh nhân; một khuynh hướng nghiêng về những cách trị liệu dựa trên sức khoẻ thay vì dựa trên bệnh tật; sự ưa chuộng những cách chăm sóc sức khoẻ phi dược lý và phi kỹ thuật; cùng sự khuyến khích và hỗ trợ tích cực đối với tính tự chủ của bệnh nhân.

Người ta cũng đã gợi ý rằng mối quan tâm và sự tín nhiệm gần đây đối với những người hành nghề y học bổ sung có thể chỉ đơn giản phản ánh việc thực thi quyền tự do lựa chọn, vốn trở nên khả dụng nhờ sự hiện diện ngày càng rõ rệt của những người hành nghề y học bổ sung, cùng một cách tiếp cận chăm sóc sức khoẻ thực dụng hơn, dựa trên trải nghiệm của bệnh nhân về lợi ích từ những liệu pháp ấy.

Mở những cánh cửa

Holism and Complementary Medicine vừa là một chuyến du hành vào quá khứ, vừa là một sự phóng chiếu về tương lai. Nhưng xét cho cùng, cuốn sách đặt nền trên thời hiện tại, khi giới y khoa đang ở giữa một cuộc định hướng lại quan trọng. Cuộc định hướng lại này đã được thúc đẩy, nếu không muốn nói là được xúc tác, bởi sự phổ biến và ảnh hưởng ngày càng tăng của y học bổ sung. Cuộc cách mạng lặng lẽ này trong cách y học được thực hành ở các cộng đồng phương Tây cũng phản chiếu một thế giới đã biến đổi, nơi nhiều điều chắc chắn của quá khứ đã bị đặt thành vấn đề. Thế giới đã thay đổi vượt xa mọi hình dung trong những thập niên gần đây. Nhiều người ngày càng nhận ra rằng những lối sống của nền văn minh hiện tại chúng ta không hẳn đã hữu ích cho hành tinh này hay cho các dân tộc trên đó.

Cuốn sách này không có ý định đưa ra một lý thuyết mới hay có tính quyết định về ý nghĩa nằm sau sự trỗi dậy của các mô hình chữa lành toàn thể ngày nay. Đó là công việc nên để cho những nhà bình luận tương lai, những người có thể, với sự khôn ngoan của cái nhìn hồi cố, lý giải đầy đủ hơn vai trò của y học bổ sung trong việc góp phần mở rộng những cách thức mà y học được giảng dạy và thực hành ở các cộng đồng phương Tây. Tuy vậy, điều cuốn sách mang lại là một sự khảo sát có căn cứ về những yếu tố trong y học bổ sung đã góp phần khiến đông đảo người dân phương Tây chuyển dịch về phía những cách tiếp cận toàn thể hơn đối với sức khoẻ và chữa lành.

Những viễn tượng được trình bày trong Holism and Complementary Medicine bắt nguồn từ hơn hai thập niên tận tuỵ với việc thực hành và giảng dạy những khía cạnh khác nhau của y học bổ sung trong bối cảnh nước Úc. Quan trọng hơn, những viễn tượng ấy đã được đào sâu và tinh lọc qua các cuộc thảo luận hợp tác với những đồng nghiệp cũng từng là nhà giáo-thầy thuốc của y học bổ sung. Như vậy, cuốn sách mang lại một phản ánh độc đáo về những thuộc tính đặc trưng của y học bổ sung, những thuộc tính khác với của y học sinh học. Những người được phỏng vấn đại diện cho các ngành vi lượng đồng căn, y học tự nhiên, nắn xương, y học cổ truyền Trung Quốc và y học thảo dược phương Tây. Bất kể phương thức nào được thực hành, mỗi người được phỏng vấn đều nhất quán xác định nguyên lý toàn thể là nền tảng triết học căn bản cho cách tiếp cận của chính mình. Nguyên lý này tạo thành điểm tựa thiết yếu mà quanh nó mỗi chương trong Phần II xoay chuyển.

Theo một số phương diện, công trình này là một sự thu hồi lại nền đất đã mất, một sự tái khẳng định những nguyên lý bền vững mà nghệ thuật và khoa học y học vốn luôn đặt nền trên đó. Những nguyên lý ấy bao gồm tính trung tâm của mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, những chiều kích của công việc mà thầy thuốc được kêu gọi đảm nhận trong mối quan hệ đó, những nền tảng triết học của từng hệ thống chữa lành riêng lẻ, và bản tính biến hoá của ý thức con người cùng ảnh hưởng của nó trong việc chữa lành. Mỗi yếu tố trong số này sẽ được khảo sát chi tiết trong các chương của Phần II. Những chương ấy cũng đưa ra một cái nhìn tổng quan chi tiết về nền tảng toàn thể của việc thực hành y học bổ sung, đồng thời bàn đến những vấn đề triết học nằm tại tâm điểm của bất kỳ sự thấu hiểu nào về y học bổ sung.

Hiện nay, chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lớn trong cách y học được thực hành ở thế giới phương Tây. Thế kỷ vừa qua đã chứng kiến những phát triển cực kỳ thành công về công nghệ mới và phương pháp trị liệu mới. Những phát triển ấy đã mang lại những năng lực chẩn đoán và can thiệp mà trước đây không thể hình dung nổi. Vậy mà, bất chấp những thành tựu phi thường như thế, vẫn có một số điều không thay đổi. Trong số đó là việc thực hành y học về cơ bản được đặt nền trên sự gắn kết giữa hai con người, thầy thuốc và bệnh nhân, và xét đến cùng không tuỳ thuộc vào công nghệ hay kỹ thuật, cho dù những thứ này rõ ràng đã có tác động to lớn đến cách y học được thực hành ngày nay.

Các phương thức khác nhau của y học bổ sung phần lớn nằm ngoài vòng liên hệ, xét về mối quan hệ hay sự lệ thuộc của chúng vào những công nghệ y học hùng mạnh. Nhưng chúng có một điều rất quan trọng để hiến trao. Chúng hiến trao những viễn tượng khác và những triết lý khác về bản tính của sự sống và bản tính của sức khoẻ, so với những gì y học sinh học nắm giữ.

Y học truyền thống vốn hút lấy từ triết học nhiều không kém từ khoa học. Những vấn đề triết học không thể bị gạt sang một bên như những trừu tượng suông hay những điều không liên quan trong các vấn đề bệnh tật và sức khoẻ. Công việc của thầy thuốc, trong mọi hình thức và dạng thức của nó, chạm đến chính những giới hạn của sự tồn tại của chúng ta. Nó hàm ẩn trong cách chúng ta được sinh ra, trong những cách chúng ta đối diện với nỗi đau khổ do bệnh tật mang lại, và trong những cách chúng ta rời bỏ thế giới này.

Những triết lý của chúng ta có thể giúp chúng ta kết nối với nhau, với thế giới mà chúng ta thấy mình đang sống trong đó, và với nhiều thế giới khác nằm trong tầm với của niềm tin và trí tưởng tượng. Cuộc sống và những trải nghiệm của chúng ta không thể bị mổ xẻ và phơi bày như những thi thể. Dẫu nhiều phương diện của đời sống có thể trông như dự đoán được, kiểm soát được và đơn giản, chúng ta vẫn sống trong sự bất định, mâu thuẫn, phức tạp và huyền bí.

Y học sinh học (biomedicine) được dựng trên một tinh thần thực dụng đã ăn sâu vào lịch sử, nhờ đó mà tách được sự thật khỏi điều huyễn hoặc, cái hữu hình khỏi cái mơ hồ. Cấp cứu trong các khoa tai nạn thương tích của bệnh viện đòi hỏi những can thiệp tức thời và điêu luyện, chứ không phải những chất vấn suy tư về nguyên nhân ẩn khuất hay ý nghĩa vi tế của một biến cố chấn thương. Máu đang chảy thì phải cầm lại. Mô rách thì phải được xử lý. Các dấu hiệu sinh tồn thì phải được theo dõi. Điều đó là tốt và là cần thiết. Nhưng nghệ thuật của người chữa lành vượt ra ngoài khoa tai nạn thương tích. Và chính trong những lĩnh vực ấy, những thực tại ít cấp bách hơn — như ý nghĩa và hệ quả của một cơn bệnh, sự hiểu biết về những chiều kích ẩn khuất của đời sống, và sự nhạy cảm trước những ảnh hưởng vi tế định hình sức khỏe của chúng ta — mới trở nên quan trọng. Và đó là lý do vì sao triết học không thể tách rời y học.

Ba chương của Phần I đưa ra một khảo sát lịch sử có chọn lọc về bước tiến của tinh thần y học trong năm nghìn năm lịch sử thành văn. Câu chuyện chữa lành, dĩ nhiên, không thể tách rời câu chuyện nhân loại, và đã là một phần không thể thiếu trong kinh nghiệm tập thể của chúng ta từ thuở khai thiên lập địa. Nhưng trong khảo sát ngắn gọn dưới đây, chúng ta buộc phải giới hạn ở những gì còn truyền lại được qua các truyền thống đang sống và qua ghi chép thành văn.

Người ta nói rằng phải biết cái cũ mới hiểu được cái mới. Điều ấy chắc chắn sẽ mang lại một nền tảng vững chắc để suy ngẫm về ý nghĩa của nền y học đương đại. Sự hiểu biết về những gì đã đi trước cũng có thể giúp ta thấu hiểu nhiều tư tưởng và triết lý nằm bên dưới các cách tiếp cận khác nhau tạo nên một phần của y học bổ sung.

Cần hiểu rằng những tư tưởng và cách tiếp cận được trình bày trong cuốn sách này không nhất thiết phản ánh cách y học bổ sung được thực hành trên thực địa bởi từng thầy thuốc cụ thể. Mỗi người chữa lành, trong giới hạn hợp lý, vẫn tự do diễn giải nghề nghiệp của mình theo bất cứ cách nào họ chọn, một khi đã có đủ chứng chỉ hành nghề. Điều này xưa nay vẫn vậy. Có nhiều thầy thuốc y học bổ sung hành nghề theo lối quy giản triệt để. Bệnh nhân được điều trị theo triệu chứng họ trình bày mà không xét đến nguyên nhân hay hệ quả. Tương tự, có nhiều thầy thuốc y học sinh học mang khuynh hướng toàn thể, tuy tận dụng mọi thứ mà y học khoa học có thể mang lại, vẫn hết sức nhạy cảm với những yếu tố vi tế hơn quy định sức khỏe và bệnh tật của bệnh nhân, và nỗ lực trở thành tác nhân của sự thay đổi trong đời sống bệnh nhân.

Viễn kiến của chủ nghĩa hiện đại về một sự cứu rỗi phổ quát nhờ lý tính, tư tưởng khoa học và tiến bộ công nghệ có lẽ đã quá lạc quan. Sự ủng hộ ngày càng lớn của cộng đồng dành cho các thầy thuốc y học bổ sung chỉ là một khía cạnh của một phản ứng văn hóa lan rộng trước những vấn đề của tính hiện đại. Những vấn đề ấy bao gồm sự bám chấp rộng khắp vào nhị nguyên luận Descartes, trong đó vật chất và tâm trí bị xem là hai lãnh địa tách biệt; một chủ nghĩa nam quyền thể hiện nơi nỗi ám ảnh phổ biến với sự kiểm soát, với tính dự đoán được và với việc dùng những biện pháp cưỡng bức để tạo ra thay đổi; sự đề cao lý tính và trí năng so với những phương thức tồn tại thiên về trực giác và đồng cảm; và sự đề cao quá mức tính vật chất so với tâm trí và tinh thần.

Sự phát triển văn hóa này đã dẫn tới, cùng nhiều hệ quả khác, một nhận thức sâu sắc hơn về phức hợp những ảnh hưởng định hình sức khỏe của chúng ta, và một sự suy xét lại những nguồn chữa lành vốn luôn hiện hữu qua những phương tiện giản dị hơn những gì y học công nghệ mang lại.

Holism and Complementary Medicine đưa ra một cái nhìn từ bên trong về bản chất của y học bổ sung. Cuốn sách được viết với hy vọng khơi gợi thêm những nghiên cứu khảo sát kinh nghiệm của các nhà giáo dục, thầy thuốc và bệnh nhân trong những phương thức khác nhau của y học bổ sung. Về lâu dài, những nghiên cứu như vậy có thể tỏ ra hữu ích hơn nhiều so với vô số nghiên cứu lâm sàng và nghiên cứu phòng thí nghiệm mà chắc chắn sẽ khiến giới nghiên cứu bận rộn trong nhiều thập niên tới.

Vì nhiều phần trong cuộc thảo luận ở Phần II dựa trên những trích dẫn trực tiếp từ từng người trả lời, nên dưới đây là một phác họa ngắn về các ngành học đã được giảng dạy và thực hành bởi những người được phỏng vấn, nhằm làm sáng tỏ phần nào triết lý nền tảng và cách tiếp cận điều trị của họ. Những mô tả này không nhằm đầy đủ trọn vẹn, nhưng hy vọng sẽ đủ để mang lại chút thấu hiểu về đặc tính cốt lõi của mỗi cách tiếp cận.

Y học tự nhiên (naturopathy)

Y học tự nhiên là một thuật ngữ chung bao trùm một loạt rộng các phương thức, gồm thuyết vệ sinh (hygienism), dinh dưỡng, liệu pháp vitamin và khoáng chất, vi lượng đồng căn, y học thảo dược, cùng xoa bóp và liệu pháp phục hồi. Vì thế, những thầy thuốc y học tự nhiên chính là những thầy thuốc đa khoa của nền y học tự nhiên, có khả năng sử dụng một loạt rộng các phương thức tùy theo hiểu biết, quá trình đào tạo của họ và nhu cầu của bệnh nhân.

Triết lý y học tự nhiên nghiêng mạnh về một viễn kiến mang tính sinh lực đối với sức khỏe và bệnh tật. Điều trị y học tự nhiên nhằm nâng cao sinh lực hay sức sống của bệnh nhân thông qua dược phẩm và liệu pháp hỗ trợ, cũng như thông qua việc kích hoạt và hỗ trợ các năng lực thải độc của cơ thể. Phần lớn những người hành nghề y học tự nhiên thấy dễ chịu với quan niệm rằng thực tại vật chất được quy định bởi một thực tại năng lượng có thể được huy động cho mục đích chữa lành. Các phương thức vi lượng đồng căn, châm cứu và y học chấn động cũng tích hợp những cân nhắc về năng lượng như vậy.

Những ẩn dụ về sự thanh khiết cũng chiếm vị trí nổi bật trong cách hiểu của y học tự nhiên về sức khỏe và bệnh tật. Truyền thống vệ sinh đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh này qua việc khuyến khích những thực hành như nhịn ăn định kỳ và sử dụng các chế độ ăn loại trừ. Tuy nhiên, xét trên bình diện văn hóa, rất ít người sẵn lòng dấn thân vào những thử thách như thế, hoặc sẵn lòng để mắt trông chừng những ai muốn theo đuổi những chương trình ấy. Thông thường hơn, việc loại bỏ độc tố được hỗ trợ thông qua kích hoạt các cơ chế thải độc tại gan và thông qua kích thích năng lực bài tiết của thận, da và phổi. Việc quan tâm đến những vấn đề lối sống như chế độ ăn, hoạt động thể chất, căng thẳng, cùng định hướng tinh thần và tâm trí, là phần không thể tách rời của quá trình này.

Các cách tiếp cận của y học tự nhiên đối với việc chăm sóc sức khỏe, xét về ý hướng, căn bản mang tính giáo dục và mang tính chuyển hóa. Bệnh nhân được khuyến khích một cách tích cực để hiểu biết hơn về những vấn đề như vai trò của chế độ ăn và lối sống đối với sức khỏe và bệnh tật. Về mặt triết lý, cách tiếp cận của y học tự nhiên gắn với một sự trân nhận mang tính toàn thể về mối liên hệ cốt yếu giữa chúng ta với tự nhiên và các lực lượng tự nhiên, và qua nhiều phương pháp khác nhau, tìm cách nâng cao năng lực tự chữa lành của chúng ta bằng việc sử dụng các chất tự nhiên và việc điều chỉnh lối sống.

Vi lượng đồng căn (homoeopathy)

Vi lượng đồng căn được phát triển vào thế kỷ XIX bởi vị thầy thuốc người Đức Samuel Hahnemann. Giống như Andrew Taylor Still, Hahnemann trở nên vỡ mộng sâu sắc với nền y học của thời ông. Trong công việc dịch thuật các văn bản y học, ông tình cờ gặp nguyên lý cổ xưa “similis similibus curentur”, tức “giống chữa giống”. Qua một loạt quan sát ban đầu về tác dụng của những liều khác nhau vỏ cây Dòng Tên, tức Cinchona officinalis, được bào chế theo lối đặc thù của vi lượng đồng căn, trên một nhóm người mắc bệnh sốt rét, Hahnemann đã phát triển một nhận thức luận trị liệu mà về sau sinh ra hơn hai nghìn phương thuốc vi lượng đồng căn. Phần lớn những phương thuốc ấy vẫn được sử dụng trong dược điển vi lượng đồng căn (materia medica) cho đến ngày nay. Vi lượng đồng căn về căn bản là một hệ trị liệu mang tính sinh lực, sử dụng những vị thuốc được bào chế bằng phương pháp lắc mạnh (succussion) hoặc nghiền (trituration).

Hệ thống này dựa trên quan sát của Hahnemann rằng những lượng cực nhỏ các chất có nguồn gốc động vật, thực vật và khoáng vật, khi được bào chế theo một cách thức nhất định, có khả năng chữa được chính kiểu triệu chứng xuất hiện khi người ta dùng những lượng lớn hơn của cùng những chất ấy.

Các vị thuốc vi lượng đồng căn được bào chế bằng cách pha loãng liên tiếp các sản phẩm thực vật, động vật hoặc khoáng vật. Trên thực tế, điều này có nghĩa là pha loãng một phần nguyên liệu gốc với chín phần hoặc chín mươi chín phần một môi trường trơ, hoặc là hỗn hợp nước–cồn, hoặc là bột đường sữa. Cách làm này tạo ra thứ được gọi là hiệu lực thập phân hoặc hiệu lực bách phân. Quá trình lắc mạnh, tức lắc dữ dội, được dùng để hoạt hóa các hỗn hợp lỏng, trong khi quá trình nghiền, tức nghiền lặp đi lặp lại, được dùng để hoạt hóa các chất rắn.

Những thầy thuốc vi lượng đồng căn tin rằng cường độ tác dụng của các vị thuốc tăng lên theo từng lần pha loãng kế tiếp, bất chấp việc về mặt vật chất lượng nguyên liệu gốc thực sự ngày càng ít đi. Nhiều vị thuốc được các thầy thuốc vi lượng đồng căn sử dụng đã được pha loãng đến mức không còn chút dấu vết nào của dược chất hay chất liệu ban đầu. Những hiệu lực cao này được các thầy thuốc vi lượng đồng căn chuyên sâu đánh giá rất cao; họ thường nói về hiệu quả của chúng bằng những lời lẽ rạng rỡ, khi chúng được dùng một cách nhạy cảm và thích hợp.

Một quan niệm như vậy tạo ra những khó khăn hiển nhiên cho bất kỳ hệ y học nào đặt nền trên tính vật chất và dược lý học. Không có gì đáng ngạc nhiên khi nhiều người trong giới y học sinh học coi vi lượng đồng căn là một hệ thống dị giáo. Điều này dễ hiểu, vì không có mô hình khái niệm nào được y học sinh học chấp nhận, để qua đó có thể dung hòa tác dụng được cho là của các phương thuốc vi lượng đồng căn với những quy luật đã biết của dược động học.

Những thầy thuốc vi lượng đồng căn tin rằng chính quá trình hoạt hóa giải phóng một khuôn mẫu năng lượng từ nguyên liệu gốc. Khuôn mẫu này được cho là có khả năng tương tác với chính các sinh lực của chúng ta, và qua đó tạo ra ảnh hưởng phục hồi trên kiểu triệu chứng xuất hiện khi bệnh. Lý thuyết vi lượng đồng căn truyền thống cũng mô tả một hệ thống phức tạp gồm các khuynh hướng thể tạng hay các miasma, được cho là quy định mức độ dễ mắc những chứng bệnh nhất định. Một lần nữa, quan niệm như vậy không tìm được tiếng vang nào trong hệ hình y học sinh học, mà gần gũi hơn với các hệ mô tả định tính hay hệ mô tả thể dịch của y học Hy Lạp, Ả Rập và Ấn Độ.

Trên thực tế hành nghề, các cuộc tham vấn vi lượng đồng căn thường kéo dài, tỉ mỉ và có phạm vi rất rộng. Ngoài những triệu chứng thực sự mà bệnh nhân trình bày, chúng có thể khảo sát tiền sử gia đình, những khuynh hướng tinh thần và cảm xúc, những ưa thích về ăn uống và môi trường, cùng những nhạy cảm của cơ thể. Lý tưởng của vi lượng đồng căn là chọn một vị thuốc cụ thể dựa trên bức tranh triệu chứng và thể tạng của bệnh nhân. Khi được kết hợp thành công, những vị thuốc ấy được cho là hành động theo một cách gần như kỳ diệu, tạo ra sự cải thiện nhanh chóng và đáng kể trong tình trạng của bệnh nhân.

Quá trình mà qua đó các thầy thuốc vi lượng đồng căn đi đến một vị thuốc thích hợp chính là phản đề của chủ nghĩa quy giản. Quá trình ấy dựa trên việc khảo sát thế giới sống của bệnh nhân chi tiết đến mức đạt được một cái nhìn toàn cục về các thuộc tính thể chất, tinh thần và cảm xúc của họ. Sự tương tác lâm sàng đặc trưng cho cách tiếp cận vi lượng đồng căn, xét theo chính bản chất của nó, mang tính toàn thể.

Y học thảo dược phương Tây

Y học thảo dược phương Tây là một kho tàng bị bỏ quên và bị xem nhẹ, chứa đựng phần lớn tri thức được tích lũy qua hàng nghìn năm kinh nghiệm y học ở châu Âu, vùng Địa Trung Hải và châu Mỹ. Hàng trăm dược liệu thực vật có sẵn cho những người hành nghề y học thảo dược phương Tây đương đại với tư cách dược điển chính của họ. Phần lớn những dược liệu này có lịch sử sử dụng truyền thống lâu dài nhưng vẫn chưa được kiểm nghiệm theo những chuẩn mực hiện hành của y học sinh học. Tuy vậy, trong những thập niên gần đây, giới y học và khoa học đã ngày càng hướng sự quan tâm đến bản chất và hoạt tính của một số ít các dược liệu thực vật này, với kết quả là công dụng trị liệu của chúng đã được xác nhận qua các thử nghiệm lâm sàng và cơ chế tác động của chúng đã được xác định qua những khảo sát dược lý học thực vật.

Nền tảng triết lý của y học thảo dược phương Tây truyền thống khác căn bản với nền tảng của các hệ y học đương đại dựa trên dược phẩm. Giống như các hệ y học bản địa là Ayurveda và y học thảo dược Trung Quốc, y học thảo dược châu Âu truyền thống, trong phần lớn lịch sử của mình, nghiêng mạnh về những hệ chẩn đoán thể dịch (xem Bảng thuật ngữ) và những hệ điều trị bắt nguồn từ truyền thống Hy Lạp–Ả Rập. Theo đó, cây cỏ được mô tả bằng những phẩm chất như nóng, lạnh, ẩm hay khô, và được kê theo cách diễn giải những triệu chứng của bệnh nhân bằng những thuật ngữ tương tự. Về sau này, các cây thuốc bắt đầu được mô tả theo tác dụng mà người ta nhận thấy ở chúng trên cơ thể. Vì vậy chúng được phân loại là gây nôn, gây ngủ, long đờm, làm dịu, liền vết thương, v.v. Chỉ từ khi các phương pháp hóa học phát triển trong vài thế kỷ qua, cây cỏ mới được hiểu theo bản chất các thành phần hóa học có hoạt tính của chúng.

Việc hành nghề y học thảo dược phương Tây ngày nay có thể mang nhiều hình thức, từ một cách tiếp cận quy giản dựa trên dược phẩm cho đến những cách tiếp cận truyền thống hơn và nghiêng về tính toàn thể. Những khảo sát gần đây đã xác nhận hiệu quả lâm sàng của những cây thuốc như Echinacea hay Astragalus với tư cách chất kích thích hệ miễn dịch, Hypericum hay cỏ thánh John trong điều trị trầm cảm, và Ginkgo biloba trong điều trị suy giảm tuần hoàn não, đã dẫn đến việc quảng bá và tiếp thị chúng như những tác nhân trị liệu để điều trị những chứng bệnh cụ thể.

Tuy nhiên, phần lớn những người hành nghề y học thảo dược phương Tây đương đại có xu hướng áp dụng một cách tiếp cận mang tính hệ thống hơn trong công việc với bệnh nhân. Một bệnh nhân đến chủ yếu để điều trị huyết áp cao có thể được kê một tổ hợp các chất chiết xuất từ thực vật nhằm cải thiện chức năng của các hệ tuần hoàn, thần kinh và tiết niệu. Một bệnh nhân khác mắc một chứng bệnh ngoài da có thể thấy trọng tâm điều trị hướng về các quá trình thải độc và bài tiết qua hệ tiêu hóa và hệ tiết niệu.

Dù phần lớn các thầy thuốc thảo dược đều biết về bản chất các thành phần hoạt tính trong những dược liệu mạnh hơn của mình, những người mang truyền thống vẫn tiếp tục kê cây thuốc dựa nhiều hơn vào tác dụng của chúng với tư cách thuốc an thần kinh, thuốc làm se, thuốc bổ hay thuốc làm dịu, chẳng hạn, hơn là dựa vào hóa học của chúng. Vì thế, bản thân việc điều trị có xu hướng hướng nhiều hơn về việc phục hồi chức năng của toàn bộ cơ thể, thay vì chỉ đưa ra điều trị triệu chứng cho những chứng bệnh cụ thể.

Phần lớn những người hành nghề y học thảo dược phương Tây đồng nhất mình với một triết lý toàn thể, triết lý nhấn mạnh tính thống nhất cốt yếu giữa bản tính con người và chính thế giới tự nhiên. Cây cỏ, với tư cách sản phẩm của tự nhiên, là những vị thuốc tinh túy nhất của đất, và cùng chia sẻ những lực lượng đã làm sống động chính bản tính của chúng ta.

Nắn xương (osteopathy)

Nắn xương là một hình thức y học cấu trúc và chức năng, được phát triển vào giữa thế kỷ XIX bởi vị thầy thuốc người Bắc Mỹ Andrew Taylor Still. Niềm tin của ông vào nền y học thời ấy sụp đổ sau khi ba người con trai của ông lần lượt qua đời trong một khoảng thời gian ngắn vì bệnh viêm màng não, bất chấp sự chăm sóc của những đồng nghiệp mà ông tin cậy và hiểu biết nhất. Still từ bỏ việc hành nghề y sau cái chết của các con trai và dành trọn thập kỷ tiếp theo để đắm mình vào việc nghiên cứu sâu về giải phẫu người. Ông phát triển một hệ trị liệu mạnh mẽ dựa trên việc phục hồi tính toàn vẹn cấu trúc, và việc bình thường hóa nguồn cung cấp thần kinh, nguồn cung cấp máu và dòng lưu thông bạch huyết trong toàn cơ thể.

Nắn xương truyền thống, như được mô tả bởi chính người khai sinh ra nó, vừa mang tính cơ giới vừa mang tính sinh lực. Nó mang tính cơ giới ở chỗ một hiểu biết sâu về các tương quan giải phẫu định hướng cho việc chẩn đoán và điều trị thành công; và mang tính sinh lực ở chỗ cơ thể được hiểu là sở hữu những năng lực chữa lành cố hữu, được trung gian qua các hệ tuần hoàn và thần kinh. Theo cách hiểu của nắn xương, năng lực tự chữa lành này có thể bị suy giảm hoặc bị xáo trộn bởi sự hiện diện của những hạn chế hay tổn thương về cấu trúc, và có thể được nâng cao hoặc phục hồi thông qua việc chỉnh sửa cấu trúc.

Trong thực tiễn đã tiến hóa của mình, nắn xương đại diện cho nhiều hơn hẳn một liệu pháp cơ giới đơn giản dùng để điều trị những cái lưng đau và những cái cổ mỏi. Bản thân cơ thể được nhận thức như một chỉnh thể toàn ảnh (holographic integrum), và sự rối loạn chức năng ở bất kỳ phần nào cũng có thể ảnh hưởng một cách vi tế đến hoạt động ở những vùng khác. Mục đích của việc thăm khám và chẩn đoán trong nắn xương là giúp thầy thuốc nắn xương nhận diện những vấn đề cấu trúc có thể đang ảnh hưởng đến chuyển động khớp, tuần hoàn máu hoặc nguồn cung cấp thần kinh. Qua việc chỉnh sửa đúng cách, năng lực tự chữa lành của cơ thể được tối đa hóa và được tạo điều kiện để làm tròn công việc của mình mà không bị cản trở.

Y học nắn xương được hành nghề ở Australia và Vương quốc Anh rất khác với y học nắn xương đang được hành nghề ở Bắc Mỹ. Ở Australia và Vương quốc Anh, y học nắn xương bề ngoài vẫn là một hình thức điều trị bằng tay, trong khi ở Bắc Mỹ, y học nắn xương theo một số phương diện đã trở thành một phiên bản đơn giản hơn, và ít định hướng công nghệ hơn, của y học sinh học.

Y học cổ truyền Trung Quốc

Y học cổ truyền Trung Quốc đại diện cho một hệ thống văn hóa đã được định hình vững chắc, được sử dụng và tinh luyện tại Trung Quốc qua hàng trăm thế hệ. Y học cổ truyền Trung Quốc được xây dựng trên một cách hiểu mang tính sinh lực và định tính về bản tính con người, cũng như về những ảnh hưởng duy trì sự sống và chính thế giới hiện tượng.

Châm cứu cổ truyền được cho là có ảnh hưởng đến hoạt động của một dạng năng lượng lưỡng cực gọi là khí (chi), lưu chuyển qua một loạt kênh hay kinh lạc xuyên thấm vào thân thể vật chất của chúng ta. Mỗi kinh lạc được cho là có liên hệ với một hệ cơ quan hay một hoạt động sinh lý nhất định. Trạng thái của các kinh lạc được đánh giá qua việc quan sát cẩn thận các dấu hiệu thực thể và qua việc cảm nhận tinh tế phẩm chất của mạch tại một số vị trí trên động mạch quay. Công việc của người hành nghề là đánh giá phẩm chất và các thuộc tính của năng lượng lưu chuyển qua các kinh lạc. Bất kỳ sự mất cân bằng hay bất hòa nào được phát hiện đều phải được chỉnh sửa bằng việc châm vào và vận thủ những mũi kim thép không gỉ mảnh tại những huyệt châm cứu được chọn.

Y học cổ truyền Trung Quốc cũng sử dụng một dược điển mênh mông gồm các cây thuốc có hoạt tính chữa bệnh đã được dùng qua nhiều thế kỷ. Y học thảo dược Trung Quốc đại diện cho một hệ nội khoa đã tiến hóa cao độ, dựa trên cách hiểu tương tự như cách hiểu định hướng cho việc hành nghề châm cứu. Sức khỏe và bệnh tật được chẩn đoán bằng những thuật ngữ năng lượng, và cây thuốc được chọn lựa và kê đơn theo đó. Hệ y học này có những cộng hưởng mạnh mẽ với nền y học Hy Lạp–Ả Rập vốn chi phối y học châu Âu cho đến thời Phục Hưng. Việc hành nghề y học Ayurveda, một trong những hệ y học bản địa của Ấn Độ, cũng dựa trên những nguyên lý định tính tương tự.

Y học cổ truyền Trung Quốc tựa vững chắc trên triết học Đạo giáo, một triết học mà xét theo chính bản chất của nó là toàn thể. Bản tính con người chúng ta tham dự vào hoạt động và những chu kỳ của thế giới tự nhiên. Khi sống hài hòa với tự nhiên, chúng ta trở thành những hệ mở, qua đó những năng lượng tái sinh không ngừng lưu chuyển. Ốm đau và bệnh tật có thể phản ánh những xáo trộn trong sự lưu chuyển tự do của những năng lượng ấy qua cơ thể chúng ta. Công việc của người hành nghề là theo dõi và diễn giải phẩm chất của dòng năng lượng qua các hệ kinh lạc, và chỉnh sửa mọi sự mất cân bằng bằng châm cứu hoặc cứu ngải, bằng việc kê các dược chất, bằng những liệu pháp thủ công như tui na, hoặc bằng việc chỉ định những thực hành như thái cực quyền hay khí công.

Dù việc hành nghề châm cứu truyền thống dựa trên những nguyên lý như vậy, nó cũng có thể được áp dụng theo một lối thuần túy triệu chứng. Chẳng hạn, trong điều trị đau lưng, việc châm kim vào những huyệt tại chỗ mà không tham chiếu đến phẩm chất của các mạch hay đến một đánh giá tổng quát về phẩm chất dòng năng lượng qua các kinh lạc thường mang lại những lợi ích trị liệu đáng kể. Tương tự, việc dùng điện châm cho mục đích gây tê trong phẫu thuật đại diện cho một bước phát triển độc lập, có thể được diễn giải nhiều hơn bằng những thuật ngữ sinh lý thần kinh thay vì bằng những thuật ngữ năng lượng.

Y học cổ truyền Trung Quốc đại diện cho một hệ trị liệu đã tiến hóa và nhất quán nội tại, hình thành qua vài thiên niên kỷ kinh nghiệm văn hóa. Các phương pháp của nó dựa trên một lôgic khác với lôgic nằm bên dưới những quan niệm của phương Tây về lý tính. Bất chấp điều đó, hiệu năng cố hữu của nó đã được ghi nhận nhiều lần, và nó tạo thành một trong những phương thức chính của y học bổ sung, một phương thức ngày càng được phương Tây chấp nhận, dù nhiều khía cạnh trong cách thức vận hành (modus operandi) của nó vẫn còn chưa được vẽ thành bản đồ.

Chương 4 — Chủ Nghĩa Toàn Thể và Chủ Nghĩa Quy Giản trong Y Học

Ở một mức độ lớn, mọi hệ thống y học, trừ những hệ thống dựa trên khoa học phương Tây hiện đại, hầu như đều dựa hoàn toàn trên một quan niệm toàn thể tích hợp thân thể, tâm trí và toàn bộ môi trường.

— Rene Dubos, 1979

Y học đã xóa bỏ tính toàn thể của các quy luật sinh học tự nhiên trong thân thể con người, phần lớn là bằng cách chia tách nghiên cứu và thực hành thành nhiều chuyên khoa. Khi tiến hành công việc chuyên khoa sâu rộng và điêu luyện, người ta đã quên rằng mỗi bộ phận vẫn chỉ là một mảnh của toàn bộ thân thể.

— Max Gerson, 1958

Phần lớn các nền văn hóa trong suốt lịch sử đều nhìn thân thể như một hiện tượng thống nhất, được sinh khí bởi những lực lượng bí ẩn ban phát sự sống. Các thầy thuốc Ai Cập ví thân thể với một vùng đất rộng lớn. Cũng như chính vùng đất của họ được các dòng sông và kênh tưới tiêu nuôi dưỡng và bồi đắp, thân thể con người cũng được nuôi dưỡng tương tự bằng những dòng chảy của chính nó. Những vị thần duy trì hay hủy hoại mùa màng cũng có thể ban phúc hay giáng họa cho sức khỏe của cá nhân và của các quốc gia. Các thầy thuốc Ai Cập nắm quyền năng trên cả thần linh lẫn con người.

Các thầy thuốc Hy Lạp nhìn thân thể như một biểu hiện năng động của những lực lượng nguyên tố vận hành xuyên suốt toàn bộ tạo hóa. Khi những lực lượng ấy cân bằng, sự hài hòa và trật tự ngự trị. Một sự xáo trộn trong thế cân bằng ấy có thể biểu hiện thành bệnh tật của thân thể. Nhiệm vụ của thầy thuốc là nhận diện bản chất của bất kỳ sự bất hòa nào, và khởi động những thay đổi nhằm chỉnh sửa và phục hồi.

Các thầy thuốc ở châu Âu thời Trung cổ vẫn tiếp tục nhìn thân thể theo những thuật ngữ tương tự như những gì mà các bậc tiền bối Hy Lạp của họ đã mô tả đầu tiên. Nhưng trong những thế kỷ xen giữa, thân thể cũng đã trở thành bãi chiến trường lớn của linh hồn. Những tội lỗi của cả cá nhân lẫn quốc gia có thể bùng phát thành những cơn bệnh tật và những đợt dịch hạch. Những tội lỗi ấy bị tống ra bằng những thuốc tẩy mạnh nhất và bằng những cuộc trích máu đau đớn và khắc nghiệt.

Mỗi hệ thống y học đều mang một tính nhất quán nội tại. Mỗi hệ thống đưa ra một hệ hình (paradigm) hay một triết lý có thể nhận diện được, thứ định hình những niềm tin, những nhận thức luận và những phương pháp trị liệu mà những người theo đuổi hệ thống ấy sử dụng. Điều này thể hiện rõ không kém trong những hệ thống như y học cổ truyền Trung Quốc và Ayurveda so với những hình thức mới xuất hiện gần đây hơn như y học sinh học (biomedicine), vi lượng đồng căn và nắn xương (osteopathy). Dẫu mỗi hệ thống y học có thể được đặt nền trên những triết lý hoàn toàn khác nhau, chúng đều mang một sự mạch lạc nội tại dẫn dắt và định hướng công việc của người chữa bệnh.

Y học sinh học đương thời hầu như đã dồn sự chú ý vào thân thể vật chất và đặt nền các phương pháp trị liệu của mình chủ yếu trên việc sử dụng thuốc tổng hợp hoặc phẫu thuật. Như vậy, nó đại diện cho một biểu hiện độc đáo, nguyên bản và chưa từng có của ý chí chữa lành trong lịch sử.

Thân thể bị chia cắt

Chưa đầy năm trăm năm trước, Andreas Vesalius đã ghi lại những hình ảnh tái lập được đầu tiên về việc giải phẫu có hệ thống thân thể con người trong một loạt tranh khắc gỗ đáng kinh ngạc. Tác phẩm De Humani Corporis Fabrica (Về cấu trúc thân thể con người) của ông được xuất bản năm 1543. Nó trở thành sách giáo khoa đầu tiên của ngành giải phẫu học non trẻ. Trong vòng một trăm năm kể từ khi xuất bản, những chiếc kính hiển vi mới được chế tạo bắt đầu cho thấy rằng mỗi bộ phận thân thể và mỗi hệ cơ quan đều gồm một khảm những phức hợp tế bào mà người ta chưa từng mơ tới. Không lâu sau, mỗi tế bào riêng lẻ lại cho thấy bản thân nó còn gồm những hình thể kỳ lạ và đẹp đẽ.

Thân thể dần được nhìn nhận như một cấu trúc tinh xảo hơn cả những cỗ máy đồng hồ tinh vi nhất từng được chế tạo. Và giống như một cỗ máy đồng hồ, nó có thể được quy giản thành nhiều thành phần riêng lẻ có thể tách ra và khảo sát. Những khám phá của các nhà giải phẫu học thời kỳ đầu kể một câu chuyện rất khác với câu chuyện mà người xưa kể về bản chất của thân thể.

Khi thân thể và các hệ cơ quan của nó được soi xét kỹ lưỡng hơn, nó ngày càng được mô tả bằng những thuật ngữ cơ giới và chức năng, thay vì bằng thứ ngôn ngữ thường mang tính thơ ca và ẩn dụ vốn đã định hình sự hiểu biết của những người hành nghề y trước đó. Trái tim không còn được xem là nguồn cội của cảm xúc. Nó là một chiếc bơm cơ học đẩy máu đi khắp các mô trong thân thể. Gan không còn là nguồn lửa có thể, nếu bị khích động, bùng lên thành cơn giận dữ không kiềm chế. Nó là một cơ quan lớn, sẫm màu, tiếp nhận máu mang theo dưỡng chất rút ra từ thức ăn và sản sinh ra mật đắng giúp tiêu hóa. Đôi mắt không còn là cửa sổ của linh hồn, mà trở thành một phần của cơ chế thị giác phức tạp cho phép hình ảnh của thế giới bên ngoài được truyền tới não.

Nền y học mới ngày càng cắt đứt những mối liên hệ với quá khứ. Bốn nguyên tố lửa, đất, khí và nước mà Empedocles mô tả không thể tìm thấy ở đâu dưới kính hiển vi, và linh hồn con người — thứ đã thu hút sự chú ý của cả các triết gia Hy Lạp lẫn các nhà thần học Kit giáo qua nhiều thế kỷ — cũng vậy. Những phương pháp mới của khoa học đã mở ra, một cách không ngờ, những cánh cổng của y học dẫn vào những lãnh địa hấp dẫn và chưa được vẽ bản đồ.

Vào cuối thế kỷ XIX, cả nghệ thuật lẫn triết học phần lớn đã bị gạt sang một bên khi phương pháp khoa học được đưa vào phục vụ một nền y học sinh học đang hình thành. Một thế hệ thầy thuốc và nhà nghiên cứu y học mới bắt đầu có thêm tự tin. Khi y học phương Tây thăm dò sâu hơn vào sinh lý học và hóa sinh, ý nghĩa của những thực tại xã hội, môi trường và tâm lý đối với đời sống và sức khỏe con người dần dần lùi vào hậu cảnh.

Nhà dịch tễ học người Anh Thomas McKeown gần đây đã lưu ý tới một số hệ quả kém mong muốn của những phát triển ấy.

Cách tiếp cận sinh học và y học được xác lập vào thế kỷ XVII là một cách tiếp cận kỹ thuật dựa trên một mô hình vật lý… Vật lý, hóa học và sinh học được coi là những khoa học nền tảng của y học; giáo dục y khoa bắt đầu bằng việc nghiên cứu cấu trúc và chức năng của thân thể, tiếp tục bằng việc khảo sát các quá trình bệnh lý và kết thúc bằng giảng dạy lâm sàng trên một số bệnh nhân được chọn lựa. Dịch vụ y tế bị chi phối bởi hình ảnh bệnh viện cấp cứu, nơi tập trung các nguồn lực kỹ thuật, trong khi ít chú ý hơn nhiều dành cho những yếu tố quyết định về môi trường và hành vi của bệnh tật, hoặc cho nhu cầu của những người bệnh không được cho là có triển vọng điều trị hay nghiên cứu.

— Thomas McKeown

Là người đã nghiên cứu kỹ lưỡng những mô thức bệnh tật và sức khỏe trong các xã hội phương Tây, McKeown hiểu rõ cái chòm sao rộng lớn những ảnh hưởng có thể đóng góp vào hay làm suy yếu trạng thái khỏe khoắn của con người. Ông chỉ ra những giới hạn của một hệ thống y học đặt nền trên những nguyên lý can thiệp mạnh và một quan điểm duy vật chiếm ưu thế về thân thể. Ngay cả ngày nay, y học khoa học vẫn gặp khó khăn khi đối phó với những tình trạng lẩn tránh chẩn đoán đặc hiệu. Cũng có những giới hạn về tính hữu ích của nó trong việc điều trị những tình trạng là hậu quả của tuổi tác và sự hao mòn, hoặc những tình trạng không có thuốc nào được biết đến.

Nhiều người đã bắt đầu đặt câu hỏi liệu có thể có những góc nhìn bao quát hơn để nhìn nhận sức khỏe và bệnh tật hay không. Dẫu rằng tri thức mới thu được qua các khoa học giải phẫu, hóa sinh và sinh lý bệnh đã tạo ra những loại thuốc và phương pháp điều trị có sức mạnh chưa từng có, vai trò của tâm trí và cảm xúc, của hoàn cảnh môi trường, của những áp lực xã hội và kinh tế, của những thực tại tâm linh và thậm chí của những chu kỳ vũ trụ vẫn tiếp tục hiện diện và tác động trong kinh nghiệm con người.

Thân thể trong bối cảnh

Các hệ thống y học phương Đông, nhìn chung, vẫn giữ lại nhiều quan niệm tiền khoa học đã định hình sự hiểu biết của các thầy thuốc trong những thời kỳ trước. Trong cả y học cổ truyền Trung Quốc lẫn y học Ayurveda, việc chẩn đoán dựa nhiều hơn vào sự cảm nhận tinh tế mạch của động mạch quay tại một số điểm quy định, và vào việc đánh giá những đặc điểm như diện mạo và tư thế của bệnh nhân, so với việc dựa vào xét nghiệm máu hay những hình ảnh kỹ thuật cao về bên trong thân thể.

Các phương pháp trị liệu của y học cổ truyền Trung Quốc tiền giả định sự tồn tại của một loạt đường dẫn hay kinh lạc, qua đó các năng lượng lưu chuyển trong thân thể. Y học Ayurveda cũng mô tả tương tự những trung tâm năng lượng và những đường dẫn bên trong thân thể. Những năng lượng này được cho là luôn tương tác với những năng lượng bên ngoài hay năng lượng của môi trường. Trong cả hai hệ thống, thuốc thảo dược được dùng không theo bản chất của những hoạt chất cấu thành, mà theo sự chiếm ưu thế của những phẩm tính như nóng, lạnh, ẩm hay khô. Việc điều trị có thể bao gồm châm những mũi kim thép không gỉ mảnh vào thân thể, kê đơn thay đổi chế độ ăn uống và vận động thể chất, hoặc sử dụng những bài tập thở. Mục đích trị liệu tổng thể là làm hài hòa và tái lập thế cân bằng cho các năng lượng của thân thể cùng những chức năng gắn liền với chúng.

Một giảng viên và thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc đưa ra suy ngẫm sau đây:

Mô hình y học sinh học như chúng ta biết ở phương Tây đã được đặt nền trên cách tiếp cận Descartes, cách tiếp cận cơ giới trong nhận thức, mà tự bản chất đòi hỏi phải nhìn sự vật ngày càng nhỏ hơn, và nhìn sự vật trong trạng thái tách biệt. Điều này dựa trên một mô hình khoa học cho rằng nếu bạn nhìn đủ nhỏ, rốt cuộc bạn sẽ tìm ra những viên gạch xây nên vũ trụ, và khi đó bạn sẽ hiểu mọi thứ vận hành ra sao. Vậy nên, khi nhìn vào cái nhỏ, bức tranh lớn — những mối quan hệ giữa các hiện tượng, bản tính toàn thể của vũ trụ — đã bị bỏ sót, có thể nói là không được nhận ra.

— Một giảng viên và thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc

Vị thầy thuốc này nhắc chúng ta rằng tri thức mới do những phương pháp phân tích của khoa học khai mở thường là một tri thức bộ phận, một tri thức bị tách rời khỏi những mối quan hệ giữa các hiện tượng và khỏi những bối cảnh mà trong đó các hiện tượng ấy được nhúng vào. Những phương pháp của khoa học đã tạo ra tri thức cực kỳ chi tiết về bản chất của thân thể vật chất, nhưng đã không đưa ra được sự hiểu biết về thân thể như một tổng thể, cũng như về ảnh hưởng của những trường vi tế mà trong đó các thân thể tương tác với nhau.

Quan niệm về thân thể con người như một cỗ máy lần đầu được nhà toán học và triết gia người Pháp René Descartes mô tả một cách chính thức vào thế kỷ XVII. Nhà tâm lý học người Anh Helen Graham đưa ra suy ngẫm sau đây về ảnh hưởng của ông đối với tinh thần của y học trong những thế kỷ gần đây:

Thế giới quan của Descartes là… cơ giới và duy vật, nhưng đồng thời cũng mang tính phân tích và quy giản, ở chỗ ông xem những tổng thể phức tạp là có thể hiểu được qua những bộ phận cấu thành của chúng. Ông mở rộng mô hình cơ giới này sang các sinh vật sống, ví loài vật với những chiếc đồng hồ gồm bánh răng, bánh xe và lò xo, và sau đó ông mở rộng phép loại suy ấy sang con người. Ông viết: ‘Tôi muốn ông cuối cùng hãy xem xét rằng mọi chức năng mà tôi gán cho cỗ máy này… đều diễn ra một cách tự nhiên… chỉ nhờ vào cách sắp đặt các cơ quan của nó, chẳng khác nào những chuyển động của một chiếc đồng hồ.’ Đối với Descartes, thân thể con người là một cỗ máy, một phần của cỗ máy vũ trụ hoàn hảo, được điều hành — ít nhất về nguyên tắc — bởi những quy luật toán học, và quan niệm về thân thể như một cỗ máy không có tâm trí ấy đã chi phối y học phương Tây kể từ đó.

— Helen Graham

Việc phân tích có phương pháp các hiện tượng và đo lường những phẩm tính của chúng đã đem lại những kết quả đáng chú ý trong các khoa học vật lý. Việc chấp nhận một quan niệm cơ giới về vũ trụ đã dẫn tới những năng lực kiểm soát và dự đoán chưa từng có, cùng những tầng bậc hiểu biết mới về thế giới tự nhiên. Lực tích trong một lò xo lên dây có thể được giải phóng dần dần qua một chuỗi bánh răng và đòn bẩy, theo cách mà sự trôi qua của thời gian được đánh dấu bằng những khoảng cách đều đặn chính xác. Những chuyển động tuế sai của các hành tinh, thứ từng làm bối rối bao thế hệ thiên văn gia, nay được hiểu là hệ quả tất yếu của một góc nhìn từ Trái Đất trong một hệ hành tinh nhật tâm.

Thân thể con người, thứ trước đó được nhìn như một sinh thể thống nhất được thấm đẫm và điều hành bởi những lực lượng nguyên tố, cũng tương tự dần được nhận thức như một cỗ máy phức tạp với những chi tiết hấp dẫn. Việc gỡ rối những chi tiết ấy hứa hẹn tri thức mới và những năng lực can thiệp mới. Việc hiện thực hóa tri thức đó đã thay đổi tính chất của nghề y ở thế giới phương Tây từ đó về sau.

Dẫu những cách tiếp cận quy giản đã mang lại những mức độ tri thức và hiểu biết phi thường về cấu trúc và chức năng của các hệ cơ quan khác nhau trong thân thể, chúng lại có giá trị hạn chế trong việc phát triển một tri thức và sự hiểu biết tương tự về ảnh hưởng của các trạng thái tâm trí, những quan hệ xã hội, những điều kiện môi trường và kinh tế, cùng những chu kỳ tự nhiên đối với trạng thái sức khỏe của chúng ta.

Thân thể như một tổng thể

Phương pháp khoa học đã quy định chiến lược căn bản của những gì được coi là y học tốt trên khắp phần lớn thế giới phương Tây. Vậy mà bất chấp điều đó, đã diễn ra một sự gia tăng đáng kể về mức độ phổ biến của y học bổ sung trong những thập niên cuối của thế kỷ XX.

Những phương thức như y học thảo dược phương Tây và y học cổ truyền Trung Quốc đã được thực hành trong những nền văn hóa tương ứng của chúng từ rất lâu trước cuộc cách mạng khoa học của thế kỷ XVII. Những phương thức được phát triển gần đây hơn như y học tự nhiên (naturopathy) và vi lượng đồng căn dựa trên những nguyên lý khác với những nguyên lý nền tảng của y học sinh học. Trong khi y học sinh học đặt nền vững chắc trên những cơ sở của chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa quy giản, các phương thức của y học bổ sung nghiêng nhiều hơn về chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa toàn thể.

Nhiều người trong xã hội phương Tây đang chọn cách bỏ qua những phương pháp đã được văn hóa cho phép và đã được chứng minh của y học khoa học để theo những cách tiếp cận toàn thể hơn. Điều này có thể phản ánh một cảm nhận chung rằng những giải pháp dược phẩm cho việc quản lý các vấn đề sức khỏe không phải là cách duy nhất để đối phó với bệnh tật và ốm đau. Nó cũng có thể phản ánh một nhận thức đang lớn dần rằng cách chúng ta sống cuộc đời mình có thể ảnh hưởng tới cả mức độ dễ mắc bệnh của chúng ta lẫn khả năng hồi phục sau những đợt bệnh ấy khi chúng xảy đến. Những cân nhắc như vậy có thể cộng hưởng ở những tầng sâu hơn nơi bệnh nhân so với những lời trấn an rằng một toa thuốc là tất cả những gì cần thiết.

Những người thực hành y học bổ sung có tự do trị liệu lớn hơn nhiều so với những người thực hành y học sinh học. Mỗi phương thức có khuynh hướng có những phương pháp chẩn đoán và điều trị riêng. Chẳng hạn, thuốc vi lượng đồng căn có thể được chọn theo những chỉ dấu như việc bệnh nhân cảm thấy nóng hay lạnh, hoặc thời điểm trong ngày hay trong đêm khi các triệu chứng trở nên nặng hơn hay thuyên giảm. Thay vì nhắm tới việc giảm triệu chứng nhanh chóng bằng một cách điều trị đặc hiệu, những cách tiếp cận này có khuynh hướng tập trung nhiều hơn vào những cách thức có thể trực tiếp hay gián tiếp củng cố sức khỏe của bệnh nhân. Khuynh hướng trị liệu này là một trong những khác biệt đặc trưng giữa cách tiếp cận quy giản và cách tiếp cận toàn thể trong y học. Một giảng viên và thầy thuốc y học thảo dược phương Tây giải thích chi tiết hơn về cách những cách tiếp cận ấy có thể được thể hiện trong tình huống lâm sàng:

Ví dụ, nếu họ đến gặp một nhà trị liệu tự nhiên hay một thầy thuốc thảo dược, chúng tôi sẽ đánh giá tình hình, xem xét những yếu tố khác, những gì khác đang diễn ra trong thân thể người ấy, rồi xem xét những yếu tố ăn uống và những yếu tố phi dược lý để hỗ trợ việc làm giảm cơn cúm. Chúng tôi sẽ kê một loại thuốc không chỉ làm khô xoang hay đại loại thế, mà có lẽ còn tác động lên gan nhờ những tính chất thải độc của nó, tác động lên khả năng miễn dịch nói chung, tăng cường miễn dịch. Có lẽ cũng có thể kê thêm một loại thuốc tiêu hóa nữa, nếu trong đánh giá của người thầy thuốc, yếu tố ấy đang hiện diện. Vậy nên đúng, tôi cho rằng đó chính là sự khác biệt. Và người ta gọi đây là cách tiếp cận toàn thể.

— Một giảng viên và thầy thuốc y học thảo dược phương Tây

Trích đoạn này cho ta thấy phần nào cách sự nhạy cảm đối với tính toàn thể của thân thể được biểu hiện trong thực hành y học thảo dược. Một bệnh nhân bị cúm được nhìn như một hiện thân tích hợp của những hoạt động tương liên, chứ không đơn thuần là kẻ mang mầm nhiễm đang bước đi, với một căn bệnh mà có thể có hoặc có thể không có một loại thuốc đặc hiệu. Những triệu chứng bệnh nhân trình ra không đại diện cho toàn bộ trường — còn những yếu tố khác đang tác động. Những triệu chứng trình ra ấy cần được xử lý càng nhiều càng tốt bằng loại thuốc thích hợp, nhưng nhiệm vụ sâu xa hơn của người chữa bệnh bao gồm việc suy ngẫm về cách những hệ thống bảo vệ của chính bệnh nhân có thể được kích hoạt tốt hơn.

Trong bối cảnh y học nắn xương, thân thể cũng được nhìn tương tự như một tổng thể tích hợp, dẫu rằng nó được hiểu nhiều hơn bằng những thuật ngữ cơ giới thay vì hữu cơ. Người sáng lập nắn xương, Andrew Taylor Still, thường mô tả thân thể như một cỗ máy hay một động cơ. Nhưng ông cũng chấp nhận rằng thân thể được thấm đẫm những nguyên lý tâm linh và năng lượng:

Như một người thợ điện điều khiển các dòng điện, thì một thầy thuốc nắn xương cũng điều khiển những dòng chảy sự sống và làm sống lại những lực lượng đang bị treo giữ… Hãy học để hiểu xương, cơ, dây chằng, thần kinh, mạch máu, và mọi thứ liên quan đến cỗ máy con người, và nếu công việc của bạn được làm tốt, bạn sẽ đưa nó vào vòng kiểm soát hoàn hảo.

— Andrew Taylor Still

Y học nắn xương đặt nền trên việc nghiên cứu sâu về giải phẫu học và trong thực hành đã tiến hóa của mình, nó phụ thuộc vào tri thức chi tiết về cách vận hành cơ giới của những cấu trúc nâng đỡ thân thể. Tuy vậy, giống như các hệ thống y học phương Đông, nắn xương nhìn thân thể như một chỉnh thể (integrum) và trong các phương pháp điều trị của mình, tìm cách phục hồi thế cân bằng của hoạt động năng động làm nền tảng cho sự vận hành của nó. Có lẽ chính khả năng ấy là điều Rick Carlson ám chỉ khi ông bình luận:

Một chuyện là điều trị bệnh nhân như một cỗ máy, phớt lờ cả một kho tàng phong phú những thông tin liên quan đến sức khỏe và sự vận hành; lại là chuyện khác khi tiếp tục chia nhỏ cỗ máy ấy thành những bộ phận cấu thành. Trong nền y học trước kia, ít nhất vẫn tồn tại khả năng điều trị toàn thể. Trong nền y học ngày nay, nhiệm vụ ấy gần như bất khả thi.

— Rick Carlson

Cách tiếp cận toàn thể được bao hàm trong nhiều phương thức của y học bổ sung nhắm tới nhiều hơn là điều trị triệu chứng. Nó mang lại cơ hội huy động mọi nguồn lực sẵn có cho cả người chữa bệnh lẫn bệnh nhân trong công việc phục hồi bệnh nhân như một tổng thể về trạng thái sức khỏe tối ưu.

Chủ nghĩa toàn thể mới

Chủ nghĩa toàn thể vận hành ở một số tầng bậc. Mỗi tế bào riêng lẻ là một hệ thống cân bằng tinh tế, luôn tương tác với môi trường xung quanh. Thân thể con người cũng được phú cho tương tự và phản ứng như một tổng thể trước cả những thay đổi bên trong lẫn bên ngoài. Bản tính có thân xác của chúng ta cũng tham dự một cách mật thiết vào cả chiều kích tâm trí lẫn chiều kích tâm linh, theo những cách mà ta còn hiểu biết rất ít. Vượt ra ngoài thân thể, chúng ta là một phần của những mạng lưới quan hệ, bắt đầu từ gia đình và mở rộng tới những nhóm nghề nghiệp, xã hội và văn hóa khác nhau của chúng ta. Hơn nữa, mỗi người chúng ta đều chịu những ảnh hưởng môi trường liên quan trực tiếp tới không gian sống và làm việc, và gián tiếp tới chất lượng không khí chúng ta hít thở, nước và các chất lỏng chúng ta uống, cùng những thức ăn chúng ta tiêu thụ. Sức khỏe tổng thể của chúng ta có thể bị ảnh hưởng ở bất kỳ tầng bậc nào, hoặc ở tất cả những tầng bậc ấy.

Khi thân thể bị nhiễm trùng xâm chiếm, sức khỏe của nó có thể được phục hồi cả bằng kháng sinh tiêu diệt những vi sinh vật xâm nhập lẫn bằng những loại thảo dược điều hòa miễn dịch như Echinacea hay Astragalus, vốn làm tăng số lượng bạch cầu. Tuy nhiên, nếu một bệnh nhân không hồi phục hoàn toàn hoặc tiếp tục chịu đựng những đợt nhiễm trùng tái diễn, có thể cần tìm hiểu thêm về hoàn cảnh gia đình, xã hội và môi trường của họ để hiểu rõ hơn vai trò của những ảnh hưởng tiềm ẩn có thể có, và để xây dựng những chiến lược trị liệu hiệu quả hơn.

Khối tài liệu ngày càng phong phú về tâm lý-thần kinh-miễn dịch học tái khẳng định một minh triết cổ xưa rằng thân thể và tâm trí là một hiện tượng nhất thể. Những suy nghĩ, cảm xúc và trí tưởng tượng của chúng ta có thể chiếu vào kinh nghiệm về thân thể mình theo những cách không ngờ. Mô tả bản chất của tâm trí là công việc tốt hơn nên để cho các triết gia và những người huyền nhiệm, nhưng nay chúng ta biết chắc chắn rằng hệ miễn dịch của con người có thể được hỗ trợ trong các hoạt động của nó bởi nhiều thứ vượt xa hơn hẳn chỉ thuốc kháng sinh hay cao chiết thảo dược.

Không có những công thức hay thủ tục được quy định sẵn nào có thể áp dụng phổ quát khi người ta bắt đầu khảo sát một cách toàn thể những bối cảnh khác nhau mà trong đó bệnh nhân sống. Mỗi tình huống sẽ đòi hỏi một sự đáp ứng riêng của chính nó.

Nhà vi sinh vật học người Canada Marc Renaud làm sáng tỏ thêm:

Tri thức y học đương thời bắt rễ trong hệ hình “căn nguyên đặc hiệu” của bệnh tật, nghĩa là người ta giả định bệnh tật có một nguyên nhân đặc hiệu cần được phân tích trong các hệ tế bào và hóa sinh của thân thể. Hệ hình này đã củng cố ý tưởng về những liệu pháp đặc hiệu, từ đó nảy sinh định hướng chủ yếu là chữa khỏi của các công nghệ y học hiện nay — hướng tới những căn bệnh đặc hiệu thay vì tới con người bệnh nhân như một tổng thể — cùng niềm tin rằng người ta có thể được làm cho khỏe mạnh bằng những can thiệp kỹ thuật, tức là cách tiếp cận kỹ thuật… Chính vì sự thống trị của hệ hình này mà ý tưởng cho rằng bệnh tật có thể do một loạt rộng lớn những yếu tố liên kết với nhau gắn với môi trường gây ra, hay nói cách khác, rằng bệnh tật có thể là những vấn đề thích nghi được trải nghiệm một cách riêng lẻ, đã bị đánh mất.

— Marc Renaud

Chủ nghĩa toàn thể mới tái khẳng định quan niệm phổ quát rằng chúng ta là những sinh thể được nhúng vào trong môi trường và chịu ảnh hưởng của “một loạt rộng lớn những yếu tố liên kết với nhau”, những yếu tố quyết định trạng thái sức khỏe và mức độ dễ mắc bệnh của chúng ta. Sự sẵn lòng gỡ ra từng sợi ảnh hưởng của những yếu tố khác ấy chính là tinh túy của tư duy toàn thể. Một giảng viên y học tự nhiên nói về cách tiếp cận của chính mình:

Triết lý cơ bản của y học, tôi cho là, là bạn có thể tách riêng một tác nhân gây bệnh và xóa sổ nó. Điều đó hoàn toàn không phải triết lý của chúng tôi. Chúng tôi đi vào mê lộ của những quá trình gây bệnh, chuỗi sự kiện nhân quả diễn ra trong đời sống con người.

— Một giảng viên y học tự nhiên

Chẳng những không chỉ tìm kiếm những giải pháp đơn giản, vị thầy thuốc y học tự nhiên này còn nhận ra một “mê cung của những tiến trình gây bệnh” có thể là nền tảng cho sự hình thành và duy trì các trạng thái bệnh tật. Bà hoàn toàn sẵn sàng bước vào mê cung ấy hầu có được cái nhìn sâu hơn về những yếu tố khác có thể đang tác động trong đời sống bệnh nhân và có thể đang ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Dẫu những giải pháp đơn giản có thể xử lý thỏa đáng các triệu chứng rầy rà trong ngắn hạn, những phức tạp ẩn khuất đang tô màu cho đời sống chúng ta cũng có thể cần được quan tâm.

Những bối cảnh rộng lớn hơn của sức khỏe và bệnh tật

Một thầy thuốc nắn xương (osteopathy) nêu vấn đề về cách ông cảm nhận rằng các triết thuyết quy giản đã làm chệch hướng y học sinh học (biomedicine) khỏi những yếu tố quyết định rộng lớn hơn của sức khỏe và bệnh tật:

Điều mà y học chính thống có — nay đang bắt đầu sờn rách đôi chút ở các rìa — là ý niệm về bệnh như một thực thể cơ giới, luôn có những đại lượng cụ thể để đo lường, tìm thấy trong những biến đổi của các hệ thống, cấu trúc và tiến trình của cơ thể, và những biến đổi ấy có thể nhận diện là giống nhau ở mọi người. Ý niệm về tính đặc hiệu, thứ đã đưa y học tiến xa trên phương diện vi sinh vật học và trên phương diện bệnh lý thực thể — chính ý niệm về tính đặc hiệu ấy dẫn đến sự mù mờ về “món súp con người” gồm cảm xúc, tương tác xã hội, cân bằng sinh thái, v.v., những thứ tạo thành cái nền mà trên đó bệnh tật và sức khỏe phát sinh.

Trong nỗ lực giành lấy sự kiểm soát các tiến trình bệnh tật bằng những phương pháp điều trị dựa trên thuốc đã được thử thách và chứng minh trong suốt thế kỷ XX, cộng đồng y học phương Tây dường như đã đánh mất tầm nhìn về những chiều kích rộng lớn hơn của việc chữa lành. Đó có lẽ là một phản ứng dễ hiểu, xét đến những khó khăn mênh mông của nhiệm vụ ấy.

Trong cả cộng đồng y học lẫn dân chúng nói chung, tồn tại một ngụ ý không thành lời rằng nếu có đủ thời gian và tiền bạc, y học khoa học sẽ khám phá ra những loại thuốc mới để điều trị những căn bệnh mà hiện nay chưa có cách chữa nào được biết đến. Cách tiếp cận như vậy dựa trên kinh nghiệm của quá khứ, khi những loại thuốc đặc hiệu được sử dụng thành công để chữa những tình trạng đặc hiệu trước đó vốn kháng trị. Điều này đúng là trường hợp của việc phát triển kháng sinh để điều trị các nhiễm khuẩn, và các chất tương tự hormone để điều trị những rối loạn nội tiết. Nhưng những hệ quả rắc rối của việc cố gắng cân bằng số lượng ngày càng tăng các thuốc kê đơn nơi những bệnh nhân mắc nhiều tình trạng hay nhiều bệnh cùng lúc cho thấy những giới hạn cốt yếu của dự án ấy. Việc điều trị thành công bệnh Alzheimer có thể phụ thuộc nhiều hơn vào những biện pháp phòng ngừa thực hiện trong độ tuổi trung niên của một người, chứ không phải vào việc phát hiện ra một loại thuốc mới mà người ta hằng mong đợi.

Xử lý cơ thể và các triệu chứng của nó dễ hơn nhiều so với việc chỉ bắt đầu khảo sát đời sống tinh thần và cảm xúc của bệnh nhân, chất lượng các mối quan hệ gia đình, xã hội và nơi làm việc của họ, sự phơi nhiễm của họ trước những tác nhân môi trường hay tâm lý độc hại, hay nhịp điệu trong chu kỳ nghỉ ngơi và hoạt động của họ. Bên cạnh việc những cân nhắc ấy không thể dễ dàng được giải quyết trong bối cảnh một phòng mạch bận rộn dựa trên những buổi tư vấn riêng lẻ ngắn ngủi, phần lớn bác sĩ được đào tạo theo y học phương Tây đã có rất ít cơ hội tìm hiểu những vấn đề như thế trong suốt quá trình học của mình.

Cũng không thể giả định rằng những cân nhắc ấy đã được đưa vào một cách phổ quát trong chương trình đào tạo đại học của những người hành nghề y học bổ sung. Nhưng các viễn cảnh toàn thể có xu hướng là một phần trong triết lý nền tảng của phần lớn các phương thức y học bổ sung, và ít nhất cũng đưa ra một lời mời gọi sớm sủa để tiếp xúc với bệnh nhân ở một tầng bậc sâu hơn.

Một người được phỏng vấn, từng làm y tá trong hệ thống bệnh viện công nhiều năm trước khi được đào tạo về y học tự nhiên và nắn xương, đưa ra một suy ngẫm đáng suy gẫm:

Chương trình học của họ bị chi phối bởi các bác sĩ phẫu thuật, dược sĩ và những người quy giản thuộc trường phái cũ. Mỗi tuần quá nhiều giờ tiếp xúc, không có thời gian để bọn trẻ [sinh viên] phát triển bản thân cùng những sở thích và mối quan tâm riêng. Chúng ta đều từng biết những sinh viên y khoa đã vượt quá giới hạn. Bạn biết đấy, bận rộn điên cuồng. Họ kiệt sức khi hoàn tất bằng y khoa, rồi bước vào một kỳ thực tập hay nội trú ba năm khá khủng khiếp. Đến năm hai mươi tư, hai mươi lăm tuổi thì họ đã thành những con người méo mó. Và tôi không nghĩ họ đã có cơ hội phát triển bản thân. Tôi tự hỏi liệu họ có thể thoát ra khỏi hệ thống hay không, khi hệ thống đã làm tổn hại khả năng nhạy cảm của họ.

Quyền năng đáng sợ của y học sinh học được truyền cho những người nhập môn qua một chương trình huấn luyện khắc nghiệt, khởi đầu trong phòng giải phẫu và kết thúc trong các hành lang và buồng bệnh của những hệ thống bệnh viện công trên khắp thế giới. Thế giới quan của y học sinh học được củng cố một cách phổ quát trong những chương trình giảng dạy được chuẩn hóa dựa trên khoa học phân tích. Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây, một số ít chương trình đào tạo bác sĩ đại học đã bắt đầu đưa các môn học nhân văn vào chương trình của mình. Những bước phát triển ấy phản ánh một sự nhận thức ngày càng rõ về thực tế rằng y học là một nghệ thuật cũng nhiều như là một khoa học, và đòi hỏi sự hiểu biết về bản tính con người sâu xa không kém gì sự hiểu biết về giải phẫu học và sinh lý bệnh học.

Trong các chương trình đào tạo của y học phương Tây, hầu như không có chỗ cho bất cứ điều gì ngoài việc tận tụy nắm vững các tri thức khoa học và kỹ thuật được coi là không thể thiếu đối với việc hành nghề y học sinh học. Trong quá trình ấy, người ta có thể dành rất ít sự quan tâm cho việc nuôi dưỡng và phát triển một cách chủ động những mặt nhân văn hơn trong bản tính của sinh viên. Ngoài ra, những chương trình đào tạo chuyên sâu như vậy có xu hướng bỏ qua mọi cuộc thảo luận đáng kể về sự phát triển lịch sử của y học. Nhà sử học khoa học Thomas Kuhn đã nhận diện khuynh hướng xem nhẹ những hệ thống khái niệm trước đó như một trong những đặc điểm tiêu biểu của dự án khoa học:

Khi bác bỏ một hệ hình trong quá khứ, cộng đồng khoa học đồng thời từ bỏ, như một đối tượng xứng đáng cho sự khảo sát chuyên môn, phần lớn sách và bài báo đã thể hiện hệ hình ấy. Giáo dục khoa học không có tương đương nào với bảo tàng nghệ thuật hay thư viện các tác phẩm kinh điển, và kết quả là đôi khi có sự bóp méo nghiêm trọng trong nhận thức của nhà khoa học về quá khứ của ngành mình.

— Thomas Kuhn

Việc bác bỏ quá khứ lịch sử của một ngành học nhất định cũng có thể dẫn đến sự bóp méo trong nhận thức về vai trò và ảnh hưởng hiện tại của ngành học ấy. Việc gia tăng tiếp xúc với những hệ thống chữa lành văn hóa nằm ngoài khuôn khổ phương Tây thống trị, cùng với những lĩnh vực học tập liên quan đến các thực tại xã hội, tâm lý, môi trường và tâm linh, có thể mở ra cho các bác sĩ trẻ ý niệm rằng y học sinh học, dẫu rất mạnh mẽ trong những lĩnh vực kiểm soát và quản lý bệnh tật nhất định, chỉ là một trong nhiều phương thức của y đạo đích thực.

Sự bỏ mặc mang tính hệ thống đối với những chiều kích tư tế (hieratic) và nhân văn của y học có thể dẫn đến sự thu hẹp trong định hướng triết học dài hạn của nhiều người hành nghề y học sinh học. Ý thức toàn thể hàm ý một sự nhạy cảm đối với hoạt động của những ảnh hưởng tinh tế trong thế giới. Ấy vậy mà những trải nghiệm đầu tiên của các bác sĩ trẻ lại được thu nhận trong những bệnh viện công lớn, nơi họ liên tục phơi mình trước những tác động của các bệnh nặng, và trước những chấn thương thường gây kinh hoàng ở các khoa cấp cứu. Ngoài ra, những giờ làm việc dài và việc đối diện với thực tại của những bệnh nhân đang hấp hối có thể càng góp phần làm tê dại các giác quan nhạy cảm.

Chính sự khẩn thiết và cường độ của những trải nghiệm trong bệnh viện có thể hạn chế khả năng và sự tự do của các thầy thuốc trẻ trong việc đáp ứng những vấn đề rộng lớn hơn trong đời sống bệnh nhân. Về điểm này, bác sĩ người Mỹ Rachel Naomi Remen đã nhận xét về trải nghiệm của chính mình: “Theo nhiều cách, việc đào tạo y khoa giống như một căn bệnh. Phải nhiều năm sau tôi mới hoàn toàn bình phục khỏi căn bệnh của mình.” Ơn thay, nhiều người hành nghề y học sinh học vẫn sống sót qua quá trình đào tạo của họ và lặng lẽ tìm lại nghệ thuật y đạo vĩnh cửu ấy khi làm việc trong cộng đồng riêng của mình.

Vấn đề lại quay về với một câu hỏi về sự cân bằng. Những người tốt nghiệp y học sinh học bước ra từ việc học của mình với một sự tinh thông phi thường về các kỹ thuật khảo sát, chẩn đoán và điều trị của y học sinh học. Nhưng hiểu biết của họ về tiến trình lịch sử của y học qua các thời đại và các nền văn hóa khác nhau có thể chỉ giới hạn trong một chuỗi ngắn những bài giảng hầu như chẳng còn ai nhớ ở năm thứ nhất đại học. Ngoài ra, họ thường ít ý thức, chứ chưa nói đến hiểu biết, về bản chất của những cách chữa lành khác vận hành theo những hệ hình khác với hệ hình mà họ được đào tạo.

Trừ phi một người tự thân bị cuốn hút về phía việc khám phá các vấn đề triết học, hoặc bị y học tâm lý hấp dẫn mạnh mẽ, còn thì khả năng chịu ảnh hưởng của một người thầy dẫn dắt có khả năng đánh thức những nhạy cảm toàn thể trong khi vẫn đương đầu với sự hối hả và áp lực của kỳ thực tập trong hệ thống bệnh viện thực sự là rất mong manh. Nhưng trong đời sống nghề nghiệp của mình bên ngoài môi trường bệnh viện, nhiều bác sĩ trẻ đã bắt đầu tự mình tìm kiếm vượt ra ngoài các triết thuyết quy giản để thực hiện thiên chức y đạo của chính họ.

Sự thù địch mang tính xa cách từng đặc trưng cho những quan hệ ban đầu giữa những người hành nghề y học sinh học và những người hành nghề y học phi chính thống rõ ràng đã dịu đi trong những năm gần đây. Các chương trình y khoa trên khắp phương Tây nay đã bắt đầu đưa những môn học về y học bổ sung hay y học tích hợp vào chương trình đại học và sau đại học của mình.

Chủ nghĩa toàn thể mới phản ánh một phản ứng gần như mang tính bản năng trước nhu cầu tìm lại một cái nhìn cân bằng hơn về ý nghĩa của việc chữa lành và về những chiều kích sâu xa hơn của y học.

Những chiều kích sâu xa hơn

Chủ nghĩa toàn thể mà nhiều phương thức chữa lành phi chính thống ôm lấy dường như trải khắp một số tầng bậc, từ tính toàn thể của thân thể, qua tính toàn thể về xã hội và môi trường, và thậm chí mở rộng đến một tính toàn thể mang tầm vũ trụ, trong đó vạn vật khởi sinh và gắn kết với nhau trong tương thuộc. Cách tiếp cận này thừa nhận rằng ốm đau và bệnh tật thường có nhiều nguyên nhân. Nó cũng sẵn sàng vận dụng nhiều chiến lược khác nhau trong công việc chữa lành sâu xa. Một hiểu biết xa hơn ở đây là việc chữa lành sâu xa thường đưa đến nhiều hơn hẳn việc giải quyết hay kiểm soát các triệu chứng biểu hiện.

Các mô hình chữa lành toàn thể có khả năng dung chứa những điều bất ngờ. Khi khởi động một tiến trình chữa lành, thay vì một cơ chế sinh hóa, người ta đưa vào vận hành những lực có thể có những hiệu ứng chuyển hóa mạnh mẽ. Ngay cả một thay đổi đơn giản như sắp xếp lại tủ bếp để loại bỏ phần lớn thực phẩm chế biến sẵn, và đưa vào nhiều loại ngũ cốc nguyên hạt cùng trái cây, rau củ tươi hơn, cũng có thể mang lại lợi ích không chỉ cho các triệu chứng tiêu hóa của một bệnh nhân mà còn cho sức khỏe và sự vững chãi trong tương lai của con cái cô. Lời đề nghị một bệnh nhân tham gia các lớp yoga hoặc tập thái cực quyền (tai ch’i) để khắc phục chứng đau lưng dưới hay căng cơ có thể không chỉ làm giảm nhu cầu điều trị nắn chỉnh cột sống hay nắn xương định kỳ, mà còn có thể kéo bệnh nhân ấy về phía một sự nghiên cứu văn hóa sâu sắc đối với tâm linh Ấn Độ hay Đạo giáo.

Những đề nghị giản dị như vậy có thể dẫn đến một sự đánh giá lại đáng kể các ưu tiên của một bệnh nhân, và đến lượt nó, có thể dẫn đến những thay đổi sâu rộng và có lợi trong lối sống của họ. Một người hành nghề y học Trung Quốc cổ truyền suy ngẫm về một số hệ quả bất ngờ từ các phương pháp điều trị của mình:

Châm cứu dường như có thể tác động đến con người ở cả một loạt tầng bậc khác nhau. Nó gần như là một tầng bậc nối kết giữa tầng thể chất, cảm xúc, tâm lý và tâm linh. Và do đó, khi tôi điều trị cho ai đó bằng châm cứu, một số người trải nghiệm sự thay đổi sinh lý, hay điều mà họ sẽ gọi là thay đổi trong cách họ cảm nhận về thể chất, cách cơ thể họ vận hành, v.v. Những người khác có thể trải nghiệm những chuyển dịch trong cấu trúc cảm xúc và tâm lý của mình. Và những người khác nữa có thể trải nghiệm một sự thay đổi tâm linh khá khai sáng và soi rọi. Nói cách khác, nó dường như có thể chạm đến con người ở nhiều tầng bậc khác nhau.

Theo triết lý nền tảng của việc hành nghề châm cứu, mỗi chúng ta đều được gắn vào những chu kỳ tự nhiên của ngày và đêm, của hoạt động và bất động, của giãn nở và co lại, của hấp thu và bài tiết. Bản tính thể chất của chúng ta được quy định bởi những năng lượng chảy qua các ống dẫn của hệ thống kinh lạc. Những năng lượng này gắn bó mật thiết với những năng lượng bên ngoài thấm đẫm đại vũ trụ. Bệnh tật biểu thị một trạng thái đứt gãy, hay bất hòa, trong toàn bộ mạng lưới tương tác này. Mục đích của việc điều trị là khôi phục sự cân bằng năng lượng cả bên trong bệnh nhân lẫn giữa bệnh nhân với môi trường của họ.

Về cốt lõi, mối quan hệ của một người với Thượng đế, với Đạo — cái duy trì và thấm xuyên mọi tạo vật — là điều cần được hài hòa. Việc thực hiện những mục tiêu trị liệu ấn tượng như vậy rốt cuộc có thể tác động đến nhiều hơn là chỉ những triệu chứng đã khiến bệnh nhân tìm đến điều trị ngay từ đầu. Sự giác ngộ và sự soi rọi tâm linh có thể được kể vào như những lợi ích phụ tiềm tàng, dẫu bất ngờ, của việc điều trị bằng châm cứu.

Một thầy thuốc vi lượng đồng căn mô tả cách tiếp cận của chính mình đối với công việc chữa lành sâu xa:

Khi một bệnh nhân đến với tôi, tôi thường nói với họ rằng ý niệm của tôi về điều bạn cần nhiều hơn những gì tôi có thể mang lại, nhưng tôi nghĩ nếu bạn bắt đầu với tôi và bạn làm nhiều việc đến thế, và chúng ta biết rằng nó thực sự có tác dụng bởi vì chúng ta không đưa vào một loạt thứ cùng một lúc — bạn biết đấy, chúng ta không can thiệp vào quá nhiều biến số — một khi điều đó được xác lập, thì tôi nghĩ bạn cần được điều trị bằng thảo dược. Rồi tôi nghĩ bạn cần tập yoga. Bạn có thể cần đi nắn chỉnh cột sống. Bạn cần châm cứu.

Thế giới quan của vi lượng đồng căn, cũng như thế giới quan của y học Trung Quốc cổ truyền, ăn khớp một cách dễ dàng với ý niệm rằng những ảnh hưởng phi vật chất quy định sức khỏe và trạng thái khỏe khoắn của chúng ta. Cái được gọi là những nồng độ cao hơn của thuốc vi lượng đồng căn không chứa dấu vết nào có thể phát hiện được của chất hay các chất mà từ đó chúng được bào chế. Ấy vậy mà những loại thuốc như thế được cho là mang một ảnh hưởng năng lượng có khả năng khôi phục trật tự cho những năng lượng được cho là đã bị rối loạn, vốn có thể là nguyên nhân hay hệ quả của các trạng thái bệnh tật.

Vị thầy thuốc vi lượng đồng căn được trích dẫn ở trên mô tả cách phong cách hành nghề của chính bà có thể dẫn đến những kết quả mang tính chuyển hóa tương tự như những kết quả mà vị thầy thuốc châm cứu đã mô tả trước đó, dẫu những phương tiện được sử dụng rất khác nhau. Bệnh nhân được đón nhận với khả năng rằng cuộc gặp lâm sàng có thể trở thành phương tiện của một sự chuyển hóa cá nhân sâu sắc. Vị thầy thuốc vi lượng đồng căn ở trên chấp nhận những giới hạn của chuyên ngành riêng của mình, nhưng ngay từ đầu đã thừa nhận rằng nhiệm vụ của bà là một nhiệm vụ chữa lành sâu xa.

Tiến trình này có thể vươn tới những ngóc ngách bất ngờ trong đời sống và những trải nghiệm của bệnh nhân. Nó có thể đòi hỏi sự hỗ trợ của những chuyên ngành trị liệu khác: điều trị bằng thảo dược để củng cố và bổ dưỡng những hệ cơ quan và chức năng đã suy yếu; điều trị nắn chỉnh cột sống hay nắn xương để khôi phục sự linh hoạt và chức năng ở tầng cơ xương; điều trị châm cứu để khôi phục dòng chảy và sự cân bằng các năng lượng sống của cơ thể; và các bài tập yoga để đặt tiến trình ấy vững chắc vào chính tay bệnh nhân. Điều này cho thấy rõ rằng một cách tiếp cận toàn thể thường sẽ sử dụng một loạt các chiến lược trị liệu trong công việc chữa lành.

Một shaman giáo mới?

Triết lý của chủ nghĩa toàn thể đòi hỏi những người hành nghề phát triển khả năng tư duy vượt ra ngoài khuôn khổ. Nó cũng đòi hỏi người hành nghề đảm nhận một vai trò rộng lớn hơn vai trò của một nhà chẩn đoán kỹ thuật. Nó đòi hỏi sự sẵn lòng và sự chuẩn bị để bước vào thế giới đời sống của bệnh nhân ở cự ly gần. Theo nhiều cách, những đề xuất cấp tiến của cả Ivan Illich lẫn Rick Carlson được nêu trong chương trước về bản chất của tính chuyên nghiệp y sinh học tìm thấy một tiếng vang mạnh mẽ trong những phong cách hành nghề mang tính toàn thể hơn. Điều này hoàn toàn không hàm ý rằng vị bác sĩ phải trở thành một thầy shaman hoang dã và tham gia vào những nghi lễ thần bí với bệnh nhân của mình. Illich và Carlson chỉ khẳng định rằng tính chuyên nghiệp mang tính xa cách gắn liền với y học khoa học có tác dụng hạn chế mức độ tương hỗ có thể có giữa thầy thuốc và bệnh nhân trong cuộc gặp trị liệu.

Nhà tâm lý học Helen Graham mô tả một số mục tiêu trị liệu rộng lớn hơn vốn nội tại trong những hệ thống y học phi phương Tây:

Mục đích của người chữa lành là giúp con người đi tới một sự tái sắp xếp thế giới quan của mình, và đi tới nhận thức rằng mình đang trong tiến trình chứ không tĩnh tại, rằng mình là một phần của một cái toàn thể chứ không phải một thực thể cô lập; và giúp người ấy tiếp xúc với hiện hữu và hoàn cảnh của mình thông qua ý thức về những mối quan hệ bên trong và bên ngoài, nhờ đó đạt được sự cân bằng, sức khỏe và sự an nhiên. Vì vậy, điểm chung của mọi truyền thống phương Đông là ý niệm rằng chính khả năng bị “lay chuyển” hay được tái sắp xếp mới là chìa khóa của sức khỏe.

— Helen Graham

Việc hành nghề y học nắn xương, xét bề ngoài, chia sẻ rất ít với những hệ thống y học phương Đông cổ truyền. Ấy vậy mà một thầy thuốc nắn xương lại nói về sự hiểu biết của chính ông đối với những cách tiếp cận chữa lành trước đây bằng những lời lẽ sau:

Trước kia chúng ta có thể nói rằng mình đang đưa con người vào sự hòa điệu với cộng đồng của họ, với những xung đột của họ, với mạng lưới đại gia đình hay dòng tộc của họ, hay với một niềm đam mê nào đó mà họ đã bị hất văng ra khỏi. Một phần công việc của người chữa lành là dọn sạch đống rác rưởi mà họ đã bị mắc kẹt vào và đưa họ trở lại vận hành trơn tru với môi trường của họ — xã hội, sắc tộc, v.v.

Đoạn mô tả trên đây về vai trò của người chữa lành cộng hưởng một cách đáng ngạc nhiên với những phương pháp vốn đã gắn liền với shaman giáo, nơi bệnh nhân được nhìn nhận là gắn bó mật thiết với cộng đồng của họ và những hệ thống tín ngưỡng của cộng đồng ấy. Sự chú ý của người chữa lành vươn ra ngoài các triệu chứng của bệnh nhân và bao gồm cả vũ trụ rộng lớn hơn mà họ là một phần, cả mạng lưới xã hội và văn hóa của họ. Fritjof Capra suy ngẫm thêm:

Đặc điểm nổi bật trong quan niệm shaman giáo về bệnh tật là niềm tin rằng con người là những bộ phận không thể tách rời của một hệ thống có trật tự, và rằng mọi bệnh tật đều là hệ quả của một sự bất hòa nào đó với trật tự vũ trụ…

Trong khi trọng tâm của y học khoa học phương Tây là những cơ chế sinh học và những tiến trình sinh lý tạo ra các bằng chứng của bệnh tật, thì mối quan tâm chính của shaman giáo là bối cảnh văn hóa – xã hội nơi bệnh tật xuất hiện.

— Fritjof Capra

Nhận xét của Capra nắm bắt được tinh túy của cách tiếp cận shaman giáo, vốn khác với nhị nguyên luận Descartes ở chỗ chấp nhận rằng chúng ta hoàn toàn hòa nhập vào một vũ trụ về cơ bản có trật tự, dẫu những hành động hay sự bất động của chúng ta có thể ảnh hưởng đến sự cân bằng và hài hòa của sự hòa nhập ấy. Triết lý về sự tham dự và tương thuộc này lại là một dấu ấn khác của cách tiếp cận toàn thể.

Theo nhiều cách, những căng thẳng lịch sử giữa những người hành nghề y học sinh học và những người hành nghề các phương thức phi chính thống phản ánh một sự phân chia văn hóa sâu xa hơn, thứ tách rời chiều kích kỹ thuật và chiều kích tư tế của việc chữa lành. Dẫu mỗi phương thức của y học bổ sung có thể mang những phương pháp điều trị đặc hiệu cho những tình trạng đặc hiệu, chúng thường hướng về một cái nhìn rộng lớn hơn đối với nhiệm vụ của người chữa lành.

Y học sinh học có xu hướng tập trung vào những chiến lược khắc phục hay kiểm soát các trạng thái bệnh tật, trong khi các phương thức của y học bổ sung có xu hướng tập trung nhiều hơn vào việc củng cố một cách chủ động những dự trữ sinh lực và sức khỏe. Sức khỏe được hiểu là nằm ở nhiều hơn những gì thuộc về sự vận hành của thân thể vật lý. Nó còn thể hiện chất lượng của thực tại tinh thần và cảm xúc của một người, những tương tác xã hội và văn hóa, và sự tham dự vào các chu kỳ của thế giới tự nhiên và siêu nhiên.

Những tự do lâm sàng

Phần lớn cuộc thảo luận trong chương này được chống đỡ bởi những nhận xét của các nhà giáo dục – người hành nghề y học bổ sung, những người đồng nhất rõ ràng với các mô hình chữa lành toàn thể. Nhưng người ta cần luôn ý thức về những nguy hiểm của sự khái quát hóa. Mỗi người hành nghề y học bổ sung, bất kể họ thuộc về đâu, đều tự do diễn giải sứ mệnh của mình theo cách riêng và hành nghề theo khuynh hướng riêng của mình. Ngoài ra, nhiều bệnh nhân tìm đến các dịch vụ của họ chỉ mong được giải thoát khỏi triệu chứng trong thời gian ngắn nhất có thể mà không quan tâm đến những nguyên nhân sâu xa tiềm tàng.

Mỗi thầy thuốc lâm sàng, bất kể thuộc về đâu, đều có tự do hành nghề — trong giới hạn hợp lý — bất cứ điều gì họ hiểu là y học tốt. Nhưng điều quan trọng là phải hiểu rằng, giống như các nhóm nghề nghiệp nói chung, cả y học sinh học lẫn y học bổ sung đều không được miễn trừ một cách thiêng liêng khỏi chủ nghĩa cố chấp trí tuệ, khỏi sự kiểm soát bởi quyền lợi riêng và lòng tham của con người.

Một thầy thuốc nắn xương cảnh báo chống lại việc tôn sùng y học thay thế một cách toàn diện như vị cứu tinh và nhà cải cách của những lý tưởng vĩnh hằng về y đạo phổ quát:

Giả thuyết giản đơn rằng y học thay thế gắn liền với việc phủ nhận cách tiếp cận cơ giới tuyến tính đối với y học thì hợp với lý lẽ của tôi, nhưng khi tôi nhìn một số người hành nghề thay thế khác, đầu óc họ còn đầy ắp những ý niệm cơ giới giản lược hơn cả những người chính thống nhất.

Và một thầy thuốc y học tự nhiên bày tỏ những e ngại của riêng mình:

Điều tôi lo ngại là trên thực tế, nhiều nhà trị liệu tự nhiên hiện nay đang trở nên tệ hơn cả các bác sĩ. Trong chính lĩnh vực của chúng ta có một nguy cơ rằng chúng ta chỉ trở thành những người kê đơn thuốc y học thay thế, cứng nhắc hơn, cố chấp hơn, và có lẽ theo một số nghĩa nào đó, phiến diện hơn.

Những cân nhắc như vậy phản ánh sức mạnh quyến rũ của các mô hình hành nghề kỹ thuật, nơi người ta xử lý các triệu chứng biểu hiện nhiều hơn là xử lý bệnh nhân như một con người.

Cách tiếp cận lâm sàng của mỗi thầy thuốc chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố. Không hề thiếu những giai thoại về các thầy thuốc châm cứu hay nắn chỉnh cột sống tự hào về số bệnh nhân mà họ có thể xếp vừa vào một ngày làm việc. Bằng cách vận hành hai hay ba phòng khám cùng một lúc, như một số người vẫn làm, quả thực có thể điều trị 80 hay 100 bệnh nhân trong một ngày. Những cách làm như vậy nói lên nhiều điều về bản chất và những ham muốn của chính thầy thuốc hơn là về bản chất của các phương thức hay truyền thống mà họ được cho là đại diện.

Ngoài ra, quá trình chuyên nghiệp hóa ngày càng tăng của những phương thức như y học tự nhiên (naturopathy) và y học thảo dược — thông qua việc đưa chúng vào các chương trình đào tạo tại đại học cùng hệ thống cấp phép và đăng ký do nhà nước bảo trợ — đã biến chúng thành những mục tiêu dễ dàng cho các nhà sản xuất có đầu óc kinh doanh, vốn rất nhạy bén với một thị trường đang lớn lên. Sự chuyên nghiệp hóa ngày càng tăng ấy, tự thân, có thể cám dỗ một số thầy thuốc khoác lên mình tấm áo choàng của những đối thủ trước kia trên thị trường y học cộng đồng. Nhưng những diễn biến như vậy nhiều khả năng phản ánh thực tế của chủ nghĩa cơ hội về văn hóa và kinh tế hơn là những dòng chảy xã hội và lịch sử đã đưa các phương thức của y học bổ sung lên vị thế nổi bật đến vậy trong thời gian gần đây.

Sức mạnh văn hóa của y học sinh học (biomedicine) và địa vị của những người hành nghề nó là điều hiển nhiên. Cám dỗ bắt chước các hình thức và phong cách của y học sinh học hòng đạt được quyền lực nhờ liên kết hẳn đã cuốn hút một số thầy thuốc y học bổ sung. Một thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc nhận xét:

Theo ý tôi, một số thầy thuốc làm việc trong cái gọi là lĩnh vực y học thay thế có lẽ còn phù hợp hơn với lĩnh vực y sinh, bởi trọng tâm của họ thường rất nghiêng về bệnh lý và việc giải quyết bệnh lý. Nhưng tôi cho rằng ở một nghĩa nào đó họ là những người lệch chuẩn, nghĩa là họ phần nào đi chệch khỏi truyền thống mà họ thực sự đang làm việc trong đó, bởi theo kinh nghiệm của tôi khi làm việc với những người thuộc các phương thức chữa bệnh khác nhau trong cái gọi là lĩnh vực thay thế này, những người mà tôi hết mực kính trọng và học được nhiều điều sâu sắc chính là những người làm việc với con người, chứ không phải với các liệu pháp.

— Một thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc

Chủ nghĩa quy giản như một cách ứng xử với thế giới hiện tượng có thể tự thân hấp dẫn một số cá nhân nhất định. Ở đây không có vấn đề gì. Triết lý quy giản, trong suốt thế kỷ qua, đã giúp y học sinh học phát triển được những liệu pháp cực kỳ mạnh mẽ, cứu sống nhiều người và làm dịu đi bao đau khổ không đáng có. Vấn đề chỉ nảy sinh khi quan điểm quy giản về thực tại bị áp đặt như thể đó là quan điểm duy nhất có thể chấp nhận. Dù đúng hay sai, đoạn trích dẫn trên xác định các phương thức của y học bổ sung là một phần của một truyền thống về bản chất mang tính nhân văn. Những ai hành nghề theo lối cơ giới hay quy giản bị xem là chệch hướng, và không phản ánh dynamis của những truyền thống mà họ đại diện. Nhà tâm lý học Sudhir Kakar đưa ra thêm một góc nhìn:

Đường phân chia thực sự, cắt ngang các nền văn hóa và các thời đại lịch sử, dường như nằm giữa một bên là những người có định hướng ý thức hệ nghiêng về hệ hình y sinh của bệnh tật, những người kiên quyết bám vào chủ nghĩa kinh nghiệm và liệu pháp duy lý, và có hình ảnh bản thân gần với một kỹ thuật viên, với một bên là những người khác có hệ hình bệnh tật mang tính siêu hình, tâm lý hay xã hội, những người dành sự công nhận nhiều hơn cho tính phi duy lý (arationality) trong liệu pháp của mình và tự nhìn mình — cũng như được người khác nhìn — như gần với một tu sĩ. Đường phân giới như vậy quả thực có thể là biểu hiện của một phép biện chứng có từ vô thủy trong các nghề chữa bệnh.

— Sudhir Kakar

Khái niệm tính phi duy lý mà Kakar nêu lên ít được chú ý trong phần lớn các cuộc thảo luận liên quan đến những ưu điểm tương đối của y học chính thống và y học phi chính thống. Lời cáo buộc thường được lặp đi lặp lại về tính bất hợp lý của một số khía cạnh trong y học phi chính thống phản ánh một căng thẳng trong phép biện chứng, có lẽ đã bỏ sót điểm rằng cả nhân quả lẫn tính đồng thời đều vận hành trong thế giới hiện tượng, và rằng trong một số trải nghiệm, bản thân tính duy lý bị vượt qua. Trớ trêu thay, khi một số người trong y học sinh học chuyển dịch một cách có ý thức hơn về phía đưa các nguyên lý của chủ nghĩa toàn thể vào công việc lâm sàng của chính mình, thì những người khác trong y học phi chính thống lại trở nên quy giản hơn trong phong cách hành nghề. Thực tế trên thực địa không nhất thiết phản ánh lý tưởng được tuyên bố.

Việc tuân thủ các triết lý quy giản hay các triết lý toàn thể trong y học rõ ràng không phải là một tình huống hoặc-a-hoặc. Mỗi cách tiếp cận đều có giá trị riêng. Mỗi cách đáp ứng những nhu cầu nhất định. Hiện tượng y học sinh học là một thử nghiệm văn hóa khổng lồ đã biến đổi nghề y ở phương Tây và đã tạo ra những kỳ vọng gần như thuộc về thần Olympus đối với năng lực của nó. Cách tiếp cận kỹ thuật đối với y học đã cho phép những bước nhảy vọt mang tính hệ hình trong hiểu biết về các cơ chế phản ánh sự vận hành của bản tính vật lý nơi chúng ta. Việc thay thế khớp háng bị viêm khớp bằng implant titan đã mang lại những tự do mới cho nhiều người vốn bị tàn phế vì đau đớn và bất động. Việc cấy các máy tạo nhịp hoạt động đều đặn cũng đã hồi sinh cuộc sống của nhiều người bị khó thở và kiệt sức do rối loạn nhịp tim. Đây thực sự là những tiến bộ phi thường.

Nhưng bản tính con người không chỉ gồm phần vật chất thể xác. Chúng ta còn sống bằng hy vọng và thất vọng, bằng niềm vui và nỗi buồn, bằng tình bạn và những xa cách. Sự phức tạp của bản tính thể xác nơi chúng ta được cân xứng bởi sự phức tạp của năng lực tinh thần, những trải nghiệm cảm xúc và những khát vọng hiện sinh lẫn tâm linh. Những người nam và nữ làm nghề y trong suốt lịch sử từ lâu đã tìm cách hiểu bản chất và ảnh hưởng của những chiều kích ấy đối với trải nghiệm của chúng ta về thế giới và đối với trạng thái sức khỏe của chúng ta.

Sự thức tỉnh trở lại của tâm trí y học trước những thực tại như vậy được thúc đẩy bởi một nhận thức đang dồn tụ rằng các cách tiếp cận quy giản không thể hoàn thành trọn vẹn tiếng gọi của y đạo (nghề thầy thuốc), cũng không thể thỏa mãn nhiều nhu cầu sâu xa hơn của những người tìm kiếm sự chữa lành. Hiện nay chúng ta đang chứng kiến sự mềm hóa thói ngạo mạn trong y học phương Tây, thứ đã quá lâu tìm cách loại trừ những cách tiếp cận khác dựa trên những triết lý khác hay những thực hành khác.

Trong số những điều khác, sự trỗi dậy của y học bổ sung ở thế giới phương Tây đã đóng vai trò xúc tác trong quá trình biến đổi sâu hơn của y học sinh học.

Các truyền thống y học thảo dược khác nhau vẫn là những kho lưu giữ phần lớn trí tuệ truyền thống mà y học khoa học đã bỏ qua. Nền tảng Đạo giáo của lý thuyết châm cứu nối chúng ta trở lại với một thế giới tràn đầy năng lượng và ảnh hưởng. Việc Dolores Krieger đưa Xoa chạm Trị liệu (Therapeutic Touch) vào nghề điều dưỡng đã thách thức một cách tinh tế những ranh giới duy vật của y học sinh học. Ngoài ra, các ngành nắn xương (osteopathy), nắn chỉnh cột sống (chiropractic) và y học tự nhiên, mỗi ngành đều đã tái khẳng định tính tối thượng của những quan niệm về năng lực tự chữa lành bẩm sinh, theo đó những năng lực chữa lành của chính cơ thể có thể được khởi hoạt một cách có ý thức.

Công việc phía trước đòi hỏi sự tích hợp giữa viễn kiến quy giản và viễn kiến toàn thể, dẫu điều đó có vẻ nghịch lý. Quá trình ấy đang tăng tốc trên nhiều mặt trận khắp thế giới phương Tây.

Chương 9 — Hoàn Tất Vòng Tròn

Dù sở hữu tất cả sức mạnh công nghệ của mình, y học vẫn không phải là một công việc công nghệ. Thực hành y học là một thứ tình yêu đặc biệt.

— Rachel Naomi Remen, 1996

Riêng trong y học, điều này hẳn phải đặc biệt rõ: chúng ta không thể có những con người khỏe mạnh trên một hành tinh đang ốm. Y học trước hết phải hướng sự chú ý của mình vào việc bảo vệ sức khỏe và trạng thái khỏe khoắn của Trái Đất, rồi mới có thể có bất kỳ nền sức khỏe con người nào hữu hiệu.

— Thomas Berry, 1991

Trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, nghề y ở phương Tây bắt đầu thu hồi lại nhiều nguyên lý toàn thể đã từng chi phối việc thực hành một nền y đạo chu đáo và tiến hóa qua các thời đại. Trớ trêu thay, điều ấy lại diễn ra đúng vào lúc y học khoa học đang ở đỉnh cao sức mạnh, khi bản chất của cơ thể và những căn bệnh mà cơ thể phải chịu đã được vẽ thành bản đồ gần như đến từng chi tiết nhỏ nhất, khi việc tìm kiếm tri thức về những quá trình nuôi dưỡng chính sự sống đã ăn sâu vào tận lõi sáng tạo của DNA tế bào.

Khi phần lớn các bệnh nay đã được ghi nhận và hiểu rõ, người ta dễ bị cám dỗ mà hỏi rằng bước tiến tiếp theo của y học sẽ đi về đâu. Những biên giới mới bắt đầu mở ra ở những lĩnh vực như di truyền học phân tử và nghiên cứu phôi. Dường như ý niệm về sự tăng trưởng vô hạn đã chiếm lĩnh trí tưởng tượng của những người ở tận biên của nghiên cứu y học, dẫu rằng những ý niệm như thế rốt cuộc là không thể bền vững.

Dù những thành tựu của y học sinh học (biomedicine) trong thế kỷ qua quả thực đáng kinh ngạc, vẫn có những khía cạnh của nỗi khổ đau con người đòi hỏi nhiều hơn là những giải pháp kỹ thuật. Những ai sống dưới bóng của các bệnh thoái hóa mạn tính, hay cái được gọi là ‘các bệnh của văn minh’, đều biết rằng người ta chỉ có thể chống đỡ họ bằng thêm thuốc và thêm thủ thuật trong một thời gian nhất định mà thôi.

Trong thời đại tri thức và giáo dục phổ cập này, chúng ta cần hỏi xa hơn về những giới hạn đích thực của y học, về mức độ mà y học sẵn sàng hướng tới việc chữa lành mọi khía cạnh của sự sống trong chừng mực có thể làm được. Liệu có đủ chăng khi chỉ kỳ vọng ở y học những gì nó có khả năng về mặt kỹ thuật? Bằng việc tập trung chủ yếu vào bệnh tật, phải chăng y học sinh học đã bỏ quên nhiều chiều kích khác của đời sống đương đại vốn góp phần gây nên tình trạng bệnh hoạn? Phải chăng nhiệm vụ của y học chỉ giới hạn trong sức khỏe của cá nhân, hay còn có một bổn phận chăm sóc đối với sức khỏe của các gia đình, của các cộng đồng, của những hệ sinh thái mà chúng ta là một phần, và của chính Trái Đất?

Chủ nghĩa toàn thể, tự thân, đòi hỏi những viễn cảnh rộng hơn. Nó đòi hỏi sự phát triển của một độ nhạy sinh thái có khả năng nhận ra những mẫu hình ảnh hưởng và tương tác vượt ra ngoài sinh học của cá nhân. Những cách tiếp cận toàn thể đối với sức khỏe đòi hỏi cả thiện chí nhìn xa hơn những gì hiển nhiên, lẫn sự chấp nhận rằng sự bất định là một phần cái giá phải trả khi vượt qua những ranh giới cố định của bệnh lý cá nhân. Một nhà phê bình sớm của phong trào sức khỏe toàn thể tại Hoa Kỳ đã nắm lấy phép biện chứng này:

Những người theo chủ nghĩa toàn thể cho rằng y học (một thuật ngữ mà trong phần này sẽ chỉ toàn bộ các bộ môn chăm sóc sức khỏe chính thống) định nghĩa việc thực hành của mình quá hẹp, và cách tiếp cận ấy dẫn đến việc đối xử với bệnh nhân một cách phi nhân tính. Y học bị cáo buộc là tập trung vào căn bệnh, vào bộ phận, vào kỹ thuật — tất nhiên là tất cả đều đánh đổi bằng ‘con người toàn vẹn’. Những người theo chủ nghĩa toàn thể cáo buộc rằng y học quan tâm quá nhiều đến liệu pháp mà quá ít đến bệnh nhân. Người ta cảm thấy rằng phương pháp khoa học áp đặt một tiêu điểm quá hẹp.

Ngược lại, những nhà cung cấp dịch vụ chính thống phản đối rằng những người theo chủ nghĩa toàn thể đang hành xử vô trách nhiệm khi tìm cách quy mọi vấn đề của con người vào địa hạt của chăm sóc sức khỏe, qua đó làm nặng thêm gánh nặng vốn đã nặng nề của người hành nghề. Họ tin rằng việc sử dụng phương pháp khoa học cho phép họ làm điều họ làm tốt nhất — chữa lành người bệnh — và rằng chủ nghĩa toàn thể có thể đang khuyến khích họ làm nhiều việc một cách tồi tệ.

Không có câu trả lời sẵn cho những câu hỏi như thế. Những vấn đề ấy, xét theo chính bản chất của chúng, là phức tạp. Nhưng bước chuyển của y học trong những thập niên gần đây nghiêng về phía đi sâu hơn vào sự thấu hiểu bản chất của chủ nghĩa toàn thể cùng vai trò của nó trong sứ mệnh chữa lành, chứ không phải rời xa điều đó. Không phải chủ nghĩa toàn thể khuyến khích người chữa bệnh làm nhiều việc một cách tồi tệ. Trên thực tế, chủ nghĩa toàn thể khuyến khích người chữa bệnh làm nhiều việc một cách tốt đẹp.

Những thời đại giản dị hơn

Vẫn còn đó một nghịch lý kỳ lạ: tri thức sâu sắc của y học khoa học về bệnh tật và cách điều trị bệnh tật không hề được cân xứng bằng một tri thức tương tự về sức khỏe và về những cách duy trì hay gia tăng sức khỏe. Công trình ấy, có lẽ, là đòi hỏi tất yếu của những thời đại trước đó, của những thời mà bệnh tật còn chưa được hiểu rõ, của những thời mà hiểu biết về thuốc men còn sơ khai.

Những người chữa bệnh thời cổ tìm cách chủ động nâng đỡ những lực duy trì sức khỏe của dân mình, thay vì lao vào những trận chiến thường vô vọng với những căn bệnh mà họ biết ít, bằng những thứ thuốc mà họ còn biết ít hơn. Trong những thời như thế, hiệu quả phần lớn nằm ở chính con người người chữa bệnh, ở khả năng khơi dậy niềm hy vọng nơi bệnh nhân, và ở năng lực đưa ra những lời giải thích ý nghĩa về bệnh tật, qua đó khôi phục phần nào trật tự trong thế giới của bệnh nhân.

Những thầy tư tế – thầy thuốc của Ai Cập cổ đại hiểu rõ tầm quan trọng của y học dự phòng. Họ khuyến khích việc áp dụng các thực hành vệ sinh để gìn giữ sức khỏe của dân chúng. Vào thời các vương triều về sau, người dân đồng bằng sông Nile thường xuyên thực hiện nghi thức thanh tẩy thân thể bằng thuốc xổ, thụt rửa và kiêng cữ ăn uống.

Nhà sử học y học Ai Cập Paul Ghalioungui nhớ lại:

Ngay cả người Hy Lạp cũng cho là quá mức sự chăm sóc mà người Ai Cập dành cho thân thể mình. Mọi du khách của họ đều nói với vẻ thán phục về tục lệ của người Ai Cập là rửa tay và rửa bát đĩa, cùng việc dùng thuốc xổ và thuốc gây nôn mỗi tháng. Những tục lệ ấy chắc chắn phần lớn là nhờ tấm gương và sự dạy dỗ của các thầy tư tế, những người thực hành một nghi lễ thanh khiết cực kỳ câu nệ, và về họ Herodotus đã viết rằng hẳn họ phải nhận được nhiều lợi ích thì mới chịu tuân theo ngần ấy điều kiêng cữ.

Những thực hành như thế, ít nhất, đã giúp toàn thể dân chúng đối phó tốt hơn với nhiều bệnh lây qua nước và nhiều loại ký sinh do lũ lụt hằng năm của sông ngòi và thủy đạo mang tới. Ngoài ra, chúng hẳn cũng đem lại những lợi ích của sự canh tân chuyển hóa nhờ những đợt nhịn ăn và thanh tẩy ngắn.

Trong thời kỳ tiền Hippocrates ở Hy Lạp, các thầy thuốc Asklepiad chăm sóc bệnh nhân của mình cả trực tiếp lẫn thông qua 300 ngôi đền chữa bệnh rải rác khắp đất nước. Những nơi chữa bệnh này thường nằm xa các thị trấn và thành phố, và cung cấp một chốn nghỉ ngơi cùng canh tân cho những ai cần đến. Bệnh nhân sẽ tắm trong nước suối — nhiều ngôi đền nằm ngay bên những mạch nước ấy — rồi được xoa bóp bằng dầu thơm và nuôi dưỡng bằng những thức ăn tinh khiết. Những quãng thời gian lưu lại các bệnh viện sơ khai này là thời gian thanh tẩy thân và tâm theo nghi lễ, đồng thời mở ra cơ hội cho sự chiêm nghiệm nội tâm và sự hồi phục thân thể. Những liệu pháp hồi sức nhẹ nhàng mà bệnh nhân nhận được có tác dụng củng cố họ trong suốt thời gian dưỡng bệnh.

Ngày nay, những hệ thống như y học Ayurveda của Ấn Độ và y học cổ truyền Trung Hoa vẫn tiếp tục sử dụng những liệu pháp đặc biệt nhằm chủ yếu củng cố và phục hồi những dự trữ thể chất và tinh thần của bệnh nhân. Những hệ thống y học phương Đông này cung cấp cả những liệu pháp chữa bệnh lẫn những phương pháp đã được thử thách qua thời gian, có tác dụng chủ động gia tăng sức khỏe và sinh lực. Những phương pháp ấy bao gồm điều chỉnh ăn uống, các thực hành yoga và thái cực quyền, cùng việc dùng các cây thuốc bổ như nhân sâm, hay những rasayana hồi sức của y học Ayurveda — những chế phẩm từ thảo dược và khoáng vật được dùng riêng cho mục đích tái tạo thể chất chứ không phải để chữa bệnh.

Một trong những đóng góp đáng kể hơn của y học bổ sung trong thời đại này là lời nhắc nhở rằng công việc của người thầy thuốc không chỉ đòi hỏi việc điều trị bệnh tật một cách hiệu quả, mà còn đòi hỏi việc chủ động nâng đỡ sức khỏe.

Quyền tự do lựa chọn

Hệ hình dựa trên sức khỏe của y học bổ sung đã được nhiều người trong các cộng đồng phương Tây nhiệt tình đón nhận. Người ta háo hức muốn biết mình có thể làm gì để duy trì trạng thái khỏe khoắn của bản thân và của gia đình. Phong cách lâm sàng của các phương thức y học bổ sung mang lại một phương tiện mang tính cá nhân hóa cao, nhờ đó bệnh nhân có thể hiểu biết hơn về các vấn đề sức khỏe. Cuộc gặp lâm sàng không chỉ nhằm làm dịu các triệu chứng hay tình trạng của bệnh nhân, mà còn mở ra cơ hội khảo sát những chiến lược dự phòng và hồi sức mà bệnh nhân có thể tự thực hành trong thời gian của mình.

Sự hiện diện ngày càng nhiều và khả năng tiếp cận ngày càng dễ dàng của những thầy thuốc sẵn lòng làm việc với bệnh nhân theo cách này đã được cảm nhận ở mọi cấp độ. Một thầy thuốc nắn xương (osteopath) nhận xét:

Vị bác sĩ đa khoa địa phương ở ngay dưới phố chỗ chúng tôi, một người rất vững vàng trong nền y học chính thống của mình, vừa gửi thư tới từng bệnh nhân để thông báo giờ giấc bà ấy có thể tiếp bệnh, v.v. Bà ấy đang quảng cáo nhiều hơn một chút, và trong thư bà cũng nói rằng bà sẵn lòng phối hợp với những thầy thuốc y học thay thế để giải quyết vấn đề của mọi người. Thế là trong cơ cấu dân cư của vùng này, bệnh nhân bắt đầu trở thành kiểu người ‘mua sắm liệu pháp’, những người có một số thầy thuốc khác nhau để tìm đến vì những việc khác nhau. Và vị bác sĩ đa khoa ấy, bác sĩ y khoa ấy, đang cảm thấy sức ép của tình hình. Bà ấy không còn được người ta đến hỏi ý trước tiên nữa.

Lời nhận xét này, đưa ra vào giữa thập niên 1990, phản ánh thực tế tại chỗ của những người thực hành y học sinh học ở một thành phố lớn của Úc. Bối cảnh ấy phản chiếu sát sao tình hình ở phần lớn các nước nói tiếng Anh trên thế giới vào thời điểm đó. Sự mở rộng của thị trường chăm sóc sức khỏe không chỉ là một hiện tượng xã hội và chính trị đáng chú ý, mà còn mang những hệ quả kinh tế đáng kể. Ngay cả nói một cách thô sơ, sự phổ biến ngày càng tăng của những cách tiếp cận phi chính thống đối với chăm sóc sức khỏe đã dẫn đến sự cạnh tranh lớn hơn giữa các nhà cung cấp dịch vụ.

Thiện chí ngày càng tăng của các thầy thuốc y khoa trong việc hợp tác với những đồng nghiệp không thuộc ngành y có thể được thúc đẩy bởi chủ nghĩa thực dụng tỉnh táo nhiều chừng nào thì cũng bởi mong muốn chân thành về sự hòa giải và hợp tác liên ngành nhiều chừng ấy. Những người thực hành y học sinh học không còn có thể cho phép mình xa lánh những bệnh nhân đã tự mình trải nghiệm những lợi ích của các cách tiếp cận phi chính thống đối với chăm sóc sức khỏe.

Ngay từ trong thập niên 1980, một số nhà quan sát đã thấy rõ rằng sự phổ biến ngày càng tăng của những phương thức chữa bệnh phi chính thống ở phương Tây hàm chứa những gợi ý mạnh mẽ về hướng đi mà việc thực hành y học cộng đồng đang dịch chuyển. Steven Fulder đã đưa ra quan điểm của riêng ông về cách mọi việc đang định hình ở Vương quốc Anh vào thời điểm ấy:

Những cá nhân liên quan đang thôi không còn là những người tiêu dùng thuốc men và dịch vụ một cách vô tri, mà trở nên có khả năng phân biệt và ý thức hơn trong những lựa chọn của mình. Họ cũng mang những lựa chọn mới ấy về nhà với bác sĩ gia đình của mình, và góp phần nâng cao nhận thức của các bác sĩ về sự hiện diện cùng tiềm năng của các liệu pháp tự nhiên. Chính bệnh nhân, chứ không phải những nhóm vận động có tổ chức, sẽ là những người mang lại sự cùng tồn tại và tôn trọng lẫn nhau giữa các hệ thống y học khác nhau — một điều hiển nhiên cũng như tất yếu.

Điều mà Fulder khi ấy thấy là hiển nhiên và tất yếu nay đang nhanh chóng thành hiện thực. Một trong những hệ quả đáng kể hơn của bước phát triển này là nhiều người trong giới y học sinh học đã mở rộng mạng lưới nghề nghiệp của mình ra ngoài vòng trong của các phòng khám chuyên khoa, và nay ghi cả tên những người thực hành y học bổ sung vào danh sách chuyển bệnh nhân của họ. Những người hành nghề thuộc mọi khuynh hướng đang bắt đầu nói chuyện với nhau, và ngày càng ý thức hơn về những thế mạnh cùng phẩm chất riêng của cách tiếp cận mà mỗi bên theo đuổi. Ngoài ra, nhiều bác sĩ đang tự học hỏi về những cách chữa lành có thể chưa từng thuộc phần giáo dục chính quy của họ, qua các hội thảo, các chương trình sau đại học và những trang tạp chí chuyên môn của họ. Những giá trị cốt lõi của y học bổ sung được phản ánh không phải ở những kỹ thuật khác lạ hay những dược điển kỳ lạ của nó, mà ở cách nó biểu đạt các nguyên lý toàn thể. Bản thân các bộ môn này được đặc trưng bởi một phong cách quan hệ giữa bệnh nhân và thầy thuốc khác với phong cách của y học sinh học. Những triết lý nền tảng của chúng thường dựa trên sức khỏe hơn là dựa trên bệnh tật. Và những phương thức của y học bổ sung dung chứa một cách thoải mái hơn vai trò của những ảnh hưởng phi vật chất trong sức khỏe và bệnh tật, trong các phương pháp chẩn đoán và điều trị của chúng.

Dẫu hiện nay có những dòng chảy mạnh mẽ của sự canh tân đang len qua y học, công việc giành lại những giá trị trường tồn của y đạo là một công việc mang tính lịch sử, không thể diễn ra trong một sớm một chiều. Bởi phía sau nhiều thể chế hùng mạnh gắn với y học sinh học là những lợi ích riêng biệt mang cả đà tiến lẫn quán tính của chính chúng. Vị thầy thuốc nắn xương của chúng ta nói tiếp:

Ý niệm rằng y học tâm lý – xã hội hay y học tâm thể có điều gì đó để nói, điều mà thực sự sẽ rẻ hơn rất nhiều và lành mạnh hơn rất nhiều, sẽ không bao giờ thực sự ló dạng trong nền y học chính thống, bởi họ kiếm được nhiều tiền hơn rất nhiều... Điều đó có lẽ sẽ luôn như vậy. Thứ y học kiểu chữa trị bằng kỹ thuật, thể chất, công nghệ cao, hấp dẫn, ‘vượt qua năm 2000’ ấy — thứ thực ra chẳng bao giờ chữa lành được gì — sẽ vẫn hưng thịnh. Nhưng cách tiếp cận mềm mại hơn, toàn thể hơn, sẽ dần chiếm được đất.

Công nghệ đã vươn vào gần như mọi khía cạnh của đời sống ở thế giới phát triển. Việc thực hành y học sinh học cũng không ngoại lệ. Việc sản xuất thuốc, việc chế tạo và bảo trì thiết bị chẩn đoán, cùng việc vận hành các cơ sở cấp cứu và hồi sức tích cực, các phòng mổ và các khoa y học hạt nhân, đều phụ thuộc vào công nghệ cao. Và dẫu những lợi ích được nhận thấy của nền công nghệ ấy có thể rất lớn, vị thầy thuốc nắn xương này nhắc chúng ta rằng chúng phải trả bằng một cái giá, thường là một cái giá rất đắt.

Những khoản tiền khổng lồ được đổ vào việc phát hiện, sản xuất và tiếp thị các loại thuốc dược phẩm tổng hợp. Và những khoản còn lớn hơn nữa được tạo ra từ việc bán chúng. Người được phỏng vấn của chúng ta nhắc chúng ta về điều hiển nhiên khi ông chỉ ra rằng những thực tế như thế khiến mọi thứ khó có thể thay đổi một cách chóng vánh.

Các phương pháp của y học bổ sung không đòi hỏi những công nghệ phức tạp và nói chung ít tốn kém hơn nhiều so với các phương pháp của y học sinh học. Việc chỉnh sửa các vấn đề cấu trúc bằng những phương pháp thủ công thường loại bỏ được nhu cầu dùng thuốc giảm đau hay kháng viêm. Thuốc thảo dược và thuốc vi lượng đồng căn dễ dàng được bào chế từ các chất tự nhiên và rẻ hơn nhiều so với thuốc tổng hợp. Kim châm cứu dùng một lần có thể mang theo bất cứ đâu và giá rất rẻ. Việc cung cấp cho căn bếp những thực phẩm nguyên chất tốn ít hơn, và thường là ít hơn, so với lượng thực phẩm đã qua chế biến và bị làm biến chất tương đương, vậy mà có thể đem lại những lợi ích sức khỏe cho cả gia đình, được phản ánh qua ít đợt ốm hơn và nhu cầu dùng thuốc giảm đi.

Nhiều chứng bệnh có thể được xử lý bằng những cách khác với những phương pháp ưu tiên của y học sinh học, và thường chỉ với một phần nhỏ chi phí. Việc điều trị hiệu quả các bệnh liên quan đến lối sống hay các bệnh thoái hóa mạn tính có thể đòi hỏi nhiều hơn là việc kê đơn và theo dõi phác đồ thuốc. Việc phát triển những mạng lưới hỗ trợ xã hội, cùng việc vun đắp những thái độ tinh thần giúp một người đối phó tốt hơn với nỗi đau hay sự hạn chế, có vai trò quan trọng trong việc quản lý những tình trạng như thế. Việc tạo điều kiện cho những thay đổi trong lối sống và kiểu hoạt động của bệnh nhân cũng vậy.

Vị thầy thuốc nắn xương được trích dẫn ở trên có vẻ lặng lẽ tin tưởng rằng, bất chấp những năng lực bao la của nền y học công nghệ, ‘cách tiếp cận mềm mại hơn, toàn thể hơn, sẽ dần chiếm được đất’. Vùng đất ấy chắc chắn đã được giành thêm trong thời gian gần đây. Chính sự cấp bách của thời cuộc đã đòi hỏi phải vượt qua những thù địch mà, trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, đã vạch ra ranh giới của nền y học được chấp nhận. Những phân tuyến cũ nay bắt đầu nhường chỗ cho một sự thấu hiểu ngày càng hòa nhập.

Thời đại tốt nhất và tồi tệ nhất

Những phát triển khoa học và công nghệ của thế kỷ qua đã làm thay đổi hoàn toàn cách loài người sống trên Trái Đất. Máy móc nay bay qua các lục địa và giữa các hành tinh. Giọng nói của chúng ta được truyền đi một cách vô hình qua không trung bằng bức xạ vi ba. Những hành vi chiến tranh được thực hiện với độ chính xác chết người và hậu quả tàn khốc bằng điều khiển từ xa. Năm trăm triệu máy tính, mà rốt cuộc đều sẽ cần được thải bỏ, vẫn kêu vo vo trong vô số hộ gia đình, doanh nghiệp và thể chế trên khắp thế giới. Các thành phố trên Trái Đất đầy ắp tiếng gầm rì rầm của sáu trăm triệu chiếc ô tô, khi mỗi ngày những người đi làm lại dấn thân vào giờ cao điểm.

Cũng trong khoảng thời gian ấy, những cánh rừng còn lại ở Bắc Âu và Bắc Mỹ đã bắt đầu héo úa dưới cơn mưa chất ô nhiễm công nghiệp. Da của trẻ nhỏ nay ửng đỏ và nổi rộp ngay cả dưới bầu trời nhiều mây, khi lá chắn ôzôn bảo vệ của Trái Đất mỏng dần. Những tảng băng trôi ở phương Nam, có kích thước bằng cả những quốc gia, nứt vỡ và trôi về phía bắc qua các tuyến hàng hải. Những rạn san hô nhiệt đới hùng vĩ bạc trắng và chết dần khi các đại dương bắt đầu ấm lên. Sáu mươi lăm triệu tấn đất mặt quý giá bị phân tán và mất đi mỗi năm do các phương thức canh tác trên diện rộng và nền nông nghiệp đương đại. Những chính trị gia được bầu ra phớt lờ những lời kêu gọi bảo vệ rừng nguyên sinh và rừng nhiệt đới, trong khi những người canh giữ thời gian cổ xưa bị đốn hạ và biến thành bột giấy cùng dăm gỗ.

Cách sống của chúng ta lạ lùng thay lại bị neo chặt trong một sự gắn bó kỳ dị nhưng dễ hiểu với những thành quả khó nhọc giành được của nền văn minh công nghiệp. Dường như chúng ta tin rằng hoặc là mình đã đi quá xa và không thể làm gì được nhiều trước tình cảnh này, hoặc là nếu cứ tiếp tục như vậy, rốt cuộc mọi thứ sẽ tự sắp xếp ổn thỏa. Nhưng đang có một sự nhận thức ngày càng rõ rằng mọi thứ khó có thể tự sắp xếp ổn thỏa theo ý chúng.

Trí tuệ và sự khéo léo đã góp phần tạo nên những tự do hiện tại của chúng ta nay cần hướng không chỉ vào việc giảm thiểu và khắc phục những tổn hại đã gây ra, mà còn vào việc phát triển một sự thấu hiểu sâu hơn về việc tại sao những tổn hại thảm khốc như thế lại được phép đi xa đến mức đã đi.

Giống như cơ thể con người, bản thân Trái Đất không thể bị oanh kích liên tục và không ngơi nghỉ mà không bị tổn hại nghiêm trọng. Khi sức khỏe của những hệ sinh thái cân bằng tinh tế của Trái Đất suy yếu do không khí, nước và đất bị đầu độc dần dần, thì sức khỏe của những cư dân trên Trái Đất cũng suy yếu theo.

Nguyên lý con ếch bị luộc

Có một câu chuyện được kể lại mà có thể khiến ta phải dừng lại suy nghĩ về bản chất của tình cảnh mà chúng ta đang ở trong đó. Nếu thả ếch vào một chảo nước, chúng sẽ bơi lội vui vẻ. Nếu nước được đun nóng dần, chúng sẽ có xu hướng bơi nhanh hơn một chút. Khi nhiệt độ tăng đều, chúng sẽ bơi ngày càng mạnh mẽ hơn, nhưng không hề tìm cách thoát khỏi môi trường ngày càng nguy hiểm mà chúng đang ở trong đó. Có thể nói rằng chúng đang thích nghi tốt với hoàn cảnh đã thay đổi của mình. Chúng thích nghi tốt đến mức, trên thực tế, chúng sẽ để mặc mình bị luộc chín đến chết. Nhưng nếu cũng những con ếch ấy bị thả vào một chảo nước đã được đun nóng đến nhiệt độ cao, chúng sẽ vùng vẫy và giãy giụa dữ dội để thoát khỏi tình cảnh chết chóc mà chúng bị đặt vào.

Chúng ta có lẽ đã bảo vệ quá mạnh mẽ những lợi ích của tăng trưởng kinh tế và phát triển công nghệ mà không dành đủ sự chú ý cho những hệ quả tai hại hơn của những hoạt động ấy đối với sinh quyển và các hệ sinh thái của Trái Đất, cũng như đối với sức khỏe con người. Chính thuật ngữ ‘các bệnh của văn minh’ đã chỉ ra những hệ quả đã biết của những lối sống sung túc và phung phí.

Triết lý của chủ nghĩa toàn thể đặt nền trên một sự thấu hiểu rằng mọi vật đều liên kết với nhau và không gì xảy ra trong sự cô lập. Lần đầu tiên trong lịch sử, chúng ta biết mình là cư dân của một thế giới hữu hạn với những nguồn lực hữu hạn, trong một thế giới đã đạt tới trạng thái cân bằng hiện nay qua hàng trăm triệu năm thích nghi chậm rãi với những điều kiện biến đổi. Hai thế kỷ hoạt động của con người vừa qua đã mang lại một mức độ thay đổi trong sự cân bằng tự nhiên của thế giới mà không ai có thể lường trước trọn vẹn. Nhiều người đã nhận ra rằng sức khỏe của bầu khí quyển Trái Đất, cùng các hệ sinh thái trên cạn và dưới biển của nó, nay đang bị đe dọa. Những thay đổi ấy báo hiệu những thời kỳ khó khăn phía trước.

Trớ trêu thay, chính công nghệ đã khiến chúng ta chú ý đến bản chất đích thực của tình thế khó khăn hiện nay. Hình ảnh Trái Đất nhìn từ không gian là một trong những biểu tượng mạnh mẽ và có sức biến đổi nhất trong ý thức con người. Hình ảnh ấy đã khiến tất cả chúng ta nhận ra rằng chúng ta đang sống trên một Trái Đất duy nhất, với tư cách là một trong vô số loài đã xuất hiện nhờ sự biểu hiện sáng tạo của những lực sống của tự nhiên. Thế nhưng những hoạt động công nghiệp và thương mại của chúng ta trong hai thế kỷ qua đã làm thay đổi sự cân bằng của các hệ thống điều hòa của Trái Đất theo những cách mà chúng ta mới chỉ bắt đầu chấp nhận và hiểu ra.

Nhà sử học văn hóa Thomas Berry đã đưa ra một đánh giá khiến người ta bất an sâu sắc về những hệ quả mang tầm hành tinh của sự lan tràn công nghiệp và vô số tác động của nó lên trái đất cùng muôn vàn hệ sinh thái nơi đây:

Trái đất không thể nuôi dưỡng một hệ thống công nghiệp như vậy cùng những công nghệ tàn phá của nó. Trong tương lai, hệ thống công nghiệp sẽ có những yếu tố hồi phục bề ngoài, nhưng chúng sẽ chỉ là thứ nhỏ nhặt và chóng qua. Vận động lớn hơn là hướng về sự tan rã. Tác động của những công nghệ hiện tại của chúng ta vượt quá sức chịu đựng của trái đất.

— Thomas Berry

Một năm sau khi Berry đưa ra phán đoán ấy về tình cảnh hiện thời, Liên minh các nhà khoa học quan tâm (Union of Concerned Scientists) đã công bố một tuyên bố mang tựa đề World Scientists’ Warning to Humanity. Tuyên bố có đoạn:

Cần có một thay đổi lớn trong cách chúng ta trông nom trái đất và sự sống trên đó, nếu muốn tránh cho loài người khỏi cảnh khốn khổ mênh mông và giữ cho ngôi nhà của chúng ta trên hành tinh này khỏi bị hủy hoại không thể cứu vãn.

— Union of Concerned Scientists

Đây không phải là những phỏng đoán cuồng loạn của những kẻ chống công nghệ kiểu Luddite thời nay, mà là những đánh giá điềm tĩnh về thực tại đương thời. Bản Warning của Liên minh các nhà khoa học quan tâm đã được hơn 1700 nhà khoa học hàng đầu thế giới tán thành, trong đó có phần lớn những người đoạt giải Nobel trong các ngành khoa học.

Thomas Berry đã dành phần lớn cuộc đời trưởng thành của mình để nghiên cứu lịch sử loài người và những biểu hiện văn hóa khác nhau của nó. Trong những thập niên gần đây, ông hướng sức lực vào việc tìm hiểu bản chất của sự gắn kết giữa con người với trái đất, và theo đuổi ý nghĩa sâu xa hơn của nền văn minh công nghệ thế kỷ XX. Nay đã ở tuổi chín mươi, Berry vẫn tiếp tục công việc của mình với tư cách người cổ vũ cho một sự hợp tác toàn thể hơn và có ý thức hơn với những lực lượng nuôi dưỡng toàn bộ sự sống trên hành tinh. Berry tin rằng tình cảnh khó khăn hiện nay của chúng ta được tạo ra bởi sự tách lìa ngày càng lớn khỏi tự nhiên và các lực lượng tự nhiên, diễn ra trong ba thế kỷ qua. Ông quy sự mất thiêng ấy và sự đánh mất tương giao với trái đất cho ảnh hưởng lan rộng của triết học nhị nguyên Descartes trong cộng đồng khoa học.

Công việc phía trước sẽ đòi hỏi nhiều hơn là những hệ thống tái chế tinh vi và việc cắt giảm lượng năng lượng chúng ta tiêu thụ, dù đó là những yếu tố thiết yếu của bất kỳ chương trình nào nhằm hạn chế thêm thiệt hại.

Việc chữa lành trái đất sẽ được hoàn thành không phải chủ yếu bằng cách phát triển những giải pháp kỹ thuật mới cho các vấn đề hiện tại, mà bằng cách ý thức hơn về sự liên đới hữu cơ của chúng ta với nhau và với trái đất, rồi hành động tương ứng. Chúng ta là một phần của tự nhiên chứ không tách khỏi tự nhiên, và ắt sẽ gánh chịu hậu quả của bất kỳ xáo trộn nào chúng ta gây ra — dù cá nhân hay tập thể — đối với các hệ thống tự nhiên.

Sự gia tăng quan tâm đến y học bổ sung diễn ra trong những thập niên cuối của thế kỷ XX cần được hiểu trong bối cảnh rộng lớn hơn của những thực tại như vậy.

Khôi phục tự nhiên

Y học bổ sung không xuất hiện trong chân không. Dù các phương thức khác nhau của nó vẫn lặng lẽ được hành nghề song song với y học sinh học (biomedicine) suốt những thập niên đầu và giữa thế kỷ XX, đã có một sự gia tăng đột ngột về mức độ phổ biến của thứ khi ấy được gọi là y học “thay thế” hoặc “tự nhiên” trong những năm 1960 và 1970. Điều này dường như là một phần của phản ứng văn hóa rộng khắp trước những vấn đề ngày càng gay gắt mà nền văn minh đương thời phải đối mặt. Những vấn đề ấy bao gồm sự suy thoái môi trường gia tăng, chủ nghĩa tiêu dùng tràn lan, chủ nghĩa quân sự hạt nhân đang lớn dần và sự tha hóa xã hội lan rộng.

Sự phát triển của cả phong trào sức khỏe toàn thể lẫn sự trỗi dậy của y học thay thế hay y học bổ sung đều được gắn với sự hình thành của cái sau này được gọi là phản văn hóa (counter-culture) trong những năm 1960. Tại Hoa Kỳ, nhà giáo dục điều dưỡng Kristine Alster nhận xét:

Dù tư tưởng toàn thể đã có truyền thống lâu đời trong nhiều ngành, kể cả y học, chính phản văn hóa mới là tiền thân trực tiếp của phong trào sức khỏe toàn thể.

— Kristine Alster

Ý niệm này mới được nhà xã hội học người Anh Mike Saks xem xét lại. Ông cho rằng những tư tưởng và ý thức gắn với phong trào phản văn hóa thập niên 1960 là những ảnh hưởng đáng kể đối với sự gia tăng phổ biến của các hệ thống y học “thay thế” vào thời điểm đó:

Dù đã có một dòng ngầm hoài nghi của công chúng đối với chính thống y học kể từ khi nó được thiết lập ở cả Anh lẫn Hoa Kỳ, điều khác biệt ở giữa thập niên 1960 là quy mô và cường độ của sự hoài nghi ấy. Sự xuất hiện của một phản văn hóa y học mạnh mẽ cũng gắn bó quan trọng với những thay đổi xã hội rộng lớn hơn đang diễn ra ở phương Tây...

[T]hững giá trị duy vật lâu đời, vốn nhấn mạnh việc đưa ra các giải pháp kỹ trị cho vấn đề, nay bị công kích. Hệ tư tưởng về “tiến bộ khoa học” cũng bị bóc trần, khi ngày càng nhiều người trong công chúng tìm cách thoát khỏi những khuôn mẫu phục tùng uy tín đã được thiết lập và khám phá những lối sống khác.

— Mike Saks

Cái nay thường được gọi là y học bổ sung mang tính chất của một hiện tượng xã hội và văn hóa nhiều hơn là chỉ một nhóm các hệ thống trị liệu cạnh tranh nhau để giành một chỗ trong đấu trường chăm sóc sức khỏe. Sự phát triển này mang những nét đặc trưng: thế giới tự nhiên thường được đánh giá cao hơn thế giới do con người tạo ra; tự lực được coi trọng hơn phụ thuộc, liên kết hơn tách biệt, bền vững hơn chủ nghĩa tiêu dùng, và hợp tác hơn cạnh tranh. Sự ủng hộ đối với phong trào môi trường, phong trào hòa bình cùng mối quan tâm đến đời sống tâm linh và các truyền thống minh triết của những nền văn hóa bản địa cũng là những yếu tố thường thấy trong sự phát triển này.

Mức độ ủng hộ cao của cộng đồng đối với các phương thức y học bổ sung chỉ là một biểu hiện của cảm giác rằng cuộc sống của chúng ta đã phần nào đánh mất liên hệ với những thực tại sâu xa mà chúng ta đang tham dự vào, dù có ý thức hay vô thức. Những cách tiếp cận toàn thể hơn đối với chăm sóc sức khỏe mang lại phương tiện để phần nào giành lại những thực tại ấy. Một thầy thuốc y học tự nhiên chia sẻ suy ngẫm của mình:

Tôi cho rằng điều đó có liên quan đến sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, và cả sự tôn thờ chúng trong đời sống hiện đại. Chúng ta ngày càng rời xa trạng thái tự nhiên và ngày càng đi sâu vào một thế giới nhân tạo đầy kỹ thuật. Y học là một phần lớn của điều đó. Và điều y học thay thế đang cố gắng mang trở lại hoặc duy trì chính là tự nhiên, hay một số yếu tố của thế giới tự nhiên.

— Một thầy thuốc y học tự nhiên

Như đã lưu ý, khác với y học sinh học, các phương thức của y học bổ sung tương đối độc lập với công nghệ cao. Trong bối cảnh Úc, thuật ngữ y học tự nhiên thường được dùng cho đến thập niên 1990 để mô tả những cách tiếp cận như y học tự nhiên (naturopathy), vi lượng đồng căn, y học thảo dược, nhiều liệu pháp thủ công và y học thân–tâm. Thuật ngữ này chỉ ra một khác biệt lớn trong cách nhìn nhận cả phương pháp lẫn triết lý của y học bổ sung và y học sinh học. Dù đúng hay sai, các phương thức của y học bổ sung được cho là gắn bó chặt chẽ hơn với thế giới tự nhiên, trong khi y học sinh học và các thiết chế của nó được xem là một phần của thế giới công nghệ.

Những sinh lực thúc đẩy một hạt giống đạt tới biểu hiện trọn vẹn của nó thành một cây trưởng thành, và những quá trình huyền bí biến một con sâu bướm thành một con bướm, là những biểu hiện của chính những năng lực nuôi dưỡng bản tính con người của chúng ta. Thức ăn của chúng ta, khi được dùng một cách khôn ngoan, trở thành thuốc; và trong tự nhiên cũng có nhiều loài cây có khả năng hành động như những tác nhân chữa lành bệnh tật của chúng ta. Năng lượng mang trong một liều vi lượng đồng căn có hiệu lực cao và ý niệm mang trong sự quan tâm của con người cùng cái chạm chữa lành cũng có thể hành động như những lực lượng chữa lành.

Vị thầy thuốc y học tự nhiên được trích dẫn ở trên xem sự phụ thuộc của y học sinh học vào công nghệ là nguồn gốc của sự tha hóa, không chỉ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, mà còn giữa bản thân y học với những lực lượng nuôi dưỡng sự sống và sức khỏe của chúng ta. Bà chỉ ra điều mà Thomas Berry gọi là sự “mê hoặc” của công nghệ, thứ có thể làm chúng ta mù lòa trước nhận thức rằng thế giới tự nhiên là một kho tàng vĩnh cửu của những ảnh hưởng và năng lực chữa lành.

Cách nhìn này, theo nhiều phương diện, đi ngược lại khí hậu của thời đại và quan điểm cho rằng công nghệ là nguồn tiến bộ nhân loại và sự sung túc vật chất mang tính phổ quát, luôn tích cực. Các công nghệ chẩn đoán của y học sinh học chắc chắn là biểu hiện của một sức sáng tạo phi thường và công dụng to lớn. Nhưng cái bóng mà các công nghệ công nghiệp phủ lên thế kỷ qua dường như đang làm tối thêm tương lai tập thể của chúng ta, khi suy thoái môi trường, phá rừng, mức khí nhà kính gia tăng, sự mất đi lớp ôzôn bảo vệ và mức phóng xạ nền ngày càng tăng đều tiếp tục tăng tốc.

Những triết lý và thực hành nằm dưới các phương thức của y học bổ sung nhắc nhở chúng ta về sự tồn tại của những hình thái vĩnh cửu và những giá trị vĩnh cửu trong chữa lành, vượt lên trên hoàn cảnh cụ thể của bất kỳ thời đại nào. Tự nhiên vẫn có khả năng sản sinh ra thuốc men mà không cần đến sự can thiệp của các kỹ sư dược phẩm vào các nguyên tử bên trong và xung quanh những phân tử phức tạp, dưới điều kiện nhiệt độ và áp suất cao. Việc sử dụng khéo léo đôi bàn tay thường giúp vượt qua hạn chế khớp và viêm nhiễm một cách dứt khoát hơn nhiều so với những liều giảm đau hay kháng viêm được đong đo. Và động lực nội tại hay sự chuyển hóa bên trong có thể có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với can thiệp từ bên ngoài trong công việc giành lại và phục hồi sức khỏe. Một thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc chia sẻ:

Tôi nghĩ rằng sức khỏe, những bí mật của sức khỏe, bị khóa kín trong tự nhiên. Và tôi nghĩ đó có lẽ là lý do tại sao hầu hết chúng ta, tại sao đa số người ta lại ốm yếu đến vậy — vì lối sống được gọi là văn minh của chúng ta. Thành thật mà nói, tôi không chắc nền văn minh đã làm được nhiều điều tốt đẹp đến thế cho con người.

— Một thầy thuốc y học cổ truyền Trung Quốc

Lời bình này nhắc lại quan điểm rằng thời đại hiện nay phần nào đã chứng kiến một sự đánh mất sâu sắc trong mối quan hệ của chúng ta với thế giới tự nhiên. Thế giới tự nhiên đã bị đối xử như một món hàng tồn tại chủ yếu vì lợi ích của chúng ta. Cho đến gần đây, người ta hầu như ít quan tâm đến những thiệt hại đã gây ra cho trái đất và các hệ sinh thái của nó bởi các hoạt động công nghiệp, thương mại, quân sự và nông nghiệp. Những chu kỳ tự nhiên có ảnh hưởng tinh tế lên các quá trình sống cũng phần lớn bị lối sống “văn minh” của chúng ta lấn át. Thức ăn của chúng ta được vận chuyển qua các lục địa và giữa các bán cầu bất kể mùa nào. Cách ăn của chúng ta được quyết định bởi giờ nghỉ uống cà phê và giờ nghỉ trưa nhiều hơn là bởi cơn đói. Và những bệnh vặt của chúng ta được điều trị bằng thuốc thay vì bằng nghỉ ngơi và hồi sức.

Thế giới quan của vị thầy thuốc này được định hình bởi một triết lý y học Trung Quốc lấy từ những hiểu biết của Đạo giáo về sự gắn kết của chúng ta với những chu kỳ và nhịp điệu vô tận của thế giới tự nhiên. Nhà nghiên cứu và sử gia y học Rene Dubos suy ngẫm thêm:

Các nhịp sinh học đã được ghi khắc vào cấu trúc di truyền của con người trong quá trình tiến hóa, khi đời sống con người còn gắn bó chặt chẽ với những biến cố tự nhiên do chuyển động của trái đất quanh mặt trời và của mặt trăng quanh trái đất quy định. Các nhịp sinh học quan trọng cho việc hiểu con người hiện đại, bởi chúng vẫn tồn tại dù con người nay sống trong một môi trường nhân tạo. Về mặt trí tuệ, con người có thể quên đi những ảnh hưởng của ngày đêm, của tuần trăng và của mùa, nhưng không thể thoát khỏi những tác động sinh lý và tinh thần của chúng.

— Rene Dubos

Dù công nghệ đã cho phép chúng ta sống trong những khoảng thời gian dài lướt dưới đáy đại dương trong các tàu ngầm mang nhiều đầu đạn hạt nhân, và lăn bánh vượt khỏi khí quyển trái đất trong những tàu con thoi đưa các hệ thống vệ tinh mới vào quỹ đạo, chúng ta vẫn là một phần của tự nhiên.

Bất chấp những năng lực đáng kinh ngạc của công nghệ, chúng ta vẫn chịu ảnh hưởng của những nhịp điệu trong tự nhiên được tạo ra qua những thời đại dài của thích nghi và biến đổi tiến hóa. Công nghệ đã cho phép chúng ta vượt qua những giới hạn của thế giới tự nhiên theo những cách chưa từng có. Trong quá trình đó, chúng ta cũng đã thay đổi tính chất của thế giới tự nhiên đến một mức độ huyền thoại. Sự tuyệt chủng loài, mất đa dạng sinh học, sa mạc hóa và biến đổi khí hậu chỉ là một phần cái giá của điệu nhảy phi thường này với quyền lực.

Ngày càng có cảm giác rằng ngọn lửa Prometheus của chúng ta có thể thiêu rụi thay vì thắp sáng, có thể hủy diệt thay vì biến đổi, và rằng chúng ta nên hướng sự chú ý trở lại trái đất — nơi chúng ta được tạo thành và nơi khởi nguồn những suối nguồn đổi mới vĩnh cửu của chúng ta.

Những cánh cửa mở ra

Sự phát triển của y học bổ sung đã mang lại một nhận thức rằng chữa lành là một hiện tượng đa chiều, có thể được tiếp cận từ nhiều hướng. Phạm vi các phương thức của y học bổ sung chứng thực cho thực tại này. Khi chính tâm thức y học sinh học bắt đầu vượt ra khỏi những triết lý quy giản và những khuôn mẫu điều trị cố định chủ yếu dựa trên can thiệp dược phẩm và ngoại khoa, chúng ta chứng kiến sự tiếp nhận ngày càng tăng đối với những hình thức mà cách đây không lâu còn bị gạt bỏ như là giả tạo và vô hiệu.

Không còn là chuyện lạ khi thấy những thầy thuốc y học sinh học sử dụng hoặc giới thiệu châm cứu, nắn chỉnh cột sống, vitamin và khoáng chất, thuốc thảo dược hay những cách tiếp cận thân–tâm như thiền định và thư giãn sâu. Tâm thức của y học sinh học đã bắt đầu thức tỉnh trước một hiểu biết sâu hơn về tính phức tạp của bản tính chúng ta, và trước nhận thức rằng chữa lành có thể diễn ra theo những cách không nhất thiết được dạy trong trường y. Một thầy thuốc châm cứu chia sẻ:

Người ta không thể sống chỉ bằng các phương pháp y học sinh học. Cần có những người thành thạo làm việc ở tầng đất, làm việc với những thứ như thảo dược, và sử dụng những sản vật tự nhiên của thế giới đã được ban cho nơi đây để giúp chúng ta duy trì sự cân bằng này. Và cần có những người có thể làm việc bằng đôi tay, có thể làm việc với con người ở tầng xúc giác ấy. Cần có những người được đào tạo bài bản để có thể làm việc ở tầng năng lượng. Cần có những người có thể làm việc ở tầng trái tim với trái tim. Cần có những người có thể làm việc ở tầng tâm linh và triết học. Tất cả họ đều cần hiện diện.

— Một thầy thuốc châm cứu

Ở đây chúng ta có một phát biểu tinh túy về công việc phía trước. Ý nghĩa của y học sinh học được thừa nhận đầy đủ. Nhưng giá trị của nhiều hình thức chữa lành khác cũng được khẳng định một cách thi vị. Chính trái đất sản sinh ra các cây thuốc và thức ăn bổ dưỡng của chúng ta, và được tôn vinh như một nguồn lớn những ảnh hưởng chữa lành có thể được đưa vào công việc chữa lành một cách hiệu quả. Tầm quan trọng của cái chạm khéo léo — dù đó là chẩn đoán và chỉnh sửa cấu trúc, là sự an ủi và trấn an, hay là nguồn năng lượng chữa lành trực tiếp — cũng được tôn vinh tương tự.

Vượt ra ngoài việc nuôi dưỡng, sửa chữa và phục hồi các thân thể vật lý của chúng ta, bản tính năng lượng của chúng ta cũng có thể được hài hòa và củng cố nhờ ảnh hưởng của những người có nhãn quan hay sự nhạy cảm được điều chỉnh vào những cõi tinh tế hơn của ý thức. Tầm quan trọng của tình yêu, mối quan hệ, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm trong công việc chữa lành đích thực được tái khẳng định.

Trích dẫn này còn nhắc nhở chúng ta rằng linh hồn và tinh thần của chúng ta có thể cần nhiều dưỡng chất, sự phục hồi và chữa lành không kém thân thể trong những thời kỳ khó khăn, đau buồn, hay khi ý nghĩa cuộc sống sụp đổ. Tiếng gọi của y đạo cần bao trùm toàn bộ phạm vi nỗi đau và khổ nạn của con người, và chăm sóc toàn bộ nhân tính của chúng ta, không chỉ phần thân xác.

Hướng tới tương lai

Khi đi đến phần kết, có thể hữu ích nếu nhìn lại và tổng hợp, trong chừng mực có thể, những ý niệm trung tâm làm nền tảng cho công trình này.

Rõ ràng rằng ý chí chữa lành đã được in khắc không thể phai trong bản tính chúng ta. Điều này được phản ánh trong năng lực tự sửa chữa và phục hồi sau thương tổn và bệnh tật của mọi sinh vật. Và điều này được biểu đạt cảm động hơn trong khát vọng của con người muốn giúp đỡ và chăm sóc người khác trong những lúc họ ốm đau và khổ nạn.

Suốt lịch sử, khát vọng này đã làm nảy sinh nhiều phản ứng sáng tạo. Những lời cầu nguyện và chuyển cầu của thầy pháp, việc bào chế thuốc từ các sản vật của tự nhiên, việc điều chỉnh năng lượng thân thể qua xúc chạm và qua trung gian kim châm cứu, và việc kích hoạt cả ý chí con người lẫn khả năng tự đổi mới của thân thể qua nhịn ăn hay hạn chế ăn uống — tất cả đều là những biểu hiện của khát vọng làm vơi đi nỗi khổ do bệnh tật mang lại, và phục hồi một trạng thái sức khỏe và toàn vẹn.

Những chương trước của cuốn sách này, hy vọng rằng, đã mang lại một sự trân trọng đối với tính tương đối của các thực hành chữa lành và làm sâu sắc thêm nhận thức của chúng ta về trí khéo léo của con người — thứ không ngừng tìm cách vượt qua giới hạn và bất định. Việc xem xét lại các hình thức khác nhau mà chữa lành đã mang lấy ở những thời điểm và nơi chốn khác nhau cũng sẽ giúp chúng ta nhìn y học phương Tây đương đại như một phần của một dự án lịch sử rộng lớn hơn, vẫn tiếp tục thay đổi và tiến hóa.

Ngày nay có một tiềm năng độc nhất trong lịch sử loài người. Có người xem trạng thái hiểu biết và sự làm chủ công nghệ hiện nay của chúng ta như một thứ điểm omega, một sự hiển lộ mà toàn bộ lịch sử đã hướng tới, và là đỉnh cao của mọi khát vọng trước đây của con người. Nhưng những người khác, trong khi thừa nhận sức sáng tạo to lớn thể hiện trong nền văn minh công nghệ đương đại, lại xem những phát triển hiện nay là những biểu hiện tương đối và tùy thuộc, giành được qua sự phủ định những thành tựu trước đó, và với cái giá là sự coi nhẹ có khả năng dẫn đến hủy hoại cả những hệ quả hiện sinh lẫn môi trường.

Bất kể người ta giữ vị trí nào, đã trở nên rõ ràng rằng chúng ta đang sống trong một thời điểm nút, một thời đại biến đổi lớn, một thời đại được nhà vật lý và phê bình văn hóa Fritjof Capra mô tả như một bước ngoặt mà tương lai tập thể của chúng ta xoay quanh.

Chính trong ánh sáng đó mà những thay đổi hiện nay đang diễn ra trong thực hành y học ở phương Tây cần được nhìn nhận. Dù Jan Smuts đặt ra thuật ngữ “chủ nghĩa toàn thể” chưa đầy một thế kỷ trước, những nguyên lý toàn thể đã định hình hiểu biết của con người từ hàng ngàn năm. Việc áp dụng những nguyên lý này đã hiển hiện trong y học của Ai Cập và Hy Lạp cổ đại, và tiếp tục là nền tảng cho nhiều hệ thống y học phương Đông và truyền thống cho đến ngày nay.

Trong suốt thời gian mà các nhận thức luận khoa học duy lý dần dần thay đổi nền tảng tri thức, định hình phong cách giáo dục và quy định các chuẩn mực lâm sàng của y học sinh học, các phương thức của y học bổ sung vẫn lặng lẽ mang theo những hiểu biết toàn thể vốn đã phần lớn bị lu mờ bởi những thành công lớn của một nền y học khoa học mới dựa trên các nguyên lý quy giản. Những hiểu biết toàn thể ấy dựa trên một cách tiếp cận tổng hợp chứ không phân tích đối với vật chất, sự sống và tâm trí. Chúng được phản ánh trong một cách tiếp cận trị liệu đặt giá trị cao vào mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân, và tìm cách huy động, bằng bất kỳ cách nào có thể, những năng lực chữa lành vốn có của bệnh nhân.

Sự hiện diện của y học bổ sung nay đã được thiết lập vững chắc trong các cộng đồng phương Tây. Nó được đông đảo bệnh nhân ủng hộ, ngày càng thu hút sự chú ý của nhiều sinh viên và nhà giáo dục trong y học sinh học, và — như được chứng thực qua việc nhiều phương thức của nó bước vào môi trường đại học — đã giành được sự ủng hộ tích cực của những người làm chính sách. Không còn đường quay lại. Ý nghĩa đích thực của hiện tượng này là gì? Những hệ quả có thể có của sự phát triển xã hội phi thường này đối với cuộc sống của những người đảm nhận vai trò chữa lành và những người tìm đến dịch vụ của họ là gì? Điều này có ý nghĩa gì đối với tương lai của y học?

Sự nhạy cảm toàn thể chấp nhận rằng thực tại con người bao gồm thân thể vật lý, năng lực tinh thần và những khát vọng tâm linh của chúng ta. Nó cũng thừa nhận rằng chúng ta gắn kết hữu cơ với nhau, với thế giới tự nhiên và thế giới do con người tạo ra, và với những trường năng lượng tinh tế trong đó chúng ta sống, vận động và tồn tại.

Khi những hiểu biết toàn thể bắt đầu được những người muốn trở thành người chữa lành khám phá và chấp nhận rộng rãi hơn, thực hành y học ắt sẽ thay đổi về tính chất. Nhiều người được trích dẫn trong suốt cuốn sách này mang lại những hiểu biết thực chất về cách các nguyên lý toàn thể có thể tìm được biểu hiện trong một môi trường trị liệu.

Dù sẽ luôn có chỗ cho những yếu tố công nghệ mạnh mẽ hơn trong y học sinh học, đặc biệt trong những lĩnh vực như xét nghiệm chẩn đoán, ngoại khoa và y học cấp cứu, vẫn còn nhiều việc phải làm để phát triển một hiểu biết sâu hơn về cách giúp bệnh nhân tự giúp mình trong việc chữa lành của chính họ. Những ranh giới hiện nay vốn được đánh dấu rõ ràng giữa thầy thuốc và bệnh nhân có thể sẽ bắt đầu mờ đi với nhận thức rằng rốt cuộc, chúng ta phải trở thành những người chữa lành cho chính mình.

Nhận thức ngày càng tăng về thực tại của sự liên kết sẽ tất yếu mở rộng nền tảng của y học, từ trọng tâm chủ yếu mang tính cá nhân và sinh học hiện nay sang một nền tảng bao quát hơn vai trò của những ảnh hưởng tinh thần, áp lực xã hội và thực tại môi trường đối với sức khỏe của chúng ta. Điều này đến lượt nó sẽ làm chú ý đến sự thật rằng sức khỏe cá nhân chỉ là một khía cạnh của...

viên ngọc rạng rỡ cấu thành nên thực tại sống. Sức khỏe của chính chúng ta không thể tách rời khỏi sức khỏe của gia đình, của cộng đồng và của chính hành tinh này.

Sự trỗi dậy của y học bổ sung, cùng với tính toàn thể mà nó thể hiện, trong thời gian gần đây, xét trên nhiều phương diện, là một lực lượng chữa lành nằm ngay trong lòng giới hành nghề chữa bệnh. Nó mang đến những góc nhìn có thể tạo ra sự cân bằng cho một hệ thống y học đã trở nên phụ thuộc nặng nề vào những can thiệp kỹ thuật ngày càng đắt đỏ trong việc điều trị bệnh. Nó mang đến một lời nhắc nhở kịp thời và cần thiết rằng công việc của người thầy thuốc không chỉ phải bao hàm sự tinh thông về bệnh tật và cách điều trị bệnh, mà còn cả một hiểu biết sâu sắc không kém về bản chất của sức khỏe, cùng vô số phương cách để có thể chủ động nâng đỡ và củng cố sức khỏe.

Các phương thức của y học bổ sung đã gieo mầm cho cảnh quan mới đang hình thành của nền y học thế kỷ XXI. Ảnh hưởng của chúng sẽ tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng khôi phục chiều kích nhân bản vào sứ mệnh lịch sử của y học. Chúng sẽ tiếp tục cung cấp những phương pháp và nhận thức đã được tôi luyện kỹ càng cho việc kiến tạo những hệ hình chữa lành lấy sức khỏe làm nền tảng. Và chúng sẽ thúc đẩy hơn nữa việc đưa các nguyên lý toàn thể vào cách chúng ta hiểu y học là gì và cần phải là gì.

Những tư tưởng được khảo sát trong các chương trước thể hiện sự biểu đạt của nhiều giá trị vĩnh hằng đã dẫn dắt sứ mệnh của y học, bất kể thời đại và nơi chốn. Những giá trị này hướng sự chú ý tới các nguyên lý vượt lên trên năng lực kỹ thuật của bất kỳ thời đại nào. Đúng hơn, chúng liên quan tới những chiều kích tinh tế hơn của việc chữa lành, được gợi tới trong những khái niệm như tính toàn vẹn của thân và tâm, sự kết nối của chúng ta với các lực lượng tự nhiên và với thực tại tâm linh, và năng lực tiềm ẩn trong các quan hệ chữa lành.

Những tư tưởng này đã được khảo sát qua tiếng nói của những người đại diện cho một số phương thức của y học bổ sung. Mỗi người trong số họ vừa giảng dạy vừa hành nghề phương thức mà mình đã chọn. Với tư cách nhà giáo dục, họ tận tâm xây dựng một nền tảng tri thức rõ ràng và có thể truyền đạt được cho chuyên ngành của mình. Với tư cách người hành nghề, họ tham dự vào những mối bận tâm và trải nghiệm của bệnh nhân mình, và là nhân chứng cho cả hiệu quả lẫn những giới hạn của cách tiếp cận riêng mà mình đang theo đuổi. Hành nghề bên ngoài dòng chính của y học sinh học (biomedicine), họ cũng là những người được chứng kiến những nỗi thất vọng và vỡ mộng của nhiều người đã tìm kiếm, và đã không tìm được, sự khuây khỏa như mong đợi cho các triệu chứng và tình trạng bệnh của mình bằng những phương tiện chính thống hơn.

Bất chấp sự đa dạng lớn lao trong quá trình đào tạo và những trải nghiệm giáo dục của họ, vẫn có sự đồng thuận nhất quán về những khác biệt cốt lõi giữa cách tiếp cận của chính họ và cách tiếp cận mà họ nhận diện là đặc trưng hơn của y học sinh học. Hy vọng rằng những khái niệm được bàn luận xuyên suốt các chương trước đã bày tỏ được sự trân trọng đối với chiều sâu tư tưởng và sự chân thành trong ý hướng của từng người được phỏng vấn.

Những ai đã đảm nhận vai trò nhà giáo dục trong lĩnh vực y học bổ sung, đặc biệt trong những thập niên cuối của thế kỷ XX, đã làm công việc ấy với một ý thức sắc bén về tính chất lịch sử của hoạt động mà mình đang tiến hành. Công việc của họ được hoàn thành với rất ít sự hỗ trợ từ phía thể chế, và từ lâu đã bị lu mờ bởi vị thế ngoài lề của họ trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Thế nhưng sự kiên định và bền bỉ của họ đã cho phép từng bước tạo nên một đội ngũ hành nghề có tri thức và năng lực, mà công việc chữa lành của đội ngũ ấy trong cộng đồng đã vang vọng xa hơn nhiều so với bất kỳ cuộc luận chiến nào.

Sự tận tụy của nhiều thế hệ hành nghề đã lặng lẽ làm việc bên ngoài dòng chính của y học sinh học, thường xuyên dưới sự nghi ngờ và khinh miệt, đã kết trái của chính nó vào ngày hôm nay. Khi tinh thần của chủ nghĩa toàn thể bắt đầu thấm vào việc hành nghề y học ở thế giới phương Tây, chúng ta càng đến gần hơn với sự chữa lành cần thiết ở mọi cấp độ. Bánh xe của y học nay quay về phía sự cam kết với những nguyên lý thúc đẩy sức khỏe của cá nhân, của xã hội và của toàn bộ hành tinh.

Bản PDF và trình đọc

⬇ Tải bản PDF (2,0 MB) Đọc bản dịch có chú giải ↗

Nguồn: Di Stefano, V. Holism and Complementary Medicine: Origins and Principles. Allen & Unwin, 2006. Bản số hóa (trích lục): archive.org.

Về trang này: bản dịch gồm trọn vẹn năm phần hoàn chỉnh có trong bản số hóa (Lời Giới Thiệu, Lời Tựa, Dẫn Nhập, Chương 4, Chương 9), không lược bỏ trong phạm vi ấy. Chương 1–3 và 5–8 không có trong nguồn nên không thể dịch — đây không phải toàn văn cuốn sách. Phần giới thiệu phía trên là chú giải định hướng của TaichiNOW.

Miễn trừ y khoa: nội dung triết học và lịch sử y học, không phải chỉ định điều trị.